Hồ Chí Minh tuyển tập – Tập 1 (Năm 1939*)

THƯ GỬI MỘT ĐỒNG CHÍ

Ở BAN PHƯƠNG ĐÔNG QUỐC TẾ CỘNG SẢN

VN-HCM

Bạn thân mến,

Trong thư trước, tôi quên nói với bạn một vài điều. Hôm nay tôi bổ sung thêm điều đó.

Ít lâu nay, tôi có quan hệ với chủ nhiệm báo Notre Voix – tờ tuần báo xuất bản ở Hà Nội từ 1-1939. Đó là những mối liên hệ thuần tuý báo chí. Tôi đã gửi cho ông ta một bài báo nói về những sự tàn bạo của Nhật Bản1) ở Trung Quốc. Sau khi đăng bài báo đó, ông ta viết cho tôi rằng, bài báo được bạn đọc hoan nghênh và yêu cầu tôi luôn luôn gửi cho ông ta tài liệu. Để đáp lại, tôi đã đề nghị ông ta phái ai đó nói chuyện cụ thể với tôi về hình thức cộng tác này. Ông ta không trả lời. Tôi viết thư lần thứ hai. Không có sự trả lời. Tuy nhiên ông ta tiếp tục gửi báo của ông ta cho tôi; và tôi – thỉnh thoảng gửi cho ông ta những bài báo.

Có thể đến tháng 5 tôi sẽ phái một người nào đó nói chuyện với ông ta.

Khi đọc Notre Voix, tôi thấy những thông tin khá hay:

1. Nhóm cánh tả có nhiều tờ báo:

Dân chúng (Masse), nhật báo cộng sản tiếng bản xứ, xuất bản hợp pháp ở Sài Gòn, có 10.000 người đọc.

Lao động (Travail).

Dân tiến (Progrès).

Dân muốn (Voeux du Peuple), tất cả ở Sài Gòn.

Đời nay (époque Actuelle).

Thế giới (Monde), cơ quan của Thanh niên dân chủ.

Notre Voix – tờ tuần báo cộng sản – tất cả ba tờ ở Hà Nội.

Những tờ báo này bị cấm nghiêm ngặt ở Trung Kỳ và luôn luôn bị các nhà chức trách Bắc Kỳ và Nam Kỳ không để cho yên. Những phần tử cánh tả người Pháp có hai tờ báo: EffortAgir.

Giúp Trung Quốc: Những thanh niên cánh tả người bản xứ đã tổ chức lạc quyên để giúp những nạn nhân chiến tranh và cả những đảng viên nữa, gửi thuốc men cho quân đội chúng ta, tung ra khẩu hiệu “Giúp Trung Quốc”, và tuyên truyền tẩy chay hàng hoá Nhật Bản. Họ đã đòi trục xuất ra khỏi lãnh thổ Đông Dương tên Uông Tinh Vệ và những tên phản bội khác.

Theo tờ Notre Voix, họ đã sáng tác một bài ca dao “Cứu Trung Quốc là cứu mình!”; bài ca dao đó đã trở nên rất phổ thông trong quần chúng. Ngay cả những trẻ chăn trâu bò cũng hát.

Thanh niên Trung Quốc và thanh niên bản xứ cùng nhau tổ chức những buổi biểu diễn để giúp Trung Quốc.

Chi nhánh Đảng Xã hội Pháp, Hội nhân quyền (Hà Nội) và những phần tử cánh tả người bản xứ đã lập “Hội bảo vệ Trung Quốc”. Mới đây, Hội này đã tổ chức một chợ phiên lớn để giúp đỡ nạn nhân chiến tranh.

  1. Đảng Xã hội2) – Trong hội nghị (đầu tháng 1), họ đã biểu quyết về các nghị quyết chống đàn áp, về sự thống nhất hành động và về sự bảo vệ Trung Quốc.

Những đại biểu của Thanh niên dân chủ đã có mặt ở hội nghị để yêu cầu thành lập một chi hội thanh niên xã hội nhằm thống nhất và lãnh đạo phong trào thanh niên ở Đông Dương.

Trong thời gian hội nghị, Notre Voix đã đăng một bức thư chào mừng hội nghị của những người xã hội và đề nghị lập mặt trận thống nhất.

Hội nhân quyền đã đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ.

3. Dưới một cớ tầm phào vô lối, hai đảng viên Dân chủ ở Viện dân biểu Trung Kỳ đã bị tước quyền đại biểu và bị buộc tội.

Để chống lại sự tăng thuế, ba đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ ở Hội đồng thành phố Hà Nội (được bầu vào tháng 12 trước, với số trung bình 409 phiếu so với với số trung bình 157 phiếu của danh sách tư sản) đã từ chức.

Những lãnh tụ cánh tả – Tạo, Mai, Ninh, Nguyễn được ân xá vào dịp đầu năm âm lịch, đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng thuộc địa của Nam Kỳ.

4. Sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung Kỳ, chống những … phần tử cánh tả, những công nhân và những nông dân hoạt động.

Những sự khám xét, bắt bớ diễn ra hàng ngày ở tỉnh này hay ở tỉnh khác.

Thuế má tăng.

Sự phá hoại chống lại luật xã hội lan rộng. Ngày nghỉ hàng tuần bị bãi bỏ ở một loạt hiệu buôn.

5. Bọn phản động hoạt động mạnh.

Ở Hà Nội, mới xuất bản một tờ báo phát xít: Cứu nước, đấu tranh chống mặt trận nhân dân, những hội viên Tam điểm, những người Do Thái, những người xã hội và những người cộng sản. Số báo Cứu nước đầu tiên viết: “Chúng ta không giấu giếm, chính chúng ta muốn nói to lên rằng Đảng được chúng ta tán thành nhất đó là Đảng bình dân Pháp do Đôriô (Doriot) lãnh đạo…”.

Đọc, một tờ báo mới do một người bản xứ lãnh đạo cũng đòi chủ nghĩa quốc xã. Đây là một vài chỗ nổi của nó: “Chính phủ Pháp, nếu muốn cộng tác thành thực với người An Nam phải thực hiện chính sách chống cộng”. Tất cả được in bằng tít chữ to (10-1-1939) “Chủ nghĩa cộng sản là tai hoạ của loài người. Chính phủ còn chờ gì để tiêu trừ bọn vô lại cộng sản ?” (13-1-1939). Biên tập viên của tờ báo này vừa mới được phép xuất bản một tờ báo hàng ngày bằng tiếng bản xứ Pháp – An Nam và Chính phủ đã hứa cho hắn làm quan ở cấp khá cao.

Tờ Tổ quốc An Nam có khuynh hướng phát xít. Nó tôn thờ Mútxôlini (Moussolini) và nước Italia phát xít.

Bọn tờrốtkít chia làm hai nhóm cãi lộn nhau.

Bọn Nhật Bản hoạt động khá mạnh ở Đông Dương. Một nhà báo Pháp và một người bản xứ đã bị kết án 15 năm tù khổ sai vì làm gián điệp cho Nhật Bản. Một sĩ quan Nhật Bản đã bị bắt giữ với chiếc cặp đầy tài liệu mật về phòng thủ Đông Dương.

Đọc Notre Voix, tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh.

Tôi khá khoẻ. Tôi góp phần nhỏ bé của tôi vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản bằng cách thỉnh thoảng gửi những bài tuyên truyền cho các báo nước ngoài và công tác ở Bát lộ quân. Tôi chúc bạn sức khoẻ tốt và tôi xin bạn nhận lời chào thân thiết nhất của tôi.

