Nhân tố quyết định thành công

Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đàm phán và việc ký kết Hiệp định Paris là đường lối ngoại giao tài tình từ chủ trương đường lối đến lựa chọn cán bộ do Bác Hồ và Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương Đảng đề ra. Xung quanh vấn đề này, ông Trịnh Ngọc Thái, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp, nguyên Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, nguyên thư ký của Bộ trưởng Xuân Thủy – Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam đã có cuộc trao đổi với phóng viên báo Đại đoàn kết.

Để chuẩn bị cho cục diện này, Đảng và Bác Hồ đã đề nghị cử ông Lê Đức Thọ làm Cố vấn đặc biệt và ký sắc lệnh cử Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông có thể nói rõ thêm về lý do tại sao lại có sự lựa chọn này?

Ông Trịnh Ngọc Thái: Quyết định như vậy bởi Bác biết rất rõ ông Lê Đức Thọ là người hết sức thẳng thắn và không khoan nhượng. Ông là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hồi ấy, ông là người am hiểu tình hình chiến sự ở miền Nam hơn ai hết. Điều này có tác dụng rất quan trọng trong quá trình đàm phán theo tinh thần “vừa đánh vừa đàm”. Ông Xuân Thủy là người làm ngoại giao rất lâu năm, ngoài ra còn có khả năng thuyết phục mọi người rất tốt từ hồi làm công tác dân vận ở Mặt trận Tổ quốc. Những ngày bị Pháp bắt giam trong Nhà tù Sơn La, ông Xuân Thủy làm Chủ bút tờ báo Suối reo, sau làm Chủ nhiệm báo Cứu Quốc (tiền thân của báo Đại Đoàn Kết), là nhà thơ. Đến nay kiều bào ta bên đó vẫn còn rất nhớ đến ông. Còn nhớ trong suốt gần 6 tháng đầu đàm phán, ta chỉ duy nhất có một nội dung yêu cầu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, rồi sau mới bàn đến các vấn đề khác. Vậy mà cứ mỗi phiên họp ông lại có một bài phát biểu mới, không bài nào trùng lặp bài nào, có dẫn chứng đầy đủ và rất thuyết phục vạch trần thủ đoạn xảo trá của đế quốc Mỹ đối với nhân dân ta. Từ đó, ta tranh thủ được bạn bè tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình.

Vậy còn sự lựa chọn bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn thì sao, thưa ông?

– Bà Nguyễn Thị Bình là đảng viên lâu năm, nắm rất chắc tình hình chiến sự miền Nam và đường lối lãnh đạo của Đảng. Bà đã từng hoạt động rất sâu và rộng trong quần chúng nhân dân, để lại ấn tượng rất mạnh, đầy sức thuyết phục đối với khách quốc tế và dư luận, công luận trên thế giới. Bà còn là một phụ nữ hết sức sắc sảo mà mềm mỏng, được báo chí mệnh danh là “Nữ hoàng cộng sản”.

Lựa chọn ba người như vậy, Bác Hồ có ý để họ bổ sung cho nhau. Trước khi đi, Bác đã dặn dò cặn kẽ từng người một. Bác dặn phải có cố vấn quân sự để nắm chắc tình hình chiến sự để phối hợp đấu tranh trên bàn Hội nghị Paris, phải thận trọng, kiên trì, vững vàng nhưng khôn khéo khi đàm phán với Mỹ…

Sự chỉ đạo của Bác từ trong nước, theo ông có tác động thế nào đối với quá trình đàm phán của ta ở Paris?

Ở trong nước, Bác thường xuyên họp với Bộ Chính trị để nghe báo cáo tình hình chiến sự ở miền Nam và diễn biến của cuộc đấu tranh ngoại giao. Bác nhắc phải vạch trần luận điệu bịp bợm của Johnson, đập mạnh tuyên bố của chính quyền Sài Gòn. Bác tiếp khách quốc tế, trả lời phỏng vấn, viết thư, viết báo, ra lời kêu gọi đồng bào trong nước và nhân dân thế giới.. “Đế quốc Mỹ chán rồi, nhưng rút ra thế nào? Thua mà danh dự, đó là điều Mỹ muốn.” – Bác nói. Để chứng minh cho sự thất bại của Mỹ như nói trên, Bác viết trên báo Nhân dân ngày 10-6-1968: “Bốn trụ cột chiến tranh xâm lược thì bốn tướng Mỹ Harkin, Taylor, MacNamara và Westmolen đều đã thất bại mà sụp đổ”. Bác nói phải cảnh giác Mỹ vẫn có thể ném bom trở lại miền Bắc, nên ta phải chuẩn bị sẵn sàng và phải đẩy mạnh tuyên truyền ở Hội nghị Paris…

Hồ Chủ tịch đã qua đời, nhưng tư tưởng ngoại giao của Người vẫn tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho chúng ta trong suốt quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris để đi đến thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Xin cảm ơn ông!

Ông Hà Đăng- Nguyên Uỷ viên TƯ Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng -Văn hoá TƯ, thành viên đoàn đàm phán Paris về Việt Nam:

Nam – Bắc một nhà trên bàn đàm phán

Việt Nam vốn là một nước thống nhất. Sau thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp, theo Hiệp định Geneve (1954), nước ta bị chia làm hai miền Nam, Bắc. Cho nên, tuy vẫn cùng một Đảng lãnh đạo nhưng ta lại phải chia ra làm hai: Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc còn Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam. Tương tự như vậy, cùng là một chính phủ, một mặt trận, một quân đội, một đường lối ngoại giao… nhưng ta vẫn phải chia ra làm hai cho hai miền. Tuy hai nhưng vẫn là một. Lẽ ra nếu cuộc tổng tuyển cử được diễn ra đúng theo Hiệp định Geneve thì nước ta đã được thống nhất trở lại sau hai năm kể từ ngày Hiệp định được ký kết, nhưng điều này đã không diễn ra do Mỹ can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam, phá hoại Hiệp định này, dựng nên chính quyền Sài Gòn, thành lập quốc gia riêng ở miền Nam Việt Nam. Cũng từ đó, khi tiến hành đàm phán ở Paris những năm sau đó, đã hình thành hai đoàn của Việt Nam từ hai miền Nam, Bắc cùng tham gia hội nghị 4 bên với Mỹ và ngụy Sài Gòn. Tuy là hai đoàn nhưng cũng vẫn chỉ là một.

Trong quá trình đàm phán, tuy nói là đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng cũng toàn là người của bên này thôi, gọi là người miền Nam nhưng phần lớn là cán bộ tập kết ra Bắc từ hồi năm 1954. Chỉ có ít người thuần túy ở miền Nam thì cũng là cán bộ của ta hoạt động ở trong đó rồi bị địch bắt, được giải thoát hồi tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Mỗi tuần Hội nghị Paris có một phiên họp vào ngày thứ năm. Sau mỗi phiên họp, hai đoàn ta lại họp với nhau tổng kết phiên họp vừa qua và rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho những phiên họp tới. Bài phát biểu của hai đoàn cuối cùng đều được đưa qua anh Xuân Thủy và anh Lê Đức Thọ duyệt trước khi sử dụng.

Trần Ngọc Kha (ghi)

Trần Ngọc Kha (Thực hiện)
daidoanket.vn

Công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình diễn biến chiến dịch, công tác tư tưởng đã kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức đi sâu vào các mặt cụ thể như lập phương án kế hoạch chiến dịch, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị hậu cần kỹ thuật bảo đảm tác chiến và mọi yếu tố cần thiết khác, tham gia vào việc rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật; tổ chức các phong trào thi đua nghiên cứu tìm tòi cách đánh; tuyên truyền tin chiến thắng, kinh nghiệm chiến đấu chống không quân địch…Công tác tư tưởng không chỉ là của cấp uỷ, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị mà trở thành công tác của mọi người, mọi tổ chức, của cả tập thể quân nhân từ tìm tòi cách đánh đến việc bảo đảm hậu cần kỹ thuật trang bị vũ khí, đạn dược, khí tài, tháo gỡ những khó khăn do điều kiện kinh tế – kỹ thuật quân sự của ta, bảo đảm đến mức cao nhất cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi.

cong tac tu tuong trog chien dich DBP tren khong

Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc cuối tháng 12 năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một một kỳ tích của ý chí, trí tuệ và sức sáng tạo Việt Nam. Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam đã cùng với các lực lượng vũ trang và nhân dân miền Bắc chiến đấu với ý chí quyết tâm “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”; “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Sáng tạo cách đánh, phát huy uy lực của các vũ khí trang bị kỹ thuật mà ta có tạo nên sức mạnh đánh thắng không quân địch trong 12 ngày đêm khốc liệt của bom đạn Mỹ, góp phần đập tan ý chí xâm lược của bọn cuồng chiến trong giới cầm quyền nước Mỹ lúc đó; buộc chúng phải ký kết Hiệp định Pa ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, những chiến dịch đường không của đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc từ 1965 đến đầu năm 1972 đã bị quân và dân ta đập tan đều có quy mô lớn và rất dã man tàn bạo, gây cho ta những khó khăn, tổn thất không nhỏ. Nhưng chưa có cuộc tập kích hay chiến dịch đường không nào của địch đánh phá tập trung quy mô lớn và khốc liệt như cuộc tập kích đường không chiến lược bằng “siêu pháo đài bay” B52 trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 vào Hà Nội, Hải Phòng và đường số 1 (mạn Bắc Hà Nội). Với cuộc tập kích này, chúng hy vọng tạo ra sức ép làm nhụt ý chí chiến đấu của quân và dân ta, buộc Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà phải chấp nhận một giải pháp kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ và Nguỵ quyền Sài Gòn. Để tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Lai nơ Bếch cơ II”, đế quốc Mỹ lập ra bộ chỉ huy lâm thời và sử dụng một lực lượng lớn không quân hỗn hợp gồm: 193 máy bay B52, với 25 tổ bay, chiếm gần 50% không quân chiến lược của nước Mỹ; 48 máy bay F111A; 999 máy bay chiến thuật, một số máy bay tiếp dầu trên không và máy bay bảo đảm chiến đấu khác ở các căn cứ không quân tại Gu am, Thái Lan, Phi líp pin, miền Nam Việt Nam và 6 tàu sân bay trên Biển Đông. Liên tục trong 12 ngày đêm từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 12 đế quốc Mỹ đã huy động 663 lần chiếc B52 trong đó có 417 lần chiếc tập trung đánh phá Thủ đô Hà Nội; dội 16.000 tấn bon đạn xuống các vùng đông dân cư trên miền Bắc, trong đó có 9.700 tấn trút xuống huỷ diệt nhiều khu vực ở nội ngoại thành Hà Nội như Khâm Thiên, Bạch Mai, Đại học Bách khoa, Mễ Trì, Gia Lâm, Uy Nỗ, Yên Viên, Đông Anh…

Quân và dân miền Bắc mà nòng cốt là bộ đội Phòng không – Không quân đã anh dũng chiến đấu, chiến thắng oanh liệt, đập tan cuồng vọng của địch. Bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B52, chiếm 17% trong tổng số B52 địch sử dụng trong cuộc tập kích; bắn rơi 5 máy bay F111A, bắt sống nhiều giặc lái trong đó có cả giặc lái B52. Bị tổn thất nặng nề, 7 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1972, Ních xơn Tổng thống Mỹ lúc đó buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược tàn bạo và ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra, đề nghị cho phía Mỹ gặp đại biểu ta tại Pa ri để bàn về ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh.[1]

Nhân tố nào đã tạo nên động lực, sức mạnh giúp bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam vượt qua mọi gian nguy thử thách khốc liệt của bom đạn; sự hạn chế về phương tiện, vũ khí, trang bị để sáng tạo cách đánh, đập tan thần tượng “siêu pháo đài bay” của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” là tổng hợp của nhiều nhân tố: Hoạt động lãnh đạo, chỉ huy các cấp từ Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, các cơ quan cấp chiến lược cho đến Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân chủng, Binh chủng và các đơn vị trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu; của vũ khí trang bị kỹ thuật; của công tác đảng, công tác chính trị, công tác quân sự, hậu cần kỹ thuật, của nghệ thuật tác chiến chiến dịch phòng không chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Song ở đây chỉ bàn đến vai trò của công tác tư tưởng đối với việc củng cố, xây dựng nhân tố chính trị – tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

1. Tập trung xây dựng ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ cho mọi lực lượng tham gia chiến dịch là vấn đề quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Quán triệt quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò to lớn của nhân tố chính trị – tinh thần, với tư cách là nhân tố liên kết, tích hợp các nguồn lực tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp, hoạt động công tác tư tưởng của cấp uỷ, chỉ huy, cán bộ chính trị và cơ quan chính trị các đơn vị tham gia chiến địch đã đặc biệt coi trọng giáo dục, động viên, giữ vững ý chí chiến đấu kiên cường, bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ trong suốt quá trình tác chiến chiến dịch “Điện Biên phủ trên không”.

