Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chiến công ‘diệt ma đầu’ của không quân VN

Trang bị loại tiêm kích thua kém đối phương về mọi mặt, những người chiến sĩ Không quân Nhân dân Việt Nam vẫn mưu trí, sáng tạo giành chiến thắng.

(ĐVO) Giai đoạn đầu cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc, Không quân Nhân dân Việt Nam chủ yếu trang bị tiêm kích MiG-17 lạc hậu nhưng phải đối chọi với dàn máy bay tiên tiến của Đế quốc Mỹ.

MiG-17 luôn đối đầu với tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ F-4 được mệnh danh “con ma” thường xuyên bay hộ tống phi đội ném bom oanh tạc miền Bắc.

“Một trời, một vực”

Tiêm kích đánh chặn hạng nhẹ MiG-17 được Liên Xô sản xuất và đưa vào sử dụng đầu năm 1950. Đây là kiểu tiêm kích nhỏ, nhanh nhẹn được trang bị một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1F cho phép đạt tốc độ cận âm 1.145km/h, bán kính tác chiến ngắn.

MiG-17 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (40 viên đạn), tầm bắn hiệu quả chỉ 400m, nghĩa là phi công phải chấp nhận nguy hiểm tiếp cận rất gần mục tiên mới đảm bảo tiêu diệt địch. Thậm chí, MiG-17 không có radar đối không, chỉ có kính ngắm. Trong điều kiện trời quang, phi công chỉ nhìn xa 15km.

Trong phim tài liệu của Mỹ, MiG-17 không được coi là đối thủ của F-4.

Ra đời sau MiG-17 10 năm, tiêm kích F-4 ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến thời điểm đó nên nó vượt trội so với MiG-17 về nhiều mặt (tốc độ, vũ khí, điện tử).

F-4 trang bị hai động cơ tuốc bin phản lực GE J79-GE-17A cho phép đạt tốc độ gấp hai lần vận tốc âm thanh (2.370km/h), trần bay hơn 18.000m.

Máy bay có lượng tải vũ khí hơn 8 tấn mang được các tên lửa không đối không tầm ngắn AIM-9, tầm trung AIM-7 có thể tiêu diệt mục tiêu cách đó 50km. Ngoài ra, F-4 còn một pháo siêu tốc 6 nòng cỡ 20mm (640 viên đạn) để đánh cận chiến.

Không những dùng cho nhiệm vụ đối không, F-4 còn có khả năng mang bom, tên lửa không đối đất oanh tác mục tiêu mặt đất. F-4 cũng được trang bị hệ thống radar kiểm soát hỏa lực có thể phát hiện, theo dõi nhiều mục tiêu ở khoảng cách xa.

Nếu như so sánh về thông số, MiG-17 gần như không có “cửa” để đấu lại F-4. Thậm chí, trong loạt phim tài liệu Dog Fight, có nội dung nói về các cuộc cận chiến trên không, xếp ngang hàng với F-4 phải là MiG-21, còn đối thủ của MiG-17 là F-8 Cruisader, chiến đấu cơ thuộc hàng tiêm kích cuối cùng còn sử dụng pháo như vũ khí chính trong các cuộc không chiến.

Vì vậy, khi đưa MiG-17 đối đầu trực diện với F-4, khả năng dành chiến thắng không cao. Thế nhưng, với tinh thần táo bạo, sáng tạo trong cách đánh, khai thác sử dụng tối đa trang bị hiện có, kết hợp có hiệu quả giữa bộ phận dẫn đường và phi công, MiG-17 vẫn hạ gục F-4.

Điển hình là trận đánh ngày 20/9/1965, đã làm nức lòng quân dân khi biên đội MiG-17 đã giành chiến thắng vang dội bắn hạ, bắn bị thương “con ma” F-4 mà không chịu tổn thất (*).

Chiến thắng của biên đội 3 anh hùng

Mùa thu năm 1965, Không quân Nhân dân Việt nam vừa xây dựng xong sân bay Kép (Bắc Giang). Trinh sát địch phát hiện hoạt động này, ngày 19/9/1965, phi đội Mỹ đánh phá dữ dội sân bay.

Tối 19/9, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Phùng Thế Tài và Tham mưu trưởng Hoàng Ngọc Diêu nhận định ngày mai Mỹ sẽ tiếp tục đánh phá Kép và khu vực cầu Sông Hóa. Vì vậy, bộ tư lệnh đã chỉ thị cho không quân tiêm kích tổ chức, 8 chiếc MiG-17 trực ban tại Nội Bài để phối hợp với đơn vị cao xạ đón đánh địch.

“7h50 phút sáng 20/9/1965, radar của ta phát hiện một tốp máy bay địch từ Hòn Gai bay thấp phía bắc dãy núi Yên Tử đi vào hướng sân bay Kép (Bắc Giang),” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên – sĩ quan tham gia dẫn đường trận đánh nhớ lại.

Lúc đó, ông đang trực ban dẫn đường hiện sóng radar tại Đại đội 29 (sân bay Bạch Mai) thì được gọi vào trực sở chỉ huy thay đồng chí Trần Quang Kính đi Kép rút kinh nghiệm.

Tới 7h55 phút sở chỉ huy lệnh cho biên đội 4 MiG-17 do các phi công Phạm Ngọc Lan (số 1 >> chi tiết) – Nguyễn Nhật Chiêu (số 2) – Trì (số 3, nhân chứng không rõ họ tên) – Nguyễn Ngọc Độ (số 4) vào lệnh chiến đấu cấp I.

Khi đó, “Trực ban trưởng Nguyễn Hào Hiệp đề nghị sau khi cất cánh cho biên đội bay thẳng lên hướng Hiệp Hòa, Bố Rạ và xuống Kép đánh địch vì ta lên hơi muộn.”

“Tuy mới lần làm nhiệm vụ dẫn đường ở sở chỉ huy, nhưng tôi mạnh dạn đề nghị, nếu ta bay thẳng ra Hiệp Hòa – Bố Rạ thì địch sẽ phát hiện điều tiêm kích đánh chặn ngay. Vì vậy, tôi nghĩ sau khi cất cánh vòng trái bay dọc đường số 3 lên Thái Nguyên, độ cao thấp 500m để radar địch không phát hiện được.

Khi lên đến Thái Nguyên mới cho lên độ cao 3.000m, hướng 60 độ tiếp tục bay lên phía Bắc Kạn, từ hướng Bắc dẫn xuống Kép thì địch sẽ bất ngờ,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên kể lại.

“Én bạc” MiG-17 của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Sau khi trực ban trưởng và thủ trưởng đồng ý phương án đề ra, “khi biên đội cất cánh xong liên lạc về sở chỉ huy, tôi cho vòng trái, hướng 350 độ, độ cao 500m rồi 700m,” ông nói.

Biên đội MiG-17 do phi công Phạm Ngọc Lan chỉ huy theo lệnh đi về hướng bay đã định. Tới gần Thái Nguyên, sĩ quan dẫn đường tiếp tục cho hướng bay 360, độ cao 3.000 rồi 4.000m nhằm giúp radar dẫn dễ phát hiện được máy bay.

“Khoảng 3 phút sau, radar dẫn bắt được một tốp máy bay địch ở Đông Nam Hòn Gai, độ cao 4.000m, tốc độ 800 – 850km/h. Tôi đề nghị thủ trưởng cho biên đội ta đánh tốp này vì radar dẫn phát hiện mục tiêu tốt, tốc độ máy bay địch không tăng chứng tỏ chúng chưa phát hiện đựợc ta,” ông nhớ lại.

Sau khi chỉ huy đồng ý, ông liền cho biên đội vòng phải, hướng bay 130 độ, đồng thời máy bay được lệnh vứt thùng dầu phụ. “Đồng chí Bình trực ở radar dẫn đường tiếp tục cho hướng 150 độ, khi còn cách địch 50km cho tăng tốc lên 900km/h. Lúc này, radar dẫn đường tạm thời mất mục tiêu, tôi tính toán và cho hướng bay 180 độ, độ cao 4.500m (cao hơn địch 500m) và thông báo địch ở phía bên phải phía trước 30 độ, 15km,” ông kể.

Ở trên không, chỉ sau 10 giây cả biên đội MiG-17 phát hiện được 4 chiếc tiêm kích F-4 cách 12km, số 2 Nguyễn Nhật Chiêu với ưu thế độ cao và tốc độ nhanh lao vào tiếp cận, ở cự ly hiệu quả ông đã bóp cò bắn trúng một chiếc F-4 ngay loạt đạn đầu.

Ba chiếc F-4 còn lại do bị bất ngờ nên chỉ còn cách cơ động gấp, tăng tốc tháo chạy ra hướng biển. Ngay lập tức, biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan và số 3-4 bám theo bắn bị thương 2 chiếc khác.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chặn tiêu diệt địch, biên đội MiG-17 được lệnh thoát ly khỏi khu vực chiến đấu về hạ cánh ở Nội Bài. Để bảo vệ biên đội, quân chủng còn lệnh 2 biên đội MiG-17 do các phi công Bùi Đình Kình – Đào Công Xưởng và Hồ Văn Quỳ – Nguyễn Biên yểm hộ.

Cũng trong ngày hôm đó, lực lượng pháo cao xạ bảo vệ sân bay Kép và cầu Sông Hóa cũng bắn rơi 2 chiếc F-4, tạo nên thắng lợi giòn giã của lực lượng Phòng không – Không quân.

Tuy trận đánh ngày 20/9/1965 của không quân tiêm kích MiG-17 không phải là trận đầu tiêu diệt F-4 nhưng là trận đầu thắng lợi không chịu tổn thất đầu của ta trước F-4.

Điều đặc biệt, 3 trong số 4 phi công biên đội MiG-17 bắn hạ F-4 ngày 20/9/1965 sau này đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân: Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ, Đại tá Nguyễn Nhật Chiêu.

Không bao lâu sau, Liên Xô bắt đầu viện trợ cho Việt Nam tiêm kích MiG-21 mạnh hơn, ngang ngửa F-4 trong khả năng không đối không (trang bị tên lửa tầm nhiệt, có radar, tốc độ siêu âm) tiếp tục giúp không quân ta bắn hạ thêm hàng trăm máy bay khác của địch, trong đó có cả siêu pháo đài bay B-52.

(*) Ngày 17/6/1965, lần đầu tiên tiêm kích MiG-17 của ta giáp mặt với tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ F4 “Con Ma”. Trong trận đánh, biên đội ta đã bắn hạ 2 chiếc F-4, tuy nhiên ta cũng mất 2 MiG-17 (một phi công hy sinh, một người nhảy dù).

>> Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52
>> Nói về trận đánh B-52 khiến BBC ‘im bặt’

>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 1)
>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 2)
>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 3)

Lê Nam
baodatviet.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 3)

Khai thác tối đa trang bị hiện có, đối đầu với máy bay hiện đại địch. Phạm Ngọc Lan cùng đồng đội xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ đánh chặn, tiêu diệt địch từ trận đầu.

(ĐVO) Kỳ 3: Người bắn rơi máy bay phản lực Mỹ đầu tiên

Bám thắt lưng địch mà đánh

Ngày 3/4/1965, hàng chục chiếc chiến đấu cơ Hải quân Mỹ cất cánh vào đánh phá cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa – điểm huyết mạch trên tuyến đường từ Bắc vào Nam mà Mỹ gọi là khu vực “cán xoong”.

Khi phát hiện địch, cấp trên ra lệnh biên đội 4 chiếc tiêm kích MiG-17 do Phạm Ngọc Lan (bay số 1) chỉ huy cùng các anh Phan Văn Túc (số 2), Hồ Văn Quỳ (số 3), Trần Minh Phương (số 4) cất cánh từ sân bay Nội Bài lên đánh chặn.

“Hướng phía đông có địch, cách 30km, độ cao 3.000m,” biên đội nhận được lệnh dẫn đường rành rọt từ mặt đất. Ngay lập tức, biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan ra lệnh “triển khai đội hình chiến đấu”. “Địch đối đầu mình rất nhanh, tôi phát hiện địch ở phía Tây Hàm Rồng cách khoảng 20km, tôi hô phát hiện địch ở hướng đông và lệnh vứt thùng dầu phụ”.

“Trên mỗi chiếc MiG-17 mang 2 thùng dầu phụ, khi cất cánh tiêu hao 2 thùng dầu này trước. Khi nào hết thì ném bỏ để máy bay cơ động tốt hơn,” ông giải thích.

Biên đội MiG-17 đánh trận ngày 3/4/1965 (từ trái qua): Phạm Ngọc Lan – Phan Văn Túc – Hồ Văn Quỳ – Trần Minh Phương.

 

Nếu xét về khía cạnh kỹ thuật, MiG-17 có một vài điểm kém hơn so với địch. MiG-17 không có radar mà chỉ có kính ngắm (mắt tinh nhìn được 15km trong điều kiện ban ngày trời quang mây) và trang bị một pháo 30mm (cơ số 80 viên) cùng hai pháo 23mm (cơ số 160 viên), tốc độ cận âm 1.010km/h. Trong khi, tiêm kích F-8U hộ tống đội máy bay ném bom A-4 của Mỹ có tên lửa đối không, radar, bay với tốc độ siêu âm.

Nhưng với quyết tâm, lòng dũng cảm, khai thác tối đa vũ khí, Phạm Ngọc Lan cùng biên đội lấy thế tấn công tiêu diệt địch. Do tầm bắn hiệu quả nhất của pháo trên MiG-17 chỉ đạt 400m nên biên đội ta quyết tâm phải vào tầm rất gần mới khai hỏa.

Từ trên cao chiếc MiG của Phạm Ngọc Lan bay đầu, còn  số 2 – Phan Văn Túc yểm trợ vào công kích địch. “Anh Phan Văn Túc bắn trước ở cự ly xa 800m nên chưa trúng. Cũng vì thế, quân địch phát hiện nhưng chúng cũng rối loạn đội hình.

