Thư viện

Sử dụng pháo binh phá vỡ tuyến phòng thủ cửa ngõ Sài Gòn

QĐND – Sau những thất bại liên tiếp trên các mặt trận Tây Nguyên, Huế-Đà Nẵng và miền Đông Nam Bộ, buộc chính quyền Sài Gòn phải “tử thủ Sài Gòn” để hòng chuyển giao quyền lực trong danh dự. Vì vậy, địch tổ chức tuyến phòng thủ kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc là “một mắt xích quan trọng phải quyết giữ”, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn.

Xuân Lộc cách Sài Gòn 80km về phía đông, án ngữ các trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A vào Sài Gòn, Quốc lộ 20 nối Sài Gòn với Đà Lạt và Quốc lộ 15 nối Sài Gòn với Bà Rịa-Vũng Tàu. Để quyết giữ Xuân Lộc bằng mọi giá, địch tập trung lực lượng, phương tiện lớn tại đây và tổ chức phòng ngự thành các cụm điểm tựa, có hệ thống công sự vững chắc, bao quanh là các lớp hàng rào dây thép gai xen lẫn mìn.

Bộ đội Quân đoàn 4 tiến công vào thị xã Xuân Lộc. Ảnh tư liệu.

Quyết tâm phá vỡ tuyến phòng thủ Sài Gòn, Bộ chỉ huy Chiến dịch và Bộ chỉ huy Miền sử dụng Quân đoàn 4 có tăng cường một trung đoàn pháo 122mm kết hợp với pháo binh của lực lượng vũ trang địa phương, tiến công và giải phóng Xuân Lộc, tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn chủ lực của địch, tạo bàn đạp cho các binh đoàn chủ lực vào đột kích, tiến công các mục tiêu đã lựa chọn trong nội thành, giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Có thể nói, hướng Xuân Lộc là một trong hướng tiến công vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ nhất của địch; dài ngày và ác liệt nhất trong các hướng diễn ra trước cửa ngõ Sài Gòn. Trong đó, tính táo bạo, chủ động và linh hoạt là phương châm tác chiến chủ yếu của chiến dịch.

Trong chiến dịch này, ta đã sử dụng pháo binh hợp lý theo 3 cấp chiến dịch, chiến thuật và lực lượng pháo binh đi cùng. Pháo binh cấp chiến dịch, chiến thuật được tổ chức thành các cụm pháo binh để trực tiếp chi viện cho binh chủng hợp thành trên các hướng. Lực lượng pháo binh đi cùng, bao gồm các loại pháo cối trong biên chế, được bố trí thành các phân đội trong đội hình bộ binh, trực tiếp chi viện cho bộ binh, xe tăng chiến đấu. Tổ chức sử dụng pháo binh như vậy nhằm bảo đảm cho từng cấp có hỏa lực pháo binh để phát huy khả năng chiến đấu độc lập ở từng cấp. Pháo binh đã phát huy được hỏa lực chi viện chung cho những nhiệm vụ chủ yếu, thời cơ quan trọng; đồng thời phối hợp, hỗ trợ, bổ sung chặt chẽ cho nhau trong mọi tình huống, bảo đảm tác chiến liên tục theo một kế hoạch thống nhất, không để rơi vào thế bị động trong mọi tình huống diễn biến của chiến dịch.

Pháo binh được sử dụng tập trung, đúng thời cơ, đạt hiệu quả hỏa lực cao chi viện cho binh chủng hợp thành đánh thắng địch trong các trận đánh then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch. Nguyên tắc tập trung luôn được bộ đội pháo binh vận dụng hết sức linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả, ngoài việc thể hiện ở số, chất lượng pháo binh được huy động, còn tập trung cả về con người, khả năng tổ chức chỉ huy, bảo đảm và thế trận pháo binh cho từng trận đánh quan trọng. Đợt 1 chiến dịch (từ ngày 9-4 đến 11-4-1975), ta đã tập trung tới 45% số pháo hiện có của toàn chiến dịch cho hướng tiến công chủ yếu (tính cả pháo được tăng cường và lực lượng dự bị). Trong giai đoạn pháo bắn chuẩn bị, chiến dịch đã huy động cả 4 cụm pháo kết hợp với pháo (cối) đi cùng bắn cấp tập vào 12 mục tiêu trong và ngoài thị xã. Trong đó, tập trung 65% hỏa lực pháo tầm xa bắn vào sở chỉ huy Sư đoàn 18, Trung đoàn 5 thiết giáp và 5 trận địa hỏa lực của địch. Với ưu thế vượt trội về lực lượng, lại được chuẩn bị chu đáo về thế trận và cách đánh nên đã tạo ra hỏa lực áp đảo chi viện cho bộ binh, xe tăng tiến công thuận lợi. Tuy nhiên, khi địch tăng quân và sử dụng 2 quả bom CBU-55 ném xuống xã Xuân Vinh, đốt cháy gần như toàn bộ không khí trong vùng ngoại biên Xuân Lộc… gây cho ta nhiều tổn thất, khó khăn, buộc ta phải thay đổi cách đánh.

Cùng với sự điều chỉnh lực lượng theo cách đánh mới của chiến dịch, bộ đội pháo binh đã gấp rút điều chỉnh lại thế đứng chân, tổ chức lại hỏa lực theo cách đánh mới. Trên cơ sở tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại pháo, nhiệm vụ hỏa lực được giao và quyết tâm tác chiến của chiến dịch, bộ đội pháo binh đã triệt để lợi dụng địa hình địa vật, ngày đêm cải tạo địa hình, xây dựng công sự trận địa và ngụy trang kín đáo để lập thế trận pháo binh có lợi, thực hiện đưa pháo vào gần, trong tầm bắn hiệu quả để tăng khả năng sát thương, mức chính xác cho từng loại pháo. Điển hình là Đại đội 26 (Tiểu đoàn 2) đã đưa pháo 130mm vào chiếm lĩnh trận địa tại Hiếu Liêm, tập kích, khống chế sân bay Biên Hòa. Đại đội pháo binh 9 kéo pháo 85mm vào sát Dầu Giây, bằng phương pháp bắn ngắm trực tiếp, đã bất ngờ nổ súng, diệt nhiều sinh lực địch.

Thực hiện cách đánh địch vòng ngoài, cô lập Xuân Lộc, cụm pháo binh 6 đã mãnh liệt tập kích vào cụm điểm tựa ở ngã ba Dầu Giây chi viện cho các sư đoàn thực hành tiêu diệt Chiến đoàn 52 của địch phòng ngự. Đoạn đường số 1 từ Xuân Lộc đến Bàu Cá bị hỏa lực pháo binh ta chặn, cắt; đoạn từ Túc Trưng đến Dầu Giây do ta làm chủ. Cụm pháo binh chiến dịch đã kịp thời chi viện cho lực lượng cơ động đẩy lùi các đợt phản kích của địch từ Trảng Bom lên; trong khi đó, cụm pháo binh 1 cũng kịp thời chi viện cho các sư đoàn bộ binh 7 và 341 đánh thiệt hại nặng hai chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18 địch ở Xuân Lộc. Pháo đi cùng đã luồn sâu đánh hiểm chi viện cho bộ đội địa phương và dân quân, du kích diệt và bức rút một số đồn địch trên các trục đường giao thông và ven thị xã.

Chiến dịch Xuân Lộc thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng trên hướng đông, đông bắc, cùng với thắng lợi của quân và dân ta trên các hướng khác, ta đã đập tan mưu đồ “phòng thủ từ xa” của địch, tạo thế và thời cho 5 cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn thuận lợi.

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CÔN – Tư lệnh Binh chủng Pháo binh
qdnd.vn

Advertisements

Một thời hoa lửa Tây Nguyên

QĐND – Cựu chiến binh Lê Huy Tuyên sinh năm 1949, tại Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 7-1967 tại Trung đoàn 138, Sư đoàn 338. Sau thời gian huấn luyện, Lê Huy Tuyên được biên chế về Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 (Binh đoàn Tây Nguyên) cùng đồng đội chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, ông cùng đơn vị trực tiếp đánh vào Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.

