Thư viết bên cánh sóng ra-đa

QĐND-Dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tuy đã nghỉ hưu nhưng Đại tá Nghiêm Đình Tích cũng bận rộn chẳng kém “người Quân chủng”. Ông bảo, ngoài thời gian tiếp phóng viên các báo, đài tới hỏi chuyện và tham gia giao lưu trên truyền hình, ông còn dành nhiều thời gian kiếm tìm, hệ thống lại những kỷ vật từng gắn với cuộc sống quân ngũ và hạnh phúc gia đình ông trong suốt những năm tháng chiến tranh.

Ông có ý định lục tìm “kho ký ức” ấy từ cách đây ít tháng, khi vợ ông – bà Đỗ Thị Tâm – vừa qua đời do lâm bệnh hiểm nghèo… Trong khoảng lặng của cuộc trò chuyện, Đại tá Nghiêm Đình Tích đưa tôi xem những lá thư thời chiến đã sờn mép và nhuốm màu thời gian. Đó là những lá thư hai vợ chồng ông viết cho nhau trong những năm 1969-1973 và vẫn được gia đình ông lưu giữ cẩn thận suốt hàng chục năm qua. Vậy là trước khi được nghe người lính ra-đa “kể tội” B-52, tôi đã cùng ông lật giở những trang thư thời chiến và hiểu thêm phần nào những tháng năm gian khổ mà ông và người bạn đời đã từng phải trải qua.

Anh nhớ thương!

Hai tháng không nhận được thư anh, nhiều lúc em lại tự hỏi: Vì sao anh không biên thư? Rồi nhiều câu hỏi luôn quẩn quanh trong óc em: Hay là anh đã…? Nhận được thư anh, em càng hiểu anh hơn, và tất cả những ý nghĩ vẩn vơ trong em bỗng tan biến, nhường chỗ cho niềm vui và lòng tin từng được thử thách, xây đắp trong suốt 7 năm qua…”. (Thư ngày 2-8-1969)

Cho tới ngày cưới (12-12-1970), Nghiêm Đình Tích cũng chỉ tranh thủ 3 ngày cùng đồng đội về Hà Nội vận chuyển khí tài để tổ chức một đám cưới đạm bạc ở quê nhà – xã Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa, Hà Tây-nay là Hà Nội), rồi sau đó lại vội vã bắt xe đơn vị cơ động vào chiến trường Khu 4.

Đã là cái Tết thứ hai anh không được đón xuân ở quê hương, phải xa nhà, xa gia đình, xa em yêu với nỗi nhớ nhung vô hạn. Nỗi nhớ nhung chỉ có những cặp vợ chồng mới cưới, phải xa nhau mới có thể cảm thông. Song cái vui của mùa xuân, của đất nước, của đơn vị đã làm cho niềm vui tâm hồn anh lớn lên và đã gần như choán hết cả tư duy và hành động của anh. Trong anh chỉ còn lại niềm khao khát tin vui đón Tết ở gia đình mình. Không biết năm nay em có được nghỉ và về quê ăn Tết không, tình hình đón Tết ở nhà ra sao?…”. (Thư ngày 27-1-1971)

Cựu chiến binh Nghiêm Đình Tích. Ảnh: QUANG HUY.

Nghiêm Đình Tích còn nhớ như in buổi chiều rét ngọt ngày 6-2-1971, đó là ngày chàng lính trẻ nhận được thư của người vợ mới cưới:

Nhận được thư em trong lúc xuân mới vừa đến và đang lặng lẽ trôi đi, đúng lúc anh đang ngóng chờ một tình cảm rất mới, rất đặc biệt, tình cảm của một cặp vợ chồng trẻ vừa mới cưới đã phải xa nhau và chưa rõ ngày gặp lại. Từng câu, từng chữ hiện lên rõ ràng, thân yêu trên mặt giấy như lời tâm sự, động viên, nhắn nhủ anh. Nhận được thư của Tâm, anh cảm thấy hình như chẳng còn rét nữa, tình cảm trong lá thư đã thực sự sưởi ấm tâm hồn anh…”. (Thư ngày 6-2-1971)

Trong khi ấy, đang công tác ở Ủy ban thống nhất Trung ương tại Hà Nội, người vợ trẻ Đỗ Thị Tâm luôn lo lắng cho sức khỏe và nhiệm vụ của chồng:

Anh thương nhớ của em!

Anh vẫn khỏe chứ, công tác chiến đấu ra sao, có bắt được nhiều mục tiêu không hay lại để bọn chúng “lọt lưới” hết rồi? Em luôn mong chờ tin chiến thắng của anh đấy. Ở nhà thầy, u và gia đình nhắc đến anh luôn, sao dịp Tết vừa qua anh không biên thư về nhà, để u cứ lo anh làm sao…”. (Thư ngày 30-3-1972)

Đại tá Nghiêm Đình Tích kể rằng, do chiến tranh mà có thời điểm 6 tháng liền ông không nhận được một lá thư của vợ, trong khi ở nhà “bà xã” vẫn thường xuyên gửi thư vào chiến trường và thư nào cũng thấy trách “sao em chẳng nhận được thư anh”, để rồi người lính ở tiền tuyến phải động viên, giải thích với người ở hậu phương: “Trong thư, em trách anh nhiều về việc em không nhận được thư anh, song tính đến nay đã hơn 6 tháng rồi, không có một lá thư nào của em đến với anh, trong khi địa chỉ vẫn không có gì thay đổi. Anh vẫn thường xuyên biên thư cho em, mặc dù điều kiện công tác của anh có bận rộn hơn trước. Đâu ngờ chúng ta lại không nhận được thư của nhau, để cho em buồn, thậm chí lại còn ngờ vực anh!”.

Bên cánh sóng ra-đa, Nghiêm Đình Tích đã có dịp trải lòng với những tâm sự lạc quan, tươi trẻ. Trong một lá thư gửi vợ, chàng lính trẻ đã tếu táo coi mình là “mục tiêu” nhỏ bé mà bom Mỹ không dễ dàng sát hại. Lá thư đề ngày 12-12-1972 và khi tới tay người nhận, đơn vị của Nghiêm Đình Tích cũng như quân, dân Thủ đô đã trải qua 12 ngày đêm chống chọi với cuộc tập kích đường không của B-52 Mỹ.

Em thương yêu của anh!

Hiện nay anh vẫn khỏe, sinh hoạt và công tác bình thường. Thời kỳ vừa qua địch đánh phá có phần ác liệt, ở ngoài ấy nghe đài hoặc nghe tin đồn kể ra cũng nóng ruột đấy, nhưng thực ra vẫn chưa ác liệt lắm đâu, mặc dù chúng có nhiều đợt B-52 đánh phá. Chỗ bọn anh nhiều lần nhìn thấy B-52, nhiều lần nghe rõ tiếng bom B-52 với âm độ khác nhau, và cũng có lần được “thưởng thức” tiếng bom B-52 cách đỉnh đầu hàng trăm mét, nổ cách chỗ ở 500-600m. Các loại máy bay khác cũng hoạt động mạnh cả ngày lẫn đêm quanh khu ở, có lần chúng bắn tên lửa vào khu công tác, song bọn anh đã khá quen với cuộc sống như vậy rồi.

Em đừng lo cho anh nhé, bởi vì các anh đã có “mắt thần”, dĩ nhiên hầu hết những lần như vậy bọn anh đều biết và làm việc bình thường. Hầm hố ở đây cũng đầy đủ và khá chắc chắn. Hơn nữa em nên nhớ rằng “Nó thấy mà chưa chắc đã đánh được, đánh chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã chết” và “mục tiêu” như anh lại vô cùng nhỏ bé. Yên tâm em nhé, đừng quá lo về anh mà già đi đấy!…”. (Thư ngày 12-12-1972)

Những lá thư thời chiến của vợ chồng CCB Nghiêm Đình Tích.

Sau dòng hồi ức gắn với những lá thư kỷ vật, Đại tá Nghiêm Đình Tích đã kể về công việc của những người lính ra-đa Đại đội 45, Trung đoàn 291 trong những ngày cuối tháng 12-1972. Có mặt tại trận địa ra-đa Đồi Si (Đô Lương, Nghệ An) năm ấy, ông đã từng “nóng ran người” khi trực tiếp phát hiện ra “đường bay lạ” của địch.

Khoảng 19 giờ ngày 18-12-1972, Đại đội 45 được lệnh mở máy, mấy phút sau Nghiêm Đình Tích và hai trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích đã thấy những dải nhiễu B-52 ở đúng tọa độ mà trắc thủ máy đo cao Tô Trọng Huy đã thông báo. Mọi người trong kíp vẫn bình tĩnh vì họ đã quá quen với những tốp B-52 cất cánh từ căn cứ U-ta-pao vào đánh phá các mục tiêu ở Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng trên đất Lào. Trước đó, Nghiêm Đình Tích và đồng đội đã có hơn 3 năm rời Hà Nội vào bám trụ, lăn lộn ở chiến trường Khu 4, vì thế trong buổi tối 18-12, các anh đã phát hiện ra sự “bất thường” của không quân địch: B-52 đã đến phương vị 300 độ mà chưa đổi hướng. “Thường thì cứ đến các phương vị 270, 280 và 290 độ là chúng rẽ trái, tiến vào đất Lào, nhưng lần này nó bay qua phương vị 300. Người tôi nóng ran, vậy là chỉ còn mỗi đường là nó bay vào miền Bắc”, Đại tá Nghiêm Đình Tích nhớ lại.

Trong khoảng thời gian tính bằng giây quan sát trên màn hiện sóng, các trắc thủ của Đại đội 45 đã coi “Phương vị 300” như một ngã ba đường, và họ đã nhận ra lối rẽ của lũ giặc trời. Khi báo cáo lên trên, cả Đại đội và Trung đoàn đều hỏi lại: “Có đúng B-52 không?”, thậm chí khi Trung đoàn báo về Sở chỉ huy trung tâm, chính Tham mưu phó Binh chủng Hứa Mạnh Tài còn lặp lại câu hỏi ấy tới hai lần.

Có sự thận trọng trước khi báo cáo cấp trên là do trước đây đã từng xảy ra chuyện hoang báo tin B-52, sự thận trọng ấy đã làm cho tôi và hai trắc thủ: Xích, Cầu – những người con Hà Nội – thêm lo lắng, sốt ruột khi nghĩ tới người thân ở hậu phương. Lúc ấy, tôi chỉ muốn hét thật to cho cả nước cùng nghe: B-52 đang bay vào Hà Nội”, Đại tá Nghiêm Đình Tích kể lại, giọng xúc động.

19 giờ ngày 18-12-1972, tại trận địa ra-đa ở Đồi Si (Đô Lương, Nghệ An), Đại đội 45 (Trung đoàn Ra-đa 291) đã phát hiện một đường bay lạ của B-52 Mỹ. Ngay lập tức, thông tin “B-52 đang hướng vào Hà Nội” được báo cáo lên trên. Ít phút sau, từ Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân, mệnh lệnh báo động B-52 toàn miền Bắc được phát ra. Do lập công đầu trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, tập thể Đại đội 45, Trung đoàn 291 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân; Đài trưởng ra-đa Nghiêm Đình Tích được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì. S.T.

BÙI VŨ MINH
qdnd.vn

Khâm Thiên tiếng gọi nhớ đời…

QĐND-Khoảng năm 1994, một cựu binh Mỹ đến xin gặp tôi, với mảnh giấy giới thiệu của ngành ngoại giao ta: “Ông James G. Zumwalt (Giêm), nguyên Trung tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, đã từng tham chiến ở Việt Nam – nay là luật sư, và là nhà văn, muốn tìm hiểu tư liệu để viết một cuốn sách về thời kỳ Mỹ gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”.

Tôi nói với Giêm: “Nếu ông làm được chuyện đó để giúp nhân dân Mỹ hiểu Việt Nam, thì tôi sẵn sàng giúp ông với tất cả hiểu biết và khả năng của mình”.

Giêm tỏ vẻ vui mừng. Suốt ba giờ liền ông ta ngồi hỏi, tôi trả lời. Với cuốn sổ tay và cây bút, Giêm ghi chép liên tục. Hỏi đủ thứ chuyện thời tôi là bộ đội đánh Pháp, đến thời đánh Mỹ, tôi trở thành nhà báo, nhà văn sống ở vùng đất lửa Quảng Bình – Vĩnh Linh… Giêm chăm chú lắng nghe với vẻ mặt xúc động, ngạc nhiên. Ông ta hỏi tôi có biết địa điểm Khâm Thiên ở Hà Nội không?

Cấp cứu người bị thương ở phố Khâm Thiên. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

Tôi kể cho Giêm nghe Khâm Thiên là một khu phố đông đúc của thủ đô Hà Nội. Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam cũng ở gần đấy. Nơi đó có ngõ Văn Chương, có một nhà thơ nữ tên là Anh Thơ mà chúng tôi quý mến như người chị. Đến ngày Chủ nhật chị thường hay làm bún chả, gọi chúng tôi đến ăn. Khâm Thiên đầy ắp trong tôi những câu chuyện tình lãng mạn và những giọng hát “ả đào” mà nhà văn Nguyễn Tuân thường kể lại cho chúng tôi nghe.

Giêm lại hỏi: “12 ngày đêm Hoa Kỳ sử dụng pháo đài bay B-52 ném bom Hà Nội, ông có mặt ở Hà Nội không?”. Tôi cho Giêm biết suốt từ ngày 18 đến 29-12-1972, tôi không chỉ có mặt ở Hà Nội, chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc ném bom vào Thủ đô mà còn có mặt ở phố Khâm Thiên lúc Mỹ trút bom xuống đó.

Giọng Giêm trở nên dè dặt đầy vẻ rụt rè hỏi:

– Có thật Hoa Kỳ đã ném bom vào khu dân cư ở Khâm Thiên hay không?

