Tag Archive | Quân sự

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Hồ Chủ tịch

Trước nhiều thời điểm lịch sử của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp bàn bạc để đưa ra những quyết định trọng đại.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Giá trị tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân”

Trong thời kỳ chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, nhất là vào cuối năm 1944, tình hình diễn biến mau lẹ, thời cơ khởi nghĩa đang đến gần, lực lượng chính trị quần chúng đã phát triển mạnh mẽ, các lực lượng vũ trang cách mạng của quần chúng (du kích, tự vệ) lần lượt ra đời và phát triển nhanh chóng. Ngày 22-12-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Bản Chỉ thị là sự kế thừa, phát triển những di sản tư tưởng quân sự phong phú của dân tộc, tiếp thu những giá trị tinh hoa tư tưởng của nhân loại. Tiếp tục đọc

Nhân cách cao cả của người trí thức theo Bác Hồ về nước kháng chiến

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh giáo sư – Viện sỹ Trần Đại Nghĩa:
00:55 | 29/06/2013
Một ngày cách đây hơn 15 năm, khi thực hiện đề tài Văn hóa Vĩnh Long, chúng tôi xin phép và được gặp Giáo sư – Viện sỹ Trần Đại Nghĩa tại nhà riêng trên đường Nguyễn Trọng Tuyển – TP Hồ Chí Minh (lúc đó Giáo sư còn chưa ngã bệnh, rất tỉnh táo). Khi chúng tôi hỏi, Giáo sư (GS) còn nhớ những chuyện về quê hương vùng đất “chín rồng”. Ông trầm ngâm rồi hỏi tôi: Sông Măng giờ còn trong như xưa không cháu? Nay bà con ta ở Hoà Hiệp – Tam Bình ta sống như thế nào? Tiếp tục đọc

Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh

Các nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phân tích, khái quát tư tưởng nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh, coi đó là đường lối quân sự cơ bản của cách mạng Việt Nam – một trong những nhân tố quyết định dẫn đến thắnglợi giải phóng hoàn toàn đất nước ta.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ, ông Gớt Hôn đánh giá về Bác: “Người là một lãnh tụ chính trị nhưng Người cũng là một lãnh tụ xuất sắc về quân sự”. Không ngẫu nhiên ông đánh giá cao Bác Hồ như vậy, bởi chắc ông đã đọc kỹ tiểu sử và nghiên cứu những bài viết về quân sự của Bác. Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là sự kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự thế giới. Hồi ở Pháp Người đọc nhiều sách quân sự của cách mạng tư sản Pháp, của công xã Pa-ri và quân đội Pháp hiện thời. Thời gian ở Liên Xô Người đã nghiên cứu nghệ thuật quân sự Xô viết. Đặc biệt Người nghiên cứu rất kỹ binh pháp cổ Trung Quốc để có “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”, ”Phép dùng binh của Tôn Tử”(1943)… Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp nối truyền thống nghệ thuật quân sự Việt Nam với những nguyên lý cơ bản: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo (Nguyễn Trãi), Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước chung sức, là khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc (Trần Quốc Tuấn), là lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, là “ngụ binh ư nông”…

1. Chúng ta muốn hoà bình…
Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là trọng hoà bình, là không muốn chiến tranh. Khi cả nước chuẩn bị phải bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ tuyên bố với thế giới rằng: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh… Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách… Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi…”(1). Rõ ràng để trở thành nhà quân sự kiệt xuất là ngoài ý muốn của Người, không hề muốn chiến tranh, nhưng cần thiết thì Người cùng cả dân tộc buộc phải tiến hành chiến tranh để giành độc lập, tự do, để cho xứ sở này luôn tràn ngập ánh trăng hoà bình như trong những áng thơ của Người vậy. Cây muốn lặng gió chẳng muốn đừng, dã tâm của kẻ thù là muốn đưa dân ta trở về kiếp nô lệ, cả nước ta phải cầm súng, Bác Hồ viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:
“Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Tư tưởng hoà bình yêu tự do của Người là sự kế thừa, tiếp nối tinh thần trọng hoà hiếu của cha ông, cách sống thương người như thể thương thân của dân tộc: “Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt đều đáng quý như nhau… Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”.(2)

2. Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Nghệ thuật chiến tranh trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn là nghệ thuật chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Bác Hồ giải thích: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông đàn bà, người già con trẻ, ai cũng tham gia kháng chiến”(3). Đường lối kháng chiến này lại được thể hiện cụ thể mà sinh động trong một bài thơ của Người: Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/ Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng/ Tiến lên chiến sỹ! Tiến lên đồng bào/ Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/ Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi/ Thống nhất độc lập, nhất định thành công (Chúc năm mới – 1947). Có nhà phê bình đã chia thơ Hồ Chí Minh ra thành hai loại, thơ tuyên truyền cổ động và thơ nghệ thuật. Chúng tôi lại cho rằng thơ Hồ Chí Minh chỉ có một loại thơ nghệ thuật, dĩ nhiên cần phải hiểu nghệ thuật ở nghĩa rộng rãi hơn, nghệ thuật cả ở những vấn đề ngoài văn bản chứ không chỉ tồn tại trong hình thức văn bản. Những tác phẩm như Chúc năm mới trên thì vừa là tuyên truyền vừa là nghệ thuật, nghệ thuật đưa chính trị vào nghệ thuật, nghệ thuật mượn nghệ thuật để tuyên truyền…

Cách đánh du kích là hệ quả tất yếu của đường lối chiến tranh nhân dân được Bác Hồ đặc biệt chú ý. Người viết tác phẩm Đánh du kích như đánh cờ nêu những cách đánh giặc cụ thể của một cụ nông dân đã già yếu: Một ông già, một sợi dây/ Làm cho điêu đứng một bầy địch nhân; của một cụ bà cao tuổi: Tuổi già gan lại càng già/ Làm cho địch biết tay bà mưu cao; của một em bé: Tuổi nhỏ mà gan thì to/ Đem hai thứ trứng bán cho quân thù… Đây chính là sự cụ thể hoá của nghệ thuật chiến tranh nhân dân: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc… Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

3. Kiên quyết không ngừng thế tiến công
Hạt nhân của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng chiến lược tiến công. Đây chính là vấn đề quyết định sự thắng lợi của bất kỳ công việc gì chứ không chỉ là việc đánh giặc, bởi chỉ nhờ có tiến công mới có thể tạo ra được thế chủ động, mà trong đánh giặc thì việc này là tối cần thiết, như Bác Hồ nói: “Giữ quyền chủ động chính là giữ thế công, giữ thế công mới đánh được giặc”(4). Bài thơ Học đánh cờ được các nhà nghệ thuật quân sự nước ta coi là sự thể hiện của đường lối chiến lược quân sự Việt Nam ngắn gọn nhất, sinh động nhất. Bài thơ có 3 khổ, 12 câu, 108 chữ thì hai chữ tấn công được nhấn mạnh tới ba lần: Tấn công thoái thủ ưng thần tốc (Tấn công thoái thủ nhanh như chớp), Kiên quyết thì thì yếu tấn công (Kiên quyết không ngừng thế tấn công), Công thủ vận trù vô lậu toán (Tấn công phòng thủ không sơ hở). Chỉ có trên cơ sở tấn công mới tạo ra được thời cơ. Cấu trúc của khổ thơ sau là một kết cấu nhân quả:
Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tấn công
Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công
Nhờ có tầm nhìn rộng, suy nghĩ kỹ càng kết hợp với thế công (thì) dù có “lạc nước” nhưng vẫn có thể “gặp thời một tốt cũng thành công”.

4. Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu…
Hồ Chí Minh rất chăm lo xây dựng lực lượng quân đội theo nguyên tắc tập trung: “Về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng”(5). Quân đội ấy phải hết sức coi trọng chính trị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”(6). Học tập chính trị để có quyết tâm, để rèn luyện ý chí đánh giặc. Ở bất cứ thời nào, bất cứ nơi đâu, nếu có chiến tranh thì yếu tố con người vẫn là yếu tố quyết định sự thành bại. Bác Hồ đã khẳng định điều đó bằng nhiều hình thức khác nhau, những câu nói khác nhau, ví như một mệnh đề nổi tiếng: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công thì vấn đề đoàn kết chính là con người. Hay ở một bài thơ khác, bài Thơ chúc mừng năm mới -1956 có hai câu cuối:

Quyết chí bền gan phấn đấu
Hoà bình thống nhất thành công

Thì chỉ nhờ có giáo dục chính trị mới có thể quyết chí bền gan được. Cái gốc của giáo dục là tình thương. Bác Hồ rất thương chiến sỹ mà bài thơ Tư chiến sĩ chỉ là một biểu hiện: Canh thâm lộ cấp như thu vũ/ Thần tảo sương nùng tự hải vân/ Khoái tống hàn sam cấp chiến sỹ/ Dương quang hoà noãn báo tân xuân (Đêm khuya, móc rơi dồn dập như mưa thu/ Sáng sớm, sương dày như mưa mặt biển/ Mau gửi áo rét cho chiến sỹ/ Ánh nắng ấm áp đã báo trước tin xuân mới sắp về). Đúng là một tình thương cha con. Điều này được tiếp nối từ lịch sử: Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào (Bình Ngô đại cáo)… Nhân đây xin nói tới đạo làm tướng theo quan niệm của Bác thì cái gốc vẫn là tình thương yêu và sự gương mẫu: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng Tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”(7). Có thế thì mới tạo ra được Hùng sư bách vạn tất thính lệnh (Trăm vạn hùng binh đều nghe lệnh).

