Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chương trình phát thanh đặc biệt 40 năm Hiệp định Paris

(VOV) -Chương trình được thực hiện từ 7h– 13h ngày 27/1 trên trên Hệ VOV1 và phát trực tuyến trên VOV.VN.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, Đài TNVN sẽ thực hiện Chương trình phát thanh đặc biệt “Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam”. Chương trình được chia làm ba phần: Phần I, từ 7h-9h với chủ đề: “Con đường dẫn tới hòa đàm”. Phần II, từ 9h-11h là “Đấu trí trên bàn đàm phán” và Phần III, từ 11h-13h có chủ đề “Bài học đối thoại, hòa bình và hòa hợp”.

Nội dung xuyên suốt chương trình sẽ cung cấp cho khán thính giả hiểu rõ về ý nghĩa của sự kiện 40 năm ký kết Hiệp định Paris, mốc son trong hoạt động ngoại giao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta; bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh ngoại giao của dân tộc Việt nam.

Ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Phần I của chương trình sẽ cung cấp tới khán thính giải nguyên nhân dẫn tới cuộc đàm phán hóa bình Paris; Nghệ thuật “Đánh và đàm”, và sự kết hợp giữa các mặt trận Quân sự, chính trị, ngoại giao.

Trong phần I, các khách mời là GS, NGND Vũ Dương Ninh, nguyên Trưởng khoa Quốc tế học, Đại học KHXH&NV, nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế và Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, chuyên gia nghiên cứu về lịch sử quân sự Việt nam sẽ phân tích, nêu rõ ý nghĩa , hoàn cảnh lịch sử của Hiệp định Paris, tác động của Hiệp định Paris với đại thắng mùa xuân năm 1975, sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt nam.

Trong phần này, khán thính giả cũng sẽ được nghe những bài viết về những bài học đánh giặc ngoại xâm từ thời Vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi; nghệ thuật binh vận, bước nối dài từ Hội nghị Fontainebleau; hội nghị Đà Lạt…cho tới Hiệp định Geneve, và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh… để khẳng định: dân tộc ta biết cách tìm lối ra  hòa bình cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Khán thính giả cũng có thể đặt câu hỏi cho khách mời đồng hành cùng chương trình. Cùng với đó là Ký sự truyền thanh: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn miền Nam; Phóng sự Hình thành Mặt trận quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt nam.

Trong phần này, cầu phát thanh trực tiếp cũng được nối với Cơ quan thường trú Đài TNVN tại Washington (Mỹ) sẽ cung cấp thêm thông tin về sự sửng sốt, hoang mang của dư luận Mỹ đối với sự kiện Tết Mậu Thân 1968.

Trong phần II của chương trình, nhà ngoại giao Phan Doãn Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên chuyên viên vụ I, Chuyên viên Đoàn; Nhà ngoại giao Phạm Ngạc, nguyên Đại sứ, nguyên chuyên viên đoàn đàm phán cũng sẽ kể những câu chuyện trong thời gian diễn ra cuộc đấu trí trên bàn đàm phán; bối cảnh trước cuộc đàm phán lịch sử tại Paris.

Trong phần này, sự kiện Mỹ lật lọng tiến hành đánh bom rải thảm B52 tháng 12/1972 cũng sẽ được phản ánh đậm nét trong Ký sự Chiến thắng lịch sử 12 ngày đêm đánh thắng B52.

Ngoài ra, các khách mời cũng sẽ phân tích về tác động của sự kiện lịch sử ký Hiệp định Paris với việc buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại thủ đô Paris (Pháp), nhằm rút lui trong danh dự; Thế của ta khi bước vào đàm phán thực chất; Sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của dư luận quốc tế đối với ta; Bối cảnh chính trị Mỹ khiến Tổng thống Nixon phải xuống thang.

Trong phần này, Cầu phát thanh trực tiếp với Cơ quan thường trú ĐTNVN tại Paris (Pháp) sẽ phản ánh đậm nét về giai đoạn đầu đàm phán, không khí của dư luận Pháp, dư luận quốc tế trước hội nghị Paris; những câu chuyện của các nhân chứng kiều bào kể lại về sự kiện lịch sử này.

Ngoài ra, cuộc phỏng vấn học giả Pháp về cuộc đấu trí trên bàn đàm phán cũng sẽ được cung cấp tới độc giả. Cùng với đó là phóng sự Kỷ niệm trên bàn đàm phán

Trong phần III “Bài học đối thoại“, các khách mời đồng hành cùng chương trình sẽ là ông Lưu Văn Lợi- nhà ngoại giao, nhân chứng lịch sử, cố vấn của ông Lê Đức Thọ tham gia đàm phán Hiệp định Paris; ông Vũ Dương Huân, nhà ngoại giao, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Các khách mời sẽ chia sẻ về ý nghĩa lịch sử Hiệp định Paris; Khán thính giả có thể đặt câu hỏi trực tiếp đối với các vị khách mời.

Cũng trong phần này, những bài bình luận, cuộc phỏng vấn học giả Nga về hiệp định Paris, cầu phát thanh trực tiếp với cơ quan thường trú Đài TNVN tại Mỹ về bác bỏ cái nhìn của phía Mỹ về kết quả Hiệp định Paris cũng sẽ góp phần làm rõ thêm nhiều góc độ xung quanh Hiệp định Paris.

Những khách mời cũng sẽ phân tích thất bại của Mỹ trong đàm phán Hiệp định Paris 1973. Chương trình đặc biệt cũng sẽ giới thiệu phóng sự Hồi ký Lê Đức Thọ-Kissinger về Hiệp định Paris, cuộc đàm phán 4 năm 9 tháng vượt qua không gian và thời gian.

Ngoài ra, học giả quốc tế cũng sẽ phân tích làm rõ tại sao Hiệp định Paris tạo tiền đề cho Đại thắng Mùa Xuân 1975.

Kết thúc chương trình là những bài viết về tư tưởng ngoại giao hòa bình Hồ Chí Minh, khẳng định: Một khi “Thế đặng chẳng đừng“, phải bước vào cuộc chiến tranh chống xâm lược, thì sẵn sàng chủ động đấu tranh ngoại giao… để hỗ trợ đấu tranh nỗ lực.

Mời quý khán thính giả đón nghe./.

Ngọc Thành/VOV online
vov.vn

Dâng trống đồng vào khu lưu niệm Bác Hồ ở Lào

Liên chi Hội Di sản văn hoá Việt Nam – Lam Kinh Thanh Hóa cùng Cục Hợp tác quốc tế, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào vừa tổ chức lễ dâng tặng trống đồng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn,Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào).

Khu Lưu niệm Bác Hồ do Đảng và Nhà nước, nhân dân Lào phối hợp cùng Đảng và Nhà nước, nhân dân Việt Nam xây dựng trên khu đất rộng 1.500m2 tại làng Xiêng Vang, nơi cách đây 74 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu nước đã lưu lại ở đây trong 2 năm (1928-1929) để hoạt động cách mạng.

dang
Các nghệ sĩ đến từ Việt Nam mang lời ca tiếng hát đến với kiều bào Việt Nam tại Lào.

Toàn bộ đất xây dựng Khu Lưu niệm do 13 gia đình kiều bào Việt Nam sinh sống tại làng Xiêng Vang hiến tặng. Công trình thi công từ năm 2010 và được khánh thành vào ngày 7/12/2012 nhân kỷ niệm “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào 2012”, chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Lào.

Chiếc trống đồng dâng tặng được mô phỏng theo trống đồng Ngọc Lũ, đường kính mặt 79cm, cao 69cm. Trên thân trống khắc họa một số hình ảnh tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kay Sỏn Phôm Vi Hẳn, khắc họa hai câu thơ nổi tiếng của Bác Hồ: “Việt – Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long; khắc họa Bản Di chúc của Bác. Trống do nghệ nhân Nguyễn Minh Tuấn và các cộng sự đúc theo ý tưởng của ông Hồ Quan Sơn – Chủ tịch Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam Kinh.

Trống đồng được dâng tặng hôm nay là một trong những biểu tượng trong mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt này. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào.

dang2
Chiếc trống đồng được dâng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn, CHDCND Lào).

dang3Ông Hồ Quang Sơn Chủ tịch Liên chi Hội Di dản văn hoá Lam Kinh
trao tặng biểu tượng Thành nhà Hồ cho Trung tâm văn hoá Việt Nam tại Lào.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Sổm Nức Sổm Chăn – Phó Bí thư Tỉnh ủy Khăm Muộn nói: “Năm nay, tỉnh Khăm Muộn đã khánh thành Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, chúng tôi được Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam kinh tặng trống đồng dâng vào Khu Lưu niệm Bác Hồ, thực sự rất ý nghĩa. Đây là sự thể hiện tấm lòng của các đồng chí đối với chúng tôi trong vấn đề gìn giữ và phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Lào – Việt. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào. Chúng tôi xin hứa với nhân dân toàn tỉnh Khăm Muộn sẽ gìn giữ tốt nhất Khu Lưu niệm cũng như chiếc trống đồng biểu tượng nền văn hóa Việt Nam. Chúng tôi sẽ phát huy tác dụng, giáo dục các thế hệ nhân dân tỉnh Khăm Muộn cũng như nhân dân các bộ tộc Lào lúc nào cũng phải gìn giữ mối tình đoàn kết Lào – Việt mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững…”.

Theo Duy Tuyên
dantri.com.vn

Khoảng trời riêng của phi đội ngày ấy

QĐND-Tôi hơi ngạc nhiên khi được Đại tá Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Nghĩa mời lên căn phòng riêng của vợ chồng ông. Thông thường, ở không gian riêng tư như vậy, người ta hay trưng bày các hình ảnh lãng mạn của vợ chồng, con cái… Nhưng ở đây, nó giống như một “bảo tàng” nhỏ về truyền thống của bộ đội không quân, trong đó có nhiều hình ảnh, hiện vật quý giá về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mà ông là một người anh hùng, có đóng góp xứng đáng vào chiến công chung. Ký ức của 12 ngày đêm oanh liệt trên bầu trời Hà Nội 40 năm trước đã trở thành một phần máu thịt của cuộc đời ông. Ngày ấy, Nguyễn Văn Nghĩa là một Phi đội trưởng thuộc Trung đoàn 927 Không quân, trực tiếp bắn rơi tại chỗ một máy bay F4 của Mỹ. Với ông, đó không chỉ là những chiến công hiển hách, ghi tên ông vào danh sách những người anh hùng của lực lượng không quân Việt Nam ngay sau chiến dịch kết thúc, mà còn là khoảng ký ức thấm đẫm nghĩa tình đồng đội, là nhịp cầu duyên cho những mối tình cảm động. “Mình được trở về, được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc, trong lúc nhiều đồng đội mãi mãi nằm lại tuổi hai mươi. Mỗi năm cứ đến dịp này, vợ chồng tôi lại nhớ về những kỷ niệm ngày xưa, lòng chợt ngậm ngùi!” – Ông Nghĩa tâm sự.

Từ trong hạnh phúc…

Ngày đó, những phi công thuộc Trung đoàn 927 sau những khoảng thời gian lăn lộn trên đường băng, lướt cánh cùng những “con chim sắt” trên bầu trời để huấn luyện, chiến đấu, định kỳ các anh lại được đưa về chăm sóc sức khỏe tại Bệnh viện 108. Không gian bệnh viện trong những khoảng thời gian hiếm hoi ấy đã trở thành “ông tơ, bà nguyệt” kết nối trái tim của những chàng phi công với các nữ y sĩ, y tá, điều dưỡng viên. Bà Phan Thị Quỳnh, vợ Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa nhớ lại:

– Thời kỳ ấy ở Bệnh viện 108 có một khoa chuyên chăm sóc sức khỏe cho các anh phi công. Tôi là y sĩ của Khoa Xét nghiệm. Trong một lần lấy máu cho anh để làm xét nghiệm, tôi bắt gặp ánh mắt trìu mến của chàng phi công lịch lãm, điển trai. Các anh phi công ngày ấy ai cũng rắn rỏi, cường tráng, đẹp trai nên được các nữ y sĩ, y tá, điều dưỡng viên “chăm sóc” chu đáo lắm.

