Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hát dưới “mưa bom”

QĐND – Khác với hình dung của chúng tôi, cách Hà Nội ngót 40km, ngôi nhà của ông Lê Nguyên Bá giống như một khu du lịch sinh thái thu nhỏ ngự ở xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội. Càng ngạc nhiên hơn về chủ nhân của nó: Đã ngoài 70 mà phong thái của ông Bá vẫn trẻ trung, như thuở nào trong đội văn nghệ xung kích của Sư đoàn Phòng không Hà Nội hăng hái đi biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân Thủ đô dưới làn bom đạn kẻ thù trong 12 ngày đêm rực lửa…

Ông Lê Nguyên Bá.

Ông kể, đội văn nghệ xung kích của ông lúc đầu là đội nghệ thuật quần chúng, được thành lập tháng 11-1972. Cả 27 thành viên của đội đều là các hạt nhân văn hóa văn nghệ từ các đơn vị được triệu tập về Phòng Chính trị sư đoàn, xây dựng chương trình và luyện tập chờ hội diễn quân chủng.

Tối 18-12-1972, máy bay Mỹ bất ngờ ném bom Hà Nội. Báo động toàn thành phố. Điện bị cắt, Hà Nội chìm trong màn đêm. Lúc này, đội đang ở Hòa Mục, nơi đóng quân của Phòng Chính trị. Tất cả xuống hầm.

Đợt bom thứ 3, Sở chỉ huy Sư đoàn Phòng không Hà Nội, trong đó có đội văn nghệ đang trú ẩn cũng bị trúng bom…

Ngay trong ngày đầu của chiến dịch 12 ngày đêm, cơ quan Sư đoàn Phòng không Hà Nội đã có 13 người hy sinh, trong đó 9 chiến sĩ trong đội văn nghệ của ông… Các chiến sĩ văn nghệ còn sống, ai cũng bị thương. Người được đưa về Viện Quân y 103, người về Bệnh viện Quân chủng điều trị.

Ngay hôm sau, đội văn nghệ nhận được lệnh giải tán. Tuy nhiên, Chính ủy Trần Văn Giang đồng ý cho đội ở lại phục vụ bộ đội. Lê Nguyên Bá lúc ấy là Trợ lý của Cơ quan Chính trị sư đoàn, được giao làm đội trưởng.

Đội có 27 người, hy sinh mất 9, số còn lại đều bị thương. Hồng Bến gãy bả vai, Hồng Việt bị thương ở ngực… nhưng tất cả đều quyết tâm luyện tập, chuẩn bị cho đợt diễn đặc biệt. Là đội trưởng, điều đầu tiên ông trăn trở là làm sao phải có thêm tiết mục về đánh B-52. Có chút ít năng khiếu sáng tác, Nguyên Bá, Xuân Điềm, Ngọc Khôi cùng tìm tứ…

Ngay hôm sau, 6 ca khúc về đánh B-52 được ra đời. Tiếp đó là vài ba tác phẩm nữa. Lời lẽ giản dị, mộc mạc. Phần nhạc cũng đơn giản, dễ nghe, đại loại như: “Bê, bê, bê, bê là B-52. Bê, bê, bê, bê là bê lăn quay…”. Có bài hát rồi, các diễn viên miệt mài luyện tập. Nhà của Cơ quan Chính trị bị đánh sập, các chiến sĩ văn nghệ sang những ngôi nhà dãy bên, lợp tranh tre, nứa lá, tập dưới ánh đèn dầu tù mù và trong tiếng bom, đạn nổ rền.

Ngày 23-12, đội bắt đầu lên đường đi biểu diễn phục vụ bộ đội. Biểu diễn ngay bên thành công sự pháo, bên bệ phóng tên lửa. Trận địa, chỗ nào còn rộng thì được lấy làm sân khấu. Trang phục là quân phục. Mấy chiến sĩ nữ được phát vài hộp phấn trắng, thi thoảng bôi chút son màu lên môi, lên má. Trang âm đơn giản chỉ là hai chiếc đài li đô được gắn trên cây cọc gỗ cắm trên bãi đất, hai chiếc loa nén được bố trí hai bên “cánh gà”; nhạc cụ chỉ là mấy chiếc ghi-ta gỗ… Đội hát toàn thương binh, người quấn băng ở đầu, người ở chân nhưng ai cũng hát say sưa lắm. Hồng Bến hút hồn người nghe bằng giọng ca đằm chất quan họ khi song ca cùng Bích Luật… Tiết mục ngâm thơ “Tình yêu với bầu trời Hà Nội” của Hồng Việt đã làm không ít chiến sĩ rơi lệ. Các cây ghi-ta Xuân Điềm, Văn Bình; cây đàn tam của Cao Sinh góp phần làm các chương trình thêm sinh động. Còn như Xuân Điềm là người đa tài vừa sáng tác, vừa là nhạc công, vừa là ca sĩ.

Lần đội biểu diễn ở Đại đội 71, Trung đoàn 212- đơn vị chốt bảo vệ phía bắc cầu Đuống, đang hát thì máy bay địch đến, còi báo động rú vang. Đội ngừng hát. Ai có chuyên môn gì, về bộ phận ấy của đơn vị tham gia cùng chiến đấu. Chiến sĩ thông tin thì về Sở chỉ huy, người đến từ đơn vị pháo thì ra bê đạn cho pháo thủ… Máy bay Mỹ đi rồi, các chiến sĩ văn nghệ lại tiếp tục hát. Trong một giờ đồng hồ, máy bay Mỹ đến rải bom 4 lần, 4 lần anh em ngừng biểu diễn, rồi các giọng ca lại tiếp tục vang lên ngay khi tiếng máy bay xa dần…

Ông Bá nhớ như in lần biểu diễn cho Bộ đội Tên lửa trên đồi Kim Tiền, Kim Anh, Vĩnh Phúc. Khi đội văn nghệ vừa đến, cán bộ, chiến sĩ đã thức suốt đêm đánh giặc, vẫn hăng hái lao động chuẩn bị “sân khấu”. Mỗi người một việc, tay cuốc, tay xẻng chuẩn bị mặt bằng và khiêng những tấm phản kê ghép lại thành một sân khấu gỗ. Đội biểu diễn xong, mỗi chiến sĩ văn nghệ nhận được một bó hoa chúc mừng. Lê Nguyên Bá tâm sự, có lẽ những bó hoa dại anh em hái quanh trận địa năm ấy là những bó hoa đáng nhớ nhất mà ông đã nhận được trong cuộc đời nghệ sĩ.

Không chỉ hát cho bộ đội nghe, các chiến sĩ văn nghệ còn biểu diễn phục vụ cả nhân dân các địa phương: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Hà Nội. Ở đâu, đoàn cũng nhận được sự yêu mến đặc biệt của khán giả. Một lần diễn ở Giang Biên, Gia Lâm, tốp ca nam 7 người quấn băng cả 7, các cụ già lên tận sân khấu ôm lấy các con mà khóc.

Sau chiến dịch, Đội văn nghệ xung kích còn được giữ lại đến tháng 4-1973, qua nhiều nơi phục vụ bộ đội và nhân dân.

Đã 40 năm trôi qua, đội văn nghệ ngày ấy nay vẫn thường xuyên gặp nhau, cùng nhau ôn lại kỷ niệm một thời oanh liệt. Lê Nguyên Bá đã ở tuổi 72 nhưng cái chất văn nghệ vẫn cháy ở trong ông như thời trai trẻ. Ông vẫn làm thơ, sáng tác nhạc, dàn dựng chương trình văn nghệ cho địa phương, tham gia các cuộc thi. Ông đã từng nhận nhiều giải thưởng cho các sáng tác thơ, các chương trình biểu diễn nghệ thuật. Song có một niềm vui, niềm tự hào bất tận luôn dâng ngập lòng ông, khó có gì sánh nổi đó là: Đội văn nghệ của ông năm ấy và những ngày tiếng hát át tiếng bom đã góp phần cùng quân và dân Hà Nội làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Bài và ảnh: HỒNG LINH
qdnd.vn

Người phi công “tám phút diệt hai máy bay”

QĐND – Đó là Trung úy Hoàng Tam Hùng -Phi công tiêm kích thuộc Trung đoàn 927 (Sư đoàn 371). Bằng hai quả tên lửa, anh đã bắn rơi tại chỗ hai chiếc máy bay địch.

Trong ký ức người thân

Trung úy Hoàng Tam Hùng là con cả trong gia đình có 8 anh chị em. Ba anh là ông Hoàng Anh, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ. Ba mẹ anh đều là người sinh ra và lớn lên ở Bình Trị Thiên và sớm đi theo cách mạng. Năm 1958, khi ông Hoàng Anh làm Bộ trưởng Bộ Tài chính thì cả gia đình chuyển về Hà Nội sinh sống. Nói về anh trai mình, chị Hoàng Thị Lương Hòa -em gái liệt sĩ Hoàng Tam Hùng kể lại: “Tháng 10-1965, khi đang là học sinh lớp 10, anh Hùng tham gia tuyển chọn và trúng tuyển phi công. Năm 1966, anh được cử sang Liên Xô học lái máy bay quân sự. Năm 1969, anh về nước, tham gia đội hình chiến đấu của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 (Sư đoàn 371). Ban đầu anh là phi công MiG-17, nhưng sau đó do yêu cầu nhiệm vụ anh tiếp tục được chuyển loại sang lái máy bay MiG-21. Tháng 12-1972, anh được biên chế vào đội phi công bay ngày của Trung đoàn không quân tiêm kích 927. Ngày 28-12-1972, trong trận không chiến với không quân địch, sau khi hạ được hai chiếc máy bay Mỹ, anh đã anh dũng hy sinh”.

Liệt sĩ, phi công Hoàng Tam Hùng. Ảnh: Thành Trung

Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Hưng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietnam Airlines, là bạn thân của Hoàng Tam Hùng xúc động nói: “Trong trái tim tôi, Hoàng Tam Hùng không chỉ là người bạn chí tình chí nghĩa mà còn là một anh hùng”!

Hiện gia đình anh còn lưu giữ được bài báo “Giây phút thần kỳ trên cao” của tác giả Hà Bình Nhưỡng đăng trên trang 2 Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 13-1-1973 và bài “Thông tin về trận đánh ngày 28-12-1972” của tác giả Nam Liên dịch từ cuốn hồi ký của các cựu phi công Mỹ từng tham gia chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 2, đều có nhắc đến thông tin về anh.

8 phút thần kỳ

Ngày 28-12-1972, địch tiếp tục kéo vào đánh phá Hà Nội. Theo lệnh của trên, Trung đoàn 927 xuất kích một biên đội chặn đánh địch từ phía tây sang. Vào lúc 11 giờ 20 phút, biên đội Lê Văn Kiền -Hoàng Tam Hùng đang trực ở sân bay Nội Bài thì nhận được lệnh cất cánh vòng chờ tại đỉnh sân bay. Phát hiện địch vào hướng đông nam, chỉ huy Trung đoàn 927 đề nghị biên đội bay theo hướng 150 độ xuống phía nam chặn đánh những tốp địch từ biển vào. Hơn một phút sau, biên đội phát hiện địch ở bên trái 45 độ, cự ly 10km, chúng bay thành hai tốp ở hai độ cao khác nhau. Tiếp đó, biên đội lại phát hiện tiếp một tốp 4 chiếc phía trước ở cự ly 8km. Biên đội xin phép đánh tốp phía trước. Sở chỉ huy cho dùng tốc độ lớn vào công kích và nhắc công kích xong thoát li bên phải.

Ngay lúc đó, số 1 Lê Văn Kiền và số 2 Hoàng Tam Hùng tăng lực đuổi theo tốp máy bay địch phía trước. Khoảng cách thu lại rất nhanh. Số 1 bám chiếc máy bay phía trái đội hình địch, nhắc số 2 cảnh giới rồi lao về phía địch. Chưa kịp phóng tên lửa thì chiếc máy bay địch đã đột ngột chúi xuống, khiến cho máy bay của Lê Văn Kiền vọt qua trên lưng nó. Không kịp bám chiếc khác, số 1 lệnh cho số 2 vào công kích rồi vòng lại phía sau làm nhiệm vụ cảnh giới cho số 2. Rất nhanh, Hoàng Tam Hùng vượt lên bám được một chiếc và đưa nó vào vòng ngắm. Quả tên lửa từ máy bay Hùng phóng ra nổ trúng mục tiêu. Chiếc máy bay địch bốc cháy rơi xuống, đó là loại máy bay trinh sát RA-5C. Theo thông tin trong cuốn hồi ký của các cựu phi công Mỹ thì đây là máy bay RA-5C thuộc phi đội trinh sát 13 do Thượng úy A.H.Agnel và Trung úy MF.Halfey điều khiển. Thượng úy Agnel nhảy dù sống sót, còn Trung úy Halfey bị chết ngay tại trận.

