Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hòa đàm Paris 1968: ‘Hãy đừng bị lừa dối’

Harriman “tin rằng việc Tổng thống không dừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 là một bi kịch lịch sử với những hậu quả có thể rất rộng lớn”.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?
>> Kỳ 3: Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Kỳ 4: Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn

Vào cuối tháng 8, Harriman viết cho Hubert Humphrey: “tôi thực sự quan tâm việc ông sẽ trở thành Tổng thống tiếp theo của chúng tôi, và mong muốn làm bất cứ những gì có thể để ủng hộ mục tiêu đó. Hơn nữa, tôi thất kinh với tai họa cho đất nước chúng ta nếu Richard Nixon được bầu chọn. Ngoài sự thụt lùi của đất nước chúng ta vì các chính sách phản động của ông ta và những người thuộc cánh hữu của đảng Cộng hòa mà ông ta đại diện, không may là trên khắp thế giới này ông ta đã khuấy động một sự bất tín cá nhân”.

Tuy nhiên, Lyndon Johnson lại thấy thoải mái với viển cảnh đảng Dân chủ sẽ thất bại trong cuộc bầu cử tháng 11. Các nỗ lực của Hubert Humphrey nhằm xoa dịu cánh tự do trong Đảng Dân chủ đã chọc giận Tổng thống, và ông dường như không quan tâm liệu gã người Minnesota này có kế vị mình hay không. Có lần, Johnson lập luận rằng phe Cộng hòa “đã giúp ích cho chúng ta nhiều hơn (về Việt Nam) so với phe Dân chủ trong vài tháng cuối cùng”. Cảm nghĩ này không phải là điều tốt cho các triển vọng của Humphrey, cũng chẳng tốt cho hòa bình.

Suốt tháng 7 đó có một sự lắng dịu tạm thời về cường độ chiến tranh ở Nam Việt Nam. Harriman giải thích đây là “một kiểu dấu hiệu kiềm chế mà Tổng thống đã yêu cầu trong thông điệp ngày 31 tháng 3 của mình” và hăng hái tận dụng ưu thế ngoại giao bằng cách yêu cầu quân đội Mỹ phản ánh trung thực sự giảm bớt các hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Ngày 29/7, Harriman viết cho Dean Rusk rằng “bên cạnh việc thúc đẩy đàm phán thì dừng ném bom trong tương lai gần có thể cứu mạng được nhiều binh sĩ Mỹ, những người có thể sẽ chết khi trong cuộc chiến với Bắc Việt Nam”. Harriman hy vọng một lý do cơ bản như vậy có thể sẽ thuyết phục được Ngoại trưởng.

Vô tình phối hợp với đề nghị của Harriman, tờ Thời báo New York đã đăng xã luận ủng hộ dừng ném bom vào đúng ngày hôm đó và phó Tổng thống cũng “chuẩn bị một bức thư về lập trường của chính ông, bao gồm việc ngừng ném bom”. Gần như chắc chắn nhận được đề cử của Đảng Dân chủ tiếp sau vụ ám sát Bobby Kennedy ở Los Angeles, Humphrey hết lòng ủng hộ các nỗ lực của Harriman, và muốn Tổng thống cho phép ông được linh động đàm phán hơn nữa như mong muốn.

Bà Nguyễn Thị Bình tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu.

Sự kết hợp cố vấn này có thể đã không tồi tệ hơn từ góc nhìn của Harriman. Johnson xem thường New York Times và tin rằng Humphrey đang thể hiện một sự phản bội mà đã đặt ông lên trên giới hạn cho phép. Johnson  “rất giận dữ” khi ông nghe tin Humphrey tán thành đề xuất ngừng ném bom của Harriman. Tổng thống dứt khoát không lùi bước và chiến dịch ném bom của Mỹ tiếp tục như trước. Dean Rusk bồi cho một phát súng kết liễu vào ngày 31/7 khi đưa ra những gì mà Averell Harriman mô tả một cách cay đắng là “một cuộc họp báo không khoan nhượng xóa sạch mọi công việc mà Vance và tôi đã làm ở Paris kể từ đầu tháng 5”.

Trong một lá thư gửi Harriman, Rusk viết: Chúng tôi có lý do để tin rằng Hà Nội, Moscow và các bên khác đang cố gắng leo thang một chiến dịch phối hợp để buộc chúng ta dừng mọi hoạt động ném bom mà không có bất kỳ hành động tương ứng nào từ phía Hà Nội. Đó có thể là họ đang hy vọng vào hội nghị và thời kỳ bầu cử để đạt được sự kết thúc này. Họ phải được làm cho tỉnh ngộ khỏi ý tưởng này nếu muốn có hòa bình”. Lyndon Johnson mô tả bức điện của Harriman như “cháo bột mì” và than phiền cay đắng rằng “kẻ thù đang dùng chính người của tôi như những kẻ bị lừa bịp”.

Ngày 22/8, một Harriman cương quyết viết rằng “Tôi tin rằng việc Tổng thống không dừng ném bom miền Bắc Việt Nam vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8 (như chúng tôi đề nghị) là một bi kịch lịch sử với những hậu quả có thể rất rộng lớn”. Vào thời điểm này, cựu cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy và Clark Clifford cũng lên án Johnson thiếu thiện ý trong việc hạn chế quân sự để tạo điều kiện cho một đột phá đàm phán ở Paris. Clifford cảm thấy không giúp ích nhiều nếu chỉ hạn chế một phần quân đội để giúp Harriman làm công việc của mình. Nếu Tổng thống thực sự muốn tìm kiếm hòa bình, Clifford cho rằng ông phải tìm kiếm một cách đúng đắn: Gần như là không thể đàm phán một cách chân thành với một đối tác mà họng của họ bị anh bóp nghẹt. Bất đồng gay gắt với lập luận của Clifford, Rostow thông báo với Bộ Quốc phòng rằng ông “rất phiền lòng với một số bình luận về việc ném bom [. . .]

Sự thúc ép chủ yếu nhằm vào Hà Nội là các lực lượng và đồng minh ở miền nam. Một trong những áp lực khác đã và vẫn là ném bom xuống miền bắc”. Niềm tin của Clifford rằng Hà Nội có thể đơn giản di chuyển người và quân nhu theo ý muốn – rằng chiến dịch ném bom của Mỹ dứt khoát không thể ngăn cản miền bắc – là không đúng. Rostow thông báo một cách kẻ cả với Clifford rằng “cuộc sống và chiến tranh không đơn giản như thế”.

Hướng sang sự phản đối của McGeorge Bundy, Rostow đã soạn ra một lá thư dài mà Tổng thống đã gửi cho viên cựu cố vấn an ninh quốc gia của ông. “Tôi biết thật khó để tin kẻ ngoài”, Tổng thống nhấn mạnh trong lá thư, “nhưng thực tế đơn giản là bên kia vẫn chưa sẵn sàng cho một thỏa thuận. Tôi không hết hy vọng rằng một lúc nào đó họ có thể sẵn sàng trong những tuần và tháng tới đây – mặc dầu tôi không trông mong điều này”. Tìm sự an ủi trong sự ủng hộ kiên định của Rostow và Rusk, Tổng thống thẳng thừng từ chối thuận theo những người chỉ trích ông bằng cách rút ngắn chiến dịch ném bom.

Trong một bài phát biểu hiếu chiến trước “Các cựu chiến binh tham chiến ở nước ngoài’, Johnson tuyên bố: “Hãy đừng để bị lừa dối. Hãy đừng để bị làm mê muội. Tóm lại, nhân dân của chúng ta và nhân dân của họ phải hiểu rõ một điều: Chúng ta sẽ không dừng ném bom chỉ để cho họ có cơ hội đẩy mạnh cuộc tắm máu của mình”. Tuy nhiên, khó mà không xem sự dứt khoát của Tổng thống là do tức giận vì nghĩ Humphrey và Harriman phản bội – một trạng thái tâm lý o bế mà các cố vấn diều hâu của ông đã tích cực duy trì.

Suốt tháng 8/1968, Phó Tổng thống có một số bước thăm dò để tự thoát ra khỏi quan điểm của chính quyền Johnson về hòa đàm với Bắc Việt Nam.

Trong một cảnh báo bằng lời rất rõ ràng tới Richard Nixon rằng đừng có chính trị hóa các cuộc đàm phán ở Paris trong chiến dịch bầu cử sắp tới, Humphrey nói thêm: “Tôi tin rằng các ứng viên được chọn bởi các chính đảng nợ người dân Mỹ và nợ những người lính trên chiến trường ở Việt Nam việc phải tuyên bố rõ như ban ngày với Hà Nội rằng họ sẽ không có được một thỏa thuận tốt hơn”.

Tại Đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago, Humphrey miễn cưỡng đồng ý ủng hộ cương lĩnh cứng rắn của Tổng thống về Việt Nam – một quyết định đã gây chia rẽ trong đảng và khiến cho Humphrey bị bêu riếu là con chó cảnh của Tổng thống. Cảm thấy nhục nhã trước sự chỉ trích này, Humphrey bắt đầu nhận ra rằng muốn đánh bại Nixon thì ông phải chọn một lập trường mà đặt ông gần hơn với ứng viên Tổng thống cùng quê Minnesota, Eugene McCarthy.

Vào cuối tuần ngày 14-15/9, Harriman và Vance báo cáo một số tin tức tích cực từ Paris. Họ đã tổ chức một cuộc đối thoại riêng quan trọng với hai nhà đàm phán chủ chốt của Bắc Việt Nam là Lê Đức Thọ và Xuân Thủy, những người đã thể hiện thiện ý muốn bắt đầu các cuộc đàm phám nghiêm túc ngay khi chiến dịch ném bom kết thúc. Hà Nội cũng tỏ dấu hiệu, thông qua các cuộc thảo luận riêng rẽ diễn ra với trung gian Na Uy ở Oslo, rằng họ sẵn sàng chấp nhận một sự hiện diện của Nam Việt Nam tại các cuộc hòa đàm chính thức ở Paris.

Không hề ấn tượng trước những gì trên thực tế là một bước đột phá quan trọng, Rostow đã viết một cách suy diễn cho Tổng thống rằng “nếu ngài xét thấy ngoại giao đã thất bại”, ngài có thể xem xét “ném bom Campuchia [. . .], ném bom Hà Nội – Hải Phòng, phá hoại Hải Phòng [. . .] và [tiến hành] các cuộc tấn công trên bộ ở phía bắc DMZ”. Thậm chí, ở giai đoạn cuối này, Rostow vẫn hy vọng Tổng thống có thể đồng ý với các kế hoạch xâm lược của ông ta. Khi đưa ra những gợi ý đó, Rostow thể hiện một chút khí sắc thời đại và kiểu cách mà trong đó những nhận thức chung về Cuộc chiến Việt Nam đã thay đổi.

Rostow tiếp tục bày tỏ lo ngại rằng Harriman đang vượt quá quyền hạn cho phép, và muốn Tổng thống nói rõ rằng ông sẽ không theo đuổi hòa bình bằng bất cứ giá nào. Trong một cuộc gặp ngày 17/9 với Harriman, với sự có mặt của Rostow, Johnson tuyên bố rõ: “vì Đại sứ Harriman sắp rời nhiệm”, nên “Tôi sẽ mong đợi ông, Averell, dẫn dắt Đảng và Chính phủ trong việc yêu cầu nối lại chiến dịch ném bom nếu họ vi phạm những hiểu biết này”.

Tình hình có vẻ khó lay chuyển cho Harriman và Phó Tổng thống – người đang tụt lại sau Nixon trong các cuộc thăm dò dư luận. “Đừng tin những gì ông nghe thấy rằng chiến dịch của Humphrey rất dở”, Harriman viết cho Vance một cách thất vọng, “bởi vì nó còn dở hơn ông tưởng nhiều”.

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris giữa cuộc đối đầu của các cố vấn

Liên quan đến hòa đàm Paris, những ngày cuối của nhiệm kì Tổng thống, Johnson xoay đổi hướng giữa hiếu chiến và kiềm chế, phản ánh những chia rẽ trong các cố vấn chính sách của ông và cả nước Mỹ.

>> Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson
>> Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>> Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

Các cuộc đàm phán không chính thức với đoàn đại biểu Bắc Việt Nam bắt đầu ở Paris ngày 10/5. Tóm tắt của Harriman là tương đối thẳng thắn: Ông sẽ thiết lập liên hệ với các đại diện Bắc Việt Nam, thuyết phục họ cùng bắt tay xuống thang chiến tranh, và nhất trí ủng hộ các cuộc bầu cử tự do ở Nam Việt Nam, trong đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam sẽ hạ vũ khí và tham gia bầu cử như một chính đảng hòa bình.