Xin khép lại bài viết bằng lời dạy của Bác với quân đội ta: “Phải nhớ rằng nhân dân là chủ. Dân như nước, mình như cá, lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”; “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Đấy là nghệ thuật quân sự cốt lõi nhất, cơ bản nhất đã góp phần quyết định tạo nên sức mạnh vô địch của quân đội ta, quân đội của nhân dân: “Trung với Đảng. Hiếu với dân. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”

Nguyễn Xuân Nguyên

——-

(1) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 473
(2) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 457
(3) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 485
(4) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 3 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 473
(5) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 3 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 507
(6) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 318
(7) Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 – Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 207

Văn nghê Quân đội
quocphonganninh.edu.vn

“Tân binh” làm nên kỳ tích

QĐND-Trước Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, hai Trung đoàn Tên lửa 261, 257 (Sư đoàn 361) làm nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội đều chưa một lần đối mặt với B-52, nhưng khi chiến dịch này diễn ra, các kíp chiến đấu của họ – những người từng bị coi là “tân binh” của lực lượng phòng không Thủ đô – đã làm nên kỳ tích bắn rơi hơn 20 “siêu pháo đài bay”…

Đại tá Hoàng Bảo, nguyên Trưởng ban Tác huấn Sư đoàn 361 kể: “Trước khi diễn ra Chiến dịch 12 ngày đêm, hai Trung đoàn 261 và 257 đều ở Hà Nội và chưa hề “chạm trán” B-52. Nhưng, sau rất nhiều cuộc tập huấn, thục luyện, sư đoàn đã có những kíp chiến đấu giỏi với những trắc thủ điêu luyện như: Luyến-Ấp-Đức-Hiền; Thuận-Tứ-Linh-Độ; Kiên-Lịch-Thi-Đài…”.

Đêm 18-12-1972, Tiểu đoàn 78 của Trung đoàn 257 phóng quả tên lửa đầu tiên vào đội hình B-52 địch. Máy bay không rơi, nhưng đó là một sự mở đầu nhiều ý nghĩa. Đêm ấy, các trắc thủ đã phát sóng để bắt mục tiêu. Phát sóng, nghĩa là họ sẵn sàng đối mặt với tên lửa sơ-rai lao vào trận địa từ máy bay địch, và các anh đã phát hiện ra dải nhiễu “na ná” hình dải nhiễu mà các đồng đội ở chiến trường Khu 4 gửi ra. Vậy là điểm yếu của “siêu pháo đài bay” đã bộc lộ.

Đại tá Hoàng Bảo (ngoài cùng, bên phải) và các đồng đội Sư đoàn 361. Ảnh: MINH TRƯỜNG.

Đại tá Nguyễn Đình Kiên, nguyên sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261 – kể lại thời điểm kíp chiến đấu của Tiểu đoàn đã lập nên kỳ tích từ những “quả đạn cuối”. Đó là khi phương án tiết kiệm đạn được đặt ra, các thành viên kíp chiến đấu tự nhận thấy: Nếu trắc thủ thao tác tốt, chọn thời cơ phóng thích hợp thì có thể giảm số lượng đạn trong loạt bắn xuống từ 1 đến 2 quả mà vẫn tiêu diệt được mục tiêu. “Tiểu đoàn tôi lúc đó có rất nhiều cán bộ kỹ thuật được đào tạo cơ bản ở các trường đại học và trung cấp kỹ thuật, họ có trình độ và kiến thức khá vững. Trong hơn 3 năm sát cánh, chúng tôi đã hiểu rõ năng lực của nhau nên công tác phối hợp chiến đấu của tiểu đoàn thường tiến hành thuận lợi”.

Được bổ nhiệm là Đại đội phó Đại đội 1 từ tháng 7-1972, nhưng do yêu cầu chiến đấu nên Chuẩn úy Nguyễn Đình Kiên vẫn được cấp trên giao nhiệm vụ sẵn sàng thay thế vị trí sĩ quan điều khiển kíp 1. Cấp trên hiểu rất rõ năng lực của Kiên, một người lính từng gác bút nghiên lên đường nhập ngũ từ giảng đường của Trường Đại học Nông nghiệp 1 và đã có 5 năm đảm nhiệm vị trí sĩ quan điều khiển. “Lần đầu tiên tôi nhìn thấy đồng đội mình đổ máu, đó là buổi trưa ngày 4-9-1972 khi trận địa của tiểu đoàn bị dính tên lửa sơ-rai của địch làm gần chục người có mặt trên xe điều khiển bị thương, riêng Nguyễn Văn Nhận bị thương nặng và hy sinh”, Đại tá Nguyễn Đình Kiên nhớ lại.

Sau sự cố thương vong ngày 4-9-1972, Hạ sĩ, Trắc thủ góc tà Ngô Ngọc Lịch mới tròn 20 tuổi được lựa chọn đưa từ kíp 2 lên kíp 1, anh đã tiếp thu kinh nghiệm của lớp đàn anh và nhanh chóng trưởng thành. Trắc thủ cự ly Mè Văn Thi là một người ít nói nhưng cẩn thận, tỉ mỉ, đức tính khiêm nhường của anh làm mọi người trong kíp đều quý mến. Trong số 3 trắc thủ thì Nguyễn Xuân Đài – Trắc thủ phương vị – là người có kinh nghiệm chiến đấu dày dạn. Từng nhập ngũ cùng năm và chiến đấu nhiều trận với Nguyễn Đình Kiên, Đài rất am hiểu tính tình và cách đánh của người sĩ quan điều khiển. Với Nguyễn Đình Kiên, ở vị trí sĩ quan điều khiển, anh nhận thấy bất kể lúc nào 3 trắc thủ và mình đều phải ăn ý, bốn người như một.

Nhớ lại kỷ niệm sâu đậm trong 12 ngày đêm chiến đấu với B-52, các thành viên kíp chiến đấu Tiểu đoàn 57 đều nhắc nhiều tới hai trận đánh diễn ra vào rạng sáng ngày 21-12 tại trận địa Đại Đồng (Thuận Thành, Bắc Ninh). Đó là những trận chiến đấu lập nên kỷ lục mới của bộ đội tên lửa: Với hai quả đạn cuối cùng, Tiểu đoàn 57 đã lập nên kỳ tích với nhiều cái “nhất”: Hiệu suất chiến đấu cao nhất (10 phút bắn rơi 2 B-52); xác suất diệt mục tiêu lớn nhất (mỗi quả đạn bắn rơi 1 máy bay B-52); đơn vị bắn đạn tiết kiệm nhất… Tiểu đoàn 57 còn trở thành tiểu đoàn tên lửa duy nhất có hai cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, đó là Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt và Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên.

Đầu tháng 10-2012, các cựu chiến binh thuộc 10 tiểu đoàn tên lửa từng trực tiếp hạ gục B-52 trong Chiến dịch 12 ngày đêm đã có mặt tại Sở chỉ huy Sư đoàn 361 để làm rõ thời gian, địa điểm, danh sách kíp chiến đấu… Một cuốn kỷ yếu nêu rõ thành tích, diễn biến của những trận đánh hạ gục 25 B-52 đã được biên soạn, trở thành “cẩm nang” giúp thế hệ trẻ sư đoàn học tập, rèn luyện.

Ít ai biết rằng, trước khi bước vào Chiến dịch 12 ngày đêm, những kíp chiến đấu ấy vẫn từng bị coi là những “tân binh” trong cuộc chiến với “siêu pháo đài bay”.

VŨ MINH
qdnd.vn

Lai-nơ-bếch-cơ II qua nhật ký, hồi ký của giới chóp bu Nhà Trắng

QĐND-Ních-xơn (Nixon) quyết định ném bom dịp Lễ Giáng sinh bất chấp phản ứng của một số nhân vật chủ chốt khác. Lý do là Ních-xơn sợ rằng, khi nhóm họp trở lại vào tháng 1 năm 1973, Quốc hội mới của Mỹ sẽ ra các đạo luật đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam (to legislate the United State out of the war)(*), không đoái hoài đến các lợi ích gây chiến của chính quyền Ních-xơn và chế độ Thiệu.

Dưới đây là một ghi chép từng ngày các sự kiện ở Nhà Trắng thời kỳ Lai-nơ-bếch-cơ II dựa trên nhật ký, hồi ký… của các nhân vật chóp bu trong chính quyền Mỹ.

13-12-1972

Bộ trưởng Quốc phòng Men-vin Le-đơ (Melvin Laird) gửi một công hàm cho Ních-xơn phản đối sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết bế tắc trên bàn đàm phán. Le-đơ cho hay, ông ta được Đại sứ Rát-sơ (Rush) và Mua-rơ (Moorer) (Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân) ủng hộ. Điều này hẳn đã dẫn đến sự thiếu tin tưởng của Ních-xơn đối với chóp bu quân sự Mỹ trong tiến trình Lai-nơ-bếch-cơ II.