Thấy đồng bọn bị tấn công, những tốp F-4 bay phía trái vòng quay lại. Lúc này địch đông hơn nhiều và biên đội cũng không còn bám được nhau. Cả hai lao vào quần nhau với những chiếc F-4 trên bầu trời Phủ Lý. Hoàng Tam Hùng đã bám được một chiếc F-4. Lúc này, trong cáp nghe vang lên tiếng từ sở chỉ huy cho thoát li về sân bay Nội Bài hạ cánh, nhưng Hùng đang mải bám theo chiếc F-4 và cố đưa nó vào vòng ngắm nên anh không trả lời. Chiếc F-4 trước mặt đã nằm gọn trong vòng ngắm, anh ấn nút phóng quả tên lửa còn lại. Chiếc F-4 chững lại, rơi xuống kéo theo một quầng lửa. Hùng hô rất to: “Cháy rồi”! Chính vào thời điểm đó, một quả tên lửa địch từ chiếc F-4 bay phía sau đã bắn trúng máy bay Hùng. Anh không kịp nhảy dù nên đã anh dũng hy sinh. Lúc đó là 11 giờ 28 phút.

Như vậy, sau 8 phút từ lúc cất cánh, với hai quả tên lửa, phi công Hoàng Tam Hùng đã bắn rơi hai máy bay địch trong trận đánh cuối cùng của anh. Cũng từ thông tin trong cuốn hồi ký của phi công Mỹ tham gia chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, thì chiếc máy bay F -4 bắn Hoàng Tam Hùng do hai Trung úy Scott H.Davis và Geofrey điều khiển sau đó bị tai nạn rơi xuống biển ngày 3-5-1973.

NGUYỄN THÀNH TRUNG
qdnd.vn

Từ tiểu thuyết đến cuộc đời

Người “bắt thóp” giặc lái B-52:

QĐND – Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết “Mảnh giấy bạc” của nữ nhà báo trẻ Nguyễn Thị Thu Thủy, sinh năm 1981, hiện là phóng viên Báo Vĩnh Phúc. Tuy là tiểu thuyết nhưng tác phẩm mang… tính thời sự vì nó gắn với câu chuyện người chiến sĩ tình báo mang tên Mạc Lâm và cuộc chiến đấu đánh trả B-52. Đáng chú ý, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết được viết từ một nguyên mẫu có thật, một chuyên gia hỏi cung giặc lái Mỹ. Ông là Đại tá Phan Mạc Lâm, nguyên Chánh văn phòng Tổng cục II-Bộ Quốc phòng, từng là cán bộ Cục Quân báo chuyên khai thác tù binh suốt hai cuộc kháng chiến…

Đại tá Phan Mạc Lâm. (ảnh: Tuấn Nghĩa)

Người trong tiểu thuyết

Trong tiểu thuyết, câu chuyện về Mạc Lâm khá “ly kỳ”: Chàng lính trẻ Mạc Lâm công tác tại bộ phận khai thác xét hỏi tù hàng binh bị bệnh sốt rét kinh niên phải vào bệnh viện đã gặp Mary Hương, một nữ tình báo viên được quân đội Pháp cài lại sau đó tiếp tục làm việc cho quân đội Mỹ. Mary Hương với sự quyến rũ và thủ đoạn “hồ ly” đã tạo thiện cảm cho Mạc Lâm rồi tìm cách đánh cắp tài liệu khai thác tù binh mà anh phải mang cả vào bệnh viện nghiên cứu vì quá gấp rút. Thị hí hửng vì đánh cắp được mảnh giấy bạc bút tích của Mạc Lâm cho thấy Quân đội nhân dân Việt Nam hiểu biết quá mơ hồ về B-52 mà hoàn toàn không biết rằng đó chỉ là một màn kịch do lực lượng tình báo ta dựng lên để che mắt địch… Sự thực, Mạc Lâm cũng như quân đội ta hiểu rất kỹ, rất sâu về B-52 và “mảnh giấy bạc” đã gắn với số phận “bạc mệnh” của những kẻ xâm lược và bán nước…

Trao đổi với chúng tôi, nữ nhà báo trẻ Nguyễn Thị Thu Thủy cho biết: Ngoại trừ tình huống cuộc gặp gỡ trong bệnh viện và nhân vật Mary Hương được hư cấu, câu chuyện về người cán bộ tình báo Mạc Lâm hoàn toàn có thật. Thu Thủy đã may mắn được gặp gỡ, được nghe Đại tá Phan Mạc Lâm nhiều lần kể về cuộc đời khai thác tù binh, đặc biệt là tù binh giặc lái Mỹ với rất nhiều câu chuyện về tài trí tuyệt vời của những chiến sĩ tình báo cùng bao đóng góp thầm lặng cho một “Điện Biên Phủ trên không”, đúng như đánh giá của Đại tướng Văn Tiến Dũng, họ đã làm được nhiều việc “không thể kể ra”…

Từ những trang viết đầy cảm xúc của Thu Thủy, chúng tôi đã tìm đến những người trong cuộc cùng thời với Đại tá Phan Mạc Lâm để tìm hiểu về cuộc đời thật của ông. Thiếu tướng Vũ Thắng, nguyên Phó cục trưởng Cục Quân báo (Cục 2)-Bộ Quốc phòng, cho biết: Cục 2 ngày ấy đã nghiên cứu, nắm bắt về B-52 từ năm 1960 và tiếp tục nhiều năm sau này, qua nhiều kênh khác nhau. Trong đó, kênh khai thác tù hàng binh nổi lên có Phan Mạc Lâm, một cán bộ là chuyên gia khai thác tù binh từ thời đánh Pháp. Mạc Lâm giỏi tiếng Pháp, riêng tiếng Anh thì chưa vượt trội so với nhiều cán bộ khác, nhưng Mạc Lâm có tài tiếp cận, khai thác tù binh rất giỏi và từ đó lấy được nhiều thông tin rất giá trị về B-52.

Để có được những thông tin giá trị

Phan Mạc Lâm sinh năm 1928 tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An trong một dòng họ nhiều danh nhân yêu nước như Phan Đăng Lưu, Phan Đăng Tài… Bố ông là một thầy giáo nổi tiếng trong vùng và giỏi tiếng Pháp, nên dù nhà nghèo, ông vẫn được cha mẹ cho vào học ở trườngCollege thành phố Vinh. Từ năm 1945, ông đã tham gia làm liên lạc cho lực lượng Việt Minh. Năm 1948, nhờ giỏi tiếng Pháp nên ông được biên chế về Phòng Khai thác thông tin tù binh thuộc Cục Quân báo với nhiệm vụ phiên dịch, khai thác tin tức tài liệu từ tù binh, hàng binh. Cũng từ đây, cuộc đời ông gắn liền với việc tiếp cận, xét hỏi, khai thác thông tin từ tù binh và hàng binh. Trong đội hình cán bộ của phòng, Mạc Lâm là cán bộ trẻ nhất.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã được tham gia hỏi cung nhiều tù binh, trong đó có cả bại tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Thời kỳ này, có một cuộc hỏi cung không thể nào quên trong cuộc đời nhà tình báo Mạc Lâm. Ấy là khi ông được hỏi cung một hàng binh Pháp tại Phú Thọ. Tên này đã khai báo, nhấn mạnh sức mạnh quân đội Pháp và khuyên ta không nên tấn công kẻo chuốc lấy thất bại. Nhìn thái độ của y có vẻ tự tin, không hề lộ ra sự mệt mỏi, lo lắng của kẻ thất bại, Mạc Lâm sinh nghi, phán đoán rằng tên này có thể trá hàng. Ông mạnh dạn báo cáo với cấp trên suy nghĩ của mình. Quả nhiên, ít lâu sau, khi Đờ Cát-xtơ-ri bị bắt, quân ta đã xác minh được y chính là một sĩ quan trá hàng của Đờ Cát-xtơ-ri.

Nữ nhà báo Thu Thủy khi tiếp xúc với Phan Mạc Lâm đã được ông kể lại chuyện khai thác An-vơ-rét, phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rơi ở Quảng Ninh và bị bắt làm tù binh. Ban đầu, An-vơ-rét rất ngoan cố, dữ dằn, ánh mắt vằn những tia lửa phản kháng, không ăn, không ngủ, chỉ gào thét, đập phá suốt đêm. Nhưng rồi, từ sự chăm sóc, chữa bệnh chu đáo, sắp xếp nơi ăn ở, cách ứng xử rất nhân đạo cùng những chia sẻ về tuổi trẻ, ước mơ và hoài bão mà Mạc Lâm khơi gợi lên… đã khiến An-vơ-rét dần dần bị thuyết phục. Qua cuộc khai thác này, ta đã có được những thông tin hết sức quan trọng để đánh giá sự kiện Vịnh Bắc Bộ.

Một trong những tù binh khiến Phan Mạc Lâm ấn tượng nhất là Giôn Mắc-kên, một thiếu tá phi công sinh ra trong gia đình danh gia vọng tộc về quân sự, có cả ông nội và bố đều là đô đốc, tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. Mắc-kên là niềm tự hào, là người hùng của không quân Mỹ được tin tưởng sẽ dễ dàng đánh sập Nhà máy điện Yên Phụ, không thất bại như nhiều phi công khác. Anh này ban đầu cũng rất bất cần, không cần ai cứu. Nhưng đến khi Mạc Lâm mang đến cho anh ta một cuốn tạp chí hải quân Mỹ có hình đô đốc, cha Mắc-kên thì anh ta thốt lên xúc động và dần đổi khác… Tương tự với tên phi công Đen-tơ bị bắt sau phi vụ đánh cầu Hàm Rồng bất thành, cuộc “viếng thăm” lúc nửa đêm mà Mạc Lâm bất ngờ thực hiện cùng câu nói buột miệng của anh ta-người từng học thuộc 7000 trang tài liệu tối mật về chính sách quốc phòng của Mỹ đối với Việt Nam đã hé lộ thông tin quan trọng về B-52. Đêm hôm ấy, Mạc Lâm ngồi ngay vào bàn, viết ngay bản báo cáo. Khi xong, trời vừa hửng sáng…

Giữa “ma trận” thông tin

Ngày 6-7-1972, theo chỉ thị của Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức một cuộc họp rất kín và rất… hẹp chỉ gồm 10 người để bàn về cách đánh B-52. Mở đầu hội nghị, một chiến sĩ tình báo trẻ tuổi đã đứng lên trình bày bản báo cáo dài 30 trang về B-52. Đó là một báo cáo trung tâm, cung cấp thông tin và tạo cơ sở cho hội nghị thảo luận. Người trình bày bản báo cáo ấy là Phan Mạc Lâm. Hồi ức của Đại tá Phan Mạc Lâm đã được nữ nhà báo Thu Thủy ghi lại như sau:

“Tôi được Cục trưởng Cục 2 chỉ định tham gia hội nghị của Bộ Tổng tham mưu ngày 6-7-1972 để trình bày nội dung chuyên đề đặc biệt vừa nghiên cứu. Tôi là người đầu tiên của Cục Quân báo trình bày những nội dung làm cơ sở cho việc thảo luận. Tôi đưa trang tài liệu về lời khai của một phi công tù binh Mỹ, trong đó có đoạn:

– Thưa ông! Người ta đang chuẩn bị đánh vào Hà Nội, Hải Phòng…

– Anh nói sao? Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng?

Người tù binh tỏ ra sợ sệt những vẫn nói giọng tự tin:

– Vâng! Đúng thế. Sắp tới Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng!

– Anh có thể nói rõ hơn?

– Thưa ông! Cách đây 10 ngày, tôi được tham gia trong đội hình diễn tập dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Đó là một cuộc tập trận quy mô lớn phối hợp tác chiến mà lực lượng chủ yếu là B-52. Trong đội hình chiến đấu cùng B-52 còn có máy bay trinh sát RF4C, QF4C, các loại máy bay F105, F4D, máy bay gây nhiễu điện tử EC121, đội cấp cứu và chỉ huy trên không…

Tôi đã hỏi kỹ, đưa ra nhiều tình huống để kiểm tra tính xác thực của những thông tin người tù binh khai báo. Cộng thêm với lời khai của tên Đen-tơ đã từng đánh phá Thanh Hóa, tôi đi tới khẳng định: Tin về Mỹ dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng là đúng. Tôi mừng lo lẫn lộn. Mừng vì có thêm thông tin mới mà cấp trên đang cần để giúp ta chuẩn bị đối phó với âm mưu của kẻ thù. Nhưng nghĩ đến hàng trăm B-52 ném bom rải thảm xuống Hà Nội, nơi đầu não cách mạng, nơi tập trung đông dân nhất, lòng tôi thắt lại.