20-4-1939

LIN

Địa chỉ: (Bằng máy bay)

Quế Lâm (Quảng Tây) Trung Quốc3)

Hồ Chí Minh: Toàn tập,

t.3, tr. 121 – 124.

____________

1) Ở đây, ý tác giả chỉ bọn phát xít Nhật.

2) Nguyên văn: S.F.I.O

3) Sau dòng địa chỉ bằng tiếng Pháp là dòng chữ Hán viết tay: Tân Hoa nhật báo, số nhà 35, đường Quế Tây, Quế Lâm, Quảng Tây, chuyển cho ông Lâm Tam Xuyên.

(*) Do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt.

THƯ TỪ TRUNG QUỐC

VỀ CHỦ NGHĨA TỜRỐTXKI

Quế Lâm, ngày 10-5-1939

Các bạn thân mến,

Trước kia, chủ nghĩa Tờrốtxki đối với tôi cũng như đối với nhiều người khác, hình như là một vấn đề tranh cãi trong nội bộ giữa các phe phái khác nhau của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bởi vậy, chúng tôi không lưu ý đến nó. Nhưng ít lâu trước khi xảy ra chiến tranh – nói đúng hơn là hồi cuối năm 1936, và nhất là trong thời gian chiến tranh, những sự cổ động đầy tội lỗi của bọn tờrốtxkít đã làm cho chúng tôi sáng mắt ra. Thế là chúng tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề. Và việc nghiên cứu đó đã chứng minh cho chúng tôi thấy như sau:

1. Vấn đề chủ nghĩa Tờrốtxki không phải là sự tranh cãi trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì giữa những người cộng sản và bọn tờrốtxkít không có quan hệ, hoàn toàn không có quan hệ gì với nhau cả. Nhưng đây là một vấn đề liên quan đến toàn quốc, toàn dân: một vấn đề chống lại Tổ quốc.

2. Bọn phát xít Nhật và bọn phát xít nước ngoài đều biết rõ điều đó, bởi vậy chúng cố ý gây mối bất hoà để lừa gạt thiên hạ và làm mất uy tín của những người cộng sản, chúng làm cho người ta tưởng rằng những người cộng sản và bọn tờrốtxkít là cùng một cánh với nhau.

3. Bọn tờrốtxkít Trung Quốc (cũng như bọn tờrốtxkít nước ngoài) không lập thành nhóm, càng không lập thành chính đảng. Chúng chỉ là những bè lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa phát xít Nhật (và chủ nghĩa phát xít quốc tế).

4. Trong tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che giấu những công việc kẻ cướp bẩn thỉu của chúng. Chẳng hạn: ở Tây Ban Nha, chúng gọi là “Đảng công nhân thống nhất mác xít” hoặc “POUM”. Chắc các bạn cũng biết rằng chính bọn chúng đã tổ chức tất cả những tổ do thám ở Mađrít, ở Bácxơlon và ở các nơi khác để phục vụ cho Phrăngcô. Chính chúng đã tổ chức cái “đội quân thứ 5” nổi tiếng để giúp làm nội ứng cho các quân đội phát xít ý – Đức. ở Nhật Bản, chúng gọi là “MEL” (Đồng minh Mác, Ăngghen, Lênin). Bọn tờrốtxkít Nhật dụ dỗ thanh niên vào trong đồng minh, rồi tiếp đó chúng đi tố cáo họ với sở cảnh sát. Chúng còn mưu toan chui vào Đảng Cộng sản Nhật Bản cốt để phá hoại nó. Tôi cho rằng bọn tờrốtxkít Pháp hiện giờ cũng đang tập hợp chung quanh nhóm “Cách mạng vô sản” và nhiệm vụ của chúng là phá hoại Mặt trận nhân dân. Về việc này, chắc các bạn biết rõ hơn tôi. ở nước Trung Hoa chúng tôi, bọn tờrốtxkít liên kết với nhau chung quanh nhóm “Tranh đấu”, nhóm “Chiến tranh chống Nhật và văn hoá” và nhóm “Cờ đỏ”.

5. Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất.

Chắc các bạn đã đọc bản án xử bọn tờrốtxkít ở Liên Xô. Nếu các bạn chưa đọc thì tôi khuyên các bạn nên đọc và làm cho bạn bè mình cũng đọc nó. Đọc bản án này rất bổ ích. Nó sẽ giúp các bạn thấy rõ bộ mặt thật đáng ghê tởm của chủ nghĩa Tờrốtxki và bọn tờrốtxkít. ở đây, tôi xin phép các bạn chỉ trích dẫn vài đoạn trong bản án có liên quan trực tiếp đến Trung Quốc thôi.

Trước toà án, tên tờrốtxkít Racốpxki khai như sau: Năm 1934, khi hắn còn ở Tôkiô (với tư cách là đại diện Hội chữ thập đỏ Liên Xô), một nhân vật cao cấp trong Chính phủ Nhật đã nói với hắn:

“Chúng tôi có quyền mong đợi ở những người tờrốtxkít một sự thay đổi về sách lược. Tôi không cần đi sâu vào chi tiết. Chỉ cần nói rằng chúng tôi mong đợi ở họ những hành động thuận lợi cho sự can thiệp của chúng tôi vào công việc của Trung Quốc”.

Racốpxki trả lời với tên Nhật: “Tôi sẽ viết thư cho Tờrốtxki về vấn đề này”. Đến tháng 12-1935, Tờrốtxki ra chỉ thị cho những tên Trung Quốc đồng bọn của hắn, và nhắc đi nhắc lại rằng: “Đừng gây trở ngại cho cuộc xâm lược của Nhật Bản ở Trung Quốc”.

Như vậy là bọn tờrốtxkít Nga muốn bán cho đế quốc Nhật không chỉ những phần đất của Tổ quốc mình – Xibêri và những tỉnh ven biển – mà chúng còn muốn bán cho đế quốc Nhật cả Tổ quốc chúng tôi – nước Trung Hoa nữa!

– Thế thì bọn tờrốtxkít Trung Quốc đã hành động như thế nào? Rõ ràng các bạn sẽ nôn nóng, hỏi tôi như vậy.

– Nhưng, thưa các bạn thân mến, chỉ trong bức thư sau, tôi mới có thể trả lời các bạn được. Các bạn há chẳng đã dặn tôi viết những bài ngắn đó sao?

Mong sớm được gặp lại các bạn.

P.C.LIN

Hồ Chí Minh: Toàn tập,

t.3, tr. 125-127.

NHỮNG CHỈ THỊ MÀ TÔI NHỚ VÀ TRUYỀN ĐẠT

1. Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.). Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật.

Chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp.

2. Muốn đạt được mục đích trên phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi.

Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc.

3. Đối với tư sản dân tộc, Đảng phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo. Phải hết sức lôi kéo họ và giữ họ ở trong Mặt trận, thúc đẩy họ hành động nếu có thể, cô lập họ về chính trị nếu cần. Tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận, vì như thế là đẩy họ rơi vào tay bọn phản động, là tăng thêm lực lượng cho chúng.

4. Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

5. Để phát triển và củng cố lực lượng, mở rộng ảnh hưởng và hành động có hiệu quả. Mặt trận dân chủ Đông Dương phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp, vì Mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ và có thể giúp rất nhiều cho ta.

6. Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo.