Tôi nói cho Giêm biết cái đêm 26-12 ấy, Mỹ không chỉ dùng B-52 rải bom hủy diệt phố Khâm Thiên phá hủy 2000 ngôi nhà, giết hại và làm bị thương 473 ông bà già, phụ nữ và trẻ em, mà còn rải bom xuống Bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư Nghĩa Đô, An Dương và nhiều nơi khác ở Hà Nội, giết hại rất nhiều dân thường.

Thấy vẻ mặt hoài nghi của Giêm vì ông cho rằng, không lực Mỹ hiện đại nhất thế giới không thể đánh trật các mục tiêu là căn cứ quân sự của đối phương, khu dân cư ở Khâm Thiên bị bom chẳng qua là sự sai lạc chút ít trong kỹ thuật của phi công… Tôi nói: “Khi ra Hà Nội, ông nên đến Khâm Thiên để tìm hiểu cụ thể sự thật”…

Cuối buổi gặp, Giêm vẫn năn nỉ xin tôi cho ông ta biết những ý nghĩ và ấn tượng của tôi về Khâm Thiên hồi Hà Nội bị đánh bom. Tôi ngồi nhìn dáng người Giêm cao lớn nhưng có gương mặt hiền lành, chân thật. Mắt ông ta nhìn đầy vẻ cam chịu và ẩn chứa một nỗi đau nào đó làm tôi động lòng thương hại. Tôi kể cho ông ta nghe về cái đêm Khâm Thiên năm ấy…

Toàn bộ 6 khối phố Khâm Thiên hầu như bị xóa sạch trong đêm 26-12-1972. Bom Mỹ đã giết 287 người, trong đó có 40 cụ già và 55 em nhỏ. Nhiều gia đình không còn ai sống sót. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

… Sau một đợt đi công tác ở mặt trận B5 ở miền Nam, tôi được Hội Nhà văn gọi ra Hà Nội ngồi viết sách. Viết chưa xong cuốn sách thì Ních-xơn trì hoãn và lật lọng ở Hội nghị Pa-ri, trở lại ném bom miền Bắc. Ở Vĩnh Linh – Quảng Bình bắt đầu bị Mỹ dùng máy bay B-52 ném bom hủy diệt. Ở Hà Nội cũng đang sơ tán. Trại sáng tác ngưng hoạt động, các nhà văn miền Nam trở lại chiến trường. Tôi đang chuẩn bị tìm xe trở về Quảng Bình thì vợ tôi đem hai con nhỏ ra Hà Nội giao cho tôi rồi quay trở lại bám trụ vùng đất lửa để dạy học. Được đồng nghiệp giúp đỡ, tôi mang hai con về sống tạm tại căn hộ của nhà văn Hoàng Lại Giang ở 52 Trần Nhân Tông. Bước vào tháng 12-1972, cả Hà Nội sơ tán chuẩn bị chiến đấu. Giang vác tất cả các thùng sách chất lên cái bàn viết và xếp quanh bàn làm cho bố con tôi cái hầm trú ẩn phòng máy bay oanh tạc. Cả khu phố Trần Nhân Tông đi sơ tán hết. Bạn bè ở Hội Nhà văn và các nhà xuất bản giúp bố con tôi tiền bạc và thực phẩm để tạm sống ở Hà Nội chờ xin xe quân sự để trở về Quảng Bình. Những ngày đó, tôi ngồi xem lại và sửa chữa những trang viết. Ngọc Lan, con gái tôi tám tuổi chơi quanh quẩn bên căn hầm sách với em gái Thúy Vinh hai tuổi. Hễ nghe còi báo động rú lên là Lan bế em chui vào cái hầm sách gầm bàn. Còn tôi ra hào giao thông trước nhà để xem các cô cậu tự vệ bắn máy bay Mỹ bay tầm thấp bằng súng trường.

Những ngày đó, Hà Nội thực sự là một mặt trận. Tiếng còi báo động rú lên cùng với tiếng loa phóng thanh hướng dẫn ẩn nấp và chỉ huy chiến đấu khi máy bay Mỹ bay đến. Bắt đầu từ đêm 18-12, hàng đợt máy bay B-52 Mỹ đến ném bom Hà Nội. Tiếng bom rung chuyển mặt đất. Bầu trời rực sáng những đường bay của tên lửa và đạn cao xạ của bộ đội phòng không. Chốc chốc thấy B-52 bị trúng đạn bùng lên những khối lửa nổ tung và rơi lả tả giữa trời đêm. Vài đêm sau, Mỹ đánh sập nhà ga Hàng Cỏ và chúng đang nhằm vào các đê đập và các cây cầu. Người Hà Nội vẫn bình tĩnh làm việc và chiến đấu. Tôi nhớ mãi ngày thứ chín, B-52 Mỹ đánh dữ dội vào Hà Nội nhằm vào đúng sau đêm Giáng sinh. Ngoài trời mưa phùn gió bấc, rét căm căm. Tôi lấy thêm chăn đắp cho con, ngồi lo lắng nghe tiếng máy bay gầm rú và bom đạn vang rền rất gần chỗ tôi. Nửa đêm nghe tiếng chân người chạy và tiếng loa gọi hướng vào nhà: “Khâm Thiên bị bom bà con ơi! Nhanh lên đi cứu Khâm Thiên đồng bào ơi!”. Tôi dặn Lan: “Ở trong hầm trông em để ba đi cứu người”. Từ chỗ tôi qua phố Khâm Thiên chỉ mấy trăm mét đường. Phố Khâm Thiên như một bãi đất đá ngổn ngang đầy người đào bới các dãy nhà và hầm hố bị sập để cứu người bị thương và kéo người chết ra xếp đầy bên đường phố. Tôi cùng một số nhà văn, nhà báo có mặt cùng mọi người lao vào đào bới. Nữ diễn viên điện ảnh Mỹ Giên Phôn-đa vừa lau nước mắt, vừa đưa máy lên ghi hình ảnh đau thương…

Nghe tôi kể đến đó, Giêm vội hỏi: “Bây giờ hai cô gái con ông đang ở đâu?”.

– Một đứa đang dạy ở Trường Đại học Văn hóa, một đứa đang dạy đàn dương cầm ở Nhạc viện TP Hồ Chí Minh

gần đây…

Tháng 5-2010, bạn tôi ở Washington D.C. gửi cho tôi cuốn sách “Chân trần chí thép” của Giêm vừa xuất bản ở Mỹ. Cuốn sách đã làm xôn xao dư luận Mỹ và gây không ít phản ứng của các thế lực cầm quyền. Cuốn sách đã phần nào giúp dân chúng Mỹ bước đầu hiểu rõ ý chí gang thép của người Việt Nam. Ý chí đó với đôi chân trần đã vượt qua tất cả để làm nên một Điện Biên Phủ dưới mặt đất, tống cổ thực dân Pháp ra khỏi Việt Nam. Và cũng với ý chí gang thép đó, Việt Nam lập nên một chiến công huyền thoại Điện Biên Phủ trên bầu trời đánh bại thần tượng pháo đài bay B-52, góp phần quan trọng giành lại hòa bình cho nhân dân và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước Việt Nam.

Có một điều tôi chưa bằng lòng với cuốn sách là ông ta trích nhiều đoạn nhật ký của tôi nhưng thật sự chưa hiểu hết sự diễn đạt của tôi, cũng như ông ta né tránh kể lại chuyện con gái tôi phải bò trong đám xác người đẫm máu để đi tìm bố. Tuy vậy, ông ta đã phải thừa nhận không lực Hoa Kỳ ném bom vào dân thường ở Khâm Thiên, mặc dầu vẫn dùng cụm từ: “tổn thương bên lề và hệ quả không may trong chiến tranh”(!?)

Cho đến bây giờ, hai tiếng Khâm Thiên là tiếng gọi đau thương để lại ấn tượng nặng nề trong lòng tôi.

Trong cuộc tập kích đường không chiến lược tháng 12-1972, Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B-52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném hơn 100.000 tấn bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác, phá hủy nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác. ST.

Nhà văn TRẦN CÔNG TẤN
qdnd.vn

“Cẩm nang bìa đỏ” cuốn sách nhỏ, chiến công lớn

QĐND-Trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, Quân chủng Phòng không-Không quân có một thứ “bảo bối” rất quan trọng, hỗ trợ tác chiến góp phần tạo nên chiến thắng. Đó là cuốn “Cách đánh B-52 của Bộ đội tên lửa” hay còn gọi là “Cẩm nang bìa đỏ”.

Cuốn sách dày 30 trang đánh máy, in rô-nê-ô trên những tờ giấy giang đen sạm, thô sơ với một tờ bìa màu đỏ bọc ngoài. Hình thức tuy đơn giản nhưng nó là một công trình khoa học tập thể, là kết tinh một quá trình chiến đấu của nhiều đơn vị trong nhiều năm chiến đấu với B-52 và các thủ đoạn của không quân Mỹ để chuẩn bị cho trận đánh lớn với “pháo đài bay B-52” trên bầu trời Thủ đô.

“Hội nghị tháng 10” và một “Gánh hát rong”

Trong suốt nhiều năm trước khi Mỹ sử dụng B-52 không kích Hà Nội, đồng thời với công tác chiến đấu, việc nghiên cứu cách “đối phó” với “pháo đài bay” của Mỹ được bộ phận tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng không-Không quân làm việc liên tục và chi tiết. Những đoàn cán bộ giỏi, lặn lội vào các chiến trường ác liệt nhất: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, đường Trường Sơn, đến với các trận địa ra-đa, tên lửa, vào buồng máy ngồi cạnh các trắc thủ, sĩ quan điều khiển để cùng nghiên cứu trên “thực địa”. Mỗi lần đối đầu với B-52 dù thành công hay không đều được phổ biến ngay cho các đơn vị phòng không, không quân toàn miền Bắc vận dụng. Đồng thời, tất cả những điều rút ra từ thực tế chiến trường về cách đánh máy bay các loại của địch được phân tích, tổng kết, viết thành tài liệu.

Đại tá Nguyễn Xuân Minh trao đổi với phóng viên về cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” mà ông từng tham gia biên soạn và trực tiếp xuống đơn vị luyện tập. Ảnh: Tuấn Tú.

Đến đầu năm 1972, những sĩ quan có trình độ kỹ-chiến thuật giỏi, dày dạn trong chiến đấu như: Nguyễn Sinh Huy, Tô Ngội, La Văn Sàng, Vũ Lai Trường, Nguyễn Xuân Minh, Quách Hải Lượng, Trần Xanh, Hoàng Bảo… được yêu cầu phải gấp rút hoàn chỉnh tài liệu về cách đánh B-52 cho bộ đội tên lửa. Đại tá Nguyễn Xuân Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường Trung cấp Kỹ thuật Phòng không-Không quân kể: “Cuối tháng 10-1972, Tư lệnh Lê Văn Tri sau khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thông báo tình hình hết sức khẩn trương, phải gác lại mọi vấn đề để tập trung vào nghiên cứu và thống nhất cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa. Lúc này nội dung cách đánh B-52 đã được nhóm nghiên cứu chúng tôi tổng hợp thành tập tài liệu”.

Ngày 31-10-1972, tập tài liệu đã được đưa ra bàn bạc kỹ lưỡng tại một hội nghị hết sức quan trọng (sau này gọi là Hội nghị tháng 10). Đại tá Nguyễn Xuân Minh là người đại diện cho nhóm tác giả đọc báo cáo trung tâm. Dự hội nghị hôm đó, ngoài các cán bộ cấp quân chủng, sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và các cơ quan còn có nhiều trắc thủ, sĩ quan điều khiển thuộc các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực. Với kinh nghiệm chiến đấu thực tiễn, họ đã có nhiều ý kiến bổ sung hết sức quý báu. Hội nghị tháng 10 thống nhất cách đánh B-52 cho bộ đội tên lửa và lập tức được đưa đi in thành sách để phổ biến xuống đơn vị. Vậy là kể từ tháng 11-1972, cẩm nang Cách đánh B-52 của Bộ đội tên lửa đã hoàn chỉnh và chính thức phổ biến đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu, tập luyện phương án đánh B-52.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng tiếp theo là tổ chức cho bộ đội luyện tập theo phương án đã được thông qua, tiếp tục theo dõi âm mưu địch, phát động quần chúng tìm cách đánh địch tốt hơn, trên cơ sở đó bổ sung cho phương án ngày càng hoàn chỉnh. Một “gánh hát rong” xuất hiện. Đó không phải đoàn văn công hay những đội văn nghệ quần chúng đi ca hát phục vụ mà là các đội huấn luyện lưu động do Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không-Không quân và Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội thành lập. Thành viên phần lớn là các sĩ quan đã từng tham gia biên soạn cuốn sách. Họ giống như những người thầy đến với các tiểu đoàn tên lửa ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng… để trực tiếp truyền đạt, hướng dẫn cách đánh B-52 cho các kíp chiến đấu. “Gánh hát rong” là cách gọi vui của bộ đội tên lửa dành cho đội huấn luyện vì họ di chuyển liên tục, hết đơn vị này đến đơn vị khác.

Bìa cuốn “Cách đánh B-52 của Bộ đội tên lửa” đang được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không-Không quân. Ảnh: Đặng Bích.

Chính nhờ cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” và “Gánh hát rong” mà đêm 22-11-1972, Trung đoàn tên lửa 263 ở Nghệ An đã khắc phục được nhiễu, bắn hạ một chiếc B-52, rơi ở Na-khon Pha-nom, Thái Lan. Sự kiện này buộc Mỹ phải thừa nhận B-52 của họ bị SAM2 Việt Nam bắn rơi. Đối với chúng ta, chiến công này đã khẳng định giá trị thực tiễn của cuốn sách “Cẩm nang bìa đỏ”, đồng thời khẳng định khả năng: “Tên lửa SAM2 của ta có đủ điều kiện bắn rơi tại chỗ B-52 của Mỹ”.