Chớp thời cơ, Phạm Ngọc Lan bay vào đánh ngay chiếc F-8U đi đầu bảo vệ đội hình. Ở tầm 400m, tôi bóp cò lần thứ nhất chưa trúng, lần hai cũng vậy và tới lần ba thì chiếc F-8U trúng đạn, bùng cháy trên bầu trời Hàm Rồng,” ông nhớ lại giây phút lịch sử. Biên đội đồng loạt hô “cháy rồi, rơi rồi”, tất cả đều vui sướng khi “giặc lái” đền tội.

Xét về khía cạnh kỹ thuật ta kém địch nhưng bằng sự sáng tạo, dũng cảm, khai thác tối đa trang bị hiện có. Không quân ta, trực tiếp là Phạm Ngọc Lan cùng đồng đội đã giáng cho kẻ thù một đòn bất ngờ, buộc chúng từ nay không còn dám “ngông nghênh” xâm phạm vùng trời miền Bắc Việt Nam. Giờ đây, chúng không chỉ phải đối phó với mạng lưới phòng không tầng tầng lớp lớp mà còn phải lo những cú đột kích bất ngờ của MiG-17 và sau này là MiG-21.

Hạ cánh ngoạn mục

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chặn đánh địch cùng lực lượng phòng không, Phạm Ngọc Lan lệnh cho đồng đội trở về. Tuy nhiên, do phát hiện một chiếc F-8U tách đội hình vòng lại, ông liền đuổi theo công kích yểm trợ cho biên đội rút lui an toàn. Ông đuổi máy bay địch ra tới biển và bắn bị thương chiếc F-8U. Khi đó, ông mới nhận ra rằng máy bay đã gần hết nhiên liệu (dự tính còn khoảng 300 lít, chỉ  đủ bay dưới 10 phút).

Ông nhanh chóng kéo cần lái từ độ cao 500m kéo vòng 180 độ lên 1.500m về đất liền. Thấy bờ, nhưng ông không thể xác định được nên bay theo hướng nào vì trục la bàn điện tử bị cong không chỉ chính xác được phương hướng do thực hiện nhiều động tác ngoặt gấp khi đuổi địch.  Lúc này, sở chỉ huy mặt đất tính toán hết nhiên liệu, ra lệnh cho ông nhảy dù.

“Tôi nghĩ máy bay cùng với mình vừa xuất kích, rất thân thương, nhà nước mình còn nghèo, nó vừa lập công nên phải cố giữ cho bằng được máy bay,” ông nói. Dù sở chỉ huy lệnh ba lần nhảy dù, ông vẫn quyết tâm xin phép cho hạ cánh bắt buộc.

Phi công Phạm Ngọc Lan trong buồng lái MiG-17.

Vốn thông thạo địa hình, ông tính toán tìm đến cửa sông Thái Bình, bay thẳng về phía Tây Bắc là sông Hồng, và sau đó là Gia Lâm, Hà Nội, Nội Bài. “Tôi nghĩ trong trường hợp hết nhiên liệu giữa chừng, ở hai bên Sông Hồng bao giờ cũng có bãi cát dài. Và đó là điều kiện thuận lợi để tôi chọn bãi hạ cánh bắt buộc, để bảo đảm giữ vẹn toàn cho phi công và chiếc MiG thân yêu”.

Nghĩ là làm, ông liền bay bám theo sông Hồng về Hà Nội, nhưng do hết nhiên liệu nên ông quyết định hạ cánh bãi rộng hơn nằm ven sông Đuống. Tính huống khó khăn lại nảy sinh, do tốc độ bay lớn nên đã không thể đáp được xuống bãi, nếu vòng trở lại thì…rơi mất. “Tôi dùng kỹ thuật ngoặt gấp 180 độ ngược lại, lợi dung tốc độ thừa hạ cánh bằng bụng máy bay, không thả càng, bánh xe,” ông nhớ lại.

Khi hạ xuống, ông vận dụng hết tất cả các kỹ thuật bay để vừa thăng bằng máy bay, vừa giảm tốc nhanh. Tất cả đều phải đảm bảo sự hài hòa. Cuối cùng, chiếc máy bay hạ bụng xuống, lướt trên mặt đất khoảng 800m thì dừng sát triền đê sông Đuống.

Có thể nói, việc hạ cánh bằng thân máy bay trên mặt đất là một tình huống cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt trong điều kiện bãi đáp không biết trước, không có phương tiện cứu hộ. Với bản lĩnh, kỹ thuật tốt và một chút may mắn, Phạm Ngọc Lan đã hạ cánh thành công.

Thấm đượm tình quân dân

Việc hạ cánh trong điều kiện như thế, ông cũng bị thương ở trán do đầu đập vào máy ngắm nên mất 2-3 phút mới tỉnh. “Khi tôi tỉnh dậy, thấy hơi lơ mơ, hai chân vẫn đạp được, hai tay cựa được. Nhìn dọc triền đê thấy người lố nhố, đầu nhấp nhô, khí thế đằng đằng dường như nghĩ tôi là phi công địch nên cũng hơi hoảng,” ông nói. Rất bình tĩnh, ông đứng dậy mở khoang lái, gỡ mũ bay, đứng cao lên mở thắt lưng đeo súng bỏ lại trong khoang lái và bước ra ngoài.

Sau đó, ông hô to “ở đây có ai là chỉ huy cao nhất cho tôi xin gặp,” tới lần thứ ba thì một đồng chí mang xà cột, mũ cối đi hai bên có hai anh dân quân bước tới. Đứng cách 5-6m, ông dõng dạc nói: “tôi là phi công Việt Nam, cất cánh từ sân bay Nội Bài, về đây máy bay hỏng hóc xin hạ cánh nhờ”. Ông còn chỉ lên áo có đính cờ đỏ sao vàng năm cánh, máy bay mang phù hiệu cờ đỏ sao vàng. “Mọi hiểu lầm được giải tỏa” nhiều người dân chạy tới ôm chầm lấy ông, bao quanh máy bay.

Ông tiếp tục kêu gọi “máy bay tôi hạ cánh nhờ đồng bào giúp đỡ ngụy trang máy bay,” chỉ vài phút đã xong. Thế mới biết, tình quân dân như cá gặp nước, máy bay hạ cánh làm ruộng ngô hỏng gần hết nhưng nhân dân vẫn không tiếc mùa màng giúp đỡ khi bộ đội cần.

Sau đó, trực thăng của quân chủng đã tới và đưa Phạm Ngọc Lan về sân bay trung đoàn, các anh Túc – Quỳ – Phương đứng chờ, rồi ôm chầm lấy nhau, tất cả mừng mừng tủi tủi.

Biên đội MiG-17 đánh thắng trận đầu ngày 3/4/1965 có một điều đặc biệt, Phạm Ngọc Lan – Phan Văn Túc – Hồ Văn Quỳ – Trần Minh Phương đều sinh năm 1934. Sau này, các anh Phan Văn Túc và Trần Minh Phương đã anh dũng hi sinh trong các trận đánh khác. Phạm Ngọc Lan và Phan Văn Túc vinh dự được Đảng và Nhà Nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Chiến thắng 3/4/1965 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Không quân Nhân dân Việt Nam. Các anh ra đi và trở về trọn vẹn.

Không quân Nhân dân Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị của bác Hồ: “Mở mặt trận trên không thắng lợi”. Đồng thời chấp hành nghiêm nghị quyết của Quân ủy Trung Ương và chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Phải đánh thắng trận đầu”.

Vỵ Nam
baodatviet.vn

Nói về trận đánh B-52 khiến BBC ‘im bặt’

Tình hình cuối năm 1971 đang vào giai đoạn gấp rút chuẩn bị chiến dịch Quảng Trị 1972, vì vậy cán bộ chiến sĩ B8 phải khẩn trương, nhanh chóng tìm ra phương án đánh B-52

(ĐVO) Cuối năm 1971, phía ta chuẩn bị mở chiến dịch Quảng Trị 1972 nên việc chuyển khí tài trang bị, bộ đội đang diễn ra hết sức khẩn trương. Trong bối cảnh đó, địch tăng cường đánh phá ác liệt các tuyến đường vận chuyển của ta.

Những điều này buộc B8 phải tập trung, nhanh chóng tìm ra phương án đánh hạ B-52 mới đủ sức răn đe buộc địch hạn chế hoặc ngừng ném bom tạo điều kiện cho bộ đội ta vận chuyển vũ khí.

Muốn thắng phải mạo hiểm

Sau trận đánh ngày 4/10 việc tiếp cận B-52 vốn dĩ đã khó nay càng khó hơn khi địch đã có sự đề phòng, cảnh giác cao. B-52 ngoài các đơn vị tiêm kích F-4 hộ tống, còn có các radar từ tàu khu trục của Hạm đội 7 liên tục giám sát, theo dõi nên việc tiếp cận tiêu diệt B-52 là rất khó. “Máy bay ta chỉ lên cao 1.500-2.000m địch có thể phát hiện, lên 6.000 – 7.000m tiêm kích F-4 xông ra đánh chặn ngay,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nói.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của hai đồng chí phó tư lệnh, B8 suy nghĩ tìm ra phương án tối ưu nhất cho trận đánh sắp tới. Các đồng chí cán bộ chỉ huy tỏa ra xuống các đại đội radar rút kinh nghiệm bàn bạc tìm cách khử nhiễu, kết hợp tốt hơn giữa đài radar P35 – PRV11 để xác định vị trí chính xác của B-52 trong nhiễu.

“Ở đơn vị radar dẫn đường, có hai loại radar cảnh giới nhìn vòng P-35 quét 360 độ và một đài PRV-11 đo cao xác định trần bay mục tiêu. Muốn bắt chính xác mục tiêu, khi P-35 bắt mục tiêu thì PRV-11 cũng phải quay về hướng đó. Vì đài PRV-11 có công suất mạnh gấp 3 P-35, cường độ mạnh hơn nhiều, độ chính xác cũng tốt hơn,” ông giải thích.

Đài radar cảnh giới P-35 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Để trạm radar địch không thể phát hiện máy bay ta, B8 quyết định muốn đánh B-52 phải chấp nhận mạo hiểm, phi công sẽ bay ở độ cao rất thấp trên quãng đường dài 120km ban đêm.

Sau khi MiG cất cánh từ Anh Sơn sẽ bay thấp đoạn Đô Lương (Nghệ An), dọc đường 7 rồi đường 15 vào khu Tân Ấp (Hà Tĩnh) gần đèo Mụ Dạ, đường bay có núi cao hai bên (một bên là dãy núi Đại Huệ, một bên là dãy Trường Sơn). Việc tự bay thấp ban đêm rất nguy hiểm đòi hỏi phi công chuẩn bị kỹ lưỡng, dũng cảm trong khi làm nhiệm vụ.

Trước trận đánh, trong phương án nghiên cứu đề xuất thông tin liên lạc giữa sở chỉ huy B8 và các đài trạm radar đều phải thay đổi mật ngữ bằng số. “Trước mật ngữ có thể nói lóng “hướng bay Hồng Hà, độ cao Ba Vì” nhưng giờ phải đổi. Bí mật thông tin liên lạc với cấp trên, dưới, đài, trạm, sân bay, hạn chế thông tin liên lạc và không được nói rõ kể cả nói lóng,” ông nhớ lại. Ngoài ra, ta cũng tổ chức nghi binh thu hút sự chú ý của địch trước trận đánh.

Khi việc tính toán tổ chức xong phương án, ngày 18/11 B8 cho triển khai thêm đài radar dẫn bổ trợ ở Tân Ấp, do MiG-21 khi cất cánh bay rất thấp và không liên lạc với sở chỉ huy nhằm tránh bị địch thu tín hiệu nên cần đài bổ trợ để nghe tiếng máy bay sẽ báo về B8. Tối 19/11, công tác chuẩn bị cơ bản đã hoàn thành, B8 đề nghị với Quân Chủng cho phép đánh B-52 và được chấp thuận.

Có thể nói, đây là trận đánh quan trọng, tổ chức công phu.

Phi công MiG-21 Vũ Đình Rạng.

Giây phút nghẹt thở

Trong trận này, dẫn đường ở bàn tiêu đồ sở chỉ huy B8 là đồng chí Nguyễn Văn Chuyên dẫn chính, số 2 Tạ Quốc Hưng ghi khẩu lệnh và Trần Hồng Hà chỉ thị radar dẫn. “Nguyên tắc khi dẫn đường, trong bàn tròn những trận quan trọng phải có 3 người, người chính cầm ống nói dẫn, số 2 có ống nói nhưng dự bị, người còn lại chỉ thị radar cần tập trung hướng nào, địch ở đâu,” ông giải thích.

Ngày 20/11, theo đúng phương án đã vạch sẵn, ta triển khai hai MiG-21 trực ở sân bay Vinh và Anh Sơn. Phi công Hoàng Điểu trực ở Vinh làm nhiệm vụ nghi binh, thu hút địch còn Vũ Đình Rạng ở Anh Sơn trực tiếp đánh B-52.

“Tới 19h30, phi công Hoàng Điểu cất cánh ở Vinh bay vào Tân Ấp, đèo Mụ Dạ trên độ cao 8.000 – 10.000m nhưng sau đó vòng ra hạ cánh tại Nội Bài. Với cách này, ta đánh lừa được radar hạm tàu Mỹ làm chúng mất cảnh giác cho rằng MiG-21 không còn nằm ở khu 4.

20h tối 20/11, sở chỉ huy B8 nhận tin tình báo chiến lược quan trọng cho biết 20h45 sẽ có B-52 hoạt động cách Sê Pôn 60km. Sau khi nhận tin, tư lệnh Trần Mạnh thống nhất với đồng chí Trần Hanh lệnh vào chiến đấu cấp 1.

Tới 20h15, đồng chí Nguyễn Văn Chuyên cho các đài radar đại đội 41, 47 và 45 mở radar. Tuy nhiên, một tình huống đã phát sinh, ICO (màn hiện sóng radar) của đại đội 41 bị chập và đồng chí đại đội trưởng đề nghị xin chưa đánh trận này.