7. Muốn làm được nhiệm vụ trên, Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin để nâng cao trình độ văn hoá và chính trị cho các đảng viên. Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ. Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp.

8. Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị (ví dụ: đăng tiểu sử đồng chí R., báo “Lao động” viết đồng chí đó ở đâu, đồng chí đó trở về như thế nào, v.v.. Báo đó lại đăng và không bình luận gì về bức thư của đồng chí này cho rằng chủ nghĩa Tờrốtxki là sản phẩm của tính khoe khoang cá nhân, v.v.).

Viết năm 1939

Hồ Chí Minh: Toàn tập,

t.3, tr. 138-139.

BÁO CÁO GỬI BAN CHẤP HÀNH QUỐC TẾ CỘNG SẢN

Các bạn thân mến,

Tôi ra đi đã 9 tháng nay và đã tới nơi được 7 tháng. Nhưng tôi lấy làm khổ tâm mà báo cáo rằng tôi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đúng là tôi đã rơi vào cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trăm triệu con người và trên con đường di chuyển của nó, nó đã ngẫu nhiên làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi. Tuy nhiên điều đó cũng không thể bào chữa cho sự bất lực của tôi.

Trong bảy tháng qua, tôi đã làm gì ? Được sự giúp đỡ của một số bạn, tôi bắt tay tiến hành nghiên cứu, nhưng chẳng thu được kết quả nào. Sau đó, tôi tìm cách bắt các mối liên lạc, và việc này đã đưa lại ít nhiều kết quả như sau đây chúng ta sẽ rõ. Trong khi chờ đợi, để khỏi phí thời gian, tôi đến làm việc phiên dịch các tin tức thế giới (nghe đài thu thanh) ở Bát lộ quân, làm bí thư chi bộ, chủ nhiệm câu lạc bộ và hiện nay, uỷ viên uỷ ban câu lạc bộ. Đồng thời tôi đã viết một cuốn sách nói về Khu vực đặc biệt và một số bài báo phản ánh những biến cố chính trị và quân sự, sự tàn ác của bọn Nhật Bản, tinh thần anh dũng của các chiến sĩ Trung Quốc, cuộc đấu tranh chống bọn tờrốtxkít… để tuyên truyền quốc tế.

Từ ngày 12-2-1939, số lớn những bài đó đã được đăng trên tờ Notre Voix, tuần báo công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương, xuất bản tại Hà Nội. Trên các bài đó tôi đều ghi Quế Lâm và ký tên Lin, hy vọng rằng các đồng chí có trách nhiệm có thể đoán được ai là tác giả và hiện người đó ở đâu. Nhưng hy vọng này không đạt được. Tuy nhiên, giữa tôi và đồng chí chủ nhiệm tờ báo đã hình thành một mối liên hệ chặt chẽ, và đồng chí ấy vẫn tin chắc tôi là một nhà báo Trung Quốc.

Chỉ đến cuối tháng này (tháng 7), thông qua một người bạn, rồi thông qua đồng chí chủ nhiệm tờ báo nói trên, tôi mới gửi được cho Ban Chấp hành Trung ương địa chỉ của tôi và các đường lối, chủ trương. Nên chú ý là từ lúc ra đi, để cho dễ nhớ, tôi đã ghi lại những điểm chính của đường lối, chủ trương. Nhưng bản ghi đó, cùng với tất cả đồ đạc còn lại của tôi, đã bị thất lạc ở Diên An và đến lúc tôi về tới nơi thì chỉ còn lại vẻn vẹn một quyển từ điển. Vì vậy, tôi chỉ có thể truyền đạt cho Ban Chấp hành Trung ương những điều tôi còn nhớ. Đề nghị các đồng chí xem có những gì sai lầm và thiếu sót lớn không (bản sao kèm theo)1).

*

*     *

Qua tờ Notre Voix và tờ Đời nay – một tờ tuần báo công khai khác của Đảng xuất bản bằng tiếng Việt ở Hà Nội – tôi có thể tóm tắt tình hình trong nước như sau:

Nhìn chung, từ năm 1936 đến năm 1938, tình hình đã được cải thiện khá nhiều, chế độ ngày làm 8 giờ, hằng tuần có ngày nghỉ, chế độ nghỉ hằng năm là 10 ngày có lương, tự do tổ chức đã bắt đầu được thực hiện. Nhiều tù chính trị đã được ân xá. Nhưng tất cả những điều đó đã xấu đi từ khi Chính phủ Đalađiê ngả về hữu, nhất là từ năm 1939. Tình hình nghiêm trọng này đã gây nên phong trào đấu tranh trong quần chúng.

TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ TRONG NGƯỜI BẢN XỨ

Trung Kỳ: 2 đảng viên xã hội người bản xứ, nghị viên dân biểu và biên tập viên báo “Dân” đã bị tước quyền đại biểu, quyền công dân và bị tống giam. Tờ báo “Dân” bị đóng cửa.

Trong cuộc bầu cử bổ sung, 2 đảng viên xã hội khác đã trúng cử với đa số phiếu: 669 và 878 phiếu, so với 292 và 500 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra. (Hình như nhiều người cộng sản đã lấy danh nghĩa Đảng Xã hội để dễ hoạt động hợp pháp).

Nam Kỳ: Trong dịp bầu cử Hội đồng quản hạt, Mặt trận dân chủ đã đưa ra danh sách Ninh, Tạo, Mai. Chính quyền đã gây mọi khó khăn đối với các ứng cử viên này: từ chối không nhận danh sách ứng cử, đe doạ các chủ muốn cho họ thuê phòng làm nơi hội họp, xé áp phích của họ, bắt các biên tập viên báo Dân chúng (tờ báo công khai của Đảng ở Sài Gòn), tịch biên toà báo và tài chính của nó… Sau hàng trăm cuộc mít tinh phản đối, có hơn 2 vạn người tham gia, chính quyền mới buộc phải thừa nhận danh sách ứng cử đó. Và chỉ đến vòng bầu cử thứ hai, 3 tên tờrốtxkít và 3 tên lập hiến mới trúng cử.

Bắc Kỳ: Do các đại biểu người Pháp từ chối không chịu thảo luận đề nghị nâng số đại biểu người bản xứ lên bằng số đại biểu người Pháp (hiện nay có 12 Pháp và 6 bản xứ), 3 đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ đã từ chức. Trong khi bầu lại, những người từ chức đó đã thắng lợi rất oanh liệt và trúng cử với con số từ 750 đến 772 phiếu so với con số từ 11 đến 370 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra.

ít lâu sau, anh Phan Thanh, một trong số đại biểu đảng viên xã hội đó, chết. Dân chúng đã tổ chức tang lễ rất trọng thể. Đám tang có 153 vòng hoa, có đại biểu 14 tỉnh về dự và dài 2 kilômét. Gia đình anh nhận được 110 điện viếng. Chưa bao giờ có một đám tang lớn như thế ở Hà Nội.

TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP Ở BẮC KỲ

Tháng 1, Đại hội Chi nhánh Đảng Xã hội Bắc Đông Dương họp tại Hà Nội. Nhiều quyết nghị đã được thông qua:

Kết nạp đảng viên: – “…tới tận các thợ thủ công mù chữ…”.

Thống nhất hành động: – “… Đại hội thông qua đường lối thống nhất hành động của Ban Thường vụ và giao cho Ban Thường vụ thực hiện sách lược này…”.