Trên mỗi chặng đường chiến đấu, Lê Huy Tuyên đều lưu lại trên giấy. Cuốn nhật ký dày hơn 100 trang toát lên bản lĩnh, khí phách, sự mưu trí, sáng tạo của người chiến sĩ trên chiến trường cùng những tình cảm thân thương, khắc khoải nhớ quê nhà. Ở đó còn là bức tranh chân thực nhịp sống gian khổ nhưng kiêu dũng của những người lính Bộ đội Cụ Hồ…

Tết chiến trường, nhớ mẹ

Sau 45 ngày hành quân từ Quảng Trị, vượt Trường Sơn, trèo đèo lội suối, cơm vắt, cơm đùm với chiếc võng đu đưa, đơn vị của Lê Huy Tuyên vào đến Kon Tum đúng dịp Tết Nguyên đán Kỷ Dậu.

Ngày 12-2-1969Chỉ còn vài ngày nữa là hết năm Mậu Thân. Đơn vị đang làm lán ở và chuẩn bị đón Tết. Đây là lần đầu tiên mình ăn Tết ở chiến trường Tây Nguyên. Chế độ của chiến sĩ năm nay không có gì ngoài 5 lạng gạo nếp và 5 lạng đậu nhưng anh em vẫn rất vui.

Ngày 15-2-1969Một cảm giác buồn, vui lẫn lộn. Đêm tất niên mình cùng chính trị viên đại đội tổ chức cho anh em hái hoa dân chủ, văn nghệ đón giao thừa trong hầm giữa rừng già âm u, tối rích. Mấy chiến sĩ mới nhớ nhà khóc thút thít làm mình cũng nao lòng nhớ thầy u, nhớ không khí Tết gia đình ấm cúng. Thầy u ơi, giờ này chắc cả nhà đã ngủ say rồi. Đêm nay thể nào u cũng khóc và nhớ con trai. Hết chiến tranh con sẽ về cùng thầy u và các em ăn Tết. Lúc đó nhà mình chắc vui lắm!…

Một trang nhật ký của CCB Lê Huy Tuyên.

Ngày 18-2-1969Thế là mình đã thêm một tuổi. Hôm nay là ngày mùng Ba Tết Kỷ Dậu. Đơn vị hành quân vào chiến trường từ đêm qua. Hậu quả của mấy chiếc bánh rán mốc lại thêm dầu lạc và môn thục nên mình bị say, sức khỏe giảm sút, tay chân bủn rủn. Trên đường hành quân leo dốc, Bẹo và Mầm liên lạc phải dìu mình. Nỗ lực lắm và nhờ sự giúp sức của đồng đội mình mới vào được chiến trường. Ôi, một cái Tết nhớ đời!

Sau một năm chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên với bao hiểm nguy, vất vả, Chính trị viên phó đại đội Lê Huy Tuyên cùng đồng đội trui rèn trong mưa bom, bão đạn. Mùa xuân lại tới. Họ đã đón hơn một cái Tết ở Tây Nguyên.

Ngày 6-2-1970Ngày cuối cùng của năm Kỷ Dậu. Chiều nay cả đơn vị đi phát rẫy về. Chẳng chuẩn bị thêm được gì cho anh em ăn Tết. Tối 30, chỉ huy đơn vị tập hợp bộ đội dưới gốc cây to nói chuyện, nghe đài và nghe Bác Tôn chúc Tết. Ai ngờ, được một lúc thì pháo của địch bắn dữ dội nên anh em phải phân tán về hầm. Nằm trong hầm tối mới nhớ nhà làm sao, nhớ đến nao lòng nhưng nghĩ tới nhiệm vụ và tội ác của quân Mỹ mình lại thấy bình tâm trở lại.

Ngày 26-1-1971Qua giao thừa rồi, tối nay anh em tổ chức hái hoa dân chủ, vui và thật ý nghĩa. Đã 4 năm mình không được ăn Tết với thầy u. Chẳng biết dạo này thầy u có khỏe không? Xin u đừng buồn, con vẫn bình an và luôn nhớ thầy u, nhớ lắm!

Ngày 30-1-1971Hôm nay mình lại đi phái viên với Tiểu đoàn 3. Hành quân 3 ngày mới đến Khe Cau, tiếp tục vào truy kích Tiểu đoàn 22 biệt kích của địch, rồi cơ động vào điểm cao 830. Cứ như vậy suốt 20 ngày đêm đi và đánh mà vẫn không tiêu diệt được bọn chúng. Buồn và tức chưa từng thấy.

Ngày 18-2-1974Hôm nay đã 26 Tết. Vậy là mình cùng đồng đội đã đón 7 cái Tết ở vùng đất Tây Nguyên đầy lửa đạn. Cả đơn vị được lệnh rút về khu E16 chuẩn bị đón năm mới. 9 giờ tối mới tới nơi. Hầm, hào, lán trại chưa có gì, anh em lại lao vào chuẩn bị. Tuy mệt và gấp rút nhưng vừa thắng trận trở về nên ai cũng hăng hái. Ngày mai chắc mình phải tranh thủ biên thư về thăm thầy u và các em. Lâu quá rồi không nhận thực tin nhà! Ở quê mùa này rét lắm, vậy mà u vẫn phải nhổ mạ, cấy lúa chẳng được nghỉ ngơi. U ơi…

Ngày 25-2-1974Cả đơn vị bước vào chuẩn bị thao trường huấn luyện bổ sung. Không khí Tết dường như ngay lập tức bị quên lãng, thay vào đó là tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao….

Bản lĩnh lính chiến trường

Suốt 9 năm nơi tuyến lửa, giữa cái sống và cái chết cận kề, trải qua nhiều cương vị, từ Tiểu đội trưởng đến Chủ nhiệm chính trị trung đoàn, đối diện với nhiều tình huống chiến đấu, Lê Huy Tuyên luôn thể hiện bản lĩnh, sự mưu trí, sáng tạo để cùng đơn vị lập nhiều chiến công.

Ngày 5-8-1968Khoảng 12 giờ trưa, địch ở trên đồi mò xuống. Chúng không đi theo đúng phương án bố trí của trung đội mà sục ngay vào hầm giữa mình với Việt. Nguy hiểm quá, không thể chần chừ được nữa, mình nghiến răng bóp cò hết sạch một băng đạn AK. Thằng lính Mỹ đổ sụp, lấp cả cửa hầm. Không biết Việt thế nào? Mình vừa lắp băng đạn mới vừa nhoài sang cửa hầm bên kia thì phát hiện mấy thằng lính đang lôi Việt chạy xềnh xệnh. Lựa địa hình mình đã bóp cò và tung quả lựu đạn diệt thêm được 4 tên. May quá, Việt cũng lợi dụng địa hình trốn thoát. Trận này, mình diệt 5 tên lính Mỹ ngon ơ.

Sau chiến công này, Lê Huy Tuyên được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” cấp ba và được tặng Bằng khen. Ngay sau đó, ông cùng đơn vị hành quân vào chiến trường Tây Nguyên.

Ngày 25-2-1969Cả ngày cùng trung đội chốt trên điểm cao 783. Căng thẳng quá! Trời nóng, máy bay địch quần lượn liên hồi. Đại đội đã rút đi rồi, mình là Trung đội trưởng, chỉ huy cao nhất ở đây nên phải tự lo tất cả. Nào là tác chiến, nào là công tác bảo đảm cho đơn vị… Chốt độc lập giữa bốn bề là địch, lo lắng quá nhưng nhất định phải kiên cường bám chốt. Cũng may có tổ Đảng cùng bàn bạc, lãnh đạo nên cũng thấy yên tâm đôi chút.

…13 ngày chốt ác liệt, gian khổ cũng qua. Hôm nay mình bàn giao chốt cho đơn vị công binh. Hai trận đánh biệt kích thắng lợi, đẩy bật được chúng ra khỏi điểm cao. Tất cả anh em trong trung đội đều quyết tâm cho dù hiểm nguy, vất vả. Sau lần này mình thấy vững vàng hơn.

CCB Lê Huy Tuyên (thứ tư, từ phải sang) cùng đồng đội trong một lần gặp mặt. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Ngày 4-11-1969Sáng nay, được lệnh của Tiểu đoàn trưởng, mình chỉ huy trung đội bố trí trận địa phục sẵn đợi địch cơ động qua. 1giờ 30 phút, 32 thằng địch đi qua nhưng không được bắn, phải giữ an toàn vì đó chỉ là tụi thám báo đi đầu. 3 phút sau, một tiểu đoàn của chúng cơ động vào đúng phương án. Mình chọn chính xác thời cơ, hạ lệnh nổ súng. Bọn địch bị đánh bất ngờ chạy tán loạn. Mìn nổ, B41 bắn, các loại súng nhả đạn liên hồi. Kết thúc trận đánh, trung đội mình diệt được 1 trung đội địch mà chỉ bị thương vong 2 người.