14-12

Hồi ký Ních-xơn, NXB Grát-xét en Đan-láp (Grosset and Dunlap), năm 1978, trang 734: “Ngày 14-12, tôi phát lệnh, có hiệu lực trong ba ngày, về rải mìn trở lại cảng Hải Phòng, tái phát động các chuyến bay do thám bằng đường không, và chuẩn bị các phi vụ B-52 không kích khu vực Hà Nội – Hải Phòng”.

Tổng thống Ních-xơn (đứng) và cố vấn an ninh Kít-xinh-giơ (bên phải) trong ngày 14-12-1972. Ảnh: Lưu trữ Nhà nước Hoa Kỳ.

Theo Hồi ký Kít-xinh-giơ (Kissinger) “Những năm ở Nhà Trắng, NXB Lít-tơn, Brao-nơ và Com-pa-ni (Little, Brown and Company), năm 1979, trang 1448, Ních-xơn, Kít-xinh-giơ và Hai-gơ (Haig) (phó cho Kít-xinh-giơ) họp trong phòng Bầu dục. Kít-xinh-giơ chủ trương dùng máy bay tiêm kích đánh bom các vùng đông dân cư, nhưng Hai-gơ chủ trương dùng B-52 trong một “cú sốc ồ ạt”, và được Ních-xơn đồng thuận.

16-12

Theo hai chỉ thị chi tiết của Ních-xơn, Kít-xinh-giơ họp báo, cáo buộc phía Việt Nam làm đình đốn đàm phán để mở đường cho cuộc tập kích bằng B-52 đánh vào Hà Nội – Hải Phòng và nhiều vùng dân cư ở miền Bắc (Hồi ký Kít-xinh-giơ trang 1450).

17-12

Ních-xơn viết trong Hồi ký (trang 735): “Vào sáng sớm ngày Chủ nhật, 17-12, máy bay Mỹ tiếp tục rải mìn tại cảng Hải Phòng. Trong vòng 24 giờ tới, 129 chiếc B-52 tham gia không kích miền Bắc

Việt Nam”.

18-12

Nhật ký Ních-xơn: “Quyết định chơi rắn (tough) đã được đưa ra, và đang được thực hiện… Tôi vừa nghe tin 1 chiếc B-52 bị bắn rơi. Henry (Kít-xinh-giơ) nói Lầu Năm Góc đang chờ tin có tới 3 chiếc bị bắn rụng. Dĩ nhiên, sẽ còn phải tiến hành hai, hoặc ba đợt đánh phá nữa, nhưng Lầu Năm Góc đang trông đợi trong đợt thứ hai, hoặc thứ ba, toàn bộ sức mạnh đề kháng của SAM sẽ bị đánh gục, hoặc chí ít bị chế áp. Ít nhất, chúng ta chỉ có thể cầu nguyện là mọi sự sẽ an bài như thế, và hy vọng rằng mọi thứ sẽ xảy ra như thế”.

Trong hồi ký, Ních-xơn chú thích ở dưới đoạn trích nhật ký trên (trang 735), “trong ngày hôm đó, thêm 2 chiếc B-52 nữa bị bắn rơi”.

Nghiền ngẫm về tổn thất, Ních-xơn viết tiếp trong Nhật ký: “… Trong mọi trường hợp, đã ra quyết định rồi thì không thể quay ngược lại. Kít-xinh-giơ thì tinh thần lúc lên, lúc xuống, điều này dễ hiểu thôi. Chẳng hạn sáng nay, tinh thần của ông ta xuống hơn là lên. Tôi vừa gọi điện cho Mua-rơ (Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ-ND) để chắc chắn rằng đã củng cố được tư tưởng cho ông ta là nhất thiết phải theo đuổi đòn không kích đến cùng. Tôi e chúng tôi đã gây sức ép quá mạnh lên Mua-rơ, nhưng tôi ngờ rằng vì Không quân và Hải quân Mỹ đã quá thận trọng nhiều lần trong quá khứ nên các mục tiêu chính trị của chúng ta đã không đạt được. Chúng ta phải biết chịu tổn thất nếu muốn hoàn thành các mục tiêu”.

19-12

Hồi ký Ních-xơn (trang 734): “Tôi nghĩ mình đã gây sốc cho Đô đốc (Mua-rơ) khi tôi chỉ thị cho ông ta: “… Đây (cuộc tập kích chiến lược đường không) là dịp để các ngài sử dụng sức mạnh quân sự một cách hiệu quả để đánh thắng cuộc chiến tranh này. Còn nếu không, tôi coi như các ngài phải chịu trách nhiệm”.

Thời báo Niu Y-oóc (NY) đưa tin, khi Men-vin Le-đơ thông báo với báo giới về việc bàn giao chức trách Bộ trưởng Quốc phòng cho En-li-ốt Ri-sác-xơn (Elliot Richardson), phóng viên NY hỏi ông ta về vụ việc ném bom ồ ạt Hà Nội, Hải Phòng… “sau khi tìm cách tránh câu hỏi”, NY viết, Le-đơ cho hay: “Lúc này, chiến dịch không kích toàn miền Bắc đang diễn ra”. Le-đơ từ chối không bình luận thêm vụ việc này, nói là tránh gây nguy hại cho tính mạng những người lái Mỹ.

20-12

Ních-xơn viết trong Hồi ký (trang 737): “20-12 là ngày thứ ba của cuộc không kích Bắc Việt Nam. 90 chiếc B-52 tham gia ba đợt đánh phá 11 mục tiêu, sáu chiếc B-52 bị bắn rơi”.

Chánh văn phòng Nhà Trắng Haldeman viết trong Nhật ký: “P (Tổng thống Ních-xơn) lại quay lại với thiệt hại về B-52, và tỏ ra thực sự phiền muộn, cứ hỏi xem liệu còn cách gì xoay xở. K (Kít-xinh-giơ) đáp, chả còn cách gì. Rằng đây là cuộc không kích quy mô lớn cuối cùng. K lại tiếp tục rủa bọn Thiệu là “chó đẻ” (SOB), là lũ tâm thần bệnh hoạn (maniac). Cả hai đều nhất trí rằng, chúng ta không được để lộ là Hai-gơ (được Ních-xơn cử sang Sài Gòn cùng kỳ để “thuyết khách” Thiệu) đã bị Thiệu cự tuyệt. Chúng ta cần tiếp tục ném bom miền Bắc, nhưng ở quy mô kém ồ ạt hơn. Chúng ta cần giảm bớt đòn không kích vào Hà Nội, để tránh những tổn thất quá lớn”.

21-12

Ních-xơn viết trong Hồi ký (trang 737): “21-12 có 30 lượt B-52 xuất kích đánh ba mục tiêu mới, hai chiếc B-52 bị bắn rơi”.

22-12

Hồi ký Ních-xơn, trang 737: “Trong tuần đầu của chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II, mối lo âu của tôi không phải là những phê phán quyết liệt trong và ngoài nước Mỹ, mà là tổn thất vô cùng nặng nề của B-52”.

23-12

Ních-xơn viết Nhật ký: “Tôi đã phát khùng về chuyện các phi đội B-52 cứ bay mãi trên những mục tiêu ấy vào đúng những giờ ấy. Chính vì thế, tôi không ngạc nhiên, cho dù thất vọng một cách sâu sắc, khi chúng ta mất 5 chiếc B-52 vào ngày thứ hai, hoặc thứ ba …”.

24-12

Báo Bưu điện Oa-sinh-tơn đăng tải tin về vụ ném bom rải thảm Bệnh viện Bạch Mai.

Ních-xơn đã không thể tiếp tục xem thường “những phê phán quyết liệt” của công luận Mỹ và thế giới. Theo Hồi ký Ních-xơn (trang 738), bài xã luận trên Bưu điện Oa-sinh-tơn cho rằng, Lai-nơ-bếch-cơ II đã làm “hàng triệu người Mỹ phải rúm người lại vì xấu hổ, và vì phải nghi ngờ sự sáng suốt của tổng thống Mỹ”; biên tập viên chính của Thời báo Niu Y-oóc A.Lơ-uýt (A. Lewis) cho rằng “tôi (Ních-xơn), hành động như một tên bạo chúa điên” – Ních-xơn viết trong hồi ký.

25-12

Hồi ký của Kít-xinh-giơ cũng dành tới gần 5 trang (từ 1451 đến 1456) để mô tả phản ứng trong nước và quốc tế, trên truyền thông và cả trên chính trường về vụ ném bom dịp Lễ Giáng sinh.

Thay cho những lời chúc nhân dịp Giáng sinh, Kít-xinh-giơ nhận được những bức thư cay đắng đến kinh ngạc của những người bạn cũ, và của “những công dân thịnh nộ”, “những lời buộc tội vô đạo đức, lừa đảo”, “dã man”, là những gì Kít-xinh-giơ phải nghe nhiều vô kể trong dịp này (Hồi ký Kít-xinh-giơ, trang 1453).

Nhưng Ních-xơn vẫn trơ trẽn tiếp tục bài “đạo đức giả”, ông ta viết: “chúng ta được hưởng hòa bình trong một ngày” (Hồi ký Ních-xơn, trang 740).