Sau khi cân nhắc, với điều kiện thuận lợi đồng chí Chuyên lệnh cho đại đội 41 vừa mở vừa sửa máy. Nếu sửa được thì dẫn chính không thì giao cho các đơn vị còn lại. Tới 20h21, đại đội 41 báo cáo mở máy xong, 20h25 đại đội báo ICO điều chỉnh tốt, chiến đấu được.

Lúc 20h37, đại đội 41 thông báo phát hiện B-52 ở Tây Savanakhet (Lào) 100km. Sở chỉ huy lệnh cho xác minh lại mục tiêu, đơn vị báo cáo xác định chính xác tốp 3 B-52 ở độ cao 13.000m (chưa chính xác vì thông thường B-52 chỉ bay ở độ cao 9.000-10.000m).

Ngay lập tức, B8 lệnh cho phi công Rạng cất cánh bay theo phương án đã định. 20h41 Vũ Đình Rạng cùng MiG-21 cất cánh xong và “im lặng” bay từ Anh Sơn vào Tân Ấp.

8 phút sau, sĩ quan dẫn chính Nguyễn Văn Chuyên bắt đầu liên lạc với phi công Rạng ra khẩu lệnh đầu tiên “hướng 230 độ, độ cao 3.000”, máy bay từ đất ta vượt sang Lào.

Sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên (đầu bên phải) bên bàn tiêu đồ.

20h52, đài radar thông báo B-52 phía trước 100km. 40 giây sau, dẫn chính Nguyễn Văn Chuyên ra lệnh vứt thùng dầu phụ, tốc độ đạt 950km/h. Tới 20h54, đồng chí Chuyên lệnh cho phi công tăng lực đưa máy bay lên độ cao 10.000m.

Từ đây, đồng chí Lê Thiếu Hùng – đại đội C41 bắt đầu lên tiếng cho hướng bay 130 độ. Ông liên tục ra khẩu lệnh “hướng 140 độ, mục tiêu cách 45km, thấp hơn 2.000m…mục tiêu còn 35km, thấp hơn 1.000m… mục tiêu bên phải phía trước cách 25km…hướng bay 90 độ, thấp hơn 500m…mục tiêu phía trước cách 18km.

20h56p15 khi còn cách mục tiêu 15km đồng chí Chuyên cho phi công Rạng mở radar trên máy  bay. Việc mở radar thời điểm nào là rất quan trọng, vì nếu mở radar quá sớm địch phát hiện và đối phó, mở muộn thì người lái không đủ thời gian thao tác phóng tên lửa.

Không đầy một phút sau, 20h57 phi công Vũ Đình Rạng thông báo phát hiện mục tiêu phía trước cách 11km bằng radar – giờ phút này cả sở chỉ huy im phăng phắc vì sung sướng và xúc động.

Sĩ quan dẫn chính Nguyễn Văn Chuyên lệnh cho phi công nâng tốc độ 1.400km/h nhanh chóng vào tiếp cận phóng tên lửa diệt B-52. Tới 20h58 đồng chí Rạng báo cáo đã thoát ly (nghĩa là đã phóng tên lửa đánh B-52 nhưng việc này chỉ xảy ra trong vài giây phi công nhanh chóng rút lui nên không thể báo cáo chi tiết). Tới 21h15 phi công Vũ Đình Rạng về hạ cánh an toàn trong niềm vui sướng các đồng chí,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên hồi tưởng lại những giây phút nghẹt thở.

“Các ông bắn rơi ba chiếc”

Sau đó, phi công Vũ Đình Rạng đã tường trình lại diễn biễn trận đánh: “…khi đồng chí Chuyên cho mở radar trên máy bay, sau 45 giây radar làm việc. Trên màn hình hiện sóng, tôi phát hiện tốp 3 chiếc B-52 bay theo đội hình bàn tay xòe, chiếc đi đầu cách 11km, chiếc cuối cách 6km, lúc đó máy bay ta thấp hơn 500m.

Vì vậy, tôi quyết định bắn chiếc đi đầu để có đủ thời gian lấy bằng độ cao mục tiêu và điều chỉnh đường ngắm phóng tên lửa tốt hơn. Thời điểm đó, tôi nghe khẩu lệnh đồng chí Trần Hanh, tôi tăng tốc 1.400 – 1.500km/h tiếp cận mục tiêu ở cự ly 5km, bám sát và ở dưới 2km thì phóng tên lửa. Khi tên lửa rời bệ, tôi làm động tác thoát ly lên cao.

Song tôi phát hiện thêm một B-52 khác trên lưng có đèn nhấp nháy, tôi bổ nhào đặt máy ngắm quang học, ở cự ly 2km tôi phóng nốt quả tên lửa còn lại rồi về sân bay hạ cánh.”

Thời kỳ này, mỗi lần máy bay ta và địch đụng độ đều được đài BBC đưa tin, nhưng riêng trận đêm 20/11 thì BBC không đưa tin. Đồng thời, mọi thông tin từ Mỹ cũng đều “im hơi lặng tiếng” nên ta không thể biết kết quả trận đánh.

Tuy vậy, từ sau đêm 20/11, B-52 chỉ còn đánh phá từ đường 9 trở vào nam, phần phía bắc chúng chủ yếu dùng máy bay chiến đấu chiến thuật đánh đêm. Từ đó, phía có thể suy đoán rằng chiếc B-52 chắc chắn xảy ra chuyện gì đó.

Mãi tới đầu năm 1973, phi công B-52 bị ta bắt sống sau chiến thắng 12 ngày đêm mới khai, đêm 20/11/1971 MiG-21 đã bắn bị thương B-52 của chúng ở Nam Lào. Một tổ động cơ trên chiếc đó bị cháy nhưng do đây là loại B-52H đã trải qua nhiều lần cải tiến, các đường ống dẫn dầu đều đi riêng ra từng tổ máy nên tổ lái đã xử lý cắt ống dẫn, dập lửa và đưa máy bay về hạ cánh ở Đông Bắc Thái Lan. Tuy nhiên, chiếc máy bay này cũng không thể sử dụng.

“Khi ta nói Không quân Nhân dân Việt Nam bắn rơi 2 B-52, thì phi công địch bảo lại, các ông đã bắn rơi 3 chiếc. Cuối năm 1971, có một chiếc bị thương nặng về hạ cánh được nhưng cũng bỏ không sử dụng được nữa, coi như rơi,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nhớ lại.

>> Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52

>> Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh

 

Lê Nam
baodatviet.vn

Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52

Trong chiến công bắn hạ B-52 của phi công tiêm kích MiG-21 Vũ Xuân Thiều, Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng,… người đầu tiên nhìn thấy B-52 bằng mắt thường là phi công Đinh Tôn.

Cách đây 40 năm, ngày 20/11/1971, phi công MiG-21 Vũ Đình Rạng bất ngờ, tiếp cận, phóng tên lửa đánh trúng pháo đài bay B-52 – niềm tự hào Không quân Mỹ. Để có chiến công này, cán bộ chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân tập trung, chuẩn bị công phu trong thời gian 3 tháng về mọi mặt.

Đất Việt xin giới thiệu về quá trình chuẩn bị, tiến hành trận đánh, qua lời kể của Đại tá Nguyễn Văn Chuyên – sĩ quan trực tiếp dẫn đường cho phi công lái tiêm kích MiG-21 :

(ĐVO) Lời tiên đoán của Bác Hồ

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã huy động nhiều phương tiện khí tài cực kỳ hiện đại nhằm buộc nhân dân ta phải khuất phục. Một trong những loại vũ khí có sức tàn phá khủng khiếp mà Mỹ sử dụng ở Việt Nam là máy bay ném bom hạng nặng B-52.

B-52 ra đời từ những năm 1950, ban đầu chúng được dùng để mang bom nguyên tử. Tới cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã cải tiến biến B-52 thành máy bay ném bom thông thường mang khối lượng bom lớn nhất thế giới (hơn 30 tấn) có sức tàn phá mạnh.

Lần đầu tiên Mỹ dùng B-52 trực tiếp uy hiếp Việt Nam, vào ngày 18/6/1965 30 chiếc B-52 từ Guam vượt 8.500km trong hơn 10h bay liên tục ném bom Tây Bắc Sài Gòn. Tới 12/4/1966, Mỹ đưa B-52 ra miền Bắc đánh vào khu vực Mụ Dạ, Hà Tĩnh.

“Ngay từ năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán Mỹ sẽ dùng B-52 đánh vào Hà Nội – Hải Phòng trong trận cuối cùng trước khi nó thua ta. Bác đã căn dặn bộ đội Phòng không – Không quân phải chú ý theo dõi tìm cách đánh B-52 từ giai đoạn 1965-1966,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nói.

Thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ, Binh chủng Không quân tổ chức nghiên cứu đánh B-52, đưa phi công MiG-21 và đơn vị dẫn đường, quân báo vào đèo Mụ Dạ.

Vì lúc này, từ 30/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố xuống thang ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 19 trở vào, tập trung “vùng cán xoong” Quân khu 4. Ngày 2/1/1968, Johnson tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam, dù vậy chúng vẫn dùng B-52 đánh phá trục đường vận chuyển của ta đoạn Mụ Dạ, đường 12, đường 10, đường Sê Pôn…

“Ban ngày, quân ta dùng kính TZK theo dõi đội hình máy bay địch đi thế nào, độ cao ra sao, cách thức như thế nào. Mặt khác, ta tổ chức đại đội radar dẫn đường (đại đội 47) vào Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh để nghiên cứu. Tuy nhiên, mấy tháng trời mở máy nhiễu nặng, không phát hiện được nên cuối cùng phải rút ra,” ông nói.

Phi công lái MiG-21 Đinh Tôn (Đinh Văn Tôn) tham gia trận đánh B-52 đêm 4/10/1971.

Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52

Tới năm 1971, nhận lệnh từ Bộ tư lệnh Quân chủng, Binh chủng Không quân tổ chức sở chỉ huy tiền phương (ký hiệu B8) hành quân vào Quảng Bình với quyết tâm phải đánh hạ B-52.

Không như lần trước, lần này sở chỉ huy B8 được tổ chức chặt chẽ, công phu nằm dưới sự điều khiển của hai Phó tư lệnh Không quân Trần Mạnh và Trần Hanh cùng nhiều sĩ quan tác chiến, dẫn đường, quân báo, thông tin, radar giàu kinh nghiệm tham gia.

Đầu tháng 8/1971, các đơn vị triển khai xong vị trí chiến đấu, đài radar của 3 đại đội 41 (Ba Đồn), 47 (Vân Đồn) và 45 (Đồi Si) đồng loạt mở máy “bắt” B-52. Nhưng trong tháng đầu tiên, tất cả các đài radar đều không phát hiện được mục tiêu. Không nản chí, sau nhiều lần các đơn vị tổ chức họp rút kinh nghiệm, sang tháng 9 các trạm đài radar tiếp tục mở máy.

Không uổng sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ, chiến sĩ, đại đội radar 41 bắt đầu phát hiện được B-52 trong nhiễu nhưng không ổn định, có lúc tốc độ thực mục tiêu chỉ 900-950km/h nhưng lại đo lên 3.500km/h, các đài radar cũng chưa thống nhất được đường bay và vị trí B-52.

Gần cuối tháng 9, các đại đội mới phát hiện đường bay B-52 nhưng vẫn chưa rõ. Tới tháng 10/1971, đại đội 41 phát hiện B-52 trong nhiễu tương đối rõ và ổn đinh.

Sau 3 tháng trời nghiên cứu, cùng với việc sân bay dã chiến Đồng Hới sửa xong đủ điều kiện tiếp nhận MiG, Sở chỉ huy B8 đề nghị Quân chủng cho đánh B-52 và được chấp nhận. 17h29  ngày 4/10/1971, phi công Đinh Tôn lái MiG-21 bí mật cất cánh từ sân bay Anh Sơn (Nghệ An) vào hạ cánh ở Đồng Hới (Quảng Bình) lúc 17h55.

Tới 19h13, phi công Đinh Tôn tiếp tục cất cánh từ Đồng Hới vào đánh B-52 ở khu vực đường 20. Nhờ giữ được yếu tố bí mật nên MiG của ta vào gần đến khu vực đánh phá địch cũng không hay biết.

Mọi điều kiện đều rất thuận lợi, tuy nhiên do radar dẫn đường của ta dù có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa bắt chính xác mục tiêu. Do đó, phi công Đinh Tôn ở thế đối đầu với B-52, anh “cưỡi trên lưng con ngáo ộp” và nhìn thấy chúng bằng mắt thường,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nhớ lại.

Có thể nói, Đinh Tôn là người phi công đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam chạm mặt B-52. Sau trận này, chúng ta gặp phải một khó khăn nữa, do địch biết được ý đồ của ta nên chúng cho máy bay đánh phá gây hư hỏng nặng sân bay Đồng Hới, đồng thời khống chế luôn sân bay này.

Việc không thể dùng sân bay Đồng Hới đặt ra cho những người chỉ huy câu hỏi lớn khi đó. Nếu không sử dụng Đồng Hới thì phải dùng sân bay nào, đường bay ra sao để đảm bảo tính bí mật. Một điều nữa, quân Mỹ hiểu được mục đich của ta là đưa MiG vào đánh B-52 nên càng tăng cường cảnh giác.

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên. Ảnh: Lê Nam

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên sinh năm 1931 tại xã Hoài Hảo (nay là Hoài Phú, Hoài Nhơn, Bình Định).

Năm 1949, ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1950, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, ông tập kết ra miền Bắc.

Năm 1956, ông được đoàn Không quân tuyển và đưa đi học điều phái dẫn đường, điều độ máy bay vận tải.