Harriman tuyên bố trong lúc ông rời khỏi Washington rằng “Chúng tôi sẽ tham gia trong tinh thần ngay thật và thiện chí. Nếu tinh thần đó phù hợp với phía bên kia, tiến bộ có thể được tạo ra hướng tới mục đích của chúng ta là một thỏa thuận hòa bình.”

Tuy nhiên, Rostow không mất nhiều thời gian để phát hiện ra các vấn đề và một lần nữa biện luận thiên về một sự leo thang quân sự nhanh chóng nhằm cản trở nhà đàm phán trưởng của Mỹ. Làm như thế, Rostow va chạm với Harriman và Clark Cliford.

Về sự phản đối của Bộ trưởng Quốc phòng đối với các kế hoạch ném thêm bom, Rostow viết: “Những gì phân tích của Clark không đề cập đến là những gì chính sách mà chúng ta nên theo đuổi nếu không có đột phá trong các cuộc đàm phán ở Paris và nếu họ tiếp tục “đọc danh bạ điện thoại” cho chúng ta nghe mỗi khi chúng ta gặp nhau. Tôi không tin chúng ta có thể ngồi vô hạn định trong những hoàn cảnh như vậy”.

Nếu phe Dân chủ chọn Thượng nghị sĩ New York Robert Kennedy tại Đại hội toàn quốc của đảng ở Chicago hay không và nếu người dân Mỹ có bầu ông vào tháng 11, Rostow sợ rằng Bắc Việt Nam đơn giản là chần chừ cho đến khi Tổng thống Kennedy đưa ra một giải pháp thiện chí hơn. Để ngăn chặn điều này xảy ra, Rostow đề nghị Tổng thống đánh phá “các cảng biển Bắc Việt Nam và/hoặc cử một số quân của chúng ta bắc tiến qua DMZ”. Xâm lược Việt Nam, Rostow lập luận, sẽ tạo cho Tổng thống Robert F. Kennedy một triển vọng không chắc thành công.

Kissinger bắt tay các ông Xuân Thủy, Lê Đức Thọ tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Thất vọng trước sự hiếu chiến của Rostow, Harriman viết ngày 4/6 rằng “sẽ là một sai lầm lớn khi dọa đánh bom các khu đô thị ở Bắc Việt Nam một khi họ tiếp tục tiến công vào Sài Gòn [. . .]  Đánh bom Hà Nội hoặc Hải Phòng trong những hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi tin, sẽ khiến Hà Nội đoạn tuyệt với hòa đàm và có những phản ứng bất lợi khác”.

Phản hồi trước những lo ngại của Harriman, Rostow gửi một lá thư bi quan tới tổng thống. “Tôi miễn cưỡng đi đến kết luận”, Rostow cảnh báo, “Rằng nếu chúng ta tiếp tục duy trì các cuộc đàm phán ở Paris, chúng ta sẽ phải đón nhận nguy cơ giải tán chúng [. . .] Tôi tin rằng họ đang cười vào mặt chúng ta và coi chúng ta như những gã khờ trên mặt trận quân  sự – ngoại giao”.

Rostow khuyên Tổng thống rằng ông hãy “yêu cầu Averell bảo Bắc Việt Nam rằng chúng tôi sẽ phải đáp trả cho mỗi quả tên lửa vào Sài Gòn bằng ít nhất một quả bom nhằm vào Hà Nội”. Rostow đồng tình với “quan điểm của Clark Clifford rằng điều này có thể là một đòn giáng chí tử vào vị thế chính trị của Phó Tổng thống”.

Tuy nhiên, “Clark đã sai lầm khi tin rằng chúng ta – hoặc Phó Tổng thống – có thể tiếp tục sống chung với vị thế phi nhân cách và nhục nhã khi mà [. . .] họ từ chối đàm phán nghiêm túc ở Paris.”

Quan ngại trước sự thiếu nền tảng của Bộ trưởng Quốc phòng, Rostow thậm chí đã cố tách Lầu Năm Góc khỏi vành đai thông tin, từ chối chuyển các báo cáo từ hòa đàm Paris cho Cliford.  Thư ký của Bộ Ngoại giao Benjamin Read đã rất choáng với sự khiếm nhã thô thiển này và đã lập ra một “dịch vụ sứ giả tư nhân” nhằm phá vỡ sự cấm vận thông tin của Rostow.

Có một chút băn khoăn là Harriman, đồng minh thân cận nhất của Clifford, lại chịu mô tả Walt Rostow như một “Rasputin” của Mỹ vì những ảnh hưởng vô vị mà ông này chèn vào việc ra quyết định của Tổng thống.

Các triển vọng về một sự đột phá ngày càng hứa hẹn về phía Bắc Việt Nam và ngày 4/6, Thủ tướng Liên xô Alexei Kosygin viết cho tổng thống nói rằng “Tôi và các cộng sự của tôi tin tưởng” rằng Bắc Việt Nam sẵn sàng đàm phán một thỏa thuận, miễn là Mỹ dừng chiến dịch ném bom.”

Là một chuyên gia có tiếng về USSR, Harriman không hiểu “một lãnh đạo Xô Viết lại đưa ra một lập trường trực tiếp như thế”. Hài lòng với triển vọng về một sự đột phá như vậy, Clifford cùng ông kêu gọi một sự ngừng ném bom. Một Dean Rusk vốn kín đáo ít nói nhưng tỏ rõ sự ủng hộ đối với một phản ứng tích cực trước yêu cầu của Kossygin. Mỹ có thể luôn nối lại chiến dịch ném bom nếu như không có gì tiến triển.

Tuy nhiên, trong một cuộc gặp với Tổng thống ngày tiếp sau đó, Rusk thay đổi chiến thuật và “phá hỏng đề xuất của Clifford, giữ quan điểm rằng tất nhiên chúng ta không thể chấp nhận những gì Kosygin nói một cách nghiêm túc. Không hay biết sự trở mặt của Ngoại trưởng, Clifford và Harriman giữ vững lập trường nhưng không đi đến đâu.

Như Harriman hồi tưởng: “Tác động thực sự của điều này là cực kỳ mạnh mẽ, gạt bỏ Kosygin, và Clifford và tôi đều nghĩ chúng tôi đã để mất một cơ hội đưa chính phủ Liên Xô vào cùng gánh vác trách nhiệm, theo một cách có giá trị nhất, cho tương lai hòa đàm”.

Thất vọng bởi cách hành xử của Rusk, Harriman nhớ lại rằng “Tôi chưa bao giờ tham gia vào bất kỳ một cuộc thảo luận nào ở Nhà Trắng, nơi có một nỗ lực quá rõ ràng được thực hiện về phía một thành viên trong Nội các của Tổng thống với mục đích phá hoại vị thế của người khác trước khi người ta có cơ hội thể hiện nó”.

Trở lại Foggy Bottom cùng nhau, Rusk nói với Harriman rằng “vấn đề với Clark là ông đã đánh mất dũng khí kể từ khi tiếp quản Lầu Năm Góc”. Tức giận bởi sự gièm pha này, Harriman nói với sếp của mình rằng ông không đồng ý về cơ bản với cách giải thích của ông này về các động cơ của Clifford. Sau đó, ông ghi lại: “Tôi cảm thấy Dean chắc chắn đã sử dụng đòn tấn công này vào tính cách của Clark với Tổng thống. Đối với tôi, kiểu tấn công như thế nhằm vào một đồng nghiệp là đê tiện”.

Harriman và Clifford đã có một cuộc trò chuyện qua điện thoại thẳng thắn vào ngày 21/6, trong đó họ thảo luận về vấn đề cốt lõi đang phải đối mặt: cụ thể, họ tỏ ra là hai nhân sự cấp cao duy nhất của chính quyền Johnson quan tâm đến việc đạt được hòa bình ở Việt Nam.

Đối với Clifford, vấn đề chính là Tổng thống chịu ảnh hưởng của các cố vấn “bi quan”, những người đưa ra một phản ứng xa lánh với Bắc Việt Nam. Clifford nói với Harriman rằng Tổng thống “được báo cáo rằng khó có thể chịu nổi về thái độ của chúng ta với Nam Việt Nam, binh lính của chính chúng ta và thậm chí cả vị thế của chúng ta trên thế giới nếu chúng ta để mặc cho Sài Gòn bị nã pháo trong khi Hà Nội không bị đụng đến. Ông ấy bắt đầu khó bảo.

Gắn với cách tiếp cận này, tôi nghĩ, là một nỗ lực từ phía ai đó muốn tỏ dấu hiệu rằng có lẽ sẽ không có kết quả gì từ Paris”. Clifford tin rằng có một cách duy nhất để làm dịu bất mãn của “chính những người đàn ông rất quân phiệt” (ý ông là Rusk và Rostow), những người muốn leo thang một cuộc chiến trên không, và để nhấn mạnh một thực tế rằng các cuộc hội đàm ở Paris đang tạo ra “những chỉ hướng” đầy hy vọng, ngay cả khi điều này không khớp với thực tế. Nếu báo chí Mỹ đưa tin Harriman đang đạt tiến bộ nào đó ở Paris, thì sẽ khó hơn cho Tổng thống khi phê chuẩn kiểu chiến dịch ném bom mà Rostow đề nghị.

“Những gì tôi nghĩ chúng ta phải làm”, Clifford nhận xét, “là theo cách thận trọng nhất phải biểu thị được điều gì đó đang diễn ra”. Cliford hy vọng rằng những bày tỏ hy vọng quá mức về chủ đề đàm phán sẽ phá được niềm tin thái quá của Rostow và Rusk vào khả năng của quân đội Mỹ sẽ vẫn thắng cuộc. Đó là một cách đặc biệt để chính quyền Johnson vận hành. Bộ trưởng Quốc phòng sẽ tham vấn ngoại giao và Ngoại trưởng sẽ đề nghị leo thang quân sự. Clifford tin rằng đối với những người chủ trương hòa bình của chính phủ, các viễn cảnh này là tuyệt vọng đến nỗi chỉ một sự dối trá nhẹ nhàng cũng có khiến cho công luận Mỹ hủy hoại những kẻ diều hâu.

Trong những ngày còn lại của chính quyền Johnson, Tổng thống xoay đổi hướng giữa hiếu chiến và kiềm chế, phản ánh những chia rẽ trong các cố vấn chính sách của ông và cả nước Mỹ. Clifford sau đó than vãn rằng Lyndon Johson hành động “giống như kiểu một nhà lãnh đạo lập pháp, tìm kiếm sự đồng thuận giữa những người luôn đối chọi nhau, chứ không giống như một vị tổng tư lệnh quyết đoán ra lệnh cho cấp dưới”.

Trong khi Clifford mô tả năm 1968 là năm khó khăn nhất trong đời ông, Dean Rusk nhớ lại rằng thời gian đàm phán là “một vết nhơ” mà ông chỉ thoát được nhờ vào một ly rượu scotch, aspirin và thuốc lá hàng ngày. Nhận thấy rõ thời gian cầm quyền còn rất ít, Johnson đã quá kiệt sức để có thể đưa bản thân ra khỏi tình trạng buồn chán đã bén sâu.

Tạp chí Time đưa tin, có một “bầu không khí lặng lẽ bất thường trong Nhà Trắng”, chứng tỏ những dấu hiệu cho thấy Johnson “đã đặt mình vào thì quá khứ”. Bằng cách thể hiện sự thiếu quan tâm như vậy đối với các cuộc hòa đàm Paris, Johnson báo hiệu cho vị Phó Tổng thống của mình rằng ông này phải hạ gục Richard Nixon mà không có ai giúp đỡ.

Harriman và Vance muốn Tổng thống phấn chấn lên và áp đặt kiềm chế hơn nữa lên quân đội, nhưng Johnson không muốn tạo cú huých cần thiết này cho các cuộc hòa đàm Paris. Các nhà đàm phán của Tổng thống muốn hòa bình vì lợi ích của chính nó nhưng cũng lo ngại các cuộc hòa đàm bị kéo dài, mà không thấy hồi kết đâu, có thể mở hé một cánh cửa cho chiến thắng bầu cử của phe Cộng hòa. Và cả hai người đều xem Tổng thống Richard Nixon là một triển vọng kinh hoàng.

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris và ‘kẻ xúi bẩy’ đằng sau Johnson

Việc chọn Harriman đứng dầu đàm phán bị Rostow nhìn nhận với thái độ thù địch. Ngày 3/4, Rostow tham gia phe của cựu Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, Tướng Maxwell Taylor, bày tỏ những nghi ngờ lớn rằng liệu Harriman có phù hợp với chức vụ.