Thành công lớn của công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên phủ trên không” là đảng uỷ, chỉ huy các đơn vị tham gia chiến dịch đã làm cho bộ đội tiếp tục quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”[2]. Trong quá trình chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu hoạt động công tác tư tưởng ở các đơn vị đã kết hợp chặt chẽ giữa phát huy anh hùng cách mạng với trí tuệ sáng tạo và sự tinh thông về kỹ thuật, chiến thuật, xây dựng ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ cho mọi lực lượng tham gia chiến dịch.

Thực tiễn cho thấy, chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” diễn biến cực kỳ phức tạp, tình huống xảy ra bất thường, có lúc rất nghiêm trọng, nhất là địch thay đổi thủ đoạn chiến thuật đã tác động mạnh đến tư tưởng, tâm lý, niềm tin vào khả năng đánh thắng của bộ đội. Trong đợt đánh phủ đầu các tốp B52 vào oanh tạc Hà Nội đêm 18 tháng 12 năm 1972, tên lửa ta đã phóng 11 quả đạn mà chưa hạ được chiếc B52 nào, nhưng máy bay chiến thuật của địch lại phát hiện được, tập trung phóng tên lửa vào các trận địa của ta, làm cho bộ đội căng thẳng, lúng túng, mất bình tĩnh, thiếu tự tin. Trước tình hình đó đã xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng không đúng: Một là, cho rằng chỉ có “nhiễu” về tư tưởng, chứ không có “nhiễu” về kỹ thuật, tức là chỉ có giải quyết tư tưởng chứ không đi sâu vào chiến thuật, kỹ thuật quân sự; Hai là, không tin vào vũ khí trang bị kỹ thuật của ta có thể đánh B52 của Mỹ. Công tác tư tưởng đã giải quyết tốt cả hai khuynh hướng tư tưởng không đúng đó. Cấp uỷ, chỉ huy cơ quan chính trị các đơn vị một mặt tìm nguyên nhân, rút kinh nghiệm trận đánh, tổ chức các tổ kỹ thuật nghiên cứu địch, chấn chỉnh khắc phục nhân tố tiêu cực, củng cố ý chí chiến đấu và giải quyết những khó khăn về kỹ thuật. Nhờ đó đã củng cố lòng tin, động viên bộ đội phát huy trí tuệ tìm tòi cách đánh, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo bắn rơi tại chỗ máy bay B52 của không quân Mỹ.

Bài học rút ra từ đây là, hoạt động công tác tư tưởng phải bám sát bộ đội, bám sát nhiệm vụ tác chiến, xử trí linh hoạt kịp thời đúng đắn mọi vấn đề tư tưởng nảy sinh trong tác chiến, giữ vững ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Lúc đánh thắng cũng như lúc gặp khó khăn đều phải tăng cường công tác tư tưởng. Bài học này vẫn còn nguyên giá trị đối với công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng củng cố niềm tin; chuẩn bị về tinh thần, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trong bất kỳ tình huống, hoàn cảnh nào. Trong tình hình hiện nay, hơn lúc nào hết công tác tư tưởng trong quân đội phải được tiến hành một cách chủ động, toàn diện, định hướng kịp thời tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình. Dù tình hình thế giới có phức tạp đến đâu, đất nước có thể còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đứng vững trước mọi khó khăn thử thách, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực hành động sáng tạo, phẩm chất đạo đức trong sáng lành mạnh.

2. Giáo dục, động viên cổ vũ cán bộ, chiến sĩ làm chủ vũ khí trang bị ,phát huy trí tuệ tìm tòi cách đánh mưu trí sáng tạo, chiến đấu dũng cảm kiên cường chống lại các thủ đoạn tác chiến của không quân địch. Ý chí quyết tâm chiến đấu cao là động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt của bom đạn của quân thù, kiên cường, xả thân chiến đấu hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ, nhưng còn phải có cách đánh tốt mới biến quyết tâm chiến đấu thành kết quả thực tế; và chiến đấu thắng lợi lại là cơ sở để xây dựng củng cố quyết tâm chiến đấu cao hơn, thực hiện càng đánh càng mạnh. Xuất phát từ đối tượng tác chiến chủ yếu là không quân Mỹ có trang bị vũ khí hiện đại hơn ta, cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chính trị từ Bộ Tư lệnh chiến dịch đến các đơn vị tham gia chiến dịch đã coi trọng tổ chức nghiên cứu địch cả về chiến thuật, chiến dịch, chiến lược và kỹ thuật của không quân Mỹ. Huy động trí tuệ và tài năng sáng tạo của mọi cán bộ, chiến sĩ, mọi cấp, trước hết là cán bộ, đảng viên tìm tòi sáng tạo cách đánh ở mọi cấp, mọi đơn vị; triệt để khai thác tính năng kỹ thuật, chiến thuật của mọi loại vũ khí kỹ thuật có trong tay để chiến đấu chống không quân Mỹ.

Thực tiễn cho thấy, khi dự đoán được âm mưu địch tập trung đánh phá miền Bắc trong thời điểm quyết định của năm 1972, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, các Binh chủng đã liên tiếp mở hội nghị cán bộ chủ chốt, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, kíp chiến đấu của các tiểu đoàn tên lửa, các phi đội máy bay chiến đấu để vừa quán triệt nhiệm vụ, vừa trao đổi kinh nghiệm thực tế, phát động hiến kế lập công sâu rộng trong mọi đơn vị, mọi lực lượng tạo thành cuộc vận động lớn huy động trí lực và tài thao lược của cán bộ, chiến sĩ quyết đánh và biết đánh, biết thắng B52 của đế quốc Mỹ. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao và tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại vũ khí khí tài trang bị của các đơn vị, hoạt động công tác tư tưởng của cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chính trị phối hợp với cơ quan tham mưu, kịp thời tổ chức các hội nghị chuyên đề phổ biến quyết tâm của trên, trao đổi kinh nghiệm, dân chủ thảo luận để khắc phục khó khăn thực tế về vũ khí trang bị kỹ thuật của ta, đề xuất cách đánh tốt nhất để chống lại thủ đoạn nham hiểm và vũ khí – kỹ thuật hiện đại của địch.

Trong quá trình thực hành tác chiến chiến dịch, khi địch thay đổi thủ đoạn tác chiến, hoạt động công tác tư tưởng của các đơn vị tham gia chiến dịch đã kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ thi đua tìm tòi cách đánh có hiệu quả. Kết quả cuộc vận động phát huy dân chủ tìm tòi cách đánh B52 và các loại máy bay chiến thuật của đế quốc Mỹ đã cổ vũ lực lượng phòng không của cả ba thứ quân, nhất là bộ đội Phòng không – Không quân đề xuất được cách đánh mưu trí sáng tạo, khôn khéo của từng binh chủng, từng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật và đều tiêu diệt hoặc góp phần hạ gục con “át chủ bài” B52 của không quân Mỹ. Điển hình là bộ đội ra đa đã tập trung nghiên cứu phá thủ đoạn gây nhiễu nặng của địch làm “mù” ra đa của ta khi đội hình lớn của máy bay Mỹ đánh phá vào Hà Nội, Hải Phòng, góp phần quyết định vào thành công trong cách đánh chiến dịch. Bộ đội ra đa đã tập trung nghiên cứu, tổ chức hệ thống trạm đài liên hoàn hỗ trợ cho nhau canh trực theo dõi chặt chẽ mọi hành động của địch, phát hiện từ xa chính xác mọi loại máy bay của Mỹ ở các tầng cao, không để bị bất ngờ. Với Binh chủng tên lửa, hoả lực chủ yếu tiêu diệt B52 của địch trong chiến dịch này đã vận dụng cách đánh B52 theo phương pháp phóng đạn tập trung đã được tổng kết để bắn rơi tại chỗ máy bay B52 của địch. Với lực lượng phòng không đã triệt để khai thác tính năng kỹ thuật, chiến thuật của mọi loại vũ khí của thế trận phòng không nhân dân ba thứ quân để đánh loại máy bay F111A hiện đại của Mỹ, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ đánh máy bay chiến thuật, bảo vệ tốt các trận địa tên lửa và các mục tiêu khác cả ban ngày và ban đêm. Bộ đội không quân đã nêu cao ý chí tiến công, vận dụng kinh nghiệm các trận không chiến đã tổng kết, nghiên cứu việc cất cánh, hạ cánh, vượt qua hàng rào máy bay F4 bảo vệ các tốp B52, khắc phục nhiễu làm “mù” ra đa trên máy bay của ta để tiến công tiêu diệt “siêu pháo đài bay” B52 hoàn thành nhiệm vụ trở về căn cứ khi đánh đêm. Với cách đánh phù hợp của lưới lửa phòng không của chiến tranh nhân dân Việt Nam, có tầm thấp, tầm cao, phát hiện và đánh chặn từ xa đến gần, tập trung hoả lực mạnh bảo vệ mục tiêu chủ yếu và vận dụng linh hoạt, phát huy cao nhất tính năng, tác dụng của mọi loại vũ khí mà ta có, lực lượng Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt nhiều máy bay chiến thuật và bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay” B52 của Mỹ, giữ quyền chủ động trong quá trình chiến dịch, đập tan cuộc tập kích chiến lược lớn nhất của không quân Mỹ trong 12 ngày đêm của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

Bài học công tác tư tưởng rút ra từ đây là, cùng với việc giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâp chiến đấu của bộ đội, công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng phải đề cao dân chủ, động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy trí tuệ, ra sức học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm cho bộ đội vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng vừa tinh thông kỹ, chiến thuật, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Trong điều kiện hiện nay, công tác tư tưởng phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống Bộ đội Cụ Hồ với giáo dục kiến thức văn hoá khoa học kỹ thuật, chiến thuật quân sự. Động viên cán bộ, chiến sĩ tiến quân vào khoa học kỹ thuật quân sự, ra sức học tập nâng cao bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ, chiến thuật, năng lực chủ vũ khí trang bị hiện đại. Kiên quyết phê phán, khắc phục tư tưởng bảo thủ, không chịu đi sâu vào khoa học – kỹ thuật, không thấy sự đổi mới về trang bị vũ khí, kỹ thuật tác động tới con người, tổ chức và cách đánh. Đồng thời cũng đề phòng khuynh hướng tư tưởng “thần thánh hoá” vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao của địch dẫn đến tự ti, mất lòng tin vào khả năng giành thắng lợi của ta.

3. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách, phát huy cao nhất sức mạnh, hiệu lực của công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là bài học tiến hành công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Thực tiễn cho thấy, trong quá trình diễn biến chiến dịch, công tác tư tưởng đã kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức đi sâu vào các mặt cụ thể như lập phương án kế hoạch chiến dịch, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị hậu cần kỹ thuật bảo đảm tác chiến và mọi yếu tố cần thiết khác, tham gia vào việc rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật; tổ chức các phong trào thi đua nghiên cứu tìm tòi cách đánh; tuyên truyền tin chiến thắng, kinh nghiệm chiến đấu chống không quân địch…Công tác tư tưởng không chỉ là của cấp uỷ, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị mà trở thành công tác của mọi người, mọi tổ chức, của cả tập thể quân nhân từ tìm tòi cách đánh đến việc bảo đảm hậu cần kỹ thuật trang bị vũ khí, đạn dược, khí tài, tháo gỡ những khó khăn do điều kiện kinh tế – kỹ thuật quân sự của ta, bảo đảm đến mức cao nhất cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi.

Do kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức mọi lúc, mọi nơi, mọi giai đoạn tác chiến chiến dịch, nên trong những tình huống khó khăn, phức tạp đã bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ luôn thông suốt nhiệm vụ, nhất trí và có quyết tâm cao, tin tưởng vào thắng lợi, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, chấp hành mệnh lệnh và kỷ luật nghiêm, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Đơn vị nào cũng hoàn thành nhiệm vụ, binh chủng nào cũng lập được chiến công.

Bài học này chỉ ra rằng, công tác tư tưởng phải dựa vào các tổ chức, phát huy vai trò của các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng và bằng nhiều biện pháp để tiến hành giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Phải làm công tác tư tưởng với từng người, từng tổ chức, từng đơn vị theo từng nhiệm vụ. Trước hết phải phát huy sức mạnh của tổ chức lãnh đạo, tổ chức chỉ huy trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, đảng viên; chỉ rõ phương hướng hành động cho cán bộ, đảng viên. Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp phải luôn chủ động dự kiến tình hình tư tưởng kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để không bị động bất ngờ về tư tưởng trước những diễn biến nhanh chóng khẩn trương của các hình huống chiến dịch. Phải nắm chắc tình hình tư tưởng của bộ đội, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, năng lực nắm vững những quan điểm tư tưởng trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, mệnh lệnh của cấp trên, để khi tình hình có diễn biến phức tạp thì vẫn đủ sức chủ động lãnh đạo về mọi mặt, trước hết là lãnh đạo đúng đắn về chính trị – tư tưởng.

Cùng với việc tiến hành công tác tư tưởng trong tổ chức đảng phải lãnh đạo chỉ đạo các tổ chức quần chúng, phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, vận động quần chúng phát huy sáng kiến ra sức thi đua chiến đấu, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên, củng cố mối liên hệ mật thiết mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng. Nhận rõ vai trò xung kích của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ chức Đảng, cơ quan chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch đã coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm đoàn thanh niên thường xuyên vững mạnh, làm tốt việc giáo dục, động viên, tổ chức phong trào thành niên phát huy sáng kiến, cải tiến trang bị, vũ khí, tham gia vào việc nghiên cứu đề xuất cách đánh chống lại không quân Mỹ theo chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị. Trong chiến dịch này, phong trào thi đua “Vạch nhiễu tìm thù” đã được phát động trong toàn binh chủng ra đa đã hướng vào giải đáp thành công những câu hỏi khó khăn nhất, gay cấn nhất của đơn vị và binh chủng là nâng cao trình độ quan sát, phát hiện sớm máy bay của địch từ xa, phá thủ đoạn gây nhiễu làm “mù”ra đa của ta, không để bị bất ngờ, nhất là khi chúng đánh vào Hà Nội, Hải Phòng.

Thực tiễn chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh rằng, muốn phát huy sức mạnh, hiệu lực của công tác tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, trước hết phải làm tốt công tác tư tưởng trong nội bộ tổ chức Đảng, làm từ trong Đảng ra đến các tổ chức quần chúng. Trong cuộc chiến đấu này, ta phải đương đầu với không quân Mỹ có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng khó khăn cũng chồng chất. Điều đó đặt ra yêu cầu mới, cách nhìn mới đối với công tác tư tưởng trong xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Phải xây dựng đơn vị vững chắc về tư tưởng. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ có phải có quyết tâm chiến đấu cao, không sợ hy sinh, không nề gian khổ để vượt qua mọi khó khăn thử thách. Yếu tố trang bị kỹ thuật và cách đánh rõ ràng là cực kỳ quan trọng trong sức mạnh chiến đấu. Nhưng không vì thế mà coi nhẹ nhân tố chính trị – tinh thần, coi nhẹ công tác tư tưởng. Vũ khí trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đaị, càng đòi hỏi cao ở bộ đội về phẩm chất chính tri – tinh thần. Chỉ có trên cơ sở giác ngộ chính trị cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng với tinh thần dũng cảm, kiên cường thì mới mưu trí, sáng tạo, tìm ra cách đánh tốt, mới giải quyết tốt các vấn đề về tổ chức, kỹ thuật, nghệ thuật quân sự…bảo đảm giành thắng lợi

Đại tá, TS Trần Ngọc Tuệ
Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự – BQP

——————————————————————————–

[1] .Tổng cục Chính trị, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 – 1975, Nxb QĐND, Hà Nội, 1998,tr.534-535.

[2] . Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG,Hà Nội,1996, tr.465-466

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Linebacker-II: ‘Sai lầm ngay khi mới bắt đầu’

Sai lầm nối tiếp sai lầm khiến Mỹ phải trả giá đắt ở Việt Nam, cho sự liều lĩnh của phe diều hâu trong Nhà Trắng, dưới thời Tổng thống Nixon.

Robert O. Harder

(ĐVO) Trong cuốn hồi ký “Cuộc chiến 11 ngày” của  Robert O. Harder, cựu hoa tiêu dẫn đường trên máy bay ném bom B-52 tham gia chiến dịch Linebacker-II, tác giả thừa nhận và chỉ ra những sai lầm trong việc hoạch định chiến lược cũng như sử dụng B-52 trong chiến dịch không kích quy mô lớn nhất kể từ sau thế chiến thứ 2  này.

Cuốn hồi ký có đoạn: “Sau khi không thể thuyết phục Bắc Việt về bản dự thảo đàm phán hòa bình đầu tháng 10/1972. Tổng thống Richard Nixon đã ra lệnh cho Không quân Mỹ thực hiện cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam nhằm đạt được những lợi thế trên bàn đàm phán”.

“Linebacker-II đã là một sự thất bại ngay khi bắt đầu, nhiều người chúng tôi biết điều đó nhưng buộc phải hành động theo chỉ thị của cấp trên”.

Chỉ thị từ Tổng thống Nixon thực sự là một sự “bất ngờ” lớn đối với Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ SAC.

SAC dường như không đủ thời gian để chuẩn bị các kế hoạch dự phòng phù hợp với mục tiêu của chiến dịch Linebacker-II.

SAC đã áp dụng chiến thuật của các hoạt động ném bom hạng nhẹ dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh mà các máy bay B-52 đã thực hiện nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam trong chiến dịch Linebacker-II.

Tồi tệ hơn, trong gần 8 năm hoạt động ném bom dọc theo dãy Trường Sơn trong môi trường tương đối an toàn SAC đã trở nên tự mãn với những gì mình có và xem nhẹ mối đe dọa từ mặt đất.

>> Kéo SAM-2 lên đỉnh Trường Sơn trị AC-130

Các chỉ huy SAC nói với chúng tôi rằng: “B-52 đã được trang bị các thiết bị điện tử hiện đại nhất để miễn nhiễm với SA-2 và MiG-21 của Bắc Việt”. Nhưng ngay khi bước vào chiến dịch đó thực sự là nỗi kinh hoàng của chúng tôi. Stratofortress tỏ ra rất dễ bị tổn thương bởi tên lửa đất đối không dẫn hướng SAM-2.

Các máy bay B-52 tấn công vào Hà Nội đều bay cùng một tuyến đường, độ cao và lịch trình. SAC đã phải trả giá cho 34 B-52 bị bắn hạ tại Việt Nam.

SAC đã lập một kế hoạch “dở tệ” cho một chiến dịch quy mô lớn như Linebacker-II.

Tất cả các máy bay B-52 cất cánh từ căn cứ U-Tapao của Thái Lan hoặc căn cứ Andersen trên đảo Guam đều khởi hành từ cùng một điểm, cùng một kiểu điều hành bay, đội hình kiểu một khối, cùng một độ cao và khoảng cách giữa các đợt tấn công.

Đại úy Don Craig, phi công lái B-52 xuất phát từ căn cứ không quân Andersen đã chia sẻ: “Chúng tôi biết có những sai sót lớn trong kế hoạch, bắt đầu bằng việc các máy bay ném bom  tới từ cùng một địa điểm trên cùng một tuyến đường và nó đi thẳng xuống khu vực “Thud Ridge”(*), giống như con vịt trong trò chơi bắn súng”.

* Thud Ridge là biệt hiệu mà các phi công F-105 của Mỹ thường gọi khu vực Tam Đảo trong các hoạt động áp chế hệ thống phòng không Bắc Việt.

Đại úy Wilton Strickland nhân viên radar dẫn đường trên B-52 cất cánh từ căn cứ U-Tapao, Thái Lan đồng tình với quan điểm của đại úy Craig. “Với khoảng cách xa của chuyến bay, hệ thống phòng không Bắc Việt đã có nhiều thời gian để theo dõi và bắn các máy bay trước khi nó tiến vào khu vực mục tiêu. Họ biết rõ tuyến đường, độ cao, khoảng cách cũng như phương pháp tiếp cận của chúng tôi”. Đại úy Strickland nói

Thống kê B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội.

Một vấn đề nghiêm trọng khác là các nhà hoạch định kế hoạch của SAC bắt buộc các phi công phải thực hiện một động tác chống phá vỡ bằng cách chao cánh về bên phải sau khi ném hết bom. Đây là động tác được thực hiện sau khi ném bom hạt nhân. Động tác này là vô nghĩa và nó làm cho tốc độ của máy bay bị chậm lại và đặt B-52 vào tình thế nguy hiểm từ hệ thống phòng không của Bắc Việt.

Ngay đêm đầu tiên của chiến dịch, 3 B-52 đã bị bắn hạ (trùng với thống kê của Việt Nam), một tổn thất bất ngờ đối với SAC. Họ đã không thể ngờ được khả năng chống cự của hệ thống phòng không Bắc Việt lại mạnh mẽ như vậy.

SAC cũng không thể ngờ được Hà Nội lại có nhiều tên lửa đến vậy, theo phía Mỹ dự đoán, có khoảng 200 quả đã được bắn lên trong ngày đầu tiên.

Ngày thứ 3 của chiến dịch được coi là một “bi kịch” của SAC, 90 lần B-52 đã được huy động, 6 B-52 bị bắn rơi (phía Việt Nam ghi nhận Mỹ mất 7 máy bay trong ngày này). Sau 3 ngày, 9 B-52 đã bị bắn rơi (Việt Nam ghi nhận là 12 chiếc B-52 bị bắn rơi).

Tỷ lệ tổn thất lên đến 7% quá cao so với dự kiến của SAC. Tuy nhiên, Tướng John C. Meyer, Tư lệnh SAC quyết định tăng cường hơn nữa cường độ của các cuộc không kích và người Mỹ phải trả giá.