Bìa cuốn tiểu thuyết “Mảnh giấy bạc” của nhà báo Nguyễn Thị Thu Thủy.

Suốt những ngày sống cùng những phi công tù binh, tôi đặc biệt quan tâm khai thác những tin tức liên quan tới B-52. Quả thật, B-52 có một sức mạnh khác thường mà như hăm dọa của Mỹ, có thể đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Phần lớn các loại máy bay chiến thuật F4, F105 đều được tham gia diễn tập với các đơn vị không quân chiến lược B-52 trong cuộc tập kích đường không chiến lược. Muốn tổ chức một chiến dịch dùng B-52 đánh vào Hà Nội phải có nhiều thành phần khác trong hoạt động yểm trợ như hộ tống, chế áp tên lửa, cao xạ đối phương, kể cả việc chiếm lĩnh ưu thế trên cao của các đơn vị F4, F105 ở các căn cứ không quân Thái Lan, kể cả cấp cứu, nghi binh…

Cuộc gặp ngắn ngủi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong buổi sớm hôm ấy đã cho tôi những kinh nghiệm mới cho các lần khai thác tù binh tiếp theo. Gương mặt Đại tướng bình thản nhưng không che nổi niềm lo âu. Ông vẫy tay, tôi lại ngồi bên cạnh, Đại tướng nói:

– Sức khỏe của đồng chí có tốt không? Có đủ sức đối phó với B-52 không?

Tôi hiểu, đây không chỉ đơn giản là cuộc tới thăm anh em mà tin về B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng quan trọng vô cùng khiến Đại tướng đích thân đến kiểm tra lại.

– Dạ, thưa thủ trưởng! Chúng tôi đã sẵn sàng-Giọng tôi rắn rỏi mà không tự tin lắm. Bởi khai thác, thẩm định tin tức là thế, nhưng chiến tranh, biết thế nào?

– Thế còn lực lượng không quân chiến lược? Điểm mạnh, điểm yếu của B-52? Các cậu nắm như thế nào?

– B-52 là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nặng do hãng Boeing sản xuất theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Mỗi tốp B-52 ba chiếc có thể rải thảm 60-90 tấn bom trên một diện rộng thay cho 120-150 máy bay cường kích đánh phá. B-52 được cải tiến “khôn ngoan” bằng hệ thống gây nhiễu đánh lừa ra-đa đối phương.

– Các đồng chí cần tập trung khai thác về B-52, không bỏ qua những chi tiết dù là nhỏ nhất. Như vậy, chúng ta cũng khẳng định được sự nguy hại của B-52.

Đại tướng nhẹ nhàng cầm tay tôi, cái cầm tay trong thoáng giây như lo sợ vận mệnh của toàn đất nước…

Suốt một tuần trời tôi không tài nào chợp mắt. Tôi trở dậy châm thuốc liên tục. Bầu trời đêm nào cũng như nghẹt thở, không biết bão tố sẽ ập đến lúc nào…”.

Được tiếp cận, khai thác nhiều tù binh qua hai cuộc kháng chiến đã cho Mạc Lâm một bề dày kinh nghiệm vô giá. Sau mỗi lần khai thác, khi chắp bút viết bản báo cáo với ông luôn là sự trăn trở, đắn đo bằng cả con tim và khối óc. Ông tâm sự: “Tôi ngồi suy nghĩ, lần lại các chi tiết… Báo cáo của tôi có thể bị địch cho leo cây như hồi tên tù binh trá hàng ở Điện Biên Phủ! Có thể lắm chứ?”. Nhưng rồi, với tư duy lô-gích và biện chứng, Mạc Lâm lập luận: “Lừa ta, nhưng nằm trong nhà tù của ta, tên tù binh được gì? Thực chất, chính phía Mỹ đang bỏ rơi những phi công như hắn nếu B-52 vào, dưới làn bom rải thảm, Hỏa Lò lại ở giữa Thủ đô, bọn tù binh phi công có thoát chết không?”. Ông đã đem vấn đề này ra bàn bạc và được Cục trưởng Phan Bình ghi nhận là có lý, cho rằng quân Mỹ “số một thế giới” về mức độ tinh vi, xảo quyệt, lắm mưu nhiều kế và bất chấp thủ đoạn”. Từ đó, những kết luận về B-52 được “định vị” đúng, không thay đổi!

ĐẠI BÀNG
qdnd.vn

Lực lượng “cưỡi mây giết giặc”

QĐND – Đó là một lực lượng đặc biệt của quân đội ta, ra đời những năm chống Mỹ và tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi nên ít người biết đến. Dẫu vậy, lực lượng này cũng kịp lập nên những chiến công rạng rỡ mà bây giờ, cho dù 58 năm đã trôi qua, những người trong cuộc vẫn rất đỗi tự hào về một thời “đu trời giết giặc”…

Không bong gân không phải… lính dù

Mùa thu này tròn 58 năm kỷ niệm ngày thành lập Sư đoàn 305, tiền thân của Bộ tư lệnh Dù năm xưa (30-8-1954 – 30-8-2012). Đại tá Nguyễn Hữu Đạc, Giám đốc Bảo tàng Phòng không -Không quân “bật mí” rằng sẽ có cuộc hội ngộ của những người lính đặc biệt thuộc Bộ tư lệnh Dù ra đời thời chống Mỹ. Chỉ tay về phía hai người lính già đầu bạc trắng, anh Đạc giới thiệu: “Kia là Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh -nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Dù và Thượng tá Đặng Văn Nhơn -Chủ nhiệm Dù ngày đó”.Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh cho hay, việc ra đời “bộ đội dù” xuất phát từ sức nóng của chiến trường.Đầu năm 1961, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Lữ đoàn Dù 305, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam. ông đã may mắn trở thành chính ủy đầu tiên của lữ đoàn và còn lập nên một kỷ lục quân sự: Là chiến sĩ đầu tiên của quân đội ta thực hiện nhảy dù.

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Chính ủy đầu tiên của Bộ tư lệnh Dù.

Vạn sự khởi đầu nan, “cánh lính dù chúng tôi lúc ấy, anh nào cũng có một điểm chung là cái chân lúc nào cũng tập tễnh. Không bong gân không phải lình dù”, Đại tá Đàm Trọng -nguyên Đại đội phó công binh dù nhớ lại.

Huấn luyện tinh nhuệ mà vẫn an toàn

“Bộ đội dù” thuộc loại binh chủng có trang thiết bị kỹ thuật cao để bảo đảm tính cơ động và đột kích nhanh nhất, nên chi phí rất tốn kém và được gọi là binh chủng của “quân đội nhà giàu” với hệ thống sân bay, máy bay các loại, hàng vạn chiếc dù cùng các trang thiết bị khí tài khác rất đắt tiền. Bốn chiếc dù ngày đó trị giá bằng một chiếc xe Mô -kô-vích và mỗi chiếc dù chỉ sử dụng được cho 25 lần nhảy. Tuy nhiên, bộ đội ta phải huấn luyện kiểu… nhà nghèo, tiết kiệm dù. Trước khi nhảy dù, họ phải tập luyện nhảy các “bậc tam cấp” ở dưới đất rất vất vả.

Thượng tá Đặng Văn Nhơn kể: Đào tạo một anh phi công bao nhiêu cân thì mất bấy nhiêu vàng. Đào tạo một anh lính dù thì bằng nửa số vàng ấy. Lúc đó, nhân dân Bắc Giang đã bảo đảm hậu cần cho chúng tôi, đội quân “nhà giàu” lớn lên từ rau cháo của những người dân nghèo mà giàu tình nghĩa”.

Theo ông Nhơn, muốn làm “bộ đội dù”, cần nhất phải có lòng dũng cảm. Mỗi ngày nhảy dù một lần, anh em thường đùa nhau: Mỗi lần nhảy là một lần… sống lại. Đó là thử thách đầy khắc nghiệt và cũng là cảm giác mà không phải binh chủng nào cũng có được.

Người cán bộ chỉ huy cũng phải luôn luôn theo sát bộ đội, nếu ai còn băn khoăn, do dự thì kiên quyết không cho nhảy. Điều đó lý giải vì sao bộ đội dù của Việt Nam không bị tổn thất về người trong khi các nước trên thế giới hầu như đều có tổn thất. Các chuyên gia bạn đã đánh giá: “Hầu hết các nước trên thế giới huấn luyện nhảy dù đều có tử vong. Riêng Việt Nam thì không, đó là thắng lợi đặc biệt”.

Giữa lưng trời giết giặc

Chuyện hiếm trên thế giới, “bộ đội dù” vẫn diệt được máy bay địch. Đó là một sáng tạo độc đáo ở Việt Nam. Bộ đội ta đã sử dụng kinh khí cầu gắn mìn định hướng để tiêu diệt kẻ thù. Kinh khí cầu được thả lơ lửng tạo thành các chướng ngại vật trên không, giống như bãi chông mìn trên trời nhằm chống lại chiến thuật bay thấp, luồn lách theo các cửa sông, dải núi rừng vào đánh lén các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế, cầu giao thông quan trọng ở miền Bắc nước ta.

Bằng cách này, chúng ta đã tiêu diệt được 3 máy bay địch, một máy bay AD6 của Mỹ ở Ninh Bình (1967), một ở dọc sông Hồng (1966) và một ở Quảng Trị (1966). “Hôm ấy sương mù dày đặc trời Ninh Bình, một tiếng nổ váng trời”Đại tá Đàm Trọng, nguyên là Đại đội phó Đại đội 15 công binh dù đã tham gia bẫy máy bay địch bằng kinh khí cầu làm nổ tung chiếc AD6 của Mỹ trên bầu trời Ninh Bình, nhớ lại.

Trên chiến trường Lào, “bộ đội dù” Việt Nam đã thả hàng ngàn tấn vũ khí, khí tài, lương thực an toàn đến tay các đơn vị chiến đấu ở Lào. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, “bộ đội dù” đã góp phần quan trọng trang bị vũ khí cho Mặt trận Trị -Thiên.

Nhưng họ cũng phải chịu không ít mất mát, hy sinh. Có những chiến sĩ đã ngã xuống trên bầu trời Tổ quốc, có người tìm được hài cốt, có người chưa. Không cầm được những giọt nước mắt nghẹn ngào, Thượng tá Đặng Văn Nhơn tâm sự: “Lần ấy, tôi trực tiếp chỉ huy chuyến bay dù tiếp tế cho chiến trường Trị -Thiên. Bảy người đồng đội tôi mãi mãi ra đi trong chuyến bay ấy. Họ đã hoàn thành nhiệm vụ và khi quay trở về thì trúng đạn của

Bài và ảnh: Nguyễn Hương Bưởi
qdnd.vn

Bước ngoặt 1972: Thành công của sự chỉ đạo chiến lược

Ngay từ đầu năm 1972, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã đề ra chủ trương kiên quyết đánh bại địch bằng kết hợp ba đòn chiến lược: Đẩy mạnh tiến công của bộ đội chủ lực ở những hướng và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng; đẩy mạnh đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân ở thành thị. Ba đòn chiến lược này cũng chính là ‘bàn đạp” giúp chúng ta khẳng định vị trí của mình tại bàn đám phán Paris.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình
trả lời phỏng vấn báo chí bên lề Hội nghị Paris

Đồng loạt tấn công

Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11-1972 về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris

“Cuộc đấu tranh của ta trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao còn quyết liệt. Nhiệm vụ của ta là phải giữ vững và mở rộng thắng lợi trong đàm phán, phải giữ vững nội dung bản Hiệp định. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta quyết chiến đấu đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn mới của địch để giành thắng lợi hoàn toàn, chứ nhất định không chịu khuất phục”

Sau hơn 2 tháng (kể từ tháng 3) mở cuộc tiến công chiến lược, quân và dân ta ở Trị Thiên, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã vượt qua khó khăn gian khổ, hy sinh, chiến đấu ngoan cường, giành được những thắng lợi có ý nghĩa, đánh dấu sự phát triển mới cả về thế và lực của cách mạng miền Nam, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường, làm thất bại thêm một bước nghiêm trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Mặc dù sau đó, trong trận chiến khốc liệt, bi hùng để giữ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ 25-6 đến 16-9-1972) không thành công và bộ đội ta bị tổn thất nặng phải lui vào thế phòng ngự, nhưng đánh giá một cách tổng thể, cuộc chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã tạo ra bước chuyển biến căn bản tình hình chiến trường có lợi cho ta. Đây chính là lợi thế quân sự trên chiến trường, hỗ trợ hiệu quả và trực tiếp cho cuộc đấu tranh của ta trên bàn đàm phán ở Paris.