Giúp đỡ Trung Quốc: – “Một uỷ ban thường trực sẽ được thành lập để đảm nhiệm việc giúp đỡ Trung Quốc, đồng thời giúp đỡ cả những người cộng hoà Tây Ban Nha, những người lưu vong Tiệp Khắc, những người Do Thái và các nạn nhân Đông Dương”.

Chống đàn áp – “… cực lực phản đối những hành động phá hoại lòng tin cậy và mối hy vọng của nhân dân bản xứ đối với nước Pháp dân chủ…. Báo động cho tất cả các tổ chức tiến bộ đang hoạt động ở miền Bắc Đông Dương và đề nghị các tổ chức ấy cùng phối hợp hoạt động để ngăn chặn những hành động vô chính trị và độc đoán đó”.

Một đại biểu thanh niên dân chủ (không phải là một tổ chức) đã đọc trước Đại hội một bản kiến nghị yêu cầu cho thành lập một chi hội Thanh niên xã hội (vào tháng 4, một chi hội như thế đã được thành lập ở Hà Nội).

Tờ Notre Voix đã đăng một lời chào mừng anh em gửi cho Đại hội.

Hội nhân quyền19 đã đòi tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ. (Về sau tôi sẽ trình bày chính sách của bọn tờrốtxkít Đông Dương).

CÔNG NHÂN

Tuỳ từng vùng, tiền lương có khác nhau. Nhưng nét chung đối với tất cả các nơi là tiền lương rất thấp.

Lương công nhật tối thiểu là:

Đàn ông –    Trung Kỳ:    từ 0đ20 đến 0đ33

Bắc Kỳ:       – 0đ22   –    0đ33

Đàn bà –      Trung Kỳ:     – 0,15    –     0,25

Bắc Kỳ:       – 0,17    –     0,25

Trẻ em –      Trung Kỳ:      – 0,11    –    0,19

Bắc Kỳ:       – 0,12    –     0,17

Theo số liệu chính thức ở Bắc Kỳ thì giá sinh hoạt tháng 6-1939 tăng 40% so với tháng 9-1938 và so với năm 1914 thì tăng 177%; trong khi đó, tiền lương chỉ tăng từ 10 đến 12%, vì vậy một làn sóng bãi công đã nổ ra.

Địa phương Ngành nghề Yêu sách Người tham gia bãi công Tháng Kết quả
– Turan  công nhân Riksha phản đối tăng tiền thuê nhà 1
– Vĩnh Long  thợ làm gạch  tăng lương 500 nt thắng lợi
– Chợ Lớn  đồn điền  tăng lương nt
– Thủ Dầu Một  đồn điền  giảm giờ làm từ 11 giờ xuống 9 giờ 300 nt thắng lợi
– Hải Phòng  thợ may  tăng lương (không nổ ra bãi công) 3 thắng lợi
– Hải Phòng  thợ cưa  tăng lương 1.000 4
– Cần Thơ  thợ cưa  tăng lương 100 4
– Hà Nội  thợ cưa  tăng lương 400 4
– Uông Bí  công nhân mỏ than  tăng lương 300 4 thắng  lợi
– Mỹ Tho  công nhân Riksha  phản đối phạt vạ 200 4
– Chợ Lớn  thợ cưa  tăng lương 100 4
– Hải Phòng  công nhân sợi  tăng lương 3.000 nt thắng lợi
– Hà Nội  thợ may  tăng lương nt
– Hà Nội  thợ in  tăng lương 70 4 thắng lợi
– Nam Định  trẻ em bán
kem
 phản đối tăng giá 60 5
– Hà Nội  trẻ em bán kem  tăng giá 100 5 thắng lợi
– Hà Nội  đô tuỳ  tăng lương 500 nt
– Hà Nội thợ dệt  tăng lương 14 nt thắng lợi
– Hà Nội  học nghề cải thiện sinh hoạt 30 nt
– Hà Nội  nhạc sĩ tăng lương 40 nt
– Hà Nội  thợ dệt tăng lương nt thắng lợi
– Hà Nội  thợ mộc nt 700 nt thắng lợi
– Hải Phòng  công nhân
bốc vác
nt 1.500 nt thắng lợi
– Sài Gòn  công nhân
vệ sinh
nt 300 nt thắng lợi một phần
– Hải Phòng  công nhân
xi măng
tăng lương (bãi công 1 giờ) 60 6 thắng lợi
– Hải Phòng  công nhân
bốc vác
nt 100 nt
– Hải Phòng  công nhân
xe chỉ
nt 800 nt thắng lợi
– Hải Phòng  dệt thảm nt 700 nt
– Hải Phòng  làm ô yêu sách, (không bãi công) nt
– Hải Phòng  chè tăng lương 200 nt thắng lợi
– Hải Phòng  thợ máy tăng lương 300 5 thắng lợi
– Hải Phòng  hãng buôn nt 300 6 nt
– Hải Phòng  chè nt 300 nt thất bại
– Hải Phòng  thuỷ tinh nt 700
phụ nữ
nt
– Hà Nội  công nhân
hoả xa
nt 800 nt thắng lợi một phần
– Hà Nội  công nhân
hoả xa
nt 800 nt thắng lợi một phần
– Hà Nội  thêu tăng lương nt thắng lợi một phần
– Hà Nội  làm mũ tăng lương 100 nt thắng lợi một phần
– Hà Nội  hãng ô tô Pho nt 300 6
– Dĩ An  xe lửa nt 700 nt
– Sài Gòn  bến tàu nt 4.000 6 thắng lợi
– Sài Gòn  nhà in nt 300 6 thắng lợi một phần
– Sài Gòn  thợ giày nt nt
– Hà Nội  máy diêm tăng lương 240 phụ nữ 6 thắng lợi
– Hà Nội  nhà in nt 60 6 thắng lợi
– Hà Nội  thợ mộc ngày hợp pháp 6 thắng lợi
– Hà Nội  nhà in khác tăng lương 6 thắng lợi
– Hà Nội  xe lửa nt 6
– Hà Nội  thợ máy nt 600 6 thắng lợi
– Hải Phòng  lái tàu sông nt 6 thắng lợi
– Uông Bí  công nhân
mỏ than
nt 2.000 6 thắng lợi

(Bảng này thống kê từ tháng 1 đến tháng 6, nhưng chưa đầy đủ. Dấu (-) tức là chưa biết).

Một vài đặc điểm của các cuộc bãi công nói trên:

So với trước thì các cuộc bãi công năm 1939 có tổ chức và có kỷ luật hơn. Các cuộc bãi công ấy đều đưa ra những yêu sách cụ thể hơn: đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ, bảo hiểm xã hội, công nhận các đại biểu, tự do nghiệp đoàn. Đó là những yêu sách cơ bản.

Hầu hết các cuộc bãi công đều được sự ủng hộ tinh thần và vật chất của công nhân các ngành khác, của nông dân và tiểu thương; đôi khi ngay cả tù chính trị cũng đóng góp vào các cuộc lạc quyên ủng hộ. Những người bãi công đã ra lời kêu gọi lao động trong cả nước và đã nhận được thư tỏ tình đoàn kết. Mỗi lần thắng lợi, họ lại ra những bản tuyên bố động viên toàn thể công nhân đoàn kết lại, đồng thời cũng nhận được nhiều điện mừng gửi tới.