Đại úy Captain Strickland là người được giao nhiệm vụ vào ngày thứ 6 của chiến dịch đã may mắn quay trở về căn cứ an toàn. Ông đã tỏ ra rất phẫn nộ trong cuộc họp đánh giá sau đó: “Ai là người đã lập kế hoạch cho một chiến thuật ngu ngốc như thế? Đối phương đang sử dụng kế hoạch của chúng ta, cùng với sự chậm chạp trong triển khai và thu hồi đội hình để theo dõi và bắn chúng ta”

Tướng Glenn Sullivan, Tư lệnh Sư đoàn không quân số 17 đóng quân tại U-Tapao, Thái Lan đã có mặt và lắng nghe ý kiến của các phi hành đoàn nhưng việc thay đổi chiến thuật đã không được thực hiện. SAC đã không có đủ thời gian để khảo sát các tuyến bay mới và việc đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Tuyến đường B-52 đánh vào Hà Nội vẫn được giữ như cũ cho đến hết chiến dịch, chỉ có một thay đổi nhỏ là biến thể B-52G được trang bị hệ thống gây nhiễu mới nhưng điều  đó cũng không giúp SAC giảm số lượng B-52 bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội.

>> Vạch mặt ‘kẻ phá đám’ SAM-2: Chiến công thầm lặng của đơn vị trinh sát nhiễu
>> Giải mật bộ khí tài bắt B-52 lộ diện

Linebacker-II đã kết thúc sau 12 ngày không kích, Việt Nam không hề bị khuất phục. Linebacker-II đã diễn ra với một chiến thuật nghèo nàn và SAC đã phải trả giá đắt khi đánh giá thấp khả năng phòng không của Việt Nam.

>> Phòng không Việt Nam đối đầu với ‘sát thủ radar’ Mỹ
>> Hình ảnh phục dựng B-52, SAM-2, MiG-21
>> Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến

Quốc Việt
baodatviet.vn

Vạch mặt ‘kẻ phá đám’ SAM-2: Chiến công thầm lặng của đơn vị trinh sát nhiễu

Để có được chiến thắng vang dội trước cuộc tập kích bằng B-52 cuối tháng 12/1972, không thể không kể đến sự đóng góp “thầm lặng” của đơn vị trinh sát nhiễu.

(ĐVO) Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (12/1972-12/2012), Đất Việt đã có cuộc trò chuyện với Trung tướng Phan Thu – Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu để hiểu rõ hơn vai trò của người lính trinh sát nhiễu trong kháng chiến Mỹ:

Sự ra đời của “Đội nhiễu”

Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, công nghệ radar được ứng dụng rộng rãi trong quân sự, nhằm giúp lực lượng phòng không các nước phát hiện, cảnh báo và đánh trả các cuộc tập kích đường không một cách hiệu quả. Nhìn xa hàng chục, hàng trăm kilomet, báo sớm các cuộc tấn công và chỉ rõ mục tiêu để hỏa lực phòng không tiêu diệt. Do đó, radar được ví với “mắt thần” của phe phòng phủ. Không chịu thua kém, phe tấn công tìm mọi biện pháp để bịt mắt, chọc mù những “đôi mắt” thần này. Một trong những biện pháp đó là hoạt động gây nhiễu.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Đế Quốc Mỹ rất coi trọng thủ đoạn gây nhiễu radar của ta. Đặc biệt, từ năm 1965, khi bộ đội phòng không Việt Nam được trang bị tên lửa SAM-2, địch thực hiện các thủ đoạn gây nhiễu một cách quyết liệt hơn.

Tất cả các loại radar của ta đều bị gây nhiễu bằng máy gây nhiễu tích cực và máy gây nhiễu tiêu cực lắp trên các chiến đấu cơ chiến thuật, máy bay ném bom của Không quân Mỹ. Phía ta ghi nhận, nhiều trường hợp thủ đoạn gây nhiễu của địch làm trắng màn hiện sóng radar, không thể xác định được mục tiêu để chỉ điểm cho phòng không đánh trả.

Những thủ đoạn của địch đã làm giảm đi hiệu suất chiến đấu của bộ đội tên lửa, trước tình hình đó đòi hỏi Quân chủng Phòng không – Không quân cần thiết thành lập Đội trinh sát nhiễu làm nhiệm vụ tìm hiểu tính năng kỹ thuật và thủ đoạn chiến thuật gây nhiễu của địch.

Trước tình hình mới, từ năm 1967, Liên Xô có đề nghị đưa sang Việt Nam một số thiết bị trinh sát điện tử và một đoàn cán bộ thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến tranh điện tử làm nhiệm vụ nghiên cứu tìm hiểu phương tiện của Mỹ. Bộ tư lệnh Quân chủng thành lập Đội nhiễu để phối hợp với bạn.

Ngày 10/1/1967, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân ký quyết định thành lập Đội nhiễu (thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng) do đồng chí Phan Thu làm đội trưởng. Đội nhiễu ban đầu chỉ có 34 đồng chí là các cán bộ, trắc thủ, thợ sửa chữa radar từ các đơn vị quân chủng điều về.

Trang bị của Đội trinh sát nhiễu gồm có: máy thu sóng m P-313, P-314, P-325; máy thu sóng dm và cm D1K; máy thu tín hiệu radar PC-1, PC-2, PC-3; các máy phân tích phổ của tín hiệu; máy ghi âm để ghi lại tín hiệu thu được và máy quay phim, chụp ảnh.

“Vạch mặt kẻ phá đám” SAM-2

Giai đoạn 1967-1968, để đối phó với đạn tên lửa của ta, máy bay Mỹ sử dụng máy gây nhiễu ALQ-71 mở rộng tần số gây nhiễu sóng 10cm trùm qua rãnh đạn tên lửa, làm cho đạn tên lửa của ta mất điều khiển.

Theo tổng kết, tên lửa của ta gặp phải ba trường hợp: đạn được phóng lên nhưng rơi tại chỗ, đạn không có điều khiển bay vọt lên cao tự nổ hoặc đạn không rời bệ phóng vì không bắt được tín hiệu điều khiển.

Thủ đoạn này của đối phương làm bộ đội tên lửa giảm đáng kể khả năng chiến đấu, đạn bắn lên rơi xuống đất rõ ràng không thể đối phó máy bay địch. Một yêu cầu được đặt ra, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ đặc điểm từng loại nhiễu để đề xuất các phương án cải tiến kỹ thuật. Trước tình hình đó, Đội nhiễu khẩn trương vào cuộc nghiên cứu phân tích để tìm ra và khắc phục.

“Thật may, tháng 5/1967 bộ đội tên lửa phòng không đã bắn rơi một chiếc F-4C của Không quân Mỹ và chúng tôi thu được một máy gây nhiễu ALQ-71 khá nguyên vẹn. Đây là một chiến lợi phẩm rất quý, có nó chúng ta có thể giải đáp được nhiều vấn đề về chống nhiễu trong đội hình đối với các loại máy bay chiến thuật của Không quân Mỹ”, Trung tướng Phan Thu kể lại.

“Kẻ phá đám” SAM-2 – máy gây nhiễu rãnh đạn AN/ALQ-71.

Sau đó, cán bộ kỹ thuật quân sự Việt Nam nhanh chóng triển khai công tác nghiên cứu, phân tích kỹ càng máy ALQ-71.

“Chúng tôi đã “mổ xẻ” ALQ-71 để nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ. Đèn phát máy ALQ-71 được nối điện theo đúng thông số kỹ thuật của nó để khảo sát tính năng điện của máy gây nhiễu. Sau khi nối điện để đèn phát nhiễu của máy ALQ-71 làm việc, chúng tôi đã đo được dải tần số phát ổn định của nó rất rộng, có thể trùm hết cả rãnh mục tiêu và rãnh đạn của đài điều khiển tên lửa”, Trung tướng Phan Thu nói.

Những thông tin quý giá do Đội nhiễu tìm ra được chuyển lên cấp Bộ Tư lệnh Quân chủng và chuyên gia Liên Xô. Ngay sau đó, thông tin này tiếp tục chuyển sang Moscow để các nhà khoa học Liên Xô cải tiến.

“Các nhà khoa học Liên Xô đã có bước cải tiến cơ bản, vừa điều chỉnh lệch tần số, vừa nâng cao công suất đèn phát tín hiệu trả lời của đạn về đài điều khiển. Nhờ vậy, tín hiệu trả lời của đạn vượt lớn hơn tín hiệu nhiễu, khiến máy gây nhiễu của Mỹ không thể rượt đuổi theo được do bị hạn chế về công suất phát. Từ đó, tất cả đạn tên lửa của ta đều được thay máy phát tín hiệu trả lời có công suất lớn hơn nhiều và nhiễu rãnh đạn bị chấm dứt từ đây”, Trung tướng Phan Thu cho biết.

Có thể nói, việc cải tiến chống nhiễu rãnh đạn cho đạn SAM-2 là một trong những bước cải tiến quan trọng. Việc khắc chế hoàn toàn nhiễu rãnh đạn giúp “rồng lửa Thăng Long” SAM-2 tiếp tục phát huy hiệu quả bắn rơi nhiều máy bay địch, trong đó có “pháo đài bay” B-52.

Tiểu sử Trung tướng Phan Thu

Trung tướng Phan Thu – nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trinh sát nhiễu.

Trung tướng Phan Thu sinh ngày 16/6/1931 tại tỉnh Thà Khẹt (Lào). Sau Cách mạng tháng 8/1945, ông cùng gia đình trở về Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến 1946, ông tản cư về làng và làm nhiệm vụ giúp đỡ bà con, dạy bình dân học vụ, đi tuyên truyền kháng chiến. Ngày 6/1/1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5/1950, ông nhập ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được cử đi học Lục quân Khóa VI tại trường của ta đặt ở Vân Nam, Trung Quốc. Học xong, ông được giữa lại làm trợ giáo hai khóa 7-8.

Sau 1950, ông cùng đơn vị pháo binh 105mm về tham gia nhiều chiến dịch lớn của quân đội, như chiến dịch Hòa Bình. Năm 1954, ông được chuyển về phòng không, học pháo cao xạ trung cao 88mm của Liên Xô viện trợ tại Thẩm Dương (Trung Quốc).

Từ 1956-1967, ông làm trợ lý radar phòng huấn luyện Sư đoàn phòng không 367. Trong giai đoạn này, ngoài công tác huấn luyện cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu, ông cũng có những đề tài nghiên cứu cải tiến radar SON-9A bắt mục tiêu bay thấp, nâng công suất phát radar SON-9A…

Năm 1967, ông được bổ nhiệm làm Phó phòng Khoa học Quân sự rồi làm Đội trưởng Đội trinh sát nhiễu kiêm Phó phòng Quân báo.

Ngày 28/5/1970, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Khi đó, ông đang là Phó phòng Quân báo kiêm Đội trưởng Đội nhiễu và là Trưởng phòng Nghiên cứu Kỹ thuật Quân chủng Phòng không – Không quân.

>> Phòng không Việt Nam đối đầu với ‘sát thủ radar’ Mỹ
>> Những vật dụng ‘xa xỉ’ thời chiến
>> Hình ảnh phục dựng B-52, SAM-2, MiG-21
>> Điện Biên Phủ trên không: Phục dựng hình ảnh B-52, SAM-2, MiG-21
>> SR-71: Trinh sát của Mỹ, ‘chỉ điểm’ của VN
>> Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến
>> Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2

Phượng Hồng
baodatviet.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Argentina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

3. tong thong a1
Tổng thống nước Cộng hòa Argentina vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng thống nước Cộng hòa Argentina Cristina Fernandez de Kirchner sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 18-21/1/2013. Trong khuôn khổ chuyến thăm này, sáng 21/1/2013, Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Argentina đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Tổng thống nước Cộng hòa Argentina kính viếng.”

Chuyến thăm của Tổng thống Argentina Kirchner tới Việt Nam mang ý nghĩa rất lớn bởi hai nước đã đi qua chặng đường 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, con đường tuy chưa dài nhưng đã có nhưng bước tiến lớn. Quan hệ giữa hai nước đã ở một tầm cao mới, vì thế chuyến thăm nhân dịp này đã được cả hai bên đón chờ. Tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Argentina rất lớn, hai nước có những hoàn cảnh tương đồng nhưng đồng thời lại có khả năng bổ sung cho nhau, đặc biệt là có mục tiêu phát triển giống nhau.