Trả lời nhận xét của Kissinger – Cố vấn của phái đoàn Mỹ sau khi kết thúc trận chiến ác liệt ở Quảng Trị, khi Kissinger cho rằng đứng về mặt quân sự mà nói, để giữ một cái Thành cổ, thì không ai lại đánh như thế cả – Cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Hội nghị Paris Lê Đức Thọ cho rằng “Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi chứ còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”.

Mặt khác, do quân và dân ta đánh mạnh ở các chiến trường miền Nam nên để hỗ trợ chính quyền và quân đội Sài Gòn, cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ phá sản, Tổng thống Mỹ Nixon đã quyết định “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh, huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ngăn chặn cuộc tiến công của ta đồng thời đánh phá trở lại miền Bắc. Trong bối cảnh ấy, phía Mỹ tiến hành chuyến thăm hai nước lớn trong phe XHCN là Trung Quốc (2-1972) và Liên Xô (5-1972) nhằm gây chia rẽ, cô lập, ngăn chặn, hạn chế sự chi viện to lớn của hai nước này đối với chúng ta.

Những chỉ đạo chiến lược

Năm 1972 là năm nhạy cảm trong nền chính trị Mỹ vì diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống và Nixon có ý định tái tranh cử nhiệm kỳ hai. Việc giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam là liều thuốc thử, là thước đo sự tín nhiệm của người Mỹ đối với chiếc ghế của Nixon. Vì thế, đây là điều kiện thuận lợi để ta mở cuộc tiến công về ngoại giao, phối hợp với tiến công quân sự, nhằm đạt tới kết quả có lợi nhất. Trong tình hình ấy, đầu tháng 9, trong lúc chiến sự đang diễn ra ác liệt ở Quảng Trị, Đảng ta chủ trương trên bàn đàm phán: Đưa Mỹ đi dần vào thương lượng thật sự căn cứ vào bối cảnh tình hình quốc tế lúc đó, thế của ta và thế của địch, tình hình Mỹ trong năm bầu cử, cơ hội giải quyết hòa bình đã hé mở. Cần đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao; tranh thủ giải quyết các nội dung đàm phán với Nixon trước ngày bầu cử ở Mỹ, đồng thời tích cực đề phòng khả năng tiếp tục chiến đấu sau kỳ bầu cử Tổng thống ở Mỹ.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Bộ Ngoại giao đã soạn dự thảo Hiệp định và một số nghị định thư kèm theo. Ngày 4-10, Bộ Chính trị điện thông báo cho Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ VNDCCH Xuân Thủy chủ trương: Cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử ở Mỹ, đánh bại âm mưu của Nixon kéo dài đàm phán để vượt qua tuyển cử… Ta cần ép Mỹ ký một hiệp định chính thức, có ngừng bắn tại chỗ, rút quân Mỹ và thả tù binh. Việc chấm dứt sự dính líu về quân sự của Mỹ ở miền Nam và ngừng bắn ở miền Nam đưa đến việc thừa nhận trên thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng ở miền Nam…là một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai miền trong điều kiện so sánh lực lượng hiện nay…ta cần gác lại một số yêu cầu khác của vấn đề nội bộ miền Nam.

Ngày 8-10, bản dự thảo Hiệp định được Đoàn đàm phán của ta đưa ra trong cuộc gặp riêng với phía Mỹ, với những nhân nhượng có tính đột phá. Sau khi nắm được các nội dung chủ yếu và hỏi rõ thêm những vấn đề sẽ tiếp tục thỏa thuận sau khi ký Hiệp định, Henri Kissinger đánh giá đây là “một văn kiện thật là quan trọng và rất cơ bản”. Hai bên đã thỏa thuận lịch làm việc chi tiết cho việc ký Hiệp định dự kiến vào 30 hoặc 31-10.

Sự lật lọng có chủ đích của Mỹ

Mặc dù Việt Nam đã có những nhân nhượng cơ bản, song phía Mỹ đã có mưu đồ mới, bắt đầu đưa ra những đòi hỏi, những yêu cầu mới, cụ thể có lợi cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sở dĩ Mỹ có hành động như vậy vì qua thăm dò dư luận trước bầu cử, Nixon được cử tri Mỹ ủng hộ nhiều hơn ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ Mark Gaven, chắc chắn sẽ vượt qua tuyển cử. Bên cạnh đó, sự phản ứng quyết liệt của chính quyền Sài Gòn về nội dung dự thảo Hiệp định đã làm Nixon lo ngại sẽ khó vượt qua cuộc bầu cử nếu không lưu tâm đến thái độ của Nguyễn Văn Thiệu và bỏ rơi chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Sự tráo trở của Mỹ là điều ta hoàn toàn không bất ngờ. Ngày 23-10, Chính phủ ta gửi công hàm cho Mỹ: “Nếu phía Hoa Kỳ cứ viện cớ này, cớ khác để kéo dài đàm phán, trì hoãn việc ký kết thì nhất định chiến tranh Việt Nam sẽ tiếp tục và phía Hoa Kỳ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Tiếp đó, ngày 26-10, Chính phủ ta ra tuyên bố về tình hình cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam hiện nay, yêu cầu Mỹ phải giữ đúng cam kết ký bản Hiệp định vào ngày 31-10 như đã thỏa thuận. Ngay sau khi Nixon đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2. Mỹ đề nghị họp lại vào ngày 20-11 và đưa ra 69 điểm trong nội dung Hiệp định đề nghị sửa đổi theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn và 16 vấn đề về thực chất nội dung Hiệp định mà Kissinger yêu cầu xem xét lại, mâu thuẫn hoàn toàn với công hàm của Nixon gửi Chính phủ ta ngày 20-10: “Hiệp định bây giờ có thể coi là hoàn thành”.

Đáp lại thái độ lật lọng và đe dọa ném bom của Tổng thống Mỹ được thể hiện rõ trong cuộc gặp ngày 23-11, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đanh thép trình bày quan điểm của Việt Nam và quan điểm ấy sau đó cũng đã được thể hiện rõ trong Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris. Chính vì thái độ kẻ cả của Mỹ mà cuộc đàm phán đã trở nên bế tắc vào ngày 13-12 ngay trước cuộc tập kích B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng.

Đàm phán Paris cuối 1972 – quan điểm từ hai phía”

Tôi thấy bực mình về giọng nói và thực chất trong phiên họp vừa qua. Trong hoàn cảnh như vậy, trừ phi phía bên kia tỏ ra sẵn sàng chú ý tới sự quan tâm hợp lý của chúng ta, tôi chỉ thị cho ông ngừng đàm phán và chúng ta sẽ phải tiếp tục lại các hoạt động quân sự cho đến khi phía bên kia sẵn sàng đàm phán theo điều kiện có danh dự. Phải làm cho phía bên kia từ bỏ những ý nghĩ của họ là chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải giải quyết theo như điều kiện hiện nay. Ông phải trực tiếp báo cho họ là chúng ta có cách khác…chúng ta bây giờ sẽ tiến hành mọi hành động cần thiết để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ”

(Trích thư của Nixon gửi Kissinger được Kissinger đọc công khai trong cuộc gặp của hai đoàn Lê Đức Thọ-Kissinger ngày 23-11-1972)

“Chúng tôi muốn hòa bình, nhưng thiện chí của chúng tôi cũng có mức độ. Nhân nhượng quá mức chỉ là đầu hàng trá hình. Nhân dân chúng tôi không bao giờ đầu hàng”

(Trả lời của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngay tại cuộc gặp ngày 23-11-1972)

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Đảng
Học viện CT – HC Quốc gia Hồ Chí Minh

daidoanket.vn

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris (27-1-1973 – 27-1-2013)

LTS: Ngày 27-1-2013, chúng ta kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris mở đường cho việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên toàn cõi Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ ấy, có nhiều mốc son; một trong những mốc son đáng được ngợi ca chính là cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao: Một của Mỹ với dầy dạn kinh nghiệm và một là của Việt Nam còn rất non trẻ. Thế nhưng, cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Mỹ và Việt Nam trong thế kỷ XX lại ghi danh người chiến thắng là Việt Nam. Từ số báo này, chúng tôi khởi đăng loạt bài viết nhân 40 năm Hiệp định Paris.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam Xuân Mậu Thân 1968, Tổng thống Mỹ L. Johnson buộc phải xuống thang cuộc chiến tranh phá hoại bằng hải quân và không quân ở Miền Bắc và đề nghị tiến hành đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). “Ngày mồng 2 Tết Mậu Thân sau một hôm nghỉ lễ, vừa tới cơ quan, mấy anh em chúng tôi được Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh triệu tập và cho biết: Các cậu phải chuẩn bị tính chuyện đàm phán đi!” – ông Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên của đoàn đàm phán VNDCCH nhớ lại.

Toàn cảnh Hội nghị Paris

Lập các tổ công tác, chuẩn bị đàm phán

Thực ra, trước đó, ngay từ cuối năm 1967, đón trước cục diện này, tại Bộ Ngoại giao ta có một tổ chức mới được thành lập gọi là Vụ II. Vụ này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Đảng ta lúc bấy giờ. Vụ II do Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chuyên trách, ông Phan Hiền làm Vụ trưởng. Đây là một đơn vị đặc biệt có nhiệm vụ nghiên cứu đưa ra lộ trình đấu tranh ngoại giao với Mỹ và chuẩn bị các giải pháp chính trị để kết thúc cuộc chiến tranh. Trong Vụ II có hai tổ công tác là tổ “Giải pháp” và tổ “Bước đi”. Tổ “Giải pháp” do ông Đinh Nho Liêm làm Tổ trưởng chuẩn bị các kịch bản từ cao đến thấp có thể sử dụng vào thời điểm ký kết Hiệp định tùy sự so sánh lực lượng lúc ấy. Còn tổ “Bước đi” do ông Võ Văn Sung làm Tổ trưởng. Tổ này chịu trách nhiệm nghiên cứu lộ trình kết hợp đàm phán ngoại giao với các bước đấu tranh quân sự trên chiến trường trong những năm 1968 – 1970. Tổ “Bước đi” là đầu mối tập trung nhiều điều cơ mật từ chiến lược đến cụ thể, cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, vì vậy chúng tôi làm việc theo một quy chế giữ bí mật nghiêm ngặt nhất, nhằm đảm bảo tính chất bất ngờ và hiệu quả cao trong các đợt “Tấn công ngoại giao” của ta.” – ông Võ Văn Sung kể lại những ngày tháng ấy.

Lại nói về những ngày Tết Mậu Thân năm ấy, ông Huỳnh cho biết, ngay trong ngày 31-3-1968, sau khi Mỹ tuyên bố đơn phương ngừng ném bom, Bộ Chính trị Đảng ta họp để bàn, cân nhắc giữa 3 vấn đề. Nhận, không nhận, nhận thế nào? Sau đó, Bộ Chính trị quyết định không bác, không nhận nhưng nhận mức trung bình tức là nhận tiếp xúc. Cụ thể, nhân dịp Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc ta nhận cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ để bàn chuyện xác nhận việc Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc. Mấy ngày sau đó, nhóm công tác gồm các ông Phan Hiền, Trần Hoàn, Nguyễn Khắc Huỳnh đã thảo luận suốt 1 ngày 1 đêm để có bài trả lời hay nói cách khác là Tuyên bố của VNDCCH. Tuyên bố nói rõ, dù Mỹ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Việt Nam nhưng vì thiện chí hòa bình, Việt Nam sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ. “Tiếp xúc để xác định việc Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc trên cơ sở đó bàn các vấn đề liên quan. Chỉ riêng chữ “xác định” chúng tôi cũng mất đứt 3 tiếng để bàn cuối cùng thì tìm ra chữ này. Tức là anh phải chấm dứt ném bom miền Bắc tôi mới bàn chuyện khác lúc đó mới đi vào đàm phán thực sự.” – ông Huỳnh nói.

Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại một cuộc họp báo
ở Paris trong thời gian đàm phán

Hai giai đoạn của đàm phán

Đàm phán Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày; đã có tổng cộng 202 phiên họp công khai tại Trung tâm Hội nghị Kleber và 36 phiên họp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Trong đó, giai đoạn thứ nhất (còn gọi là diễn đàn thứ nhất) là giữa h ai bên Việt Nam – Hoa Kỳ. Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đoàn VNDCCH và Cố vấn đặc biệt là UV BCT Lê Đức Thọ. Đại sứ Harriman dẫn đầu đoàn Hoa Kỳ. Giai đoạn đầu kéo dài suốt năm 1968 (từ 13-5 đến tháng 10-1968) với 28 phiên họp công khai và 12 cuộc gặp riêng. Tại diễn đàn này, hai bên bàn việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Giai đoạn hai kéo dài hơn 3 năm (25-1-1969 đến 27-1-1973). Đây là giai đoạn giằng co với 174 phiên công khai và 24 phiên họp bí mật; là diễn đàn 4 bên gồm VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; còn bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Từ cuối năm 1970 đến năm 1973, ông Võ Văn Sung được điều động sang Paris. Cũng từ năm 1971, Vụ II đổi tên thành CP50. Công khai về mặt ngoại giao, ông Võ Văn Sung là Tổng Đại diện Chính phủ VNDCCH tại Pháp, nhưng nhiệm vụ chính là tham gia vào nhóm do Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ lãnh đạo đàm phán bí mật với đối tác phía Mỹ là ông Henri Kissinger. Ông Lê Đức Thọ là đại diện toàn quyền của lãnh đạo Việt Nam đối với tất cả các cơ quan và các phái đoàn chính thức, các tổ chức thuộc lực lượng kháng chiến hai miền Nam – Bắc Việt Nam tham gia đấu tranh ngoại giao tại Paris. Từ đầu năm 1971 đến cuối Hè năm 1972, nhóm “đàm phán bí mật” do ông Lê Đức Thọ lãnh đạo gồm có ông Xuân Thuỷ – Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH tại Hội nghị bốn bên; các ông Phan Hiền và Võ Văn Sung được giao trách nhiệm theo sát nắm bắt tình hình trong quá trình thảo luận; ngoài ra có ông Nguyễn Đình Phương là phiên dịch cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Cuối năm 1972 có thêm một số nhân sự của CP50 từ Hà Nội sang tham gia vào công việc dự thảo văn bản Hiệp định.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Có thể nói đây là một mốc son chói lọi nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Về mặt ngoại giao, Hiệp định Paris đã kết thúc thắng lợi cuộc thương lượng kéo dài giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau gần 5 năm Hội nghị bốn bên công khai và sau hơn hai năm (1971 – 1973) tiến hành thảo luận thực chất trong cuộc “đàm phán bí mật” giữa đoàn Lê Đức Thọ và đoàn Henri Kissinger. Đây thực sự là việc chưa từng có trong lịch sử thế giới mà ta gọi là “vừa đánh, vừa đàm”. Kết quả cuộc thương lượng đã đáp ứng mong đợi của mọi người; nó làm cho toàn thế giới trút được gánh nặng tinh thần và tâm lý đè trĩu hàng chục năm.

P.V

(Ghi theo lời kể của các ông Võ Văn Sung
và Nguyễn Khắc Huỳnh -Thành viên đoàn
đàm phán VNDCCH)

daidoanket.vn

Gặp người lái xe cho Đoàn đàm phán Hiệp định Paris

(VOV) – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu.

“Tôi vẫn nhớ mãi những người đồng chí Việt Nam, nhớ mãi những chặng đường tôi đã cùng họ đi qua trong những năm tháng gắn bó với đoàn” – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu, người lái xe từng đưa đón đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên những nẻo đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Phóng viên VOV thường trú tại Pháp đã đến thăm và trò chuyện với ông Michel, một trong những người có vinh dự được Chính phủ Việt nam mời sang tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris.

“Chào đồng chí, đồng chí khỏe không? – hàng ngày chúng tôi đều nói với nhau như thế. Dù nhiều khi phải chờ đoàn và đưa đoàn về nhà vào 3h sáng, nhưng cảm giác vẫn thực sự tuyệt vời. Các nhân viên an ninh ở nhà vẫn ngóng đợi, rồi chúng tôi cùng nằm dài trên ghế trong phòng bếp, rủ nhau ăn gì đó vào lúc 3h sáng cho đỡ đói sau một ngày đi làm”.

Ông Michel Strachinescu

Không cần một câu hỏi nào, với giọng sang sảng và nụ cười luôn rạng rỡ, ông Michel Strachinescu bắt đầu luôn câu chuyện về đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, như thể chỉ mong có người để ông kể lại câu chuyện hơn 40 năm về trước.

Ông kể: Tôi đến với đoàn hoàn toàn tình cờ. Tôi lúc đó là thành viên Đảng Cộng sản, nhưng không phải làm nghề lái xe. Thế rồi Đảng Cộng sản Pháp cần có lái xe cho đoàn bà Nguyễn Thị Bình và đề nghị tôi làm. Tôi biết đó là một nhiệm vụ và trách nhiệm không nhỏ, nếu không nói là một vị trí quan trọng. Và tôi đã đồng ý và làm việc đó trong 4 năm. Ngoài ra, một nhiệm vụ khác của tôi là đem thư từ Verriere-le-Buisson đi gửi, vì thư từ lúc đó của đoàn lo ngại bị bưu điện kiểm duyệt nên chúng tôi trực tiếp mang đi, thường là mang vào bỏ vào thùng thư ở quận 16”.

Ông Michel Strachinescu là một trong 4 người từng đảm nhận nhiệm vụ lái xe cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam. Riêng ông thường xuyên lái xe cho bà Nguyễn Thị Bình, ông Lý Văn Sáu, ông Vương Đình Thảo và bà Nguyễn Thị Chơn.

Hành trình quen thuộc là từ căn nhà bà Nguyễn Thị Bình ở tại Verrière-le-Buisson đi tới khu chung cư mà các thành viên khác trong đoàn miền Nam sống ở Massy, rồi xuống Choisy-le-Roi họp với đoàn miền Bắc; hay ra Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber để đấu tranh trên bàn đàm phán chung 4 bên.

Hơn 4 năm ròng rã những chặng đường dẫu quen thuộc mà không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Có những khi có cả hiểm nguy rình rập khi xe của đoàn gặp một nhóm người có tư tưởng chống đối Việt Nam. Hay có lúc tưởng đơn giản chỉ là chuyện xe đang chạy thì bị rơi mất lá cờ nhỏ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam treo ở đầu xe.

Ông Michel kể: “Hôm đó xe đang đi trên đường cao tốc, tôi nhớ tôi chở ông Lý Văn Sáu và một số thành viên trong đoàn, thì bất ngờ chiếc đế cắm cờ bằng nhôm bị gẫy, lá cờ nhỏ bay xuống đường. Một cách rất tự nhiên, tôi nghĩ rằng không thể nào để lại lá cờ mà phải nhặt lại bằng được. Tôi làm dấu hiệu khẩn cấp, dừng xe lại và bước xuống, len vào giữa dòng xe đang ầm ầm lao đến và nhặt vội lá cờ lúc đó bay ra xa khoảng 200m. Nhiều lái xe, có cả lái xe mô-tô đã hét lên tưởng tôi bị điên mà lao vào dòng xe khi ấy, về nhà kể lại cũng nhiều người bảo là nguy hiểm quá. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nhất định không bao giờ tôi để lá cờ bị mất”.

Dù các thông tin về đàm phán được giữ kín, song những người bạn Pháp gắn bó với đoàn hàng ngày như ông Michel vẫn nhận được những chia sẻ tình cảm từ các thành viên trong đoàn đàm phán. Như ông nói “tôi đã trải qua vui, buồn cùng với các bạn, như một người Việt Nam thực sự”.

“Hai cuộc đấu tranh song hành, một trên chiến trường tại Việt Nam và một trên bàn đàm phán ở Pháp. Có những lúc buồn lắm, vì Mỹ ném bom giết hại bao nhiêu người Việt Nam. Tôi vẫn nhớ mãi một câu ông Lý Văn Sáu (tôi biết giờ ông đã mất rồi), ông Lý Văn Sau đã nói rằng: Bọn Mỹ có thể phá đất nước Việt Nam mười hay một trăm lần, nhưng rồi chúng tôi sẽ xây dựng lại gấp hai nghìn lần, tươi đẹp và phát triển hơn” – ông nói.

Riêng đối với bản thân và gia đình, ông Michel cũng từng phải vượt qua nhiều khó khăn, khó khăn những khi thời tiết giá lạnh, người lái xe phải ngồi ngoài trông xe chờ đoàn đàm phán, nhiều khi đến 2-3h sáng.

Tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam ông treo trân trọng giữa phòng khách

Đàm phán không tiến triển, mọi người trong đoàn cũng mệt và buồn bã. Hay khó khăn khi ông thường xuyên phải trở về nhà khuya, có khi lại đi ra khỏi nhà vào lúc sáng sớm hôm sau, vợ ông phải một tay quán xuyến việc nhà, chăm sóc 5 đứa con nhỏ.

Nhưng vượt trên tất cả, vợ chồng ông luôn cảm thấy vinh dự và tự hào khi số phận đã trao cho ông nhiệm vụ quan trọng, là một phần trong cuộc đấu tranh giành hòa bình cho Việt Nam.

Vợ ông, bà Jacquelines Strachinescu cho biết: “Lúc đó tôi không thấy quá khó khăn, có lẽ chính vì các con của chúng tôi còn rất nhỏ, chúng nó không để ý nhiều đến việc bố hay đi làm từ sáng sớm và trở về rất muộn. Tôi biết công việc của chồng tôi rất cần thiết và tôi không thấy có vấn đề gì quá lớn. Chồng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp với đoàn và thường xuyên chia sẻ với tôi, tôi biết rằng chồng tôi thực sự hạnh phúc khi gắn bó với đoàn đàm phán của Việt Nam”.

Nhắc lại cảm xúc vào ngày Hiệp định Paris được ký kết, ông Michel xúc động nói: “Ngày 27/1 là một ngày chúng tôi tràn ngập cảm xúc như những người đồng chí Việt Nam. Việt Nam- một đất nước nhỏ bé đã buộc đế quốc lớn nhất là Mỹ phải quỳ gối khuất phục. Bác Hồ, đối với tôi, Người là ánh sáng cho nhân dân trên toàn thế giới. Tôi nhớ khoảng khắc 40 năm về trước, chúng tôi đã reo hò và cùng ăn mừng thắng lợi với các bạn. Nhưng cũng chính lúc đó, ai cũng biết rằng cuộc đấu tranh sẽ còn chưa chấm dứt. Và thực tế là sau đó còn một giai đoạn đấu tranh tiếp tục gian khổ”.

Chia tay người bạn Pháp từng gắn bó và đóng góp vào cuộc đấu tranh lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhìn lại tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam mà ông treo trân trọng giữa phòng khách, tôi – một người Việt Nam cũng cảm thấy vô cùng tự hào.

Hơn 40 năm về trước và cho đến ngày nay, cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta đã có sự ủng hộ rộng rãi. Ngoài ông Michel, có hàng trăm con người, người còn, người mất trên khắp nước Pháp từng ủng hộ, giúp đỡ và thậm chí đánh cược tính mạng, để sát cánh bên các “đồng chí” Việt Nam./.

Thùy Vân- Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn

Vào tuyến lửa để “bắt cọp trong hang”

QĐND-Để có được chiến thắng trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, từ 5 năm trước, có một đơn vị tên lửa đã hành quân vào tuyến lửa Vĩnh Linh để tìm cách hạ B-52.

“Cho đến bây giờ, tôi vẫn không quên lời động viên của Đại tá Đặng Tính, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng PK-KQ khi ông vào thăm trận địa của Trung đoàn 238 tại Vĩnh Linh: Đưa được cả trung đoàn vào tới chiến trường an toàn là một huyền thoại. Triển khai chiến đấu, đem được cả khối binh khí, khí tài xuống lòng đất mà kẻ thù không hay biết là hai huyền thoại. Giấu được quân, giấu được binh khí, khí tài, xe cộ là ba huyền thoại. Chỉ còn một huyền thoại nữa là chờ các đồng chí bắn rơi B-52 trên đất lửa!”, Đại tá Nguyễn Văn Hội, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 (Quân chủng PK-KQ) mở đầu câu chuyện với chúng tôi.