Trong khi cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng đang nổ ra, bọn mộ công nhân đã tìm cách quyến rũ công nhân thất nghiệp Nam Định; nhưng những người này không muốn trở thành những kẻ phá hoại bãi công và đã gửi thư khuyến khích bạn đồng nghiệp của họ ở Hải Phòng tiếp tục đấu tranh cho đến thắng lợi.

Sau cuộc bãi công, bọn chủ và bọn thanh tra lao động buộc phải ký giao kèo với đại biểu công nhân. Như vậy là đoàn đại biểu công nhân được coi như hợp pháp.

Những người bãi công đã thực hiện kỷ luật dân chủ. Ví dụ: sau cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng, đến trưa thì ban giám đốc và bọn thanh tra lao động của nhà máy ký giao kèo, nhưng đại biểu của những người bãi công từ chối không chịu ký khi họ chưa có ý kiến đồng ý của toàn thể công nhân. Đến 2 giờ chiều, trước 2.000 công nhân tập hợp rất trật tự trước nhà máy, bản giao kèo được đem ra đọc. Chỉ sau khi toàn thể những người tham gia bãi công nhất trí tán thành, các đại biểu mới ký tên vào bản giao kèo. Lúc bấy giờ, công nhân đã giơ nắm tay “mặt trận đỏ” lên cám ơn viên tổng thanh tra lao động. Bức thư của họ được đăng trên các báo và kết thúc bằng những khẩu hiệu: “Vô sản thế giới muôn năm! Mặt trận dân chủ muôn năm! Tự do nghiệp đoàn, dân chủ và tinh thần đoàn kết muôn năm!”.

Làn sóng bãi công làm cho bọn chủ lo lắng. Một số trong bọn chúng (Nhà máy sợi, Nhà máy rượu Nam Định và một số khác) không đợi công nhân yêu sách, đã thực hiện tăng lương.

Tổ chức công nhân

Từ năm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân ở Pháp thắng lợi, phong trào đòi tự do nghiệp đoàn ở Đông Dương bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Để ngăn chặn hoặc làm trì trệ phong trào, chính phủ thuộc địa đã “khuyên công nhân trước hết hãy tổ chức những hội ái hữu” với một điều lệ hạn chế do tự chúng thảo ra. Nhưng ngay sau khi chính phủ Pháp ngả về hữu thì các tổ chức ái hữu ở Đông Dương bắt đầu bị khủng bố. ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, người ta đóng cửa một vài tổ chức cũ, gây khó khăn đối với những tổ chức mới và cấm không cho lập thêm các tổ chức khác. ở Trung Kỳ thì lại quá tay! Người ta bỏ tù 4 năm những nông dân tổ chức hợp tác! Vì vậy cho nên “đòi hỏi tự do tổ chức” trở thành một trong những khẩu hiệu chính của tất cả các cuộc bãi công và biểu tình. Cần nhắc lại rằng, ngày 6-3-1939, công nhân dệt ở Hà Nội đã gửi thư cho Thống sứ Bắc Kỳ đòi tự do nghiệp đoàn. Ngày 14-4, cũng ở thành phố này, những người lao động đã gửi thư cho Bộ trưởng thuộc địa tố cáo những hành động đàn áp công nhân và đòi tự do dân chủ. Ngày 6-6, đại biểu các hội ái hữu của 4 thành phố (Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và Hà Đông) đã gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ và cho Tổng thanh tra lao động một lá thư, trong đó, đoạn cuối như sau:

“Năm 1936, khi phong trào đòi tự do nghiệp đoàn lên cao, chính phủ bảo những người lao động hãy tổ chức những hội ái hữu đã, trong khi chờ đợi thành lập nghiệp đoàn. Chúng tôi không phải là những người bảo thủ để tin rằng hội ái hữu là một bước cần thiết để tiến tới nghiệp đoàn, nhưng vì không muốn bỏ lỡ một cơ hội nhỏ nào, nhằm tổ chức quần chúng lao động lại, nên chúng tôi đã bắt đầu tiến hành thành lập hội ái hữu ở khắp nơi, mỗi nơi một ít, đồng thời không ngừng đòi nhà chức trách phải thực hiện tự do nghiệp đoàn.

“Khắp nơi, mỗi nơi một ít, các hội ái hữu được thành lập, làm việc trong không khí mới mẻ và với một phương pháp mới. Thấy vậy, nhà chức trách tìm hết cách ngăn chặn, khủng bố các hội ấy, đuổi những công nhân là hội viên hoặc công nhân có trách nhiệm trong các tổ chức này, giải tán một cách độc đoán những hội ái hữu cũ và ngăn cấm không cho thành lập những hội mới.

“Chúng tôi kịch liệt phản đối việc giải tán các hội ái hữu hoạt động trong vòng trật tự, hợp pháp và không bao giờ vượt quá phạm vi nghề nghiệp của mình. Chúng tôi kiên quyết đòi cho những người lao động được tự do lập hội ái hữu. Thay mặt các hội ái hữu của những người lao động Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Hà Đông, đại biểu cho niềm hy vọng của các tầng lớp lao động Bắc Kỳ, với thiện cảm và sự ủng hộ của lao động toàn Đông Dương, chúng tôi lớn tiếng đòi: Tự do nghiệp đoàn! Tự do tổ chức hội ái hữu!”.

Ngày 1-5-1939

Năm 1938, lần đầu tiên Hà Nội được tổ chức ngày 1-5 hợp pháp. Ngày đó thật là lớn và đối với Đông Dương, có thể nói là vĩ đại: 2 vạn người biểu tình. Năm nay, Đảng Cộng sản tán thành, nhưng Đảng Xã hội lại phản đối biểu tình công khai. Cuối cùng, một cuộc họp đã được tổ chức tại trụ sở Đảng Xã hội, có 100 đại biểu các tổ chức tham dự. ở các thành phố khác lại có nhiều cuộc biểu tình lớn hơn.

Hải Phòng             700 người biểu tình,

Thái Bình              500    –

Thanh Hoá            2.000 – trong 23 cuộc míttinh,

Nghệ An                500 nông dân,

Sài Gòn                11 cuộc biểu tình, 5 cuộc bãi công,

Mỹ Tho                 250 công nhân biểu tình,

Long Xuyên           300    –

Thà khẹt (Lào)        40      –

Sau ngày lễ đó, nhiều vụ bắt bớ và tù tội đã diễn ra.

Những cuộc biểu tình khác

Lấy cớ để phòng thủ Đông Dương, ngày 15-5 Chính phủ quyết định thu 10 triệu bạc “đảm phụ quốc phòng”. Tất cả gánh nặng đó đè lên lưng người bản xứ. Một công chức người bản xứ phải đóng góp 8 lần so với đồng sự của họ người Pháp. Một người Âu chỉ phải đóng một đồng thuế thân, trong khi đó một người bản xứ phải đóng từ 1đ50 đến 20đ00, cộng thêm 4đ20 tiền miễn trừ tạp dịch nữa. Thuế môn bài tăng gấp đôi, gấp bốn. Ví dụ: một ông già bán thuốc chữa bệnh vốn chỉ 15đ00 mà phải đóng đến 6đ00 thuế thân và 9đ80 thuế môn bài! Nông dân phải đóng nhiều hơn năm 1938 là 38%. Tình hình đó đã gây ra những cuộc biểu tình và phản đối trong nhân dân. Dưới đây là bản thống kê không đầy đủ về những cuộc biểu tình đó.