>>Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?
>>Kỳ 2: Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

“Với tất cả sự tôn trọng đối với Thống đốc Harriman”, Rostow và Taylor viết với rất ít sự tôn trọng: “chúng tôi không tin ông ấy là người thích hợp thực hiện cuộc đàm phán này – nếu nó diễn tiến vượt khỏi giai đoạn đầu tiên”. Rostow và Taylor đưa ra hai lý do biện hộ cho phản đối của họ. Thứ nhất, “sức khỏe của ông ấy không được tốt”, và thứ hai, “ông ấy thiếu – và luôn luôn thiếu – một sự hiểu biết cũng như đồng cảm với Nam Việt Nam”.

Tuy Rostow và Taylor thừa nhận rằng “Averell đúng 100% rằng chúng ta không nên để cho Sài Gòn có quyền phủ quyết vị thế của chúng ta trong đàm phán“, ông ấy không chắc liệu mình “có muốn đưa họ theo và cho họ niềm tin rằng sẽ là cần thiết nếu một giải pháp vững bền, vì lợi ích của Mỹ, sẽ xuất hiện”.

Trước đó, Rostow ranh ma hơn Harriman về sự cần thiết phải ngưng ném bom và ông ta nghi ngờ rằng nhà ngoại giao cao niên này chủ yếu bị thúc đẩy bởi danh tiếng cá nhân và chính trị đảng phái – chứ không phải bởi bất cứ mong muốn nào cho Nam Việt Nam. Vị cố vấn an ninh quốc gia có thể đã đúng ở cả hai điểm.

Tuy nhiên, chiến dịch chống lại Harriman của Rostow đã thất bại. Johnson đã chọn một người mà có những đóng góp to lớn cho việc định hình các mối quan hệ quốc tế của thế kỷ 20. Averell Harriman sở hữu một kiểu danh tiếng ngoại giao mà Tổng thống chắc chắn không thể bỏ qua, và ông đã nắm giữ danh hiệu “Đại sứ vì Hòa bình”, được trao tặng năm 1966.

Henry Kissinger với ông Lê đức Thọ tại Hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Mặc dù vậy, Johnson cũng có một số lo ngại như Rostow về việc Harriman thiếu tính nhạy cảm về Nam Việt Nam và khát vọng đảm bảo hòa bình với một cái giá tiềm năng không chấp nhận được. Trong một lưu ý viết tay cho Rostow, Tổng thống nhất trí rằng “điểm về những nhượng bộ lẫn nhau cần phải được hiểu rõ trong nội bộ chính phủ Mỹ trong thời gian sớm nhất có thể. Nếu không, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta đã cho đi vị thế sức mạnh đàm phán hiện tại mà Hà Nội vừa trao cho chúng ta một cách quá hào phóng [thông qua thất bại chiến lược của Chiến dịch Tết (Mậu Thân)] – mà không nhận lại được gì”.

Cần phải nhấn mạnh ở đây rằng Johnson đã chọn Harriman từ một vị thế yếu kém – ông không có sự yêu mến và sự tôn trọng như của John F. Kennedy dành cho nhà đàm phán đáng kính này. Tín nhiệm của Johnson là bị vấy bẩn sau Tết Mậu thân và ông cảm thấy mình có rất ít lựa chọn.

Khi các sự kiện vỡ lở, phát thanh viên CBS Walter Cronkite đã có câu hỏi nổi tiếng: “Điều gì đang diễn ra ở đây? Tôi đã nghĩ chúng ta đang thắng cuộc chiến này”. Trong một môi trường trong nước thù địch như vậy, sẽ là đê tiện nếu phớt lờ sự tinh tường và hỗ trợ của Harriman.

Tuy nhiên, Tổng thống sẽ phải đảm bảo khá chắc rằng nhà ngoại giao hàng đầu của ông trung thành với tiêu chuẩn đàm phán khắt khe nào đó. Thứ trưởng Quốc phòng Cyrus Vance rốt cục đã được chọn đi cùng Harriman tới Paris, nhưng Johnson và Rostow vẫn lo rằng nhóm này có vẻ chủ hòa.

Với sự chấp thuận của Tổng thống, Rostow đưa một nhân vật diều hâu tin cẩn, thành viên Hội đồng An ninh quốc gia NSC William J. Jorden, vào đoàn để kiểm soát những gì sẽ diễn ra.

Như Jorden hồi tưởng, Rostow đã cử ông tới Paris để “theo dõi những kẻ đáng khinh đó [Harriman và Vance] và đảm bảo họ không mang đồ của nhà đi cho.” Trong một cuộc điện đàm lịch sự thận trọng với Rostow ngày 4/4, Harriman lịch sự buộc phải nói rằng: “Ông sẽ giúp rất nhiều nếu [Jorden] có thể đi cùng”. Rõ ràng Harriman không hay biết rằng vai trò chủ yếu của Jorden là một giám sát viên.

Khi những hoạt động chuẩn bị cho sứ mệnh của Harriman chính thức bắt đầu, Rostow bày tỏ lo ngại với Tổng thống rằng một trong “những mục tiêu đàm phán” của ông là giảm dần cuộc chiến trên không của Mỹ. “Mục tiêu của chúng ta không phải là chấm dứt ném bom”, Rostow lập luận. “Mà là các cuộc hội đàm nhanh chóng và quan trọng hướng tới hòa bình”.

Mặc dù Clark Clifford can thiệp kịp thời, Harriman vẫn được phép cho tiêu chuẩn đàm phán của ông không bị đụng đến. Phản ứng trước những gì ông cho là bới lông tìm vết vô nghĩa, Harriman than phiền rằng những phản đối của Rostow đối với lập trường của ông là “không thích hợp” và “rõ ràng sáng kiến của Clifford đã cứu được các chỉ dẫn [đàm phán] khỏi bị tổn thương”.

Harriman viết rằng “Ngoại trưởng không có bất kỳ đóng góp nào”. Việc người chịu trách nhiệm điều hành các chính sách ngoại giao của Mỹ tỏ ra không quan tâm mấy đến các nỗ lực của Harriman không phải là điềm tốt. Nó trở nên rõ ràng với Harriman rằng mục đích mới của Rusk và Rostow là cản trở các nỗ lực của ông trong việc đạt được một thỏa thuận nhanh chóng.

Nhà báo có ảnh hưởng của Washington Post Drew Pearson từ lâu đã lo ngại về sự xúi bẩy của Rostow với Tổng thống và lo ngại rằng thiện ý của Harriman đang bị nghi ngờ quá mức. Ngày 19/4, Pearson viết một cách thất vọng rằng Rostow “có thể làm cho các ý tưởng của mình về Đông Nam Á gắn chặt vào Lyndon Johnson [. . .] Không một ai biết về Rowtow nghi ngờ tính chính trực của ông. Nhưng họ đặt câu hỏi về đánh giá của ông.

Ngày 28/4, Rostow trình bày với Dean Rusk những gì ông mô tả là “một ý tưởng kỳ cục”. Vì thỏa thuận về miền nam là tâm điểm của vấn đề, Rostow băn khoăn liệu có khả năng là không thể đối với “Thiệu khi chấp nhận sáng kiến và tích cực tìm kiếm các cuộc hòa đàm riêng với “một thành viên” của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, dùng một người tin cậy”. Đặt Thiệu vào “tâm điểm của mọi sự” sẽ có nghĩa là “sáng kiến nhằm định hướng số phận [của Nam Việt Nam] sẽ nằm trong tay đúng người. Điều này hay hơn là thiết lập hòa bình dựa trên “kết quả của các cuộc hội đàm Mỹ – Hà Nội, vân vân”.

Lo ngại về “sự thiếu nhiệt tình của Harriman với Nam Việt Nam”, Rostow muốn Tổng thống hãy truyền sức mạnh từ nhóm đàm phán của ông sang chính phủ Nam Việt Nam. Việc Hà Nội sẽ đồng ý đàm phán trực tiếp với Thiệu – lãnh đạo của nhà nước “bù nhìn” mà họ không công nhận – là phi hiện thực. Tuy nhiên, Rostow vẫn tin rằng Hà Nội sẽ đồng ý dàn xếp với Sài Gòn và đưa ra bằng chứng để chứng minh điều này.

“Ở các làng Việt Cộng’, Rostow báo cáo với Johnson, “trẻ em đang được dạy hát những câu như sau: “Máu sẽ chảy vào tháng 5; sẽ có hòa bình vào tháng 6″. Nếu họ khuấy động những kiểu hy vọng này, thì điều đó phải có nghĩa là, về mặt ngữ nghĩa, họ đang nghĩ đến một cuộc đàm phán nhanh chóng chứ không phải dai dẳng”.

Than ôi, về mặt ngữ nghĩa, các khúc hát của trẻ con chẳng có có tý nghĩa nào như vậy… Rostow quá mê thích dùng kiểu của CIA theo những cách mang tính bè phái, thường là nhiều màu sắc, để minh họa cho Tổng thống.

Rostow có một yếu tố khác trong đầu khi tư vấn rằng Thiệu nên trở thành một thành phần then chốt trong các cuộc đàm phán: Tổng thống Nam Việt Nam sẽ dễ bảo trong việc dỡ bỏ các giới hạn áp đặt lên chiến dịch ném bom hơn so với Harriman. Ngày 10/5, Rostow bày tỏ hy vọng rằng Mỹ sẽ bắt đầu “ném bom giữa các vĩ tuyến 19 và 20 sớm”. Còn hơn cả phá hủy hòa đàm, Rostow tin rằng nếu Mỹ không ném bom Bắc Việt Nam đủ mạnh thì Hà Nội có thể “đánh giá quá cao hiệu quả của áp lực đối với chúng ta về toàn bộ vấn đề ném bom”. Giả định sai lầm về phía Hà Nội “có thể kéo dài giai đoạn hành động đàm phán qua lại để đổi lấy việc ngừng ném bom hoàn toàn”.

“Ném bom để đổi lấy hòa bình” rõ ràng là thần chú của Rostow. Nhưng tất nhiên, những xúi bẩy quá khôn khéo này không chỉ toàn về hòa đàm. Rostow cũng cảm thấy “chúng ta có thể nhận thêm nhiều trao đổi trước khi họ tới được Nam Việt Nam nếu chúng ta bỏ bom tuyến đường nằm giữa vĩ tuyến 19 và 20“. Có thể đoán trước được rằng Harriman đã phản dối các kế hoạch của Rostow, viết rằng “tái tổ chức chiến dịch ném bom giữa các vĩ tuyến 19 và 20 có thể “làm chậm [đàm phán]“. Sau đó, Harriman bình luận về Rostow rằng “tôi không bao giờ muốn thấy một giác thư nào khác từ người đàn ông đó nữa”.

Còn tiếp

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • *Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, TheNation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris: Mỹ xếp Việt Nam Cộng hòa ở đâu?

Trong khi Rostow cho rằng phải đẩy Thiệu lên tuyến đầu của đàm phán thì Harriman tin rằng Mỹ và Bắc Việt Nam là hai thành phần chính trong đàm phán.

>> Kỳ 1: Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

Sau “Chiến dịch Tết Mậu thân” ngày 30/1/2968 (trong đó những người cộng sản Bắc Việt tấn công tất cả các thành phố và thị trấn lớn ở miền Nam), Lyndon Johnson, với việc tham khảo ý kiến Bộ trưởng Quốc phòng Clark Cliford, người mà ông tin cậy và mới bổ nhiệm – đã đi đến các kết luận về các triển vọng quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Tuy các cuộc tấn công của những người cộng sản bị quân Mỹ đẩy lùi, “tia sáng cuối đường hầm” đốt lên cuối năm 1967 hóa ra chỉ là ảo giác.

Chiến dịch này đặt ra một câu hỏi không hề dễ chịu cho chính quyền Johnson: Làm thế nào mà Mỹ có thể thắng cuộc chiến tại Việt Nam nếu như không bảo vệ được ngay cả trung tâm Sài Gòn?

Không thể tìm ra câu trả lời thỏa đáng, Tổng thống Johnson, vào ngày 31/3/1968, thông báo hạn chế ném bom đơn phương, kêu gọi đàm phán hòa bình lâu dài, và cuối cùng nói thêm rằng ông sẽ không tranh cử nhiệm kỳ 2.