Từ 1960-1963, ông được đưa đi học ở nước bạn. Sau khi trở về nước, ông trực tiếp tham gia dẫn đường cho máy bay tiêm kích đánh địch và góp công vào nhiều trận đánh bắn hạ máy bay Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

>> Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh

Lê Nam
baodatviet.vn

Ký ức một vị tướng

Tướng Khiupenen A.I. đến thủ đô Hà Nội sáng 15/12/1972, ba ngày trước khi hàng trăm chiếc siêu pháo đài bay B52 của Mỹ thực hiện chiến dịch Linebacker II.

>> ‘Chúng tôi từng chiến đấu ở Việt Nam’
>> Quật đổ siêu pháo đài bay

Kỳ cuối: Ký ức một vị tướng

(Đất Việt) Ngay hôm sau, trong buổi gặp Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Văn Tiến Dũng, ông Khiupenen A.I nhận được thông báo về khả năng có cuộc tập kích lớn của Không quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam.

“Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”

Đến ngày 17/12/1972, ta đã xác định rõ thời điểm của đợt tấn công đầu tiên mà Không quân Mỹ tiến hành nhằm thực hiện âm mưu “đưa miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá”. Khoảng 19g ngày 18/12, tiếng còi báo động rền vang đã cắt ngang buổi tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp dành cho ông Khiupenen A.I. Chiến dịch Linebacker II chính thức bắt đầu. Lực lượng phòng không – không quân bảo vệ Hà Nội đã sẵn sàng chiến đấu với 62% các tiểu đoàn tên lửa cùng 64% đạn tên lửa cùng các đơn vị pháo cao xạ, máy bay tiêm kích và các tổ, đội bắn máy bay của dân quân.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp đoàn đại biểu quân sự Liên Xô. Thiếu tướng Khiupenen A.I đứng thứ ba từ phải sang, hàng đầu.

Các chuyên gia quân sự Xô-viết về kỹ thuật tên lửa, radar, tác chiến điện tử, không quân tiêm kích cùng chung chiến hào với quân dân Việt Nam. Theo số liệu của Bộ tổng tham mưu Quân đội Xô-viết, từ 11/7/1965 đến 31/12/1974 đã có 6.359 sĩ quan và gần 4.500 hạ sĩ quan, binh sĩ Liên Xô trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật và vũ khí trang bị, sát cánh cùng với bộ đội Việt Nam trên chiến trường miền Bắc chống lại Không quân Mỹ. Trong đó nhiều người đã lập công xuất sắc, có người đã dũng cảm hy sinh, bị thương… Hơn 3.000 người được tặng thưởng huân, huy chương của Nhà nước Việt Nam.

Lực lượng chủ yếu để đối phó với B52 khi đó là tên lửa  SAM-2, được thiết kế để bắn mục tiêu trên không tới độ cao 27km. Trong cuộc chiến tháng 6/1967 ở Trung Đông, quân đội Ai Cập đã triển khai 18 tiểu đoàn tên lửa SAM-2, nhưng chỉ phóng được 22 quả, bắn rơi 2 máy bay Mirage của Israel. Trong cuộc chiến tranh này, một số khí tài SAM-2 nguyên vẹn đã rơi vào tay quân đội Israel và được chuyển ngay cho Mỹ nghiên cứu, tìm hiểu.

Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Văn Tiến Dũng (phải) gặp Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô Khiupenen A.I tháng 1/1973.

Sau 4 tháng “mổ xẻ” SAM-2, Mỹ đã cho ra lò nhiều thiết bị gây nhiễu để đối phó với loại tên lửa này, trong đó có loại nhiễu rất nguy hiểm cho rãnh điều khiển tên lửa (nhiễu rãnh đạn). Từ cuối năm 1967 đầu năm 1968, Mỹ đã trang bị rộng rãi những thiết bị gây nhiễu mới cho các loại máy bay tham chiến ở Việt Nam. “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, Liên Xô sau đó đã thực hiện 3 giai đoạn cải tiến cho SAM-2 để đối phó với các thủ đoạn gây nhiễu và chiến thuật mới của Không quân Mỹ.

Chiến thắng của ý chí quật cường

Cuộc tập kích đường không chiến lược lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh ở Việt Nam được Nhà Trắng chỉ đạo và Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược Mỹ tổ chức chặt chẽ theo kế hoạch chung với sự huy động tối đa lực lượng của cả Không quân, Hải quân thuộc Hạm đội 7 cùng các căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Đội hình tấn công được triển khai với tốp đầu là các máy bay F4 đi trước 15 phút ở độ cao 6 – 7 km, để đánh phá các sân bay và thả nhiễu tiêu cực. Tốp thứ 2 gồm 4 – 6 chiếc F105 mang tên lửa chống radar bay ở độ cao 3 – 4 km trước khi B52 vào ném bom 1 – 2 phút để chế áp các trận địa tên lửa. Tốp thứ 3 gồm 2 – 4 chiếc F4 chặn máy bay MIG ở độ cao 8 – 9km. Thứ 4 là các tốp B52 với đội hình 3 chiếc một, bay ở độ cao 10,4  – 11,6km làm lực lượng chính ném bom các mục tiêu. Chỉ có 36% Không quân chiến thuật và Hải quân là trực tiếp làm nhiệm vụ đánh phá cùng B52.

Trong 12 ngày đêm chiến dịch, theo thống kê của các chuyên gia quân sự Xô-viết, đã có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi. Trong đó có tới 34 B52 và 3 chiếc F111. Bộ đội tên lửa phòng không đã phóng 321 tên lửa, hạ 54 máy bay, trong đó 244 tên lửa diệt 31 B52, chiếm 91% số B52 bị bắn rơi, bình quân 7,9 tên lửa hạ một B52 và 77 tên lửa diệt 23 máy bay chiến thuật. Nhờ thành tích xuất sắc này, bộ đội tên lửa đã được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Tướng Khiupenen A.I (trái) và phi công Phạm Tuân – người bắn rơi B52 ngày 27/12/1972.

Cùng với bộ đội tên lửa, pháo cao xạ đã bắn rơi 20 máy bay, trong đó có 1 chiếc B52 và 3 chiếc F111. Không quân tiêm kích với 10 trận không chiến đã bắn rơi 7 máy bay, trong đó có 2 chiếc B52. Chiến dịch tập kích đường không Linebacker II là thất bại nặng nề nhất trong lịch sử không chiến của Mỹ. Trong Thế chiến II, cứ 1.000 phi vụ xuất kích thì Không quân Mỹ bị mất 9 máy bay; trong Chiến tranh Triều Tiên là 4 chiếc; còn ở miền Bắc Việt Nam trung bình là 17 chiếc (chỉ riêng trong tháng 12/1972 là 34 chiếc).

Mặc dù Washington vẫn cho rằng, miền Bắc Việt Nam sắp cạn tên lửa, nhưng trên thực tế, với mức thiệt hại cao như vậy, thì điều hiển nhiên là Không quân Mỹ không thể kéo dài chiến dịch lâu hơn nữa. Cuộc đọ sức khốc liệt nhất trên bầu trời đã kết thúc với phần thắng thuộc về lực lượng phòng không – không quân Việt Nam.

Đó là chiến thắng của ý chí quật cường của một dân tộc anh hùng với sự trợ giúp nghĩa tình của bè bạn quốc tế. Cuối cùng, siêu pháo đài bay B52 đã không thể cứu thua cho Mỹ, bởi sự dã man tàn bạo không thể thắng chính nghĩa. Mỹ đã phải ký hiệp định chấm dứt chiến tranh, rút toàn bộ quân ra khỏi Việt Nam, rà phá thuỷ lôi phong toả miền Bắc, trao đổi tù binh trong vòng 2 tháng…

Giáo sư, Tiến sĩ, Thượng tướng Khiupenen A.I. tốt nghiệp Học viện Chỉ huy Pháo binh năm 1961. Ông trưởng thành từ trung đội trưởng tới Tư lệnh binh chủng Tên lửa phòng không quốc gia. Từ tháng 12/1972 đến tháng 1/1975. ông là Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô ở Việt Nam. Ông được tặng thưởng 35 huân, huy chương các loại, trong đó có huân chương Chiến công hạng Nhất của Việt Nam.

>> Những bức ảnh hiếm về Hà Nội 1973

>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 1)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 2)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 3)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 4)

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)

Đại tá, Kỹ sư Nguyễn Thuỵ Anh
baodatviet.vn

Quật đổ siêu pháo đài bay

Trong Chiến tranh lạnh, tên lửa S-75 (SAM-2) được chế tạo để chống lại B52, bảo vệ bầu trời Liên Xô và các nước Đông Âu.

Thế nhưng, sau nhiều lần được cải tiến, hai “kỳ phùng địch thủ” này lại đối đầu với nhau ở chiến trường Việt Nam, mà đỉnh điểm là 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng tháng 12/1972.

>> ‘Chúng tôi từng chiến đấu ở Việt Nam’

Kỳ 2: Quật đổ siêu pháo đài bay

(Đất Việt) Trên bầu trời Hà Nội tháng Chạp năm 1972, các chiến sĩ tên lửa Việt Nam “chỉ với những bệ phóng SAM-2 là loại tên lửa thế hệ 1 chưa có gì ghê gớm” đã quật đổ pháo đài bay B52 – con át chủ bài vũ khí chiến lược của Lầu Năm Góc.

Vũ khí chiến lược làm nhiệm vụ chiến thuật

Máy bay chiến lược B52 được Mỹ sản xuất với mục đích làm nhiệm vụ ném bom hạt nhân trong chiến tranh tổng lực với phe XHCN trên chiến trường chính là châu Âu. Vì bị sa lầy ở Việt Nam, nhằm cứu vãn tình thế, Lầu Năm Góc đành phải sử dụng B52 mang bom thường làm nhiệm vụ yểm trợ chiến thuật. Trong hơn 8 năm tham chiến ở Việt Nam, B52 đã thực hiện 124.532 phi vụ, thả 2.674.745 tấn bom, lớn hơn cả số bom mà không quân Mỹ đã sử dụng trong Thế chiến thứ 2 (2.057.000 tấn).

Cường độ hoạt động cũng tăng dần. Năm 1965, B52 xuất kích 300 phi vụ/tháng thì đến năm 1968 ở Khe Sanh là 1.800 phi vụ/tháng. Năm 1972, Mỹ sử dụng tới 200 chiếc B52 (tức là 48% toàn bộ lực lượng không quân chiến lược Mỹ) và đạt mức hoạt động tối đa vào tháng 5/1972 với 3.150 phi vụ. Tuy vậy, hiệu quả của B52 trong nhiệm vụ chiến thuật thì chính Lầu Năm Góc cũng phải hoài nghi, vì “càng nhiều bom ném xuống rừng rậm, thì những con đường của đối phương càng như dài ra, xuất hiện ở nhiều nơi”.

“Rồng lửa” Thăng Long trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không.

Trong chiến dịch tập kích đường không vào Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên… cuối năm 1972 mà giới quân sự Mỹ gọi là “Chiến dịch ném bom 11 ngày” (trừ 1 ngày nghỉ Noel), theo số liệu của Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược Mỹ (SAC), toàn bộ số B52 trên chiến trường (gần 200 chiếc) cùng với hơn 1.000 máy bay chiến thuật các loại trên 6 tàu sân bay và 7 căn cứ không quân ở Thái Lan, trong 11 ngày đêm đã thực hiện 4.583 phi vụ, trong đó có 740 phi vụ B52.

Mục đích của Mỹ là “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”, từ đó phải giảm cường độ tấn công trên chiến trường và chấp nhận thỏa hiệp trên bàn đàm phán. Vì thế Mỹ đã không tiếc bom đạn ném xuống miền Bắc. Đây là là một trong những cuộc tập kích có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh. Trong 12 ngày, Mỹ đã thả hơn 36.000 tấn bom, vượt quá khối lượng bom đã ném trong toàn bộ thời kì từ 1969 đến 1971.

Nhưng mục đích ấy không đạt được mà cái giá phải trả của siêu pháo đài bay đã làm Lầu Năm Góc phải nản lòng. Theo chính số liệu thống kê của SAC đã có 31 chiếc B52 bị rơi ở Việt Nam do hỏa lực phòng không đối phương và do “trục trặc kỹ thuật”, hàng chục chiếc khác bị thương, trong đó có 9 chiếc trúng đạn hỏng nặng không thể bay được nữa. Còn theo số liệu của Việt Nam là 68 chiếc B52 bị bắn rơi, cùng với hàng trăm phi công B52 bị chết và bị bắt.

Càng cải tiến, càng rụng

Mỹ liên tục cải tiến cho B52 và đã có tới 8 kiểu nối tiếp nhau ra đời từ B52A đến B52H. Lúc đầu B52D chỉ mang được 52 quả bom (12.247 kg), sau cải tiến lên tới 108 quả (27.216 kg). Khi mới tham chiến mỗi B52 chỉ được trang bị 8 máy gây nhiễu, tới năm 1972 đã có 15 máy gây nhiễu tích cực, 2 máy gây nhiễu tiêu cực, thiết bị gây nhiễu hồng ngoại, tên lửa mồi bẫy Quail.

Xác máy bay Mỹ rơi trong chiến dịch tập kích tháng 12/1972.

Đi kèm mỗi B52 trung bình có 7 máy bay các loại để trinh sát, gây nhiễu, chế áp phòng không, chi huy và cảnh giới, hộ tống chặn MIG, tiếp dầu, cứu hộ… Để an toàn hơn cho B52, Mỹ đã gây nhiễu công suất lớn trên các dải tần số làm việc của hệ thống rada cảnh giới và điều khiển hoả lực của ta cũng như của hệ thống thông tin liên lạc, chỉ huy chiến đấu.

Cùng với việc cải tiến B52, Không quân Mỹ suốt ngày đêm đánh phá dữ dội vào lực lượng PK-KQ của ta. Nhằm gây khó khăn rất lớn cho hệ thống phòng không Việt Nam, không quân Mỹ đã bắn tên lửa và ném bom ồ ạt nhiều lần vào 19 trận địa tên lửa, có nơi bị đánh 6 lần, 14 trận địa pháo cao xạ và 8 sân bay. Thế nhưng B52 vẫn rơi.