Ngày tháng Địa phương Người tham gia Yêu sách
Tháng Tháng 3 Hà Hà Hà Nội 200 – Người buôn bán gửi đơn cho chính phủ phản đối tăng thuế.
Tháng 4 Hà Nội Tiểu thương – Gửi đơn cho chính phủ phản đối tăng thuế.
Tháng 4 Vĩnh Long Nông dân – Đòi chia đất công.
Tháng 5 Hải Phòng 1.500 – Phản đối tăng thuế, đòi giảm thuế cho người nghèo, đòi tự do tổ chức, đoàn kết với công nhân bãi công, chống khủng bố.
Tháng 5 Hà Nội 722 – Tiểu thương đòi phủ toàn quyền giảm thuế cho người nghèo và người thất nghiệp. Đánh thuế nặng hơn đối với các công ty lớn.
Tháng 5 Hải Phòng 438 – Tiểu thương phản đối tăng thuế.
Tháng 5 Hải Phòng 1000 – Công nhân và tiểu thương phản đối tăng thuế và đòi tự do tổ chức.
Tháng 5 Sơn Tây – Nông dân làng Dụ Phước đòi chia ruộng công.
Tháng 5 Thái Bình 500 – Biểu tình chống thuế, đòi tự do dân chủ, đòi ân xá chính trị phạm.
Tháng 5 Thanh Hoá – Đòi lại phiếu quốc trái mà bọn trung gian đã chiếm mất.
Tháng 6 Hà Đông  100 – Nông dân Hạ Trì chống thuế.
Tháng 6 Cao Bằng  300 – Nông dân chống thuế.
Tháng 6 Hải Phòng  1.500 – Công nhân và tiểu thương chống tăng thuế, chống khủng bố và chủ nghĩa phát xít, đòi tự do tổ chức.
Tháng 6 Hà Nội 650 Biểu tình phản đối tăng thuế, tỏ tình đoàn kết với những người bãi công và nông dân bị tước đoạt ở Thái Ninh.
Tháng 6 Hà Đông 3.000 – Nông dân làng Văn Phước chống bán ruộng công.
Tháng 6 Thái Bình 500 – Nông dân Đặng Phổ chống tăng thuế, tỏ tình đoàn kết với nông dân Thái Ninh.
Tháng 6 Thái Bình – Nông dân An Thái đòi chia ruộng công.
Tháng 6 Hải Phòng – Hàng trăm người biểu tình ở công viên phản đối tăng thuế, chống khủng bố công nhân, và tỏ tình đoàn kết với những người bãi công.
Tháng 6 Thanh Hoá 1.739 – Nhân dân gửi 47 đơn cho phủ toàn quyền đòi giảm thuế và thực hiện tự do dân chủ.
Tháng 7 Thái Bình – Hàng ngàn nông dân biểu tình phản đối tước đoạt ruộng đất của họ (1.500 mẫu) để cấp cho bọn chủ báo Hà Nội buổi chiều và Đông Pháp. Số ruộng đất này thuộc làng Thái Ninh. Nhiều cuộc bãi thị đã nổ ra.

BÁO CHÍ

Theo tôi biết, ở Bắc Kỳ cánh tả có những tờ tuần báo như sau:

Demain – Đảng Xã hội,

Tribune républicaine – (Pháp),

Effort – Tiến bộ – tự trị – (bản xứ),

Notre Voix – Cộng sản,

Đời nay – Cộng sản,

Người mới – Khuynh hướng xã hội,

Ngày mới – Khuynh hướng xã hội,

Thế giới – Thanh niên tiến bộ.

Trung Kỳ:

Tiếng dân – Quốc gia.

Nam Kỳ:

Dân chúng – Cộng sản,

Lao động – Khuynh hướng cộng sản (tôi cho như vậy),

Tiến tới – Tiến bộ,

Đông phương – Tiến bộ,

Mới – Thanh niên dân chủ.

Các báo này tán thành đòi tự do, dân chủ và ân xá chính trị phạm.

Tờ Dân chúng xuất bản ở Sài Gòn từ tháng 7-1938 là tờ báo đầu tiên đã bất chấp đạo luật cấm phát hành nếu không được phép trước. Sau khi nó ra đời được một tháng, quyền tự do báo chí được ban hành, nhưng hàng ngày, người ta cứ tìm cách cắt xén và thủ tiêu đi, như về sau, chúng ta sẽ thấy. Tôi nghĩ rằng Dân chúng cũng là tờ báo được nhiều người đọc nhất ở Đông Dương, vì số lượng phát hành của nó lớn hơn tất cả – mỗi số 1 vạn bản. Ngày 7-3, tờ báo bị tịch thu, các biên tập viên của nó bị bắt. Trong suốt tháng sau, 28 cuộc mít tinh phản đối đã nổ ra, một vài cuộc có tới 1.000 người tham gia; và để giúp đỡ tờ báo, một cuộc lạc quyên đã được tổ chức và thu được hơn 400đ trong một tuần lễ. Phản đối chính phủ tìm cách ngăn cản các ứng cử viên của Mặt trận dân chủ trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt, trong vòng đầu, báo Dân chúng đã đưa ra khẩu hiệu bỏ phiếu trắng và 2.585 cử tri đã làm theo.

Báo Đời nay ở Bắc Kỳ cũng rất được nhiều người đọc. Trong danh sách “ủng hộ báo Đời nay” người ta đọc thấy tên phụ nữ, thanh niên, học sinh, công nhân, nông dân, tiểu thương ủng hộ từng xu nhỏ một. Người ta còn thấy tên một thiếu nữ ủng hộ tới 20 đồng bạc; có lẽ đó là một người cảm tình trẻ tuổi thuộc tầng lớp tư sản. Công nhân ở Boócđô, Havơrơ, Xiêm, Lào và Vân Nam cũng đều gửi tiền ủng hộ. Khi công nhân, nông dân, tiểu thương và hương sư có kêu ca điều gì thì họ cũng nhờ tới báo “Đời nay“.

Người đọc tờ Notre Voix thì ít hơn nhiều, và chỉ gồm những người Đông Dương biết tiếng Pháp, làm chính trị. Đây là cương lĩnh của tờNotre Voix và cũng là cương lĩnh chung của các tờ báo cộng sản Đông Dương:

Notre Voix sẽ là tiếng nói của những người mong muốn hoà bình, muốn được tự do và hạnh phúc hơn, của những người quyết tâm đấu tranh cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, đấu tranh chống lại các lực lượng bảo thủ và áp bức xã hội, chống lại những kẻ gây chiến, chủ nghĩa phát xít trong nước và trên quốc tế.

“Nói một cách chính xác hơn, Notre Voix sẽ hoạt động để mở rộng và củng cố mặt trận những lực lượng tiến bộ, mặt trận dân chủ Pháp – Đông Dương, để tăng cường tình đoàn kết của nhân dân Đông Dương với các chiến sĩ anh hùng Trung Quốc, Tây Ban Nha và nói chung, với toàn thể nhân dân thế giới”.

Chính phủ thuộc địa tích cực dùng bạo lực chống lại các báo phái tả cũng như các báo dân chủ bản xứ. Chúng đuổi những công nhân, viên chức đọc các báo đó, đe doạ những độc giả khác, tịch thu báo, và đôi khi cả tài chính của toà báo, bắt bớ và tống giam các biên tập viên và phóng viên, truy tố ban biên tập trước toà án, v.v.. Các biên tập viên báo Thanh niên bị bắt ngay sau khi tờ báo phát hành. Thuế môn bài các đại lý báo Đời nay đều tăng 700%.