Ngày 7-11-1969Gần đến khu vực 804 rồi, pháo địch bắn dữ quá. 11 giờ 30 phút đơn vị dừng lại ăn trưa thì bị địch phục kích. Không kịp ăn gì, đội hình của Đại đội 11, 13 ùn lên. Nằm giữa bãi đất trống nguy hiểm thật nhưng mình là cán bộ phải thật bình tĩnh chỉ huy đơn vị cơ động tránh bom, pháo địch, rồi lại tiếp tục hành quân.

Ngày 10-11-1969Sáng nay lại có quyết định chuyển sang làm chính trị viên phó. Mình cũng đã xác định trước, việc gì làm cũng được miễn là hoàn thành tốt nhiệm vụ…

Những năm cuối của cuộc chiến tranh, Lê Huy Tuyên được bổ nhiệm giữ chức Chính trị viên tiểu đoàn, rồi Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 28. Ở cương vị nào ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Năm 1988, ông về hưu với cấp hàm trung tá, sống cùng gia đình tại xã Phước Tân, TP Biên Hòa (Đồng Nai). Những năm tháng trên chiến trường Tây Nguyên ác liệt là khoảng thời gian mãi in đậm trong tâm trí ông và được lưu giữ qua cuốn nhật ký mà ông nâng niu giữ gìn mấy chục năm qua.

HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Nỗi ám ảnh của phi công Ngụy

Một loại tên lửa vác vai, Liên Xô trước đây đặt tên là 9K32 Strela-2 (có nghĩa là Mũi tên), Mỹ gọi là SA-7, còn Nato đặt tên là Grail (Mài giũa ?). Quân đội Việt Nam ta gọi là A -72.

Loại này dài 1.4m, đường kính 70mm. Nó nặng 9,97kg, khi bắn vác trên vai, tầm bắn A-72 là 500 đến 5500m. Áp dụng nguyên lý đầu dò tầm nhiệt, A-72 bám theo luồng khí xả của động cơ máy bay hoặc sức nóng của động cơ trực thăng mà bám, nổ tung.

Tính đến cuối năm 1974, quân đội VNCH (Ngụy) được Mỹ viện trợ, đã xây dựng được 6 sư đoàn không quân hỗn hợp với tổng số quân lên tới 62.583 tên, trong đó có 6.788 phi công; tổng số máy bay lên tới 1.850 chiếc (tăng 652 chiếc), trong đó có 260 máy bay chiến đấu. Chất lượng máy bay cũng cải tiến (thay F.5A bằng F.5 E). Có thể nói đó là lực lượng không quân đông và mạnh.

Để đánh trả máy bay địch, A-72 xuất hiện năm 1972, trong chiến dịch Quảng Trị. Tiếp những năm sau đó A-72 đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng của Quân giải phóng, đặc biệt trong việc chống máy bay cường kích và trực thăng của Mỹ, Ngụy.

Một khẩu đội SA-7 của nước ngoài đang bắt mục tiêu

Trong hồi ký của mình, các phi công Ngụy sau 1975 di tản sang Mỹ, Úc, Pháp đều kể chuyện, nhắc tới “ tên lửa tầm nhiệt SA-7A” với thái độ lo ngại, đáng nể.

Tác giả Huỳnh Hữu Nghị, một phi đội trưởng không quân Phi đoàn 213 Ngụy, trong bài “Những trận đánh không tên trong quân sử” viết: “ Pháo binh phòng không của địch quân dày đặc như cây rừng, gồm đủ các loại từ trung liên Tiệp Khắc đến RPD , tới 12ly 8, cao xạ 20, 37, 57, 83ly rồi tên lửa cá nhân SA-7, nhằm ngăn chặn không quân VNCH. Phi cơ trực thăng, vận tải, ném bom, bất cứ loại nào, vào vòng lưới lửa không tan thây cũng nát cánh”… Trong vòng tử địa, chúng tôi nghĩ đến vệt khói xanh của SA-7 nhanh như cắt từ rừng núi âm u phóng lên phi cơ…Chúng tôi bay thấp trên giải mù sương, tránh được tầm ngắm của cao xạ, tuy dễ hứng đạn vũ khí nhẹ, nhưng còn hơn bị lãnh hỏa tiễn SA-7A
Trong bài “Vĩnh biệt Nha Trang” tác giả Vĩnh Hiếu, một sĩ quan không quân Ngụy viết: Tháng 3-1975, tại khu vực đèo Ma-đrăk, phi công Huỳnh Râu điện cho (tổ bay): Hãy tác xạ vào đám rừng bên sườn đồi, đừng vào gần. Coi chừng SA-7! Nghe vậy, tất cả các giác quan của tôi bừng dậy như chạm vào luồng điện. Cách đây 2 tuần, một chiếc của Phi đoàn 219 King Bee vừa lãnh một trái SA-7, loại sát thủ của trực thăng.

Ở bài khác, Vĩnh Hiếu viết: Khoảng 10 giờ sáng (ngày 29-4-1975) Phi đoàn 215 lệnh cất cánh 3 trực thăng võ trang bay vòng quanh phi trường…trước đó 1giờ, một chiếc gunship AC-119 bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 bắn rớt, chứng tỏ địch quân đã tiến sát thủ đô, làm chủ chiến trường…

Theo thống kê của Steven Zaloga trên tạp chí JIR số 4-1994 thì ở Việt Nam từ 1972 đến 1975 đã có 528 tên lửa A-72 được phóng đi, bắn rơi 45 máy bay các loại, đạt tỉ lệ diệt mục tiêu: 8,5%; trong đó xác suất diệt máy bay lên thẳng đạt tới 28,8% (15 máy bay/52 tên lửa).

Là vũ khí Liên Xô viện trợ, tên lửa A-72 ( SA-7) trong tay các xạ thủ Việt Nam đã phát huy cao kết quả tác chiến. Phải kể đến tên lửa A-72 của Binh đoàn Hương Giang tham gia chiến dịch cuối cùng, tháng 4-1975, bằng một phát đạn A.72, đồng chí Lê Đại Cương bắn rơi tại chỗ một máy bay phản lực F.5E bổ nhào ném bom, bảo vệ đội hình của Binh đoàn tiếp tục tiến xuống phía Nam.

Xạ thủ Nguyễn Văn Thoa, quê thôn Cao Xá, xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), biên chế vào đại đội 3, tiểu đoàn chủ lực 172 Phòng không – Không quân, với tên lửa vác vai A72 và đôi chân trần, một mình anh đã bắn rơi 13 chiếc máy bay địch, trong đó có chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ – Ngụy bị lực lượng ta bắn hạ.

DB
qdnd.vn

Chủ động tạo thế, kết hợp tiến công và nổi dậy

QĐND – Sau khi thất bại ở Tây Nguyên, địch co cụm lập “lá chắn” ở Phan Rang nhằm bảo vệ Sài Gòn từ xa. Để bảo đảm chỉ huy, điều hành thống nhất, hiệu quả, kịp thời xử lý các tình huống mới, Bộ tư lệnh Khu 6 phối hợp với Tỉnh ủy Bình Thuận thành lập Ban chỉ huy giải phóng tỉnh Bình Thuận. Ban chỉ huy giải phóng phát động mở đợt hoạt động cao điểm kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang, binh vận, địch vận… tạo thế vững chắc cho đại quân ta tiến công vào tuyến phòng thủ Phan Rang.

Trung đoàn Xe tăng 203 (Quân đoàn 2) tiến công đánh chiếm Tòa hành chính tỉnh Bình Thuận. Ảnh tư liệu.