3. tong tong a2
Tổng thống nước Cộng hòa Argentina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam

Chuyến thăm lần này của Tổng thống nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, nông nghiệp, năng lượng, khoa học – công nghệ, y tế và giáo dục đào tạo. Đồng thời, tập trung trao đổi, hoạch định chính sách và thông qua những biện pháp để thúc đẩy các mối quan hệ này.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Điện Biên Phủ trên không: Phục dựng hình ảnh B-52, SAM-2, MiG-21

B-52, MiG-21 và tên lửa SAM-2 là các vũ khí chủ lực của Mỹ và Việt Nam tham chiến trong trận Điện Biên Phủ trên không, tháng 12/1972.

(ĐVO) Dưới đây là hình ảnh đồ họa và thông tin của B-52, MiG-21 và tên lửa SAM-2:

        

>> Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2
>> S-300 sẵn sàng bảo vệ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

>> Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52′ trong bảo tàng Hà Nội
>> Phòng không Việt Nam và xu hướng thế giới

>> Đảm bảo tác chiến điện tử cho phòng không – không quân
>> VN phát triển phần mềm mô phỏng tên lửa S-75M3
>> Tiêm kích Su-30MK2V huấn luyện bay đêm
>> Bí quyết khắc chế ‘bóng ma’ AC-130 của Việt Nam
>> Việt Nam biến C-130 thành máy bay ném bom bảo vệ Trường Sa

Đồ họa: Lê Long, Nội dung: Lê Nam, Tuấn Linh, Quốc Tuấn, Trường Sơn
baodatviet.vn

Nghịch lý về nhân quyền trong quan hệ cộng đồng quốc tế

Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, vấn đề nhân quyền ngày càng được quan tâm và có bước tiến bộ. Song, đi liền với đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn và nghịch lý mới bắt nguồn từ sự định kiến, áp đặt. Xóa bỏ nghịch lý, thực hiện công bằng và lẽ phải về nhân quyền là trách nhiệm chung đặt ra đối với mọi quốc gia, dân tộc trong quan hệ quốc tế hiện nay.

Không phải đến bây giờ mà từ nhiều năm trước, ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ của nó đã trở thành vấn đề chung, là sự quan tâm của nhà nước ở mọi quốc gia, dân tộc. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã một lần nữa được Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02-9-1945) – nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam. Các tuyên ngôn đó đều khẳng định rõ: quyền con người và sứ mệnh của mỗi nhà nước trong việc thực thi quyền con người đối với mọi công dân nước mình cũng như cộng đồng quốc tế.

Sự tiến bộ về nhân quyền trong quá trình phát triển của văn minh nhân loại, in đậm dấu ấn lịch sử mỗi dân tộc. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhân quyền đối với hầu hết mọi người có chăng chỉ là nhu cầu tối thiểu nhất về sự sinh tồn. Ở đó, tầng lớp chủ nô và các lãnh chúa tuy chiếm tỷ lệ nhỏ, song lại độc chiếm hầu như toàn bộ quyền sinh, quyền sát đối với toàn xã hội. Các thành phần nô lệ, nông dân và người lao động chiếm số đông, nhưng thường xuyên rơi vào tình cảnh cùng cực, thậm chí phải chịu đòn roi, xiềng xích, bị đem bán đổi, nên quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc không bao giờ được bảo đảm.

Theo sự phát triển của lịch sử, người ta hy vọng những nghịch lý nhân quyền trên sẽ được xóa bỏ khi bước sang một chế độ xã hội mới – chế độ TBCN. Sự ra đời của chế độ TBCN đã đánh dấu bước phát triển lớn trong lịch sử nhân loại, bởi nó đã tạo ra được nguồn lực to lớn, bảo đảm cho việc thực thi nhân quyền, mà chưa có chế độ xã hội nào trước đó làm được. Chỉ trong vòng mấy trăm năm ra đời và phát triển, CNTB đã tạo ra một lượng vật chất lớn gấp nhiều lần so với tất cả các chế độ trước cộng lại. Những thành tựu do nó tạo ra, cả về tri thức, khoa học, công nghệ, pháp luật,… bảo đảm cho sự phát triển nói chung, về nhân quyền nói riêng là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, thực tế những gì diễn ra kể từ khi CNTB ra đời đến nay cho thấy, không phải cứ nắm giữ nguồn lực bảo đảm cho phát triển thì sự bất bình đẳng về nhân quyền sẽ tự nhiên mất đi. Cũng không phải vì thế mà tình hình nhân quyền trong lòng chế độ TBCN sẽ ngày càng hoàn thiện, trở thành mực thước cho mọi quốc gia khác noi theo, như bộ máy tuyên truyền của họ lâu nay vẫn thường xuyên cổ xúy. Tình trạng đó có nguồn gốc sâu xa từ chính bản chất chế độ kinh tế, chính trị của xã hội tư bản. Ở đó, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất đã trở thành lực cản vô hình đối với việc thực thi nhân quyền trên mọi bình diện xã hội. Điều đó sẽ không bao giờ tạo ra cơ hội để những người lao động làm thuê được ngồi chung mâm, hưởng phần đều từ “chiếc bánh” nhân quyền cùng với các đại diện của nền dân chủ tư sản là các trùm tư bản, tài phiệt. Liệu có được sự bình đẳng, dân chủ đầy đủ, thực chất hay không ngay như trong lòng nước Mỹ hiện nay, khi người giàu chỉ chiếm 1% dân số, nhưng lại chiếm tới 21% tổng thu nhập và 35% tài sản đất nước? Lỗ hổng về nhân quyền đó là nét đặc trưng chung không gì có thể san lấp nổi của hệ thống TBCN. Thực tế trên đã diễn ra đúng như nhận định từ hơn 150 năm trước của C. Mác và Ph. Ăng-ghen: “giai cấp tư sản gọi quyền lợi của mình là nhân quyền… Kỳ thực, nhân quyền của giai cấp tư sản cũng là một đặc quyền, đặc quyền được che đậy bằng nhân quyền – đặc quyền của giai cấp tư sản”1. Bản chất kinh tế, chính trị của nhà nước cầm quyền tư sản không thể xóa bỏ được gốc rễ nghịch lý nhân quyền đã tạo ra ở chế độ xã hội trước đó, mà còn làm nảy sinh những biến thái mới, tinh vi hơn. Song, dù cố tình điều chỉnh, che đậy đến mấy, bức tranh toàn cảnh về nhân quyền dưới chế độ TBCN vẫn bộc lộ những điều bất ổn, những nghịch lý mới. Điều đáng quan tâm là, trong khi kinh tế và các nguồn lực phát triển được tăng cường, thì sự gia tăng về bất bình đẳng xã hội, phân biệt, đối xử; các giá trị nhân bản lại bị coi nhẹ và suy giảm trầm trọng. Cuộc biểu tình với khẩu hiệu “Chiếm lấy phố Wall” nổ ra vào tháng 9 năm 2011 ở nước Mỹ, lan rộng trên 950 thành phố, thuộc 82 quốc gia đã bày tỏ sự bất bình của đông đảo người lao động, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, trí thức trên toàn thế giới trước tình trạng bất công, thiếu dân chủ trong hệ thống TBCN. Đại diện cho những người cùng quan tâm tới vấn đề trên, Tô-ny – một trong số người tổ chức ra chiến dịch đấu tranh đó (ở Anh), đã thẳng thắn bày tỏ: “Chúng tôi không thể tin được các nhà chính trị và giới chủ ngân hàng đang thỏa thuận và quyết định tương lai của mình”. Ben-gia-min Dic-to – một luật sư tương lai ở Mỹ, cũng cho rằng: “Chúng tôi phải đấu tranh để mang lại dân chủ cho xã hội và phân phối lại thành quả lao động. CNTB và cái mà họ gọi là nền dân chủ tự do xuất hiện hằng ngày đã đến mức không thể chịu nổi”… Rõ ràng là lòng tin của hầu hết người dân lao động về dân chủ, nhân quyền trong lòng chế độ TBCN đã trở nên suy giảm tới mức khó có thể khôi phục được. Nếu không được Bộ Nông nghiệp Mỹ công bố, thì nhiều người khó có thể tin rằng, hiện nay cứ 06 người Mỹ lại có 01 người phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực. Trong 50 triệu người thuộc số đó, có tới 17 triệu người nằm trong tình trạng báo động. Qua báo cáo hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền thế giới, người ta còn được biết việc phân biệt, đối xử với các nhóm tôn giáo; đối xử không công bằng với nhóm phụ nữ, trẻ em, các dân tộc thiểu số ở Anh còn nhiều điều nhức nhối. Cũng tương tự như vậy, tình trạng bắt giữ người kéo dài trước khi xét xử, bạo hành đối với phụ nữ, buôn bán người và ngược đãi người nước ngoài… vẫn diễn ra thường xuyên ở I-ta-li-a… Khó có thể kể hết tình trạng phân biệt chủng tộc, xung đột sắc tộc, kỳ thị tôn giáo, văn hóa; sự gia tăng về bạo lực, tội phạm… đang diễn ra với mức độ và biểu hiện nghiêm trọng ở hầu hết các nước trong hệ thống TBCN.

Thực tế trên cho thấy, nhân quyền dưới chế độ TBCN, nhất là ở các nước tư bản phát triển không hoàn hảo như họ tự nhận. Mặc dù thế, trong khi chưa giải quyết thấu đáo được vấn đề nhân quyền trong nước, những nhà cầm quyền tư sản, đứng đầu là Mỹ vẫn ráo riết phán xét, giám sát và áp đặt các tiêu chí về nhân quyền của mình đối với mọi quốc gia. Người ta còn nhớ, Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ đã chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người. Trong khi đó, họ lại quên Tổ chức Ân xá quốc tế đã cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền của chính nước Mỹ khi nêu ra “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Oa-sinh-tơn lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Sự phán xét mang nặng tính chủ quan, định kiến đi liền với những áp đặt võ đoán về nhân quyền, coi nhân quyền như một công cụ để can thiệp vào nội bộ nước khác chính là một nghịch lý mới trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ngày 24-5-2012, Bộ Ngoại giao Mỹ lại công bố “Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới năm 2011”; trong đó, phê phán tình hình nhân quyền của nhiều quốc gia trên thế giới… Với tư cách và quyền hạn gì mà Mỹ lại sốt sắng làm việc này đến thế? Đó vẫn là câu hỏi đang được đặt ra với cộng đồng quốc tế. Việc làm này hoàn toàn không phải chuyện nội bộ, vì nó đã được công khai trước toàn thế giới; hơn nữa, đi liền với nó còn có các chế định chính trị, kinh tế, giám sát và khi cần thiết còn có sự hỗ trợ, can thiệp vũ trang. Dẫu cho việc làm đó chẳng khác gì “gọt chân cho vừa giày”, thế nhưng nó vẫn tồn tại và đang còn tiếp diễn. Phần nhiều các phán xét về nhân quyền của Mỹ, khi đưa ra đều không nhận được sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trước hết là từ sự tùy tiện, chủ quan áp đặt các tiêu chí nhân quyền riêng của mình để soi xét các nước khác mà bất chấp hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… cụ thể của mỗi quốc gia. Điều khác nữa, việc khai thác và xử lý các thông tin về nhân quyền thường chỉ một chiều, dựa vào ý kiến cá nhân, mang nặng định kiến, chủ quan, hoặc cực đoan, bất mãn, thù địch, chống đối chế độ và nhà nước đương quyền. Nhân quyền rất cần sự khách quan, thiện chí, nhưng khi bị thao túng bởi chủ quan, định kiến, thù nghịch,… nó sẽ bị sai lệch, méo mó. Với thái độ và cách làm nhân quyền như trên, các báo cáo về nhân quyền hằng năm của Mỹ mỗi khi đưa ra đều vấp phải sự phản bác quyết liệt của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, mà lần này cũng không phải là ngoại lệ. Phản ứng với báo cáo nhân quyền thế giới năm 2011 của Mỹ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cho rằng: đó là một sự phân biệt, đối xử, coi thường sự thật. Bộ Ngoại giao Cu Ba tuyên bố, bản báo cáo nhân quyền của Mỹ đối với Cu Ba là những thông tin giả dối và vu cáo, chỉ nhằm bào chữa cho chính sách bao vây, cấm vận tàn bạo của Mỹ áp đặt chống Cu Ba từ hơn nửa thế kỷ qua. Cũng với tinh thần đó, nhiều quốc gia khác đều chỉ ra sự chủ quan, sai lệch, dụng ý xấu… từ báo cáo nhân quyền thế giới của Mỹ vừa qua.

Trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là một thách thức lớn đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Hiện nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng hậu quả của nó vẫn còn hiện hữu nặng nề trong mọi mặt đời sống xã hội và trong mỗi gia đình Việt Nam. Khoảng thời gian đó đã đánh dấu sự vươn lên mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong sự phát triển đất nước nói chung, sự khắc phục hậu quả chiến tranh và chăm lo phát triển quyền con người nói riêng. Trong khi điều kiện bảo đảm để thực hiện việc làm đó còn vô vàn khó khăn, thiếu đồng bộ, có thể vẫn còn những hạn chế, bất cập, song không thể phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng phát triển, tiến bộ về chăm lo quyền con người ở Việt Nam. Điều này đã được tất cả những ai có thiện chí, yêu chuộng công lý và lẽ phải trong cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nếu nói tiêu chí tổng quát nhất về thực hiện quyền con người trong thế kỷ XXI, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với 08 Mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu thực hiện, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra và là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân.

Những năm gần đây, nhiều nước ở Trung Đông, Đông Âu, châu Phi đã liên tiếp xảy ra những biến động chính trị, xã hội sâu sắc bởi các cuộc chiến tranh, cách mạng thay thế chính quyền sở tại. Trong vòng 12 năm (1999 – 2011), đã có 4 cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO tiến hành đối với Nam Tư (1999), Áp-ga-ni-xtan (2001), I-rắc (2003) và Li-bia (2011). Hiện nay, họ đang can thiệp vào tình hình Xy-ri, nhằm lật đổ chính quyền sở tại. Cùng với đó là sự bùng phát và lan rộng của các cuộc “cách mạng màu” và phong trào “Mùa xuân Ả-rập” ở một số nước thuộc Liên Xô cũ và châu Phi. Điểm giống nhau là các sự kiện này đều diễn ra dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”, với các lý do mơ hồ, giả tạo, có sự can thiệp của Mỹ và phương Tây. Điều trớ trêu là, trong khi chưa đem lại điều gì tốt đẹp hơn cho người dân, thì các sự kiện “nhân quyền” đó đã cướp đi sinh mạng và làm thương tật hàng chục vạn thường dân vô tội; đồng thời, làm cho tình trạng rối ren, bất ổn ở các quốc gia này không ngừng tiếp diễn. Sự can thiệp thô bạo của Mỹ và phương Tây đã là một tác nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng đó. Thực tế trên không khỏi để người ta đưa ra điều nghi vấn: phải chăng hiện nay, bạo lực và chiến tranh đã trở thành bạn đường của nhân quyền? Nếu đúng như vậy thì quả là nghịch lý về nhân quyên đã lên tới đỉnh điểm và cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ nhân quyền, trước hết cần phải từ việc giải quyết nghịch lý ấy.

TRỊNH THỊ HOA

Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
tapchiqptd.vn

1 – C.Mác – Ph. Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H.1995, tr.156.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật quân sự

Kỷ luật quân sự được hiểu là một hình thức đặc biệt của kỷ luật mà đặc trưng của nó được quyết định bởi tính chất của hoạt động quân sự. Kỷ luật quân sự đòi hỏi những người thực hiện nghĩa vụ quân sự tính tập trung, chính xác, tinh thần chấp hành triệt để vô điều kiện, tự chủ, kịp thời, nhanh chóng thực hiện tốt nhất mệnh lệnh, chỉ thị của người chỉ huy. Khi nói về ý nghĩa của kỷ luật với tư cách là một phương tiện quan trọng nhằm nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội, V.I.Lênin viết: “Nếu suy nghĩ đến cùng, do nguyên nhân sâu xa mà có được cái kỳ tích lịch sử là một nước suy yếu, bị kiệt quệ và lạc hậu lại chiến thắng được những nước hùng cường nhất thế giới, thì chúng ta thấy nguyên nhân đó là chế độ tập trung, kỷ luật và tinh thần hy sinh chưa từng có” [i].

Là người khai sinh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bác luôn dày công chăm lo, rèn luyện và giáo dục quân nhân trong mọi lĩnh vực, nhất là tính kỷ luật. Kế thừa một cách khoa học, sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, trong quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Bác chỉ rõ: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” [ii] hay “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh” [iii]Trong nội dung xây dựng kỷ luật quân đội, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ phải chăm lo xây dựng kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Kỷ luật ấy phải xuất phát từ tính tự giác, tự nguyện của từng cá nhân và của cả tập thể.

Đối với Bác, để có kỷ luật tốt, trước tiên phải nâng cao trình độ tri thức về mọi phương diện cho cán bộ, chiến sĩ. Trong một lá thư gửi bộ đội, Bác dạy: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn. Võ như tay phải, văn như tay trái của quân nhân. Muốn biết thì phải thi đua học…” [iv].

Trong công tác giáo dục kỷ luật quân sự, Bác đặc biệt quan tâm đến giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho sĩ quan, đặc biệt là cán bộ chủ trì đơn vị. Nói chuyện với đại biểu quân đội nhân dịp Tết Đinh Dậu, Bác nhắc nhở:“Trong quân đội cách mạng, cán bộ gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.

Về phương pháp thực hành kỷ luật, Bác nhấn mạnh việc dùng vũ khí phê bình và tự phê bình trong việc quản lý và duy trì chấp hành kỷ luật. Bác dạy: “Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê bình và tự phê bình, phải biết kỷ luật”Phương pháp nêu gương được Bác coi là biện pháp hữu hiệu để hướng dẫn các hành vi về đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật cao. Trước hết là sự gương mẫu về hành vi kỷ luật của cán bộ sĩ quan. Theo Bác: “Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện tập lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm  gương”.

Để duy trì kỷ luật, thưởng và phạt là quan trọng và cần thiết nhằm động viên trong mọi người giữ nghiêm kỷ luật. Trong quốc lệnh tháng 1-1946, Bác yêu cầu: “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì  không giữ vững kỷ luật. Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết. 

Một phương pháp quản lý và thực hành kỷ luật có hiệu quả nhất theo lời dạy của Bác,  là từng người phải tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật nghiêm của quân đội, mệnh lệnh chỉ thị của người chỉ huy. Bác nhắc nhở cán bộ: “…Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh. Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng… Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm ngày càng nhiều… Mình phải tự đấu tranh với mình”.

Những tư tưởng của Người về xây dựng quân đội nói chung và tư tưởng về kỷ luật quân sự nói riêng luôn là kim chỉ nam cho quá trình nhận thức và thực hiện các nhiệm vụ của quân đội ta trong suốt chặng đường gần 70 năm qua.

Ths. Nguyễn Văn Công
Đồng Nai


[i] V.I. Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, 1978, tr.279.  [ii] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 1996, tr.341. [iii] Sđd, tập6, tr.560.  [iv] Sđd, tập 5, tr.588.

xaydungdang.org.vn

Chương trình phát thanh đặc biệt 40 năm Hiệp định Paris

(VOV) -Chương trình được thực hiện từ 7h– 13h ngày 27/1 trên trên Hệ VOV1 và phát trực tuyến trên VOV.VN.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, Đài TNVN sẽ thực hiện Chương trình phát thanh đặc biệt “Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam”. Chương trình được chia làm ba phần: Phần I, từ 7h-9h với chủ đề: “Con đường dẫn tới hòa đàm”. Phần II, từ 9h-11h là “Đấu trí trên bàn đàm phán” và Phần III, từ 11h-13h có chủ đề “Bài học đối thoại, hòa bình và hòa hợp”.

Nội dung xuyên suốt chương trình sẽ cung cấp cho khán thính giả hiểu rõ về ý nghĩa của sự kiện 40 năm ký kết Hiệp định Paris, mốc son trong hoạt động ngoại giao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta; bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh ngoại giao của dân tộc Việt nam.

Ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Phần I của chương trình sẽ cung cấp tới khán thính giải nguyên nhân dẫn tới cuộc đàm phán hóa bình Paris; Nghệ thuật “Đánh và đàm”, và sự kết hợp giữa các mặt trận Quân sự, chính trị, ngoại giao.

Trong phần I, các khách mời là GS, NGND Vũ Dương Ninh, nguyên Trưởng khoa Quốc tế học, Đại học KHXH&NV, nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế và Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, chuyên gia nghiên cứu về lịch sử quân sự Việt nam sẽ phân tích, nêu rõ ý nghĩa , hoàn cảnh lịch sử của Hiệp định Paris, tác động của Hiệp định Paris với đại thắng mùa xuân năm 1975, sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt nam.

Trong phần này, khán thính giả cũng sẽ được nghe những bài viết về những bài học đánh giặc ngoại xâm từ thời Vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi; nghệ thuật binh vận, bước nối dài từ Hội nghị Fontainebleau; hội nghị Đà Lạt…cho tới Hiệp định Geneve, và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh… để khẳng định: dân tộc ta biết cách tìm lối ra  hòa bình cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Khán thính giả cũng có thể đặt câu hỏi cho khách mời đồng hành cùng chương trình. Cùng với đó là Ký sự truyền thanh: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn miền Nam; Phóng sự Hình thành Mặt trận quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt nam.

Trong phần này, cầu phát thanh trực tiếp cũng được nối với Cơ quan thường trú Đài TNVN tại Washington (Mỹ) sẽ cung cấp thêm thông tin về sự sửng sốt, hoang mang của dư luận Mỹ đối với sự kiện Tết Mậu Thân 1968.

Trong phần II của chương trình, nhà ngoại giao Phan Doãn Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên chuyên viên vụ I, Chuyên viên Đoàn; Nhà ngoại giao Phạm Ngạc, nguyên Đại sứ, nguyên chuyên viên đoàn đàm phán cũng sẽ kể những câu chuyện trong thời gian diễn ra cuộc đấu trí trên bàn đàm phán; bối cảnh trước cuộc đàm phán lịch sử tại Paris.

Trong phần này, sự kiện Mỹ lật lọng tiến hành đánh bom rải thảm B52 tháng 12/1972 cũng sẽ được phản ánh đậm nét trong Ký sự Chiến thắng lịch sử 12 ngày đêm đánh thắng B52.

Ngoài ra, các khách mời cũng sẽ phân tích về tác động của sự kiện lịch sử ký Hiệp định Paris với việc buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại thủ đô Paris (Pháp), nhằm rút lui trong danh dự; Thế của ta khi bước vào đàm phán thực chất; Sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của dư luận quốc tế đối với ta; Bối cảnh chính trị Mỹ khiến Tổng thống Nixon phải xuống thang.

Trong phần này, Cầu phát thanh trực tiếp với Cơ quan thường trú ĐTNVN tại Paris (Pháp) sẽ phản ánh đậm nét về giai đoạn đầu đàm phán, không khí của dư luận Pháp, dư luận quốc tế trước hội nghị Paris; những câu chuyện của các nhân chứng kiều bào kể lại về sự kiện lịch sử này.