Ông Nghĩa cũng hồi tưởng:

– Nữ thầy thuốc trẻ ở bệnh viện ai cũng xinh đẹp, duyên dáng, dịu dàng, hết lòng vì bệnh nhân. Cánh phi công chúng tôi mỗi lần vào viện lại “ra về mà chẳng muốn về”…

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa trong một chuyến du lịch.

Nhiều mối tình giữa các phi công và nữ thầy thuốc trẻ đã chớm nở, nhưng trong phi đội ngày ấy, chỉ có Nguyễn Văn Nghĩa và Phan Thị Quỳnh đến được bến bờ hạnh phúc. Những đồng đội còn lại, nhiều người đã hy sinh, để lại sau lưng mình một khoảng trời riêng dang dở mà cho đến nay, dẫu đã 4 thập kỷ đi qua, vẫn còn nặng trĩu nỗi niềm…

Nguyễn Văn Nghĩa – Phan Thị Quỳnh bén duyên nhau từ năm 1969. Với phong cách lịch lãm, vốn hiểu biết sâu rộng, anh dũng trong chiến đấu… chàng phi công quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi đã khiến trái tim cô gái trẻ vừa tốt nghiệp trường y thầm nhớ, trộm thương. Nhưng rồi nhiệm vụ liên miên, họ rất ít có cơ hội gặp nhau. Ròng rã 4 năm kể từ lần gặp đầu tiên đến ngày cưới, hai người chỉ ở bên nhau được 3 lần. Còn lại, lời thương lời nhớ chỉ trao gửi qua những cánh thư. Mỗi lần có đồng đội của anh Nghĩa đến bệnh viện, cô y sĩ trẻ lại được nghe kể về những câu chuyện trong chiến đấu của người yêu. Tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng không quân của đế quốc Mỹ, phi công Nguyễn Văn Nghĩa đã cất cánh làm nhiệm vụ 100 lần, trong đó xuất kích trực tiếp chiến đấu 68 lần, có 9 lần gặp địch, 8 lần nổ súng, phóng 8 quả đạn tên lửa, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, có 5 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống 2 giặc lái và tạo điều kiện cho số 2 bắn rơi 1 chiếc máy bay F4 khác của Mỹ. Cô gái luôn tự hào về người yêu. Ngược lại, cô y sĩ trẻ chính là động lực, niềm tin tiếp sức cho chàng phi công hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Họ hẹn nhau khi chiến tranh kết thúc, hai người sẽ xây tổ ấm. Và lễ cưới của đôi uyên ương đã được tổ chức đúng vào ngày ký Hiệp định Pa-ri năm 1973. Sau này, khi Đại tá Nghĩa được phân công vào TP Hồ Chí Minh công tác, cô Quỳnh cũng chuyển vào làm cán bộ quân y của một đơn vị. Từ năm 1992 đến khi nghỉ hưu năm 2007, ông Nguyễn Văn Nghĩa chuyển ngành đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Hàng không Việt Nam, Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam. Ông bà có 2 con, một trai, một gái, hiện nay đều công tác trong ngành hàng không, trong đó cậu con trai là phi công lái máy bay dân dụng.

Đau đáu khoảng trời riêng

Nhớ lại những ngày khói lửa trên bầu trời Hà Nội, ông Nghĩa bùi ngùi:

– Các phi công trong phi đội của chúng tôi ngày ấy phần lớn là trai chưa vợ. Trong nhiều trận chiến đấu ác liệt, máy bay bị thương, nhiều đồng chí đã hành động dũng cảm, chấp nhận hy sinh để cứu máy bay, để lại những mối tình dang dở. Tôi là người may mắn được hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn nên vợ chồng thường bảo nhau, mình sống không chỉ cho riêng mình mà còn sống phần của đồng đội đã mất…

Dòng hồi ức của vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa giúp tôi hiểu thêm, tại sao trong không gian riêng tư của mình, ông bà lại trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật của ngày xưa như vậy. Trong niềm hạnh phúc riêng tư, ông bà vẫn luôn gìn giữ, trân trọng những kỷ vật, ký ức về đồng đội. Các hình ảnh, hiện vật được ông bà sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp trong một chiếc tủ kính trang trọng.

Có nhiều câu chuyện tình yêu dang dở, cảm động của những người cùng phi đội với Nguyễn Văn Nghĩa ngày ấy mà mỗi câu chuyện đều là một biểu tượng của phẩm chất anh hùng…

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa đã khóc khi kể lại cho tôi câu chuyện tình của phi công Nguyễn Sĩ Giáp với cô y sĩ tên Thắm ở Bệnh viện 108. Họ cũng bén duyên nhau từ những lần anh Giáp đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe. Tình yêu đang độ chín muồi thì trong một trận chiến đấu, máy bay của Nguyễn Sĩ Giáp điều khiển bị trúng đạn kẻ thù và cạn nhiên liệu. Chỉ huy mặt đất phát tín hiệu cho phi công nhảy dù để bảo toàn tính mạng nhưng Nguyễn Sĩ Giáp đã quyết định cho hạ cánh để cứu máy bay. Khi tiếp đất, với tốc độ cực lớn của máy bay tiêm kích, phi công Nguyễn Sĩ Giáp bị va đập gây chấn thương nặng toàn thân. Anh được chuyển ngay đến Bệnh viện 108 cấp cứu nhưng mọi nỗ lực của các y, bác sĩ đều bất thành. Anh trút hơi thở cuối cùng ngay trong vòng tay cô Thắm ở bệnh viện…

Những đồng đội trong phi đội ngày ấy (người ngoài cùng, bên phải là Phi đội trưởng Nguyễn Văn Nghĩa). Ảnh do nhân vật cung cấp.

Phi công Nguyễn Ngọc Thiên cũng vậy. Trong một trận chiến đấu vào ban đêm, máy bay của anh bị thương. Nhận được lệnh nhảy dù nhưng anh đã quyết định hạ cánh để cứu máy bay. Ngày anh hy sinh, người yêu anh khóc cạn nước mắt và quyết định để tang anh, thờ di ảnh của anh suốt đời. Ngày đi lấy chồng, cô đã kể cho chồng nghe tâm nguyện của mình. Người bạn đời của cô hết sức cảm động, trân trọng tình cảm thiêng liêng cao đẹp của cô. 40 năm qua kể từ ngày anh hy sinh, cô vẫn nhang khói thờ anh…

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa cho tôi xem tấm ảnh chụp cảnh gia đình một đồng đội ở Vĩnh Long trong ngày đón nhận hài cốt liệt sĩ hy sinh trong trận chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972. Người phi công ấy là Nguyễn Văn Lung. Thi hài của anh được đồng đội an táng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Năm 2002, Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa cùng đồng đội đã cất bốc, đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Lung về an táng tại quê nhà, thực hiện trọn vẹn lời ước nguyện cuối cùng của người mẹ già trước khi cụ nhắm mắt. Trước lúc hy sinh, phi công Nguyễn Văn Lung đã có mối tình tuyệt đẹp với một thiếu nữ xinh đẹp. Lời ước hẹn không thành, người con gái ấy đã để tang người yêu và thủ tiết để giữ trọn mối tình sắt son với anh. Về sau, cô gái ấy là một phụ nữ thành đạt, làm lãnh đạo một công ty lớn. Rất nhiều người yêu thương, theo đuổi nhưng cô không nhận lời cầu hôn của bất cứ ai. Hiện nay người con gái ấy đã ngoài sáu mươi, đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh, nhưng với bà, mối tình với người sĩ quan phi công ngày ấy vẫn thắm tươi như bông hoa hồng vừa hé nụ trước hiên nhà…

Còn nhiều câu chuyện tình cảm động của phi công trong các phi đội chiến đấu trên bầu trời Hà Nội năm ấy, nhưng vì khuôn khổ bài báo có hạn, xin hẹn bạn đọc vào một dịp khác. Trước lúc rời căn nhà riêng của vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa ở quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, tôi xin phép được chụp ảnh hai ông bà để đăng kèm bài báo, nhưng bà Quỳnh vội lấy khăn thấm khóe mắt, khẽ lắc đầu. “Tâm trạng cô thế này, cháu đừng chụp ảnh” – Bà nói nhỏ với tôi thế. Bà đã không kìm được sự xúc động khi nhắc đến những ký ức một thời khói lửa. Ở đó, phía sau những chiến công vang dội của những cánh bay, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy là một khoảng trời riêng mà nếu không kể, không viết ra, rất ít người biết tới.

Đó là khoảng trời riêng của những trái tim bất tử!

LỮ NGÀN
qdnd.vn

Những ngày quyết tử

QĐND-Tháng 12-1972, Tiểu đoàn tên lửa 77, Trung đoàn 257 được giao nhiệm vụ chốt tại trận địa Chèm bảo vệ hướng Tây-Tây Bắc của Hà Nội. Đây là hướng chủ lực vì địch dùng máy bay từ Thái Lan và các căn cứ ở Nhật Bản đánh sang đều đi theo hướng này tiến vào Hà Nội. Đại tá Đinh Thế Văn lúc đó đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 trực tiếp chỉ huy chiến đấu tại trận địa. Ông đã dùng cuốn sổ tay được tặng ngày 2-6-1969 khi đi dự Đại hội Thi đua Quyết thắng lần thứ hai của Quân chủng PK-KQ để ghi lại khoảng thời gian ông cùng đồng đội chiến đấu quyết liệt với kẻ thù trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” để bảo vệ vùng trời Hà Nội. Hơn hai mươi trang nhật ký trong 12 ngày đêm lịch sử của Thủ đô anh hùng không dàn trải nhiều cảm xúc, từng câu từng chữ trong nhật ký là diễn biến của từng ngày chiến sự mà ông trực tiếp tham gia và chứng kiến, là cuộc đấu trí và sức gay go giữa ta và địch…

Ngày 18-12: Công tác chuẩn bị đã khá đầy đủ. Trước đó trên Sư đoàn và Quân chủng đã quán triệt kỹ, các phái đoàn xuống kiểm tra trận địa liên tục. Cả tiểu đoàn đã ở trong tư thế sẵn sàng.

Trước giờ G: Tôi cùng các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn triệu tập anh em quán triệt tinh thần một lần nữa. Là những người lính phải đánh cho tốt, chuẩn bị với mọi tình huống. Đặc biệt là đánh B-52. 23 giờ 45 phút ngày 18-12: Khai hỏa.

Chúng tôi đánh được bốn trận thì ba trận nhìn rõ mục tiêu và được trên công nhận bắn rơi tại chỗ một chiếc.

Đêm 19-12 và 20-12: Chúng tôi đều đánh tốt. Đặc biệt đêm 20-12 chúng tôi đã đánh 4 trận đều nhìn rõ mục tiêu. 20 giờ 34 phút, nổ hai quả. 5 giờ 09, nổ hai quả. 7 giờ: nổ hai quả. Chúng tôi được trên công nhận có hai chiếc B-52 rơi tại chỗ.

Ngày 21-12: Kẻ địch đã dùng máy bay chiến thuật đánh vào trận địa chúng tôi. Theo chỉ thị của trên, chúng tôi giữ nguyên trận địa mặc kệ cho địch quần thảo ở trên. Không đánh ban ngày dễ lộ trận địa và để tiết kiệm dành đánh B-52.

Sáng 22-12: Vào khoảng tám, chín giờ cả tiểu đoàn chúng tôi vô cùng sung sướng và cảm động được Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống thăm. Sung sướng và cảm động vì được Đại tướng xuống động viên, an ủi, cổ vũ ngay sau khi trận địa bị tấn công. Bản thân tôi thì còn lo thêm việc bảo vệ an toàn cho Đại tướng vì trận bom bi và các loại bom địch đánh xung quanh trận địa hôm trước phát hiện chưa hết. “Các đồng chí đánh rất giỏi” – thật vinh dự cho toàn đơn vị khi được Đại tướng khen ngợi.