Hơn 45 năm đã trôi qua, ký ức về những tháng ngày cùng đồng đội hành quân vào tuyến lửa để tìm cách tiêu diệt B-52 vẫn sống động trong ông. Vào giữa năm 1966, ta thực hiện chủ trương “Sớm đưa tên lửa vào nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B-52”. Trung đoàn Tên lửa 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

Tại thời điểm bấy giờ, tên lửa SAM-2 vốn là loại vũ khí nặng nề, cồng kềnh. Để tránh tai mắt cú vọ của kẻ thù, cả khối xe cộ, binh khí, kỹ thuật khổng lồ lặng lẽ cơ động trong đêm. Đơn vị hành quân qua Hà Tĩnh, Quảng Bình vào Vĩnh Linh trong sự chở che, cưu mang của bộ đội và nhân dân Quân khu 4. Không thể đo đếm được sự hy sinh thầm lặng của hàng chục ngàn thanh niên xung phong, bộ đội công binh đã ngày đêm lo ngụy trang, đào công sự, làm cọc tiêu sống, chống lầy, hộ tống “rồng lửa” qua sông, qua những chặng đường địch đánh phá ác liệt. Dọc đường hành quân, đã có hàng trăm người thương vong để đưa Trung đoàn 238 và 9 tiểu đoàn cao xạ đến đích. Khi triển khai trận địa, khó khăn và gian nan vẫn chồng chất. Trong cái nắng nóng gắt gao của miền Trung, lá ngụy trang vừa thay đã héo quắt. Để giữ được bí mật tuyệt đối, bộ đội và nhân dân Vĩnh Linh phải vào rừng cách xa hàng chục cây số chặt cây đem về ngụy trang trận địa cao xạ, tên lửa. Tiếp đó là những ngày đọ trí, đọ sức quyết liệt. Vĩnh Linh là dải đất hẹp, địch lại thường xuyên thay đổi trang bị vũ khí gây cho ta khá nhiều khó khăn. Chúng dùng một máy bay từ xa lượn vòng chiếu la-de để nhiều chiếc khác tiếp cận phóng tên lửa. Ta chưa phát hiện máy bay địch, tên lửa đã nổ khiến đơn vị thương vong rất lớn. Tiểu đoàn 5 lắp ráp tên lửa cũng bị địch oanh kích.

Đại tá Nguyễn Văn Hội.

Trung đoàn 238 quyết định dồn sức, dồn người cho Tiểu đoàn 84. Vũ khí, khí tài được gom về, lắp ráp thành một bộ hoàn chỉnh. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên cùng sĩ quan điều khiển Lê Hỷ thuộc Tiểu đoàn 82 và một số đồng chí khác của Tiểu đoàn 81, 83 cũng được điều về bổ sung cho Tiểu đoàn 84. Khi khí tài và quân số đã ổn định, Tiểu đoàn 84 (ghép) được lệnh cơ động về trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh) chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 15-9-1967, vì trời mưa lớn, trận địa bị ngập nước nên các chiến sĩ tên lửa thấy địch mà không thể đánh được. Hôm sau, B-52 lại xuất hiện nhưng ta không bắt được mục tiêu. Vào cuối buổi chiều ngày 17-9-1967, khi bọn địch ngỡ rằng đã đè bẹp được lực lượng tên lửa của ta thì bất ngờ “rồng lửa” xuất hiện. Kíp chiến đấu gồm sĩ quan điều khiển Lê Hỷ và ba trắc thủ là Phạm Văn Ngoạn, Trần Mạnh Hiển và Nguyễn Văn Ngận dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên đã tách được nhiễu, nhận dạng mục tiêu và chiến đấu một cách bình tĩnh.

17 giờ 03 phút, 2 quả đạn tên lửa của Tiểu đoàn 84 từ trận địa T5 thuộc Nông trường Quyết Thắng bay lên hướng về tốp B-52. Sau 2 tiếng nổ, mục tiêu bị xóa nhòa trên màn hiện sóng.

Vậy là từ khi có mặt ở tuyến lửa, phải mất 5 tháng trời ròng rã với bao mồ hôi, công sức và xương máu ta mới bắn rơi được chiếc B-52 đầu tiên.

Kể đến đây, Đại tá Nguyễn Văn Hội cười sảng khoái: “Vậy là chúng tôi đã thực hiện được ý nguyện của Bác Hồ: “Muốn bắt cọp, phải vào hang”.

Trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, bao gồm: 34 chiếc B-52, 5 chiếc F111A, 21 chiếc F4C-E, 4 chiếc A6A, 12 chiếc A7, 1 chiếc F105D, 2 chiếc RA5C, 1 chiếc trực thăng HH53, 1 chiếc trinh sát không người lái 147SC. ST.

Bài và ảnh: QUỲNH VÂN – ĐỖ HÙNG
qdnd.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 2)

Tiếng súng tạm ngưng ở miền Bắc, nhưng ở phía Nam, Mỹ gạt Pháp trực tiếp can thiệp vào Việt Nam. Phạm Ngọc Lan cùng đồng đội được giao nhiệm vụ phải học để nắm vững những trang bị mới.

(ĐVO) Kỳ 2: Lối rẽ cuộc đời

Phi công Phạm Ngọc Lan.

“13 tháng 6 lớp”

Tháng 5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7/1954). Phạm Ngọc Lan cùng đơn vị (Sư đoàn 305) nhận lệnh tập kết ra miền Bắc. Anh được cấp trên cử đi học tại Trường Văn Hóa thuộc Bộ Tổng Tham Mưu tại Kiến An, Hải Phòng. Mục đích khi đó nhằm tuyển chọn đào tạo nguồn sĩ quan để xây dựng quân đội cách mạng, từng bước hiện đại, đảm đương nhiệm vụ mới.

Trước khi vào học, các thầy giáo đã kiểm tra trình độ để xếp lớp. Người lính già vẫn còn nhớ như in câu hỏi thú vị hôm đó: “Có bao nhiêu loại hình tam giác”. Tuy không nhớ rõ, nhưng với sự nhanh trí, thông minh ông vẫn hoàn thành câu trả lời. “Ngoài tam giác thường và tam giác cân, còn có tam giác thước thợ (chỉ tam giác vuông),” ông nhớ lại. Còn tam giác đều ông nói bằng…tiếng Pháp. Nhưng chính nhờ những câu trả lời đặc biệt đó mà ông được các thầy đánh giá cao và cho vào học lớp 5/10.

Vào trường, ông chăm chỉ không nghỉ chủ nhật. Ông nói: “Xưa mình không được học, giờ học đâu nhớ đấy, học 13 tháng, không tháng nào là không được biểu dương”. Chẳng thế mà, tháng đầu tiên trường phải phân công một anh học lớp 8 kèm cặp, đến tháng thứ 2 trò đã bắt đầu tranh luận với trợ giáo về bài tập. Đến tháng thứ 3 thì “thầy” nói trò không cần phải học thêm với mình nữa.

Không chỉ có vậy, thời gian học tại Kiến An còn để lại cho ông kỷ niệm sâu sắc về tình thầy trò và học kết hợp với hành rất cụ thể. Một buổi dạy vật lý về máy hơi nước, thầy giáo ông đã dùng một chiếc xe lu (xe lăn đường) – quân Pháp để lại, mô tả nguyên lý hoạt động giúp các trò dễ hiểu hơn.

Nhưng học trò Phạm Ngọc Lan nghĩ xa hơn như thế, anh hỏi “thầy ạ, xe này còn tốt, thầy sửa được không”. Thầy đáp: “sửa thì phải có thợ”. Thế là, buổi chiều, nhà trường mời thợ ở nhà máy điện vào sửa giúp. Và ngay hôm sau, hai thầy trò đã cùng nhau lái chiếc xe lu chạy quanh sân trường.

Mất ba buổi chiều, hai thầy trò lăn đường quanh sân trường và sân bóng đá trở thành nhẵn nhụi, êm bước cho mọi người luyện tập chơi đùa. Kỷ niệm về chiếc xe lu in dấu mãi trong tâm trí anh sau này.

Với tinh thần học hỏi không ngừng nghỉ, học một cách sáng tạo, có suy nghĩ chặt chẽ, sau 13 tháng học tập ông đã đạt trình độ yêu cầu của khóa học để chuyển sang học chuyên ngành ở bậc cao hơn.

Ước mơ lái xe tăng

Sau khi bổ túc văn hóa, ông cùng nhiều đồng chí trải qua kiểm tra sức khỏe và được phép đề đạt nguyện vọng ngành học. Không ngần ngại, ông quyết địch xin học lái xe tăng. Vì, có lần ông được xem bộ phim công phá Berlin, trong đó có cảnh xe tăng Hồng quân Liên Xô húc đổ cổng tổng hành dinh Hitler và những hình ảnh đó đem lại ấn tượng mạnh cho ông.

Thế nhưng, khi các đồng chí học cùng đều lần lượt lên đường, người học hải quân, người học xe tăng, pháo binh, thông tin,… riêng ông vẫn chưa được gọi đi, tư tưởng có phần lo lắng. Nhưng rồi, mọi việc sớm được giải tỏa khi cấp trên thông báo, ông cùng những đồng đội còn lại được cử đi học lái máy bay.

Trước ngày lên đường, đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã gặp và dặn dò: “các đồng chí đi học thì 60 người vì 1 người, 1 người vì 60 người, phải học hành thật tốt để góp phần xây dựng quân đội chính quy hiện đại và tiếp tục công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Lời dặn đó đã đi theo Phạm Ngọc Lan suốt cả thời gian học tập khi xa đất nước.

“8 môn 80 điểm”

Trong thời gian học tập ở nước ngoài, tiếp tục phát huy tinh thần tự học, Phạm Ngọc Lan cùng các đồng chí khác vượt qua rất nhiều thử thách, khó khăn, đạt được thành tích cao. Ban đầu, ông và đồng đội trải qua 1 năm học lý thuyết. Đặc biệt, trong bài kiểm tra lý luận 8 môn (khí động lực học, động cơ, địa hình, khí hậu…) kết thúc khóa học, riêng ông làm bài thi bằng tiếng sở tại. Kết quả, 8 môn ông đều đạt điểm 10.

Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sao Đỏ) được thành lập ngày 3/2/1964.

Sang phần học bay, ông được học lái trên 4 loại phi cơ từ máy bay Yak-18, Yak-11 tới tiêm kích đánh chặn phản lực MiG-15 và MiG-17F. Ở mỗi loại ông đều đạt kết quả xuất sắc. Không những thế, Phạm Ngọc Lan nằm trong tốp đầu được bay đơn (một mình cất cánh bay đi và hạ cánh an toàn). Lần đó, ông đã hoàn thành xuất sắc bài tập. Nhớ lại, ông kể đối với phi công bay đơn đầu tiên trong bữa ăn sẽ được chúc mừng bằng bánh ga tô. Và ông còn được 2-3 chiếc khác trong những lần tiếp theo.

Sau 6 năm miệt mài học tập, tới năm thứ 7 cũng là lúc xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ hôm 5/8/1964. Ngày 6/8, 36 chiếc tiêm kích MiG-17F do đồng chí Đào Đình Luyện làm trung đoàn trưởng cất cánh trở về nước chuẩn bị cho cuộc chiến bảo vệ vùng trời tổ quốc. Ngày hôm đó, phi công Phạm Ngọc Lan là một trong những phi công đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Nội Bài – căn cứ Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 mang tên Sao Đỏ.

– Máy bay huấn luyện sơ cấp 2 chỗ ngồi Yak-18 do Liên Xô thiết kế sản xuất, chính thức đi vào phục vụ năm 1946. Yak-18 trang bị một động cơ cánh quạt Ivchenko AI-14RF cho phép đạt tốc độ tối đa 300km/h, bán kính hoạt động 350km, trần bay 5.000m.

– Máy bay huấn luyện sơ cấp 2 chỗ ngồi Yak-11 do Liên Xô chế tạo và đi vào phục vụ năm 1946. Yak-11 trang bị một động cơ cánh quạt Shvetsov Ash-21 cho phép đạt tốc độ tối đa 460km/h, bán kính hoạt động hơn 600km, trần bay 7.100m. Máy bay thiết kế với 1 súng máy cỡ 7,62 hoặc 12,7mm cùng 2 giá treo dưới cánh mang 200kg bom.

– Tiêm kích đánh chặn cận âm MiG-15 do Liên Xô phát triển, đưa vào trang bị năm 1949. Đây là một trong những thiết kế thành công nhất của Liên Xô, với 18.000 chiếc được sản xuất. MiG-15 trang bị một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1 cho phép đạt tốc độ bay 1.075km/h, bán kính bay 600km, trần bay 15.000m. Tiêm kích MiG-15 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (40 viên đạn).