Cuốn sách “nhỏ”, chiến công lớn

Chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị bắn rơi bởi tên lửa SAM2 cho thấy hiệu quả khi vận dụng kỹ-chiến thuật được nêu trong sách đỏ. Bộ đội tên lửa của ta thêm tin tưởng vào khả năng đánh thắng B-52. Đại tá Nguyễn Xuân Minh sau này đã tìm và lưu giữ toàn bộ tài liệu ghi trong “Cẩm nang bìa đỏ” và trao tặng Bảo tàng Phòng không-Không quân. Hiện nay, bìa của cuốn sách đang được trưng bày tại đây. Trong cuốn sách, tập thể tác giả đã chỉ rõ để bắn trúng B-52 quan trọng nhất là tìm trong dải nhiễu tín hiệu của B-52. Khái niệm này bộ đội ta vẫn gọi là “vạch nhiễu tìm thù”. B-52 không phải là hoàn toàn vô hình, nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu một cách gián tiếp. Đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy các đám nhiễu này kích thước to nhưng không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: Bắn một loạt các quả đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được cẩm nang gọi là “phương án P”. Khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào, đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên, mục tiêu sẽ hiển thị khá rõ nét. Đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác, chỉ cần 1 đến 2 quả tên lửa, B-52 sẽ phải rơi tại chỗ. Cẩm nang gọi là phương án T. Đồng thời trong “cẩm nang” cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu.

Ông Sàng “chống nhiễu” – Đại tá La Văn Sàng, nguyên Trưởng ban Tác chiến điện tử Quân chủng Phòng không-Không quân, cũng là một thành viên của “Gánh hát rong”. Trong chiến dịch, ông cơ động ở trận địa của Tiểu đoàn 79, Trung đoàn 257 cũng khẳng định: “Bộ đội tên lửa được huấn luyện cách vạch dải nhiễu tìm B-52 ghi trong cẩm nang nên khi B-52 vào Hà Nội, yếu tố bất ngờ dùng thủ đoạn nhiễu tổng hợp bảo vệ không còn. Đồng thời, cường độ gây nhiễu của B-52 cũng đã bị phân tán. Trên nền nhiễu dù ở hướng nào, các đơn vị tên lửa đều có thể phát hiện được B-52. Vì vậy, ta đã bố trí đội hình tên lửa đánh bọc lót cho nhau, sử dụng phương pháp bắn 3 điểm và linh hoạt sử dụng phương pháp bắn đón nửa góc khi thấy mục tiêu rất hiệu quả”.

Đại tá Nguyễn Xuân Minh còn nhớ trận đánh diễn ra lúc 20 giờ ngày 20-12-1972, khi ông là trợ lý của Phòng Tác huấn tên lửa quân chủng được phân công xuống Tiểu đoàn 93 theo dõi, lập ra các bài tập đã có sẵn trong giáo án để kíp chiến đấu của đơn vị tập luyện và chiến đấu với B-52: “Hôm ấy địch bay vào từ hướng Tam Đảo. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Hùng ra lệnh ngay cho sĩ quan điều khiển Hoàng Đức Vĩnh phát sóng tìm mục tiêu, khi kíp trắc thủ bám sát chính giữa vào dải nhiễu sáng nhất của máy bay B-52 thì anh ra lệnh: Phóng 2 quả, điều khiển bằng phương pháp T! Sĩ quan điều khiển Vĩnh thực hiện ngay. Hai tiếng nổ liên tiếp vang lên. Theo dõi ít lâu sau thấy 2 quả đạn vượt mục tiêu tự hủy. Giữa lúc này kíp trắc thủ báo cáo phát hiện thấy tín hiệu mục tiêu đang bay trong dải nhiễu, Tiểu đoàn trưởng thấy trường hợp này xảy ra đúng như phương án đã chuẩn bị trước. Anh ra lệnh cho sĩ quan điều khiển phóng tiếp bằng phương pháp P hai quả đạn nữa vào mục tiêu. Đạn nổ! Mục tiêu bị tiêu diệt”. Đây chính là cách đánh tiếp vào mục tiêu B-52 khi vừa đánh xong nhưng chưa tiêu diệt được, thuật ngữ quân sự gọi là “đánh bồi, đánh nhồi”.

Việc vận dụng những nội dung ghi trong “Cẩm nang bìa đỏ” cộng với sự mưu trí, quả cảm, bộ đội tên lửa Việt Nam đã thành công trong việc tìm và diệt B-52, góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, một tổ cán bộ tham mưu của Quân chủng Phòng không-Không quân lên báo cáo với Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp về thành tích bắn rơi B-52. Nghe xong báo cáo, Đại tướng hỏi về kinh nghiệm đánh B-52 của Trung đoàn 257 và 261 trước chiến dịch. Trưởng phòng Tác huấn tên lửa Nguyễn Sinh Huy đưa cho Đại tướng xem cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” và báo cáo hai trung đoàn này đã vận dụng cách đánh được ghi trong sách kết hợp với sự linh hoạt trong chiến đấu chứ chưa từng đánh B-52. Sau một thoáng suy nghĩ, Đại tướng đã nêu lên một nhận xét rất quan trọng:

– Như vậy là không nhất thiết cứ phải đã trải qua chiến đấu bộ đội ta mới đánh thắng được kẻ địch. Một trong những yếu tố quyết định để chiến thắng là phải có cách đánh tốt và được huấn luyện chu đáo.

Mấy hôm sau, ở hội trường Quân chủng Phòng không-Không quân, trước đông đảo cán bộ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giơ cao cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” và nói: Chúng ta thắng được B-52 Mỹ là do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp hết sức quan trọng của cuốn sách này.

(“Điện Biên Phủ trên không” chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam – NXB Quân đội, 2002).

SONG THANH
qdnd.vn

SAM2 đã quật đổ B-52 như thế nào

QĐND-Câu chuyện tên lửa SAM2 bắn hạ B-52 đã được Anh hùng LLVT nhân dân, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh về chính trị Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ), nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn 361, kể nhiều lần. Giờ ông đã 75 tuổi, thời gian đã đủ để những “bí mật quân sự” ngày ấy được phép công khai, minh chứng về sự sáng tạo, mưu trí, dũng cảm của một thế hệ Việt Nam trong cuộc chiến tranh vệ quốc.

Phóng viên (PV): Thưa Trung tướng, trước đây trên các phương tiện truyền thông đại chúng hay trong các cuốn sử truyền thống của Quân chủng PK-KQ mô tả việc bắn B-52 theo phương pháp “T” và “P”, thực chất của phương pháp này là thế nào?

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt: Ngày đó, chúng tôi đang từ đơn vị pháo cao xạ được chuyển sang sử dụng tên lửa đất đối không SAM2. Mỗi khi chuyển loại vũ khí như vậy đều được chuyên gia Liên Xô huấn luyện về lý thuyết cũng như thực hành một cách bài bản, kỹ càng. Hai phương pháp ấy là lấy chữ đầu phiên từ tiếng Nga sang. “T” là phương pháp bắn 3 điểm, khi đánh trong nhiễu không bắt được mục tiêu chỉ ước lượng cự ly và độ cao; còn “P” là phương pháp bắn đón nửa góc, khi nhìn thấy tín hiệu mục tiêu trên màn hiện sóng, như vậy đã xác định được cự ly và độ cao của máy bay rồi.

– SAM2 có được cải tiến để bắn B-52?

– Trước khi trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 diễn ra, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng PK-KQ đã có nhiều hội thảo chuyên đề về cách đánh B-52 cho bộ đội tên lửa. Chẳng hạn, cuộc họp từ ngày 30-10 đến 3-11-1972 tại Bộ chỉ huy Sư đoàn phòng không Hà Nội (F361) đóng tại Hòa Mục (Đống Đa, Hà Nội) do Tư lệnh Quân chủng, Đại tá Lê Văn Tri chủ trì, đã sôi nổi thảo luận xung quanh các vấn đề: phương pháp tổ chức chỉ huy; chọn dải nhiễu; chọn thời cơ phát sóng; cự ly phóng đạn; phương pháp bắn; phương pháp bám sát mục tiêu; cách chống tên lửa Sơ-rai… Sau hội nghị, Phòng Khoa học quân sự, Phòng Tác huấn Bộ Tổng tham mưu đã ban hành nội bộ tài liệu “Cách đánh B-52”. Việc cải tiến tên lửa SAM2 ngày đó đã được tiến hành tới 3-4 lần, do những cuộc thảo luận chung giữa cán bộ kỹ thuật Việt Nam và chuyên gia Liên Xô xuất phát từ thực tiễn huấn luyện và chiến đấu, nhắm vào việc nâng cao hiệu quả diệt địch, đã có một số cải tiến được tiến hành từ kết cấu lại cái càng kéo tên lửa đến thành phần bên trong quả đạn hay hệ thống điện tử điều khiển.

Thượng úy Nguyễn Văn Phiệt (ngoài cùng, bên phải), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (E261, F361), rút kinh nghiệm đánh địch sau một trận chiến đấu cuối năm 1972. Ảnh tư liệu.

– Trở lại phương pháp T và P. Như vậy, hiệu quả bắn B-52 phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm chiến đấu sau khi vũ khí đã được cải tiến?

– Đúng thế! SAM2 bắn hiệu quả ở độ cao 27km; cự ly gần 7-12km, xa nhất 34km. Trước hết, phải quan sát nhiễu trên màn hiện sóng cho tinh tường, chuẩn xác, điều này luôn được các đơn vị tên lửa kịp thời rút kinh nghiệm sau từng trận đánh. Chẳng hạn, chúng tôi đã nhận biết một cách chắc chắn sự khác nhau giữa nhiễu B-52 với nhiễu máy bay tiêm kích bảo vệ vòng ngoài F4, F111. Dải nhiễu B-52 mịn, phẳng, thắt cổ bồng; còn nhiễu các máy bay chiến thuật kia thì đi như quấn thừng, không ổn định. Mỗi khi chúng tôi có động tác đánh lừa địch, phát sóng RPK giả thì nhiễu của các máy bay bảo vệ vòng ngoài nhấp nháy, chạy lung tung, còn của B-52 vẫn ổn định, chạy thẳng vào. Chọn thời cơ bắn đón cũng là điều rất quan trọng. Chẳng hạn đánh theo phương pháp P, nhìn thấy mục tiêu ở cự ly 20-25km là phóng, nếu để nó đến gần quá là quá tải, gãy đạn…

– Gãy đạn là thế nào, thưa ông?

– Thường phải đưa quả đạn tên lửa hướng bắn đón về phía trước, song do máy bay địch lao tới với tốc độ cao (1.800km/giờ), xử trí chậm là nó đến gần quá, quả đạn phóng lên bị hút về phía sau, nhiều trường hợp rơi bật ngửa ngay gần trận địa. Uổng phí quả đạn đó.

Đường bay của B-52 từ Gu-am và máy bay tiếp dầu từ Ô-ki-na-oa đến đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

– Không phải cứ mỗi quả tên lửa là diệt một máy bay…

– Lý thuyết thì cứ 3 quả đạn mới hạ được 1 máy bay, tức xác suất diệt mục tiêu đạt 96%. Những ngày mở đầu chiến dịch, sư đoàn tôi bắn nhiều mà hiệu quả diệt B-52 còn thấp, sau đó rút kinh nghiệm kịp thời, có lúc chỉ một quả đạn mà lại hạ được một B-52, mà hạ tại chỗ. Chẳng hạn, rạng sáng 21-12-1972 có ba tốp B-52 đánh vào sân bay Gia Lâm, trung đoàn ra lệnh tập trung hỏa lực của 4 tiểu đoàn, đã bắn cháy được mấy chiếc. Đến khi cơ số đạn các tiểu đoàn bạn đã hết, tiểu đoàn tôi chỉ còn hai quả. Đúng lúc đó, có 9 chiếc B-52 từ hướng tây bắc lao vào. Thấy kíp trắc thủ vẫn luôn tinh tường bám sát tín hiệu B-52, tôi ra lệnh cho sĩ quan điều khiển lần lượt phóng hai quả đạn, thế là hai B-52 bốc cháy tại chỗ.

– Ông có nhớ cả chiến dịch, ta dùng hết bao nhiêu đạn tên lửa?

– Nhớ chứ. Toàn chiến dịch bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 B-52, riêng sư đoàn tôi bắn rơi 25 B-52, trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ; 9 máy bay chiến thuật thì có 2 chiếc rơi tại chỗ. Cả chiến dịch sử dụng hết 334 quả tên lửa, riêng Sư đoàn phòng không Hà Nội đã phóng lên 254 quả, đơn vị tôi 31 quả.

– Nghe nói, sau chiến dịch 12 ngày đêm diệt B-52, kho tên lửa SAM2 của ta đã cạn?

– Đâu có! Sau chiến dịch ta còn vài trăm quả dự trữ nữa. Tất nhiên, sau này tên lửa phòng không đã chuyển sang loại khác, hiện đại hơn. SAM2 đã đi vào lịch sử, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình. Nên nhớ “SAM2” là theo tên gọi của phương Tây, chứ đúng xuất xứ tên lửa do Liên Xô chế tạo đều lấy tên một dòng sông nào đó trên đất bạn. SAM2 có tên nguyên bản là “Đờ-vi-na” tức con sông Đờ-nhép; sau Đờ-vi-na là Pê-trô-va, là Vôn-ga…

– Xin cảm ơn ông!

Lúc Mỹ khởi đầu ném bom năm 1965, Bắc Việt Nam không có máy bay phản lực, có rất ít sân bay, không có tên lửa, không có tới 20 giàn ra-đa, chỉ có một số ít súng phòng không lỗi thời. Năm 1967, các phi công Mỹ đã phải bay qua lưới phòng không kinh khủng hơn nhiều so với lưới lửa gặp phải ở Đức năm 1944. Tên lửa đất đối không lần đầu tiên hạ một máy bay phản lực F-40 ngày 24-7-1965. Cuối năm đó, đã có khoảng 60 vị trí SAM ở miền Bắc. Máy bay MiG-17 và MiG-19 cũng đã có mặt trong năm đó và bắn rơi 2 máy bay F-105 ngày 4-4. Tổn thất của Mỹ về máy bay và về phi công đã gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ phát triển hệ thống phòng không của Hà Nội (tướng 1 sao Đê-vơ Ri-sác Pan-mơ (Dave Richard Palmer). Trong cuốn “Tiếng kèn gọi quân”, Novato, Presidio Press, 1978).