26-12

Dù một số thành viên của Nhà Trắng đề nghị kéo dài ngừng bắn nhân dịp Giáng sinh, nhưng Ních-xơn dấn tới, ra lệnh tiến hành cuộc không kích lớn nhất từ trước đến nay: 116 lượt chiếc B-52 bắn phá vùng Hà Nội, Hải Phòng (Hồi ký Ních-xơn, trang 741).

Nhà Trắng và Lầu Năm Góc hay tin Đại úy Mai-cơn Hếch (Michael Heck), 30 tuổi, lái trưởng của một kíp bay B-52 đã chống lại lệnh điều đi ném bom miền Bắc Việt Nam. Trước đó, ngày 18-12-1972, Đại úy Đoai-tơ I-van-xơ (Dwight Evans), 26 tuổi, lái F4, thuộc phi đội chiến thuật số 34 đóng tại Thái Lan, cũng bị đưa ra tòa án binh do chống lệnh trên, không tham gia chiến dịch ném bom ồ ạt Hà Nội, Hải Phòng. Một số phi công khác bị buộc giải ngũ vì phản chiến. 9 chuyến bay B-52 bị đình chỉ đêm 26 rạng ngày 27-12, theo báo cáo là do “trục trặc kỹ thuật”…

28-12

Sau khi Bộ chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn thông báo danh sách các mục tiêu tại miền Bắc bị Mỹ không kích, người phát ngôn Lầu Năm Góc Gie-ri Phrít-hem (Jerry Friedheim) vẫn tiếp tục tỏ ra vụng về, khi trả lời báo chí về các thiệt hại dân sự mà cuộc ném bom gây ra, rằng Lầu Năm Góc không thể loại trừ những “hủy hoại mà dân thường phải gánh chịu”. (Báo Bưu điện Oa-sinh-tơn, 28-12).

29-12

7 giờ sáng giờ Oa-sinh-tơn, phía Mỹ thông báo đình chỉ ném bom miền Bắc kể từ Bắc vĩ tuyến 20 (Hồi ký Ních-xơn, trang 741).

30-12

Phía Mỹ tuyên bố hội đàm Pa-ri sẽ được nhóm họp trở lại, và Kít-xinh-giơ sẽ lên đường sang Pa-ri gặp Lê Đức Thọ vào ngày 8-1-1973 (Hồi ký Ních-xơn, trang 741).

———

(*) Gió ngang: Triển khai lực lượng không quân Mỹ ở Việt Nam (Crosswind: The Air Force’s setup in Vietnam, của E. Tilford NXB Texas A & M University Press, 1993, tr. 161).

LÊ ĐỖ HUY (Tổng hợp)
qdnd.vn

Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam

Đại Tá TS Nguyễn Thành Hữu
Đêm 20 rạng ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tung hàng loạt máy bay B-52 oanh tạc tàn phá Hà Nội. Với ý chí quyết chiến quyết thắng, ta thắng lớn, bắn rơi 19 máy bay địch, trong đó có 7 chiếc B-52. Chỉ trong 9 phút của đợt đầu, ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ, trong 20 phút của đợt 3 ta đã bắn rơi 4 máy bay B-52, trong đó có 3 chiếc rơi tại chỗ. Pháo đài bay Mỹ hạ gục trước ý chí, trí tuệ của người Hà Nội.

Hẳn nhiều người biết, từ 19h20 ngày 21/12/1972, đế quốc Mỹ tập trung 93 lần chiếc B-52 cùng 151 lần chiếc không quân chiến thuật tổ chức tập kích ba trận vào Hà Nội, Hải Phòng và Thái Nguyên. Tại Hà Nội, địch đánh các đầu mối giao thông, chân hàng ở Bắc ngoại thành, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, sân bay Nội Bài, Khu tập thể An Dương. Xen kẽ giữa các trận đánh của B-52, địch tăng cường 25 chiếc F-111 hoạt động…

Sau hai đêm, địch thay đổi thủ đoạn và quy luật đánh phá, nhận ra đối thủ chính của chúng là tên lửa. Do đó, trước khi đưa B-52 vào, ngoài việc đánh phá các sân bay của F-111, chúng đưa F4 và F-105 lùng sục các trận địa tên lửa của ta để dọn đường; tăng cường nhiễu các loại; tăng cường sử dụng các tốp B-52 giả.

Bộ đội rada vẫn đĩnh đạc phát hiện và thông báo các tốp B-52 cho chiến dịch. Không quân ta khắc phục khó khăn do các sân bay bị địch đánh phá và khống chế liên tục, sửa chữa không kịp, cất cánh từ đường lăn lên đánh B-52. 19h27, hai tốp MIG cất cánh lên hướng Việt Trì, Phú Thọ và Mộc Châu, Suối Rút.

Từ 19h41 đến 19h55, nhiều tốp B-52 giả vào khu vực hỏa lực. Bộ đội ta nhanh chóng nhận dạng tín hiệu B-52 giả, nên không một tiểu đoàn tên lửa nào đánh nhầm. Đây là một thành công lớn trong cuộc đấu trí với địch. 20h5, 2 tốp B-52 vào đánh khu vực Gia Lâm. Tiểu đoàn 93 Trung đoàn tên lửa 261 Quân chủng Phòng không – Không quân (PKKQ) xử trí nhanh sau khi phóng 2 quả thấy tín hiệu mục tiêu trong nhiễu đã phóng bồi quả thứ 3 diệt một B-52 rơi tại Yên Thượng, Yên Viên cách trung tâm Hà Nội 10km.

Trận đánh thắng đầu tiên trong đêm 20/12 của Tiểu đoàn 93 đã giải tỏa được những căng thẳng sau đêm 19 không bắn rơi tại chỗ được B-52. Các tiểu đoàn khác tiếp tục đánh các tốp B-52 đi sau đội hình.

Xác pháo đài bay B52 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Ảnh: Duy Hiển.

20h34, Tiểu đoàn 77 Trung đoàn tên lửa 257 lợi dụng thuận lợi của một trận địa chốt, phát sóng bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi xuống xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Tây. Sau thắng lợi giòn giã ngay từ đợt đầu, khí thế chiến đấu của bộ đội thay đổi hẳn. Kinh nghiệm của các tiểu đoàn 93, 77 Quân chủng PKKQ được nhanh chóng phổ biến đến các đơn vị. Tiếp đó, 20h36, Tiểu đoàn 94 Trung đoàn tên lửa 261 nỗ lực đánh tập trung bắn trúng 1 máy bay B-52 rơi tại biên giới Thái Lan – Lào. Tiểu đoàn 76 Trung đoàn tên lửa 257 cũng vận dụng phương pháp phát sóng gần bắt mục tiêu. Nhưng do thao tác không hợp lý, không đúng thời cơ nên bị tốp hộ tống B-52 phóng tên lửa tự dẫn vào trận địa làm đơn vị tạm thời mất sức chiến đấu. 

Phối hợp chiến đấu, hỏa lực pháo súng phòng không tầng thấp của ta đánh rất mãnh liệt chặn đánh F-111. Lúc 21h, phòng không dân quân tự vệ ở trận địa Vân Đồn đã bắn rơi 1 chiếc F-111.

Tại Hải Phòng, lúc 22h22, Tiểu đoàn 72 Trung đoàn tên lửa 285 bắn rơi 1 máy bay F4; lúc 0h10 ngày 21-12, Tiểu đoàn 83 Trung đoàn tên lửa 238 cùng pháo phòng không khu vực bắn rơi một F4 nữa.

Tại Thái Nguyên, từ 23h30 đến 0h45, B-52 đánh vào Nhà máy Điện Cao Ngạn và Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ.

Tại Hà Nội, máy bay F-111 vào đánh xen kẽ. Các tốp máy bay cường kích chiến thuật săn tìm trận địa tên lửa, bay lởn vởn vòng ngoài hỏa lực làm mồi nhử cho tên lửa đánh để khi B-52 vào thì tên lửa không còn đạn, đồng thời nhử cho ta phát sóng tự bộc lộ đội hình để đánh trả bằng tên lửa tự dẫn. Các tiểu đoàn tên lửa đã dày dạn với thủ đoạn nghi binh của địch nên không bị đánh lừa.

4h10 ngày 21/12, địch lại tổ chức trận tập kích thứ ba vào Hà Nội với 45 lần chiếc B-52. Lúc này, đạn tên lửa ở các trận địa của ta còn rất ít. Tình huống hết sức khó khăn, Bộ Tư lệnh chiến dịch, Quân chủng và Sư đoàn Phòng không Hà Nội chỉ thị các đơn vị tích cực đánh bằng phương pháp hiệu quả nhất, đánh tiết kiệm đạn, đánh chắc thắng, tiếp tục bắn rơi tại chỗ B-52; đồng thời chỉ thị cho Cục Kỹ thuật tìm mọi cách tăng nhanh số lượng đạn ở các tiểu đoàn hỏa lực; các lực lượng pháo cao xạ tích cực đánh bảo vệ trận địa tên lửa…

Cán bộ, chiến sĩ bảo đảm kĩ thuật làm việc liên tục, lắp ráp, vận chuyển tiếp đạn tên lửa với tinh thần tất cả vì chiến thắng, cho đến gần sáng ngày 21, đạn đã được bổ sung tương đối đầy đủ cho các trận địa hỏa lực.