Theo kế hoạch, ngày 7-4-1975, ta gấp rút cơ động Trung đoàn 812 (Khu 6) tổ chức tiến công Chi khu Thiện Giáo (Ma Lâm), giải phóng hành lang chiến dịch dọc Quốc lộ 8, chia cắt Quốc lộ 1A. Bộ đội cùng du kích các huyện bẻ gãy nhiều đợt phản kích quy mô lớn của địch, chốt giữ vững chắc các mục tiêu, mở toang cánh cửa tiến công từ hướng bắc thị xã. Các đoàn thể đẩy mạnh công tác binh vận, địch vận làm tan ngũ, rã ngũ nhiều đơn vị của địch; giành quyền làm chủ chính quyền ở nhiều khu vực nông thôn…

Bằng thế trận đã được chuẩn bị sẵn, vững chắc, sáng 14-4-1975, Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 mở chiến dịch binh chủng hợp thành quy mô lớn tiến công từ nhiều hướng kết hợp vu hồi, thọc sâu vào tuyến phòng thủ ở phía Bắc Phan Rang, vây chặt các cánh quân địch tại Bà Râu, Du Long, Suối Đá. Ngày 16-4-1975, ta đánh bật các đợt phản kích của địch tại đèo Ngoạn Mục, phá vỡ tuyến phòng thủ Kiền Kiền – Ba Tháp, áp sát sân bay Thành Sơn, thọc sâu giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

“Tương kế, tựu kế” bắt biệt kích

QĐND – Tháng 3-1967, tin trinh sát kỹ thuật mật cho biết, một toán biệt kích địch đóng giả bộ đội ta nhảy dù xuống bản Choi, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) để điều tra các mục tiêu quân sự, chỉ điểm cho máy bay đánh phá trên tuyến đường 20 Quyết Thắng; bắt cóc cán bộ, nhân dân rồi gọi máy bay để bốc vào Nam…

Lực lượng Công an vũ trang truy bắt tóm gọn toán biệt kích địch trên vùng biên giới Con Cuông (Nghệ An). Ảnh tư liệu.

Ban chỉ huy Đồn Công an nhân dân vũ trang (CAVT) Cà Roòng (CAVT Quảng Bình) dựa vào quần chúng triển khai trinh sát toàn tuyến biên giới, điều tra quy luật hoạt động của địch; gấp rút xây dựng kế hoạch, bí mật phối hợp cùng dân quân xã chia thành bốn mũi, tạo thành thế gọng kìm chốt chặn, vây chặt trong, ngoài biên giới với phương châm “truy đến cùng, bắt và diệt đến hết”. Mặc dù địa bàn rộng, ngút ngàn núi đá nhưng có sự tham gia của dân quân xã, thông thạo địa hình nên lực lượng truy kích đã nhanh chóng phát hiện những dấu hiệu lạ… nhanh chóng bắt tại chỗ ba tên là nhân viên truyền tin, ẩn nấp tại một khe suối, “tương kế, tựu kế” ta dùng toán này “nhử mồi” tóm gọn 12 tên còn lại.

Một trận khác, tháng 2-1968, toán biệt kích 12 tên nhảy dù xuống địa bàn bản Bãi Đáp, sát biên giới, nấp trong các lèn đá… Thông tin có biệt kích nhảy dù được quần chúng báo về, ngay lập tức Ban chỉ huy Đồn CAVT Cà Roòng huy động cán bộ, chiến sĩ kết hợp với trung đội dân quân xã chia thành 4 mũi truy lùng, phát hiện biệt kích ẩn nấp tại điểm cao 1.800, “tương kế, tựu kế” ta nghi binh tung tin không phát hiện thấy gì và rút quân, song bí mật mai phục, bất ngờ áp sát và bắt sống hai tên ngày hôm sau. Trực thăng địch đến giải cứu toán biệt kích, quần lượn trong khu vực nhưng không dám xuống vì sợ ta bắn hạ. Ta tiếp tục khép chặt vòng vây, trừng trị tiêu diệt những tên ngoan cố nhất, bắt gọn những tên còn lại.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Linh hoạt, sáng tạo truy kích địch rút chạy

Kỷ niệm 38 năm Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng (3-1975/3-2013)

QĐND – Sau khi thất thủ Buôn Ma Thuột, ngày 14-3-1975, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu lệnh rút quân khỏi Kon Tum, Gia Lai về Nha Trang-Cam Ranh, nhằm tăng cường lực lượng trấn giữ vùng đồng bằng ven biển Khu 5. Theo dõi chặt chẽ và sớm dự đoán tình huống địch rút khỏi Tây Nguyên khi bị ta đánh mạnh, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến dịch tập trung lực lượng mở cuộc truy kích lớn đánh tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy, tạo điều kiện cho các chiến trường đẩy mạnh tiến công, giành thắng lợi lớn.

Trận đánh quân địch rút chạy trên Đường số 7 diễn ra từ ngày 17 đến 24-3-1975 thể hiện trình độ về nghệ thuật nắm thời cơ, sử dụng lực lượng và cách đánh trong Chiến dịch Tây Nguyên.

Trước hết là nắm chắc tình hình địch để hạ quyết tâm đánh tiêu diệt. Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột và bao vây chia cắt trên hai Đường số 21 và 19, trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch rút chạy từ Tây Nguyên theo Đường số 7 về đồng bằng Khu 5. Đêm 16-3-1975, Bộ tư lệnh chiến dịch họp bàn và xác định: Đúng như dự kiến của ta, địch rút chạy khỏi Tây Nguyên là thời cơ rất thuận lợi để ta mở cuộc truy kích tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch, vì khi rút chạy, đội hình của chúng lộn xộn, chỉ huy rối loạn, tinh thần quân lính hoang mang, sức chiến đấu giảm sút.

Đội hình Quân đoàn 2 ngụy quyền Sài Gòn rút chạy khỏi Tây Nguyên ngày 16-3-1975. Ảnh tư liệu.

Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Sư đoàn 320A được tăng cường Trung đoàn Bộ binh 95B, Tiểu đoàn 1 xe tăng thuộc Trung đoàn 273, Trung đoàn Cao xạ 593, Trung đoàn Pháo binh 675 gấp rút triển khai lực lượng truy kích đánh địch rút chạy. Để hiệp đồng với đòn tiến công tiêu diệt quân địch rút chạy, các đơn vị của Sư đoàn 320A cùng lực lượng tăng cường trên các hướng và LLVT địa phương các tỉnh Đắc Lắc, Phú Yên tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch ở các khu vực được giao.

Căn cứ vào phương án tiến công Cheo Reo đã chuẩn bị, Sư đoàn 320A chọn khu vực chủ yếu để tiêu diệt địch trên Đường số 7 là đoạn Mỹ Trạch – cầu Ia Nu và khu vực quyết chiến ở thị xã Cheo Reo. Cách đánh được xác định là nhanh chóng cơ động lực lượng chốt kịp thời ngăn chặn địch, tập trung binh hỏa lực, hiệp đồng chặt chẽ trên các hướng, các lực lượng; thường xuyên bám sát, liên tục tiến công tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy. Theo phương án tác chiến, Sư đoàn 320A cơ động triển khai lực lượng chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị chiến đấu.

Sau khi hình thành thế bao vây, tổ chức lực lượng chốt chặn nhiều tầng trên Đường số 7 và đẩy lùi các đợt phản kích của địch, ngày 18-3-1975, ta sử dụng pháo binh và các loại hỏa lực bắn chế áp chi viện cho bộ binh Trung đoàn 48 tiến công các vị trí địch. Một ngày sau, ta đánh chiếm thị xã Cheo Reo, trong khi đó, Trung đoàn 9 tiến công đánh chiếm Phú Thiện và phối hợp với Trung đoàn 48 tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch rút chạy xuống phía Nam Cheo Reo. Tiếp đó, Bộ tư lệnh chiến dịch tập trung lực lượng chủ lực hình thành thế bao vây chặt, tiến công mãnh liệt từ bên sườn và phía sau đội hình rút chạy của địch trên Đường số 7. Trên đường truy kích, ta tiến công giải phóng quận lỵ Phú Túc và tiêu diệt địch ở Ca Lúi. Phát hiện địch rút chạy đang co cụm lớn ở quận lỵ Củng Sơn (Phú Yên), Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 320A phối hợp với Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên đánh chia cắt quân địch rút chạy.