Sau khi chiến dịch kết thúc, Mỹ ra sức nghiên cứu, tìm hiểu lý do thiệt hại nặng nề của B52 trước đối thủ SAM-2 mà theo họ tính toán thì đã bị vô hiệu hoá, các pháo đài bay chỉ việc “nối đuôi nhau bay đi rồi bay về như đi dạo”. Lý do không thể phủ nhận được chính là sức mạnh của hệ thống phòng không Việt Nam mà Lầu Năm Góc đã tính nhầm. Tuy bị nhiều thiệt hại nhưng lực lượng PK-KQ của ta đã nhanh chóng khắc phục hậu quả, kịp thời rút kinh nghiệm và chiến đấu ngày càng hiệu quả hơn.

Tên lửa SAM-2 kiêu hãnh bảo vệ miền Bắc Việt Nam.

Chính Maicon Macsan, phi công có 26 năm phục vụ trong lực lượng không quân Mỹ, từng lái F4 thực hiện hơn 300 phi vụ chiến đấu ở Việt Nam, sau này tham chiến ở vùng Vịnh, đã thừa nhận: “Tôi trải qua nhiều chiến trường, nhưng phải công nhận hệ thống phòng không và tên lửa SAM-2 của miền Bắc Việt Nam là mạnh nhất, chưa từng có trên thế giới”. Phía Mỹ đã đưa ra con số rất lớn về số lượng tên lửa SAM-2 được phóng lên (hơn 1.200 quả) để biện minh cho sự thiệt hại nặng nề của B52.

Nhưng thực tế, chúng ta không có nhiều SAM-2 đến thế và cũng không bao giờ phung phí một số lượng tên lửa lớn như vậy trong khi cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn ác liệt. Với lực lượng 13 tiểu đoàn tên lửa SAM-2 bảo vệ Hà Nội ở giai đoạn 2, ngày cao điểm nhất chúng ta cũng chỉ phóng lên 74 quả tên lửa trên tổng số 334 quả trong toàn chiến dịch và trong 3 ngày 23, 24 và 25/12, khi B52 dãn xa ngoài vùng hoả lực tên lửa thì các tiểu đoàn tên lửa của ta đã không phóng một quả đạn nào.

>> Những bức ảnh hiếm về Hà Nội 1973

>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 1)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 2)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 3)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 4)

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)

Đại tá, Kỹ sư Nguyễn Thụy Anh
baodatviet.vn

‘Chúng tôi từng chiến đấu ở Việt Nam’

Gần 40 năm trôi qua, ký ức về 12 ngày đêm khói lửa đó vẫn vẹn nguyên trong mỗi người…

(Đất Việt) Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không không chỉ xuất phát từ ý chí kiên cường và lòng quả cảm của dân tộc Việt Nam, mà còn là hiện thân cho tinh thần tương trợ của bè bạn quốc tế. Hồi ký “Chúng tôi đã chiến đấu ở Việt Nam” của các chuyên gia quân sự nước bạn sẽ giúp chúng ta sống lại với những thời khắc đáng trân trọng của lịch sử.

Dưới đây là các trích đoạn trong tác phẩm này:

Kỳ 1: Ấn tượng Việt Nam

Sáng sớm 3/12/1971, chuyến bay đưa nhóm chuyên gia Liên Xô, trong đó có tôi (Sozranov A.Kh.) hạ cánh xuống sân bay ở Hà Nội. Từ đó, 300 ngày kề vai sát cánh cùng quân và dân Việt Nam vào những thời khắc ác liệt nhất là quãng thời gian thật hào hùng và không phai mờ trong tôi.

Khi còn ở Liên Xô, tôi được đọc nhiều bài viết về nhân dân Việt Nam anh hùng đã gần 30 năm chiến đấu vì độc lập, tự do. Tôi rất khâm phục và luôn đứng về phía họ. Bây giờ, tôi và đồng đội đang sát cánh cùng nhân dân Việt Nam, tận mắt chứng kiến tinh thần đoàn kết, chủ nghĩa anh hùng và niềm tin chiến thắng đó.

Mảnh khảnh nhưng phi thường

Đại tá Sozranov A.Kh. nhập ngũ năm 1957 và tốt nghiệp Học viện Kỹ sư Vô tuyến điện năm 1968. Từ tháng 12.1971-9.1972, ông tham gia Đoàn chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam với cương vị kỹ sư trưởng ngành tên lửa. Ông được tặng thưởng 10 huân, huy chương các loại, trong đó có huy chương Hữu nghị của Việt Nam.

Trên các nẻo đường Việt Nam, chúng tôi thường gặp rất đông trẻ em, khiến tôi nhớ tới 3 đứa con nhỏ của mình ở quê hương. Mỗi khi có dịp dừng lại, tôi đều chia kẹo và vui sướng ngắm nhìn bọn trẻ hồn nhiên. Tôi cũng đã thấy hàng trăm người dân, thậm chí cả trẻ em cũng tham gia sửa đường, xây dựng trận địa tên lửa, đào hầm, bẻ lá ngụy trang… Thật đáng cảm phục! Yêu mến Việt Nam, tôi càng căm thù cuộc chiến tranh mà kẻ khác đã mang đến reo rắc cho mảnh đất này.

Tôi đã ở Việt Nam 300 ngày với các đồng đội là chuyên gia tên lửa. Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với Cục Kỹ thuật Phòng không – Không quân, làm việc chủ yếu vào ban đêm, di chuyển vào sáng sớm hoặc chiều tà, nghỉ ngơi vào ban ngày.

Các bạn Việt Nam và chúng tôi tin tưởng lẫn nhau trong công việc. Các sĩ quan và chiến sĩ tên lửa Việt Nam làm việc rất nghiêm túc, thông thạo chuyên môn và trưởng thành qua thực tế chiến đấu.

Khi gặp những hỏng hóc phức tạp, tuy lúc đầu có lúng túng, nhưng chỉ cần một lần chỉ dẫn là họ đã ghi nhớ và rút kinh nghiệm được ngay. Đây là phẩm chất mà ngay cả các trắc thủ tên lửa của Liên Xô không phải lúc nào cũng có được.

Về mặt chiến thuật, các đồng chí Việt Nam hành động rất khôn khéo. Họ tổ chức phục kích, bố trí trận địa tên lửa trong rừng hướng về phía máy bay Mỹ thường xuất hiện. Chúng tôi cùng chuẩn bị kỹ khí tài, rồi sau đó mới phóng tên lửa vào máy bay địch. Và chúng khó mà thoát được.

Sau trận đánh, tiểu đoàn tên lửa phải nhanh chóng di chuyển. Các bạn Việt Nam làm việc này rất tuyệt vời, vì ai đã từng làm việc với loại tên lửa S-75 đều biết nó rất cồng kềnh, nặng nề. Việc triển khai và thu hồi càng phức tạp hơn vào mùa mưa, hay trong rừng rậm.

Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy các chàng trai Việt Nam mảnh khảnh lại có sức mạnh phi thường như vậy. Họ thao tác thuần thục, giữ an toàn cho cả khí tài và con người. Chính chúng tôi cũng rút ra nhiều kinh nghiệm từ thực tế chiến đấu ở Việt Nam khi sử dụng khí tài tên lửa trong chiến tranh hiện đại chống lại đối phương mạnh như Không quân Mỹ.

Ân tình trong khói lửa

Chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt. Đêm 25/12/1971, nhóm chuyên gia chúng tôi đã chuẩn bị xong khí tài cho tiểu đoàn 52, E267 đang bố trí ở phía Nam TP.Vinh.

Sáng 26/12, khi phát hiện mục tiêu bay vào, tiểu đoàn 52 phóng lên 2 quả tên lửa. Một chiếc bốc cháy, nhưng trận địa đã bị lộ. Khi các đồng chí Việt Nam đưa chúng tôi nhanh chóng rời ca-bin, thì bất ngờ vang lên tiếng nổ dữ dội, khiến chúng tôi ngã xuống đất, khói trắng bốc mù mịt.

Một quả tên lửa Shrike đã bắn trúng kho chứa phân bón hóa học nằm gần đài điều khiển, làm cho mọi vật bị phủ một lớp bụi trắng xoá. Các bạn Việt Nam vừa chạy đến, vừa kêu: “đồng chí Viktor”. Tôi nhìn sang thấy Thiếu tá Viktor Makarokhin nằm ngay gần tôi, máu đang chảy ra từ lưng và ngực trái.

Các chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam.

Chúng tôi băng bó và chuyển Viktor đến ngay bệnh xá trong làng. Biết tin một chiến sĩ Liên Xô bị thương nặng, ngay sau đó, nhiều người đến tận nơi động viên, thăm hỏi Viktor, trong đó có bà mẹ tuổi cao, từng là du kích chống Pháp đầu tiên ở đây. Tôi nhớ mãi thái độ quan tâm đặc biệt của người dân địa phương.

Sau đó, Vicktor được Thiếu tá – Bác sĩ Trần Quang Vy và Trung úy – Bác sĩ Đào Thị Oanh của Quân y viện Quân khu 4 cùng với kíp mổ từ Hà Nội (trong đó có Đại tá – Bác sĩ phẫu thuật Romanov N.G) vào tiến hành mổ. Tuy nhiên, vì không có máy chụp X-quang, nên đã không lấy hết được mảnh đạn trong người. Viktor ra viện và tiếp tục đi công tác với chúng tôi nửa năm nữa.

Chủ tịch Hội hữu nghị Xô-Việt, phi công vũ trụ Titov G.S thăm các chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam năm 1973.

Nhưng rồi cơn đau lại tăng lên do các mảnh đạn vẫn còn trong người gây ra. Anh được đưa về Liên Xô và phải mổ thêm 2 lần nữa, nhưng cũng không thể lấy hết được các mảnh đạn nằm ở gần tim và thận. Với thành tích trong chiến đấu, anh được tặng thưởng huân chương Sao đỏ và chuyển ngành với quân hàm Trung tá.

Ngày 8/9/1972, khi máy bay Mỹ đánh vào trận địa tên lửa ở phía Bắc Hà Nội, Thượng úy Mikhail Bindikov bị thương nặng. Chiếc F4 còn vòng lại, thả thêm một quả bom mẹ chứa 400 bom con (mỗi bom con chứa 400 viên bi) xuống chỗ đó, làm anh bị thêm hàng chục mảnh đạn nữa. Tất cả các chuyên gia Liên Xô và bạn Việt Nam đều tình nguyện hiến máu cứu anh. Nhưng vì vết thương quá nặng, ngày 10/9, Bindikov đã hy sinh.

Càng đi vào các tỉnh phía Nam, tôi càng thấy Không quân Mỹ đánh phá dữ dội, hố bom chi chít dọc Đường 1. Ba lần qua ngã ba Đồng Lộc, tôi nhớ mãi hình ảnh các cô gái dũng cảm đứng trên đỉnh đồi quan sát bom địch thả xuống để kịp thời phát hiện và đánh dấu bom nổ chậm…

>> Những bức ảnh hiếm về Hà Nội 1973

>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 1)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 2)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 3)
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 4)

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)

Đại tá, KS Nguyễn Thuỵ Anh (Theo hồi ký Chúng tôi đã chiến đấu ở Việt Nam)
baodatviet.vn

Bác Hồ với Thủ đô

Việt Nam - Hồ Chí MinhLà người làm sử, tôi cứ nghĩ mãi  một câu hỏi: Bác Hồ sinh ra từ mảnh đất Nghệ An (1890), lớn lên theo cha vào Huế (1905) rồi đi tiếp về phương Nam, đến thành phố Sài Gòn (1911) để rồi từ đó xuất dương. Bôn ba khắp 5 châu bốn biển, 30 năm sau con người ấy trở về với Tổ quốc từ một cửa ngõ địa đầu phía Bắc (1941).

Con người ấy dường như chưa một lần đặt chân lên Hà Nội. Hơn thế nữa  nếu tính từ khi nhà Nguyễn lập triều, vua Gia Long đã rời đô từ Thăng Long vào Huế (1802) thì Hà Nội đã không còn là kinh đô từ ngót một thế kỷ rưỡi. Tên gọi Thăng Long bị biến cải chữ (hán) “Long” là “rồng” thành “Long là sự hưng thịnh” để xóa bỏ danh tính gắn với vương triều; rồi hạ thấp tường thành; rồi phá bỏ thành quách cũ để xây thành “vô băng” làm tỉnh thành Hà Nội…

Thực dân biến nước ta thành thuộc địa còn đang tâm chia nước ta làm ba mảnh, chỉ coi Hà Nội là một trung tâm hành chính của Bắc kỳ mặc dù có xây Phủ toàn quyền toàn Đông Dương ở Hà Nội cũng  giống như ở Sài Gòn…

Vậy mà cái tâm thức  nào đã khiến vị lãnh tụ của cuộc cách mạng, tại Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào đã đưa ra quyết định sáng suốt chọn Hà Nội làm Thủ đô của nước Việt Nam độc lập, đã nối lại mạch nghiệp xưa của kinh đô Thăng Long – Đông Đô?

Rồi lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội sau khi thành phố đã giành chính quyền trước khi nhận được bản quân lệnh số 1. Vì sao nhà cách mạng từng trải ấy lại chọn chỗ ở là nhà của một trong những người giàu nhất, tại giữa một khu phố giàu nhất Hà Nội? Cũng tại ngôi nhà này vị Chủ tịch lâm thời đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng và tiếp đón nhiều thượng khách…?

Với Bác, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân. Với Bác, tấm áo giáp chở che cách mạng không chỉ là những người cùng khổ mà “hễ là người Việt Nam đều có tấm lòng yêu nước”. Do vậy mà Hà Nội dường như không xa lạ với nhà cách mạng xứ Nghệ.