Tên lửa ta sẵn sàng cho trận quyết chiến chiến lược 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972.

Sau các trận đánh tập trung, khi đạn bảo đảm chưa kịp, các đơn vị phải cân nhắc tính toán sử dụng trong từng trận và chọn phương pháp điều khiển thích hợp. Lúc 5h9, Tiểu đoàn 77 bắn trúng một B-52 rơi xuống Phúc Yên, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn rơi 1 máy bay B-52 khác. Năm phút sau, Tiểu đoàn 79 Trung đoàn tên lửa 257 lại bắn rơi 1 máy bay B-52 tại khu vực Phả Lại. Với cự li đánh và phương pháp điều khiển thích hợp, với trình độ bám sát điêu luyện của kíp chiến đấu, chỉ 13 phút sau, bằng một quả đạn, Tiểu đoàn 57 Trung đoàn tên lửa 261 bắn 1 chiếc B-52 rơi xuống khu vực chợ Thá – Núi Đôi. Đó là trận đánh cuối cùng kết thúc chiến đấu đêm 20 rạng sáng 21/12 và cũng là trận đánh hết sức điển hình về tài nghệ chiến đấu của bộ đội tên lửa.

Trận đánh đêm 20 rạng ngày 21/12 thực sự là một trận đánh then chốt tiêu diệt lớn B-52 của địch trong chiến dịch, làm thay đổi lớn về kế hoạch sử dụng lực lượng và cách đánh cả của địch và của ta. Trận đánh đêm 20 đã phá vỡ kế hoạch ban đầu của cuộc tập kích chiến lược. Níchxơn cho rằng chỉ cần ba ngày cũng đủ làm cho ta phải khuất phục. Nhưng thực tế trong ba ngày, 30 máy bay bị bắn rơi, trong đó có 11 chiếc B-52 kể cả 1 chiếc do tên lửa ta ở Nghệ An bắn rơi, tỉ lệ máy bay B-52 bị bắn rơi ngày càng tăng.

Đối với ta, trận then chốt tiêu diệt lớn B-52 đêm 20 có ý nghĩa lớn về xây dựng quyết tâm và phát triển cách đánh chiến dịch, càng khẳng định vai trò của từng lực lượng trong tác chiến chiến dịch, tạo điều kiện cho cách đánh tập trung của tên lửa có hiệu quả, phát huy được mọi cách đánh của tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Chưa bao giờ truyền thống anh hùng của QĐND Việt Nam được phát huy cao độ trong chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào khôn tả

N.T.H.
cand.com.vn

Gặp người bắn rơi chiếc máy bay Mỹ cuối cùng trong trận chiến lịch sử

40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972, Không quân Việt Nam đã lập những chiến công giòn giã, góp phần vào thắng lợi vang dội của dân tộc: 24 lần xuất kích đã bắn rơi 7 chiếc máy bay, trong đó, có 2 chiếc B52. Các biên đội không quân 8 lần phá vỡ đội hình bay chiến đấu của địch, tạo điều kiện cho tên lửa và các lực lượng phòng không đánh thắng. Cùng với Anh hùng Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều, Trần Việt, Hoàng Tam Hùng…, phi công Bùi Doãn Độ cũng bắn cháy một máy bay Mỹ vào đêm cuối của cuộc không kích, 29/12/1972.

Chiến công này đặc biệt, bởi đây là chiếc F-4 đầu tiên bị Không quân ta bắn rơi vào ban đêm, bằng máy bay MiG-21, lại là chiếc máy bay cuối cùng của địch bị bắn rơi trong 12 ngày đêm máu lửa. Đây cũng là máy bay Mỹ cuối cùng do Không quân ta bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Vì chỉ vài tiếng sau, 7h sáng 30/12/1972, Tổng thống Mỹ Nich-xơn tuyên bố ngừng ném bom và chấp nhận quay lại bàn đàm phán. 

Sau tròn 40 năm, chúng tôi tìm gặp lại người đã hạ gục tên “giặc trời”, “khóa đuôi” chiến dịch lừng lẫy đó. Chàng trai trẻ nhất Phi đội đánh đêm 40 năm trước giờ đã là vị đại tá nghỉ hưu hiền lành, nhỏ nhẹ và khiêm nhường. Trong ngôi nhà rộng lớn bên đường Lê Trọng Tấn (Hà Nội), Đại tá Bùi Doãn Độ cùng chúng tôi ôn lại chuyện xưa.

Vượt qua những đợt kiểm tra nghiêm ngặt về sức khỏe, Bùi Doãn Độ nhập ngũ ở tuổi 16, rồi được sang Liên Xô học lái máy bay MIC-21. Tốt nghiệp năm 1970, tròn 20 tuổi, anh về nước nhận nhiệm vụ ở Phi đội 5, cùng Trung đội với Anh hùng Phạm Tuân.

Cuối năm 1972, tiên đoán khả năng Mỹ sẽ huy động B-52 đánh phá miền Bắc, Quân chủng Phòng không – không quân đã khẩn trương tổ chức huấn luyện bay đêm cho Phi đội 5. Gần 10 phi công bay giỏi, kỹ thuật tốt, bản lĩnh vững vàng được lựa chọn để tập luyện cất cánh với tên lửa bổ trợ, bay chặn kích máy bay B-52 bằng rada và kết hợp bằng mắt. Vì đánh đêm khó khăn hơn đánh ban ngày rất nhiều: không thể quan sát địch trực tiếp bằng mắt, mà phải dựa vào rada, trong khi địch luôn gây nhiễu sóng rada nên khó xác định được mục tiêu và cũng khó theo kịp nếu máy bay địch cơ động. Mà thời cơ phát hiện mục tiêu chỉ 10-15 giây.

Hơn nữa, các phi công đánh đêm còn hiểu rất rõ, cuộc chiến trên không vô cùng nguy hiểm, khi vừa phải đối mặt trực tiếp với kẻ thù, vừa có cả rủi ro từ chính các trận địa pháo cao xạ, pháo phòng không dày đặc ở mặt đất, vì có lúc, lệnh xuất kích của máy bay ta không thể thông báo kịp đến các đơn vị. Chính anh Bùi Doãn Độ trong một lần bay qua Việt Trì, cũng từng bị pháo cao xạ của ta bắn vì tưởng máy bay địch. Chúng tôi hỏi khi đó, anh có sợ không, Đại tá Bùi Doãn Độ cười hiền: “Chiến tranh là thế, có gì mà phải sợ! Khi đó, chúng tôi đều khao khát được trực tiếp chiến đấu, được tự mình bắn rơi máy bay địch để trả thù cho nhân dân Thủ đô, cho đồng đội, không ai nghĩ đến sự hi sinh.”

Đại tá Bùi Doãn Độ bên chiếc máy bay MIG21 từng tham chiến trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972.

Được chuẩn bị kỹ càng về kỹ-chiến thuật đánh B-52 cũng như tinh thần, nên toàn bộ Phi đội 5 bước vào chiến dịch 12 ngày đêm với khí thế hừng hực và quyết tâm cao: có điều kiện là kiên quyết tiêu diệt bằng được, dù đó là “thần sấm” B-52 hay các loại máy bay khác.

12h ngày 18/12/1972, cuộc chiến 12 ngày đêm bắt đầu. Trong suốt chiến dịch, anh Độ được xuất kích 4 lần: Ngày 21/12 sau khi cất cánh ở Sân bay Miếu Môn, anh gặp được B-52, nhưng vì độ cao chênh lệch quá lớn, không đủ điều kiện phóng tên lửa. Hai lần sau, anh xuất kích từ Sân bay Nội Bài nhưng lại không gặp địch. Đến ngày 29/12, cuộc chiến càng ác liệt. Địch đánh phá dữ dội Sân bay Miếu Môn, khiến các phi công phải đi ôtô về Sân bay Hòa Lạc, rồi mới đi máy bay trực thăng lên sân bay Nội Bài để lấy máy bay về Sân bay Kép trực chiến.

Trọn 1 ngày vất vả, căng thẳng. Đêm, bọn “giặc trời” F111 điên cuồng đánh phá, thì anh Độ được lệnh cất cánh. Lúc đó khoảng 23h. Nhưng không “săn” được B-52, anh Độ quay về, thì lại được Sở chỉ huy thông báo có địch. Ngay khi phát hiện địch, anh liền tăng tốc đuổi theo. Đúng lúc này, anh lại nhận thông báo phía sau cũng có địch và yêu cầu anh nhanh chóng công kích. Một giây cân nhắc, anh quyết tâm truy kích đến cùng chiếc F4 phía trước. Khi chọn được khoảng cách thích hợp, anh phóng 2 quả tên lửa cùng lúc, rồi nhanh chóng thoát ly theo lệnh của Sở chỉ huy.