Trong quá trình chiến đấu, bộ đội ta thay đổi kịp thời phương pháp tiến công, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu, dùng hỏa lực pháo binh bắn phá mãnh liệt vào các vị trí địch. Mặc dù địch tập trung hỏa lực của không quân, pháo binh đánh phá ngăn chặn và bộ binh phản kích quyết liệt cũng không cản được sức tiến công của ta. Nắm chắc thời cơ đánh địch, ngày 24-3, ta gấp rút đưa một đại đội vượt sông chốt chặn địch, đồng thời từ hai hướng tây và tây bắc, bộ đội ta tiến công dồn dập đánh chiếm Tịnh Sơn, Hòn Một rồi phát triển đánh chiếm quận lỵ Hòn Ngang và các mục tiêu khác, tiêu diệt toàn bộ quân địch co cụm ở Củng Sơn, kết thúc thắng lợi trận truy kích quân địch rút chạy trên Đường số 7.

Trận đánh thắng lợi đánh dấu sự trưởng thành về trình độ nghệ thuật nắm thời cơ, kịp thời tổ chức sử dụng lực lượng, hình thành thế trận đánh địch, đồng thời thể hiện trình độ tổ chức, chỉ huy và tinh thần chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cán bộ, chiến sĩ ta. Khi nắm được ý định địch rút quân, ta đã tổ chức lực lượng bao vây, chia cắt, thay đổi phương pháp tiến công, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng và sử dụng hỏa lực hợp lý, tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy. Thắng lợi của trận đánh tiêu diệt địch rút chạy trên Đường số 7 từ Cheo Reo đến Củng Sơn là trận đánh then chốt thứ 3 và cũng là trận then chốt kết thúc Chiến dịch Tây Nguyên. Đây là thắng lợi có ý nghĩa to lớn, đập tan ý định rời bỏ Tây Nguyên về co cụm ở vùng đồng bằng Khu 5, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định cho quân và dân ta phát triển cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuâm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP
qdnd.vn

“Trận Bạch Đằng” trên sông Thu Bồn

Ông cha ta đánh giặc

QĐND – Căn cứ Nông Sơn-Trung Phước nằm trên địa bàn huyện Quế Sơn (Quảng Nam) được Quân đội ngụy Sài Gòn xây dựng thành khu phòng thủ kiên cố vững chắc. Địch đóng quân ở đây luôn huênh hoang rằng: “Khi nào nước sông Thu Bồn chảy ngược thì Việt cộng mới tấn công nổi Trung-Sơn”. Riêng ở Nông Sơn, địch bố trí 9 lớp rào thép gai, mìn và 41 lô cốt với nhiều hầm ngầm, một trận địa pháo 105mm và một tiểu đoàn biệt động đồn trú. Ngoài khu phòng thủ căn cứ Nông Sơn còn có 11 cứ điểm ngoại vi, mỗi cứ điểm có từ 1 đến 2 trung đội lính bảo an, dân vệ chiếm giữ các điểm cao từ Khương Quế, Phường Rạnh đến Khương Bình, Ninh Hòa, Trung Phước.

Sư đoàn 2 và các Trung đoàn Pháo binh 572, cao xạ 573 (Khu 5) được giao nhiệm vụ tiến công căn cứ Nông Sơn-Trung Phước. Theo kế hoạch, giờ nổ súng tiến công vào lúc 0 giờ 15 phút ngày 18-7-1974. Đại đội 2 của Tiểu đoàn Công binh 18 (Sư đoàn 2) nổ súng đánh địch trên chốt Cà Tang làm hiệu lệnh cho cả chiến trường.

Đến giờ nổ súng, Đại đội 15 công binh của Trung đoàn Ba Gia (Sư đoàn 2) cơ động, sử dụng cầu phao đưa mũi thọc sâu của trung đoàn vượt qua sông Thu Bồn đánh vào căn cứ Nông Sơn. Khi đơn vị vượt qua sông, đại đội công binh tháo dỡ cầu phao rồi dùng dây cáp bện bằng thép gai giăng chìm dưới nước qua sông, phục kích địch rút lui bằng đường sông.

Quả nhiên khi bị ta đánh mạnh, địch từ căn cứ Nông Sơn dùng ca-nô tháo chạy theo sông Thu Bồn. Dây cáp cuốn thép gai giăng qua sông vướng vào chân vịt ca-nô khiến địch không thể cơ động được. Lập tức các trận địa hỏa lực đại liên của Đại đội Công binh 15 bố trí sẵn bên bờ nam sông nhả đạn, nhấn chìm đội hình ca-nô của địch xuống sông. Trận đánh khiến địch kinh hoàng và được ví như “Trận Bạch Đằng” trên sông Thu Bồn ở Quảng Nam.

HƯƠNG NGÂN
qdnd.vn

Tiến công chốt điểm kiên cố, hỏa lực mạnh

QĐND – Chốt điểm Núi Lỡ, thuộc huyện Đại Lộc (tỉnh Quảng Nam) do quân Pháp xây dựng từ trước năm 1954. Sau khi quân đội Sài Gòn tiếp quản, chúng đã củng cố lại hết sức kiên cố với 5 hàng rào kẽm gai, gài pháo sáng, lựu đạn sát thương, mìn chống bộ binh… Địch bố trí khoảng 200 tên chốt giữ và có sự chi viện, hỗ trợ của pháo binh từ các nơi khác đến rất chặt chẽ.

Chốt điểm Núi Lỡ án ngữ phía tây nam và khống chế toàn bộ trung tâm huyện Đại Lộc. Vì vậy, Tiểu đoàn 2 (V25) đặc công Quảng-Đà được giao nhiệm vụ tập kích, tiêu diệt chốt điểm Núi Lỡ.

Đêm 29-10-1965, Tiểu đoàn 2 hành quân cơ động xuống vùng B huyện Đại Lộc và tiếp cận mục tiêu. Đại đội 3 là đại đội chủ công của tiểu đoàn bí mật khóa từng quả mìn, chốt từng quả lựu đạn, cắt từng lớp rào đưa từng người, từng tổ áp sát từng lô cốt địch.

Đúng 24 giờ đêm 29-10-1965, tất cả đơn vị đồng loạt nổ súng. Bộ đội ta dùng thủ pháo, lựu đạn tiêu diệt lô cốt sở chỉ huy địch, phối hợp cùng tổ hỏa lực tiêu diệt gọn một đại đội bảo an. Sau 25 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn trận địa và rút về hậu cứ an toàn.

Đây là trận đánh rất khẩn trương, tiến công kiên quyết của bộ đội đặc công địa phương. Trận đánh có ý nghĩa quan trọng, cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân Đại Lộc, rút ra kinh nghiệm chiến đấu tiến công các chốt điểm kiên cố của địch.

NGUYỄN VĂN CHUNG
qdnd.vn

“Mở đường’’ dưới lòng sông Thạch Hãn

QĐND – Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, trên dòng sông Thạch Hãn, mặc dù trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, nhưng bộ đội công binh vẫn dũng cảm vượt qua bom đạn, ngày đêm bám cầu, bám bến bảo đảm cho các đơn vị “thần tốc” tiến về giải phóng miền Nam. Trong khó khăn, gian khổ đã xuất hiện nhiều câu chuyện cảm động và chân thực nói lên lòng dũng cảm, trí thông minh của người chiến sĩ công binh – những người luôn “đi trước, về sau” viết nên truyền thống “Mở đường thắng lợi”.

Tháng 4-1972, với ý đồ kiên quyết ngăn chặn quân ta vượt sông Thạch Hãn, Mỹ, ngụy đã tập trung lực lượng không quân, pháo binh phong tỏa lực lượng của ta. Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh chiến dịch Quảng Trị, đêm 23-4, bộ đội công binh tổ chức bảo đảm vượt sông cho các quân chủng, binh chủng tại bến Phương Thúy trên thượng nguồn sông Thạch Hãn. Phương tiện bảo đảm vượt sông khi ấy chủ yếu là xe lội nước PTS và thuyền TPP. Tuy nhiên khi phát hiện ý đồ của ta, địch đã sử dụng máy bay B-52 ném bom, kết hợp pháo binh mặt đất, pháo hạm trên biển đánh phá gây tổn thất nặng nề cho lực lượng công binh các đơn vị 249, 229, 219. Những trận B-52 của đế quốc Mỹ khiến những chiếc PTS trúng bom nằm ngổn ngang; một vài chiếc thuyền TPP bị bom hất văng từ dưới nước lên bờ; số cán bộ, chiến sĩ bị thương và hy sinh ngày càng nhiều.