– Tiêm kích đánh chặn cận âm MiG-17 được phát triển từ MiG-15, đi vào hoạt động năm 1952. MiG-17 sử dụng một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1F cho phép đạt tốc độ 1.145km/h, bán kính bay 1.000km (với thùng dầu phụ), trần bay 15.000m.

MiG-17 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (80 viên) hoặc mang được 500kg bom trên hai giá treo dưới cánh. MiG-17 một thời gian dài là lực lượng chủ lực của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Lê Văn
baodatviet.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 1)

Thế hệ phi công đầu đàn của Việt Nam đều trưởng thành từ lính bộ binh, Phạm Ngọc Lan cũng vậy, ông đã gắn bó với đơn vị bộ binh trước khi lên “buồng lái máy bay”.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan là phi công đầu tiên của Quân đội ta bắn rơi máy bay phản lực Mỹ F-8U trên bầu trời Hàm Rồng – Thanh Hóa, ngày 3/4/1965.

Để có chiến công đầu, cũng như các phi công Việt Nam ông đã trải qua quá trình học, làm chủ khoa học kỹ thuật quân sự trong hoàn cảnh bền bỉ, gian khổ.

(ĐVO) Kỳ 1: Trưởng thành từ người lính bộ binh

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan.

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Quê Phạm Ngọc Lan ở xã Điện Nam Đông, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Sinh năm 1934, bố mẹ của Phạm Ngọc Lan đều làm nghề y, theo công việc đi khắp các tỉnh miền trung. Vì vậy, ngay từ nhỏ ông theo gia đình đi nhiều nơi, qua các miền đất lịch sử.

Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Hình bóng các anh bộ đội trong đoàn quân Nam tiến dưới sự chỉ huy của Đàm Quang Trung, Đoàn Khuê (sau này trở thành những tướng lĩnh cốt cán trong Quân đội Nhân dân Việt Nam) đã gọi thế hệ Phạm Ngọc Lan nối bước.

14 tuổi, Phạm Ngọc Lan xin vào lực lượng công an xung phong. Trong đơn vị, ông không nề hà mọi việc từ nấu cơm, văn thư và làm liên lạc. Để đảm bảo bí mật, ông thuộc lòng tài liệu dưới dạng tiếng lóng, mã đơn giản hoặc ghi vào bàn tay để kịp xóa đi nếu bị bắt giữ.

Ngay trong giai đoạn kháng chiến ác liệt, ông vẫn cố gắng tận dụng thời gian để học vì khi thoát ly mới qua lớp 3. Nhờ vốn tiếng Pháp ít ỏi học từ cha, ông giao tiếp và học thêm với một hàng binh người Pháp. Đổi lại ông dạy người này tiếng Việt.

Ngoài ra, Phạm Ngọc Lan còn tự học tiếng Ê đê  để phục vụ công việc làm liên lạc. Có lần bị lính Pháp bắt, ông nhanh trí trả lời bằng tiếng Ê đê. Bà con người Ê đê cũng nói anh là người cùng bản. Vì thế, quân địch đã thả anh.

Trở thành bộ đội

Trong 4 năm từ 1948-1952, là khoảng thời gian Phạm Ngọc Lan vừa làm việc, vừa học nhưng khát vọng muốn ra chiến truờng trực tiếp chiến đấu vẫn luôn cháy bỏng.

Năm 18 tuổi, anh chính thức trở thành anh “bộ đội cụ Hồ” thuộc biên chế trung đoàn bộ đội địa phương 84 – mang tên người anh hùng các dân tộc Tây Nguyên N’Trang Lơng. Dù rất nóng lòng tham gia chiến đấu, nhưng ông lại được giao nhiệm vụ làm văn thư.

Tới năm 1953, khi Liên khu 5 quyết định thành lập tiểu đoàn 30, nằm trong đội hình trung đoàn 96, sư đoàn 305 (*), Phạm Ngọc Lan mới chính thức tham gia chiến đấu. Ba tháng bám trụ ở chiến khu Hòn Hèo, (Khánh Hòa) thâm nhập nắm vững địa hình.

Có lúc nằm trên núi nhìn thấy biển, ngửi mùi gió mặn, trông thấy hàng đống muối trắng trong khi bộ đội vẫn thiếu muối do địch vây hãm gắt gao. Những đợt hoạt động đầu tiên chính là tìm cách vận chuyển muối an toàn lên chiến khu.

Giai đoạn 1953-1954, Liên khu 5 triển khai nhiều chiến dịch phối hợp với chiến cuộc Đông Xuân trên toàn quốc và nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Trong những ngày tháng chiến đấu đó, anh đã bắt sống được 6 tù binh. Đặc biệt, trận đèo Măng Giang tiêu diệt binh đoàn cơ động GM-100, Phạm Ngọc Lan bắt sống được 1 lính Pháp.

Nhớ lại trận chiến hôm đó ông kể, sau khi trận đánh kết thúc ông cùng tổ 2 người ở lại với nhiệm vụ tìm kiếm đồng đội. “Trong lúc đi dọc đường 19 quan sát thì phát hiện ở hầm ta luy có gì đó động đậy, tôi liền lệnh cho anh em nằm xuống, bò đến tiếp cận thì phát hiện ra một lính Pháp”.

Ông nói bằng tiếng Pháp “hô lê măng” (giơ tay lên). Sau đó, ông cùng anh em bắt trói tên lính để giải về sở chỉ huy trung đoàn. Ban đầu, ông lệnh hai chiến sĩ đi trước về căn cứ đề nghị thêm người tới hỗ trợ giải tù binh.

Nhưng, hai đồng chí đi mãi không thấy quay lại, ông đành tự dẫn tên lính Pháp về. Do trời tối thay vì dẫn về căn cứ ông lại dẫn ngược về vùng quê nơi gia đình ông sơ tán. Tới sáng mới nhận ra, vậy nên ông đành ở lại đó nghỉ ngơi và nhờ Ủy ban kháng chiến giúp đỡ giải tù binh về sở chỉ huy liên khu V.

Chia sẻ với chúng tôi, ông nói chính việc cố gắng học tiếng Pháp, tiếng Ê Đê và nắm vững địa hình của mấy tỉnh miền trung, sau này đã giúp ông rất nhiều cho những chuyến bay chỉ huy và huấn luyện từ 1975.

Ông nhấn mạnh dù nhiều khó khăn nhưng bố mẹ và các anh chị đã đi cùng cuộc kháng chiến, được nhân dân đùm bọc trong mọi hoàn cảnh. Năm 1954, ông cùng đơn vị tập kết ra miền bắc. Một chặng đường mới bắt đầu.

(*) Sư đoàn bộ binh 305 khi tập kết ra bắc, một bộ phận đưa đi làm kinh tế còn lại được huấn luyện và chuyển thành lữ đoàn dù 305 – lực lượng lính dù đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và sau này trở thành lực lượng Đặc công 305 của Binh chủng đặc công ngày nay.

Lê Văn
baodatviet.vn

Người bấm nút tên lửa tiêu diệt máy bay B-52 đầu tiên trong chiến dịch

QĐND-“Sau khi nghe thông báo chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ là chiến công của kíp 1, Tiểu đoàn Tên lửa 59 (Trung đoàn 261-Sư đoàn 361), tôi mừng đến rơi nước mắt”. Đó là lời tâm sự của Trung tá CCB Dương Văn Thuận, người có cú bấm nút quyết định, mở màn cho thắng lợi của chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972.

Ghi dấu ấn đầu tiên

Trong căn nhà khang trang nằm bên đường Quách Văn Tuấn, quận Tân Bình (TP Hồ Chí Minh), cựu sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận vui mừng đón chúng tôi, thân mật như người ruột thịt. Ở tuổi 65, ông vẫn rất tráng kiện và đầy cương nghị. CCB Dương Văn Thuận kể:

– Trận địa chính của Tiểu đoàn 59 chúng tôi bố trí tại Cổ Loa. Cuối tháng 11-1972, đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị, sẵn sàng đánh B-52. Chiều tối ngày 18-12-1972, đơn vị được lệnh vào “cấp 1”. Khoảng 19 giờ, lợi dụng trời tối, mưa phùn, giá rét, địch bắt đầu mở cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội. Dù đã quen với những trận đánh trên không nhưng chúng tôi vẫn rất hồi hộp, bởi kết quả của trận đánh đang được quân và dân cả nước trông đợi.

– Khi đó, ông đảm nhiệm cương vị gì trong đơn vị?

Sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đang luyện tập động tác điều khiển tên lửa. Ảnh chụp lại.

Ông Thuận trả lời:

– Tháng 10-1972, mới chỉ chuẩn úy, tôi đã được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 1, kiêm sĩ quan điều khiển kíp 1. Cho nên, với cương vị của mình tôi khá áp lực, nhưng không vì thế mà ảnh hưởng tới nhiệm vụ.

Ngừng lại giây lát, ông kể tiếp:

– 19 giờ 30 phút ngày 18-12, nhiều tốp máy bay địch xuất hiện, trong đó có B-52. Tại trận địa Cổ Loa, Tiểu đoàn 59 đã phóng 4 quả đạn nhưng không trúng mục tiêu. Thấy tình thế khẩn cấp, tôi liền trấn an 3 trắc thủ hết sức bình tĩnh, giữ đúng yếu lĩnh động tác như khi luyện tập. Khoảng hơn 20 giờ, một tốp B-52 có F-111 hộ tống, bay vào từ hướng Tam Đảo xuống đánh Đông Anh. Kíp trắc thủ căng mắt nhìn màn hiện sóng để xác định nhiễu của B-52. Bất chợt, cả 3 trắc thủ đều đồng thanh báo cáo “có nhiễu B-52”. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng hạ lệnh phát sóng nhưng các dải nhiễu lại dày đặc, đan chéo vào nhau, không xác định được tọa độ B-52. Hồi hộp, căng thẳng… Đúng lúc đó, một ý nghĩ vụt lóe lên, tôi lệnh cho các trắc thủ tập trung vào hướng chủ yếu, nâng cao tần số, liền phát hiện được dải nhiễu đậm, sáng, mịn hơn, đích thị là của B-52. Toàn kíp hiệp đồng bám sát mục tiêu. Đợi đến khi chiếc đi đầu vào đến cự ly 36km, tiểu đoàn trưởng hạ lệnh: “Phóng”. Lúc đó, tôi bình tĩnh lạ thường, mắt không rời mục tiêu, tay bấm nút phóng liền 2 quả tên lửa rồi hiệp đồng cùng 3 trắc thủ điều khiển đạn trúng đích. Đạn nổ ở cự ly 27km. Ngay lập tức, trên màn hình mất dải nhiễu, xuất hiện một vệt sáng rơi nhanh xuống đất. Chiến sĩ quan sát báo cáo: “Máy bay cháy rồi”. Như có một sức mạnh vô hình, cả kíp trắc thủ bật dậy, reo lên: “B-52 cháy rồi”. Tiếng reo vỡ òa trong niềm mong đợi, dồn nén bấy lâu. Lúc đó vào đúng 20 giờ 13 phút ngày 18-12-1972.

Tôi hỏi:

– Lúc ấy, ông có biết đó là chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ không?

– Làm sao mà biết được, cả sư đoàn gồm mấy đơn vị cùng tham gia đánh B-52, ở cương vị của tôi thì chỉ biết kết quả chiến đấu trong tiểu đoàn thôi. Chính vì để chứng minh đó là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ nên chỉ huy trung đoàn đã cử người lên tận cánh đồng Chuôm, xã Phủ Lỗ (Đông Anh), nơi chiếc máy bay rơi để xác minh. Kết quả là tổ công tác đã mang về mảnh xác chiếc B-52G và tấm phù hiệu của không lực Hoa Kỳ.

Vậy là chiến công đầu thuộc về kíp chiến đấu 1 của Tiểu đoàn 59 mà người có cú bấm nút quyết định, ghi dấu ấn lịch sử chính là sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận. Thắng lợi đầu tiên ấy có ý nghĩa vô cùng quan trọng, xua tan bao lo âu, căng thẳng của bộ đội phòng không và mở màn cho sự thảm bại của cái gọi là “pháo đài bay bất khả chiến bại”.