PHẠM QUANG ĐẨU (Thực hiện)
qdnd.vn

Từ trận quyết chiến chiến lược đầu tiên

QĐND– Ở thế kỷ thứ Mười, giặc Nam Hán đã hai lần ra quân xâm lược nước ta.

Mùa đông năm 938, chúng đã bị quân dân nước Việt, dưới sự lãnh đạo của Anh hùng dân tộc Ngô Quyền, đánh cho đại bại ở cửa sông Bạch Đằng. Đó là “một vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há đâu phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi” – sử gia nổi tiếng ở thế kỷ 18 – Ngô Thì Sĩ đã đánh giá trận Bạch Đằng như vậy.

Tuy nhiên, đây là trận đánh thắng giặc Nam Hán lần thứ hai. Trước đấy, còn có một trận thắng giặc Nam Hán nữa không kém phần vẻ vang oanh liệt, nhưng vì rợp bóng trận Bạch Đằng, nên chưa mấy được nói đến. Đó là trận thắng giặc Nam Hán lần thứ nhất ở chiến trường Đại La năm 931.

Đại La là tòa thành mà vua Lý Thái Tổ vào năm 1010 đã sử dụng lại sau khi sửa sang, tôn tạo làm Kinh thành Thăng Long.

Năm 905, trong phong trào “Họ Khúc dấy nghiệp chống đại họa “Bắc thuộc” để người Việt làm chủ nước Việt”, Khúc Tiên chúa Thừa Dụ đã từ miền Hồng Châu (Hải Dương) tiến lên, chiếm được tòa thành Đại La này, kết thúc việc quan quân nhà Đường ở phương Bắc đến xây dựng và sử dụng công trình kiến trúc quân sự này làm đầu não cai trị nước Việt, đồng thời kết thúc luôn cả thời đại “chống Bắc thuộc” hơn nghìn năm của lịch sử dân tộc.

Khúc Trung chúa (Khúc Hạo) nối quyền Khúc Thừa Dụ từ năm 907, làm chủ thành Đại La và truyền quyền ấy cho Khúc Hậu chúa (Khúc Thừa Mỹ) vào năm 917.

Nhưng đến năm 930 thì vua nhà Nam Hán là Lưu Nghiễm đã cử đại binh do các tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh chỉ huy, đi tái chiếm nước Việt. Giặc đã đánh hạ được thành Đại La, đánh bại luôn cả cuộc kháng chiến của Khúc Thừa Mỹ.

Thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán sau đấy được cử sang làm “toàn quyền”, tái đô hộ nước Việt, cùng với tướng Lương Khắc Trinh, đóng quân ở trong thành Đại La.

Đánh đuổi bọn xâm lược và đô hộ này, lấy lại thành Đại La, để tiếp nối truyền thống “Người Việt làm chủ nước Việt” đã thiết lập được từ năm 905 ở nơi này – đấy là nhiệm vụ của trận thắng giặc Nam Hán lần thứ nhất ở Đại La năm 931 do Anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ lãnh đạo.

Có lẽ dù là ở vào thời gian quá sớm trong lịch sử quân sự của dân tộc, cũng như là của cả nhân loại, nhưng vẫn phải hình dung cho đúng với thực tế lịch sử – rằng trận đánh thành Đại La của Anh hùng Dương Đình Nghệ mùa xuân năm 931 đã diễn ra giống như là một “chiến dịch” đích thực và gồm hai giai đoạn:

Ở giai đoạn thứ nhất, quân dân ta – từ căn cứ Ái Châu kéo ra – đã tấn công trực diện vào tòa thành Đại La, thắng lợi nhanh chóng và tuyệt đối: Đuổi thứ sử Lý Tiến chạy dài về nước, giết tướng Lương Khắc Trinh tại trận, làm chủ tòa thành.

Giai đoạn thứ hai, diễn ra ngay sau đấy: Đánh viện binh.

Do được tin cấp báo ngay từ khi lực lượng của Dương Đình Nghệ mới bắt đầu từ Ái Châu kéo ra Đại La, chúa Lưu Nghiễm nhà Nam Hán đã phái ngay chức Thừa chỉ là Trần Bảo, dẫn một đạo viện binh đi tăng cường, chi viện cho thứ sử Lý Tiến và tướng Lương Khắc Trinh giữ thành.

Đền thờ Dương Đình Nghệ tại làng Giàng (thôn Dương Xá, Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ảnh: TUẤN TÚ.

Nhưng diễn biến nhanh chóng và triệt để của giai đoạn thứ nhất chiến dịch đã đặt đạo quân đi tăng cường, chi viện cho Đại La của tướng Trần Bảo của nhà Nam Hán này vào thế “sự đã rồi”. Chúng đành phải đóng quân ở mé ngoài thành, chuẩn bị đánh phục thù. Nhưng Anh hùng Dương Đình Nghệ – không để cho giặc kịp hành động – đã chủ động mở cửa thành, ra đánh trước. Vậy là – cũng như ở giai đoạn đầu – bước thứ hai của chiến dịch đã diễn ra với thắng lợi cũng nhanh chóng và triệt để như thế: Phá tan đạo viện binh Nam Hán, giết chết tướng Trần Bảo tại trận.

Trận Đại La năm 931 đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất của nhà Nam Hán đã thắng lợi giòn giã. Đôi câu đối ở đền thờ Anh hùng Dương Đình Nghệ trước đây tại làng Giàng (Dương Xá) đã chính xác ca ngợi vị chủ tướng và mô tả đầy hào sảng trận thắng này:

Dưỡng tam thiên nghĩa tử dĩ phục thù, hằng hằng kinh khí

Chưởng bát vạn hùng sư nhi xuất chiến, lẫm lẫm oai thanh

(Nuôi ba nghìn nghĩa tử để phục thù, khí phách kinh hồn

Cầm tám vạn hùng binh mà ra trận, uy danh lừng lẫy)

Giải quyết toàn bộ nhiệm vụ của cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Nam Hán chỉ trong một trận (chiến dịch), đây rõ ràng là một trận quyết chiến chiến lược, ở và từ thời gian rất sớm của lịch sử dân tộc.

Trận quyết chiến chiến lược đầu tiên này liên quan hữu cơ và trực tiếp dẫn đến đại võ công của trận quyết chiến chiến lược ở vùng cửa sông Bạch Đằng mùa đông năm 938.

Điều vô cùng ý nghĩa và đặc sắc là: Diễn ra ở Đại La vào năm 931, trận đại thắng này cũng còn nối dài truyền thống tổ chức – tiến hành quyết chiến chiến lược thắng lợi vẻ vang, oanh liệt của dân tộc tới nghìn năm sau và ở trên cùng địa bàn chiến lược, là trung tâm đầu não của đất nước. Đó là lúc dân tộc ta, vào tháng Chạp năm 1972, làm trận “Điện Biên Phủ trên không”!

GS LÊ VĂN LAN
qdnd.vn

Nhận dạng B-52

QĐND-Trước khi dùng B-52 rải bom ở chiến trường miền Nam Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã tuyên truyền khá ầm ĩ cho loại máy bay chiến lược được mệnh danh là pháo đài bay này. Pháo đài chỉ sự kiên cố, vững chắc. Bay để chỉ sự cơ động. Hoa Kỳ quảng cáo rằng, với chiều dài 48,5m, sải cánh 34m, có sức chở hơn 27 tấn bom đạn, độ cao có thể lên tới 17km, B-52 loại tất cả các tầm đạn pháo cao xạ của đối phương dưới tầm bay.

Dạo ấy hình dáng B-52 như thế nào, ở chiến trường lính ta không được biết, nhưng nhận dạng B-52 qua bãi bom. Hàng trăm quả bom được ném theo tọa độ, với bề rộng ngót trăm thước, chiều dài có khi kéo dài hơn một cây số. Đó là bãi bom hủy diệt, vì kẻ giết người đã nghiên cứu pha trộn các loại bom theo phương án tối ưu, nhằm phá sạch, giết sạch những gì nằm trên diện tích rộng lớn mà ít tốn kém nhất. Có một điều giới quân sự Mỹ thời ấy không ngờ tới, là lính ta không chỉ nhận biết B-52 từ bãi bom, mà trong khá nhiều trường hợp, còn nhận ra những tọa độ nào B-52 sắp ném bom, bởi thế bom B-52 đào đất, phá rừng thì nhiều, chứ mấy khi chụp được đội hình bộ đội hành quân hoặc khu vực đóng quân. Giới quân sự Mỹ lại đổ cho vì địa hình rừng núi quá rộng, quá phức tạp nên hiệu quả tiêu diệt đối phương của B-52 còn hạn chế, nếu như ở thành phố thì khác.

Bộ đội ta bắt sống giặc lái B-52 trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Ảnh: Cảnh trong phim “Hà Nội – Bản hùng ca” của Điện ảnh Quân đội.

Trước mùa đông năm 1972, người Hà Nội chưa một ai nhìn thấy hình dạng B-52. Và trong thâm tâm, nhiều người nghĩ rằng, sự tàn ác của kẻ thù cũng chỉ có giới hạn và không tin chúng có thể đem loại máy bay chiến lược đó để rải bom vào Thủ đô của một nước. Nhưng ý nghĩ đó đã hoàn toàn sai lầm. Khoảng tám giờ tối ngày 18-12-1972, anh em lớp Bồi dưỡng sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam đang ngồi đàm đạo thì nghe những âm thanh lạ như tiếng đá lăn ở phía chân trời. Mọi người hỏi nhau đó là tiếng gì? Nhà thơ Cảnh Trà, công tác ở tuyến lửa Vĩnh Linh, người đã nhập học chậm hơn một tháng trời vì phải đi bộ từ Vĩnh Linh ra Hà Nội khi tất cả các nhịp cầu đã bị phá sạch, nói:

– Theo mình thì đó là tiếng B-52!

Liền sau đó là tiếng còi báo động, tất cả vội vàng chạy ra hầm. Tôi nhớ đêm đó còi báo động Nhà hát Lớn thành phố rú lên 5 lần, anh em 5 lần tung chăn vùng dậy chạy ra hầm trú ẩn. Học viên nói chung còn trẻ, phản ứng khá nhanh nên khi còi báo động vừa rú lên là ra ngay được hầm, chỉ có nhà thơ Hoàng Cát, người đã bị cưa một chân trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968 ở miền Nam, mỗi lần nghe còi báo động là phải ngồi dậy lắp chân gỗ vào. Mà động tác này đâu phải đơn giản, thường là mất 4-5 phút. Có khi còi báo yên, Hoàng Cát vừa mới vào giường, tháo chân gỗ ra chưa kịp nằm xuống thì đã nghe còi báo động. Đêm ấy cả lớp coi như thức trắng, nhưng chưa một ai biết chắc chắn B-52 đã ném bom Hà Nội, bởi trường viết văn ở Quảng Bá, cách trung tâm thành phố khá xa.

Pháo đài bay B-52. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

Đêm 19-12, chúng tôi thức đón trận chiến chống B-52. Lúc đầu nghe còi báo động thì còn xuống hầm, nhưng khi nghe tiếng người hò reo vì B-52 cháy thì không ai có thể ngồi yên trong hầm được, bởi ánh sáng của đám cháy giữa trời cao đã chiếu sáng đến mọi ngóc ngách hầm trú ẩn. Lần đầu tiên, tôi được nhận dạng B-52 như thế này đây: Tôi đứng cùng nhiều học viên khác trên nóc hầm trú ẩn ở góc trường Quảng Bá, nhìn chênh chếch về phía Đông Anh, phía bên kia bến Chèm. Trong vô vàn tiếng nổ của các cỡ súng cao xạ, có một tiếng nổ to hơn, đó là tên lửa ta bắt đầu phóng. Đường đi của quả tên lửa vẽ lên nền trời đêm màu sáng rực, trông rất rõ. Lúc đầu vệt sáng đó chạy chênh chênh một đoạn khá dài, sau đó nó bay ngược lên theo chiều gần như thẳng đứng. Cuối chiều thẳng đứng đó tên lửa nổ, một quầng sáng nhỏ bung ra rồi tắt lặng. Chỉ chừng vài giây sau, phía trên chỗ tên lửa vừa nổ, phát ra một tiếng nổ lớn, ánh sáng bùng lên mãnh liệt, làm sáng đỏ cả bầu trời. Đấy là tiếng nổ của chiếc B-52 đã lĩnh đủ mảnh của quả tên lửa nổ cách nó không xa. Lúc này người Hà Nội không ai nghĩ là mình đang tránh bom, mà nhảy lên, reo lên để theo dõi cái bó đuốc khổng lồ đó vừa cháy, vừa rơi, lúc đầu còn rơi thẳng, sau đó vừa rơi vừa quay cho tận khi cắm xuống đất.

Lớp học còn ở lại Hà Nội qua đêm 20-12. Đó là đêm thứ ba, chúng tôi như đã quen với B-52, không chỉ leo nên nóc hầm xem B-52 cháy mà còn rủ nhau theo dân quân đi bắt phi công. Sáng 21 thì được lệnh của nhà trường phải đi sơ tán, đúng hơn là chia nhỏ lớp ra để đi thực tế đến các trận địa phòng không ở vùng ngoại vi thành phố.