Từ đó, Johnson tuyên bố sẽ dành sinh lực của mình cho việc đạt được hòa bình với Bắc Việt Nam. Như Johnson nhớ lại trong hồi ký của ông: “Tôi chưa từng chắc chắn hơn thế về tính đúng đắn của quyết định của mình. Tôi đặt mọi thứ tôi có thể chỉ đạo và mọi thứ bản thân tôi có vào công cuộc tìm kiếm hòa bình [. . .]’. Tổng thống dường như thừa nhận rằng Miền Nam Việt Nam không thể tiếp tục là trách nhiệm của Mỹ một cách vô hạn định, và rằng ngoại giao là chiến lược tin cậy duy nhất còn lại mà ông có thể sử dụng.

Trong một cuộc thăm dò của Lou Harris được thực hiện ngày tiếp sau đó, tỷ lệ phản đối 57% dành cho Johnson đã quay 180 độ sang con số 57% ủng hộ. Nhưng đòn bẩy tín nhiệm ngắn hạn này không thể che khuất thực tế rằng cuộc chiến tại Việt Nam đã vắt kiệt phần lớn sinh khí chính trị của Tổng thống, thứ đã hun đúc ông thành một nhân vật cải tổ thành thạo và đầy sức thuyết phục suốt những năm đầu tiên ở Phòng Bầu Dục.

Ông Lê Đức Thọ và Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris. Ảnh tư liệu

Về phần mình, Bắc Việt Nam vui mừng khi thấy Johnson quyết định lùi bước và tìm kiếm hòa bình. “Chúng tôi rất vui về quyết định của Tổng thống Johnson“, Đại sứ Việt Nam tại Czechoslovakia nói “Tôi cho rằng điều này sẽ đưa cuộc chiến tới hồi kết. Các cuộc đàm phán giờ đây có thể bắt đầu và chúng có thể bắt đầu sớm“.

Để chuẩn bị cho nhóm đàm phán của mình, Johnson chọn W. Averell Harriman, một nhà ngoại giao nổi tiếng và có ảnh hưởng.

Là đặc sứ của Franklin Roosevelt tại London và Moscow trong Thế chiến II, và Thống đốc Dân chủ của New York từ năm 1955 tới 1959, Harriman từ lâu đã tin rằng Chiến tranh Việt Nam chỉ gây hại cho vị thế của Mỹ trên thế giới. Ông cũng muốn đạt được một thỏa thuận mà sẽ mở rộng các triển vọng của phe Dân chủ trong cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11/1968; khi Phó Tổng thống Hubert Humphrey có thể phải đối mặt với Richard Nixon, một nhân vật mà Harriman không ưa.

Đạt được sự trung lập hóa của Lào năm 1962, Harriman có một bề dày thành tích trong việc kiến tạo hòa binh ở Đông Nam Á. Lyndon Johnson hoàn toàn có lợi khi trao cho Harriman quyền hạn ngoại giao nhằm đạt được một thỏa thuận trước ngày bầu cử 5/11. Đảm bảo một nền hòa bình danh dự bề ngoài sẽ tăng thêm danh tiếng lịch sử của ông và cho người phó một cơ hội tốt hơn để bảo vệ di sản Xã hội Lớn.

Tiếp sau bài phát biểu ấn tượng của Lyndon Johnson ngày 31/3, các chủ thể chính sách ngoại giao then chốt của chính quyền đã khôn khéo giành ưu thế với hy vọng sự vững vàng của các cuộc đàm phán với Bắc Việt Nam sẽ theo sau. Johnson vẫn chưa thông báo rằng Averell Harriman sẽ dẫn đầu tiến trình tìm kiếm hòa bình, nhưng vị chính khách cao niên này nhận ra rằng mình có cơ hội tốt được bổ nhiệm và muốn đảm bảo rằng chiến dịch đánh bom của Mỹ nhằm vào Bắc Việt Nam sẽ không ngáng trở ông đạt được một thỏa thuận.

Ngày 31/3, Tổng thống tuyên bố ngừng một phần chiến dịch ném bom tại vĩ tuyến 20, nhưng các vi phạm của quân đội Mỹ ngày càng nhiều. Vào  ngày 2/4, Harriman viết cho Tổng thống chúc mừng về “thông báo của ông đêm Chủ nhật” song cảnh báo ông rằng sau đó các máy bay ném bom Mỹ đã phá hủy căn cứ không quân Thanh Hóa, và dường như sẽ xử như một trò chơi công bằng đối với bất kỳ một mục tiêu nào “cách Hà Nội 45 dặm và cách Hải Phòng 30 dặm”.

Quan ngại các cuộc đàm phán với Bắc Việt Nam sẽ tan vỡ thậm chí trước khi chúng bắt đầu, Harriman viết: “Tôi mạnh mẽ kêu gọi ngài hành động để đảo ngược xu hướng tai hại này. Tôi đề nghị rằng, rõ ràng như ý định của ngài, ngài thông báo chiến dịch ném bom sẽ đặc biệt giới hạn ở phía nam Vinh, nơi rõ ràng là cực bắc của dải đất hẹp miền Bắc Việt Nam”.

Sợ rằng thời khắc tài năng lãnh đạo được ngưỡng mộ rộng khắp của mình sẽ bị hủy hoại bởi những viên phi công Mỹ liều lĩnh, Johnson chỉ thị cho Chủ tịch hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Earle G. Wheeler phải giới hạn mọi hoạt động ném bom của Mỹ ở phía nam vĩ tuyến 19 – chứ không phải vĩ tuyến 20 như đã thông báo trước đó.

Đây có thể là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Tổng thống nghe theo lời khuyên của Harriman năm 1968. Tuy nhiên, hạn chế này vẫn không thay đổi, dù ít hay nhiều, trong khoảng thời gian cầm quyền còn lại của Tổng thống Johnson.

Cùng ngày Harrison yêu cầu sự rõ ràng về chiến dịch ném bom, Walt Rostow khuyên Tổng thống rằng “tôi vẫn tin mục tiêu then chốt là buộc Thiệu phải thực hiện trong khoảng thời gian 1 tháng, hoặc đại loại thế, một đề nghị tới Việt Cộng là để họ hoạt động như một đảng chính trị theo Hiến pháp”.

Rostow nhận ra rằng, đề nghị này khó có thể nhận được hoan nghênh nồng nhiệt ở Sài Gòn nhưng vẫn tin rằng hành xử của Nam Việt Nam “có thể rất khác nếu họ biết rằng chúng ta muốn họ là thành phần chính trong đàm phán về một thỏa thuận”.

Rostow muốn Tổng thống miền Nam Việt Nam Thiệu, không phải là một nhà ngoại giao Mỹ, đóng một vai trò then chốt trong bất kỳ một cuộc đàm phán nào với miền Bắc Việt Nam.

Ông lập luận: Thiệu sẽ chống cự một cách quyết liệt hơn nữa những lời kêu gọi kiềm chế quân đội Mỹ, và sẽ chỉ đồng thuận về một nền hòa bình dựa trên các điều khoản thuận lợi nhất cho đất nước ông ta.

“Nếu không từ bỏ toàn bộ quyền tự do hành động của chúng ta, hoặc cho Thiệu toàn quyền”, Rostow thừa nhận, “chúng ta phải thuyết phục cả chính quyền Thiệu (cùng quân đội của ông ta) và người dân miền nam Việt Nam rằng chúng ta sẽ tham vấn chặt chẽ nhất có thể với chính phủ của họ”. Cơ hội tốt nhất mà Rostow có được đảm bảo rằng cam kết liên tục của Mỹ dành cho Nam Việt Nam, là phải đẩy Thiệu lên tuyến đầu của đàm phán.

Chiến lược của Rostow nhằm đảm bảo “hòa bình” vì thế lại xung đột trực tiếp với những gì mà nhà đàm phán trưởng của Tổng thống hình dung. Harriman tin rằng Mỹ và Bắc Việt Nam là hai thành phần chính trong đàm phán. Ông hiểu rằng Tổng thống Thiệu sẽ rất căm ghét nỗ lực đạt được một nền hòa bình thỏa hiệp của ông, và thoải mái hơn với triển vọng đặt Nam Việt Nam vào một sự việc đã rồi dựa trên một sự hiểu biết song phương với Hà Nội.

Còn tiếp…

David Milne

(Sam Nguyễn dịch)

  • Tác giả David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Times.

vietnamnet.vn

Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

 Nhìn lại Hòa đàm Paris, cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cho rằng, “mức độ các cơ hội bị bỏ lỡ thực sự là không thể tin được.”

LTS: 40 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta kết thúc đàm phán tại Hội nghị Paris, với việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Nhìn lại chặng đường đàm phán kéo dài và căng thẳng ấy, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam từng nêu câu hỏi, liệu đã bao giờ chúng ta bỏ lỡ cơ hội đàm phàn, kết thúc chiến tranh. Đến nay, nhiều tài liệu mật vẫn chưa được giải mã để có câu trả lời.

Từ phía Mỹ, đã có nhiều nỗ lực đi tìm lời giải cho chuyện, có hay không việc bỏ lỡ cơ hội này.  Nhân kỉ niệm 40 năm hòa đàm Paris, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu một trong những nghiên cứu như vậy, như một góc nhìn tham khảo.

Phần 1:

Một khía cạnh quan trọng của sự chuyển đổi Robert S. McNamara quá cố từ một Hàn Chiến Binh (Cold Warrior) tự tin sang một người chỉ trích chính sách ngoại giao bành trướng của Mỹ là trong những năm 1990 ông mong muốn tìm hiểu thời đại Chiến tranh Việt Nam về “các cơ hội bị bỏ lỡ” vốn đã có thể đã ngăn Mỹ và Việt Nam khỏi cuộc xung đột tàn khốc.

Trong Tranh cãi không hồi kết (Argument Without End), vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng “Có [. . .] những cơ hội hoặc là đã tránh được chiến tranh trước khi nó bắt đầu, hoặc là đã dập tắt nó từ rất lâu trước khi nó diễn ra”.

Theo đánh giá của McNamara, việc Mỹ và Bắc Việt không đạt được một thỏa thuận hòa bình có thể chấp nhận được nhau là một trong những thất bại lớn của các mối quan hệ quốc tế thời hậu chiến. Với một nhóm các nhà ngoại giao kỳ cựu, và các viện sĩ ở Mỹ, McNamara đã bàn đến một số sáng kiến hòa bình bên thứ ba với những người đồng nhiệm của Bắc Việt, trong đó có những vật có uy tín lớn như Tướng Võ Nguyên Giáp và Thứ trưởng Ngoại giao thứ nhất Trần Quang Cơ.

Trong 6 cuộc họp được tổ chức tại Hà Nội từ tháng 11/1995 đến tháng 2/1998, các bên tham dự đã thảo luận những gì trở nên sai lầm và tìm cách xác định liệu một nền hòa bình đáng tin cậy là có thể trong những năm Johnson. Ngạc nhiên trước mức tiếp thu mà Bắc Việt Nam khẳng định đối với các cuộc đàm phán, McNamara kết luận rằng “mức độ các cơ hội bị bỏ lỡ thực sự là không thể tin được [. . .] , có rất nhiều cơ hội tiến tới một thỏa thuận thông qua đàm phán về cuộc chiến tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 5/1965 đến tháng 10/1967 đã bị bỏ lỡ.’

Vì nhiệm kỳ của McNamara tại Lầu năm Góc kết thúc vào ngày 1/2/1968, Tranh cãi Không Hồi kết không phân tích các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Mỹ và Bắc Việt tại Paris từ tháng 5/1968. Đây là một sự bỏ sót đáng tiếc về các sáng kiến bên thứ ba – còn được biết đến bởi các mật danh MAYFLOWER (Tháng 4-5/1965), XYZ (5-9/1965), PINTA (Tháng 12/1965-tháng 1/1966), MARIGOLD (6-12/1966), SUNFLOWER (1-2/1967) và PENNSYLVANIA (6-10/1967) – căn cứ vào những hoạt động phía sau sân khấu và tất cả có rất ít cơ hội thành công.

Mỹ kí vào bản hòa ước tại HN Paris. Ảnh tư liệu.

Trái lại, các cuộc đàm phán song phương ở Paris từ tháng 5/1968 tới tháng 1/1969 mang lại cho Tổng thống Johnson một cơ hội chắc chắn để kết thúc cuộc chiến: Johnson đã tự loại mình khỏi cuộc chạy đua tổng thống, việc đảm bảo một nền hòa bình thỏa hiệp sẽ thúc đẩy các triển vọng bầu cử của đảng Dân chủ, và rất ít cố vấn cho chính quyền (cả bên trong và bên ngoài) vào thời điểm đó coi “chiến thắng” ở Việt Nam là một khả năng có ý nghĩa.