Rồi trong những ngày căng thẳng nhất của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Bác vẫn gắn bó với Hà Nội và tiên đoán rằng chính  bầu trời của Hà Nội sẽ là nơi diễn ra trận quyết đấu định đoạt cuộc chiến. Hơn ba năm sau ngày Bác ra đi, mùa đông 1972, trận “Điện Biên Phủ trên không” với sự liên tưởng hào hùng về hình ảnh rồng lửa Thăng Long quật nhào B52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Thủ đô đã chứng thực cho lời tiên đoán của Bác. Đầu năm 1973, Hiệp định Paris đã “đánh cho Mỹ cút” và hai năm sau đó ngụy bị đánh nhào… Cả nước vang lên bài ca “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Trả lời cho những câu hỏi trên, có thể tìm thấy dưới chiều sâu của di chỉ hoàng thành, pho sử đầy thuyết phục về truyền thống ngàn năm văn hiến của kinh thành Thăng Long xưa. Và có một câu trả lời nữa đã được ghi tạc trong sử sách: Trong lịch sử  Việt Nam, có hai triều đại là nhà Hồ ở đầu thế kỷ 15, và nhà Nguyễn ở đầu thế kỷ 19, đã nhấc chân lên khỏi mảnh đất thiêng, dời đô khỏi mảnh đất mà đức Lý Công Uẩn đã viết trong “Chiếu dời đô”: “Đó là nơi thắng địa, tụ hội nhìn khắp bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời… mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau”. Và lịch sử cả hai triều đại ấy, dài ngắn khác nhau đều không tránh khỏi sự suy vong trước nạn ngoại xâm.

Thật dễ hiểu, Bác Hồ đã từng mở đầu một bài diễn ca bằng lời căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta”.

Dương Quốc Trung
Theo Việt Báo
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Biệt thự lưu giữ kỷ niệm về đàm phán hòa bình Việt Nam

Chúng tôi tới thăm ngôi nhà số 49, nay là số nhà 17 phố Cambacérès, Verrières-le-Buisson, ngoại ô Thủ đô Paris, Pháp.

biet thu

Góc hồ nhìn vào biệt thự Verrières-le-Buisson. (Ảnh: Lê Hà/Vietnam+)

Nay đã trở thành một Di tích lịch sử gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên (Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa) tiến tới việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris ngày 27/1/1973.

Vì giá trị lịch sử của nó, ngày 13 tháng 10 năm 2012, Tòa thị chính thành phố Verrières-le-Buisson phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và các bạn bè Pháp đã gắn biển di tích lịch sử cho ngôi nhà.

Tấm biển mang tên: “Nơi đây, từ năm 1968 đến 1973, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền nam Việt Nam đã lưu trú để tham gia các cuộc đàm phán và ký Hiệp định Paris về Hòa bình, ngày 27/1/1973”. Ngôi nhà này do các bạn Pháp là thành viên Đảng Cộng sản Pháp khi đó giới thiệu cho phía Việt Nam thuê.

Nơi đó, cách đây 40 năm, bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó (sau này là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, cùng một số thành viên trong đoàn tùy tùng, từng lưu trú từ năm 1968 đến năm 1973, để tham gia các cuộc đàm phán lịch sử tiến tới ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với sự giúp đỡ của ông bà Pierre Gueguen, khi đó còn là thành viên lực lượng an ninh, kể cho chúng tôi nghe lịch sử của ngôi nhà và giúp chúng tôi có được một cuộc du ngoạn xung quanh ngôi nhà.

Dù dưới cái lạnh giá của mùa Đông, cây cối và hoa xung quanh nhà đã rụng hết lá và trơ lại những cành khẳng khiu, nhưng cảnh quan nơi đây vẫn tạo cho ngôi nhà vẻ đẹp nên thơ vốn có của nó.

Kiến trúc của ngôi nhà dường như không hề thay đổi, chỉ có phía trước của ngôi nhà được sửa lại một chút cho phù hợp với nhu cầu người chủ mới (ông bà Pierre Bertaud) và một lớp sơn mới được quét lên bên ngoài cũng không làm nó mất đi vẻ cổ kính của nó với sự đổi thay của thời gian.

Ngôi nhà nằm trên một khu đất cao, với một khu vườn rộng bao quanh được trồng rất nhiều hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây cổ thụ và được điểm thêm vài bức tượng của các nhà điêu khác nổi tiếng của Pháp.

Sau nhiều cuộc hẹn gặp và được sự đồng ý của chủ nhà, ông bà Pierre Bertaud, (đang làm việc tại Paris), chúng tôi mới vào thăm được bên trong ngôi nhà đó, cùng với sự hướng dẫn ông Trịnh Ngọc Thái, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ giao lưu văn hóa, kinh tế quốc tế và Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Pháp, khi đó là trợ lý của ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (miền Bắc Việt Nam) và ông Lê Đức Thọ là cố vấn đặc biệt.

Ông nói trở lại đây bốn mươi năm sau xa cách, ngôi biệt thự này đã gợi nhớ lại trong ông lại những kỷ niệm không thể nào quên trong suốt gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán, mà theo ông là cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trên thế giới.

Ông cho biết, khi đó ông là thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tham dự hội nghị 2 bên với đoàn đại biểu Mỹ do ông W. Averell Harriman, nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ dẫn đầu. Hội nghị diễn ra ngày 13/5 đến ngày 1/11/1968 tại phố Kléber tại Paris, bàn việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nói chung, trước hết đòi phía Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện chiến tranh ở phía Bắc Việt Nam.

Sau đó đến ngày 25/1/1969, mới diễn ra cuộc đàm phán 4 bên với sự tham gia (thêm) của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu.

Đến tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam mới thành lập. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam tham dự hội nghị 4 bên này tại Paris. Ngôi biệt thự trở thành ngôi nhà mang dấu ấn lịch sử của cách mạng Việt Nam – nơi bà Bình đã lưu trú và làm việc.

Ông Phạm Ngọc Thái không khỏi xúc động trước cảnh quan hầu như không đổi thay của nơi đây và cho biết cổng ô tô vào tòa nhà vẫn ở bên tay phải, hai khu nhà chính và phụ cách nhau bằng một cái sân không lớn lắm với bãi cỏ xanh mướt bao quanh…

Đi qua cửa chính vào nhà là một hành lang ngắn dẫn đến phòng khách – chính nơi bà Nguyễn Thị Bình thường tiếp ông Nguyễn Đức Thọ, ông Xuân Thủy hay các đoàn khách quốc tế, bạn bè Pháp.

Trên gác là buồng ngủ của bà Nguyễn Thị Bình và phòng làm việc vẫn được bài trí như khi xưa, chỉ có bộ bàn ghế (salon) là mới và hiện đại một chút nhưng vẫn làm cho không gian của phòng khách giữ được sự sang trọng, lịch sự và ấm áp.

Tần ngần đứng trước dãy nhà cấp bốn phía sau khi đi qua cái sân nhỏ cách với với ngôi nhà chính, ông Thái cho biết thêm đây chính là nơi làm việc và chỗ nghỉ của anh em bảo vệ, lái xe.

Phòng điện đài nằm ngay bên tay trái vẫn còn như nguyên vẹn không gian và dáng vẻ của nó (nay đã trở thành nhà kho). Nơi trước đây đã từng phát đi những tin tức quan trọng góp phần không nhỏ tạo nên chiến thắng hôm nay.

Ông Trịnh Ngọc Thái nhấn mạnh đến vị trí của ngôi nhà nằm cạnh một hồ nước không lớn lắm, được thả cá, có thiên nga bơi lội và một hàng liễu trồng xung quanh thướt tha rủ xuống soi bóng trên mặt nước – mang tên Hồ Cambacérès.

Theo ông, chính những cảnh quan này đã mang đến cho ngôi nhà vẻ đẹp và sự hài hòa khó quên. Nhất là, nơi đây mãi mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm không thể nào quên đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc nói chung và trong cuộc đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris nói riêng.

Ông nhấn mạnh “không gian và khung cảnh nên thơ này đã giúp cho bà Nguyễn Thị Bình, có được giờ phút thư giãn và đưa ra được nhiều ý tưởng, sáng kiến mới và những suy nghĩ mang tính thuyết phục hơn”.

Cũng tại ngôi biệt thự này, nhiều phương án đã được đưa ra được nhằm cụ thể hóa đường lối chính trị của Bộ chính trị đã đề ra.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông không quên nhắc đến những thuận lợi và khó khăn trong suốt qua trình diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật, nhiều khi gần như dẫn đến bế tắc, nhất là khi cuộc đàm phán diễn ra vào đầu tháng 12/1972, là lúc đế quốc Mỹ leo thang ném bom B52 xuống miền Bắc. Nhưng với chiến thắng vang dội của quân và dân Việt Nam trước những “pháo đài bay trên không” của Mỹ đã kéo Mỹ trở lại cuộc đàm phán với Việt Nam.

Lý giải về thắng lợi tiến đến ký kết Hiệp định Paris về hòa bình ở Việt Nam, ông Trịnh Ngọc Thái trở nên sôi nổi hắn lên cho biết Việt Nam đã thành công là vì biết kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt trận vừa đánh vừa “đàm”, có nghĩa phải kết hợp nhiều mặt trận như trên bàn hội nghị, trên chiến trường, mặt trận ngoại giao, kết hợp với phong trào chính trị ở miền Nam và vận động, tranh thủ sự ủng hộ các bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ nhớ lại những công việc, cùng những kỷ niệm đã gắn bó ông với nơi này, khi cùng làm việc với bà Nguyễn Thị Bình – “nhà thương lượng tài ba” của Việt Nam, ông luôn nhắc đến những tình cảm và sự ủng hộ cao đẹp của các bạn bè Pháp đã dành cho đoàn Việt Nam khi đó. Thường các bạn Pháp giữ vai trò bảo vệ an ninh vòng ngoài tại các nơi ở và làm việc của đoàn Việt nam.

Nói đến chiến thắng này, ông ngậm ngùi nhớ đến những anh em, đồng chí, bạn bè ở miền Nam, miền Bắc không còn nữa, họ ra đi để lại trong lòng ông những ấn tượng và tình cảm sâu nặng, như ông Đinh Bá Thi, bà Nguyễn Thị Trơn, cô Bình Thanh – Thư ký riêng của bà Bình, anh Lê Văn Tư, anh Lý Văn Sáu,… những người cốt cán trong đoàn đại biểu Chính phủ của Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, và trong đoàn miền Bắc như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Minh Vỹ, Phan Hiền, Nguyên Cơ Thạch, Trần Công Tường,…

Tất cả họ là những người đã có nhiều đóng góp và hy sinh cho thành công của Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Họ là những người có nhiều gắn bó với bà Bình trong suốt thời gian tham gia phục vụ hội nghị.

Về nhần mình, ông Pierre Bertaud, chủ nhà cho biết ông rất vinh dự được sống tại ngôi nhà có giá trị lịch sử như vậy. Trước khi mua nó, ông đã biết nơi đây bà Nguyễn Thị Bình đã ở. Bà là nhà “thương lượng tuyệt vời của Việt Nam về hòa bình”.

Ông cho biết ông cũng là con người của hòa bình và ông luôn ủng hộ điều đó. Theo ông, sự “kiên trì” của Việt Nam đã trở thành một bài học đối với ông trong quá trình “thương thuyết”./.

Theo http://www.vietnamplus.vn/
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thu “tín hiệu lạ” từ không quân địch

QĐND-Đầu năm 1972, trước tình hình địch có thể liều lĩnh leo lên những nấc thang cao nhất của chiến tranh, trong đó có việc tập kích chiến lược bằng đường không vào các mục tiêu đầu não của ta ở miền Bắc, Thủ trưởng Cục Tình báo – Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị các phương thức, lực lượng của tình báo quân sự khẩn trương thu thập những tin tức, tài liệu có liên quan.

Tạo lập cơ sở, vạch ra những nét tổng quát là trách nhiệm của Phòng nghiên cứu tổng hợp (Phòng 70) thuộc Cục Tình báo. Sau khi rà soát, đánh giá lại toàn bộ lực lượng không quân và hải quân Mỹ, thấy rõ Mỹ coi máy bay ném bom chiến lược B-52 là “bảo bối” lớn nhất, là “con bài tẩy” uy lực nhất, nhiều khả năng chúng sẽ tung ra để “hạ gục” ta, Thủ trưởng Phòng 70 đã giao Thiếu tá Mạc Thành Lâm, cán bộ phụ trách bộ phận hỏi cung tù binh của Phòng nghiên cứu, biên soạn một chuyên đề riêng về B-52.

Lúc ấy, đối với bộ phận hỏi cung tù binh thuộc Phòng 70, B-52 đã là một đối tượng khá quen thuộc bởi ngay từ năm 1968 và đặc biệt là từ cuối năm 1971, khi địch đánh phá trở lại miền Bắc, trong quá trình hỏi cung tù binh là giặc lái Mỹ, Thiếu tá Mạc Thành Lâm và các cộng sự rất chú trọng tìm hiểu khả năng địch dùng B-52 để đánh lên quá vĩ tuyến 20 và Hà Nội. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, bộ phận hỏi cung tù binh liền tổng hợp các biên bản hỏi cung tù binh đã có, đồng thời tiến hành gặp gỡ một số tên giặc lái Mỹ đang nằm trong trại giam của ta, có hiểu biết tương đối tốt về B-52 để hỏi lại, hỏi thêm, xoáy sâu vào các nội dung: Số lượng B-52 và khả năng bố trí chúng trên các căn cứ không quân của Mỹ ở gần Việt Nam; tính năng chiến thuật, kỹ thuật của B-52; tổ chức đội hình B-52 và các loại máy bay hộ tống trong tác chiến; sự phân chia khu vực mục tiêu giữa không quân chiến thuật và không quân chiến lược Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội; đường bay của B-52 từ ngoài biển vào, từ Thái Lan sang miền Bắc Việt Nam; độ cao hành trình, các khu vực tiếp dầu trên không, thành phần yểm trợ không chiến, yểm trợ chế áp pháo cao xạ, tên lửa phòng không, ra-đa của đối phương… Tháng 6-1972, qua hỏi cung tù binh, ta nắm được một thông tin hết sức quan trọng là tại một vài căn cứ, không quân Mỹ đang tổ chức tập luyện trên sa bàn theo phương án sử dụng B-52 đánh vào Hà Nội. Nhờ vậy, tháng 10-1972, chuyên đề “Dự kiến tập kích đường không chiến lược B-52 vào Hà Nội và các biện pháp đối phó của ta” do Thiếu tá Mạc Thành Lâm trình bày tại một hội nghị quân sự (do Bộ Tổng tham mưu tổ chức, Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp chủ trì) đã được đánh giá cao và ngay sau đó được phổ biến cho các đơn vị để nghiên cứu, vận dụng.