Tôi theo một đơn vị dân quân của xã Liên Hà, huyện Đan Phượng với những khẩu pháo 37mm trực trên bãi Nổi giữa sông Hồng. Nhiệm vụ của đơn vị này là đón đánh những chiếc máy bay tầm thấp trước khi chúng lẻn vào đánh phá Hà Nội. Tại trận địa này, tôi đã nhìn thấy hình dạng B-52 khi nó đang bay trên bầu trời: Sau hồi còi báo động, nghe tiếng động cơ nặng nề, ngước mắt lên bầu trời đêm mùa đông ù ù những cơn gió lạnh, tôi bắt gặp những bóng đèn nhấp nháy trên cao. Chỉ một lúc sau, từ phía Hà Nội, ánh sáng của những quả đạn tên lửa đã vạch sáng nền trời.

Sau mười hai ngày đêm, sáng ngày 1-1-1973, dù chưa có lệnh của nhà trường, nhưng học viên từ các hướng khác nhau đã trở lại Hà Nội. Sau khi đi dọc phố Khâm Thiên đổ nát, có nhiều người chít khăn xô trắng đào bới trong gạch vụn, tôi tìm về vườn Bách Thảo cùng bao người khác. Tới Bách Thảo không phải để xem thú, xem cây mà là vì xác những chiếc B-52 đã được mang về chất đống trên khoảng đất rộng phía trong cổng. Đây là lần thứ ba tôi được nhận dạng B-52, khi nó chỉ còn là những mảnh vụn rời rạc. Tôi ngạc nhiên về bề rộng của sải cánh và chi chít những u cục nổi lên dọc những đường hàn tiếp nối. Biểu tượng “Bàn tay nắm giữ tia sét” trên một mảng cánh đã bị mảnh tên lửa của ta xé ra làm hai nửa. Thì ra tên lửa của ta còn mạnh hơn những tia sét của trời, làm cho không lực Hoa Kỳ không thể nào nắm giữ nổi!

Bên xác máy bay B-52, tôi đã sáng tác ngay một bài thơ, vài ngày sau đăng trên Báo Nhân Dân. Nhân dịp này, mời các bạn đọc lại bài thơ này trong không khí cả nước long trọng kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của thủ đô Hà Nội anh hùng.

CHÚNG TÔI HIỂU B-52
(Lời một người Hà Nội)

B-52 chở được bao nhiêu tấn bom?
Điều đó chúng tôi không rõ
Chỉ biết chúng san bằng từ đầu đến
cuối phố
Như Khâm Thiên.
Bệnh viện Bạch Mai
Khu lao động An Dương
Nằm gọn trong tầm bom nổ.

B-52 bay cao bao nhiêu cây số?
Điều đó chúng tôi không rõ
Chỉ biết chúng bốc cháy từ rất cao
Chiếc nào cũng giống nhau
Mắt chỉ thấy khi đã bừng sắc lửa
Rồi ánh chớp lóe lên
Rực sáng tận từng góc phố.

Không biết chúng dài bao nhiêu thước
Vì chẳng gặp chiếc nào vẹn nguyên
Chỉ thấy từng mảng sạm đen
Từng mảng quăn queo, rách nát
Với hàng vạn mũi đinh
Như những vết đen ghi tội ác.

Chúng tôi hiểu B-52
Không phải qua sách báo Hoa Kỳ quảng cáo
Mà qua xương máu
Của đồng đội, bà con
Qua bàn tay run rẩy xin hàng
Của những tên giặc lái.

VƯƠNG TRỌNG
qdnd.vn

JAMAIS (không bao giờ)

Video Phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh – Tháng 6/1964

Và đây là đối thoại của cuộc phỏng vấn được dịch ra tiếng Việt:

“- Thưa Ngài chủ tịch, Ngài có thể cho biết liệu có một giải pháp quân sự nào cho chiến sự tại miền Nam Việt Nam?

– Không. Bởi vì như cô biết đấy, “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một”. Người Mỹ đã vô cớ gây chiến tranh. Cô cũng biết rằng, như trên các mặt báo đã đưa, nếu chiến tranh càng kéo dài, người Mỹ sẽ càng sa lầy và sẽ càng chuốc lấy thất bại. Chiến tranh không thể kéo dài mãi mãi được, tôi cũng vui mừng là các nhà chính trị Pháp cũng đã biết rõ điều này.

– Liệu Ngài có nghĩ rằng tướng De Gaule có thể sẽ có biện pháp nào đó phân định (arbitrer) sự xung đột này.

– Không biết cô hiểu thế nào về từ phân định (arbitrer), chúng tôi đâu có phải là một đội bóng đâu (cười).

– Nhưng nếu tôi không nhầm thì ngoài Hiệp định Genève, tướng De Gaule có nói về một ý tưởng về sự thống nhất tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á, Ngài nghĩ sao về điều này?

– Như tôi đã nói một lần rồi, đây là một ý tưởng khá hấp dẫn. Nhưng nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của từng nước, phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện nó nữa, đó là một câu hỏi lớn. Tôi không nói là tôi phản đối hay tán thành ý kiến này. Lấy ví dụ về HOA, có rất nhiều loại hoa: hoa trắng, hoa đỏ, hoa vàng … có loài hoa đẹp nhưng cũng có loài không đẹp, nhưng chúng ta vẫn gọi chung là HOA.

– Thưa Ngài Chủ tịch, trong chuyến đi miền Bắc Việt Nam này chúng tôi nhận thấy rằng sự ảnh hưởng của Pháp dường như không còn tồn tại ở đây nữa, độ tuổi dưới 25 giờ đã không còn biết đến tiếng Pháp. Tôi tự hỏi là, với suy nghĩ của Ngài, liệu rằng chúng ta có thể gây dựng lại mối quan hệ này, rằng nước Pháp sẽ giữ vai trò nào đó trong mối quan hệ … văn hóa giữ hai nước?

– Với nước Pháp nói riêng và các nước khác nói chung, chúng tôi luôn muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị về văn hóa, kinh tế … Nhưng tôi không nghĩ rằng cô muốn nói tới sự ảnh hưởng của Pháp như họ đã từng gây sự ảnh hưởng với Việt Nam trước đây, đó là một chuyện hoàn toàn khác.

– Oui, thời kì đó đã qua rồi.

– Một mối quan hệ hữu hảo về văn hoá, kinh tế … hay như thể thao chẳng hạn. Chúng tôi hoàn toàn hưởng ứng.

– Nếu như chiến tranh tiếp tục leo thang tại miền Nam Việt Nam trong một vài năm tới, liệu ngài có nghĩ rằng kinh tế của miền Bắc Việt Nam có thể duy trì được như bây giờ?

– Tôi chắc chắn rằng nó không những chỉ duy trì mà còn phát triển. Cô cũng thấy rằng là ở đây, chúng tôi lao động rất hăng say, cần cù, với sự hy sinh và lòng nhiệt huyết, và chủ yếu đều xuất phát từ nội lực của chúng tôi. Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự giúp đỡ anh em từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Tất cả đều thể hiện qua những tiến bộ hàng ngày, và chắc chắn là cả trong tương lai nữa.

– Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Nga và Trung Quốc?

– Không, …….. (không nghe rõ ) …….. Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.

– Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

– JAMAIS (không bao giờ).”

Nguồn YouTube

Thắng lợi của chủ trương “vừa đánh vừa đàm”

Trong cuốn Hồi ký do Nxb Grosset and Dunlap, New York (Mỹ ) ấn hành năm 1978 tại trang 730, Nixon đã thú nhận về cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội: “Lệnh ném bom lại trước Noel là quyết định khó khăn nhất của tôi trong cuộc chiến tranh này nhưng cũng là một quyết định dứt khoát nhất và cần thiết nhất” (Noel 1972-NV). Và, quả đúng đây là một trong những sai lầm lớn nhất của Nixon trong cuộc đời làm Tổng thống của ông ta, dẫn đến thất bại trên bàn đàm phán Paris.

Những hố bom và sự tàn khốc của B52
không làm người dân Hà Nội run sợ

Ảnh: Internet

Ngày 18-12-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ về đến Hà Nội cũng chính là thời điểm máy bay chiến lược B52 của Mỹ ném bom rải thảm Hà Nội, mở đầu cuộc tập kích mang tên Linebacker II tàn bạo nhất, quy mô nhất của không quân Mỹ vào Thủ đô của Việt Nam kể từ đầu cuộc chiến tranh.

Chúng ta không bất ngờ vì đã quá hiểu Mỹ. Trước ngày 18-12-1972, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, quân và dân ta đã chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt đánh trả hành động phiêu lưu quân sự cao nhất của Mỹ. Đảng đã chỉ đạo Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu tập trung tối đa lực lượng, vũ khí, phương tiện, khí tài của bộ đội phòng không, không quân và các lực lượng khác cho trận đánh quyết định này. Ngày 21-12-1972, vừa chỉ đạo quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương đánh trả cuộc ném bom, đánh phá tàn bạo do đế quốc Mỹ gây ra, Đảng, Chính phủ ta ra Tuyên bố lên án chính quyền Nixon leo thang chiến tranh, trì hoãn ký Hiệp định, đồng thời lệnh cho các đơn vị tập trung toàn lực chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ hơn nữa, làm thất bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược của kẻ thù.

Đây là điều Mỹ không ngờ tới, cũng trong cuốn Hồi ký kể trên của mình ở trang 733, Nixon thú nhận: “Nỗi lo nhất của tôi, trong cái tuần lễ đầu này, không phải là làn sóng phê phán nổi lên ở trong nước cũng như ngoài nước như đã dự kiến, mà là sự tổn thất lớn về máy bay B52”. Trong bối cảnh bị dư luận trong nước Mỹ và thế giới lên án, bị tổn thất nặng nề về máy bay và giặc lái, lại không khuất phục được ta, ngày 22-12, phía Mỹ lại gửi tiếp một công hàm đề nghị Kissinger và Lê Đức Thọ gặp nhau vào ngày 3-1-1973 và nếu Việt Nam chấp nhận, Mỹ sẽ ngừng ném bom từ phía Bắc Vĩ tuyến 20 trở lên từ ngày 30-12-1972. Tuy nhiên, không vồ vập trước đề nghị này mà đến ngày 26-12, Chính phủ Việt Nam mới trả lời Mỹ, đồng ý nối lại cuộc họp cấp chuyên viên bàn về các Nghị định thư và cuộc họp giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Trưởng đoàn Xuân Thủy với Kissinger sẽ tiến hành vào ngày 8-1-1973. Chủ trương của Đảng ta là đập tan hành động chiến tranh của Mỹ bằng các hoạt động quân sự, coi đó là đòn quyết định, đánh trước, đàm phán sau, buộc Mỹ phải chấp nhận thất bại hoàn toàn.

Thông báo của Ban Bí thư số 08/TB/TW ngày 30-12-1972, về tình hình trước mắt của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, đã nêu rõ: “Trong thời gian qua, từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12, đế quốc Mỹ đã điên cuồng leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, đánh phá rất ác liệt và tập trung vào Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, nhiều khu công nghiệp và vùng đông dân khác. Chúng mong tạo “thế mạnh” để ép ta nhân nhượng trong cuộc thương lượng ở Paris, nhưng chúng đã bị thất bại nặng cả về quân sự và chính trị, không quân chiến lược Mỹ đã bị quân và dân ta đánh trả quyết liệt, chúng đã bị thiệt hại lớn nhất về máy bay và giặc lái trong chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta.

Trong thế thua và lúng túng, trước thất bại to lớn mới, phía Mỹ đã đề nghị nối lại cuộc thương lượng. ta đã lên án hành động chiến tranh mới của Mỹ, đòi chúng phải trở lại tình hình trước

Mốc son trong cuộc đàm phán tháng 1-1973.

Ngày 15-1-1973, Chính phủ Mỹ tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chiến tranh bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc.

Ngày 23-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kissinger ký tắt vào văn bản Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris đã được các Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa ký chính thức tại Paris.

ngày 8-12, phải từ bỏ chính sách đàm phán trên thế mạnh…Lập trường đàm phán của ta vẫn là giữ những nguyên tắc của dự thảo Hiệp định ngày 20-10, chỉ mềm dẻo trên một số điểm không trái với các nguyên tắc cơ bản của ta mà ta có thể chấp nhận được.” Căn cứ chỉ đạo của Ban Bí thư và Bộ Chính trị, trong các cuộc gặp từ ngày 8-1 đến ngày 13-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng các thành viên của Đoàn đã tận dụng thắng lợi to lớn, oanh liệt vừa giành được trong 12 ngày đêm cuối 1972, buộc Kissinger và phía Mỹ phải chấp nhận cơ bản những nội dung đã thỏa thuận trong dự thảo Hiệp định ngày 20-10.

Chủ trương của Đảng phối hợp giữa hoạt động quân sự giành thắng lợi trên chiến trường, tạo cơ sở cho hoạt động ngoại giao giành thắng lợi trước, trong và sau sự kiện 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã thành công. Bằng thắng lợi quân sự to lớn trên chiến trường hai miền Nam, Bắc, đặc biệt là đánh bại cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp với hoạt động ngoại giao và cuộc đấu tranh không kém phần quyết liệt trên bàn đàm phán, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân Mỹ về nước, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi tiến lên đánh đổ nhào chính quyền và quân đội Sài Gòn, giành lại độc lập, thu giang sơn về một mối.

Đoạn kết có hậu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được đánh dấu bằng sự phối hợp nhịp nhàng hiệu quả và tuyệt đẹp của hai mặt trận quân sự và ngoại giao, đưa tới thắng lợi cuối cùng. Đây là sự thành công mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh của Đảng ta.

PGS.TS.Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Đảng
Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh

daidoanket.vn

Chiến công ‘diệt ma đầu’ của không quân VN

Trang bị loại tiêm kích thua kém đối phương về mọi mặt, những người chiến sĩ Không quân Nhân dân Việt Nam vẫn mưu trí, sáng tạo giành chiến thắng.

(ĐVO) Giai đoạn đầu cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc, Không quân Nhân dân Việt Nam chủ yếu trang bị tiêm kích MiG-17 lạc hậu nhưng phải đối chọi với dàn máy bay tiên tiến của Đế quốc Mỹ.