Nhiều sử gia quốc tế – chẳng hạn như George Herring, Lloyd Gardner và Robert Schulzinger – đã nghiên cứu quãng thời gian quan trọng này như một phần của các dự án sách rộng hơn. Nhưng chỉ có một bài báo hoặc một chương sách phân tích các cuộc đàm phán hòa bình Paris một cách trọn vẹn: Tiểu luận của Herbert Schandler mang tựa đề “Lầu Năm Góc và Các cuộc đàm phán Hòa bình sau ngày 31/3/1968”.

Tuy nhiên, tác giả không tham khảo hai nguồn quan trọng đầu tiên: Tài liệu của Cố vấn an ninh quốc gia Walt Rostow tại Thư viện Lyndon Baines Johnson ở Austin, Texas và tài liệu của nhà Đàm phán trưởng W. Averell Harriman tại thư viện Quốc hội ở Washington DC. Hai nhân vật có ảnh hưởng này bất hòa với nhau trong giai đoạn đó, và sự sụp đổ của các nỗ lực của Harriman ở Paris có thể bị quy cho bầu không khí bất thuận lợi ở Washington mà các nhân vật diều hâu như Rostow đã cố hết sức để tạo ra.

Nhưng có nhiều hơn thế trong câu chuyện này, chứ không chỉ sự đấu đá nội bộ đã được phân tích bởi nhiều học giả, chẳng hạn như Graham Allison. Trong một cuộc hội thoại kín hồi tháng 9/1968, Harriman hỏi Bộ Trưởng Quốc phòng Clark Cliford “một cách thẳng thắn, liệu ông có cảm thấy Tổng thống ước được chứng kiến [Phó Tổng thống] Humphrey bị hạ gục [trong cuộc bầu cử Tổng thống] hay không”. Sau khi ngừng một lát để dự liệu phản ứng của mình, Cliford trả lời rằng “Nếu ông nhất trí là chuyện này chỉ giữa ông và tôi thì tôi tin rằng ông đã đúng: Tổng thống muốn chứng kiến ông ấy bị đánh bại”.

Bực bội bởi sự thiếu quan tâm của Tổng thống Johnson đối với các cuộc đàm phán ở Paris, cả hai người dự đoán rằng, trước tiên, Tổng thống muốn để lại việc kiến tạo hòa bình cho người kế nhiệm của mình, và thứ hai, Johnson tin rằng Richard Nixon sẽ bảo vệ sự độc lập của Nam Việt chắc chắn hơn so với vị Phó Tổng thống của ông, Hubert Humphrey.

Bài báo này phân tích tính logic của tuyên bố đó và kết luận rằng cáo buộc này mang trọng lượng đáng kể. Ngoại trưởng Dean Rusk, Walt Rostow và LBJ đều đành cam chịu trước một chiến thắng của phe Cộng hòa ngày 5/11/1968. Lựa chọn ưa thích của Johnson, trên thực tế, là muốn Nelson Rockefeller, một thành viên Cộng hòa ôn hòa dòng dõi, người ông rất cảm phục, đánh bại Richard Nixon giành sự đề cử ứng viên của Phe Cộng hòa và sau đó giành chiến thắng trong cuộc bầu cử trước đối thủ hoặc Humphrey hoặc Kennedy.

Tuy nhiên, những hy vọng này đã tan thành mây khói vào ngày 8/8 khi Nixon giành được sự ủng hộ của đảng mình. Tổng thống sau đó phải đối đầu với một lựa chọn phiền phức là ông sẽ ủng hộ ai về mặt cá nhân. Hubert Humprey chủ trương rút quân Mỹ khỏi cuộc chiến Việt Nam và tư tưởng chủ bại này là không thể chấp nhận đối với Tổng thống và các cố vấn diều hâu, những người đầu tư quá nhiều sức lực và tín nhiệm cá nhân vào cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản Việt Nam. Trong khi các chính sách bảo thủ trong nước của Nixon là lời nguyền cho những người cấp tiến như Rusk, Rostow, và Johnson, nền tảng địa chính trị của ông không bao giờ bị ngờ vực. Và vì vậy, triển vọng một chiến thắng của Nixon được Tổng thống ngầm chấp nhận – do bị kích động theo hướng này bởi các cố vấn diều hâu của ông – như một lựa chọn ít tồi tệ hơn cả cho vị thế thế giới của Mỹ.

Bốn nhân vật chính trong câu chuyện này được chia làm 2 phe: Một phe gồm Averell Harriman và Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford – tập trung vào đạt được một thỏa thuận thông qua đàm phán ở Paris mà ràng buộc nghiêm túc với cả Bắc Việt và Nam Việt, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (NLF). Một phe gồm Ngoại trưởng Dean Rusk và Walt Rostow – những người quả quyết rằng bất cứ một nền hòa bình thỏa hiệp nào trực tiếp bao gồm NLF trong một chính phủ liên hiệp Nam Việt Nam sẽ không thể có vào thời của họ. Lyndon Baines Johnson là trọng tài quyết định và ông chọn cách ủng hộ Rusk – Rostow. Cuối cùng, Richard Nixon là người hưởng lợi chính của việc Lyndon Johnson không quan tâm đặt một dấu chấm hết qua đàm phán cho Chiến tranh Việt Nam trong thời kỳ ông làm Tổng thống.

Như Harriman hồi tưởng một cách cay đắng vào tháng 12/1968: “Gần như chắc chắn rằng tính chất mà vấn đề Việt Nam được giải quyết, với lời khuyên của Rusk and Rostow, đã mang lại chiến thắng cho Nixon”. Hậu quả u ám nhất của cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ ở Paris là thực tế rằng các điều khoản hòa bình cuối cùng được Henry Kissinger và trưởng đoàn đàm phán của Bắc Việt, Lê Đức Thọ, nhất trí vào tháng 1/1973 về căn bản không khác biệt lắm so với những gì Harriman và ông Thọ đã nhất trí ở Paris vào tháng 11/1968. Đã cống hiến quá nhiều thời gian và sức lực như vậy cho cuộc chiến Việt Nam nhưng Johnson không có mong muốn tách rời Nam Việt Nam và ngăn cảnh máu đổ trong những gì, vào lúc đó, là một chính nghĩa quân sự tuyệt vọng.

Chào mừng kí kết HN Paris. Ảnh tư liệu.

Lập luận này có những hàm ý quan trọng đối với “Giả thuyết Trò chơi Hai cấp độ” của Robert Putman. Trong bài viết có tựa đề “Ngoại giao và Chính trị trong nước: Logic của Trò chơi Hai Cấp độ”, được International Organization xuất bản năm 1988, Putman cho rằng, các cuộc đàm phán quốc tế giữa các nước diễn ra ở cấp độ trong nước và ở cấp độ quốc tế.Khi thúc đẩy đàm phán, các nhà lãnh đạo buộc phải đáp ứng các nhu cầu và mối quan tâm của các khu vực bầu cử trong nước bằng việc đưa ra các nhượng bộ và tạo dựng liên minh, trong khi đàm phán quốc tế được theo đuổi với sự suy tính chủ yếu trong đầu: bất cứ thỏa thuận nào cũng sẽ không gây thiệt hại nghiêm trọng cho các khu vực bầu cử trong nước. “Win-sets” xảy ra khi các quyền ưu tiên của các chủ thể ở cả hai cấp độ chồng lấn nhau và vì thế thỏa thuận quốc tế trở thành có thể.

Như Putham kết luận: “Diễn biến gở nhất trong lĩnh vực chính trị so sánh và các mối quan hệ quốc tế trong những năm gần đây là sự công nhận giữa các chủ thể trong  phạm vi của nhu cầu phải tính đến những rắc rối giữa hai [. . .] Nghiên cứu có ảnh hưởng sâu rộng này giờ đây được cần đến để phân tích và đào sâu hơn sự hiểu biết của chúng ta về cách thức những trò chơi như vậy được thực hiện. Thông qua triển khai phương pháp luận lịch sử thế giới, dựa chủ yếu vào các dữ liệu văn khố chưa được tận dụng, bài báo này hưởng ứng tuyên bố của Putnam. Bằng cách làm như vậy, tôi hy vọng sẽ thiết lập được một sự kết nối giữa lịch sử quốc tế và giả thuyết các mối quan hệ quốc tế; hai lĩnh vực mà không tương tác với nhau nhiều như lẽ ra nên thế.

Cuối cùng, thuyết trò chơi hai cấp độ của Putnam rất hữu ích trong việc giải thích lý do tại sao các cuộc đàm phán năm 1968 đã tiến triển như thế, mặc dù không hoàn toàn theo cách ông hình dung lúc đầu.

Do từ bỏ việc đảm bảo một thỏa thuận hòa bình năm 1968, Lyndon Johnson đã cố tình phớt lờ các nền tảng của Đảng Dân chủ – bỏ qua một khối cử tri then chốt – để nhường lại một lợi thế quan trọng cho phe Cộng hòa. Ông từ chối xây dựng một liên minh nội địa thân thiết trong đảng – như giả thuyết của Putnam – thay vào đó, lại chọn cách tặng cho Nixon một cú huých bầu cử quyết định: từ chối một nền hòa bình mà Johnson cho là không có giá trị, mà chính nó vốn gần như chắc chắn giúp cho Humphrey trở thành Tổng thống.

Trong các cuộc đàm phán trực tiếp với Hà Nội, Johnson đề cập đầu tiên và tối quan trọng đến việc đảm bảo cho khả năng Nam Việt Nam tiếp tục tồn tại như một nhà nước – một mục tiêu cơ bản, trong rất nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, tự nhường bước cho một chiến thắng của Nixon – thực vậy, rất tích cực hỗ trợ cho chiến thắng đó bằng sự chây ì của bản thân – trước vị Phó Tổng thống của chính ông là cách có thể chắc chắn nhất để đạt được mục tiêu này.

Các cuộc đàm phán hòa bình Paris, vì thế, cấu thành một trò chơi hai cấp độ theo kiểu đặc biệt nhất. Mục tiêu lấn át của Tổng thống Johnson là bảo vệ sự độc lập của Nam Việt Nam đã đòi hỏi ông phải vứt bỏ logic chính trị của đảng, giao phó cho Humphrey và đảng Dân chủ một số phận u ám, và phớt lờ chiến thuật lá mặt lá trái (nói một cách chính xác là phản nghịch) của chiến dịch tranh cử Nixon là khuyến khích Tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam đẩy lùi các nỗ lực về một nền hòa bình thỏa hiệp cho đến sau cuộc bầu cử Tổng thống và một khả năng chiến thắng của Nixon. Tính liên kết của ngoại giao và chính trị trong nước chưa từng rõ ràng hơn thế trong năm cuối cầm quyền của Lyndon Johnson.

Còn nữa

  • David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Time

vietnamnet.vn

Nhân tố quyết định thành công

Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đàm phán và việc ký kết Hiệp định Paris là đường lối ngoại giao tài tình từ chủ trương đường lối đến lựa chọn cán bộ do Bác Hồ và Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương Đảng đề ra. Xung quanh vấn đề này, ông Trịnh Ngọc Thái, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp, nguyên Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, nguyên thư ký của Bộ trưởng Xuân Thủy – Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam đã có cuộc trao đổi với phóng viên báo Đại đoàn kết.

Để chuẩn bị cho cục diện này, Đảng và Bác Hồ đã đề nghị cử ông Lê Đức Thọ làm Cố vấn đặc biệt và ký sắc lệnh cử Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông có thể nói rõ thêm về lý do tại sao lại có sự lựa chọn này?

Ông Trịnh Ngọc Thái: Quyết định như vậy bởi Bác biết rất rõ ông Lê Đức Thọ là người hết sức thẳng thắn và không khoan nhượng. Ông là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hồi ấy, ông là người am hiểu tình hình chiến sự ở miền Nam hơn ai hết. Điều này có tác dụng rất quan trọng trong quá trình đàm phán theo tinh thần “vừa đánh vừa đàm”. Ông Xuân Thủy là người làm ngoại giao rất lâu năm, ngoài ra còn có khả năng thuyết phục mọi người rất tốt từ hồi làm công tác dân vận ở Mặt trận Tổ quốc. Những ngày bị Pháp bắt giam trong Nhà tù Sơn La, ông Xuân Thủy làm Chủ bút tờ báo Suối reo, sau làm Chủ nhiệm báo Cứu Quốc (tiền thân của báo Đại Đoàn Kết), là nhà thơ. Đến nay kiều bào ta bên đó vẫn còn rất nhớ đến ông. Còn nhớ trong suốt gần 6 tháng đầu đàm phán, ta chỉ duy nhất có một nội dung yêu cầu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, rồi sau mới bàn đến các vấn đề khác. Vậy mà cứ mỗi phiên họp ông lại có một bài phát biểu mới, không bài nào trùng lặp bài nào, có dẫn chứng đầy đủ và rất thuyết phục vạch trần thủ đoạn xảo trá của đế quốc Mỹ đối với nhân dân ta. Từ đó, ta tranh thủ được bạn bè tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình.