Nói về những cuộc đàn áp ấy, báo Đời nay, cơ quan của Đảng Xã hội xuất bản ở Hà Nội, viết:

“Người ta chỉ có thể khiển trách họ đã đề cập đến những vấn đề dân chủ, đã ca ngợi một sự hợp tác Pháp – Việt chân thành, một sự đoàn kết hợp lý trước hoạ phát xít…. Người ta bóp nghẹt mọi tài liệu dân chủ và dung túng sách báo thân Nhật hoặc có khuynh hướng phát xít”.

Cũng cần nhắc ra đây tên một số sách bị cấm:

Lênin

Nước Nga Xô viết

Lịch sử cách mạng Trung Quốc

Tây Ban Nha

Thắng lợi của thái độ kiên trì của Liên Xô

Việc võ trang Liên Xô

Công cuộc khôi phục ở Liên Xô

Sự tiến bộ trong quan hệ Trung – Xô

(Tóm lại, tất cả sách viết về Liên Xô).

Tờrốtxki, công cụ của chủ nghĩa phát xít (bằng tiếng Trung Quốc)

Mặt trận thống nhất chống phát xít sau sự kiện Muyních (bằng tiếng Trung Quốc).

Tất cả những sách chống phát xít và ngay cả những quyển sách như:

Nguyên lý lãnh đạo (bằng tiếng Việt) và các tác phẩm văn nghệ như:

Lúc tôi ở với Lênin của Goócki, cũng đều bị cấm.

Báo cánh tả bằng tiếng Việt bị cấm lưu hành ở Trung Kỳ và Cao Miên. Các báo tờrốtxkít và có khuynh hướng phát xít được khuyến khích và tự do lưu hành khắp nơi.

Cuốn Tư bản cũng bị cấm ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Tù chính trị

Theo tờ Notre Voix thì còn khoảng 1.500 tù chính trị ở trong các nhà lao. Tổ chức cứu tế nhân dân ở Pháp luôn luôn can thiệp và các báo cánh tả Pháp, Việt ở Đông Dương (ngay bọn tờrốtxkít cũng có tham gia một lần và theo cách của chúng) đều lên tiếng đòi trả lại tự do cho họ.

Tháng 6, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ đã thông qua một bức điện gửi cho Bộ trưởng Bộ thuộc địa yêu cầu ân xá toàn thể các chính trị phạm.

Các báo cộng sản đều tổ chức lạc quyên giúp đỡ họ. Từ năm 1938 cho đến tháng 4-1939, số tiền lạc quyên đã hơn 800đ. Cũng như mọi khi, những người đóng góp vẫn cứ là công nhân, nông dân, sinh viên, tiểu thương, thanh niên dân chủ, công nhân bản xứ làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, đôi khi cũng có những hành động cảm động: 2 thanh niên nông dân cùng nhau ủng hộ 7 xu và bên cạnh họ là một người cảm tình vô danh ủng hộ 20đ. Cũng có những người ủng hộ thuốc uống, sách và truyện cũ, kẹo, bưu ảnh, v.v..

Nhưng nếu lớp tù chính trị này được thả ra thì người ta lại tống giam những lớp mới khác.

Biểu tình trước trụ sở Hội đồng dân biểu: 3 năm tù và 3 năm quản thúc.

Tham gia vào hội tương tế, dù hội này đã được phép mở: cũng án như vậy.

Đưa yêu sách của dân làng cho các nghị viên, dù các nghị viên đó tự mình đến hỏi: 10 năm khổ sai và 10 năm quản thúc, v.v..

Phi Vân (mà người ta cho rằng đã phản bội) đã bị bắt và bị kết án 10 năm tù hồi tháng 6-1939. Anh ta bị áp giải một cách cẩn mật từ nhà lao đến Toà án Bắc Ninh, tay bị xiềng, đầu trần, chân đất, mình trần trụi và chỉ mang mỗi chiếc quần cộc.

Tờ Cố gắng viết về các cuộc đàn áp như sau: “… 20 năm sau khi hàng vạn đồng bào của chúng ta đã ngã xuống trên chiến trường Pháp, chúng ta vẫn không được hưởng một chút quyền, một chút tự do sơ đẳng nào mà nhân dân các nước dân chủ văn minh đã được hưởng.

Không có tự do báo chí.

Không có tự do lập hội.

Không có tự do hội họp.

Sau hai năm thực hiện một mức tự do hạn chế, trong đó, một vài chính kiến đã được phép nói lên đến một chừng mực nào đó, Chính phủ Đông Dương… lại bắt đầu o ép và đàn áp… Tờ Ngày mai viết:

“Hình như các nhà cầm quyền của chúng ta đã mất hết sáng suốt và bình tĩnh, hình như hễ bị kinh khủng là họ mất hết trí minh mẫn và lòng độ lượng; kể từ năm 1930… – thời kỳ bi thảm mà hiện nay hình như chúng ta đang trở lại – chưa bao giờ lại có những phương pháp đàn áp khốc liệt và tàn bạo quá tay đến thế.

Người ta tịch thu, người ta cấm đoán, người ta bắt bớ, người ta kết tội một cách không căn cứ, điên rồ, sai trái, độc đoán và hết sức ráo riết. Người ta bịa đặt, người ta nặn ra mọi chứng cớ giả tạo, người ta dùng đến những hành động nhục nhã. Người ta dùng cả những biện pháp bất hợp pháp: người ta đã hành động đến mức không luật pháp, đạo đức, nhân quyền, lương tri nào có thể bào chữa cho một chính sách ngu xuẩn đến thế”.

Đông Dương và Trung Quốc

Những người lao động Việt Nam hoàn toàn đứng về phía Trung Quốc. Những người có ít nhiều tinh thần dân chủ, những nhà buôn Pháp cũng đều như vậy, tất nhiên vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Đảng Xã hội, Hội nhân quyền và tất cả những phần tử cánh tả ở Bắc Kỳ đã tổ chức vào đầu năm 1939 một cuộc hội chợ lớn để giúp các nạn nhân chiến tranh của Trung Quốc. Những người cộng sản đưa ra khẩu hiệu: “Giúp đỡ Trung Quốc!”. Dân chúng đã thấm nhuần tinh thần khẩu hiệu đó và bằng chứng là, dù còn đói khổ, từ tháng 3-1938 tới tháng 2-1939, họ đã đóng góp 579 đồng vào cuộc lạc quyên ủng hộ các chiến sĩ Trung Quốc, do các báo cộng sản ở Bắc Kỳ tổ chức (ở các địa phương khác cũng có lạc quyên, nhưng tôi không biết kết quả). Ngày đầu năm, báo Notre Voix đã nhận được 38đ35 ủng hộ những người du kích. Nhân dịp kỷ niệm 2 năm ngày chiến tranh bùng nổ, nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã gửi cho các chiến sĩ 100 đồng và một lá thư cổ vũ gồm 2.330 chữ ký.

Những người cộng sản cũng đưa ra khẩu hiệu tẩy chay hàng Nhật. Cần nói thêm rằng, những người cộng sản đã đặt ra bài hát: “Giúp Trung Quốc tức là giúp mình”, và bài hát đó đã được truyền đi rất rộng trong quần chúng. Nhiều nơi đã tổ chức các cuộc biểu diễn ban đêm. Người biểu diễn là công nhân, nông dân, nhất là thanh niên, họ thường phối hợp với thanh niên Trung Quốc để làm.