MiG-17 luôn đối đầu với tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ F-4 được mệnh danh “con ma” thường xuyên bay hộ tống phi đội ném bom oanh tạc miền Bắc.

“Một trời, một vực”

Tiêm kích đánh chặn hạng nhẹ MiG-17 được Liên Xô sản xuất và đưa vào sử dụng đầu năm 1950. Đây là kiểu tiêm kích nhỏ, nhanh nhẹn được trang bị một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1F cho phép đạt tốc độ cận âm 1.145km/h, bán kính tác chiến ngắn.

MiG-17 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (40 viên đạn), tầm bắn hiệu quả chỉ 400m, nghĩa là phi công phải chấp nhận nguy hiểm tiếp cận rất gần mục tiên mới đảm bảo tiêu diệt địch. Thậm chí, MiG-17 không có radar đối không, chỉ có kính ngắm. Trong điều kiện trời quang, phi công chỉ nhìn xa 15km.

Trong phim tài liệu của Mỹ, MiG-17 không được coi là đối thủ của F-4.

Ra đời sau MiG-17 10 năm, tiêm kích F-4 ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến thời điểm đó nên nó vượt trội so với MiG-17 về nhiều mặt (tốc độ, vũ khí, điện tử).

F-4 trang bị hai động cơ tuốc bin phản lực GE J79-GE-17A cho phép đạt tốc độ gấp hai lần vận tốc âm thanh (2.370km/h), trần bay hơn 18.000m.

Máy bay có lượng tải vũ khí hơn 8 tấn mang được các tên lửa không đối không tầm ngắn AIM-9, tầm trung AIM-7 có thể tiêu diệt mục tiêu cách đó 50km. Ngoài ra, F-4 còn một pháo siêu tốc 6 nòng cỡ 20mm (640 viên đạn) để đánh cận chiến.

Không những dùng cho nhiệm vụ đối không, F-4 còn có khả năng mang bom, tên lửa không đối đất oanh tác mục tiêu mặt đất. F-4 cũng được trang bị hệ thống radar kiểm soát hỏa lực có thể phát hiện, theo dõi nhiều mục tiêu ở khoảng cách xa.

Nếu như so sánh về thông số, MiG-17 gần như không có “cửa” để đấu lại F-4. Thậm chí, trong loạt phim tài liệu Dog Fight, có nội dung nói về các cuộc cận chiến trên không, xếp ngang hàng với F-4 phải là MiG-21, còn đối thủ của MiG-17 là F-8 Cruisader, chiến đấu cơ thuộc hàng tiêm kích cuối cùng còn sử dụng pháo như vũ khí chính trong các cuộc không chiến.

Vì vậy, khi đưa MiG-17 đối đầu trực diện với F-4, khả năng dành chiến thắng không cao. Thế nhưng, với tinh thần táo bạo, sáng tạo trong cách đánh, khai thác sử dụng tối đa trang bị hiện có, kết hợp có hiệu quả giữa bộ phận dẫn đường và phi công, MiG-17 vẫn hạ gục F-4.

Điển hình là trận đánh ngày 20/9/1965, đã làm nức lòng quân dân khi biên đội MiG-17 đã giành chiến thắng vang dội bắn hạ, bắn bị thương “con ma” F-4 mà không chịu tổn thất (*).

Chiến thắng của biên đội 3 anh hùng

Mùa thu năm 1965, Không quân Nhân dân Việt nam vừa xây dựng xong sân bay Kép (Bắc Giang). Trinh sát địch phát hiện hoạt động này, ngày 19/9/1965, phi đội Mỹ đánh phá dữ dội sân bay.

Tối 19/9, Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân Phùng Thế Tài và Tham mưu trưởng Hoàng Ngọc Diêu nhận định ngày mai Mỹ sẽ tiếp tục đánh phá Kép và khu vực cầu Sông Hóa. Vì vậy, bộ tư lệnh đã chỉ thị cho không quân tiêm kích tổ chức, 8 chiếc MiG-17 trực ban tại Nội Bài để phối hợp với đơn vị cao xạ đón đánh địch.

“7h50 phút sáng 20/9/1965, radar của ta phát hiện một tốp máy bay địch từ Hòn Gai bay thấp phía bắc dãy núi Yên Tử đi vào hướng sân bay Kép (Bắc Giang),” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên – sĩ quan tham gia dẫn đường trận đánh nhớ lại.

Lúc đó, ông đang trực ban dẫn đường hiện sóng radar tại Đại đội 29 (sân bay Bạch Mai) thì được gọi vào trực sở chỉ huy thay đồng chí Trần Quang Kính đi Kép rút kinh nghiệm.

Tới 7h55 phút sở chỉ huy lệnh cho biên đội 4 MiG-17 do các phi công Phạm Ngọc Lan (số 1 >> chi tiết) – Nguyễn Nhật Chiêu (số 2) – Trì (số 3, nhân chứng không rõ họ tên) – Nguyễn Ngọc Độ (số 4) vào lệnh chiến đấu cấp I.

Khi đó, “Trực ban trưởng Nguyễn Hào Hiệp đề nghị sau khi cất cánh cho biên đội bay thẳng lên hướng Hiệp Hòa, Bố Rạ và xuống Kép đánh địch vì ta lên hơi muộn.”

“Tuy mới lần làm nhiệm vụ dẫn đường ở sở chỉ huy, nhưng tôi mạnh dạn đề nghị, nếu ta bay thẳng ra Hiệp Hòa – Bố Rạ thì địch sẽ phát hiện điều tiêm kích đánh chặn ngay. Vì vậy, tôi nghĩ sau khi cất cánh vòng trái bay dọc đường số 3 lên Thái Nguyên, độ cao thấp 500m để radar địch không phát hiện được.

Khi lên đến Thái Nguyên mới cho lên độ cao 3.000m, hướng 60 độ tiếp tục bay lên phía Bắc Kạn, từ hướng Bắc dẫn xuống Kép thì địch sẽ bất ngờ,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên kể lại.

“Én bạc” MiG-17 của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Sau khi trực ban trưởng và thủ trưởng đồng ý phương án đề ra, “khi biên đội cất cánh xong liên lạc về sở chỉ huy, tôi cho vòng trái, hướng 350 độ, độ cao 500m rồi 700m,” ông nói.

Biên đội MiG-17 do phi công Phạm Ngọc Lan chỉ huy theo lệnh đi về hướng bay đã định. Tới gần Thái Nguyên, sĩ quan dẫn đường tiếp tục cho hướng bay 360, độ cao 3.000 rồi 4.000m nhằm giúp radar dẫn dễ phát hiện được máy bay.

“Khoảng 3 phút sau, radar dẫn bắt được một tốp máy bay địch ở Đông Nam Hòn Gai, độ cao 4.000m, tốc độ 800 – 850km/h. Tôi đề nghị thủ trưởng cho biên đội ta đánh tốp này vì radar dẫn phát hiện mục tiêu tốt, tốc độ máy bay địch không tăng chứng tỏ chúng chưa phát hiện đựợc ta,” ông nhớ lại.

Sau khi chỉ huy đồng ý, ông liền cho biên đội vòng phải, hướng bay 130 độ, đồng thời máy bay được lệnh vứt thùng dầu phụ. “Đồng chí Bình trực ở radar dẫn đường tiếp tục cho hướng 150 độ, khi còn cách địch 50km cho tăng tốc lên 900km/h. Lúc này, radar dẫn đường tạm thời mất mục tiêu, tôi tính toán và cho hướng bay 180 độ, độ cao 4.500m (cao hơn địch 500m) và thông báo địch ở phía bên phải phía trước 30 độ, 15km,” ông kể.

Ở trên không, chỉ sau 10 giây cả biên đội MiG-17 phát hiện được 4 chiếc tiêm kích F-4 cách 12km, số 2 Nguyễn Nhật Chiêu với ưu thế độ cao và tốc độ nhanh lao vào tiếp cận, ở cự ly hiệu quả ông đã bóp cò bắn trúng một chiếc F-4 ngay loạt đạn đầu.

Ba chiếc F-4 còn lại do bị bất ngờ nên chỉ còn cách cơ động gấp, tăng tốc tháo chạy ra hướng biển. Ngay lập tức, biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan và số 3-4 bám theo bắn bị thương 2 chiếc khác.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chặn tiêu diệt địch, biên đội MiG-17 được lệnh thoát ly khỏi khu vực chiến đấu về hạ cánh ở Nội Bài. Để bảo vệ biên đội, quân chủng còn lệnh 2 biên đội MiG-17 do các phi công Bùi Đình Kình – Đào Công Xưởng và Hồ Văn Quỳ – Nguyễn Biên yểm hộ.

Cũng trong ngày hôm đó, lực lượng pháo cao xạ bảo vệ sân bay Kép và cầu Sông Hóa cũng bắn rơi 2 chiếc F-4, tạo nên thắng lợi giòn giã của lực lượng Phòng không – Không quân.

Tuy trận đánh ngày 20/9/1965 của không quân tiêm kích MiG-17 không phải là trận đầu tiêu diệt F-4 nhưng là trận đầu thắng lợi không chịu tổn thất đầu của ta trước F-4.

Điều đặc biệt, 3 trong số 4 phi công biên đội MiG-17 bắn hạ F-4 ngày 20/9/1965 sau này đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân: Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Độ, Đại tá Nguyễn Nhật Chiêu.

Không bao lâu sau, Liên Xô bắt đầu viện trợ cho Việt Nam tiêm kích MiG-21 mạnh hơn, ngang ngửa F-4 trong khả năng không đối không (trang bị tên lửa tầm nhiệt, có radar, tốc độ siêu âm) tiếp tục giúp không quân ta bắn hạ thêm hàng trăm máy bay khác của địch, trong đó có cả siêu pháo đài bay B-52.

(*) Ngày 17/6/1965, lần đầu tiên tiêm kích MiG-17 của ta giáp mặt với tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ F4 “Con Ma”. Trong trận đánh, biên đội ta đã bắn hạ 2 chiếc F-4, tuy nhiên ta cũng mất 2 MiG-17 (một phi công hy sinh, một người nhảy dù).

>> Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52
>> Nói về trận đánh B-52 khiến BBC ‘im bặt’

>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 1)
>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 2)
>> Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 3)

Lê Nam
baodatviet.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 3)

Khai thác tối đa trang bị hiện có, đối đầu với máy bay hiện đại địch. Phạm Ngọc Lan cùng đồng đội xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ đánh chặn, tiêu diệt địch từ trận đầu.

(ĐVO) Kỳ 3: Người bắn rơi máy bay phản lực Mỹ đầu tiên

Bám thắt lưng địch mà đánh

Ngày 3/4/1965, hàng chục chiếc chiến đấu cơ Hải quân Mỹ cất cánh vào đánh phá cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa – điểm huyết mạch trên tuyến đường từ Bắc vào Nam mà Mỹ gọi là khu vực “cán xoong”.

Khi phát hiện địch, cấp trên ra lệnh biên đội 4 chiếc tiêm kích MiG-17 do Phạm Ngọc Lan (bay số 1) chỉ huy cùng các anh Phan Văn Túc (số 2), Hồ Văn Quỳ (số 3), Trần Minh Phương (số 4) cất cánh từ sân bay Nội Bài lên đánh chặn.

“Hướng phía đông có địch, cách 30km, độ cao 3.000m,” biên đội nhận được lệnh dẫn đường rành rọt từ mặt đất. Ngay lập tức, biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan ra lệnh “triển khai đội hình chiến đấu”. “Địch đối đầu mình rất nhanh, tôi phát hiện địch ở phía Tây Hàm Rồng cách khoảng 20km, tôi hô phát hiện địch ở hướng đông và lệnh vứt thùng dầu phụ”.

“Trên mỗi chiếc MiG-17 mang 2 thùng dầu phụ, khi cất cánh tiêu hao 2 thùng dầu này trước. Khi nào hết thì ném bỏ để máy bay cơ động tốt hơn,” ông giải thích.

Biên đội MiG-17 đánh trận ngày 3/4/1965 (từ trái qua): Phạm Ngọc Lan – Phan Văn Túc – Hồ Văn Quỳ – Trần Minh Phương.

 

Nếu xét về khía cạnh kỹ thuật, MiG-17 có một vài điểm kém hơn so với địch. MiG-17 không có radar mà chỉ có kính ngắm (mắt tinh nhìn được 15km trong điều kiện ban ngày trời quang mây) và trang bị một pháo 30mm (cơ số 80 viên) cùng hai pháo 23mm (cơ số 160 viên), tốc độ cận âm 1.010km/h. Trong khi, tiêm kích F-8U hộ tống đội máy bay ném bom A-4 của Mỹ có tên lửa đối không, radar, bay với tốc độ siêu âm.

Nhưng với quyết tâm, lòng dũng cảm, khai thác tối đa vũ khí, Phạm Ngọc Lan cùng biên đội lấy thế tấn công tiêu diệt địch. Do tầm bắn hiệu quả nhất của pháo trên MiG-17 chỉ đạt 400m nên biên đội ta quyết tâm phải vào tầm rất gần mới khai hỏa.

Từ trên cao chiếc MiG của Phạm Ngọc Lan bay đầu, còn  số 2 – Phan Văn Túc yểm trợ vào công kích địch. “Anh Phan Văn Túc bắn trước ở cự ly xa 800m nên chưa trúng. Cũng vì thế, quân địch phát hiện nhưng chúng cũng rối loạn đội hình.

Chớp thời cơ, Phạm Ngọc Lan bay vào đánh ngay chiếc F-8U đi đầu bảo vệ đội hình. Ở tầm 400m, tôi bóp cò lần thứ nhất chưa trúng, lần hai cũng vậy và tới lần ba thì chiếc F-8U trúng đạn, bùng cháy trên bầu trời Hàm Rồng,” ông nhớ lại giây phút lịch sử. Biên đội đồng loạt hô “cháy rồi, rơi rồi”, tất cả đều vui sướng khi “giặc lái” đền tội.