Trong 3 ngày liền, bộ đội ta không thể vượt sông được, làm cho lực lượng, phương tiện của các đơn vị dồn ứ phải di chuyển vào những khu rừng gần đó tránh trú bom đạn của kẻ thù. Trước tình thế khó khăn ấy, tối 30-4-1972, đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Chiến dịch Quảng Trị tổ chức cuộc họp gấp ngay tại Bến Quang (Vĩnh Linh, Quảng Trị) với lực lượng công binh mặt trận để bàn biện pháp bảo đảm vượt sông.

Thiếu tướng Nguyễn Ích (thứ 2 từ phải sang) tại chiến trường Quảng Trị năm 1972. Ảnh tư liệu

Cuộc họp hôm đó diễn ra khá căng thẳng, nhiều ý kiến đề xuất phương án bảo đảm vượt sông được đưa ra thảo luận. Tuy vậy, sau gần 2 giờ đồng hồ bàn thảo nhưng hội nghị không đưa ra được phương án nào khả thi; thậm chí một số ý kiến còn mâu thuẫn với nhau. Như để làm dịu tình hình, đồng chí Lê Quang Đạo, Chính ủy Chiến dịch Quảng Trị nhẹ nhàng nói:

– Trong lúc khó khăn thế này tôi đề nghị các đồng chí phải hết sức bình tĩnh, nhưng cũng phải hết sức khẩn trương để tìm biện pháp giải quyết. Nếu chúng ta cứ ngồi đây để tranh luận, thời gian chỉ cần chậm một giây, một phút là có tội với bộ đội, với nhân dân.

Đồng chí Lê Quang Đạo yêu cầu lực lượng công binh mặt trận sớm nghiên cứu, tìm ra phương án, báo cáo Bộ tư lệnh chiến dịch sớm nhất. Trước khi ra về, tôi thay mặt lực lượng công binh hứa:

– Báo cáo Thủ trưởng, dù gian khổ đến đâu, thậm chí phải hy sinh tính mạng của mình, chúng tôi cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

Ngay sau khi kết thúc cuộc họp, mặc dù đêm tối, phải qua nhiều trọng điểm đánh phá ác liệt của địch nhưng tôi và đồng chí Nguyễn Văn Nhạn (Tư lệnh công binh mặt trận) vẫn gấp rút hành quân vào khu vực bến Phương Thúy cách nơi diễn ra cuộc họp ngót 50km trực tiếp chỉ đạo bộ đội tổ chức các phương án bảo đảm vượt sông. Đêm hôm đó các đồng chí trong Bộ tư lệnh Công binh mặt trận không sao chợp mắt được vì lo lắng cho nhiệm vụ. Mờ sáng hôm sau, trong cuộc họp giao ban, các đồng chí trong bộ phận trinh sát, tác chiến đề xuất phương án khá táo bạo: Không tổ chức bảo đảm vượt sông bằng phương án truyền thống là dùng thuyền, phà mà tiến hành làm ngầm tại bến Phương Thúy. Sau một hồi thảo luận, chúng tôi nhất trí phương án này và nhanh chóng báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Bộ tư lệnh chiến dịch. Phương án làm ngầm tại bến Phương Thúy được Bộ tư lệnh chiến dịch chấp nhận. Phương án này có điểm mạnh là bảo đảm được yếu tố bí mật. Bởi theo tính toán của chúng tôi, ngầm sẽ nằm thấp hơn mặt nước khoảng 30 đến 40cm, vì thế ban ngày địch khó phát hiện. Tuy nhiên cũng nảy sinh khó khăn là nguồn vật liệu và phương tiện vận chuyển. Bởi theo tính toán, độ sâu của lòng sông giao động từ 1 đến 6m, chiều rộng lòng sông hơn 100m, tính ra phải hết khoảng 500 đến 700 khối đá; chưa kể đến khó khăn trong thi công do lưu tốc dòng chảy gây ra.

Giải quyết khó khăn trên, chúng tôi quyết định chỉ đạo các đơn vị thực hiện phương án làm ngầm bằng vật liệu và cát sỏi tại chỗ. Để hạn chế tình trạng nước cuốn trôi, Lữ đoàn 249 đã nghĩ ra cách tận dụng bao tải của địch bỏ lại tại trận địa, sau đó nhồi cát, sỏi, đưa vào các rọ sắt rồi liên kết lại với nhau. Quá trình thi công được tiến hành từ hai bờ sông. Khi thi công đến giai đoạn hàn khẩu lại gặp rắc rối, do dòng nước chảy mạnh, các lực lượng không hàn được. Khắc phục khó khăn này, Trung tá Nguyễn Thuận, Tham mưu trưởng công binh mặt trận đã nghĩ ra sáng kiến, dùng các khoang thuyền TPP chở đầy bao cát, di chuyển từ thượng nguồn vào đúng vị trí hàn khẩu để hạn chế lưu tốc dòng chảy, giúp các lực lượng tổ chức thi công. Quá trình thi công do suốt đêm phải dầm mình dưới nước, sinh hoạt thiếu thốn, nên rất nhiều đồng chí bị sốt, mẩn ngứa… nhưng ai nấy đều quyết tâm hoàn thành con ngầm trong thời gian ngắn nhất. Ngoài ra, các đơn vị công binh còn cho làm các bến giả để đánh lừa máy bay trinh sát 0V10 của địch.

Với cách làm như vậy, chỉ sau hai ngày con ngầm dài hơn 100m được hoàn thành, vượt tiến độ hai ngày so với dự kiến. Đêm đầu tiên, bộ đội công binh đã bảo đảm cho 200 xe tăng, pháo, ô tô vượt sông an toàn. Đêm đó, khi ký vào bức điện báo cáo Bộ tư lệnh chiến dịch với nội dung ngắn gọn: “Ngầm đã thông, bảo đảm một đêm khoảng 200 xe các loại”, mà tôi không sao kìm được nước mắt.

Mấy ngày sau, tôi trở lại Bộ tư lệnh chiến dịch để báo cáo kết quả một cách kỹ càng hơn. Tôi vừa đến sở chỉ huy thì đã được đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Lê Quang Đạo đứng đợi. Tôi đứng nghiêm, làm động tác chào, rồi dõng dạc báo cáo:

– Báo cáo thủ trưởng tôi đã về!

Lặng một chút, đồng chí Lê Trọng Tấn ôm choàng lấy tôi, rồi xúc động nói:

– Tớ cứ tưởng cậu không về được nữa.

Còn đồng chí Lê Quang Đạo thì vỗ vào vai tôi:

– Chiến công của các đồng chí công binh thật là vẻ vang.

Hơn 40 năm đã trôi qua, giờ đây khi hồi tưởng về những năm tháng chiến đấu hào hùng tại Quảng Trị, trong lòng tôi vẫn luôn trào dâng biết bao kỷ niệm. Tôi viết lại đôi dòng này như nén tâm nhang tưởng nhớ những đồng đội của mình đã mãi mãi nằm lại ở các bến phà trên con sông huyền thoại.

Thiếu tướng NGUYỄN ÍCH, nguyên Chính ủy Công binh Chiến dịch Quảng Trị
qdnd.vn

Phối hợp hiệp đồng tiến công và nổi dậy ở Bình Dương

QĐND – Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, ngay từ cuối năm 1967, Tỉnh ủy Bình Dương chỉ đạo các huyện ủy, thị ủy đẩy mạnh chiến tranh du kích; xây dựng căn cứ và kế hoạch hiệp đồng; tổ chức lực lượng các cơ quan dân chính, đảng gọn nhẹ, dễ cơ động; tổ chức các trạm giao liên; chủ động bảo đảm “luồn sâu, lót sẵn” hậu cần, vũ khí trang bị; huấn luyện các phương án chiến đấu trong thành phố cho bộ đội khẩn trương chuẩn bị cho tiến công và nổi dậy.

Tiểu đoàn Phú Lợi nhận cờ quyết thắng khi đánh vào các mục tiêu ở Thị xã Thủ Dầu Một. Ảnh tư liệu.