Dưới áp lực của Nhật, Chính phủ Pháp quyết định đóng cửa biên giới Trung Quốc – Bắc Kỳ lại. Chính phủ thuộc địa không tán thành chủ trương ấy. Các thương gia Pháp đấu tranh chống quyết định đó. Báo chí cũng nhất trí chống lại việc đóng cửa biên giới, nhưng với lý do khác nhau, kẻ thì vì vật chất, người thì vì chính trị. Trước Hội đồng dân biểu, Chủ tịch phòng thương mại Hà Nội đã kịch liệt phản đối quyết định của Chính phủ. Sau khi cho biết rằng từ tháng 2 đến tháng 10-1938, Đông Dương đã xuất cảng sang Nhật 341.000 tấn than và quặng sắt, ông nói: “… Nếu chúng ta coi việc xuất cảng này là hợp pháp thì không thể hiểu tại sao chúng ta lại cấm việc xuất cảng sang Trung Quốc, … Trung Quốc đã nhường đường xe lửa Vân Nam cho một công ty Pháp, Trung Quốc đã nhường đất để làm đường sắt và cung cấp nhân lực cần thiết cho công cuộc xây dựng. Ngoài ra, trong điều 4 của Hiệp ước Trung – Pháp có ghi: “Dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược mà Chính phủ quốc gia muốn chuyển vận xuyên qua đất Bắc Kỳ sẽ được miễn mọi thứ” … Không tôn trọng lời ký kết của nước Pháp, chúng ta đã cấm vận chuyển hàng hoá sang Trung Quốc bằng con đường sắt (Pháp – Trung Quốc) Vân Nam. Trong lúc đó, chúng ta lại giao than và quặng sắt của chúng ta cho Nhật Bản…”.

Tướng tổng tham mưu trưởng Bạch Sùng Hy tuyên bố với các nhà báo Pháp: “Hiện nay không phải chỉ Quảng Tây tỏ ý bất bình với nước Pháp, mà cả Vân Nam, Quảng Đông và tất cả các tỉnh khác ở Hoa Nam nữa”.

Trong thời gian 3 tháng, người Trung Hoa đã làm xong 250 kilômét đường ôtô nối liền Vân Nam và Rănggun. Anh sẽ cho Trung Quốc vay 100 triệu để xây dựng một con đường sắt chạy theo hướng này. Chính phủ Đalađiê nhận thấy rằng nhiều mối lợi to lớn sẽ mất, không những thế cả nền thương mại Pháp ở Bắc Kỳ cũng sẽ bị phá sản, cho nên chúng buộc phải ngấm ngầm mở lại cửa biên giới mà không nói năng gì.

Nhật chiếm đảo Hải Nam và Spralây làm cho Pháp lo sợ. Họ liền tìm cách hợp tác với người Anh (Hội nghị quân sự ở Singapo) và chuẩn bị phòng thủ: tăng quân bằng cách tuyển thêm một vạn người, sửa lại các hải cảng, xây dựng sân bay và các nhà máy có thể sản xuất từ 150 đến 400 máy bay một năm.

Các báo cánh tả cho rằng như vậy vẫn chưa đủ, rằng muốn phòng thủ có kết quả thì phải có sự hợp tác thành thật của dân chúng; muốn thế, cần ban hành những quyền dân chủ cho người bản xứ.

Nên nhớ rằng chính phủ thuộc địa đã tổ chức một trường học tiếng Nhật ở Thanh Hoá. Lại một sự việc có ý nghĩa hay một dấu hiệu sợ hãi: tháng 6, trong một thông tri gửi cho người Pháp ở Bắc Kỳ, chính phủ đã hỏi họ rằng: Nếu chiến tranh nổ ra thì họ sẽ tản cư vợ con họ ra sao.

Nói thêm, những người cộng sản đã sáng tác bài hát Giúp Trung Quốc tức là giúp mình, một bài hát rất được phổ biến. Nhiều đêm (vui) kịch đã được tổ chức ở nhiều nơi. Những phần tử hăng hái là công nhân, nông dân và nhất là thanh niên, họ thường hợp tác với thanh niên Trung Quốc.

Hoạt động của Nhật ở Đông Dương

Bọn Nhật đã nhòm ngó Đông Dương từ lâu. Điều đó rất rõ ràng. Chương trình hoạt động của chúng có thể chia ra 3 mặt tuyên truyền, xâm nhập kinh tế và hoạt động gián điệp. Công tác tuyên truyền ấy chỉ tranh thủ được bọn quan lại bất mãn và các cụ đồ nho. Trong khi tuyên truyền, những người này tỏ ra công khai thân Nhật và chống Trung Quốc. Nhưng họ không có chút tác dụng nào trong đông đảo quần chúng, vì như trên đã nói, quần chúng thực sự đứng về phía Trung Quốc. Từ 34 năm nay, bọn Nhật đã nuôi Cường Để, ông hoàng Việt Nam lưu vong ở trên đất chúng, chỉ mong có dịp sẽ dùng đến. Về mặt kinh tế, đặc biệt bọn Nhật tìm cách thâm nhập vào các vùng mỏ Bắc Kỳ. Chúng đã đầu tư được vào nhiều công ty khai thác. Thứ hai là bán hàng hoá giá rẻ.

Gián điệp Nhật hoạt động rất mạnh ở Đông Dương. Ba tháng trước đây, một người Pháp chủ nhiệm một tờ báo và một người Việt Nam đã bị kết án 20 và 15 năm khổ sai về tội làm gián điệp. Về vấn đề này, tờ Effort viết: “Nhưng biết bao người như thế sẽ có thể tiếp tục công việc của họ một cách yên ổn gần như tuyệt đối, do thái độ do dự của các nhà cầm quyền Pari của chúng ta tạo nên”. Đối với bọn gián điệp người Nhật, Chính phủ Pháp tỏ ra rất nhân nhượng. Ví dụ, năm ngoái một sĩ quan Nhật bị bắt quả tang làm gián điệp ở Bắc Kỳ, người ta bắt được trong người hắn một tập tài liệu dày cộp. Nhưng Chính phủ chỉ yêu cầu tên sĩ quan này ra khỏi Đông Dương mà thôi. Mới đây, người ta bắt được ở Lào Cai 3 gián điệp người Nhật đang vẽ các cứ điểm chiến lược. Ra trước toà án, chúng chỉ bị phạt 100 quan!

Trái lại, người ta kết tội những người cộng sản là thân Nhật. Ngày 13-6, đồng chí chủ nhiệm tờ báo cộng sản Đời nay ở Hà Nội bị triệu đến sở mật thám. Viên chánh cẩm bảo đồng chí rằng: Những người cộng sản đã ăn lương của Nhật và chính vì thế mà họ đã tổ chức bãi công nhằm mục đích phá hoại việc tiếp tế cho Trung Quốc. Những người cộng sản đã kịch liệt phản đối lời vu cáo này của bọn cẩm bằng lời nói và bằng văn bản.

*

*    *

Tôi rất tiếc hôm nay chưa thể nói được về bọn tờrốtxkít. Liên lạc cần phải đi ngay. Tôi phải ngừng bút và gửi lời chào anh em tới các đồng chí.

Cuối tháng 7 năm 1939

LIN

Hồ Chí Minh: Toàn tập,

t.3, tr. 140-161.

_________________

1) Xem Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt, tr.540-541.

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Advertisements