Xét về khía cạnh kỹ thuật ta kém địch nhưng bằng sự sáng tạo, dũng cảm, khai thác tối đa trang bị hiện có. Không quân ta, trực tiếp là Phạm Ngọc Lan cùng đồng đội đã giáng cho kẻ thù một đòn bất ngờ, buộc chúng từ nay không còn dám “ngông nghênh” xâm phạm vùng trời miền Bắc Việt Nam. Giờ đây, chúng không chỉ phải đối phó với mạng lưới phòng không tầng tầng lớp lớp mà còn phải lo những cú đột kích bất ngờ của MiG-17 và sau này là MiG-21.

Hạ cánh ngoạn mục

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chặn đánh địch cùng lực lượng phòng không, Phạm Ngọc Lan lệnh cho đồng đội trở về. Tuy nhiên, do phát hiện một chiếc F-8U tách đội hình vòng lại, ông liền đuổi theo công kích yểm trợ cho biên đội rút lui an toàn. Ông đuổi máy bay địch ra tới biển và bắn bị thương chiếc F-8U. Khi đó, ông mới nhận ra rằng máy bay đã gần hết nhiên liệu (dự tính còn khoảng 300 lít, chỉ  đủ bay dưới 10 phút).

Ông nhanh chóng kéo cần lái từ độ cao 500m kéo vòng 180 độ lên 1.500m về đất liền. Thấy bờ, nhưng ông không thể xác định được nên bay theo hướng nào vì trục la bàn điện tử bị cong không chỉ chính xác được phương hướng do thực hiện nhiều động tác ngoặt gấp khi đuổi địch.  Lúc này, sở chỉ huy mặt đất tính toán hết nhiên liệu, ra lệnh cho ông nhảy dù.

“Tôi nghĩ máy bay cùng với mình vừa xuất kích, rất thân thương, nhà nước mình còn nghèo, nó vừa lập công nên phải cố giữ cho bằng được máy bay,” ông nói. Dù sở chỉ huy lệnh ba lần nhảy dù, ông vẫn quyết tâm xin phép cho hạ cánh bắt buộc.

Phi công Phạm Ngọc Lan trong buồng lái MiG-17.

Vốn thông thạo địa hình, ông tính toán tìm đến cửa sông Thái Bình, bay thẳng về phía Tây Bắc là sông Hồng, và sau đó là Gia Lâm, Hà Nội, Nội Bài. “Tôi nghĩ trong trường hợp hết nhiên liệu giữa chừng, ở hai bên Sông Hồng bao giờ cũng có bãi cát dài. Và đó là điều kiện thuận lợi để tôi chọn bãi hạ cánh bắt buộc, để bảo đảm giữ vẹn toàn cho phi công và chiếc MiG thân yêu”.

Nghĩ là làm, ông liền bay bám theo sông Hồng về Hà Nội, nhưng do hết nhiên liệu nên ông quyết định hạ cánh bãi rộng hơn nằm ven sông Đuống. Tính huống khó khăn lại nảy sinh, do tốc độ bay lớn nên đã không thể đáp được xuống bãi, nếu vòng trở lại thì…rơi mất. “Tôi dùng kỹ thuật ngoặt gấp 180 độ ngược lại, lợi dung tốc độ thừa hạ cánh bằng bụng máy bay, không thả càng, bánh xe,” ông nhớ lại.

Khi hạ xuống, ông vận dụng hết tất cả các kỹ thuật bay để vừa thăng bằng máy bay, vừa giảm tốc nhanh. Tất cả đều phải đảm bảo sự hài hòa. Cuối cùng, chiếc máy bay hạ bụng xuống, lướt trên mặt đất khoảng 800m thì dừng sát triền đê sông Đuống.

Có thể nói, việc hạ cánh bằng thân máy bay trên mặt đất là một tình huống cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt trong điều kiện bãi đáp không biết trước, không có phương tiện cứu hộ. Với bản lĩnh, kỹ thuật tốt và một chút may mắn, Phạm Ngọc Lan đã hạ cánh thành công.

Thấm đượm tình quân dân

Việc hạ cánh trong điều kiện như thế, ông cũng bị thương ở trán do đầu đập vào máy ngắm nên mất 2-3 phút mới tỉnh. “Khi tôi tỉnh dậy, thấy hơi lơ mơ, hai chân vẫn đạp được, hai tay cựa được. Nhìn dọc triền đê thấy người lố nhố, đầu nhấp nhô, khí thế đằng đằng dường như nghĩ tôi là phi công địch nên cũng hơi hoảng,” ông nói. Rất bình tĩnh, ông đứng dậy mở khoang lái, gỡ mũ bay, đứng cao lên mở thắt lưng đeo súng bỏ lại trong khoang lái và bước ra ngoài.

Sau đó, ông hô to “ở đây có ai là chỉ huy cao nhất cho tôi xin gặp,” tới lần thứ ba thì một đồng chí mang xà cột, mũ cối đi hai bên có hai anh dân quân bước tới. Đứng cách 5-6m, ông dõng dạc nói: “tôi là phi công Việt Nam, cất cánh từ sân bay Nội Bài, về đây máy bay hỏng hóc xin hạ cánh nhờ”. Ông còn chỉ lên áo có đính cờ đỏ sao vàng năm cánh, máy bay mang phù hiệu cờ đỏ sao vàng. “Mọi hiểu lầm được giải tỏa” nhiều người dân chạy tới ôm chầm lấy ông, bao quanh máy bay.

Ông tiếp tục kêu gọi “máy bay tôi hạ cánh nhờ đồng bào giúp đỡ ngụy trang máy bay,” chỉ vài phút đã xong. Thế mới biết, tình quân dân như cá gặp nước, máy bay hạ cánh làm ruộng ngô hỏng gần hết nhưng nhân dân vẫn không tiếc mùa màng giúp đỡ khi bộ đội cần.

Sau đó, trực thăng của quân chủng đã tới và đưa Phạm Ngọc Lan về sân bay trung đoàn, các anh Túc – Quỳ – Phương đứng chờ, rồi ôm chầm lấy nhau, tất cả mừng mừng tủi tủi.

Biên đội MiG-17 đánh thắng trận đầu ngày 3/4/1965 có một điều đặc biệt, Phạm Ngọc Lan – Phan Văn Túc – Hồ Văn Quỳ – Trần Minh Phương đều sinh năm 1934. Sau này, các anh Phan Văn Túc và Trần Minh Phương đã anh dũng hi sinh trong các trận đánh khác. Phạm Ngọc Lan và Phan Văn Túc vinh dự được Đảng và Nhà Nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Chiến thắng 3/4/1965 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Không quân Nhân dân Việt Nam. Các anh ra đi và trở về trọn vẹn.

Không quân Nhân dân Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị của bác Hồ: “Mở mặt trận trên không thắng lợi”. Đồng thời chấp hành nghiêm nghị quyết của Quân ủy Trung Ương và chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Phải đánh thắng trận đầu”.

Vỵ Nam
baodatviet.vn

Nói về trận đánh B-52 khiến BBC ‘im bặt’

Tình hình cuối năm 1971 đang vào giai đoạn gấp rút chuẩn bị chiến dịch Quảng Trị 1972, vì vậy cán bộ chiến sĩ B8 phải khẩn trương, nhanh chóng tìm ra phương án đánh B-52

(ĐVO) Cuối năm 1971, phía ta chuẩn bị mở chiến dịch Quảng Trị 1972 nên việc chuyển khí tài trang bị, bộ đội đang diễn ra hết sức khẩn trương. Trong bối cảnh đó, địch tăng cường đánh phá ác liệt các tuyến đường vận chuyển của ta.

Những điều này buộc B8 phải tập trung, nhanh chóng tìm ra phương án đánh hạ B-52 mới đủ sức răn đe buộc địch hạn chế hoặc ngừng ném bom tạo điều kiện cho bộ đội ta vận chuyển vũ khí.

Muốn thắng phải mạo hiểm

Sau trận đánh ngày 4/10 việc tiếp cận B-52 vốn dĩ đã khó nay càng khó hơn khi địch đã có sự đề phòng, cảnh giác cao. B-52 ngoài các đơn vị tiêm kích F-4 hộ tống, còn có các radar từ tàu khu trục của Hạm đội 7 liên tục giám sát, theo dõi nên việc tiếp cận tiêu diệt B-52 là rất khó. “Máy bay ta chỉ lên cao 1.500-2.000m địch có thể phát hiện, lên 6.000 – 7.000m tiêm kích F-4 xông ra đánh chặn ngay,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nói.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của hai đồng chí phó tư lệnh, B8 suy nghĩ tìm ra phương án tối ưu nhất cho trận đánh sắp tới. Các đồng chí cán bộ chỉ huy tỏa ra xuống các đại đội radar rút kinh nghiệm bàn bạc tìm cách khử nhiễu, kết hợp tốt hơn giữa đài radar P35 – PRV11 để xác định vị trí chính xác của B-52 trong nhiễu.

“Ở đơn vị radar dẫn đường, có hai loại radar cảnh giới nhìn vòng P-35 quét 360 độ và một đài PRV-11 đo cao xác định trần bay mục tiêu. Muốn bắt chính xác mục tiêu, khi P-35 bắt mục tiêu thì PRV-11 cũng phải quay về hướng đó. Vì đài PRV-11 có công suất mạnh gấp 3 P-35, cường độ mạnh hơn nhiều, độ chính xác cũng tốt hơn,” ông giải thích.

Đài radar cảnh giới P-35 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Để trạm radar địch không thể phát hiện máy bay ta, B8 quyết định muốn đánh B-52 phải chấp nhận mạo hiểm, phi công sẽ bay ở độ cao rất thấp trên quãng đường dài 120km ban đêm.

Sau khi MiG cất cánh từ Anh Sơn sẽ bay thấp đoạn Đô Lương (Nghệ An), dọc đường 7 rồi đường 15 vào khu Tân Ấp (Hà Tĩnh) gần đèo Mụ Dạ, đường bay có núi cao hai bên (một bên là dãy núi Đại Huệ, một bên là dãy Trường Sơn). Việc tự bay thấp ban đêm rất nguy hiểm đòi hỏi phi công chuẩn bị kỹ lưỡng, dũng cảm trong khi làm nhiệm vụ.

Trước trận đánh, trong phương án nghiên cứu đề xuất thông tin liên lạc giữa sở chỉ huy B8 và các đài trạm radar đều phải thay đổi mật ngữ bằng số. “Trước mật ngữ có thể nói lóng “hướng bay Hồng Hà, độ cao Ba Vì” nhưng giờ phải đổi. Bí mật thông tin liên lạc với cấp trên, dưới, đài, trạm, sân bay, hạn chế thông tin liên lạc và không được nói rõ kể cả nói lóng,” ông nhớ lại. Ngoài ra, ta cũng tổ chức nghi binh thu hút sự chú ý của địch trước trận đánh.

Khi việc tính toán tổ chức xong phương án, ngày 18/11 B8 cho triển khai thêm đài radar dẫn bổ trợ ở Tân Ấp, do MiG-21 khi cất cánh bay rất thấp và không liên lạc với sở chỉ huy nhằm tránh bị địch thu tín hiệu nên cần đài bổ trợ để nghe tiếng máy bay sẽ báo về B8. Tối 19/11, công tác chuẩn bị cơ bản đã hoàn thành, B8 đề nghị với Quân Chủng cho phép đánh B-52 và được chấp thuận.

Có thể nói, đây là trận đánh quan trọng, tổ chức công phu.

Phi công MiG-21 Vũ Đình Rạng.

Giây phút nghẹt thở

Trong trận này, dẫn đường ở bàn tiêu đồ sở chỉ huy B8 là đồng chí Nguyễn Văn Chuyên dẫn chính, số 2 Tạ Quốc Hưng ghi khẩu lệnh và Trần Hồng Hà chỉ thị radar dẫn. “Nguyên tắc khi dẫn đường, trong bàn tròn những trận quan trọng phải có 3 người, người chính cầm ống nói dẫn, số 2 có ống nói nhưng dự bị, người còn lại chỉ thị radar cần tập trung hướng nào, địch ở đâu,” ông giải thích.

Ngày 20/11, theo đúng phương án đã vạch sẵn, ta triển khai hai MiG-21 trực ở sân bay Vinh và Anh Sơn. Phi công Hoàng Điểu trực ở Vinh làm nhiệm vụ nghi binh, thu hút địch còn Vũ Đình Rạng ở Anh Sơn trực tiếp đánh B-52.

“Tới 19h30, phi công Hoàng Điểu cất cánh ở Vinh bay vào Tân Ấp, đèo Mụ Dạ trên độ cao 8.000 – 10.000m nhưng sau đó vòng ra hạ cánh tại Nội Bài. Với cách này, ta đánh lừa được radar hạm tàu Mỹ làm chúng mất cảnh giác cho rằng MiG-21 không còn nằm ở khu 4.

20h tối 20/11, sở chỉ huy B8 nhận tin tình báo chiến lược quan trọng cho biết 20h45 sẽ có B-52 hoạt động cách Sê Pôn 60km. Sau khi nhận tin, tư lệnh Trần Mạnh thống nhất với đồng chí Trần Hanh lệnh vào chiến đấu cấp 1.

Tới 20h15, đồng chí Nguyễn Văn Chuyên cho các đài radar đại đội 41, 47 và 45 mở radar. Tuy nhiên, một tình huống đã phát sinh, ICO (màn hiện sóng radar) của đại đội 41 bị chập và đồng chí đại đội trưởng đề nghị xin chưa đánh trận này.

Sau khi cân nhắc, với điều kiện thuận lợi đồng chí Chuyên lệnh cho đại đội 41 vừa mở vừa sửa máy. Nếu sửa được thì dẫn chính không thì giao cho các đơn vị còn lại. Tới 20h21, đại đội 41 báo cáo mở máy xong, 20h25 đại đội báo ICO điều chỉnh tốt, chiến đấu được.