Vậy còn sự lựa chọn bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn thì sao, thưa ông?

– Bà Nguyễn Thị Bình là đảng viên lâu năm, nắm rất chắc tình hình chiến sự miền Nam và đường lối lãnh đạo của Đảng. Bà đã từng hoạt động rất sâu và rộng trong quần chúng nhân dân, để lại ấn tượng rất mạnh, đầy sức thuyết phục đối với khách quốc tế và dư luận, công luận trên thế giới. Bà còn là một phụ nữ hết sức sắc sảo mà mềm mỏng, được báo chí mệnh danh là “Nữ hoàng cộng sản”.

Lựa chọn ba người như vậy, Bác Hồ có ý để họ bổ sung cho nhau. Trước khi đi, Bác đã dặn dò cặn kẽ từng người một. Bác dặn phải có cố vấn quân sự để nắm chắc tình hình chiến sự để phối hợp đấu tranh trên bàn Hội nghị Paris, phải thận trọng, kiên trì, vững vàng nhưng khôn khéo khi đàm phán với Mỹ…

Sự chỉ đạo của Bác từ trong nước, theo ông có tác động thế nào đối với quá trình đàm phán của ta ở Paris?

Ở trong nước, Bác thường xuyên họp với Bộ Chính trị để nghe báo cáo tình hình chiến sự ở miền Nam và diễn biến của cuộc đấu tranh ngoại giao. Bác nhắc phải vạch trần luận điệu bịp bợm của Johnson, đập mạnh tuyên bố của chính quyền Sài Gòn. Bác tiếp khách quốc tế, trả lời phỏng vấn, viết thư, viết báo, ra lời kêu gọi đồng bào trong nước và nhân dân thế giới.. “Đế quốc Mỹ chán rồi, nhưng rút ra thế nào? Thua mà danh dự, đó là điều Mỹ muốn.” – Bác nói. Để chứng minh cho sự thất bại của Mỹ như nói trên, Bác viết trên báo Nhân dân ngày 10-6-1968: “Bốn trụ cột chiến tranh xâm lược thì bốn tướng Mỹ Harkin, Taylor, MacNamara và Westmolen đều đã thất bại mà sụp đổ”. Bác nói phải cảnh giác Mỹ vẫn có thể ném bom trở lại miền Bắc, nên ta phải chuẩn bị sẵn sàng và phải đẩy mạnh tuyên truyền ở Hội nghị Paris…

Hồ Chủ tịch đã qua đời, nhưng tư tưởng ngoại giao của Người vẫn tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho chúng ta trong suốt quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris để đi đến thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Xin cảm ơn ông!

Ông Hà Đăng- Nguyên Uỷ viên TƯ Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng -Văn hoá TƯ, thành viên đoàn đàm phán Paris về Việt Nam:

Nam – Bắc một nhà trên bàn đàm phán

Việt Nam vốn là một nước thống nhất. Sau thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp, theo Hiệp định Geneve (1954), nước ta bị chia làm hai miền Nam, Bắc. Cho nên, tuy vẫn cùng một Đảng lãnh đạo nhưng ta lại phải chia ra làm hai: Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc còn Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam. Tương tự như vậy, cùng là một chính phủ, một mặt trận, một quân đội, một đường lối ngoại giao… nhưng ta vẫn phải chia ra làm hai cho hai miền. Tuy hai nhưng vẫn là một. Lẽ ra nếu cuộc tổng tuyển cử được diễn ra đúng theo Hiệp định Geneve thì nước ta đã được thống nhất trở lại sau hai năm kể từ ngày Hiệp định được ký kết, nhưng điều này đã không diễn ra do Mỹ can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam, phá hoại Hiệp định này, dựng nên chính quyền Sài Gòn, thành lập quốc gia riêng ở miền Nam Việt Nam. Cũng từ đó, khi tiến hành đàm phán ở Paris những năm sau đó, đã hình thành hai đoàn của Việt Nam từ hai miền Nam, Bắc cùng tham gia hội nghị 4 bên với Mỹ và ngụy Sài Gòn. Tuy là hai đoàn nhưng cũng vẫn chỉ là một.

Trong quá trình đàm phán, tuy nói là đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng cũng toàn là người của bên này thôi, gọi là người miền Nam nhưng phần lớn là cán bộ tập kết ra Bắc từ hồi năm 1954. Chỉ có ít người thuần túy ở miền Nam thì cũng là cán bộ của ta hoạt động ở trong đó rồi bị địch bắt, được giải thoát hồi tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Mỗi tuần Hội nghị Paris có một phiên họp vào ngày thứ năm. Sau mỗi phiên họp, hai đoàn ta lại họp với nhau tổng kết phiên họp vừa qua và rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho những phiên họp tới. Bài phát biểu của hai đoàn cuối cùng đều được đưa qua anh Xuân Thủy và anh Lê Đức Thọ duyệt trước khi sử dụng.

Trần Ngọc Kha (ghi)

Trần Ngọc Kha (Thực hiện)
daidoanket.vn

Công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình diễn biến chiến dịch, công tác tư tưởng đã kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức đi sâu vào các mặt cụ thể như lập phương án kế hoạch chiến dịch, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị hậu cần kỹ thuật bảo đảm tác chiến và mọi yếu tố cần thiết khác, tham gia vào việc rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật; tổ chức các phong trào thi đua nghiên cứu tìm tòi cách đánh; tuyên truyền tin chiến thắng, kinh nghiệm chiến đấu chống không quân địch…Công tác tư tưởng không chỉ là của cấp uỷ, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị mà trở thành công tác của mọi người, mọi tổ chức, của cả tập thể quân nhân từ tìm tòi cách đánh đến việc bảo đảm hậu cần kỹ thuật trang bị vũ khí, đạn dược, khí tài, tháo gỡ những khó khăn do điều kiện kinh tế – kỹ thuật quân sự của ta, bảo đảm đến mức cao nhất cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi.

cong tac tu tuong trog chien dich DBP tren khong

Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc cuối tháng 12 năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc ta như một một kỳ tích của ý chí, trí tuệ và sức sáng tạo Việt Nam. Trong cuộc chiến đấu không cân sức này, bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam đã cùng với các lực lượng vũ trang và nhân dân miền Bắc chiến đấu với ý chí quyết tâm “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”; “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Sáng tạo cách đánh, phát huy uy lực của các vũ khí trang bị kỹ thuật mà ta có tạo nên sức mạnh đánh thắng không quân địch trong 12 ngày đêm khốc liệt của bom đạn Mỹ, góp phần đập tan ý chí xâm lược của bọn cuồng chiến trong giới cầm quyền nước Mỹ lúc đó; buộc chúng phải ký kết Hiệp định Pa ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, những chiến dịch đường không của đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc từ 1965 đến đầu năm 1972 đã bị quân và dân ta đập tan đều có quy mô lớn và rất dã man tàn bạo, gây cho ta những khó khăn, tổn thất không nhỏ. Nhưng chưa có cuộc tập kích hay chiến dịch đường không nào của địch đánh phá tập trung quy mô lớn và khốc liệt như cuộc tập kích đường không chiến lược bằng “siêu pháo đài bay” B52 trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 vào Hà Nội, Hải Phòng và đường số 1 (mạn Bắc Hà Nội). Với cuộc tập kích này, chúng hy vọng tạo ra sức ép làm nhụt ý chí chiến đấu của quân và dân ta, buộc Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà phải chấp nhận một giải pháp kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ và Nguỵ quyền Sài Gòn. Để tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên “Lai nơ Bếch cơ II”, đế quốc Mỹ lập ra bộ chỉ huy lâm thời và sử dụng một lực lượng lớn không quân hỗn hợp gồm: 193 máy bay B52, với 25 tổ bay, chiếm gần 50% không quân chiến lược của nước Mỹ; 48 máy bay F111A; 999 máy bay chiến thuật, một số máy bay tiếp dầu trên không và máy bay bảo đảm chiến đấu khác ở các căn cứ không quân tại Gu am, Thái Lan, Phi líp pin, miền Nam Việt Nam và 6 tàu sân bay trên Biển Đông. Liên tục trong 12 ngày đêm từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 12 đế quốc Mỹ đã huy động 663 lần chiếc B52 trong đó có 417 lần chiếc tập trung đánh phá Thủ đô Hà Nội; dội 16.000 tấn bon đạn xuống các vùng đông dân cư trên miền Bắc, trong đó có 9.700 tấn trút xuống huỷ diệt nhiều khu vực ở nội ngoại thành Hà Nội như Khâm Thiên, Bạch Mai, Đại học Bách khoa, Mễ Trì, Gia Lâm, Uy Nỗ, Yên Viên, Đông Anh…

Quân và dân miền Bắc mà nòng cốt là bộ đội Phòng không – Không quân đã anh dũng chiến đấu, chiến thắng oanh liệt, đập tan cuồng vọng của địch. Bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B52, chiếm 17% trong tổng số B52 địch sử dụng trong cuộc tập kích; bắn rơi 5 máy bay F111A, bắt sống nhiều giặc lái trong đó có cả giặc lái B52. Bị tổn thất nặng nề, 7 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1972, Ních xơn Tổng thống Mỹ lúc đó buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược tàn bạo và ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra, đề nghị cho phía Mỹ gặp đại biểu ta tại Pa ri để bàn về ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh.[1]

Nhân tố nào đã tạo nên động lực, sức mạnh giúp bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam vượt qua mọi gian nguy thử thách khốc liệt của bom đạn; sự hạn chế về phương tiện, vũ khí, trang bị để sáng tạo cách đánh, đập tan thần tượng “siêu pháo đài bay” của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” là tổng hợp của nhiều nhân tố: Hoạt động lãnh đạo, chỉ huy các cấp từ Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, các cơ quan cấp chiến lược cho đến Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân chủng, Binh chủng và các đơn vị trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu; của vũ khí trang bị kỹ thuật; của công tác đảng, công tác chính trị, công tác quân sự, hậu cần kỹ thuật, của nghệ thuật tác chiến chiến dịch phòng không chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Song ở đây chỉ bàn đến vai trò của công tác tư tưởng đối với việc củng cố, xây dựng nhân tố chính trị – tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

1. Tập trung xây dựng ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ cho mọi lực lượng tham gia chiến dịch là vấn đề quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Quán triệt quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò to lớn của nhân tố chính trị – tinh thần, với tư cách là nhân tố liên kết, tích hợp các nguồn lực tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp, hoạt động công tác tư tưởng của cấp uỷ, chỉ huy, cán bộ chính trị và cơ quan chính trị các đơn vị tham gia chiến địch đã đặc biệt coi trọng giáo dục, động viên, giữ vững ý chí chiến đấu kiên cường, bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ trong suốt quá trình tác chiến chiến dịch “Điện Biên phủ trên không”.

Thành công lớn của công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên phủ trên không” là đảng uỷ, chỉ huy các đơn vị tham gia chiến dịch đã làm cho bộ đội tiếp tục quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”[2]. Trong quá trình chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu hoạt động công tác tư tưởng ở các đơn vị đã kết hợp chặt chẽ giữa phát huy anh hùng cách mạng với trí tuệ sáng tạo và sự tinh thông về kỹ thuật, chiến thuật, xây dựng ý chí quyết đánh, biết đánh và quyết thắng cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ cho mọi lực lượng tham gia chiến dịch.

Thực tiễn cho thấy, chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” diễn biến cực kỳ phức tạp, tình huống xảy ra bất thường, có lúc rất nghiêm trọng, nhất là địch thay đổi thủ đoạn chiến thuật đã tác động mạnh đến tư tưởng, tâm lý, niềm tin vào khả năng đánh thắng của bộ đội. Trong đợt đánh phủ đầu các tốp B52 vào oanh tạc Hà Nội đêm 18 tháng 12 năm 1972, tên lửa ta đã phóng 11 quả đạn mà chưa hạ được chiếc B52 nào, nhưng máy bay chiến thuật của địch lại phát hiện được, tập trung phóng tên lửa vào các trận địa của ta, làm cho bộ đội căng thẳng, lúng túng, mất bình tĩnh, thiếu tự tin. Trước tình hình đó đã xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng không đúng: Một là, cho rằng chỉ có “nhiễu” về tư tưởng, chứ không có “nhiễu” về kỹ thuật, tức là chỉ có giải quyết tư tưởng chứ không đi sâu vào chiến thuật, kỹ thuật quân sự; Hai là, không tin vào vũ khí trang bị kỹ thuật của ta có thể đánh B52 của Mỹ. Công tác tư tưởng đã giải quyết tốt cả hai khuynh hướng tư tưởng không đúng đó. Cấp uỷ, chỉ huy cơ quan chính trị các đơn vị một mặt tìm nguyên nhân, rút kinh nghiệm trận đánh, tổ chức các tổ kỹ thuật nghiên cứu địch, chấn chỉnh khắc phục nhân tố tiêu cực, củng cố ý chí chiến đấu và giải quyết những khó khăn về kỹ thuật. Nhờ đó đã củng cố lòng tin, động viên bộ đội phát huy trí tuệ tìm tòi cách đánh, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo bắn rơi tại chỗ máy bay B52 của không quân Mỹ.