Nhiệm vụ được Tỉnh ủy Bình Dương xác định cho các lực lượng là thọc sâu tiếp sức cho biệt động đánh chiếm các mục tiêu quan trọng; phối hợp với quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, trên hai hướng là nội đô Sài Gòn và thị xã Thủ Dầu Một. Để công tác lãnh đạo chỉ đạo sát nhiệm vụ và thực tế chiến đấu, Tỉnh ủy tổ chức hai sở chỉ huy tiền phương để chỉ đạo trực tiếp các lực lượng trên từng hướng. Ban chỉ huy tiền phương 1 có nhiệm vụ chỉ huy lực lượng đánh chiếm các mục tiêu địch trong nội đô Sài Gòn; Ban chỉ huy tiền phương 2 trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn Phú Lợi (K4), Tiểu đoàn 2 (K2) và các lực lượng tại chỗ giải phóng thị xã Thủ Dầu Một.

Đúng 0 giờ ngày 31-1-1968, quân và dân Bình Dương đồng loạt nổ súng tiến công. Tại thị xã Thủ Dầu Một, 3 giờ sáng 1-2-1968, Tiểu đoàn Phú Lợi (K4) cùng đại đội đặc công, biệt động thị xã nổ súng đánh chiếm Thành Công Binh. Tiểu đoàn 2 tiến công Ty Cảnh sát, vị trí đóng quân của một tiểu đoàn ngụy đóng dã ngoại… Tuy nhiên, do thiếu yếu tố bất ngờ nên địch phản kích dữ dội bằng trực thăng vũ trang và thiết giáp. Sau khi đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, xét tương quan lực lượng bất lợi, ngay trong đêm, lực lượng ta rút ra vị trí tập kết. Tiểu đoàn 2 rút ra tổ chức phòng ngự tại Xóm Guốc đã anh dũng chiến đấu đánh bật gần 20 đợt phản kích của địch… Trước tình hình mới, Tỉnh ủy chủ trương sử dụng LLVT phối hợp với du kích tác chiến vùng ven, tiến công tiêu diệt và bức rút đồn bốt địch, làm chủ các ấp Chánh Trong, Lò Chén…

Tại Lái Thiêu, Dĩ An, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, các Huyện ủy, Huyện đội sử dụng du kích cùng bộ đội địa phương tiến công vào các vị trí then chốt của địch trong khi khu quân sự và căn cứ quân ngụy, pháo kích căn cứ Lữ đoàn 3 Mỹ; treo cờ, rải truyền đơn, hỗ trợ quần chúng nổi dậy đấu tranh, phá rã, phá banh nhiều ấp chiến lược.

Bằng phương châm đúng đắn, quyết tâm cao, nên mặc dù địch có ưu thế về quân số, hỏa lực, không quân, song cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 do Tỉnh ủy Bình Dương lãnh đạo vẫn giữ được yếu tố bất ngờ. Lực lượng vũ trang địa phương đã đánh thiệt hại nặng 6 tiểu đoàn Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bức rút hàng loạt đồn bốt, phá nhiều ấp chiến lược; làm tan rã bộ máy kìm kẹp ở nông thôn, vùng giải phóng mở rộng áp sát thị xã và Sài Gòn, giành thắng lợi mang ý nghĩa quan trọng.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Chủ động, kịp thời đáp ứng tốt yêu cầu tác chiến

Bảo đảm kỹ thuật xe-máy trong dịch Đường 9-Khe Sanh

QĐND Online – Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh diễn ra từ ngày 20-1 đến 15-7-1968, là chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, dài ngày trên địa hình rừng núi vào tập đoàn cứ điểm mạnh của địch ở khu vực Đường 9 – Khe Sanh tỉnh Quảng Trị, nhằm thu hút, giam chân, tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân Mỹ và Quân đội Sài Gòn, phá vỡ một phần tuyến phòng ngự Đường 9 của địch, phối hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên toàn miền Nam.

Để phục vụ chiến dịch thắng lợi, hậu cần chiến dịch đã tổ chức bảo đảm kỹ thuật 2.578 xe máy của các sư đoàn bộ binh (304, 320, 324, 325); các trung đoàn pháo binh (45, 84, 164, 204, 675), pháo phòng không (218, 282, 241), công binh; các tiểu đoàn đặc công, tăng PT76, thông tin, hóa học, công binh, … Trong đó, xe vận tải kéo pháo là 1.697 chiếc, xe chuyên dùng 392, xe xích 489…Theo yêu cầu nhiệm vụ, trước ngày nổ súng cần có 881 ô tô, 160 xe xích, 33 xe tăng và 130 trạm nguồn điện được huy động tập trung phục vụ hai hướng mặt trận của chiến dịch: Hướng Đông có 692 ô tô, 121 xe xích, 11 xe tăng và 92 trạm nguồn điện. Hướng Tây có 189 ô tô, 39 xe xích, 22 xe tăng và 58 trạm nguồn điện. Khó khăn khi bảo đảm xe – máy ở mặt trận hướng đông là hầu hết phương tiện đã hành quân xa và chiến đấu dài ngày ở các mặt trận B5, Vĩnh Linh… nên số lượng hư hỏng lớn, một số xe hỏng chưa thu hồi về nơi tập trung. Ở mặt trận hướng Tây, đa số xe – máy mới được trang bị, nhưng do hành quân đường dài tới khu vực tập kết, mật độ xe đông, đường xá hẹp và xấu, nhất là đường cơ động kéo pháo lên trận địa, địch đánh phá ác liệt nên hư hỏng, tổn thất nhiều. Điển hình là xe – máy của Trung đoàn pháo binh 675 hành quân quãng đường 1.300km, qua 2.014 khúc “cua”, 1.007 cầu ngầm, nhiều dốc cao từ 12 đến 150m, qua hơn 100 trọng điểm địch đánh phá.

Giữa tháng 12-1967, lực lượng xe – máy theo bố trí của mặt trận triển khai tại các địa điểm và đến cuối tháng 12-1967 bắt tay vào tiến hành công việc. Mặt trận hướng Đông và hướng Tây tiến hành kiểm tra xác định đúng chất lượng kỹ thuật toàn bộ số xe – máy hành quân vào chiến trường. Toàn chiến dịch duy trì chế độ bảo dưỡng định kỳ đối với số xe, bảo dưỡng phân đoạn ở trận địa, ở bãi xe; sửa chữa dự phòng trước khi vào chiến đấu; thực hiện hỏng đâu sửa đấy; phát hiện kịp thời khắc phục những khó khăn vướng mắc. Ngoài lượng phụ tùng vật tư cần thiết, chiến dịch dự trù thêm 20%, Cục Quản lý xe – xăng cung cấp cụm, vật tư lẻ sửa chữa vừa và nhỏ cho chiến dịch, Phòng xe – xăng chiến dịch bảo đảm vật tư sửa chữa nhỏ cho đơn vị.

Việc tổ chức kho vật tư xe – máy nằm trong hệ thống kho tàng và căn cứ hậu cần do Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định. Dự kiến có khoảng 230 tấn phụ tùng, vật tư xe – máy được bố trí ở các kho mặt trận hướng Đông 100 tấn; kho trung chuyển 100 tấn và kho mặt trận Hướng Tây 30 tấn. Ở phía sau, các kho chiến dịch chuẩn bị đến trước ngày nổ súng một lượng lớn vật tư, sẵn sàng chuyển lên bổ sung dự trữ cho đơn vị. Các trạm sửa chữa xe – máy chiến dịch bố trí ở mặt trận hướng Đông (3 trạm), mặt trận Hướng Tây (1 trạm), có nhiệm vụ sửa chữa xe – máy cho tất các các đơn vị tham gia chiến dịch. Các đơn vị pháo mặt đất, pháo cao xạ, tăng thiết giáp đều có trạm sửa chữa tổng hợp được trang bị xe công trình sửa chữa….