CCB là chỉ huy các Tiểu đoàn tên lửa: 72, 77, 57 và 93 gặp lại nhau. (Từ trái sang: Nguyễn Long Hiếu, Đinh Thế Văn, Nguyễn Văn Phiệt, Phạm Văn Chắt, Nguyễn Mạnh Hùng). Ảnh: MINH TRƯỜNG

Ngày 24-12: Địch đến ngày càng đông hơn. Hồi hộp quá. Phải đối phó với thủ đoạn phức tạp của địch, đặc biệt là thủ đoạn kỹ thuật vô tuyến điện tử mỗi lần mở máy và thu phát sóng. Nhưng rồi diễn biến càng phức tạp thì chúng tôi càng lo đến trách nhiệm. Anh em chúng tôi trong kíp chiến đấu đồng chí nào cũng tập trung nghĩ đến nhiệm vụ, trách nhiệm bảo vệ nhân dân. Tất cả những kiến thức được học, cách tìm mục tiêu chống nhiễu qua mỗi trận đối địch đều được hồi tưởng và vận dụng tốt.

Ngày 25-12: Chúng tôi đã có những tổn thất hy sinh nhất định. Chúng tôi chưa làm tròn trách nhiệm với Đảng, với nhân dân vì địch còn đánh được nhiều mục tiêu, nhân dân còn bị tổn thất nhiều.

Ngày 26-12: 22 giờ 40 phút, quả một nổ, địch gây nhiễu mờ hệ thống. Không tiêu diệt được địch, để nó chạy mất.

Ngày 27-12: Chúng tôi vẫn nói với nhau: bảo đảm chiến đấu và lập được chiến công còn có sự đóng góp to lớn của nhân dân, cơ quan và các đơn vị bạn xung quanh. Ngay những ngày đầu mở chiến dịch, trong và sau khi địch đánh, các đội tự vệ của Viện Chăn nuôi và xã Thụy Phương đều có mặt cùng chúng tôi chiến đấu và giải quyết hậu quả. Bình thường vào các buổi sáng, các cháu nhỏ mang lá ngụy trang đến trận địa để giúp chúng tôi ngụy trang trận địa che mắt địch. Nhân dân xã Thụy Phương có hẳn một trung đội do đồng chí Liên – phó chủ tịch phụ trách sửa đường, có lúc phải đưa cả giường, ván ra kê lót kéo đạn vào để chúng tôi có đạn để đánh. Nhân dân như thế sao chúng tôi không quyết tâm. Từ những ý nghĩ đó chúng tôi đã dồn sức tập trung, khôi phục sửa chữa vũ khí, khí tài nhanh chóng. Kết quả chúng tôi chỉ bị mất sức chiến đấu một đêm, còn sau đó lại bảo đảm tiếp tục chiến đấu được…

Chiến dịch 12 ngày đêm kết thúc thắng lợi, Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Sau đó, ông tiếp tục phục vụ quân đội, đến tháng 10-1989 về nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Trở về với cuộc sống đời thường, ông lại cùng với bà con quê hương khôi phục nghề rối nước truyền thống của thôn Đào Thục, Thụy Lâm, Đông Anh khi nó đang có nguy cơ mai một. Đến nay khi đã bước sang tuổi ngoài 70, trên mặt trận mới, người Tiểu đoàn trưởng năm xưa vẫn tiếp tục “xây đời” bằng tâm huyết của người lính.

VĂN PHI – BÍCH TRANG (sưu tầm và biên soạn)
qdnd.vn

Thư viết bên cánh sóng ra-đa

QĐND-Dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tuy đã nghỉ hưu nhưng Đại tá Nghiêm Đình Tích cũng bận rộn chẳng kém “người Quân chủng”. Ông bảo, ngoài thời gian tiếp phóng viên các báo, đài tới hỏi chuyện và tham gia giao lưu trên truyền hình, ông còn dành nhiều thời gian kiếm tìm, hệ thống lại những kỷ vật từng gắn với cuộc sống quân ngũ và hạnh phúc gia đình ông trong suốt những năm tháng chiến tranh.

Ông có ý định lục tìm “kho ký ức” ấy từ cách đây ít tháng, khi vợ ông – bà Đỗ Thị Tâm – vừa qua đời do lâm bệnh hiểm nghèo… Trong khoảng lặng của cuộc trò chuyện, Đại tá Nghiêm Đình Tích đưa tôi xem những lá thư thời chiến đã sờn mép và nhuốm màu thời gian. Đó là những lá thư hai vợ chồng ông viết cho nhau trong những năm 1969-1973 và vẫn được gia đình ông lưu giữ cẩn thận suốt hàng chục năm qua. Vậy là trước khi được nghe người lính ra-đa “kể tội” B-52, tôi đã cùng ông lật giở những trang thư thời chiến và hiểu thêm phần nào những tháng năm gian khổ mà ông và người bạn đời đã từng phải trải qua.

Anh nhớ thương!

Hai tháng không nhận được thư anh, nhiều lúc em lại tự hỏi: Vì sao anh không biên thư? Rồi nhiều câu hỏi luôn quẩn quanh trong óc em: Hay là anh đã…? Nhận được thư anh, em càng hiểu anh hơn, và tất cả những ý nghĩ vẩn vơ trong em bỗng tan biến, nhường chỗ cho niềm vui và lòng tin từng được thử thách, xây đắp trong suốt 7 năm qua…”. (Thư ngày 2-8-1969)

Cho tới ngày cưới (12-12-1970), Nghiêm Đình Tích cũng chỉ tranh thủ 3 ngày cùng đồng đội về Hà Nội vận chuyển khí tài để tổ chức một đám cưới đạm bạc ở quê nhà – xã Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa, Hà Tây-nay là Hà Nội), rồi sau đó lại vội vã bắt xe đơn vị cơ động vào chiến trường Khu 4.

Đã là cái Tết thứ hai anh không được đón xuân ở quê hương, phải xa nhà, xa gia đình, xa em yêu với nỗi nhớ nhung vô hạn. Nỗi nhớ nhung chỉ có những cặp vợ chồng mới cưới, phải xa nhau mới có thể cảm thông. Song cái vui của mùa xuân, của đất nước, của đơn vị đã làm cho niềm vui tâm hồn anh lớn lên và đã gần như choán hết cả tư duy và hành động của anh. Trong anh chỉ còn lại niềm khao khát tin vui đón Tết ở gia đình mình. Không biết năm nay em có được nghỉ và về quê ăn Tết không, tình hình đón Tết ở nhà ra sao?…”. (Thư ngày 27-1-1971)

Cựu chiến binh Nghiêm Đình Tích. Ảnh: QUANG HUY.

Nghiêm Đình Tích còn nhớ như in buổi chiều rét ngọt ngày 6-2-1971, đó là ngày chàng lính trẻ nhận được thư của người vợ mới cưới:

Nhận được thư em trong lúc xuân mới vừa đến và đang lặng lẽ trôi đi, đúng lúc anh đang ngóng chờ một tình cảm rất mới, rất đặc biệt, tình cảm của một cặp vợ chồng trẻ vừa mới cưới đã phải xa nhau và chưa rõ ngày gặp lại. Từng câu, từng chữ hiện lên rõ ràng, thân yêu trên mặt giấy như lời tâm sự, động viên, nhắn nhủ anh. Nhận được thư của Tâm, anh cảm thấy hình như chẳng còn rét nữa, tình cảm trong lá thư đã thực sự sưởi ấm tâm hồn anh…”. (Thư ngày 6-2-1971)

Trong khi ấy, đang công tác ở Ủy ban thống nhất Trung ương tại Hà Nội, người vợ trẻ Đỗ Thị Tâm luôn lo lắng cho sức khỏe và nhiệm vụ của chồng:

Anh thương nhớ của em!

Anh vẫn khỏe chứ, công tác chiến đấu ra sao, có bắt được nhiều mục tiêu không hay lại để bọn chúng “lọt lưới” hết rồi? Em luôn mong chờ tin chiến thắng của anh đấy. Ở nhà thầy, u và gia đình nhắc đến anh luôn, sao dịp Tết vừa qua anh không biên thư về nhà, để u cứ lo anh làm sao…”. (Thư ngày 30-3-1972)

Đại tá Nghiêm Đình Tích kể rằng, do chiến tranh mà có thời điểm 6 tháng liền ông không nhận được một lá thư của vợ, trong khi ở nhà “bà xã” vẫn thường xuyên gửi thư vào chiến trường và thư nào cũng thấy trách “sao em chẳng nhận được thư anh”, để rồi người lính ở tiền tuyến phải động viên, giải thích với người ở hậu phương: “Trong thư, em trách anh nhiều về việc em không nhận được thư anh, song tính đến nay đã hơn 6 tháng rồi, không có một lá thư nào của em đến với anh, trong khi địa chỉ vẫn không có gì thay đổi. Anh vẫn thường xuyên biên thư cho em, mặc dù điều kiện công tác của anh có bận rộn hơn trước. Đâu ngờ chúng ta lại không nhận được thư của nhau, để cho em buồn, thậm chí lại còn ngờ vực anh!”.

Bên cánh sóng ra-đa, Nghiêm Đình Tích đã có dịp trải lòng với những tâm sự lạc quan, tươi trẻ. Trong một lá thư gửi vợ, chàng lính trẻ đã tếu táo coi mình là “mục tiêu” nhỏ bé mà bom Mỹ không dễ dàng sát hại. Lá thư đề ngày 12-12-1972 và khi tới tay người nhận, đơn vị của Nghiêm Đình Tích cũng như quân, dân Thủ đô đã trải qua 12 ngày đêm chống chọi với cuộc tập kích đường không của B-52 Mỹ.

Em thương yêu của anh!

Hiện nay anh vẫn khỏe, sinh hoạt và công tác bình thường. Thời kỳ vừa qua địch đánh phá có phần ác liệt, ở ngoài ấy nghe đài hoặc nghe tin đồn kể ra cũng nóng ruột đấy, nhưng thực ra vẫn chưa ác liệt lắm đâu, mặc dù chúng có nhiều đợt B-52 đánh phá. Chỗ bọn anh nhiều lần nhìn thấy B-52, nhiều lần nghe rõ tiếng bom B-52 với âm độ khác nhau, và cũng có lần được “thưởng thức” tiếng bom B-52 cách đỉnh đầu hàng trăm mét, nổ cách chỗ ở 500-600m. Các loại máy bay khác cũng hoạt động mạnh cả ngày lẫn đêm quanh khu ở, có lần chúng bắn tên lửa vào khu công tác, song bọn anh đã khá quen với cuộc sống như vậy rồi.

Em đừng lo cho anh nhé, bởi vì các anh đã có “mắt thần”, dĩ nhiên hầu hết những lần như vậy bọn anh đều biết và làm việc bình thường. Hầm hố ở đây cũng đầy đủ và khá chắc chắn. Hơn nữa em nên nhớ rằng “Nó thấy mà chưa chắc đã đánh được, đánh chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã chết” và “mục tiêu” như anh lại vô cùng nhỏ bé. Yên tâm em nhé, đừng quá lo về anh mà già đi đấy!…”. (Thư ngày 12-12-1972)

Những lá thư thời chiến của vợ chồng CCB Nghiêm Đình Tích.

Sau dòng hồi ức gắn với những lá thư kỷ vật, Đại tá Nghiêm Đình Tích đã kể về công việc của những người lính ra-đa Đại đội 45, Trung đoàn 291 trong những ngày cuối tháng 12-1972. Có mặt tại trận địa ra-đa Đồi Si (Đô Lương, Nghệ An) năm ấy, ông đã từng “nóng ran người” khi trực tiếp phát hiện ra “đường bay lạ” của địch.