Anh nhớ lại: Khi lật sang trái thoát ly, tôi thấy máy bay F4 của địch đang bốc cháy dữ dội và cắm xuống 1 góc khoảng 30 độ, bụng máy bay lật ngửa. Khoảng cách giữa máy bay của tôi và chiếc F4 chỉ chừng 100m, nên tôi có thể nhìn rõ từng chiếc đinh tán trên thân máy bay đang cháy. Niềm vui ngập tràn, vì đã được tham gia chiến đấu, lại bắn rơi máy bay địch. Trở về đơn vị, dù rất mệt nhưng tôi vẫn thao thức đến sáng với niềm hân hoan vô bờ.

Với chiến công đó, anh Bùi Doãn Độ đã vinh dự được tặng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba.

Kết thúc chiến tranh, anh tiếp tục đi học ở Liên Xô, rồi trở thành chuyên gia cho nước bạn Campuchia, sau đó lại đi Pháp học trước khi trở thành Cơ trưởng loại máy bay ATR-72 của Hàng không Việt Nam, rồi về hưu năm 2010. Năm tháng trôi qua, Đại tá Bùi Doãn Độ cũng trải qua nhiều cương vị khác nhau, nhưng ký ức về những ngày được trực tiếp chiến đấu và lập công trong những ngày bảo vệ Thủ đô năm 1972 chưa bao giờ nguôi quên trong anh.

Vào những ngày này, khi cả nước hân hoan kỷ niệm 40 năm chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”, Đại tá Bùi Doãn Độ càng thêm tự hào vì được sống lại giữa những cảm xúc hào hùng của ngày tháng lịch sử ấy, được gặp gỡ bao đồng đội yêu thương, gắn bó và nhất là, cảm nhận thật rõ rằng, sự cống hiến của mình đã không bị lãng quên!

Thanh Hằng
cand.com.vn

Có những giá trị của quá khứ lại đang ở phía trước

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND-40 năm đã trôi qua kể từ 12 ngày đêm khói lửa chiến đấu với cuộc tấn công điên cuồng của không quân Mỹ vào thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng đang bị phong tỏa bởi thủy lôi. Nhằm hủy diệt không phải chỉ là những gì dưới mặt đất, bằng bom đạn, mà quan trọng hơn là hủy diệt được ý chí chiến đấu và quyết thắng của một dân tộc, buộc đối phương phải chấp nhận những điều kiện như kẻ bại trận trong một Hiệp định Pa-ri đã được hai bên ký tắt.

Đế quốc Mỹ muốn thoát ra khỏi cuộc Chiến tranh Việt Nam trong danh dự và với tư thế của kẻ thắng trận. Cuộc giội bom này là cơ hội để họ thực hiện lời đe dọa “đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá” như những kẻ hiếu chiến và hiếu thắng đã từng tuyên bố ngay từ những ngày đầu tiến hành cuộc Chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc nước ta, sau khi đã mạo dựng “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (8-1964) để làm cái cớ phát động cuộc chiến. Và với việc huy động những khí tài chiến tranh thuộc loại hiện đại hàng đầu nằm trong lực lượng chiến lược của quân đội Mỹ và với một quy mô có thể nói là lớn nhất sau cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai. Tối ngày 18-12-1972, Ních-xơn bất ngờ khởi động Chiến dịch mang mật danh quân sự là Lai-nơ-bếch-cơ 2 (Linebacker II), còn với mọi người lương thiện lấy định vị thời gian thì gọi đó là cuộc giội bom vào Lễ Giáng sinh 1972 để thấy rõ hơn cái dã tâm của những kẻ chủ trương. Người đứng đầu Nhà Trắng là Tổng thống Ních-xơn khi đó hoàn toàn tin vào chiến thắng cuối cùng thuộc về mình vì vừa mới trúng cử thêm một nhiệm kỳ nữa.

Nhưng tất cả những gì đã diễn ra trong hai tuần cuối cùng của năm 1972 ấy đã làm tổn thất không chỉ là số lượng khí tài mà là uy thế quân sự, đặc biệt là của lực lượng không quân chiến lược Mỹ trước con mắt của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Hà Nội, Hải Phòng và hậu phương miền Bắc vẫn trụ vững sau trận đánh, khí thế quân dân ta vẫn kiên cường và lạc quan hướng tới chặng đường cuối cùng để thực hiện cái nguyên lý của Bác Hồ đã để lại như một cẩm nang cho chiến thắng: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã hoàn thành trọn vẹn chỉ hơn hai năm sau đó (4-1975).

Bác Hồ đến thăm Quân chủng PK-KQ (ngày 19-7-1965). Ảnh: XUÂN MAI.

40 năm đã trôi qua, những người trực tiếp tham chiến của cả hai bên đều đã tổng kết trận đánh. Với Mỹ là chiến dịch tập kích chiến lược bằng B-52, còn với ta là cuộc phòng thủ kiên cường nhưng lại mang tên gọi của một trận công kiên diễn ra 18 năm trước đó: “Điện Biên Phủ” nhưng lại ở “trên không” và ở ngay giữa lòng Thủ đô của đất nước, đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ về một trận quyết chiến chiến lược sẽ diễn ra trên bầu trời Hà Nội, cũng như Mỹ sẽ sử dụng B-52.

40 năm đã trôi qua, nhiều vị tướng lĩnh trụ cột và những chiến sĩ kỳ cựu tham gia chỉ huy và trực tiếp tham dự trận chiến ấy không còn nữa, những người trẻ đều đã bước vào tuổi lão niên. Nhiều hiện vật đã được đưa vào bảo tàng, nhiều pho sử tổng kết chiến tranh đã được ghi lại. Bên cạnh những con số thống kê như những biểu tượng chiến thắng, như số lượng những chiếc máy bay của địch, đặc biệt là những “pháo đài bay” B-52, loại máy bay mà cho đến nay chưa từng bị bất cứ đối phương nào trên thế giới bắn hạ lại bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội và miền Bắc trong 12 ngày đêm 40 năm trước, cho đến số lượng các phi công Mỹ bị bắt sống và đưa vào giam ở “Hin-tơn Hà Nội”. Còn có cả các tượng đài, bia ký ghi lại những trận đánh hủy diệt cuộc sống của người dân, những con số bộ đội ta hy sinh trong trận chiến đấu đúng với tinh thần truyền thống của Thủ đô từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”…

Nhưng còn những pho sử chỉ là ký ức của những người chứng kiến, những người dân hay người lính có mặt trong những ngày diễn ra trận “Điện Biên Phủ trên không” ấy thì biết bao mà kể. Chỉ lật mấy trang báo của những ngày hào hùng ấy đã thấy biết bao nhiêu sử liệu không kém chất hào hùng: Ngay trong đêm đầu tiên máy bay Mỹ ào vào bắn phá, đêm 18-12-1972, nhà thơ Huy Cận đã làm ngay bài thơ mang tên “Sẵn sàng” rồi mang đến Báo Nhân Dân để sớm 20-12 kịp xuất hiện trên trang báo giữa mùi thuốc súng, khói bom trong trận đánh. Rồi bài xã luận của số báo đó mang tựa đề: “Hà Nội, Thủ đô của phẩm giá con người” có nhắc nhiều chi tiết mang tính thời sự, như câu chuyện một nhân viên phục vụ trong khách sạn Thống Nhất (vốn là Métropole Hà Nội) khi được hỏi “Bom B-52 ném xuống Hà Nội thì ra sao?”. Và câu trả lời khiến nhà báo nước ngoài thán phục và chép lại: “Nhà cửa có thể sập nhưng có một thứ không sập được, đó là ý chí của con người”. Một nhà báo Pháp mô tả về Hà Nội trong những ngày chiến tranh khốc liệt ấy vẫn là “một thành phố luôn sôi động và hài hòa, tài giỏi và bình thản”. Còn Neo Sin-han (Neil Sheenhan) nhà văn Mỹ trong bài tựa cho cuốn sách viết về chiến tranh của không quân Mỹ ở Đông Dương của Đại học Coóc-neo (Corneil) đã đánh giá: “Thắng lợi của người Việt Nam là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ trước máy móc”…

Trên trang báo số ra ngày 29-12-1972, tức là chỉ vài ngày sau khi Mỹ đã rải thảm xuống Khâm Thiên và Bệnh viện Bạch Mai làm hàng trăm dân thường thiệt mạng đã xuất hiện mẩu phóng sự của nhà văn Nguyễn Tuân “Bên ụ súng Hà Nội một đám cưới pháo thủ” thuật lại lễ kết hôn của hai công nhân Nhà máy cơ khí Hà Nội, chú rể Vũ Đình Hán và cô dâu Lưu Thị Hảo diễn ra trên một không gian giữa 7 ụ súng phòng không tầm cao vừa diễn ra trước đó một ngày (28-12).

Rồi trên trang báo ra trong ngày cuối cùng của năm, 31-12-1972, khi Hà Nội vừa im tiếng súng, Mỹ đã chấm dứt bắn phá và chấp nhận bước vào cuộc họp cuối cùng để ký Hiệp định Pa-ri, lại thấy nhà văn Bùi Hiển xuất hiện với phóng sự ngắn “Khâm Thiên, tội ác và trừng phạt” và cả ông thầy khảo cổ của tôi, Giáo sư Trần Quốc Vượng với bài ký “Tình người Hà Nội ngát hoa lan”.