Trong việc nắm địch một cách cụ thể, công đầu thuộc về Trung đoàn trinh sát kỹ thuật 75 thuộc Cục Tình báo, mà trực tiếp là Tiểu đoàn thu tin 1, có sự góp sức của Tiểu đoàn định hướng 13 và Tiểu đoàn thu tin 35 (đứng chân, làm nhiệm vụ ở tuyến 1 và chiến trường Trị – Thiên – Huế).

Tù binh phi công Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò trước khi được trao trả về nước (năm 1973). Ảnh tư liệu.

Ngay sau khi được Đại tá Phan Bình, Cục trưởng Cục Tình báo – chỉ thị tổ chức theo dõi, bám nắm thật chắc không quân địch trong trường hợp chúng quay trở lại đánh phá vĩ tuyến 20, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng và đặc biệt là phải phát hiện sớm nếu B-52 vào trận, Ban chỉ huy Trung đoàn 75 đã bố trí lại đội hình Tiểu đoàn 1 theo hướng vừa sẵn sàng chiến đấu cao, vừa thu thập thông tin nhanh và tập trung tìm hiểu kỹ về B-52. Nhờ lên phương án tổng tìm và nghiên cứu hợp lý mà Tiểu đoàn 1 đã sớm phát hiện, theo dõi được 10 mạng sóng có dấu hiệu nghi vấn. Cuối tháng 7-1972, Thiếu úy, thu tin viên Nguyễn Đăng Phúc phát hiện được một tín hiệu xin trở về căn cứ, từ đó lần ra mạng sóng thông tin liên lạc kiểm soát đường bay của không quân chiến lược Mỹ. Tháng 11-1972, Tiểu đoàn 1 khai thác tối đa những sơ hở của địch trên mạng sóng này khi B-52 bay vào đánh phá ở địa bàn nam Khu 4, đã dự kiến dấu hiệu tình báo xuất hiện từ các nguồn chặn thu, tập trung lập phương án nắm địch khi chúng dùng B-52 đánh lớn ra miền Bắc, trong đó có sự kết hợp trinh sát kỹ thuật sóng ngắn và trinh sát kỹ thuật sóng cực ngắn, kết hợp trinh sát kỹ thuật đặt ở trên cao và trinh sát kỹ thuật đặt dưới hầm, kết hợp Tiểu đoàn thu tin 1 và Tiểu đoàn định hướng 13… Nửa đầu tháng 12-1972, Tiểu đoàn 1 nắm được thông tin Mỹ đưa thêm B-52 và một số loại máy bay chiến thuật đến các căn cứ không quân của chúng ở xung quanh Việt Nam, số lượng máy bay chiến thuật tại căn cứ U-ta-pao (Thái Lan) là 50, tại căn cứ An-đéc-xơn (Gu-am) là 100 và tại căn cứ Đà Nẵng là hơn 100 chiếc…

Ngày 17-12-1972, Tiểu đoàn 1 thu được điện tin Bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ (đóng tại Ha-oai) gửi Bộ tư lệnh Không quân Mỹ tại Việt Nam (đóng tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn) ra lệnh đình chỉ việc đi phép, yêu cầu mọi phi công ở lại căn cứ để sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Tin này lập tức được báo cáo lên cấp trên. Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Phó tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn cùng đánh giá đây là tin rất quan trọng và chỉ thị cho Quân chủng Phòng không-Không quân sẵn sàng chiến đấu. Trinh sát kỹ thuật còn nhận thấy trong hai ngày 16 và 17-12, B-52 ngưng hoạt động, không quân chiến thuật Mỹ không tiến hành trận đánh phá nào, chỉ không quân của hải quân Mỹ là thực hiện vài trận nhỏ lẻ. Rõ ràng, B-52 và không quân chiến thuật Mỹ đang dồn lực lượng để chuẩn bị cho một trận đánh lớn.

Trong đêm 17-12-1972, Tiểu đoàn 1 tiếp tục thu được tin địch ra thông báo tình hình thời tiết khu vực miền Bắc Việt Nam và thông báo mở rộng phạm vi hoạt động của máy bay trực thăng làm nhiệm vụ cấp cứu phi công gặp nạn. Ngoài ra, Tiểu đoàn còn phát hiện máy bay trinh sát các loại của địch (trong đó có cả máy bay do thám tầng cao EB66) bay nhiều hơn ở khu vực từ Bắc Thanh Hóa trở ra, nhất là vùng Hà Nội, Hải Phòng, tàu sân bay địch cũng dâng cao hơn hẳn ở ngoài Biển Đông…

Sáng 18-12-1972, trinh sát kỹ thuật thu được những tin tức rất quan trọng khác: 4 giờ 00 – “Number One” sẽ di chuyển đến căn cứ An-đéc-xơn; 9 giờ 00- 13 máy bay tiếp dầu KC135 ở một căn cứ gần Việt Nam điểm danh trên mạng; 9 giờ 20 – các tàu sân bay Mỹ ngoài Biển Đông di chuyển lên quá vĩ tuyến 19 (cao một cách bất thường), các tàu khu trục dẫn bay thì còn dâng lên cao hơn nữa…

Thủ trưởng Cục Tình báo đã báo cáo ngay với trên là nhiều khả năng B-52 sắp đánh lớn vào miền Bắc. Đến 13 giờ 30 phút ngày 18-12, qua thu thập bổ sung một số tin tức khác, trinh sát kỹ thuật không chỉ khẳng định B-52 sẽ đánh phá Hà Nội mà còn cung cấp thông tin khá cụ thể về số lượng, thời gian, khu vực, hướng mục tiêu đến.

Chiều tối 18-12-1972, trinh sát kỹ thuật dồn dập báo cáo: 15 giờ 30 – các tốp B-52 lần lượt xuất hiện trên mạng dẫn bay toàn cầu của địch trong hành trình từ Gu-am về phía Việt Nam; 17 giờ 00 – nhiều máy bay tiếp dầu đã bay tới, tập trung tại một khu vực ở cách Phi-líp-pin 180km về phía Bắc, máy bay chỉ huy trên không EC121 và máy bay chỉ huy cấp cứu HC130 điểm danh trên mạng để thực hiện nhiệm vụ vào buổi tối và ban đêm; 19 giờ 00 – các tốp B-52 và máy bay chiến thuật lần lượt điểm danh trên mạng sóng cực ngắn với Đài kiểm soát bay khu vực…

Tới 19 giờ 48 phút thì tiếng bom nổ rền, mở màn chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ” của địch…

Để tăng cường khả năng nắm địch, Tiểu đoàn 1 tăng số bàn máy thu sóng cực ngắn đang hoạt động từ 5 lên 12, các thu tin viên cũng tăng số giờ làm việc mỗi ngày từ 6 lên 12, có người còn làm việc suốt cả ngày lẫn đêm, chỉ trừ những lúc ăn cơm. Trong bản báo cáo công tác năm 1972 của Trung đoàn 75, có ghi: “100% trận đánh, địch tổ chức lúc nào ta biết lúc ấy và biết sớm từ khi chúng bắt đầu cất cánh. Sau đó là quá trình bay vào mục tiêu, số bị bắn rơi, vị trí phi công rơi, xin cấp cứu”.

Cùng thời gian này, bộ phận hỏi cung tù binh thuộc Phòng 70 đã tích cực khai thác số giặc lái vừa bị ta bắt sống (nhất là số giặc lái B-52) nhằm nắm thêm các yếu tố kỹ thuật, chiến thuật, chiến dịch của địch, kịp thời báo cáo để Bộ Tổng tham mưu phổ biến cho các đơn vị, phục vụ đắc lực các trận đánh trả tiếp theo.

Ngày 25-12-1972, địch ngừng đánh phá. Câu hỏi cấp trên đặt ra là chúng ngừng hẳn hay chỉ tạm ngừng nhân ngày lễ Nô-en? Ngay trong ngày, Tiểu đoàn 35 đã có câu trả lời qua việc thu được điện tin trao đổi giữa 2 sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn: “Tổng thống Thiệu phản đối việc ký kết Hiệp định Pa-ri vào thời điểm này”. Cùng ngày, cơ cán đi sâu Đặng Trần Đức của điệp báo chiến lược (làm việc trong Đặc ủy Trung ương tình báo của chính quyền Sài Gòn) có tin khẳng định Mỹ ném bom trở lại miền Bắc không phải để kéo dài chiến tranh mà là để gia tăng sức ép đối với ta và chúng dự kiến tới giữa tháng 1-1973 sẽ ký Hiệp định Pa-ri…

Với thành tích góp phần đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của địch, Tiểu đoàn thu tin 1 (Trung đoàn trinh sát kỹ thuật 75) đã được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

VŨ SÁNG
qdnd.vn

Mã dịch “tin sớm” ở Mặt trận Quảng – Đà

QĐND – “Công việc “bếp núc” ấy mà” – đó là câu trả lời khiêm tốn mà các CCB nguyên là chiến sĩ báo vụ và cơ yếu ở Trạm Tình báo B54 vẫn quen gọi về công việc của mình. Tuy đã nghỉ hưu tại Hà Nội, nhưng cứ hai năm một lần, CCB Nguyễn Tấn Hoàng và CCB Đỗ Đức Lấp cùng các CCB từng công tác ở Trạm B54 lại tổ chức chuyến đi thăm lại chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng, nơi họ từng có nhiều năm công tác ở Cụm tình báo chiến lược B54 thuộc Cục Nghiên cứu-Bộ Tổng Tham mưu (nay là Tổng cục II).

Tháng 3-1965, chàng trai đất Quảng Nguyễn Tấn Hoàng trở về mảnh đất quê hương làm nhiệm vụ sau hơn 10 năm tập kết ra Bắc. Ngày ấy, Trạm Tình báo B54 đứng chân ở một khu rừng thuộc địa bàn huyện Quế Sơn, cách quê ông (xã Tam An, huyện Tam Kỳ) khoảng 30 cây số. Hồi đó, người dân địa phương vẫn nghĩ Trạm B54 là một cơ sở cách mạng thuộc Huyện ủy Quế Sơn hay là một đơn vị đặc công nào đó, trong khi hằng ngày, chiến sĩ báo vụ Nguyễn Tấn Hoàng và các chiến sĩ cơ yếu như ông Đỗ Đức Lấp phải tuân thủ triệt để việc “đi không dấu, nấu không khói, nói đủ nghe, che ánh sáng” để thực hiện nhiệm vụ mã dịch các tin tức do giao thông viên hoặc các cơ sở tình báo chuyển về Trạm, rồi chuyển tiếp những “tin sớm” ấy về Cục theo chỉ đạo của cấp trên. “Để chuyển các bức điện ấy, tôi và anh em báo vụ phải cơ động ra một khu rừng khá xa, bí mật kéo ăng-ten lên để “tác nghiệp”.

CCB Đỗ Đức Lấp và Nguyễn Tấn Hoàng (thứ 2 và 3 từ trái sang) trong ngày gặp lại đồng đội Trạm tình báo B54 tại Quảng Nam (tháng 5-2010). Ảnh do nhân vật cung cấp

Thông thường những tín hiệu “tạch tè” ấy được chúng tôi thực hiện vào các buổi tối để bảo đảm bí mật”, CCB Nguyễn Tấn Hoàng nhớ lại. Còn với ông Đỗ Đức Lấp, do đặc thù công việc nên những chiến sĩ cơ yếu như ông thường biết rõ nội dung của những “tin sớm” ấy trước khi chúng được chuyển đi. Ông bảo: “Trong gần 10 năm công tác ở Trạm, khó có thể liệt kê cụ thể bao nhiêu nội dung được chúng tôi mã dịch, chuyển đi để cấp trên xử lý, cũng khó có thể nhớ nổi những chiến công lặng thầm của đội ngũ điệp báo, giao thông viên hoặc các cơ sở tình báo của B54 trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy”.