Khoảng 19 giờ ngày 18-12-1972, Đại đội 45 được lệnh mở máy, mấy phút sau Nghiêm Đình Tích và hai trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích đã thấy những dải nhiễu B-52 ở đúng tọa độ mà trắc thủ máy đo cao Tô Trọng Huy đã thông báo. Mọi người trong kíp vẫn bình tĩnh vì họ đã quá quen với những tốp B-52 cất cánh từ căn cứ U-ta-pao vào đánh phá các mục tiêu ở Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng trên đất Lào. Trước đó, Nghiêm Đình Tích và đồng đội đã có hơn 3 năm rời Hà Nội vào bám trụ, lăn lộn ở chiến trường Khu 4, vì thế trong buổi tối 18-12, các anh đã phát hiện ra sự “bất thường” của không quân địch: B-52 đã đến phương vị 300 độ mà chưa đổi hướng. “Thường thì cứ đến các phương vị 270, 280 và 290 độ là chúng rẽ trái, tiến vào đất Lào, nhưng lần này nó bay qua phương vị 300. Người tôi nóng ran, vậy là chỉ còn mỗi đường là nó bay vào miền Bắc”, Đại tá Nghiêm Đình Tích nhớ lại.

Trong khoảng thời gian tính bằng giây quan sát trên màn hiện sóng, các trắc thủ của Đại đội 45 đã coi “Phương vị 300” như một ngã ba đường, và họ đã nhận ra lối rẽ của lũ giặc trời. Khi báo cáo lên trên, cả Đại đội và Trung đoàn đều hỏi lại: “Có đúng B-52 không?”, thậm chí khi Trung đoàn báo về Sở chỉ huy trung tâm, chính Tham mưu phó Binh chủng Hứa Mạnh Tài còn lặp lại câu hỏi ấy tới hai lần.

Có sự thận trọng trước khi báo cáo cấp trên là do trước đây đã từng xảy ra chuyện hoang báo tin B-52, sự thận trọng ấy đã làm cho tôi và hai trắc thủ: Xích, Cầu – những người con Hà Nội – thêm lo lắng, sốt ruột khi nghĩ tới người thân ở hậu phương. Lúc ấy, tôi chỉ muốn hét thật to cho cả nước cùng nghe: B-52 đang bay vào Hà Nội”, Đại tá Nghiêm Đình Tích kể lại, giọng xúc động.

19 giờ ngày 18-12-1972, tại trận địa ra-đa ở Đồi Si (Đô Lương, Nghệ An), Đại đội 45 (Trung đoàn Ra-đa 291) đã phát hiện một đường bay lạ của B-52 Mỹ. Ngay lập tức, thông tin “B-52 đang hướng vào Hà Nội” được báo cáo lên trên. Ít phút sau, từ Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân, mệnh lệnh báo động B-52 toàn miền Bắc được phát ra. Do lập công đầu trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, tập thể Đại đội 45, Trung đoàn 291 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân; Đài trưởng ra-đa Nghiêm Đình Tích được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì. S.T.

BÙI VŨ MINH
qdnd.vn

Khâm Thiên tiếng gọi nhớ đời…

QĐND-Khoảng năm 1994, một cựu binh Mỹ đến xin gặp tôi, với mảnh giấy giới thiệu của ngành ngoại giao ta: “Ông James G. Zumwalt (Giêm), nguyên Trung tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, đã từng tham chiến ở Việt Nam – nay là luật sư, và là nhà văn, muốn tìm hiểu tư liệu để viết một cuốn sách về thời kỳ Mỹ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”.

Tôi nói với Giêm: “Nếu ông làm được chuyện đó để giúp nhân dân Mỹ hiểu Việt Nam, thì tôi sẵn sàng giúp ông với tất cả hiểu biết và khả năng của mình”.

Giêm tỏ vẻ vui mừng. Suốt ba giờ liền ông ta ngồi hỏi, tôi trả lời. Với cuốn sổ tay và cây bút, Giêm ghi chép liên tục. Hỏi đủ thứ chuyện thời tôi là bộ đội đánh Pháp, đến thời đánh Mỹ, tôi trở thành nhà báo, nhà văn sống ở vùng đất lửa Quảng Bình – Vĩnh Linh… Giêm chăm chú lắng nghe với vẻ mặt xúc động, ngạc nhiên. Ông ta hỏi tôi có biết địa điểm Khâm Thiên ở Hà Nội không?

Cấp cứu người bị thương ở phố Khâm Thiên. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

Tôi kể cho Giêm nghe Khâm Thiên là một khu phố đông đúc của thủ đô Hà Nội. Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam cũng ở gần đấy. Nơi đó có ngõ Văn Chương, có một nhà thơ nữ tên là Anh Thơ mà chúng tôi quý mến như người chị. Đến ngày Chủ nhật chị thường hay làm bún chả, gọi chúng tôi đến ăn. Khâm Thiên đầy ắp trong tôi những câu chuyện tình lãng mạn và những giọng hát “ả đào” mà nhà văn Nguyễn Tuân thường kể lại cho chúng tôi nghe.

Giêm lại hỏi: “12 ngày đêm Hoa Kỳ sử dụng pháo đài bay B-52 ném bom Hà Nội, ông có mặt ở Hà Nội không?”. Tôi cho Giêm biết suốt từ ngày 18 đến 29-12-1972, tôi không chỉ có mặt ở Hà Nội, chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc ném bom vào Thủ đô mà còn có mặt ở phố Khâm Thiên lúc Mỹ trút bom xuống đó.

Giọng Giêm trở nên dè dặt đầy vẻ rụt rè hỏi:

– Có thật Hoa Kỳ đã ném bom vào khu dân cư ở Khâm Thiên hay không?

Tôi nói cho Giêm biết cái đêm 26-12 ấy, Mỹ không chỉ dùng B-52 rải bom hủy diệt phố Khâm Thiên phá hủy 2000 ngôi nhà, giết hại và làm bị thương 473 ông bà già, phụ nữ và trẻ em, mà còn rải bom xuống Bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư Nghĩa Đô, An Dương và nhiều nơi khác ở Hà Nội, giết hại rất nhiều dân thường.

Thấy vẻ mặt hoài nghi của Giêm vì ông cho rằng, không lực Mỹ hiện đại nhất thế giới không thể đánh trật các mục tiêu là căn cứ quân sự của đối phương, khu dân cư ở Khâm Thiên bị bom chẳng qua là sự sai lạc chút ít trong kỹ thuật của phi công… Tôi nói: “Khi ra Hà Nội, ông nên đến Khâm Thiên để tìm hiểu cụ thể sự thật”…

Cuối buổi gặp, Giêm vẫn năn nỉ xin tôi cho ông ta biết những ý nghĩ và ấn tượng của tôi về Khâm Thiên hồi Hà Nội bị đánh bom. Tôi ngồi nhìn dáng người Giêm cao lớn nhưng có gương mặt hiền lành, chân thật. Mắt ông ta nhìn đầy vẻ cam chịu và ẩn chứa một nỗi đau nào đó làm tôi động lòng thương hại. Tôi kể cho ông ta nghe về cái đêm Khâm Thiên năm ấy…

Toàn bộ 6 khối phố Khâm Thiên hầu như bị xóa sạch trong đêm 26-12-1972. Bom Mỹ đã giết 287 người, trong đó có 40 cụ già và 55 em nhỏ. Nhiều gia đình không còn ai sống sót. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

… Sau một đợt đi công tác ở mặt trận B5 ở miền Nam, tôi được Hội Nhà văn gọi ra Hà Nội ngồi viết sách. Viết chưa xong cuốn sách thì Ních-xơn trì hoãn và lật lọng ở Hội nghị Pa-ri, trở lại ném bom miền Bắc. Ở Vĩnh Linh – Quảng Bình bắt đầu bị Mỹ dùng máy bay B-52 ném bom hủy diệt. Ở Hà Nội cũng đang sơ tán. Trại sáng tác ngưng hoạt động, các nhà văn miền Nam trở lại chiến trường. Tôi đang chuẩn bị tìm xe trở về Quảng Bình thì vợ tôi đem hai con nhỏ ra Hà Nội giao cho tôi rồi quay trở lại bám trụ vùng đất lửa để dạy học. Được đồng nghiệp giúp đỡ, tôi mang hai con về sống tạm tại căn hộ của nhà văn Hoàng Lại Giang ở 52 Trần Nhân Tông. Bước vào tháng 12-1972, cả Hà Nội sơ tán chuẩn bị chiến đấu. Giang vác tất cả các thùng sách chất lên cái bàn viết và xếp quanh bàn làm cho bố con tôi cái hầm trú ẩn phòng máy bay oanh tạc. Cả khu phố Trần Nhân Tông đi sơ tán hết. Bạn bè ở Hội Nhà văn và các nhà xuất bản giúp bố con tôi tiền bạc và thực phẩm để tạm sống ở Hà Nội chờ xin xe quân sự để trở về Quảng Bình. Những ngày đó, tôi ngồi xem lại và sửa chữa những trang viết. Ngọc Lan, con gái tôi tám tuổi chơi quanh quẩn bên căn hầm sách với em gái Thúy Vinh hai tuổi. Hễ nghe còi báo động rú lên là Lan bế em chui vào cái hầm sách gầm bàn. Còn tôi ra hào giao thông trước nhà để xem các cô cậu tự vệ bắn máy bay Mỹ bay tầm thấp bằng súng trường.

Những ngày đó, Hà Nội thực sự là một mặt trận. Tiếng còi báo động rú lên cùng với tiếng loa phóng thanh hướng dẫn ẩn nấp và chỉ huy chiến đấu khi máy bay Mỹ bay đến. Bắt đầu từ đêm 18-12, hàng đợt máy bay B-52 Mỹ đến ném bom Hà Nội. Tiếng bom rung chuyển mặt đất. Bầu trời rực sáng những đường bay của tên lửa và đạn cao xạ của bộ đội phòng không. Chốc chốc thấy B-52 bị trúng đạn bùng lên những khối lửa nổ tung và rơi lả tả giữa trời đêm. Vài đêm sau, Mỹ đánh sập nhà ga Hàng Cỏ và chúng đang nhằm vào các đê đập và các cây cầu. Người Hà Nội vẫn bình tĩnh làm việc và chiến đấu. Tôi nhớ mãi ngày thứ chín, B-52 Mỹ đánh dữ dội vào Hà Nội nhằm vào đúng sau đêm Giáng sinh. Ngoài trời mưa phùn gió bấc, rét căm căm. Tôi lấy thêm chăn đắp cho con, ngồi lo lắng nghe tiếng máy bay gầm rú và bom đạn vang rền rất gần chỗ tôi. Nửa đêm nghe tiếng chân người chạy và tiếng loa gọi hướng vào nhà: “Khâm Thiên bị bom bà con ơi! Nhanh lên đi cứu Khâm Thiên đồng bào ơi!”. Tôi dặn Lan: “Ở trong hầm trông em để ba đi cứu người”. Từ chỗ tôi qua phố Khâm Thiên chỉ mấy trăm mét đường. Phố Khâm Thiên như một bãi đất đá ngổn ngang đầy người đào bới các dãy nhà và hầm hố bị sập để cứu người bị thương và kéo người chết ra xếp đầy bên đường phố. Tôi cùng một số nhà văn, nhà báo có mặt cùng mọi người lao vào đào bới. Nữ diễn viên điện ảnh Mỹ Giên Phôn-đa vừa lau nước mắt, vừa đưa máy lên ghi hình ảnh đau thương…

Nghe tôi kể đến đó, Giêm vội hỏi: “Bây giờ hai cô gái con ông đang ở đâu?”.

– Một đứa đang dạy ở Trường Đại học Văn hóa, một đứa đang dạy đàn dương cầm ở Nhạc viện TP Hồ Chí Minh

gần đây…

Tháng 5-2010, bạn tôi ở Washington D.C. gửi cho tôi cuốn sách “Chân trần chí thép” của Giêm vừa xuất bản ở Mỹ. Cuốn sách đã làm xôn xao dư luận Mỹ và gây không ít phản ứng của các thế lực cầm quyền. Cuốn sách đã phần nào giúp dân chúng Mỹ bước đầu hiểu rõ ý chí gang thép của người Việt Nam. Ý chí đó với đôi chân trần đã vượt qua tất cả để làm nên một Điện Biên Phủ dưới mặt đất, tống cổ thực dân Pháp ra khỏi Việt Nam. Và cũng với ý chí gang thép đó, Việt Nam lập nên một chiến công huyền thoại Điện Biên Phủ trên bầu trời đánh bại thần tượng pháo đài bay B-52, góp phần quan trọng giành lại hòa bình cho nhân dân và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước Việt Nam.