Cũng trên những trang báo của những ngày chiến tranh khốc liệt ấy, người ta còn đọc được những mẩu thông báo bằng lời lẽ mộc mạc nhưng có thể các bạn trẻ ngày nay chưa hiểu hết được, tựa như: “Để nhân dân mua lương thực được thuận tiện, Bộ Lương thực và Thực phẩm chủ trương bán lương thực theo sổ “Sơ tán PK (phòng không)”, các cửa hàng phải tổ chức tốt việc bán hàng không để nhân dân đợi lâu… Sơ tán đến đâu mua hàng ở đó. Gia hạn tem phiếu năm 1972”…

Hà Nội 40 năm trước là thế đó. Trong hồi ức của mình, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Trân tự phê bình rằng, lãnh đạo Hà Nội có khuyết điểm là chủ quan nên để đồng bào Hà Nội ở những nơi sơ tán trở về nhân ngày Giáng sinh năm 1972 đông quá. Mất cảnh giác, không lường hết sự tàn bạo của giặc Mỹ ném bom dữ dội, rải thảm B-52 vào khu dân cư trung tâm Hà Nội, chỉ một ngày sau làm mấy trăm con người thiệt mạng… Do vậy, từ ngày 27-12, lệnh sơ tán triệt để được phát ra và đêm hôm ấy, những ai được chứng kiến đều thấy cái hào hùng của dòng người Hà Nội lặng lẽ tỏa đi ra khỏi thành phố trên những phương tiện rất thô sơ của mình, và những chiếc ô tô cũ rích mà chính quyền huy động được. Chừng 50 vạn người trên tổng số 60 vạn cư dân Thủ đô đã hoàn thành việc sơ tán chỉ trong một đêm, một ngày.

Người Hà Nội ra đi nhẹ nhàng, vì nhà cửa và tài sản bên trong có thể giao phó cho những người hàng xóm hay chính quyền có trách nhiệm ở lại; họ có thể giao con cái của mình cho những người không mấy thân thích nhưng cùng cảnh ngộ hay được xã hội phân công; họ đến đâu cũng được những chủ nhà vốn là những người nông dân mộc mạc sẵn sàng nhường những chỗ ở tốt nhất với câu nói cửa miệng không hề khách sáo mà lại chan chứa tình nghĩa: “Các bác vì nước, vì dân, (đôi khi còn nói: Vì thằng Mỹ)… mới phải về đây với chúng em”… Hồi ấy, rất ít thấy nói đến trộm cắp, cướp của, giết người… Phải chăng, khi mọi người cùng chung ý chí, cùng chia sẻ cảnh ngộ, cùng mong đến ngày thắng lợi với ước mơ thanh bình thì xã hội trở nên trong sạch, ngay trong khói đạn của chiến tranh và nghèo khó?…

Mới cách đây không lâu, cả thế giới được chứng kiến với lòng thông cảm đối với nhân dân Nhật Bản đã hứng chịu những thảm họa khủng khiếp của thiên nhiên, như động đất, sóng thần cùng với vụ nổ ở nhà máy điện nguyên tử… và cũng được chứng kiến với lòng thán phục cách ứng xử, đối phó với thử thách của nhân dân Nhật Bản để khắc phục những mất mát to lớn với tinh thần Nhật Bản thể hiện qua ý chí kiên cường, tinh thần kỷ luật, sức chịu đựng và nghĩa đồng bào giúp đỡ lẫn nhau cùng chính phủ vượt qua thử thách…

Chạnh nghĩ, những phẩm chất ấy cũng từng nhiều lần xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta qua những thử thách trong quá khứ lịch sử mà những ngày diễn ra “Điện Biên Phủ trên không” là một bằng chứng sống động… Lại chạnh nghĩ, vì sao những phẩm chất ấy dường như đã phai nhạt, thậm chí đang diễn ra trái ngược trong đời sống xã hội trên đất nước ta ngày hôm nay…

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào về quá khứ, không thể không nghĩ đến chuyện khơi lại những truyền thống, những phẩm chất vốn tiềm ẩn trong con người Việt Nam chúng ta, từng phát huy trong quá khứ, vì sao không thể trở lại trong phẩm chất con người Việt Nam ngày hôm nay, và mai sau?!

Nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC
qdnd.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Đây là chủ đề của Hội thảo khoa học cấp nhà nước về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tổ chức sáng 28/11 tại Hà Nội.

Hội thảo khoa học cấp nhà nước “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” –  tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. – Ảnh: VGP/Việt Hà

Hội thảo do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức.

Cách đây 40 năm (tháng 12/1972), đế quốc Mỹ  đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc với ý đồ làm xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Với ý chí  quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược này, bắn rơi nhiều máy bay, trong đó có trên 30 máy bay B52, giáng cho Mỹ một đòn chí mạng, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Chiến thắng B52 trên bầu trời Thủ đô đã trở thành trận quyết chiến lịch sử, được mệnh danh là “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo khẳng định chiến thắng 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

66 tham luận tập trung khẳng định và làm sáng tỏ thêm bối cảnh, âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ trước khi ký Hiệp định Paris; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch 12 ngày đêm, tinh thần chiến đấu kiên cường, mưu trí, dũng cảm, sự linh hoạt, sáng tạo của bộ đội phòng không – không quân, của quân và dân miền Bắc, trực tiếp là quân và dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác…

Hội thảo góp thêm tiếng nói khẳng định tầm vóc, ý nghĩa,  những kinh nghiệm và bài học lịch sử của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, vận dụng và phát huy những bài học kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ  nhiệm Tổng cục Chính trị  khẳng định, chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam. Đây là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của “thế trận phòng không nhân dân”, kế thừa và phát triển truyên thống nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới.

Dấu tích một thời bom đạn có thể bị phai mờ theo quy luật của thời gian, nhưng tầm vóc và ý nghĩa của “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn mãi âm vang trong tâm trí của mỗi con người Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ đây vẫn nguyên vẹn giá trị để nghiên cứu, vận dụng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Việt Hà
chinhphu.vn

Ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, ngày 4/12, NXB Trẻ và công ty Tomorrow Media đã tổ chức ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2010 đến tháng 9/2012, nhóm tác giả biên soạn cuốn sách đã tiến hành các cuộc gặp gỡ, ghi lại hồi ức của 116 nhân chứng về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trên không. Đó là chân dung của một Hà Nội đối mặt với B -52, những đau thương mất mát, những cách thích ứng khó tin của người Hà Nội…

Với 3 phần, cuốn sách đi theo mạch thời gian từ thời điểm miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, dựng lại bối cảnh sống của người Hà Nội những năm 1966-1972 và quá trình Quân chủng Phòng không-Không quân nghiên cứu cách đánh B.52.

Tiếp theo là quãng thời gian 12 ngày đêm không quên của những người dân ở lại Thủ đô Hà Nội trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

Phần III là câu chuyện của Hiệp định Paris dưới tác động của Điện Biên Phủ trên không cũng như điểm quá trình đàm phán gần 5 năm của cuộc chiến ngoại giao gian khổ, lâu dài hiếm có để có được hòa bình lập lại trên miền Bắc.

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, nhờ cách làm sáng tạo của nhóm tác giả, đây là cuốn sách thú vị và sinh động viết về lịch sử.

Minh Anh
chinhphu.vn

Điện Biên Phủ trên không: Gặp phi công mở màn chiến thắng

(ĐVO)- Chiều ngày 23/12/1972, phi công Nguyễn Văn Nghĩa là người đã bắn hạ chiếc F-4 đầu tiên của Không quân Mỹ trong chiến dịch. Chiến công này có ý nghĩa khai thông thế bế tắc, giải quyết vấn đề tâm lý cho không quân sau 5 ngày không bắn hạ được chiếc máy bay nào.

Sau sự kiện đó, Không quân Nhân Dân Việt Nam liên tiếp lập được nhiều chiến công bắn hạ nhiều máy bay Mỹ trong đó có 2 chiếc B-52.

 Phi công Nguyễn Văn Nghĩa.

Phi công Nguyễn Văn Nghĩa.

Dù đã ở tuổi 66 nhưng người phi công anh hùng năm xưa vẫn còn rất phong độ, trông ông không già đi nhiều so với 40 năm trước. Tuy vậy, phi công Nguyễn Văn Nghĩa vẫn còn nhớ như in những ngày tháng chiến tranh vô cùng ác liệt và đối với những người như ông đó là những năm tháng không thể nào quên.

Kể về trận chiến lịch sử của mình, Đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa nhớ lại, đêm ngày 18/12/1972 khi Mỹ mở màn chiến dịch Linebacker-II, phi công cất cánh làm nhiệm vụ đánh B-52 đầu tiên là Trần Cung nhưng không phát hiện được B-52. Tiếp đó đến phi công Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng lần lượt cất cánh những cũng không tiếp cận được B-52.

Từ ngày 18-22/12/1972 đã 5 ngày trôi qua nhưng không quân không bắn được chiếc máy bay nào của Mỹ lại phải chịu tổn thất 1 máy bay. (Trong cả chiến dịch, Không quân Nhân dân Việt Nam tổn thất 3 máy bay, 2 phi công hy sinh – PV).