Quá trình chuẩn bị chiến dịch, các trạm tích cực đón nhận sửa chữa xe – máy cho một số đơn vị mới hành quân vào và thường xuyên cơ động các tổ, đội sửa chữa vũ khí xuống giúp đơn vị kiểm tra, sửa chữa tại chỗ; bổ sung biên chế, vật tư và dụng cụ đồ nghề sửa chữa nhỏ cho các trạm sửa chữa của đơn vị. Kết quả, trong giai đoạn này tại mặt trận Hướng Đông đã sửa chữa vừa 33 xe và 3 máy, sửa chữa nhỏ 126 xe và 4 máy, hệ số kỹ thuật đạt 0,80; mặt trận hướng Tây sửa chữa vừa 5 xe và sửa chữa nhỏ 70 xe, hệ số kỹ thuật đạt 0,85. Phòng xe – xăng chiến dịch gửi đi sửa chữa lớn 32 ô tô và 4 trạm nguồn điện tại X47 cho mặt trận hướng Đông đồng thời cung cấp phụ tùng vật tư xe – máy cho các đơn vị tiến hành công tác bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ. Trong quá trình chiến dịch, các tổ sửa chữa cơ động được trang bị gọn nhẹ đi sát đơn vị giải quyết nhanh, tại chỗ sửa chữa nhỏ, toàn bộ, sửa chữa vừa bộ phận, sửa chữa hỗn hợp ô tô, xe xích, máy phát điện và kéo xe – máy hư hỏng chưa khắc phục được về vị trí tập kết, cụ thể: Mặt trận hướng Tây sửa chữa vừa 10 xe và sửa chữa nhỏ 27 xe; mặt trận hướng Đông sửa chữa vừa 29 xe, sửa chữa nhỏ 33 xe, các trạm sửa chữa của mặt trận hướng Đông còn thu hồi được 13 tấn phụ tùng vật tư từ các xe hỏng hủy tại chiến trường, khắc phục một phần khó khăn về vật tư và vận chuyển từ hậu phương lên.

Thời gian triển khai thực hiện nhiệm vụ gấp rút, trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt nhưng ngành xe – máy chiến dịch đã khẩn trương, nhanh chóng triển khai kho trạm, bảo dưỡng sửa chữa bảo đảm kịp thời xe – máy cho các đơn vị chiến đấu. Chỉ trong qúi I năm 1968, chiến dịch bảo đảm kỹ thuật cho xe – máy hoạt động trên mặt trận hướng Đông và hướng Tây đạt tổng số 1.181.109km xe ô tô, 79.562km tăng-thiết giáp và 11.068 giờ máy nổ…Hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm kỹ thuật xe – máy cho các đơn vị trong chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh đã đóng góp quan trọng đáp ứng yêu cầu vận tải và tác chiến, tạo nên sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang trong suốt thời gian chiến dịch.

XUÂN DÂN – NHẬT DƯƠNG 
qdnd.vn

Họp mặt các chiến sĩ cách mạng bị tù đày tại Nhà lao Hỏa Lò

QĐND Online – Mặc dù đã 21 lần tổ chức họp mặt truyền thống, nhưng sự đầm ấm, chân tình và cả những suy nghĩ được bộc bạch trong buổi họp mặt các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày tại Nhà lao Hỏa Lò lần thứ 22, tổ chức sáng 16-3, tại Hà Nội vẫn tràn đầy nhiệt huyết cách mạng như ngày nào.

Những chiến sĩ cách mạng từng một thời vào sinh ra tử giờ đây đều đã ở tuổi xưa nay hiếm và có cuộc sống gia đình hạnh phúc. Đến buổi họp mặt, họ cùng nhau ôn lại những năm tháng sống dưới sự giam hãm của địch ở Nhà lao Hỏa Lò, những năm tháng dù khó khăn nhưng khát vọng sống, khát vọng cống hiến cho cách mạng chưa bao giờ tắt.

Những tháng ngày khó quên

Có mặt từ rất sớm, bác Nguyễn Trọng Tường (sinh năm 1927) từng ngồi tù hơn một năm ở Nhà lao Hỏa Lò chia sẻ: Tôi bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 1946, đến năm 1947 tôi bị địch bắt. Sau khi bị địch tra tấn, tôi bị giam giữ trong Nhà lao Hỏa Lò. Đó là khoảng thời gian khó quên của tôi khi cuộc sống trong lao tù thiếu thốn nhiều mặt. Sống trong phòng giam có đến 100 người nên không khí rất ngột ngạt.

Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt giam tại Nhà lao Hỏa Lò vui mừng trong ngày họp mặt.

Không giống các nhà lao khác chỉ chuyên giam giữ tù binh chính trị như: Nhà tù Phú Quốc, Nhà tù Côn Đảo…, Nhà lao Hỏa Lò giam giữ rất nhiều thành phần, chính vì thế, mỗi gian tù thường khá đông người.

Bà Nguyễn Thị Liên, chiến sĩ cách mạng từng bị địch bắt giảm tại Nhà lao Hỏa Lò.

Bà Nguyễn Thị Liên (84) tuổi ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nhớ lại: “Là con gái Hà Nội, tôi được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Tham gia hoạt động cách mạng, tôi từng ba lần bị địch giam trong Nhà lao Hỏa Lò. Đã ở tù thì không thể sướng được rồi! Là con gái lại phải ở chốn lao tù còn khổ cực hơn, những công việc sinh hoạt thiết yếu như tắm rửa, vệ sinh cũng bất tiện. Mùa đông thì phòng giam lạnh lẽo, mùa hè thì lại nóng như “đốt da, đốt thịt”, chị em trong cùng phòng giam phải lấy nước lau khắp sàn để nằm cho mát”.

Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt giam trong Nhà lao Hỏa Lò đều phải trải qua những lần tra tấn dã man bằng hàng loạt các thủ đoạn tàn khốc của địch trước khi đưa vào nhà lao nên mỗi khi thời tiết thay đổi, vết thương cũ tái phát. Bà Nguyễn Thị Liên kể: “Khi bị địch bắt, tôi bị chúng tra tấn rất dã man. Vì thế, khi ở tù, những vết thương cũ lại có dịp nhức nhối. Trong tù, thiếu thốn đủ bề, phải tự chịu đựng những đau đớn thể xác mà không để lung lay tinh thần”.

Không để địch khinh!

Mặc dù ở tù nhưng những chiến sĩ cách mạng ở Nhà lao Hỏa Lò vẫn giữ vững được lập trường cách mạng kiên định, thể hiện cho địch thấy được tâm thế của một người cộng sản.

Ông Nguyễn Hữu Thụy (88 tuổi) ở Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, từng bị địch bắt giam 5 năm trong Nhà lao Hỏa Lò cho biết: Ở trong mỗi một gian tù, chúng tôi đều tổ chức tuyên truyền, giáo dục anh em không được dao động tư tưởng, sống lành mạnh, có tổ chức. Với những người tù là người buôn bán hay người từng trộm cắp bị bắt vào, chúng tôi cũng dùng lời nói để khuyên nhủ họ theo cách mạng.

Khó khăn, thiếu thốn đủ bề, nhưng ông Thụy cho biết, anh em chiến sĩ từ nhiều nơi bị bắt vào đây vẫn luôn động viên và bảo nhau rằng: Dù thế nào đi nữa cũng không để địch khinh, phải thể hiện được mình là một người cộng sản chân chính.

Ông Nguyễn Hữu Thụy, chiến sĩ cách mạng từng bị địch bắt giảm tại Nhà lao Hỏa Lò.

“Không chỉ giáo dục tuyên truyền anh em, chúng tôi còn tự tổ chức cuộc sống sao cho tốt nhất. Mùa xuân đến, chúng tôi vẫn đón xuân, vẫn ca hát. Địch có thể giam giữ thể xác, chứ không thể giam giữ tâm hồn của chúng tôi được”, ông Thụy chia sẻ.

Chính nhờ sự giác ngộ cách mạng cao độ ấy, mà những người tù chính trị đã tìm thấy cho mình niềm vui trong những ngày tháng bị giam giữ này. Họ cùng nhau sống, cùng nhau truyền lửa, cùng nhau hy vọng vào sự tất thắng của cách mạng.

Bà Nguyễn Thị Liên chia sẻ: Bị địch bắt 3 lần vào Nhà lao Hỏa Lò nhưng tôi vẫn không thấy nao núng. Suy nghĩ lúc ấy của tôi chỉ là tìm cách để có thể vượt ngục thành công, tiếp tục đi theo cách mạng.

Mặc dù không phải chịu đựng những đòn tra tấn rợn người như những chiến sĩ cách mạng bị giam cầm ở Nhà tù Côn Đảo hay Nhà tù Phú Quốc, nhưng những chiến sĩ cách mạng trong Nhà lao Hỏa Lò vẫn nuôi ý chí và quyết tâm “Ở tù nhưng chí không “tù”. Chính nhờ ý chí ấy mà họ đã chiến thắng được những khó khăn của chốn tù đày!

Bài, ảnh: THU THỦY
qdnd.vn