Có một điều tôi chưa bằng lòng với cuốn sách là ông ta trích nhiều đoạn nhật ký của tôi nhưng thật sự chưa hiểu hết sự diễn đạt của tôi, cũng như ông ta né tránh kể lại chuyện con gái tôi phải bò trong đám xác người đẫm máu để đi tìm bố. Tuy vậy, ông ta đã phải thừa nhận không lực Hoa Kỳ ném bom vào dân thường ở Khâm Thiên, mặc dầu vẫn dùng cụm từ: “tổn thương bên lề và hệ quả không may trong chiến tranh”(!?)

Cho đến bây giờ, hai tiếng Khâm Thiên là tiếng gọi đau thương để lại ấn tượng nặng nề trong lòng tôi.

Trong cuộc tập kích đường không chiến lược tháng 12-1972, Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B-52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném hơn 100.000 tấn bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác, phá hủy nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. ST.

Nhà văn TRẦN CÔNG TẤN
qdnd.vn

“Cẩm nang bìa đỏ” cuốn sách nhỏ, chiến công lớn

QĐND-Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, Quân chủng Phòng không-Không quân có một thứ “bảo bối” rất quan trọng, hỗ trợ tác chiến góp phần tạo nên chiến thắng. Đó là cuốn “Cách đánh B-52 của Bộ đội tên lửa” hay còn gọi là “Cẩm nang bìa đỏ”.

Cuốn sách dày 30 trang đánh máy, in rô-nê-ô trên những tờ giấy giang đen sạm, thô sơ với một tờ bìa màu đỏ bọc ngoài. Hình thức tuy đơn giản nhưng nó là một công trình khoa học tập thể, là kết tinh một quá trình chiến đấu của nhiều đơn vị trong nhiều năm chiến đấu với B-52 và các thủ đoạn của không quân Mỹ để chuẩn bị cho trận đánh lớn với “pháo đài bay B-52” trên bầu trời Thủ đô.

“Hội nghị tháng 10” và một “Gánh hát rong”

Trong suốt nhiều năm trước khi Mỹ sử dụng B-52 không kích Hà Nội, đồng thời với công tác chiến đấu, việc nghiên cứu cách “đối phó” với “pháo đài bay” của Mỹ được bộ phận tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng không-Không quân làm việc liên tục và chi tiết. Những đoàn cán bộ giỏi, lặn lội vào các chiến trường ác liệt nhất: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, đường Trường Sơn, đến với các trận địa ra-đa, tên lửa, vào buồng máy ngồi cạnh các trắc thủ, sĩ quan điều khiển để cùng nghiên cứu trên “thực địa”. Mỗi lần đối đầu với B-52 dù thành công hay không đều được phổ biến ngay cho các đơn vị phòng không, không quân toàn miền Bắc vận dụng. Đồng thời, tất cả những điều rút ra từ thực tế chiến trường về cách đánh máy bay các loại của địch được phân tích, tổng kết, viết thành tài liệu.

Đại tá Nguyễn Xuân Minh trao đổi với phóng viên về cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” mà ông từng tham gia biên soạn và trực tiếp xuống đơn vị luyện tập. Ảnh: Tuấn Tú.

Đến đầu năm 1972, những sĩ quan có trình độ kỹ-chiến thuật giỏi, dày dạn trong chiến đấu như: Nguyễn Sinh Huy, Tô Ngội, La Văn Sàng, Vũ Lai Trường, Nguyễn Xuân Minh, Quách Hải Lượng, Trần Xanh, Hoàng Bảo… được yêu cầu phải gấp rút hoàn chỉnh tài liệu về cách đánh B-52 cho bộ đội tên lửa. Đại tá Nguyễn Xuân Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Phòng không-Không quân kể: “Cuối tháng 10-1972, Tư lệnh Lê Văn Tri sau khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thông báo tình hình hết sức khẩn trương, phải gác lại mọi vấn đề để tập trung vào nghiên cứu và thống nhất cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa. Lúc này nội dung cách đánh B-52 đã được nhóm nghiên cứu chúng tôi tổng hợp thành tập tài liệu”.

Ngày 31-10-1972, tập tài liệu đã được đưa ra bàn bạc kỹ lưỡng tại một hội nghị hết sức quan trọng (sau này gọi là Hội nghị tháng 10). Đại tá Nguyễn Xuân Minh là người đại diện cho nhóm tác giả đọc báo cáo trung tâm. Dự hội nghị hôm đó, ngoài các cán bộ cấp quân chủng, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và các cơ quan còn có nhiều trắc thủ, sĩ quan điều khiển thuộc các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực. Với kinh nghiệm chiến đấu thực tiễn, họ đã có nhiều ý kiến bổ sung hết sức quý báu. Hội nghị tháng 10 thống nhất cách đánh B-52 cho bộ đội tên lửa và lập tức được đưa đi in thành sách để phổ biến xuống đơn vị. Vậy là kể từ tháng 11-1972, cẩm nang Cách đánh B-52 của Bộ đội tên lửa đã hoàn chỉnh và chính thức phổ biến đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu, tập luyện phương án đánh B-52.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng tiếp theo là tổ chức cho bộ đội luyện tập theo phương án đã được thông qua, tiếp tục theo dõi âm mưu địch, phát động quần chúng tìm cách đánh địch tốt hơn, trên cơ sở đó bổ sung cho phương án ngày càng hoàn chỉnh. Một “gánh hát rong” xuất hiện. Đó không phải đoàn văn công hay những đội văn nghệ quần chúng đi ca hát phục vụ mà là các đội huấn luyện lưu động do Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không-Không quân và Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội thành lập. Thành viên phần lớn là các sĩ quan đã từng tham gia biên soạn cuốn sách. Họ giống như những người thầy đến với các tiểu đoàn tên lửa ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng… để trực tiếp truyền đạt, hướng dẫn cách đánh B-52 cho các kíp chiến đấu. “Gánh hát rong” là cách gọi vui của bộ đội tên lửa dành cho đội huấn luyện vì họ di chuyển liên tục, hết đơn vị này đến đơn vị khác.

Bìa cuốn “Cách đánh B-52 của Bộ đội tên lửa” đang được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không-Không quân. Ảnh: Đặng Bích.

Chính nhờ cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” và “Gánh hát rong” mà đêm 22-11-1972, Trung đoàn tên lửa 263 ở Nghệ An đã khắc phục được nhiễu, bắn hạ một chiếc B-52, rơi ở Na-khon Pha-nom, Thái Lan. Sự kiện này buộc Mỹ phải thừa nhận B-52 của họ bị SAM2 Việt Nam bắn rơi. Đối với chúng ta, chiến công này đã khẳng định giá trị thực tiễn của cuốn sách “Cẩm nang bìa đỏ”, đồng thời khẳng định khả năng: “Tên lửa SAM2 của ta có đủ điều kiện bắn rơi tại chỗ B-52 của Mỹ”.

Cuốn sách “nhỏ”, chiến công lớn

Chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị bắn rơi bởi tên lửa SAM2 cho thấy hiệu quả khi vận dụng kỹ-chiến thuật được nêu trong sách đỏ. Bộ đội tên lửa của ta thêm tin tưởng vào khả năng đánh thắng B-52. Đại tá Nguyễn Xuân Minh sau này đã tìm và lưu giữ toàn bộ tài liệu ghi trong “Cẩm nang bìa đỏ” và trao tặng Bảo tàng Phòng không-Không quân. Hiện nay, bìa của cuốn sách đang được trưng bày tại đây. Trong cuốn sách, tập thể tác giả đã chỉ rõ để bắn trúng B-52 quan trọng nhất là tìm trong dải nhiễu tín hiệu của B-52. Khái niệm này bộ đội ta vẫn gọi là “vạch nhiễu tìm thù”. B-52 không phải là hoàn toàn vô hình, nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu một cách gián tiếp. Đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy các đám nhiễu này kích thước to nhưng không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: Bắn một loạt các quả đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được cẩm nang gọi là “phương án P”. Khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào, đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên, mục tiêu sẽ hiển thị khá rõ nét. Đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác, chỉ cần 1 đến 2 quả tên lửa, B-52 sẽ phải rơi tại chỗ. Cẩm nang gọi là phương án T. Đồng thời trong “cẩm nang” cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu.

Ông Sàng “chống nhiễu” – Đại tá La Văn Sàng, nguyên Trưởng ban Tác chiến điện tử Quân chủng Phòng không-Không quân, cũng là một thành viên của “Gánh hát rong”. Trong chiến dịch, ông cơ động ở trận địa của Tiểu đoàn 79, Trung đoàn 257 cũng khẳng định: “Bộ đội tên lửa được huấn luyện cách vạch dải nhiễu tìm B-52 ghi trong cẩm nang nên khi B-52 vào Hà Nội, yếu tố bất ngờ dùng thủ đoạn nhiễu tổng hợp bảo vệ không còn. Đồng thời, cường độ gây nhiễu của B-52 cũng đã bị phân tán. Trên nền nhiễu dù ở hướng nào, các đơn vị tên lửa đều có thể phát hiện được B-52. Vì vậy, ta đã bố trí đội hình tên lửa đánh bọc lót cho nhau, sử dụng phương pháp bắn 3 điểm và linh hoạt sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc khi thấy mục tiêu rất hiệu quả”.

Đại tá Nguyễn Xuân Minh còn nhớ trận đánh diễn ra lúc 20 giờ ngày 20-12-1972, khi ông là trợ lý của Phòng Tác huấn tên lửa quân chủng được phân công xuống Tiểu đoàn 93 theo dõi, lập ra các bài tập đã có sẵn trong giáo án để kíp chiến đấu của đơn vị tập luyện và chiến đấu với B-52: “Hôm ấy địch bay vào từ hướng Tam Đảo. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Hùng ra lệnh ngay cho sĩ quan điều khiển Hoàng Đức Vĩnh phát sóng tìm mục tiêu, khi kíp trắc thủ bám sát chính giữa vào dải nhiễu sáng nhất của máy bay B-52 thì anh ra lệnh: Phóng 2 quả, điều khiển bằng phương pháp T! Sĩ quan điều khiển Vĩnh thực hiện ngay. Hai tiếng nổ liên tiếp vang lên. Theo dõi ít lâu sau thấy 2 quả đạn vượt mục tiêu tự hủy. Giữa lúc này kíp trắc thủ báo cáo phát hiện thấy tín hiệu mục tiêu đang bay trong dải nhiễu, Tiểu đoàn trưởng thấy trường hợp này xảy ra đúng như phương án đã chuẩn bị trước. Anh ra lệnh cho sĩ quan điều khiển phóng tiếp bằng phương pháp P hai quả đạn nữa vào mục tiêu. Đạn nổ! Mục tiêu bị tiêu diệt”. Đây chính là cách đánh tiếp vào mục tiêu B-52 khi vừa đánh xong nhưng chưa tiêu diệt được, thuật ngữ quân sự gọi là “đánh bồi, đánh nhồi”.

Việc vận dụng những nội dung ghi trong “Cẩm nang bìa đỏ” cộng với sự mưu trí, quả cảm, bộ đội tên lửa Việt Nam đã thành công trong việc tìm và diệt B-52, góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, một tổ cán bộ tham mưu của Quân chủng Phòng không-Không quân lên báo cáo với Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp về thành tích bắn rơi B-52. Nghe xong báo cáo, Đại tướng hỏi về kinh nghiệm đánh B-52 của Trung đoàn 257 và 261 trước chiến dịch. Trưởng phòng Tác huấn tên lửa Nguyễn Sinh Huy đưa cho Đại tướng xem cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” và báo cáo hai trung đoàn này đã vận dụng cách đánh được ghi trong sách kết hợp với sự linh hoạt trong chiến đấu chứ chưa từng đánh B-52. Sau một thoáng suy nghĩ, Đại tướng đã nêu lên một nhận xét rất quan trọng:

– Như vậy là không nhất thiết cứ phải đã trải qua chiến đấu bộ đội ta mới đánh thắng được kẻ địch. Một trong những yếu tố quyết định để chiến thắng là phải có cách đánh tốt và được huấn luyện chu đáo.