Trong số những cơ sở tình báo ngày ấy, các CCB Trạm B54 vẫn còn ấn tượng với những tấm gương kiên trung của người dân địa phương khi họ đã thầm lặng đóng góp công sức với Trạm B54. Giờ đây, họ vẫn thường kể nhiều về hai cơ sở tình báo là cụ Phạm Phú Hoàng-một cụ già thuộc dòng dõi khoa bảng của triều đình Huế và nhà tư sản Phan Kỳ-một chủ hiệu vàng ở Chợ Hàn (Đà Nẵng). Cụ Phạm Phú Hoàng quê ở huyện Điện Bàn, Quảng Nam, gia thế của cụ được chính quyền ngụy rất nể trọng, nhưng chúng đâu biết cụ đã nhiều lần ra Đà Nẵng đưa đón cán bộ tình báo cho Trạm B54. Mỗi lần đi, cụ lại chỉnh tề khăn đóng, áo dài. Khi qua các bốt gác, bị địch chặn hỏi, cụ lại bảo: “Tau đi nhận lương của thằng con là lính Cộng hòa ở Sài Gòn gửi về…”. Với trường hợp nhà tư sản Phan Kỳ, năm 1966, Trạm B54 đã cử người vào Đà Nẵng móc nối, đưa ông lên căn cứ ở Quế Sơn, Quảng Nam và mời ông làm cơ sở cho ta. Sau khi được học tập chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng và nhận lời làm cơ sở cách mạng, trở về Đà Nẵng, ông đã nuôi giấu một Tổ trưởng tình báo ngay tại tiệm vàng Tâm Thành của gia đình. Từ đó, ta đã xây dựng được nhiều cơ sở trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 của địch. Khi cơ sở nội tuyến chuyển vào Sài Gòn, Tổ trưởng tình báo của ta phải chuyển theo để chỉ đạo, nhà tư sản Phan Kỳ lại tiếp tục vào Sài Gòn mua nhà và nuôi giấu đồng chí Tổ trưởng cho tới ngày đường dây liên lạc bị lộ, ông bị địch bắt và đày ra Côn Đảo…

Tấm căn cước giả mang tên “Lê Văn An” của chiến sĩ tình báo Nguyễn Tấn Hoàng. Ảnh: Trung Nguyên

CCB Đỗ Đức Lấp chia sẻ với chúng tôi một chuyện riêng, ấy là trong gần 10 năm ở Trạm B54, với nhiệm vụ của một nhân viên cơ yếu, ông đã trực tiếp mã dịch, xử lý hàng trăm “tin sớm” ở chiến trường, vậy mà ở quê ông (xã Hòa Bình, Vĩnh Bảo, Hải Phòng), gia đình ông lại sớm nhận phải một tin buồn, ấy là tấm giấy báo tử… ghi tên ông. “Sau này nghe kể lại, tôi mới biết mình bị nhầm tên với người anh họ tên là Đỗ Đức Lập. Lúc về quê, mọi người vui mừng khôn xiết khi biết tôi còn sống, nhưng niềm vui của gia đình tôi cũng không được trọn vẹn, bởi thay vào đó là một nỗi buồn không gì bù đắp nổi của gia đình ông bác ruột”, CCB Đỗ Đức Lấp tâm sự. Ngồi ôn lại chuyện cũ, CCB Nguyễn Tấn Hoàng cũng nhớ trong gần 10 năm làm báo vụ ở Trạm B54, rất gần nhà, nhưng do công việc đặc thù nên ông không thể liên lạc với gia đình.

Sau những tháng năm phục vụ trong quân ngũ, năm 1976, CCB Đỗ Đức Lấp chuyển ngành về công tác ở Công ty xuất nhập khẩu Thủ công mỹ nghệ thuộc Bộ Ngoại thương, còn CCB Nguyễn Tấn Hoàng tiếp tục công tác ở Tổng cục II cho tới khi nghỉ hưu. Giữa đời thường, trong những ngõ phố nhỏ hẹp hay tại các khu tập thể quân đội, họ cũng bình dị như bao cựu chiến binh hoặc công chức nghỉ hưu khác, chỉ tới khi được nghe những người lính trận ấy hàn huyên với đồng đội những kỷ niệm khó quên ở Trạm tình báo ngoài mặt trận, mọi người mới phần nào hiểu thêm về những công việc lặng thầm của họ.

Quang Huy – Trung Nguyên
qdnd.vn

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy và “7 nét đặc sắc”

QĐND – Sau khi hoàn thành khóa đào tạo phi công chiến đấu ở Liên Xô, Nguyễn Văn Bảy (A) về nước và được biên chế vào Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Biên đội MiG-17 của Nguyễn Văn Bảy là một trong những đơn vị bắn rơi nhiều máy bay địch.

Trận đánh ngày 26-4-1966 trên vùng trời Võ Nhai (Bắc Thái cũ) là trận đánh tuyệt đẹp, ghi dấu ấn riêng của Nguyễn Văn Bảy. Khi nhìn thấy mục tiêu, như một tia chớp, Nguyễn Văn Bảy bất ngờ xông thẳng vào giữa đội hình máy bay địch, làm cho chúng hốt hoảng tháo chạy toán loạn. Anh bình tĩnh bám chắc một chiếc. Tới cự ly có hiệu quả, bằng hai loạt đạn, Nguyễn Văn Bảy hạ gục tại chỗ chiếc máy bay tiêm kích F-4 vốn rất hung hăng của địch.

Phi công Nguyễn Văn Bảy, năm 1967.

Ba ngày sau, ngày 29-4-1966, trên vùng trời Việt Trì (Phú Thọ), biên đội của Nguyễn Văn Bảy bị một tốp rất đông máy bay tiêm kích địch bám đuổi. Anh lập tức quay lại đối đầu, buộc địch phải giãn ra né tránh. Biên đội anh giành được thế chủ động, nhanh chóng chớp thời cơ bắn rơi hai máy bay địch, riêng Nguyễn Văn Bảy bắn rơi một chiếc.

Trong hai tháng 6 và 7-1966, hơn một chục máy bay Mỹ bị các biên đội MiG-17 của Trung đoàn 923 bắn rơi, ta chỉ tổn thất một chiếc.

Ngày 5-9-1966, Nguyễn Văn Bảy cùng biên đội 4 chiếc MiG-17 quần nhau với 16 chiếc F-4 và F-105 của địch trên vùng trời Chí Linh (Hải Dương). Toàn biên đội đã giành chiến thắng rực rỡ, bắn rơi 3 máy bay địch và trở về an toàn. Riêng Nguyễn Văn Bảy bắn rơi một chiếc.

Chiều 12-12-1966, sau Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước toàn quốc, Nguyễn Văn Bảy vinh dự cùng 37 chiến sĩ không quân có thành tích xuất sắc được lên Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Người tươi cười hỏi:

– Chú nào bắn rơi 4 máy bay Mỹ trở lên?

Đồng chí Chính ủy Quân chủng Đặng Tính báo cáo:

– Thưa Bác, đồng chí Bảy, đồng chí Mẫn và đồng chí Trung ạ!

Bác nói:

– Chú Bảy, chú Mẫn, chú Trung đâu, đứng lên cho Bác biết?

Cả ba người cùng đứng dậy sung sướng hướng lên phía Bác. Bác tỏ ra rất hài lòng, Người nói:

– Như vậy là tất cả các chú ở đây đều đã lập công xuất sắc, cả ba chú này đều bắn rơi nhiều máy bay Mỹ lập công xuất sắc nhất phải không?

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy trong vườn nhà hiện nay…

Tư lệnh Phùng Thế Tài báo cáo:

– Thưa Bác, đúng ạ! Riêng hai đồng chí Bảy và Mẫn lại luôn chiến đấu trong một biên đội. Trong trận chiến đấu ngày 5-9 vừa rồi, hai đồng chí đã diệt gọn cả một tốp hai chiếc F-8 của Mỹ, nên ngay tối hôm đó đã được Bác gửi tặng hai huy hiệu.

– Bác nhớ rồi. Hai chú đều quê ở miền Nam, chú Bảy ở Sa Đéc, còn chú Mẫn ở Bến Tre phải không? Bác hoan nghênh chiến công của tất cả các chú. Các chú đánh khá, nhưng đừng thấy Bác khen mà mũi to ra. Bắn rơi 4 chiếc còn ít. Các chú phải đánh giỏi, bắn rơi nhiều máy bay nữa để Bác vui, đồng bào miền Nam vui…

Nghe lời căn dặn của Bác, Nguyễn Văn Bảy chợt nhớ tới trận đánh rất thú vị ở cầu Giẽ, Hà Tây ngày 5-9-1966. Lúc ấy chiều muộn, Bảy và Mẫn đang được lệnh trở về sân bay. Bỗng anh phát hiện hai chiếc máy bay địch như hai chấm nhỏ ở phía trái. Chúng cũng phát hiện ra MiG nên đổi hướng, không vào đánh cầu Giẽ mà tăng tốc kéo dài hai vệt khói ra phía sau. Bảy tưởng chúng tăng tốc để tấn công các anh. Không dè, chúng đang lao nhanh chạy ra hướng biển. Bảy lệnh cho Mẫn: “Số 2 bắn chiếc bên trái!”. Bảy hô xong, liền tiếp cận và bắn cháy bùng ngay chiếc bên phải. Mấy giây sau, Mẫn cũng bắn nổ tung chiếc bên trái. Trận đánh gặp địch bất ngờ diệt gọn cả một tốp hai chiếc F-8 chỉ có 45 giây…

Chiều 23-4-1967, biên đội 4 chiếc MiG-17 bí mật hạ cánh xuống sân bay Kiến An-Hải Phòng, phục kích địch kéo vào từ phía biển. Vào lúc 16 giờ 30 phút, nhiều tốp F-4 và F-105 bay vào từ biển và đánh khu vực Đông Triều-Quảng Yên. Biên đội xuất kích, được dẫn vòng đến khu vực Sơn Động-Hà Bắc, thuận ánh mặt trời dễ quan sát. Số 2 Nguyễn Bá Địch báo cáo: “Địch bên phải, phía trước 10km!”. Biên đội trưởng Mẫn bình tĩnh ra lệnh: “Vứt thùng dầu phụ, tăng lực, số 2 theo tôi đánh tốp đầu, số 3 đánh tốp sau”. Sau vài phút rượt đuổi, Nguyễn Bá Địch hạ gọn một chiếc F-4. Đôi MiG-17 Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn Thế Hôn lúc này đang quần nhau với 4 chiếc F-4 ở tầm thấp hơn. Thế trận xen kẽ, Nguyễn Văn Bảy đang bám hai chiếc F-4 phía trước. Sau anh lại có hai chiếc F-4 bám đuôi. Nguyễn Văn Bảy tiếp cận máy bay địch, dùng khẩu ca-nông 37mm bắn trúng chiếc F-8C của phi đội 24 do tên thiếu tá hải quân E.J.Tucker lái. Hắn nhảy dù và bị bắt. Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống tìm cách gỡ bàn thua, lao vào công kích Bảy. Ьược đồng đội Nguyễn Thế Hôn thông báo, Bảy tài tình ngoặt gấp, tránh đ¬ược tất cả những quả tên lửa của địch phóng tới, thoát khỏi tình thế nguy hiểm…

Những trận đánh trên bầu trời không có chiến tuyến, không có công sự ẩn nấp. Lập công tiêu diệt địch và bị hy sinh diễn ra trong tích tắc. Trong bối cảnh địch đông, ta ít; đứa cơ động không chiến vòng trong với ta, thằng lảng vảng bên ngoài nhằm lúc MiG sơ hở, mải mê công kích để phóng tên lửa tiêu diệt. Những trận không chiến nh¬ư vậy, ta điêu luyện tả xung hữu đột vừa tiêu diệt địch vừa thoát được vòng vây. Nhưng lừa cho địch bắn vào nhau nh¬ư Nguyễn Văn Bảy là trường hợp hiếm có. Đó là trận đánh xảy ra vào giữa năm 1967 trên vùng trời Sơn Động-Hà Bắc. Lúc này, Nguyễn Văn Bảy chỉ huy Biên đội 4 chiếc MiG-17 quần nhau với 6 chiếc F-4 ở tầm thấp. Nguyễn Văn Bảy đuổi một chiếc F-4 vòng gấp, chỉ cách mặt đất 100m. Một chiếc F-4 bám theo anh và phóng tên lửa. Anh né tránh được trong chớp mắt, quả tên lửa lao vào thằng F-4 đang bị Bảy bám đuổi. Đó là kết quả của trí tuệ và tài nghệ điều khiển máy bay lật cánh tránh viên đạn bắn dọc lên, khiến vệt lửa xanh nối liền sang máy bay địch. Nguyễn Văn Bảy không tốn viên đạn nào mà vẫn tiêu diệt gọn một chiếc F-4…

Mỗi người anh hùng phi công thời chống Mỹ, cứu nước đều có những nét đặc sắc đáng nể. Riêng đối với Nguyễn Văn Bảy, cái tên “cúng cơm” của anh ứng với “7 nét đặc sắc”, đó là:

1- Anh đã bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng MiG-17, loại máy bay chỉ có hỏa lực là ca-nông bắn gần để đương đầu với tên lửa không đối không được phóng ra từ xa. Tốc độ máy bay của anh chỉ bằng 70% tốc độ các loại máy bay của Mỹ mà anh bắn rơi.

2- Anh là phi công duy nhất của MiG-17 đã thắng Mỹ đậm với tỷ số “7-0”, nghĩa là anh diệt 7 máy bay Mỹ và không để chúng bắn rơi, bắn bị thương người và máy bay mình lần nào.

3- Anh là một biên đội trưởng đã tạo được nhiều thời cơ để các chiến sĩ trong biên đội có cơ hội lập công, đồng thời anh cũng giành phần hiểm nguy về mình nhiều lần nhất.

4- Anh là một trong ba phi công được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân đầu tiên, trong đợt tuyên dương anh hùng thời chống Mỹ, cứu nước đầu tiên ở miền Bắc, vào ngày đầu tiên của năm 1967.

…và trên ruộng lúa. Ảnh: Thanh Xuân

5- Anh là chiến sĩ không quân đầu tiên được bầu vào Quốc hội, là Anh hùng Không quân được mời tham gia Đoàn Chủ tịch các đại hội, các cuộc mít tinh của quân đội và Nhà nước nhiều lần nhất.

6- Anh là người chiến sĩ được gặp Bác Hồ nhiều lần nhất lúc Người còn khỏe mạnh, được thưởng 7 chiếc huy hiệu của Người. Ngày Bác mất, anh được đứng túc trực sau linh cữu của Người. Trong buổi lễ truy điệu Bác Hồ, anh dẫn đầu biên đội 12 chiếc MiG-17 bay qua quảng trường Ba Đình chào vĩnh biệt Người…

7- Năm 1990, Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Bảy, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, được nghỉ hưu. Ông đã rời thành phố trở về quê nhà, cần mẫn lao động làm kinh tế VAC, tích cực tham gia công tác địa phương, vận động bà con đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đời sống văn hóa mới. Xin giới thiệu mấy hình ảnh của ông “Hai Lúa” Nguyễn Văn Bảy hiện nay ở quê nhà: xã Hòa Thanh, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp…

ĐINH MẠNH CƯỜNG
qdnd.vn