Ngoài ra, cuộc phỏng vấn học giả Pháp về cuộc đấu trí trên bàn đàm phán cũng sẽ được cung cấp tới độc giả. Cùng với đó là phóng sự Kỷ niệm trên bàn đàm phán

Trong phần III “Bài học đối thoại“, các khách mời đồng hành cùng chương trình sẽ là ông Lưu Văn Lợi- nhà ngoại giao, nhân chứng lịch sử, cố vấn của ông Lê Đức Thọ tham gia đàm phán Hiệp định Paris; ông Vũ Dương Huân, nhà ngoại giao, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Các khách mời sẽ chia sẻ về ý nghĩa lịch sử Hiệp định Paris; Khán thính giả có thể đặt câu hỏi trực tiếp đối với các vị khách mời.

Cũng trong phần này, những bài bình luận, cuộc phỏng vấn học giả Nga về hiệp định Paris, cầu phát thanh trực tiếp với cơ quan thường trú Đài TNVN tại Mỹ về bác bỏ cái nhìn của phía Mỹ về kết quả Hiệp định Paris cũng sẽ góp phần làm rõ thêm nhiều góc độ xung quanh Hiệp định Paris.

Những khách mời cũng sẽ phân tích thất bại của Mỹ trong đàm phán Hiệp định Paris 1973. Chương trình đặc biệt cũng sẽ giới thiệu phóng sự Hồi ký Lê Đức Thọ-Kissinger về Hiệp định Paris, cuộc đàm phán 4 năm 9 tháng vượt qua không gian và thời gian.

Ngoài ra, học giả quốc tế cũng sẽ phân tích làm rõ tại sao Hiệp định Paris tạo tiền đề cho Đại thắng Mùa Xuân 1975.

Kết thúc chương trình là những bài viết về tư tưởng ngoại giao hòa bình Hồ Chí Minh, khẳng định: Một khi “Thế đặng chẳng đừng“, phải bước vào cuộc chiến tranh chống xâm lược, thì sẵn sàng chủ động đấu tranh ngoại giao… để hỗ trợ đấu tranh nỗ lực.

Mời quý khán thính giả đón nghe./.

Ngọc Thành/VOV online
vov.vn

Dâng trống đồng vào khu lưu niệm Bác Hồ ở Lào

Liên chi Hội Di sản văn hoá Việt Nam – Lam Kinh Thanh Hóa cùng Cục Hợp tác quốc tế, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào vừa tổ chức lễ dâng tặng trống đồng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn,Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào).

Khu Lưu niệm Bác Hồ do Đảng và Nhà nước, nhân dân Lào phối hợp cùng Đảng và Nhà nước, nhân dân Việt Nam xây dựng trên khu đất rộng 1.500m2 tại làng Xiêng Vang, nơi cách đây 74 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu nước đã lưu lại ở đây trong 2 năm (1928-1929) để hoạt động cách mạng.

dang
Các nghệ sĩ đến từ Việt Nam mang lời ca tiếng hát đến với kiều bào Việt Nam tại Lào.

Toàn bộ đất xây dựng Khu Lưu niệm do 13 gia đình kiều bào Việt Nam sinh sống tại làng Xiêng Vang hiến tặng. Công trình thi công từ năm 2010 và được khánh thành vào ngày 7/12/2012 nhân kỷ niệm “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào 2012”, chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Lào.

Chiếc trống đồng dâng tặng được mô phỏng theo trống đồng Ngọc Lũ, đường kính mặt 79cm, cao 69cm. Trên thân trống khắc họa một số hình ảnh tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kay Sỏn Phôm Vi Hẳn, khắc họa hai câu thơ nổi tiếng của Bác Hồ: “Việt – Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long; khắc họa Bản Di chúc của Bác. Trống do nghệ nhân Nguyễn Minh Tuấn và các cộng sự đúc theo ý tưởng của ông Hồ Quan Sơn – Chủ tịch Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam Kinh.

Trống đồng được dâng tặng hôm nay là một trong những biểu tượng trong mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt này. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào.

dang2
Chiếc trống đồng được dâng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn, CHDCND Lào).

dang3Ông Hồ Quang Sơn Chủ tịch Liên chi Hội Di dản văn hoá Lam Kinh
trao tặng biểu tượng Thành nhà Hồ cho Trung tâm văn hoá Việt Nam tại Lào.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Sổm Nức Sổm Chăn – Phó Bí thư Tỉnh ủy Khăm Muộn nói: “Năm nay, tỉnh Khăm Muộn đã khánh thành Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, chúng tôi được Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam kinh tặng trống đồng dâng vào Khu Lưu niệm Bác Hồ, thực sự rất ý nghĩa. Đây là sự thể hiện tấm lòng của các đồng chí đối với chúng tôi trong vấn đề gìn giữ và phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Lào – Việt. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào. Chúng tôi xin hứa với nhân dân toàn tỉnh Khăm Muộn sẽ gìn giữ tốt nhất Khu Lưu niệm cũng như chiếc trống đồng biểu tượng nền văn hóa Việt Nam. Chúng tôi sẽ phát huy tác dụng, giáo dục các thế hệ nhân dân tỉnh Khăm Muộn cũng như nhân dân các bộ tộc Lào lúc nào cũng phải gìn giữ mối tình đoàn kết Lào – Việt mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững…”.

Theo Duy Tuyên
dantri.com.vn

Khoảng trời riêng của phi đội ngày ấy

QĐND-Tôi hơi ngạc nhiên khi được Đại tá Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Nghĩa mời lên căn phòng riêng của vợ chồng ông. Thông thường, ở không gian riêng tư như vậy, người ta hay trưng bày các hình ảnh lãng mạn của vợ chồng, con cái… Nhưng ở đây, nó giống như một “bảo tàng” nhỏ về truyền thống của bộ đội không quân, trong đó có nhiều hình ảnh, hiện vật quý giá về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mà ông là một người anh hùng, có đóng góp xứng đáng vào chiến công chung. Ký ức của 12 ngày đêm oanh liệt trên bầu trời Hà Nội 40 năm trước đã trở thành một phần máu thịt của cuộc đời ông. Ngày ấy, Nguyễn Văn Nghĩa là một Phi đội trưởng thuộc Trung đoàn 927 Không quân, trực tiếp bắn rơi tại chỗ một máy bay F4 của Mỹ. Với ông, đó không chỉ là những chiến công hiển hách, ghi tên ông vào danh sách những người anh hùng của lực lượng không quân Việt Nam ngay sau chiến dịch kết thúc, mà còn là khoảng ký ức thấm đẫm nghĩa tình đồng đội, là nhịp cầu duyên cho những mối tình cảm động. “Mình được trở về, được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc, trong lúc nhiều đồng đội mãi mãi nằm lại tuổi hai mươi. Mỗi năm cứ đến dịp này, vợ chồng tôi lại nhớ về những kỷ niệm ngày xưa, lòng chợt ngậm ngùi!” – Ông Nghĩa tâm sự.

Từ trong hạnh phúc…

Ngày đó, những phi công thuộc Trung đoàn 927 sau những khoảng thời gian lăn lộn trên đường băng, lướt cánh cùng những “con chim sắt” trên bầu trời để huấn luyện, chiến đấu, định kỳ các anh lại được đưa về chăm sóc sức khỏe tại Bệnh viện 108. Không gian bệnh viện trong những khoảng thời gian hiếm hoi ấy đã trở thành “ông tơ, bà nguyệt” kết nối trái tim của những chàng phi công với các nữ y sĩ, y tá, điều dưỡng viên. Bà Phan Thị Quỳnh, vợ Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa nhớ lại:

– Thời kỳ ấy ở Bệnh viện 108 có một khoa chuyên chăm sóc sức khỏe cho các anh phi công. Tôi là y sĩ của Khoa Xét nghiệm. Trong một lần lấy máu cho anh để làm xét nghiệm, tôi bắt gặp ánh mắt trìu mến của chàng phi công lịch lãm, điển trai. Các anh phi công ngày ấy ai cũng rắn rỏi, cường tráng, đẹp trai nên được các nữ y sĩ, y tá, điều dưỡng viên “chăm sóc” chu đáo lắm.

Ông Nghĩa cũng hồi tưởng:

– Nữ thầy thuốc trẻ ở bệnh viện ai cũng xinh đẹp, duyên dáng, dịu dàng, hết lòng vì bệnh nhân. Cánh phi công chúng tôi mỗi lần vào viện lại “ra về mà chẳng muốn về”…

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa trong một chuyến du lịch.

Nhiều mối tình giữa các phi công và nữ thầy thuốc trẻ đã chớm nở, nhưng trong phi đội ngày ấy, chỉ có Nguyễn Văn Nghĩa và Phan Thị Quỳnh đến được bến bờ hạnh phúc. Những đồng đội còn lại, nhiều người đã hy sinh, để lại sau lưng mình một khoảng trời riêng dang dở mà cho đến nay, dẫu đã 4 thập kỷ đi qua, vẫn còn nặng trĩu nỗi niềm…

Nguyễn Văn Nghĩa – Phan Thị Quỳnh bén duyên nhau từ năm 1969. Với phong cách lịch lãm, vốn hiểu biết sâu rộng, anh dũng trong chiến đấu… chàng phi công quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi đã khiến trái tim cô gái trẻ vừa tốt nghiệp trường y thầm nhớ, trộm thương. Nhưng rồi nhiệm vụ liên miên, họ rất ít có cơ hội gặp nhau. Ròng rã 4 năm kể từ lần gặp đầu tiên đến ngày cưới, hai người chỉ ở bên nhau được 3 lần. Còn lại, lời thương lời nhớ chỉ trao gửi qua những cánh thư. Mỗi lần có đồng đội của anh Nghĩa đến bệnh viện, cô y sĩ trẻ lại được nghe kể về những câu chuyện trong chiến đấu của người yêu. Tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng không quân của đế quốc Mỹ, phi công Nguyễn Văn Nghĩa đã cất cánh làm nhiệm vụ 100 lần, trong đó xuất kích trực tiếp chiến đấu 68 lần, có 9 lần gặp địch, 8 lần nổ súng, phóng 8 quả đạn tên lửa, bắn rơi 6 máy bay Mỹ, có 5 chiếc rơi tại chỗ, bắt sống 2 giặc lái và tạo điều kiện cho số 2 bắn rơi 1 chiếc máy bay F4 khác của Mỹ. Cô gái luôn tự hào về người yêu. Ngược lại, cô y sĩ trẻ chính là động lực, niềm tin tiếp sức cho chàng phi công hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Họ hẹn nhau khi chiến tranh kết thúc, hai người sẽ xây tổ ấm. Và lễ cưới của đôi uyên ương đã được tổ chức đúng vào ngày ký Hiệp định Pa-ri năm 1973. Sau này, khi Đại tá Nghĩa được phân công vào TP Hồ Chí Minh công tác, cô Quỳnh cũng chuyển vào làm cán bộ quân y của một đơn vị. Từ năm 1992 đến khi nghỉ hưu năm 2007, ông Nguyễn Văn Nghĩa chuyển ngành đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Hàng không Việt Nam, Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam. Ông bà có 2 con, một trai, một gái, hiện nay đều công tác trong ngành hàng không, trong đó cậu con trai là phi công lái máy bay dân dụng.