Mấy hôm sau, ở hội trường Quân chủng Phòng không-Không quân, trước đông đảo cán bộ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giơ cao cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” và nói: Chúng ta thắng được B-52 Mỹ là do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp hết sức quan trọng của cuốn sách này.

(“Điện Biên Phủ trên không” chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam – NXB Quân đội, 2002).

SONG THANH
qdnd.vn

SAM2 đã quật đổ B-52 như thế nào

QĐND-Câu chuyện tên lửa SAM2 bắn hạ B-52 đã được Anh hùng LLVT nhân dân, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh về chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ), nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361, kể nhiều lần. Giờ ông đã 75 tuổi, thời gian đã đủ để những “bí mật quân sự” ngày ấy được phép công khai, minh chứng về sự sáng tạo, mưu trí, dũng cảm của một thế hệ Việt Nam trong cuộc chiến tranh vệ quốc.

Phóng viên (PV): Thưa Trung tướng, trước đây trên các phương tiện truyền thông đại chúng hay trong các cuốn sử truyền thống của Quân chủng PK-KQ mô tả việc bắn B-52 theo phương pháp “T” và “P”, thực chất của phương pháp này là thế nào?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Ngày đó, chúng tôi đang từ đơn vị pháo cao xạ được chuyển sang sử dụng tên lửa đất đối không SAM2. Mỗi khi chuyển loại vũ khí như vậy đều được chuyên gia Liên Xô huấn luyện về lý thuyết cũng như thực hành một cách bài bản, kỹ càng. Hai phương pháp ấy là lấy chữ đầu phiên từ tiếng Nga sang. “T” là phương pháp bắn 3 điểm, khi đánh trong nhiễu không bắt được mục tiêu chỉ ước lượng cự ly và độ cao; còn “P” là phương pháp bắn đón nửa góc, khi nhìn thấy tín hiệu mục tiêu trên màn hiện sóng, như vậy đã xác định được cự ly và độ cao của máy bay rồi.

– SAM2 có được cải tiến để bắn B-52?

– Trước khi trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 diễn ra, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng PK-KQ đã có nhiều hội thảo chuyên đề về cách đánh B-52 cho bộ đội tên lửa. Chẳng hạn, cuộc họp từ ngày 30-10 đến 3-11-1972 tại Bộ chỉ huy Sư đoàn phòng không Hà Nội (F361) đóng tại Hòa Mục (Đống Đa, Hà Nội) do Tư lệnh Quân chủng, Đại tá Lê Văn Tri chủ trì, đã sôi nổi thảo luận xung quanh các vấn đề: phương pháp tổ chức chỉ huy; chọn dải nhiễu; chọn thời cơ phát sóng; cự ly phóng đạn; phương pháp bắn; phương pháp bám sát mục tiêu; cách chống tên lửa Sơ-rai… Sau hội nghị, Phòng Khoa học quân sự, Phòng Tác huấn Bộ Tổng tham mưu đã ban hành nội bộ tài liệu “Cách đánh B-52”. Việc cải tiến tên lửa SAM2 ngày đó đã được tiến hành tới 3-4 lần, do những cuộc thảo luận chung giữa cán bộ kỹ thuật Việt Nam và chuyên gia Liên Xô xuất phát từ thực tiễn huấn luyện và chiến đấu, nhắm vào việc nâng cao hiệu quả diệt địch, đã có một số cải tiến được tiến hành từ kết cấu lại cái càng kéo tên lửa đến thành phần bên trong quả đạn hay hệ thống điện tử điều khiển.

Thượng úy Nguyễn Văn Phiệt (ngoài cùng, bên phải), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (E261, F361), rút kinh nghiệm đánh địch sau một trận chiến đấu cuối năm 1972. Ảnh tư liệu.

– Trở lại phương pháp T và P. Như vậy, hiệu quả bắn B-52 phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm chiến đấu sau khi vũ khí đã được cải tiến?

– Đúng thế! SAM2 bắn hiệu quả ở độ cao 27km; cự ly gần 7-12km, xa nhất 34km. Trước hết, phải quan sát nhiễu trên màn hiện sóng cho tinh tường, chuẩn xác, điều này luôn được các đơn vị tên lửa kịp thời rút kinh nghiệm sau từng trận đánh. Chẳng hạn, chúng tôi đã nhận biết một cách chắc chắn sự khác nhau giữa nhiễu B-52 với nhiễu máy bay tiêm kích bảo vệ vòng ngoài F4, F111. Dải nhiễu B-52 mịn, phẳng, thắt cổ bồng; còn nhiễu các máy bay chiến thuật kia thì đi như quấn thừng, không ổn định. Mỗi khi chúng tôi có động tác đánh lừa địch, phát sóng RPK giả thì nhiễu của các máy bay bảo vệ vòng ngoài nhấp nháy, chạy lung tung, còn của B-52 vẫn ổn định, chạy thẳng vào. Chọn thời cơ bắn đón cũng là điều rất quan trọng. Chẳng hạn đánh theo phương pháp P, nhìn thấy mục tiêu ở cự ly 20-25km là phóng, nếu để nó đến gần quá là quá tải, gãy đạn…

– Gãy đạn là thế nào, thưa ông?

– Thường phải đưa quả đạn tên lửa hướng bắn đón về phía trước, song do máy bay địch lao tới với tốc độ cao (1.800km/giờ), xử trí chậm là nó đến gần quá, quả đạn phóng lên bị hút về phía sau, nhiều trường hợp rơi bật ngửa ngay gần trận địa. Uổng phí quả đạn đó.

Đường bay của B-52 từ Gu-am và máy bay tiếp dầu từ Ô-ki-na-oa đến đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

– Không phải cứ mỗi quả tên lửa là diệt một máy bay…

– Lý thuyết thì cứ 3 quả đạn mới hạ được 1 máy bay, tức xác suất diệt mục tiêu đạt 96%. Những ngày mở đầu chiến dịch, sư đoàn tôi bắn nhiều mà hiệu quả diệt B-52 còn thấp, sau đó rút kinh nghiệm kịp thời, có lúc chỉ một quả đạn mà lại hạ được một B-52, mà hạ tại chỗ. Chẳng hạn, rạng sáng 21-12-1972 có ba tốp B-52 đánh vào sân bay Gia Lâm, trung đoàn ra lệnh tập trung hỏa lực của 4 tiểu đoàn, đã bắn cháy được mấy chiếc. Đến khi cơ số đạn các tiểu đoàn bạn đã hết, tiểu đoàn tôi chỉ còn hai quả. Đúng lúc đó, có 9 chiếc B-52 từ hướng tây bắc lao vào. Thấy kíp trắc thủ vẫn luôn tinh tường bám sát tín hiệu B-52, tôi ra lệnh cho sĩ quan điều khiển lần lượt phóng hai quả đạn, thế là hai B-52 bốc cháy tại chỗ.

– Ông có nhớ cả chiến dịch, ta dùng hết bao nhiêu đạn tên lửa?

– Nhớ chứ. Toàn chiến dịch bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 B-52, riêng sư đoàn tôi bắn rơi 25 B-52, trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ; 9 máy bay chiến thuật thì có 2 chiếc rơi tại chỗ. Cả chiến dịch sử dụng hết 334 quả tên lửa, riêng Sư đoàn phòng không Hà Nội đã phóng lên 254 quả, đơn vị tôi 31 quả.

– Nghe nói, sau chiến dịch 12 ngày đêm diệt B-52, kho tên lửa SAM2 của ta đã cạn?

– Đâu có! Sau chiến dịch ta còn vài trăm quả dự trữ nữa. Tất nhiên, sau này tên lửa phòng không đã chuyển sang loại khác, hiện đại hơn. SAM2 đã đi vào lịch sử, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình. Nên nhớ “SAM2” là theo tên gọi của phương Tây, chứ đúng xuất xứ tên lửa do Liên Xô chế tạo đều lấy tên một dòng sông nào đó trên đất bạn. SAM2 có tên nguyên bản là “Đờ-vi-na” tức con sông Đờ-nhép; sau Đờ-vi-na là Pê-trô-va, là Vôn-ga…

– Xin cảm ơn ông!

Lúc Mỹ khởi đầu ném bom năm 1965, Bắc Việt Nam không có máy bay phản lực, có rất ít sân bay, không có tên lửa, không có tới 20 giàn ra-đa, chỉ có một số ít súng phòng không lỗi thời. Năm 1967, các phi công Mỹ đã phải bay qua lưới phòng không kinh khủng hơn nhiều so với lưới lửa gặp phải ở Đức năm 1944. Tên lửa đất đối không lần đầu tiên hạ một máy bay phản lực F-40 ngày 24-7-1965. Cuối năm đó, đã có khoảng 60 vị trí SAM ở miền Bắc. Máy bay MiG-17 và MiG-19 cũng đã có mặt trong năm đó và bắn rơi 2 máy bay F-105 ngày 4-4. Tổn thất của Mỹ về máy bay và về phi công đã gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ phát triển hệ thống phòng không của Hà Nội (tướng 1 sao Đê-vơ Ri-sác Pan-mơ (Dave Richard Palmer). Trong cuốn “Tiếng kèn gọi quân”, Novato, Presidio Press, 1978).

PHẠM QUANG ĐẨU (Thực hiện)
qdnd.vn

Từ trận quyết chiến chiến lược đầu tiên

QĐND– Ở thế kỷ thứ Mười, giặc Nam Hán đã hai lần ra quân xâm lược nước ta.

Mùa đông năm 938, chúng đã bị quân dân nước Việt, dưới sự lãnh đạo của Anh hùng dân tộc Ngô Quyền, đánh cho đại bại ở cửa sông Bạch Đằng. Đó là “một vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há đâu phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi” – sử gia nổi tiếng ở thế kỷ 18 – Ngô Thì Sĩ đã đánh giá trận Bạch Đằng như vậy.

Tuy nhiên, đây là trận đánh thắng giặc Nam Hán lần thứ hai. Trước đấy, còn có một trận thắng giặc Nam Hán nữa không kém phần vẻ vang oanh liệt, nhưng vì rợp bóng trận Bạch Đằng, nên chưa mấy được nói đến. Đó là trận thắng giặc Nam Hán lần thứ nhất ở chiến trường Đại La năm 931.

Đại La là tòa thành mà vua Lý Thái Tổ vào năm 1010 đã sử dụng lại sau khi sửa sang, tôn tạo làm Kinh thành Thăng Long.

Năm 905, trong phong trào “Họ Khúc dấy nghiệp chống đại họa “Bắc thuộc” để người Việt làm chủ nước Việt”, Khúc Tiên chúa Thừa Dụ đã từ miền Hồng Châu (Hải Dương) tiến lên, chiếm được tòa thành Đại La này, kết thúc việc quan quân nhà Đường ở phương Bắc đến xây dựng và sử dụng công trình kiến trúc quân sự này làm đầu não cai trị nước Việt, đồng thời kết thúc luôn cả thời đại “chống Bắc thuộc” hơn nghìn năm của lịch sử dân tộc.

Khúc Trung chúa (Khúc Hạo) nối quyền Khúc Thừa Dụ từ năm 907, làm chủ thành Đại La và truyền quyền ấy cho Khúc Hậu chúa (Khúc Thừa Mỹ) vào năm 917.

Nhưng đến năm 930 thì vua nhà Nam Hán là Lưu Nghiễm đã cử đại binh do các tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh chỉ huy, đi tái chiếm nước Việt. Giặc đã đánh hạ được thành Đại La, đánh bại luôn cả cuộc kháng chiến của Khúc Thừa Mỹ.

Thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán sau đấy được cử sang làm “toàn quyền”, tái đô hộ nước Việt, cùng với tướng Lương Khắc Trinh, đóng quân ở trong thành Đại La.

Đánh đuổi bọn xâm lược và đô hộ này, lấy lại thành Đại La, để tiếp nối truyền thống “Người Việt làm chủ nước Việt” đã thiết lập được từ năm 905 ở nơi này – đấy là nhiệm vụ của trận thắng giặc Nam Hán lần thứ nhất ở Đại La năm 931 do Anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ lãnh đạo.