Bài học rút ra từ đây là, hoạt động công tác tư tưởng phải bám sát bộ đội, bám sát nhiệm vụ tác chiến, xử trí linh hoạt kịp thời đúng đắn mọi vấn đề tư tưởng nảy sinh trong tác chiến, giữ vững ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Lúc đánh thắng cũng như lúc gặp khó khăn đều phải tăng cường công tác tư tưởng. Bài học này vẫn còn nguyên giá trị đối với công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng củng cố niềm tin; chuẩn bị về tinh thần, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc trong bất kỳ tình huống, hoàn cảnh nào. Trong tình hình hiện nay, hơn lúc nào hết công tác tư tưởng trong quân đội phải được tiến hành một cách chủ động, toàn diện, định hướng kịp thời tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình. Dù tình hình thế giới có phức tạp đến đâu, đất nước có thể còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đứng vững trước mọi khó khăn thử thách, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực hành động sáng tạo, phẩm chất đạo đức trong sáng lành mạnh.

2. Giáo dục, động viên cổ vũ cán bộ, chiến sĩ làm chủ vũ khí trang bị ,phát huy trí tuệ tìm tòi cách đánh mưu trí sáng tạo, chiến đấu dũng cảm kiên cường chống lại các thủ đoạn tác chiến của không quân địch. Ý chí quyết tâm chiến đấu cao là động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt của bom đạn của quân thù, kiên cường, xả thân chiến đấu hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ, nhưng còn phải có cách đánh tốt mới biến quyết tâm chiến đấu thành kết quả thực tế; và chiến đấu thắng lợi lại là cơ sở để xây dựng củng cố quyết tâm chiến đấu cao hơn, thực hiện càng đánh càng mạnh. Xuất phát từ đối tượng tác chiến chủ yếu là không quân Mỹ có trang bị vũ khí hiện đại hơn ta, cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chính trị từ Bộ Tư lệnh chiến dịch đến các đơn vị tham gia chiến dịch đã coi trọng tổ chức nghiên cứu địch cả về chiến thuật, chiến dịch, chiến lược và kỹ thuật của không quân Mỹ. Huy động trí tuệ và tài năng sáng tạo của mọi cán bộ, chiến sĩ, mọi cấp, trước hết là cán bộ, đảng viên tìm tòi sáng tạo cách đánh ở mọi cấp, mọi đơn vị; triệt để khai thác tính năng kỹ thuật, chiến thuật của mọi loại vũ khí kỹ thuật có trong tay để chiến đấu chống không quân Mỹ.

Thực tiễn cho thấy, khi dự đoán được âm mưu địch tập trung đánh phá miền Bắc trong thời điểm quyết định của năm 1972, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, các Binh chủng đã liên tiếp mở hội nghị cán bộ chủ chốt, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, kíp chiến đấu của các tiểu đoàn tên lửa, các phi đội máy bay chiến đấu để vừa quán triệt nhiệm vụ, vừa trao đổi kinh nghiệm thực tế, phát động hiến kế lập công sâu rộng trong mọi đơn vị, mọi lực lượng tạo thành cuộc vận động lớn huy động trí lực và tài thao lược của cán bộ, chiến sĩ quyết đánh và biết đánh, biết thắng B52 của đế quốc Mỹ. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao và tính năng kỹ thuật, chiến thuật của từng loại vũ khí khí tài trang bị của các đơn vị, hoạt động công tác tư tưởng của cấp uỷ, chỉ huy, cơ quan chính trị phối hợp với cơ quan tham mưu, kịp thời tổ chức các hội nghị chuyên đề phổ biến quyết tâm của trên, trao đổi kinh nghiệm, dân chủ thảo luận để khắc phục khó khăn thực tế về vũ khí trang bị kỹ thuật của ta, đề xuất cách đánh tốt nhất để chống lại thủ đoạn nham hiểm và vũ khí – kỹ thuật hiện đại của địch.

Trong quá trình thực hành tác chiến chiến dịch, khi địch thay đổi thủ đoạn tác chiến, hoạt động công tác tư tưởng của các đơn vị tham gia chiến dịch đã kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ thi đua tìm tòi cách đánh có hiệu quả. Kết quả cuộc vận động phát huy dân chủ tìm tòi cách đánh B52 và các loại máy bay chiến thuật của đế quốc Mỹ đã cổ vũ lực lượng phòng không của cả ba thứ quân, nhất là bộ đội Phòng không – Không quân đề xuất được cách đánh mưu trí sáng tạo, khôn khéo của từng binh chủng, từng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật và đều tiêu diệt hoặc góp phần hạ gục con “át chủ bài” B52 của không quân Mỹ. Điển hình là bộ đội ra đa đã tập trung nghiên cứu phá thủ đoạn gây nhiễu nặng của địch làm “mù” ra đa của ta khi đội hình lớn của máy bay Mỹ đánh phá vào Hà Nội, Hải Phòng, góp phần quyết định vào thành công trong cách đánh chiến dịch. Bộ đội ra đa đã tập trung nghiên cứu, tổ chức hệ thống trạm đài liên hoàn hỗ trợ cho nhau canh trực theo dõi chặt chẽ mọi hành động của địch, phát hiện từ xa chính xác mọi loại máy bay của Mỹ ở các tầng cao, không để bị bất ngờ. Với Binh chủng tên lửa, hoả lực chủ yếu tiêu diệt B52 của địch trong chiến dịch này đã vận dụng cách đánh B52 theo phương pháp phóng đạn tập trung đã được tổng kết để bắn rơi tại chỗ máy bay B52 của địch. Với lực lượng phòng không đã triệt để khai thác tính năng kỹ thuật, chiến thuật của mọi loại vũ khí của thế trận phòng không nhân dân ba thứ quân để đánh loại máy bay F111A hiện đại của Mỹ, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ đánh máy bay chiến thuật, bảo vệ tốt các trận địa tên lửa và các mục tiêu khác cả ban ngày và ban đêm. Bộ đội không quân đã nêu cao ý chí tiến công, vận dụng kinh nghiệm các trận không chiến đã tổng kết, nghiên cứu việc cất cánh, hạ cánh, vượt qua hàng rào máy bay F4 bảo vệ các tốp B52, khắc phục nhiễu làm “mù” ra đa trên máy bay của ta để tiến công tiêu diệt “siêu pháo đài bay” B52 hoàn thành nhiệm vụ trở về căn cứ khi đánh đêm. Với cách đánh phù hợp của lưới lửa phòng không của chiến tranh nhân dân Việt Nam, có tầm thấp, tầm cao, phát hiện và đánh chặn từ xa đến gần, tập trung hoả lực mạnh bảo vệ mục tiêu chủ yếu và vận dụng linh hoạt, phát huy cao nhất tính năng, tác dụng của mọi loại vũ khí mà ta có, lực lượng Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt nhiều máy bay chiến thuật và bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay” B52 của Mỹ, giữ quyền chủ động trong quá trình chiến dịch, đập tan cuộc tập kích chiến lược lớn nhất của không quân Mỹ trong 12 ngày đêm của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

Bài học công tác tư tưởng rút ra từ đây là, cùng với việc giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâp chiến đấu của bộ đội, công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng phải đề cao dân chủ, động viên cán bộ, chiến sĩ phát huy trí tuệ, ra sức học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm cho bộ đội vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng vừa tinh thông kỹ, chiến thuật, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Trong điều kiện hiện nay, công tác tư tưởng phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống Bộ đội Cụ Hồ với giáo dục kiến thức văn hoá khoa học kỹ thuật, chiến thuật quân sự. Động viên cán bộ, chiến sĩ tiến quân vào khoa học kỹ thuật quân sự, ra sức học tập nâng cao bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ, chiến thuật, năng lực chủ vũ khí trang bị hiện đại. Kiên quyết phê phán, khắc phục tư tưởng bảo thủ, không chịu đi sâu vào khoa học – kỹ thuật, không thấy sự đổi mới về trang bị vũ khí, kỹ thuật tác động tới con người, tổ chức và cách đánh. Đồng thời cũng đề phòng khuynh hướng tư tưởng “thần thánh hoá” vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao của địch dẫn đến tự ti, mất lòng tin vào khả năng giành thắng lợi của ta.

3. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách, phát huy cao nhất sức mạnh, hiệu lực của công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là bài học tiến hành công tác tư tưởng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Thực tiễn cho thấy, trong quá trình diễn biến chiến dịch, công tác tư tưởng đã kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức đi sâu vào các mặt cụ thể như lập phương án kế hoạch chiến dịch, chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị hậu cần kỹ thuật bảo đảm tác chiến và mọi yếu tố cần thiết khác, tham gia vào việc rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật; tổ chức các phong trào thi đua nghiên cứu tìm tòi cách đánh; tuyên truyền tin chiến thắng, kinh nghiệm chiến đấu chống không quân địch…Công tác tư tưởng không chỉ là của cấp uỷ, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị mà trở thành công tác của mọi người, mọi tổ chức, của cả tập thể quân nhân từ tìm tòi cách đánh đến việc bảo đảm hậu cần kỹ thuật trang bị vũ khí, đạn dược, khí tài, tháo gỡ những khó khăn do điều kiện kinh tế – kỹ thuật quân sự của ta, bảo đảm đến mức cao nhất cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi.

Do kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức mọi lúc, mọi nơi, mọi giai đoạn tác chiến chiến dịch, nên trong những tình huống khó khăn, phức tạp đã bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ luôn thông suốt nhiệm vụ, nhất trí và có quyết tâm cao, tin tưởng vào thắng lợi, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, chấp hành mệnh lệnh và kỷ luật nghiêm, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Đơn vị nào cũng hoàn thành nhiệm vụ, binh chủng nào cũng lập được chiến công.

Bài học này chỉ ra rằng, công tác tư tưởng phải dựa vào các tổ chức, phát huy vai trò của các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng và bằng nhiều biện pháp để tiến hành giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Phải làm công tác tư tưởng với từng người, từng tổ chức, từng đơn vị theo từng nhiệm vụ. Trước hết phải phát huy sức mạnh của tổ chức lãnh đạo, tổ chức chỉ huy trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, đảng viên; chỉ rõ phương hướng hành động cho cán bộ, đảng viên. Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp phải luôn chủ động dự kiến tình hình tư tưởng kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để không bị động bất ngờ về tư tưởng trước những diễn biến nhanh chóng khẩn trương của các hình huống chiến dịch. Phải nắm chắc tình hình tư tưởng của bộ đội, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, năng lực nắm vững những quan điểm tư tưởng trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, mệnh lệnh của cấp trên, để khi tình hình có diễn biến phức tạp thì vẫn đủ sức chủ động lãnh đạo về mọi mặt, trước hết là lãnh đạo đúng đắn về chính trị – tư tưởng.

Cùng với việc tiến hành công tác tư tưởng trong tổ chức đảng phải lãnh đạo chỉ đạo các tổ chức quần chúng, phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, vận động quần chúng phát huy sáng kiến ra sức thi đua chiến đấu, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, chỉ thị mệnh lệnh của cấp trên, củng cố mối liên hệ mật thiết mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng. Nhận rõ vai trò xung kích của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ chức Đảng, cơ quan chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch đã coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm đoàn thanh niên thường xuyên vững mạnh, làm tốt việc giáo dục, động viên, tổ chức phong trào thành niên phát huy sáng kiến, cải tiến trang bị, vũ khí, tham gia vào việc nghiên cứu đề xuất cách đánh chống lại không quân Mỹ theo chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị. Trong chiến dịch này, phong trào thi đua “Vạch nhiễu tìm thù” đã được phát động trong toàn binh chủng ra đa đã hướng vào giải đáp thành công những câu hỏi khó khăn nhất, gay cấn nhất của đơn vị và binh chủng là nâng cao trình độ quan sát, phát hiện sớm máy bay của địch từ xa, phá thủ đoạn gây nhiễu làm “mù”ra đa của ta, không để bị bất ngờ, nhất là khi chúng đánh vào Hà Nội, Hải Phòng.