“Toàn bộ không quân chúng tôi rất nóng ruột, bộ đội phòng không đã bắn rơi rất nhiều máy bay Mỹ trong khi bộ đội không quân chưa lập được chiến công nào”, phi công Nguyễn Văn Nghĩa chia sẻ cảm xúc lúc đó.

Chớp thời cơ diệt địch

Ngày 23/12/1972, đến lượt ông được lệnh cất cánh, bay ở vị trí phi đội trưởng. Bay cùng có phi công Lê Văn Kiền. Khi đó, đài chỉ huy mặt đất thông báo có 4 tốp F-4 ở xung quanh, khoảng 24 chiếc ở cự ly khoảng 40km.

“Ý định của chúng là muốn dồn các tiêm kích MiG-21 của ta vào ở giữa để tiêu diệt. Tôi nhanh chóng lấy tốc độ và tiếp cận tốp F-4 phía bên phải, phi công số 2 tiếp cận tốp bên trái. Ngay lập tức, tốp F-4 phía sau cũng nhanh chóng ập đến. Trong thâm tâm tôi đã xác định trước tình huống này sẽ rất kịch tính, cả đôi bên đều ở rất gần nhau, ai bóp cò nhanh hơn người đó sẽ thắng”, Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa hồi tưởng.

Bằng kỹ thuật và kinh nghiệm, ông đưa được một chiếc F-4 vào tầm ngắm bằng máy ngắm cơ học. “Thời gian ở đây chỉ có thể tính bằng giây, mình phải vừa chuẩn bị tấn công cũng vừa phải chuẩn bị để phòng thủ”, ông bồi hồi nhớ lại.

Khi ông đưa chiếc F-4 phía trước vào tầm ngắm thì chiếc F-4 phía sau cũng nhanh chóng tiếp cận để ngắm bắn. Do đó, khi chiếc F-4 phía trước ở cự ly khoảng 1.200-1.300 mét, tương đối tốt đối với tên lửa K-13, ông lập tức phóng tên lửa về phía chiếc F-4 thì khoảng vài giây sau đó 2 quả tên lửa từ chiếc F-4 phía sau cũng lao đến.

“Nhanh chóng tôi thực hiện một động tác ngoặt đột ngột để thoát ra khỏi đường ngắm của tên lửa. Phi công số 2 bay cùng tôi hô lớn trên radio “cháy rồi” chiếc F-4 bốc cháy và rơi xuống khu vực Lào Cai”, Đại tá Nghĩa kể lại.

Khi thực hiện động tác ngoặt đột ngột thoát khỏi tầm ngắm  tên lửa của F-4, ông cũng ngắm được một chiếc F-4 khác ở phía trước nhưng do ở cự ly quá gần nên không xác định được điểm nổ. Trong khi đó, đài chỉ huy mặt đất ra lệnh “đánh nhanh rút nhanh” nên ông cùng phi công số 2 lập tức thoát khỏi đội hình F-4 và bay về hướng sân bay Đa Phúc.

Hạ cánh an toàn trong “mưa đạn” của F-4

Tuy nhiên, các sân bay xung quanh như Đa Phúc, Gia Lâm, Kép đều bị Không quân Mỹ phong tỏa triệt để. Đài chỉ huy thông báo cho tôi và phi công số 2 bay ra khu vực Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc ở độ cao thấp và thoát ra bằng dù.

Lúc đó trong thâm tâm tôi suy nghĩ, máy bay của mình không bị bắn hay bị trục trặc gì, tại sao mình phải từ bỏ nó? Bên cạnh đó, việc thoát ra bằng dù cũng chưa chắc đã an toàn bởi Mỹ có thể bắn vào dù. (Chính sách vô nhân đạo này của Không quân Mỹ nhằm tiêu hao lực lượng phi công tinh hoa nhưng ít ỏi của Không quân Nhân dân Việt Nam – PV).

Chưa hết, nếu tiếp đất bằng dù an toàn thì cơ hội tiếp tục chiến đấu trong 12 ngày đêm gần như bằng 0, bởi các phi công khi thoát ra ngoài bằng dù đều phải trải qua quá trình phục hồi sức khỏe từ 3-4 tháng.

Khi đó, ông liên lạc về sở chỉ huy và hỏi xem đường lăn của sân bay cũng như ụ chứa máy bay có bị đánh phá hay không, sở chỉ huy thông báo đường lăn không bị đánh phá. Vì vậy, ông quyết định hạ cánh trên đường lăn, một là thành công để tiếp tục được chiến đấu, hai là chấp nhận hy sinh trong trường hợp máy bay gặp sự cố hoặc bị bắn trong quá trình tiếp đất.

“Tôi thông báo trên radio cho sở chỉ huy và cả số 2 của tôi là “số 1 sẽ hạ cánh trên đường lăn”, còn số 2 có hạ cánh theo hay không là tùy thuộc vào đồng chí ấy. Rất may mắn là tôi đã hạ cánh an toàn, máy bay không gặp bất kỳ trục trặc nào”, ông kể lại.

Sau khi hạ cánh hạ cánh thành công, trên đường lăn ông gọi trên radio, “số 1 gọi số 2”, phía bên kia trả lời, “số 2 nghe tốt”. “Nghe tốt” có nghĩa là an toàn. “Trong thâm tâm tôi rất vui sướng, phi công số 2 cũng hạ cánh an toàn trên đường lăn, mặc dù các tốp F-4 phía sau vẫn bắn phá ác liệt bằng pháo 20 mm nhưng cả 2 máy bay đều được đưa về căn cứ an toàn”, Đại tá Nghĩa kể lại..

Chiến công nối tiếp chiến công

Đối với ông đó là một kỷ niệm không thể nào quên, là niềm vinh dự, tự hào lớn nhất trong cuộc đời, đó là đã khai thông được thế bế tắc cho không quân trong 12 ngày đêm. Ngày sau đó, cũng ngày 23/12/1972, phi công Trần Việt – nay là Phó Tư lệnh quân chủng Phòng không -Không quân – cất cánh bắn hạ thêm một chiếc F-4 khác.

Đến ngày 27/12/1972 biên đội bay của phi công Đỗ Bá Lanh và Dương Bá Khá cất cánh bắn hạ thêm một chiếc F-4. Đến đêm 27 rạng sáng ngày 28/12/1972 phi công Phạm Tuân bắn rơi tại chổ một chiếc B-52. Chiều 28/12/1972 biên đội bay Lê Văn Kiều và Hoàng Tam Hùng bắn rơi một chiếc F-4.

Đêm 28/12/1972 phi công Vũ Xuân Thiều bắn rơi thêm một chiếc B-52 khác, đêm 29/12/1972 phi công Bùi Doãn Độ bắn rơi thêm một chiếc F-4 và đây là chiếc cuối cùng do không quân bắn hạ trong 12 ngày đêm.

Trong 12 ngày đêm, Không quân Nhân dân Việt Nam bắn hạ được 7 máy bay, trong đó có 2 chiếc B-52, cùng với bộ đội phòng không và toàn quân, toàn dân ta bẽ gãy cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Với quy mô chiến dịch lớn như vậy nhưng chỉ kết thúc trong 12 ngày đêm, theo cá nhân tôi đó là một “kỳ tích” của toàn quân và toàn dân ta. Phòng không không quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bắn rơi 81 máy bay các loại trong đó có 34 chiếc B-52.

Phi công Nguyễn Văn Nghĩa và đồng đội (người thứ hai, từ trái qua phải, hàng sau).Phi công Nguyễn Văn Nghĩa và đồng đội (người thứ hai, từ trái qua phải, hàng sau).

Đại tá phi công Nguyễn văn Nghĩa sinh ngày 3/5/1946 tại Quảng Ngãi.

Ngày 1/7/1965, ông trúng tuyển phi công tiêm kích. Từ tháng 9/1956-4/1968, ông học lái MiG-21 tại Liên Xô.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước nhận nhiệm vụ tại đại đội 2 Trung đoàn tiêm kích 921 đoàn Sao Đỏ.

Từ năm 1973-1975 ông là phi đội trưởng các phi đội 3, 9, 11 Trung đoàn tiêm kích 927, đoàn Lam Sơn.

Ông là phi công Việt Nam đầu tiên lái máy bay MiG-21 số hiệu 5033 hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng vào năm 1975.

Ông cũng là phi công Bắc Việt Nam đầu tiên cất cánh trên tiêm kích F-5 của Mỹ thu được sau chiến tranh, sau đó ông đã huấn luyện cho một số phi công khác sử dụng máy bay F-5 tham gia trong chiến dịch biên giới Tây Nam.

Từ năm 198,2 ông chuyển lên làm cán bộ Sư đoàn Không quân 370 với cương vị bí thư Đảng ủy. Từ năm 1992 ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Hàng Không Việt Nam, ông là người có công lớn trong việc xây dựng Học viện hàng không Việt Nam và cũng là giám đốc đầu tiên của học viện.

Từ tháng 4/2007, ông nghỉ hưu. Tháng 8/2007, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Câu lạc bộ Hàng không Việt Nam cho đến nay.

Quốc Việt
baodatviet.vn