Có lẽ dù là ở vào thời gian quá sớm trong lịch sử quân sự của dân tộc, cũng như là của cả nhân loại, nhưng vẫn phải hình dung cho đúng với thực tế lịch sử – rằng trận đánh thành Đại La của Anh hùng Dương Đình Nghệ mùa xuân năm 931 đã diễn ra giống như là một “chiến dịch” đích thực và gồm hai giai đoạn:

Ở giai đoạn thứ nhất, quân dân ta – từ căn cứ Ái Châu kéo ra – đã tấn công trực diện vào tòa thành Đại La, thắng lợi nhanh chóng và tuyệt đối: Đuổi thứ sử Lý Tiến chạy dài về nước, giết tướng Lương Khắc Trinh tại trận, làm chủ tòa thành.

Giai đoạn thứ hai, diễn ra ngay sau đấy: Đánh viện binh.

Do được tin cấp báo ngay từ khi lực lượng của Dương Đình Nghệ mới bắt đầu từ Ái Châu kéo ra Đại La, chúa Lưu Nghiễm nhà Nam Hán đã phái ngay chức Thừa chỉ là Trần Bảo, dẫn một đạo viện binh đi tăng cường, chi viện cho thứ sử Lý Tiến và tướng Lương Khắc Trinh giữ thành.

Đền thờ Dương Đình Nghệ tại làng Giàng (thôn Dương Xá, Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ảnh: TUẤN TÚ.

Nhưng diễn biến nhanh chóng và triệt để của giai đoạn thứ nhất chiến dịch đã đặt đạo quân đi tăng cường, chi viện cho Đại La của tướng Trần Bảo của nhà Nam Hán này vào thế “sự đã rồi”. Chúng đành phải đóng quân ở mé ngoài thành, chuẩn bị đánh phục thù. Nhưng Anh hùng Dương Đình Nghệ – không để cho giặc kịp hành động – đã chủ động mở cửa thành, ra đánh trước. Vậy là – cũng như ở giai đoạn đầu – bước thứ hai của chiến dịch đã diễn ra với thắng lợi cũng nhanh chóng và triệt để như thế: Phá tan đạo viện binh Nam Hán, giết chết tướng Trần Bảo tại trận.

Trận Đại La năm 931 đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Nam Hán đã thắng lợi giòn giã. Đôi câu đối ở đền thờ Anh hùng Dương Đình Nghệ trước đây tại làng Giàng (Dương Xá) đã chính xác ca ngợi vị chủ tướng và mô tả đầy hào sảng trận thắng này:

Dưỡng tam thiên nghĩa tử dĩ phục thù, hằng hằng kinh khí

Chưởng bát vạn hùng sư nhi xuất chiến, lẫm lẫm oai thanh

(Nuôi ba nghìn nghĩa tử để phục thù, khí phách kinh hồn

Cầm tám vạn hùng binh mà ra trận, uy danh lừng lẫy)

Giải quyết toàn bộ nhiệm vụ của cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Nam Hán chỉ trong một trận (chiến dịch), đây rõ ràng là một trận quyết chiến chiến lược, ở và từ thời gian rất sớm của lịch sử dân tộc.

Trận quyết chiến chiến lược đầu tiên này liên quan hữu cơ và trực tiếp dẫn đến đại võ công của trận quyết chiến chiến lược ở vùng cửa sông Bạch Đằng mùa đông năm 938.

Điều vô cùng ý nghĩa và đặc sắc là: Diễn ra ở Đại La vào năm 931, trận đại thắng này cũng còn nối dài truyền thống tổ chức – tiến hành quyết chiến chiến lược thắng lợi vẻ vang, oanh liệt của dân tộc tới nghìn năm sau và ở trên cùng địa bàn chiến lược, là trung tâm đầu não của đất nước. Đó là lúc dân tộc ta, vào tháng Chạp năm 1972, làm trận “Điện Biên Phủ trên không”!

GS LÊ VĂN LAN
qdnd.vn

Nhận dạng B-52

QĐND-Trước khi dùng B-52 rải bom ở chiến trường miền Nam Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã tuyên truyền khá ầm ĩ cho loại máy bay chiến lược được mệnh danh là pháo đài bay này. Pháo đài chỉ sự kiên cố, vững chắc. Bay để chỉ sự cơ động. Hoa Kỳ quảng cáo rằng, với chiều dài 48,5m, sải cánh 34m, có sức chở hơn 27 tấn bom đạn, độ cao có thể lên tới 17km, B-52 loại tất cả các tầm đạn pháo cao xạ của đối phương dưới tầm bay.

Dạo ấy hình dáng B-52 như thế nào, ở chiến trường lính ta không được biết, nhưng nhận dạng B-52 qua bãi bom. Hàng trăm quả bom được ném theo tọa độ, với bề rộng ngót trăm thước, chiều dài có khi kéo dài hơn một cây số. Đó là bãi bom hủy diệt, vì kẻ giết người đã nghiên cứu pha trộn các loại bom theo phương án tối ưu, nhằm phá sạch, giết sạch những gì nằm trên diện tích rộng lớn mà ít tốn kém nhất. Có một điều giới quân sự Mỹ thời ấy không ngờ tới, là lính ta không chỉ nhận biết B-52 từ bãi bom, mà trong khá nhiều trường hợp, còn nhận ra những tọa độ nào B-52 sắp ném bom, bởi thế bom B-52 đào đất, phá rừng thì nhiều, chứ mấy khi chụp được đội hình bộ đội hành quân hoặc khu vực đóng quân. Giới quân sự Mỹ lại đổ cho vì địa hình rừng núi quá rộng, quá phức tạp nên hiệu quả tiêu diệt đối phương của B-52 còn hạn chế, nếu như ở thành phố thì khác.

Bộ đội ta bắt sống giặc lái B-52 trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Ảnh: Cảnh trong phim “Hà Nội – Bản hùng ca” của Điện ảnh Quân đội.

Trước mùa đông năm 1972, người Hà Nội chưa một ai nhìn thấy hình dạng B-52. Và trong thâm tâm, nhiều người nghĩ rằng, sự tàn ác của kẻ thù cũng chỉ có giới hạn và không tin chúng có thể đem loại máy bay chiến lược đó để rải bom vào Thủ đô của một nước. Nhưng ý nghĩ đó đã hoàn toàn sai lầm. Khoảng tám giờ tối ngày 18-12-1972, anh em lớp Bồi dưỡng sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam đang ngồi đàm đạo thì nghe những âm thanh lạ như tiếng đá lăn ở phía chân trời. Mọi người hỏi nhau đó là tiếng gì? Nhà thơ Cảnh Trà, công tác ở tuyến lửa Vĩnh Linh, người đã nhập học chậm hơn một tháng trời vì phải đi bộ từ Vĩnh Linh ra Hà Nội khi tất cả các nhịp cầu đã bị phá sạch, nói:

– Theo mình thì đó là tiếng B-52!

Liền sau đó là tiếng còi báo động, tất cả vội vàng chạy ra hầm. Tôi nhớ đêm đó còi báo động Nhà hát Lớn thành phố rú lên 5 lần, anh em 5 lần tung chăn vùng dậy chạy ra hầm trú ẩn. Học viên nói chung còn trẻ, phản ứng khá nhanh nên khi còi báo động vừa rú lên là ra ngay được hầm, chỉ có nhà thơ Hoàng Cát, người đã bị cưa một chân trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968 ở miền Nam, mỗi lần nghe còi báo động là phải ngồi dậy lắp chân gỗ vào. Mà động tác này đâu phải đơn giản, thường là mất 4-5 phút. Có khi còi báo yên, Hoàng Cát vừa mới vào giường, tháo chân gỗ ra chưa kịp nằm xuống thì đã nghe còi báo động. Đêm ấy cả lớp coi như thức trắng, nhưng chưa một ai biết chắc chắn B-52 đã ném bom Hà Nội, bởi trường viết văn ở Quảng Bá, cách trung tâm thành phố khá xa.

Pháo đài bay B-52. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

Đêm 19-12, chúng tôi thức đón trận chiến chống B-52. Lúc đầu nghe còi báo động thì còn xuống hầm, nhưng khi nghe tiếng người hò reo vì B-52 cháy thì không ai có thể ngồi yên trong hầm được, bởi ánh sáng của đám cháy giữa trời cao đã chiếu sáng đến mọi ngóc ngách hầm trú ẩn. Lần đầu tiên, tôi được nhận dạng B-52 như thế này đây: Tôi đứng cùng nhiều học viên khác trên nóc hầm trú ẩn ở góc trường Quảng Bá, nhìn chênh chếch về phía Đông Anh, phía bên kia bến Chèm. Trong vô vàn tiếng nổ của các cỡ súng cao xạ, có một tiếng nổ to hơn, đó là tên lửa ta bắt đầu phóng. Đường đi của quả tên lửa vẽ lên nền trời đêm màu sáng rực, trông rất rõ. Lúc đầu vệt sáng đó chạy chênh chênh một đoạn khá dài, sau đó nó bay ngược lên theo chiều gần như thẳng đứng. Cuối chiều thẳng đứng đó tên lửa nổ, một quầng sáng nhỏ bung ra rồi tắt lặng. Chỉ chừng vài giây sau, phía trên chỗ tên lửa vừa nổ, phát ra một tiếng nổ lớn, ánh sáng bùng lên mãnh liệt, làm sáng đỏ cả bầu trời. Đấy là tiếng nổ của chiếc B-52 đã lĩnh đủ mảnh của quả tên lửa nổ cách nó không xa. Lúc này người Hà Nội không ai nghĩ là mình đang tránh bom, mà nhảy lên, reo lên để theo dõi cái bó đuốc khổng lồ đó vừa cháy, vừa rơi, lúc đầu còn rơi thẳng, sau đó vừa rơi vừa quay cho tận khi cắm xuống đất.

Lớp học còn ở lại Hà Nội qua đêm 20-12. Đó là đêm thứ ba, chúng tôi như đã quen với B-52, không chỉ leo nên nóc hầm xem B-52 cháy mà còn rủ nhau theo dân quân đi bắt phi công. Sáng 21 thì được lệnh của nhà trường phải đi sơ tán, đúng hơn là chia nhỏ lớp ra để đi thực tế đến các trận địa phòng không ở vùng ngoại vi thành phố.

Tôi theo một đơn vị dân quân của xã Liên Hà, huyện Đan Phượng với những khẩu pháo 37mm trực trên bãi Nổi giữa sông Hồng. Nhiệm vụ của đơn vị này là đón đánh những chiếc máy bay tầm thấp trước khi chúng lẻn vào đánh phá Hà Nội. Tại trận địa này, tôi đã nhìn thấy hình dạng B-52 khi nó đang bay trên bầu trời: Sau hồi còi báo động, nghe tiếng động cơ nặng nề, ngước mắt lên bầu trời đêm mùa đông ù ù những cơn gió lạnh, tôi bắt gặp những bóng đèn nhấp nháy trên cao. Chỉ một lúc sau, từ phía Hà Nội, ánh sáng của những quả đạn tên lửa đã vạch sáng nền trời.

Sau mười hai ngày đêm, sáng ngày 1-1-1973, dù chưa có lệnh của nhà trường, nhưng học viên từ các hướng khác nhau đã trở lại Hà Nội. Sau khi đi dọc phố Khâm Thiên đổ nát, có nhiều người chít khăn xô trắng đào bới trong gạch vụn, tôi tìm về vườn Bách Thảo cùng bao người khác. Tới Bách Thảo không phải để xem thú, xem cây mà là vì xác những chiếc B-52 đã được mang về chất đống trên khoảng đất rộng phía trong cổng. Đây là lần thứ ba tôi được nhận dạng B-52, khi nó chỉ còn là những mảnh vụn rời rạc. Tôi ngạc nhiên về bề rộng của sải cánh và chi chít những u cục nổi lên dọc những đường hàn tiếp nối. Biểu tượng “Bàn tay nắm giữ tia sét” trên một mảng cánh đã bị mảnh tên lửa của ta xé ra làm hai nửa. Thì ra tên lửa của ta còn mạnh hơn những tia sét của trời, làm cho không lực Hoa Kỳ không thể nào nắm giữ nổi!