Lúc 20h37, đại đội 41 thông báo phát hiện B-52 ở Tây Savanakhet (Lào) 100km. Sở chỉ huy lệnh cho xác minh lại mục tiêu, đơn vị báo cáo xác định chính xác tốp 3 B-52 ở độ cao 13.000m (chưa chính xác vì thông thường B-52 chỉ bay ở độ cao 9.000-10.000m).

Ngay lập tức, B8 lệnh cho phi công Rạng cất cánh bay theo phương án đã định. 20h41 Vũ Đình Rạng cùng MiG-21 cất cánh xong và “im lặng” bay từ Anh Sơn vào Tân Ấp.

8 phút sau, sĩ quan dẫn chính Nguyễn Văn Chuyên bắt đầu liên lạc với phi công Rạng ra khẩu lệnh đầu tiên “hướng 230 độ, độ cao 3.000”, máy bay từ đất ta vượt sang Lào.

Sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên (đầu bên phải) bên bàn tiêu đồ.

20h52, đài radar thông báo B-52 phía trước 100km. 40 giây sau, dẫn chính Nguyễn Văn Chuyên ra lệnh vứt thùng dầu phụ, tốc độ đạt 950km/h. Tới 20h54, đồng chí Chuyên lệnh cho phi công tăng lực đưa máy bay lên độ cao 10.000m.

Từ đây, đồng chí Lê Thiếu Hùng – đại đội C41 bắt đầu lên tiếng cho hướng bay 130 độ. Ông liên tục ra khẩu lệnh “hướng 140 độ, mục tiêu cách 45km, thấp hơn 2.000m…mục tiêu còn 35km, thấp hơn 1.000m… mục tiêu bên phải phía trước cách 25km…hướng bay 90 độ, thấp hơn 500m…mục tiêu phía trước cách 18km.

20h56p15 khi còn cách mục tiêu 15km đồng chí Chuyên cho phi công Rạng mở radar trên máy  bay. Việc mở radar thời điểm nào là rất quan trọng, vì nếu mở radar quá sớm địch phát hiện và đối phó, mở muộn thì người lái không đủ thời gian thao tác phóng tên lửa.

Không đầy một phút sau, 20h57 phi công Vũ Đình Rạng thông báo phát hiện mục tiêu phía trước cách 11km bằng radar – giờ phút này cả sở chỉ huy im phăng phắc vì sung sướng và xúc động.

Sĩ quan dẫn chính Nguyễn Văn Chuyên lệnh cho phi công nâng tốc độ 1.400km/h nhanh chóng vào tiếp cận phóng tên lửa diệt B-52. Tới 20h58 đồng chí Rạng báo cáo đã thoát ly (nghĩa là đã phóng tên lửa đánh B-52 nhưng việc này chỉ xảy ra trong vài giây phi công nhanh chóng rút lui nên không thể báo cáo chi tiết). Tới 21h15 phi công Vũ Đình Rạng về hạ cánh an toàn trong niềm vui sướng các đồng chí,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên hồi tưởng lại những giây phút nghẹt thở.

“Các ông bắn rơi ba chiếc”

Sau đó, phi công Vũ Đình Rạng đã tường trình lại diễn biễn trận đánh: “…khi đồng chí Chuyên cho mở radar trên máy bay, sau 45 giây radar làm việc. Trên màn hình hiện sóng, tôi phát hiện tốp 3 chiếc B-52 bay theo đội hình bàn tay xòe, chiếc đi đầu cách 11km, chiếc cuối cách 6km, lúc đó máy bay ta thấp hơn 500m.

Vì vậy, tôi quyết định bắn chiếc đi đầu để có đủ thời gian lấy bằng độ cao mục tiêu và điều chỉnh đường ngắm phóng tên lửa tốt hơn. Thời điểm đó, tôi nghe khẩu lệnh đồng chí Trần Hanh, tôi tăng tốc 1.400 – 1.500km/h tiếp cận mục tiêu ở cự ly 5km, bám sát và ở dưới 2km thì phóng tên lửa. Khi tên lửa rời bệ, tôi làm động tác thoát ly lên cao.

Song tôi phát hiện thêm một B-52 khác trên lưng có đèn nhấp nháy, tôi bổ nhào đặt máy ngắm quang học, ở cự ly 2km tôi phóng nốt quả tên lửa còn lại rồi về sân bay hạ cánh.”

Thời kỳ này, mỗi lần máy bay ta và địch đụng độ đều được đài BBC đưa tin, nhưng riêng trận đêm 20/11 thì BBC không đưa tin. Đồng thời, mọi thông tin từ Mỹ cũng đều “im hơi lặng tiếng” nên ta không thể biết kết quả trận đánh.

Tuy vậy, từ sau đêm 20/11, B-52 chỉ còn đánh phá từ đường 9 trở vào nam, phần phía bắc chúng chủ yếu dùng máy bay chiến đấu chiến thuật đánh đêm. Từ đó, phía có thể suy đoán rằng chiếc B-52 chắc chắn xảy ra chuyện gì đó.

Mãi tới đầu năm 1973, phi công B-52 bị ta bắt sống sau chiến thắng 12 ngày đêm mới khai, đêm 20/11/1971 MiG-21 đã bắn bị thương B-52 của chúng ở Nam Lào. Một tổ động cơ trên chiếc đó bị cháy nhưng do đây là loại B-52H đã trải qua nhiều lần cải tiến, các đường ống dẫn dầu đều đi riêng ra từng tổ máy nên tổ lái đã xử lý cắt ống dẫn, dập lửa và đưa máy bay về hạ cánh ở Đông Bắc Thái Lan. Tuy nhiên, chiếc máy bay này cũng không thể sử dụng.

“Khi ta nói Không quân Nhân dân Việt Nam bắn rơi 2 B-52, thì phi công địch bảo lại, các ông đã bắn rơi 3 chiếc. Cuối năm 1971, có một chiếc bị thương nặng về hạ cánh được nhưng cũng bỏ không sử dụng được nữa, coi như rơi,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nhớ lại.

>> Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52

>> Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh

 

Lê Nam
baodatviet.vn

Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52

Trong chiến công bắn hạ B-52 của phi công tiêm kích MiG-21 Vũ Xuân Thiều, Phạm Tuân, Vũ Đình Rạng,… người đầu tiên nhìn thấy B-52 bằng mắt thường là phi công Đinh Tôn.

Cách đây 40 năm, ngày 20/11/1971, phi công MiG-21 Vũ Đình Rạng bất ngờ, tiếp cận, phóng tên lửa đánh trúng pháo đài bay B-52 – niềm tự hào Không quân Mỹ. Để có chiến công này, cán bộ chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân tập trung, chuẩn bị công phu trong thời gian 3 tháng về mọi mặt.

Đất Việt xin giới thiệu về quá trình chuẩn bị, tiến hành trận đánh, qua lời kể của Đại tá Nguyễn Văn Chuyên – sĩ quan trực tiếp dẫn đường cho phi công lái tiêm kích MiG-21 :

(ĐVO) Lời tiên đoán của Bác Hồ

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã huy động nhiều phương tiện khí tài cực kỳ hiện đại nhằm buộc nhân dân ta phải khuất phục. Một trong những loại vũ khí có sức tàn phá khủng khiếp mà Mỹ sử dụng ở Việt Nam là máy bay ném bom hạng nặng B-52.

B-52 ra đời từ những năm 1950, ban đầu chúng được dùng để mang bom nguyên tử. Tới cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã cải tiến biến B-52 thành máy bay ném bom thông thường mang khối lượng bom lớn nhất thế giới (hơn 30 tấn) có sức tàn phá mạnh.

Lần đầu tiên Mỹ dùng B-52 trực tiếp uy hiếp Việt Nam, vào ngày 18/6/1965 30 chiếc B-52 từ Guam vượt 8.500km trong hơn 10h bay liên tục ném bom Tây Bắc Sài Gòn. Tới 12/4/1966, Mỹ đưa B-52 ra miền Bắc đánh vào khu vực Mụ Dạ, Hà Tĩnh.

“Ngay từ năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán Mỹ sẽ dùng B-52 đánh vào Hà Nội – Hải Phòng trong trận cuối cùng trước khi nó thua ta. Bác đã căn dặn bộ đội Phòng không – Không quân phải chú ý theo dõi tìm cách đánh B-52 từ giai đoạn 1965-1966,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nói.

Thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ, Binh chủng Không quân tổ chức nghiên cứu đánh B-52, đưa phi công MiG-21 và đơn vị dẫn đường, quân báo vào đèo Mụ Dạ.

Vì lúc này, từ 30/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố xuống thang ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 19 trở vào, tập trung “vùng cán xoong” Quân khu 4. Ngày 2/1/1968, Johnson tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam, dù vậy chúng vẫn dùng B-52 đánh phá trục đường vận chuyển của ta đoạn Mụ Dạ, đường 12, đường 10, đường Sê Pôn…

“Ban ngày, quân ta dùng kính TZK theo dõi đội hình máy bay địch đi thế nào, độ cao ra sao, cách thức như thế nào. Mặt khác, ta tổ chức đại đội radar dẫn đường (đại đội 47) vào Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh để nghiên cứu. Tuy nhiên, mấy tháng trời mở máy nhiễu nặng, không phát hiện được nên cuối cùng phải rút ra,” ông nói.

Phi công lái MiG-21 Đinh Tôn (Đinh Văn Tôn) tham gia trận đánh B-52 đêm 4/10/1971.

Phi công đầu tiên nhìn thấy B-52

Tới năm 1971, nhận lệnh từ Bộ tư lệnh Quân chủng, Binh chủng Không quân tổ chức sở chỉ huy tiền phương (ký hiệu B8) hành quân vào Quảng Bình với quyết tâm phải đánh hạ B-52.

Không như lần trước, lần này sở chỉ huy B8 được tổ chức chặt chẽ, công phu nằm dưới sự điều khiển của hai Phó tư lệnh Không quân Trần Mạnh và Trần Hanh cùng nhiều sĩ quan tác chiến, dẫn đường, quân báo, thông tin, radar giàu kinh nghiệm tham gia.

Đầu tháng 8/1971, các đơn vị triển khai xong vị trí chiến đấu, đài radar của 3 đại đội 41 (Ba Đồn), 47 (Vân Đồn) và 45 (Đồi Si) đồng loạt mở máy “bắt” B-52. Nhưng trong tháng đầu tiên, tất cả các đài radar đều không phát hiện được mục tiêu. Không nản chí, sau nhiều lần các đơn vị tổ chức họp rút kinh nghiệm, sang tháng 9 các trạm đài radar tiếp tục mở máy.

Không uổng sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ, chiến sĩ, đại đội radar 41 bắt đầu phát hiện được B-52 trong nhiễu nhưng không ổn định, có lúc tốc độ thực mục tiêu chỉ 900-950km/h nhưng lại đo lên 3.500km/h, các đài radar cũng chưa thống nhất được đường bay và vị trí B-52.

Gần cuối tháng 9, các đại đội mới phát hiện đường bay B-52 nhưng vẫn chưa rõ. Tới tháng 10/1971, đại đội 41 phát hiện B-52 trong nhiễu tương đối rõ và ổn đinh.

Sau 3 tháng trời nghiên cứu, cùng với việc sân bay dã chiến Đồng Hới sửa xong đủ điều kiện tiếp nhận MiG, Sở chỉ huy B8 đề nghị Quân chủng cho đánh B-52 và được chấp nhận. 17h29  ngày 4/10/1971, phi công Đinh Tôn lái MiG-21 bí mật cất cánh từ sân bay Anh Sơn (Nghệ An) vào hạ cánh ở Đồng Hới (Quảng Bình) lúc 17h55.

Tới 19h13, phi công Đinh Tôn tiếp tục cất cánh từ Đồng Hới vào đánh B-52 ở khu vực đường 20. Nhờ giữ được yếu tố bí mật nên MiG của ta vào gần đến khu vực đánh phá địch cũng không hay biết.

Mọi điều kiện đều rất thuận lợi, tuy nhiên do radar dẫn đường của ta dù có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa bắt chính xác mục tiêu. Do đó, phi công Đinh Tôn ở thế đối đầu với B-52, anh “cưỡi trên lưng con ngáo ộp” và nhìn thấy chúng bằng mắt thường,” Đại tá Nguyễn Văn Chuyên nhớ lại.

Có thể nói, Đinh Tôn là người phi công đầu tiên của Không quân Nhân dân Việt Nam chạm mặt B-52. Sau trận này, chúng ta gặp phải một khó khăn nữa, do địch biết được ý đồ của ta nên chúng cho máy bay đánh phá gây hư hỏng nặng sân bay Đồng Hới, đồng thời khống chế luôn sân bay này.

Việc không thể dùng sân bay Đồng Hới đặt ra cho những người chỉ huy câu hỏi lớn khi đó. Nếu không sử dụng Đồng Hới thì phải dùng sân bay nào, đường bay ra sao để đảm bảo tính bí mật. Một điều nữa, quân Mỹ hiểu được mục đich của ta là đưa MiG vào đánh B-52 nên càng tăng cường cảnh giác.

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên. Ảnh: Lê Nam

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên sinh năm 1931 tại xã Hoài Hảo (nay là Hoài Phú, Hoài Nhơn, Bình Định).

Năm 1949, ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1950, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, ông tập kết ra miền Bắc.

Năm 1956, ông được đoàn Không quân tuyển và đưa đi học điều phái dẫn đường, điều độ máy bay vận tải.

Từ 1960-1963, ông được đưa đi học ở nước bạn. Sau khi trở về nước, ông trực tiếp tham gia dẫn đường cho máy bay tiêm kích đánh địch và góp công vào nhiều trận đánh bắn hạ máy bay Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

>> Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào
>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh

Lê Nam
baodatviet.vn