Giản dị, khiêm nhường

Sau chiến công đêm 18-12, kíp chiến đấu của Đại đội trưởng Dương Văn Thuận còn tham gia bắn rơi thêm 2 máy bay B-52 nữa, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông đã trực tiếp tham gia 47 trận đánh, đều ở kíp 1 của Tiểu đoàn 59. Sau đó, Đại đội trưởng Thuận được cử đi học tại Học viện Phòng không và trở thành giáo viên khoa xạ kích. Năm 1981, ông chuyển vào Nam công tác tại Sư đoàn 367, rồi về nghỉ hưu năm 1992 với cấp hàm trung tá. Hiện tại, niềm vui lớn nhất của ông là sự giỏi giang, thành đạt, hiếu thảo của các con. Họ đều có địa vị xã hội và luôn tự hào về ông, một người cha mẫu mực, đã đóng góp công lao cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Những ngày nghỉ cuối tuần, cả gia đình đoàn tụ, quây quần, hạnh phúc, ông lại nhắc nhở con cháu vượt khó để trưởng thành, sống có ích cho xã hội…

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Phi công Việt Nam kể chuyện khai thác điểm yếu của B-52

(ĐVO) – Sớm dự đoán B-52 sẽ vào đánh Hà Nội, Không quân Việt Nam đã sẵn sàng “đọ sức” với siêu pháo đài bay từ nhiều năm trước.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Đất Việt đã có buổi trao đổi với Đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân – nguyên Bí thư Đảng ủy sư đoàn Không quân 370, nguyên Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, về công tác chuẩn bị đánh B-52 của bộ đội Không Quân trong chiến dịch này.

Bắn hạ B-52 không hề bất ngờ

Ngay từ những năm 1960 Bác Hồ đã quan tâm đến việc nghiên cứu, chuẩn bị cách đánh B-52. Năm 1967, Người khẳng định “sớm muộn đế quốc Mỹ sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua. Ở Việt nam Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Vì vậy, công tác nghiên cứu, chuẩn bị đánh B-52 đã được bộ đội Phòng không – Không quân nghiên cứu, chuẩn bị kỹ từ nhiều năm trước, Không quân đã sẵn sàng  “đọ sức” với B-52.

Kết từ khi ra đời, B-52 được Mỹ quảng bá rầm rộ là “siêu pháo đài bay”. Điều này hoàn toàn có cơ sở, bởi B-52 được bảo vệ bằng hệ thống gây nhiễu dày đặc. Mỗi máy bay B-52, trang bị hàng chục máy gây nhiễu tích cực lẫn tiêu cực.

Cùng với đó là áo giáp nhiễu bên ngoài do các máy bay máy bay trinh sát/đấu tranh điện tử RB- 66, EC-121 bao bọc. Do đó, việc phát hiện B-52 hết sức khó khăn. Và ngay cả khi tiếp cận, phi công Việt Nam chưa chắc đã hạ gục được chúng bằng tên lửa (dẫn đường bằng radar) trong điều kiện nhiễu mạnh. Không chỉ vậy, đội hình bảo vệ B-52 hết sức hùng hậu với hàng tá tiêm kích các loại mỗi tốp.

Dù vậy, nhiệm vụ bắn hạ B-52 vẫn là một yêu cầu cấp thiết, một tiếng gọi thiêng liêng. Cùng với lực lượng phòng không, lực lượng không quân của ta đã bắt tay tìm phương án đánh B-52 từ rất sớm, nghiên cứu kỹ điểm mạnh và điểm yếu của B-52. Đồng thời, phi công Việt Nam với quyết tâm cao khai thác triệt để tính năng kỹ chiến thuật của MiG-21 để nắm chắc thời cơ tiêu diệt B-52 khi có cơ hội.

Với kết quả nghiên cứu kỹ như vậy và việc bay  tập luyện ứng dụng chiến đấu nhuần nhuyễn, lực lượng  phi công MiG-21 rất tự tin việc đánh thắng B-52.  Sự kiện phi công Vũ Đình Rạng bắn bị thương B-52 vào ngày 20/11/1971 đã đúc kết được nhiều vấn đề về tiếp cận và đánh B-52, cho thấy, B-52 hoàn toàn không hề “bất khả xâm phạm “ như những gì mà Mỹ tuyên bố với thế giới.

“Việc chuẩn bị kỹ lưỡng này đồng nghĩa với chiến thắng oanh liệt của quân và dân Thủ đô nói chung và bộ đội phòng không không quân nói riêng là tất nhiên, không phải bất ngờ, càng không phải vô tình”, Đại tá Phi công Nguyễn văn Nghĩa nhớ lại.

 Công tác nghiên cứu, chuẩn bị, huấn luyện tác chiến với B-52 đã được Không quân Việt Nam tiến hành từ nhiều  năm trước khi diễn ra chiến dịch Linebacker-II.Công tác nghiên cứu, chuẩn bị, huấn luyện tác chiến với B-52 đã được Không quân Việt Nam tiến hành từ nhiều năm trước khi diễn ra chiến dịch Linebacker-II.

Về phía Mỹ, cựu Tổng thống Richard Nixon với ảo tưởng, bằng lực lượng không quân khổng lồ để tiêu diệt không quân tiêm kich MiG-21 Việt Nam, hòng đưa Hà Nội “trở về thời kỳ đồ đá” Đây có thể coi là “chiêu bài” cuối cùng của Nixon trong chiến tranh Việt Nam.

Do tính chất quan trọng của chiến dịch Linebacker-II, Không quân Mỹ cũng chuẩn bị kỹ lưỡng mọi phương án. Trong chiến dịch Linebacker-II, Mỹ huy động hơn 1.000 máy bay các loại, trong đó có 193 pháo đài bay B-52 chiếm gần 50% số B-52 của Mỹ trong biên chế.

Trong đó, khoảng 1.077 máy bay chiến thuật bảo vệ và hỗ trợ cùng với 6 hạm đội tàu sân bay trực chiến. Với lực lượng khổng lồ như vậy, phía Mỹ tưởng chừng sẽ áp đảo đối phương, buộc Việt nam phải khuất phục.

Tuy nhiên, điều mà Mỹ không ngờ tới là những điểm yếu của B-52 bị phía Việt nam khai thác triệt để.

Không quân Việt Nam đã sẳn sàng để hạ gục B-52 trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch Linebacker-II. Ảnh minh họaKhông quân Việt Nam đã sẳn sàng để hạ gục B-52 trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch Linebacker-II. Ảnh minh họa

Trước chiến dịch, quyết tâm của Quân chủng Phòng không-Không quân là phải bắn hạ được từ 7-10% trong tổng số B-52 sử dụng trong chiến dịch, bắt sống giặc lái, đồng thời giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về khí tài sản và con người, để chứng minh với thế giới rằng Việt Nam đã đánh thắng B-52.

Ngoài ra, thắng lợi trong cuộc chiến này có ý nghĩa quyết định đối với cục diện trên chiến trường Miền Nam. “Do đó, bộ đội Phòng không – Không quân nói chung và Không quân nói riêng chuẩn bị rất kỹ về kỹ năng tác chiến, ý chí rất sục sôi, rất tự tin và tràn đầy quyết tâm đánh thắng Không quân Mỹ”, đại tá Nguyễn Văn Nghĩa hồi tưởng.

Nhiệm vụ của Không quân trong 12 ngày đêm là phối hợp chặt chẽ với hỏa lực phòng không mặt đất bẽ gãy cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất, chưa từng có của Mỹ kể từ sau chiến tranh Thế giới thứ 2.

 Pháo đài bay B-52 không phải là bất khả xâm phạm như Mỹ vẫn công bố, trái lại rất dễ bị tổn thương.Pháo đài bay B-52 không phải là bất khả xâm phạm như Mỹ vẫn công bố, trái lại rất dễ bị tổn thương.

Phát huy tối đa điểm mạnh MiG-21, khai thác triệt để điểm yếu B-52

Công tác huấn luyện chiến đấu với B-52 và đội hình tiêm kích bảo vệ đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng từ trước. Đương nhiên là các tiêm kích của ta không thể hiên ngang bay ở độ cao 10km để tiếp cận B-52 được vì như vậy chúng sẽ phát hiện sớm.

Tiêm kích đánh chặn MiG-21 của ta thường bay ở độ cao thấp hơn, rồi bất ngờ lấy độ cao, giữ tốc độ lớn tấn công B-52. Đây là điểm mạnh kỹ thuật của MiG-21 được không quân ta khai thác triệt để.

Tuy nhiên, việc bất ngờ lấy tốc độ lên cao cũng đòi hỏi phải vận dụng rất khéo léo, nếu vận dụng không khéo chúng ta sẽ bị vướng ngay vào đội hình tiêm kích bảo vệ và như vậy chúng ta mất đi cơ hội đánh B-52.

Để chọn thời điểm lấy tốc độ lên cao tấn công B-52 cần có sự hỗ trợ từ đài chỉ huy mặt đất về tốc độ bay của đội hình đối phương, cự ly đội hình cũng như kinh nghiệm của phi công.

Ngoài ra, hiệp đồng tác chiến cũng phải rất linh hoạt và chặt chẽ, từ nhiệm vụ nghi binh thu hút sự chú ý của các tiêm kích bảo vệ, đến lực lượng làm nhiệm vụ tấn công B-52. Để phát hiện và tấn công B-52 có thể bằng radar trên MiG-21, tuy nhiên do Mỹ sử dụng các biện pháp gây nhiễu mạnh nên radar của MiG-21 gặp nhiều khó khăn trong việc bắt mục tiêu.

Vì vậy việc phát hiện B-52 bằng mắt thường cũng là một giải pháp cho phi công MiG-21. Ban ngày việc phát hiện mục tiêu bằng mắt thường thuận lợi hơn nhưng trong điều kiện đêm tối thì gặp nhiều khó khăn hơn.

Tuy nhiên, có một điểm yếu của B-52 bay trong đội hình biên đội buộc phải sử dụng đèn hàng hành làm tín hiệu. Dù khi báo động có MiG-21, B-52 thường tắt đèn tín hiệu, nhưng do bay đội hình nên không thể tắt được lâu.

Các phi công của ta thường dựa vào đèn tín hiệu để phát hiện và nhắm mục tiêu trong điều kiện đêm tối. Hai chiếc B-52 bị bắn hạ vào đêm 27, 28/12/1972 của phi công Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều đều căn cứ vào đèn tín hiệu để tấn công B-52 bằng máy ngắm cơ học.

Do yếu tố có tính chất quyết định của chiến dịch, được ví như là một trận “chung kết” chỉ có thắng hoặc thua chứ không hề có chuyện cầm hòa.

Đại tá Nghĩa nhớ lại: Khi diễn ra chiến dịch Linebacker-II, Bộ chính trị đã nhận định và đánh giá về khả năng bắn hạ pháo đài bay B-52 của quân và dân ta. Câu hỏi được đặt ra là “Chúng ta bắn rơi bao nhiêu B-52 thì Mỹ buộc phải chấm dứt chiến dịch?” Con số được dự tính toán là khoảng 5% tức khoảng 8-9 chiếc trong tổng số B-52 được điều động. Nhưng thực tế, chúng ta đã bắn rơi tới 34 B-52, chiếm đến 17% tổng số B-52 tham chiến. Điều đó khiến Mỹ buộc phải chấm dứt chiến dịch.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, bộ đội Không quân đã bắn hạ được 7 máy bay trong đó có 2 chiếc B-52 góp phần cùng toàn quân, toàn dân lập nên kỳ tích chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy địa cầu, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris rút quân về nước.

Đại tá phi công Nguyễn văn Nghĩa sinh ngày 3/5/1946 tại Quảng Ngãi.

Ngày 1/7/1965, ông trúng tuyển phi công tiêm kích. Từ tháng 9/1956-4/1968, ông học lái MiG-21 tại Liên Xô.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước nhận nhiệm vụ tại đại đội 2 Trung đoàn tiêm kích 921 đoàn Sao Đỏ.

Từ năm 1973-1975 ông là phi đội trưởng các phi đội 3, 9, 11 Trung đoàn tiêm kích 927, đoàn Lam Sơn.

Ông là phi công Việt Nam đầu tiên lái máy bay MiG-21 số hiệu 5033 hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng vào năm 1975.

Ông cũng là phi công Bắc Việt Nam đầu tiên cất cánh trên tiêm kích F-5 của Mỹ thu được sau chiến tranh, sau đó ông đã huấn luyện cho một số phi công khác sử dụng máy bay F-5 tham gia trong chiến dịch biên giới Tây Nam.

Từ năm 198,2 ông chuyển lên làm cán bộ Sư đoàn Không quân 370 với cương vị bí thư Đảng ủy. Từ năm 1992 ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Hàng Không Việt Nam, ông là người có công lớn trong việc xây dựng Học viện hàng không Việt Nam và cũng là giám đốc đầu tiên của học viện.

Từ tháng 4/2007, ông nghỉ hưu. Tháng 8/2007, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Câu lạc bộ Hàng không Việt Nam cho đến nay.

Quốc Việt
baodatviet.vn