Bên xác máy bay B-52, tôi đã sáng tác ngay một bài thơ, vài ngày sau đăng trên Báo Nhân Dân. Nhân dịp này, mời các bạn đọc lại bài thơ này trong không khí cả nước long trọng kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của thủ đô Hà Nội anh hùng.

CHÚNG TÔI HIỂU B-52
(Lời một người Hà Nội)

B-52 chở được bao nhiêu tấn bom?
Điều đó chúng tôi không rõ
Chỉ biết chúng san bằng từ đầu đến
cuối phố
Như Khâm Thiên.
Bệnh viện Bạch Mai
Khu lao động An Dương
Nằm gọn trong tầm bom nổ.

B-52 bay cao bao nhiêu cây số?
Điều đó chúng tôi không rõ
Chỉ biết chúng bốc cháy từ rất cao
Chiếc nào cũng giống nhau
Mắt chỉ thấy khi đã bừng sắc lửa
Rồi ánh chớp lóe lên
Rực sáng tận từng góc phố.

Không biết chúng dài bao nhiêu thước
Vì chẳng gặp chiếc nào vẹn nguyên
Chỉ thấy từng mảng sạm đen
Từng mảng quăn queo, rách nát
Với hàng vạn mũi đinh
Như những vết đen ghi tội ác.

Chúng tôi hiểu B-52
Không phải qua sách báo Hoa Kỳ quảng cáo
Mà qua xương máu
Của đồng đội, bà con
Qua bàn tay run rẩy xin hàng
Của những tên giặc lái.

VƯƠNG TRỌNG
qdnd.vn

JAMAIS (không bao giờ)

Video Phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh – Tháng 6/1964

Và đây là đối thoại của cuộc phỏng vấn được dịch ra tiếng Việt:

“- Thưa Ngài chủ tịch, Ngài có thể cho biết liệu có một giải pháp quân sự nào cho chiến sự tại miền Nam Việt Nam?

– Không. Bởi vì như cô biết đấy, “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một”. Người Mỹ đã vô cớ gây chiến tranh. Cô cũng biết rằng, như trên các mặt báo đã đưa, nếu chiến tranh càng kéo dài, người Mỹ sẽ càng sa lầy và sẽ càng chuốc lấy thất bại. Chiến tranh không thể kéo dài mãi mãi được, tôi cũng vui mừng là các nhà chính trị Pháp cũng đã biết rõ điều này.

– Liệu Ngài có nghĩ rằng tướng De Gaule có thể sẽ có biện pháp nào đó phân định (arbitrer) sự xung đột này.

– Không biết cô hiểu thế nào về từ phân định (arbitrer), chúng tôi đâu có phải là một đội bóng đâu (cười).

– Nhưng nếu tôi không nhầm thì ngoài Hiệp định Genève, tướng De Gaule có nói về một ý tưởng về sự thống nhất tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á, Ngài nghĩ sao về điều này?

– Như tôi đã nói một lần rồi, đây là một ý tưởng khá hấp dẫn. Nhưng nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của từng nước, phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện nó nữa, đó là một câu hỏi lớn. Tôi không nói là tôi phản đối hay tán thành ý kiến này. Lấy ví dụ về HOA, có rất nhiều loại hoa: hoa trắng, hoa đỏ, hoa vàng … có loài hoa đẹp nhưng cũng có loài không đẹp, nhưng chúng ta vẫn gọi chung là HOA.

– Thưa Ngài Chủ tịch, trong chuyến đi miền Bắc Việt Nam này chúng tôi nhận thấy rằng sự ảnh hưởng của Pháp dường như không còn tồn tại ở đây nữa, độ tuổi dưới 25 giờ đã không còn biết đến tiếng Pháp. Tôi tự hỏi là, với suy nghĩ của Ngài, liệu rằng chúng ta có thể gây dựng lại mối quan hệ này, rằng nước Pháp sẽ giữ vai trò nào đó trong mối quan hệ … văn hóa giữ hai nước?

– Với nước Pháp nói riêng và các nước khác nói chung, chúng tôi luôn muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị về văn hóa, kinh tế … Nhưng tôi không nghĩ rằng cô muốn nói tới sự ảnh hưởng của Pháp như họ đã từng gây sự ảnh hưởng với Việt Nam trước đây, đó là một chuyện hoàn toàn khác.

– Oui, thời kì đó đã qua rồi.

– Một mối quan hệ hữu hảo về văn hoá, kinh tế … hay như thể thao chẳng hạn. Chúng tôi hoàn toàn hưởng ứng.

– Nếu như chiến tranh tiếp tục leo thang tại miền Nam Việt Nam trong một vài năm tới, liệu ngài có nghĩ rằng kinh tế của miền Bắc Việt Nam có thể duy trì được như bây giờ?

– Tôi chắc chắn rằng nó không những chỉ duy trì mà còn phát triển. Cô cũng thấy rằng là ở đây, chúng tôi lao động rất hăng say, cần cù, với sự hy sinh và lòng nhiệt huyết, và chủ yếu đều xuất phát từ nội lực của chúng tôi. Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự giúp đỡ anh em từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Tất cả đều thể hiện qua những tiến bộ hàng ngày, và chắc chắn là cả trong tương lai nữa.

– Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Nga và Trung Quốc?

– Không, …….. (không nghe rõ ) …….. Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.

– Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

– JAMAIS (không bao giờ).”

Nguồn YouTube

Thắng lợi của chủ trương “vừa đánh vừa đàm”

Trong cuốn Hồi ký do Nxb Grosset and Dunlap, New York (Mỹ ) ấn hành năm 1978 tại trang 730, Nixon đã thú nhận về cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội: “Lệnh ném bom lại trước Noel là quyết định khó khăn nhất của tôi trong cuộc chiến tranh này nhưng cũng là một quyết định dứt khoát nhất và cần thiết nhất” (Noel 1972-NV). Và, quả đúng đây là một trong những sai lầm lớn nhất của Nixon trong cuộc đời làm Tổng thống của ông ta, dẫn đến thất bại trên bàn đàm phán Paris.

Những hố bom và sự tàn khốc của B52
không làm người dân Hà Nội run sợ

Ảnh: Internet

Ngày 18-12-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ về đến Hà Nội cũng chính là thời điểm máy bay chiến lược B52 của Mỹ ném bom rải thảm Hà Nội, mở đầu cuộc tập kích mang tên Linebacker II tàn bạo nhất, quy mô nhất của không quân Mỹ vào Thủ đô của Việt Nam kể từ đầu cuộc chiến tranh.

Chúng ta không bất ngờ vì đã quá hiểu Mỹ. Trước ngày 18-12-1972, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, quân và dân ta đã chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt đánh trả hành động phiêu lưu quân sự cao nhất của Mỹ. Đảng đã chỉ đạo Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu tập trung tối đa lực lượng, vũ khí, phương tiện, khí tài của bộ đội phòng không, không quân và các lực lượng khác cho trận đánh quyết định này. Ngày 21-12-1972, vừa chỉ đạo quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương đánh trả cuộc ném bom, đánh phá tàn bạo do đế quốc Mỹ gây ra, Đảng, Chính phủ ta ra Tuyên bố lên án chính quyền Nixon leo thang chiến tranh, trì hoãn ký Hiệp định, đồng thời lệnh cho các đơn vị tập trung toàn lực chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ hơn nữa, làm thất bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược của kẻ thù.

Đây là điều Mỹ không ngờ tới, cũng trong cuốn Hồi ký kể trên của mình ở trang 733, Nixon thú nhận: “Nỗi lo nhất của tôi, trong cái tuần lễ đầu này, không phải là làn sóng phê phán nổi lên ở trong nước cũng như ngoài nước như đã dự kiến, mà là sự tổn thất lớn về máy bay B52”. Trong bối cảnh bị dư luận trong nước Mỹ và thế giới lên án, bị tổn thất nặng nề về máy bay và giặc lái, lại không khuất phục được ta, ngày 22-12, phía Mỹ lại gửi tiếp một công hàm đề nghị Kissinger và Lê Đức Thọ gặp nhau vào ngày 3-1-1973 và nếu Việt Nam chấp nhận, Mỹ sẽ ngừng ném bom từ phía Bắc Vĩ tuyến 20 trở lên từ ngày 30-12-1972. Tuy nhiên, không vồ vập trước đề nghị này mà đến ngày 26-12, Chính phủ Việt Nam mới trả lời Mỹ, đồng ý nối lại cuộc họp cấp chuyên viên bàn về các Nghị định thư và cuộc họp giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Trưởng đoàn Xuân Thủy với Kissinger sẽ tiến hành vào ngày 8-1-1973. Chủ trương của Đảng ta là đập tan hành động chiến tranh của Mỹ bằng các hoạt động quân sự, coi đó là đòn quyết định, đánh trước, đàm phán sau, buộc Mỹ phải chấp nhận thất bại hoàn toàn.

Thông báo của Ban Bí thư số 08/TB/TW ngày 30-12-1972, về tình hình trước mắt của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, đã nêu rõ: “Trong thời gian qua, từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12, đế quốc Mỹ đã điên cuồng leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, đánh phá rất ác liệt và tập trung vào Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, nhiều khu công nghiệp và vùng đông dân khác. Chúng mong tạo “thế mạnh” để ép ta nhân nhượng trong cuộc thương lượng ở Paris, nhưng chúng đã bị thất bại nặng cả về quân sự và chính trị, không quân chiến lược Mỹ đã bị quân và dân ta đánh trả quyết liệt, chúng đã bị thiệt hại lớn nhất về máy bay và giặc lái trong chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta.

Trong thế thua và lúng túng, trước thất bại to lớn mới, phía Mỹ đã đề nghị nối lại cuộc thương lượng. ta đã lên án hành động chiến tranh mới của Mỹ, đòi chúng phải trở lại tình hình trước

Mốc son trong cuộc đàm phán tháng 1-1973.

Ngày 15-1-1973, Chính phủ Mỹ tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chiến tranh bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc.

Ngày 23-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kissinger ký tắt vào văn bản Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris đã được các Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa ký chính thức tại Paris.

ngày 8-12, phải từ bỏ chính sách đàm phán trên thế mạnh…Lập trường đàm phán của ta vẫn là giữ những nguyên tắc của dự thảo Hiệp định ngày 20-10, chỉ mềm dẻo trên một số điểm không trái với các nguyên tắc cơ bản của ta mà ta có thể chấp nhận được.” Căn cứ chỉ đạo của Ban Bí thư và Bộ Chính trị, trong các cuộc gặp từ ngày 8-1 đến ngày 13-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng các thành viên của Đoàn đã tận dụng thắng lợi to lớn, oanh liệt vừa giành được trong 12 ngày đêm cuối 1972, buộc Kissinger và phía Mỹ phải chấp nhận cơ bản những nội dung đã thỏa thuận trong dự thảo Hiệp định ngày 20-10.

Chủ trương của Đảng phối hợp giữa hoạt động quân sự giành thắng lợi trên chiến trường, tạo cơ sở cho hoạt động ngoại giao giành thắng lợi trước, trong và sau sự kiện 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã thành công. Bằng thắng lợi quân sự to lớn trên chiến trường hai miền Nam, Bắc, đặc biệt là đánh bại cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp với hoạt động ngoại giao và cuộc đấu tranh không kém phần quyết liệt trên bàn đàm phán, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân Mỹ về nước, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi tiến lên đánh đổ nhào chính quyền và quân đội Sài Gòn, giành lại độc lập, thu giang sơn về một mối.

Đoạn kết có hậu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được đánh dấu bằng sự phối hợp nhịp nhàng hiệu quả và tuyệt đẹp của hai mặt trận quân sự và ngoại giao, đưa tới thắng lợi cuối cùng. Đây là sự thành công mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh của Đảng ta.

PGS.TS.Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Đảng
Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh

daidoanket.vn