Đau đáu khoảng trời riêng

Nhớ lại những ngày khói lửa trên bầu trời Hà Nội, ông Nghĩa bùi ngùi:

– Các phi công trong phi đội của chúng tôi ngày ấy phần lớn là trai chưa vợ. Trong nhiều trận chiến đấu ác liệt, máy bay bị thương, nhiều đồng chí đã hành động dũng cảm, chấp nhận hy sinh để cứu máy bay, để lại những mối tình dang dở. Tôi là người may mắn được hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn nên vợ chồng thường bảo nhau, mình sống không chỉ cho riêng mình mà còn sống phần của đồng đội đã mất…

Dòng hồi ức của vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa giúp tôi hiểu thêm, tại sao trong không gian riêng tư của mình, ông bà lại trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật của ngày xưa như vậy. Trong niềm hạnh phúc riêng tư, ông bà vẫn luôn gìn giữ, trân trọng những kỷ vật, ký ức về đồng đội. Các hình ảnh, hiện vật được ông bà sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp trong một chiếc tủ kính trang trọng.

Có nhiều câu chuyện tình yêu dang dở, cảm động của những người cùng phi đội với Nguyễn Văn Nghĩa ngày ấy mà mỗi câu chuyện đều là một biểu tượng của phẩm chất anh hùng…

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa đã khóc khi kể lại cho tôi câu chuyện tình của phi công Nguyễn Sĩ Giáp với cô y sĩ tên Thắm ở Bệnh viện 108. Họ cũng bén duyên nhau từ những lần anh Giáp đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe. Tình yêu đang độ chín muồi thì trong một trận chiến đấu, máy bay của Nguyễn Sĩ Giáp điều khiển bị trúng đạn kẻ thù và cạn nhiên liệu. Chỉ huy mặt đất phát tín hiệu cho phi công nhảy dù để bảo toàn tính mạng nhưng Nguyễn Sĩ Giáp đã quyết định cho hạ cánh để cứu máy bay. Khi tiếp đất, với tốc độ cực lớn của máy bay tiêm kích, phi công Nguyễn Sĩ Giáp bị va đập gây chấn thương nặng toàn thân. Anh được chuyển ngay đến Bệnh viện 108 cấp cứu nhưng mọi nỗ lực của các y, bác sĩ đều bất thành. Anh trút hơi thở cuối cùng ngay trong vòng tay cô Thắm ở bệnh viện…

Những đồng đội trong phi đội ngày ấy (người ngoài cùng, bên phải là Phi đội trưởng Nguyễn Văn Nghĩa). Ảnh do nhân vật cung cấp.

Phi công Nguyễn Ngọc Thiên cũng vậy. Trong một trận chiến đấu vào ban đêm, máy bay của anh bị thương. Nhận được lệnh nhảy dù nhưng anh đã quyết định hạ cánh để cứu máy bay. Ngày anh hy sinh, người yêu anh khóc cạn nước mắt và quyết định để tang anh, thờ di ảnh của anh suốt đời. Ngày đi lấy chồng, cô đã kể cho chồng nghe tâm nguyện của mình. Người bạn đời của cô hết sức cảm động, trân trọng tình cảm thiêng liêng cao đẹp của cô. 40 năm qua kể từ ngày anh hy sinh, cô vẫn nhang khói thờ anh…

Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa cho tôi xem tấm ảnh chụp cảnh gia đình một đồng đội ở Vĩnh Long trong ngày đón nhận hài cốt liệt sĩ hy sinh trong trận chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972. Người phi công ấy là Nguyễn Văn Lung. Thi hài của anh được đồng đội an táng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Năm 2002, Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa cùng đồng đội đã cất bốc, đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Lung về an táng tại quê nhà, thực hiện trọn vẹn lời ước nguyện cuối cùng của người mẹ già trước khi cụ nhắm mắt. Trước lúc hy sinh, phi công Nguyễn Văn Lung đã có mối tình tuyệt đẹp với một thiếu nữ xinh đẹp. Lời ước hẹn không thành, người con gái ấy đã để tang người yêu và thủ tiết để giữ trọn mối tình sắt son với anh. Về sau, cô gái ấy là một phụ nữ thành đạt, làm lãnh đạo một công ty lớn. Rất nhiều người yêu thương, theo đuổi nhưng cô không nhận lời cầu hôn của bất cứ ai. Hiện nay người con gái ấy đã ngoài sáu mươi, đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh, nhưng với bà, mối tình với người sĩ quan phi công ngày ấy vẫn thắm tươi như bông hoa hồng vừa hé nụ trước hiên nhà…

Còn nhiều câu chuyện tình cảm động của phi công trong các phi đội chiến đấu trên bầu trời Hà Nội năm ấy, nhưng vì khuôn khổ bài báo có hạn, xin hẹn bạn đọc vào một dịp khác. Trước lúc rời căn nhà riêng của vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Nghĩa ở quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, tôi xin phép được chụp ảnh hai ông bà để đăng kèm bài báo, nhưng bà Quỳnh vội lấy khăn thấm khóe mắt, khẽ lắc đầu. “Tâm trạng cô thế này, cháu đừng chụp ảnh” – Bà nói nhỏ với tôi thế. Bà đã không kìm được sự xúc động khi nhắc đến những ký ức một thời khói lửa. Ở đó, phía sau những chiến công vang dội của những cánh bay, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy là một khoảng trời riêng mà nếu không kể, không viết ra, rất ít người biết tới.

Đó là khoảng trời riêng của những trái tim bất tử!

LỮ NGÀN
qdnd.vn

Những ngày quyết tử

QĐND-Tháng 12-1972, Tiểu đoàn tên lửa 77, Trung đoàn 257 được giao nhiệm vụ chốt tại trận địa Chèm bảo vệ hướng Tây-Tây Bắc của Hà Nội. Đây là hướng chủ lực vì địch dùng máy bay từ Thái Lan và các căn cứ ở Nhật Bản đánh sang đều đi theo hướng này tiến vào Hà Nội. Đại tá Đinh Thế Văn lúc đó đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 trực tiếp chỉ huy chiến đấu tại trận địa. Ông đã dùng cuốn sổ tay được tặng ngày 2-6-1969 khi đi dự Đại hội Thi đua Quyết thắng lần thứ hai của Quân chủng PK-KQ để ghi lại khoảng thời gian ông cùng đồng đội chiến đấu quyết liệt với kẻ thù trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” để bảo vệ vùng trời Hà Nội. Hơn hai mươi trang nhật ký trong 12 ngày đêm lịch sử của Thủ đô anh hùng không dàn trải nhiều cảm xúc, từng câu từng chữ trong nhật ký là diễn biến của từng ngày chiến sự mà ông trực tiếp tham gia và chứng kiến, là cuộc đấu trí và sức gay go giữa ta và địch…

Ngày 18-12: Công tác chuẩn bị đã khá đầy đủ. Trước đó trên Sư đoàn và Quân chủng đã quán triệt kỹ, các phái đoàn xuống kiểm tra trận địa liên tục. Cả tiểu đoàn đã ở trong tư thế sẵn sàng.

Trước giờ G: Tôi cùng các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn triệu tập anh em quán triệt tinh thần một lần nữa. Là những người lính phải đánh cho tốt, chuẩn bị với mọi tình huống. Đặc biệt là đánh B-52. 23 giờ 45 phút ngày 18-12: Khai hỏa.

Chúng tôi đánh được bốn trận thì ba trận nhìn rõ mục tiêu và được trên công nhận bắn rơi tại chỗ một chiếc.

Đêm 19-12 và 20-12: Chúng tôi đều đánh tốt. Đặc biệt đêm 20-12 chúng tôi đã đánh 4 trận đều nhìn rõ mục tiêu. 20 giờ 34 phút, nổ hai quả. 5 giờ 09, nổ hai quả. 7 giờ: nổ hai quả. Chúng tôi được trên công nhận có hai chiếc B-52 rơi tại chỗ.

Ngày 21-12: Kẻ địch đã dùng máy bay chiến thuật đánh vào trận địa chúng tôi. Theo chỉ thị của trên, chúng tôi giữ nguyên trận địa mặc kệ cho địch quần thảo ở trên. Không đánh ban ngày dễ lộ trận địa và để tiết kiệm dành đánh B-52.

Sáng 22-12: Vào khoảng tám, chín giờ cả tiểu đoàn chúng tôi vô cùng sung sướng và cảm động được Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống thăm. Sung sướng và cảm động vì được Đại tướng xuống động viên, an ủi, cổ vũ ngay sau khi trận địa bị tấn công. Bản thân tôi thì còn lo thêm việc bảo vệ an toàn cho Đại tướng vì trận bom bi và các loại bom địch đánh xung quanh trận địa hôm trước phát hiện chưa hết. “Các đồng chí đánh rất giỏi” – thật vinh dự cho toàn đơn vị khi được Đại tướng khen ngợi.

CCB là chỉ huy các Tiểu đoàn tên lửa: 72, 77, 57 và 93 gặp lại nhau. (Từ trái sang: Nguyễn Long Hiếu, Đinh Thế Văn, Nguyễn Văn Phiệt, Phạm Văn Chắt, Nguyễn Mạnh Hùng). Ảnh: MINH TRƯỜNG

Ngày 24-12: Địch đến ngày càng đông hơn. Hồi hộp quá. Phải đối phó với thủ đoạn phức tạp của địch, đặc biệt là thủ đoạn kỹ thuật vô tuyến điện tử mỗi lần mở máy và thu phát sóng. Nhưng rồi diễn biến càng phức tạp thì chúng tôi càng lo đến trách nhiệm. Anh em chúng tôi trong kíp chiến đấu đồng chí nào cũng tập trung nghĩ đến nhiệm vụ, trách nhiệm bảo vệ nhân dân. Tất cả những kiến thức được học, cách tìm mục tiêu chống nhiễu qua mỗi trận đối địch đều được hồi tưởng và vận dụng tốt.

Ngày 25-12: Chúng tôi đã có những tổn thất hy sinh nhất định. Chúng tôi chưa làm tròn trách nhiệm với Đảng, với nhân dân vì địch còn đánh được nhiều mục tiêu, nhân dân còn bị tổn thất nhiều.

Ngày 26-12: 22 giờ 40 phút, quả một nổ, địch gây nhiễu mờ hệ thống. Không tiêu diệt được địch, để nó chạy mất.

Ngày 27-12: Chúng tôi vẫn nói với nhau: bảo đảm chiến đấu và lập được chiến công còn có sự đóng góp to lớn của nhân dân, cơ quan và các đơn vị bạn xung quanh. Ngay những ngày đầu mở chiến dịch, trong và sau khi địch đánh, các đội tự vệ của Viện Chăn nuôi và xã Thụy Phương đều có mặt cùng chúng tôi chiến đấu và giải quyết hậu quả. Bình thường vào các buổi sáng, các cháu nhỏ mang lá ngụy trang đến trận địa để giúp chúng tôi ngụy trang trận địa che mắt địch. Nhân dân xã Thụy Phương có hẳn một trung đội do đồng chí Liên – phó chủ tịch phụ trách sửa đường, có lúc phải đưa cả giường, ván ra kê lót kéo đạn vào để chúng tôi có đạn để đánh. Nhân dân như thế sao chúng tôi không quyết tâm. Từ những ý nghĩ đó chúng tôi đã dồn sức tập trung, khôi phục sửa chữa vũ khí, khí tài nhanh chóng. Kết quả chúng tôi chỉ bị mất sức chiến đấu một đêm, còn sau đó lại bảo đảm tiếp tục chiến đấu được…

Chiến dịch 12 ngày đêm kết thúc thắng lợi, Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Sau đó, ông tiếp tục phục vụ quân đội, đến tháng 10-1989 về nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Trở về với cuộc sống đời thường, ông lại cùng với bà con quê hương khôi phục nghề rối nước truyền thống của thôn Đào Thục, Thụy Lâm, Đông Anh khi nó đang có nguy cơ mai một. Đến nay khi đã bước sang tuổi ngoài 70, trên mặt trận mới, người Tiểu đoàn trưởng năm xưa vẫn tiếp tục “xây đời” bằng tâm huyết của người lính.

VĂN PHI – BÍCH TRANG (sưu tầm và biên soạn)
qdnd.vn