Thực tiễn chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh rằng, muốn phát huy sức mạnh, hiệu lực của công tác tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội, trước hết phải làm tốt công tác tư tưởng trong nội bộ tổ chức Đảng, làm từ trong Đảng ra đến các tổ chức quần chúng. Trong cuộc chiến đấu này, ta phải đương đầu với không quân Mỹ có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng khó khăn cũng chồng chất. Điều đó đặt ra yêu cầu mới, cách nhìn mới đối với công tác tư tưởng trong xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Phải xây dựng đơn vị vững chắc về tư tưởng. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ có phải có quyết tâm chiến đấu cao, không sợ hy sinh, không nề gian khổ để vượt qua mọi khó khăn thử thách. Yếu tố trang bị kỹ thuật và cách đánh rõ ràng là cực kỳ quan trọng trong sức mạnh chiến đấu. Nhưng không vì thế mà coi nhẹ nhân tố chính trị – tinh thần, coi nhẹ công tác tư tưởng. Vũ khí trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đaị, càng đòi hỏi cao ở bộ đội về phẩm chất chính tri – tinh thần. Chỉ có trên cơ sở giác ngộ chính trị cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng với tinh thần dũng cảm, kiên cường thì mới mưu trí, sáng tạo, tìm ra cách đánh tốt, mới giải quyết tốt các vấn đề về tổ chức, kỹ thuật, nghệ thuật quân sự…bảo đảm giành thắng lợi

Đại tá, TS Trần Ngọc Tuệ
Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự – BQP

——————————————————————————–

[1] .Tổng cục Chính trị, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945 – 1975, Nxb QĐND, Hà Nội, 1998,tr.534-535.

[2] . Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG,Hà Nội,1996, tr.465-466

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Linebacker-II: ‘Sai lầm ngay khi mới bắt đầu’

Sai lầm nối tiếp sai lầm khiến Mỹ phải trả giá đắt ở Việt Nam, cho sự liều lĩnh của phe diều hâu trong Nhà Trắng, dưới thời Tổng thống Nixon.

Robert O. Harder

(ĐVO) Trong cuốn hồi ký “Cuộc chiến 11 ngày” của  Robert O. Harder, cựu hoa tiêu dẫn đường trên máy bay ném bom B-52 tham gia chiến dịch Linebacker-II, tác giả thừa nhận và chỉ ra những sai lầm trong việc hoạch định chiến lược cũng như sử dụng B-52 trong chiến dịch không kích quy mô lớn nhất kể từ sau thế chiến thứ 2  này.

Cuốn hồi ký có đoạn: “Sau khi không thể thuyết phục Bắc Việt về bản dự thảo đàm phán hòa bình đầu tháng 10/1972. Tổng thống Richard Nixon đã ra lệnh cho Không quân Mỹ thực hiện cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam nhằm đạt được những lợi thế trên bàn đàm phán”.

“Linebacker-II đã là một sự thất bại ngay khi bắt đầu, nhiều người chúng tôi biết điều đó nhưng buộc phải hành động theo chỉ thị của cấp trên”.

Chỉ thị từ Tổng thống Nixon thực sự là một sự “bất ngờ” lớn đối với Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ SAC.

SAC dường như không đủ thời gian để chuẩn bị các kế hoạch dự phòng phù hợp với mục tiêu của chiến dịch Linebacker-II.

SAC đã áp dụng chiến thuật của các hoạt động ném bom hạng nhẹ dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh mà các máy bay B-52 đã thực hiện nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam trong chiến dịch Linebacker-II.

Tồi tệ hơn, trong gần 8 năm hoạt động ném bom dọc theo dãy Trường Sơn trong môi trường tương đối an toàn SAC đã trở nên tự mãn với những gì mình có và xem nhẹ mối đe dọa từ mặt đất.

>> Kéo SAM-2 lên đỉnh Trường Sơn trị AC-130

Các chỉ huy SAC nói với chúng tôi rằng: “B-52 đã được trang bị các thiết bị điện tử hiện đại nhất để miễn nhiễm với SA-2 và MiG-21 của Bắc Việt”. Nhưng ngay khi bước vào chiến dịch đó thực sự là nỗi kinh hoàng của chúng tôi. Stratofortress tỏ ra rất dễ bị tổn thương bởi tên lửa đất đối không dẫn hướng SAM-2.

Các máy bay B-52 tấn công vào Hà Nội đều bay cùng một tuyến đường, độ cao và lịch trình. SAC đã phải trả giá cho 34 B-52 bị bắn hạ tại Việt Nam.

SAC đã lập một kế hoạch “dở tệ” cho một chiến dịch quy mô lớn như Linebacker-II.

Tất cả các máy bay B-52 cất cánh từ căn cứ U-Tapao của Thái Lan hoặc căn cứ Andersen trên đảo Guam đều khởi hành từ cùng một điểm, cùng một kiểu điều hành bay, đội hình kiểu một khối, cùng một độ cao và khoảng cách giữa các đợt tấn công.

Đại úy Don Craig, phi công lái B-52 xuất phát từ căn cứ không quân Andersen đã chia sẻ: “Chúng tôi biết có những sai sót lớn trong kế hoạch, bắt đầu bằng việc các máy bay ném bom  tới từ cùng một địa điểm trên cùng một tuyến đường và nó đi thẳng xuống khu vực “Thud Ridge”(*), giống như con vịt trong trò chơi bắn súng”.

* Thud Ridge là biệt hiệu mà các phi công F-105 của Mỹ thường gọi khu vực Tam Đảo trong các hoạt động áp chế hệ thống phòng không Bắc Việt.

Đại úy Wilton Strickland nhân viên radar dẫn đường trên B-52 cất cánh từ căn cứ U-Tapao, Thái Lan đồng tình với quan điểm của đại úy Craig. “Với khoảng cách xa của chuyến bay, hệ thống phòng không Bắc Việt đã có nhiều thời gian để theo dõi và bắn các máy bay trước khi nó tiến vào khu vực mục tiêu. Họ biết rõ tuyến đường, độ cao, khoảng cách cũng như phương pháp tiếp cận của chúng tôi”. Đại úy Strickland nói

Thống kê B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội.

Một vấn đề nghiêm trọng khác là các nhà hoạch định kế hoạch của SAC bắt buộc các phi công phải thực hiện một động tác chống phá vỡ bằng cách chao cánh về bên phải sau khi ném hết bom. Đây là động tác được thực hiện sau khi ném bom hạt nhân. Động tác này là vô nghĩa và nó làm cho tốc độ của máy bay bị chậm lại và đặt B-52 vào tình thế nguy hiểm từ hệ thống phòng không của Bắc Việt.

Ngay đêm đầu tiên của chiến dịch, 3 B-52 đã bị bắn hạ (trùng với thống kê của Việt Nam), một tổn thất bất ngờ đối với SAC. Họ đã không thể ngờ được khả năng chống cự của hệ thống phòng không Bắc Việt lại mạnh mẽ như vậy.

SAC cũng không thể ngờ được Hà Nội lại có nhiều tên lửa đến vậy, theo phía Mỹ dự đoán, có khoảng 200 quả đã được bắn lên trong ngày đầu tiên.

Ngày thứ 3 của chiến dịch được coi là một “bi kịch” của SAC, 90 lần B-52 đã được huy động, 6 B-52 bị bắn rơi (phía Việt Nam ghi nhận Mỹ mất 7 máy bay trong ngày này). Sau 3 ngày, 9 B-52 đã bị bắn rơi (Việt Nam ghi nhận là 12 chiếc B-52 bị bắn rơi).

Tỷ lệ tổn thất lên đến 7% quá cao so với dự kiến của SAC. Tuy nhiên, Tướng John C. Meyer, Tư lệnh SAC quyết định tăng cường hơn nữa cường độ của các cuộc không kích và người Mỹ phải trả giá.

Đại úy Captain Strickland là người được giao nhiệm vụ vào ngày thứ 6 của chiến dịch đã may mắn quay trở về căn cứ an toàn. Ông đã tỏ ra rất phẫn nộ trong cuộc họp đánh giá sau đó: “Ai là người đã lập kế hoạch cho một chiến thuật ngu ngốc như thế? Đối phương đang sử dụng kế hoạch của chúng ta, cùng với sự chậm chạp trong triển khai và thu hồi đội hình để theo dõi và bắn chúng ta”

Tướng Glenn Sullivan, Tư lệnh Sư đoàn không quân số 17 đóng quân tại U-Tapao, Thái Lan đã có mặt và lắng nghe ý kiến của các phi hành đoàn nhưng việc thay đổi chiến thuật đã không được thực hiện. SAC đã không có đủ thời gian để khảo sát các tuyến bay mới và việc đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Tuyến đường B-52 đánh vào Hà Nội vẫn được giữ như cũ cho đến hết chiến dịch, chỉ có một thay đổi nhỏ là biến thể B-52G được trang bị hệ thống gây nhiễu mới nhưng điều  đó cũng không giúp SAC giảm số lượng B-52 bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội.

>> Vạch mặt ‘kẻ phá đám’ SAM-2: Chiến công thầm lặng của đơn vị trinh sát nhiễu
>> Giải mật bộ khí tài bắt B-52 lộ diện

Linebacker-II đã kết thúc sau 12 ngày không kích, Việt Nam không hề bị khuất phục. Linebacker-II đã diễn ra với một chiến thuật nghèo nàn và SAC đã phải trả giá đắt khi đánh giá thấp khả năng phòng không của Việt Nam.

>> Phòng không Việt Nam đối đầu với ‘sát thủ radar’ Mỹ
>> Hình ảnh phục dựng B-52, SAM-2, MiG-21
>> Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến

Quốc Việt
baodatviet.vn

Vạch mặt ‘kẻ phá đám’ SAM-2: Chiến công thầm lặng của đơn vị trinh sát nhiễu

Để có được chiến thắng vang dội trước cuộc tập kích bằng B-52 cuối tháng 12/1972, không thể không kể đến sự đóng góp “thầm lặng” của đơn vị trinh sát nhiễu.

(ĐVO) Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (12/1972-12/2012), Đất Việt đã có cuộc trò chuyện với Trung tướng Phan Thu – Nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu để hiểu rõ hơn vai trò của người lính trinh sát nhiễu trong kháng chiến Mỹ:

Sự ra đời của “Đội nhiễu”

Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, công nghệ radar được ứng dụng rộng rãi trong quân sự, nhằm giúp lực lượng phòng không các nước phát hiện, cảnh báo và đánh trả các cuộc tập kích đường không một cách hiệu quả. Nhìn xa hàng chục, hàng trăm kilomet, báo sớm các cuộc tấn công và chỉ rõ mục tiêu để hỏa lực phòng không tiêu diệt. Do đó, radar được ví với “mắt thần” của phe phòng phủ. Không chịu thua kém, phe tấn công tìm mọi biện pháp để bịt mắt, chọc mù những “đôi mắt” thần này. Một trong những biện pháp đó là hoạt động gây nhiễu.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam. Đế Quốc Mỹ rất coi trọng thủ đoạn gây nhiễu radar của ta. Đặc biệt, từ năm 1965, khi bộ đội phòng không Việt Nam được trang bị tên lửa SAM-2, địch thực hiện các thủ đoạn gây nhiễu một cách quyết liệt hơn.

Tất cả các loại radar của ta đều bị gây nhiễu bằng máy gây nhiễu tích cực và máy gây nhiễu tiêu cực lắp trên các chiến đấu cơ chiến thuật, máy bay ném bom của Không quân Mỹ. Phía ta ghi nhận, nhiều trường hợp thủ đoạn gây nhiễu của địch làm trắng màn hiện sóng radar, không thể xác định được mục tiêu để chỉ điểm cho phòng không đánh trả.

Những thủ đoạn của địch đã làm giảm đi hiệu suất chiến đấu của bộ đội tên lửa, trước tình hình đó đòi hỏi Quân chủng Phòng không – Không quân cần thiết thành lập Đội trinh sát nhiễu làm nhiệm vụ tìm hiểu tính năng kỹ thuật và thủ đoạn chiến thuật gây nhiễu của địch.

Trước tình hình mới, từ năm 1967, Liên Xô có đề nghị đưa sang Việt Nam một số thiết bị trinh sát điện tử và một đoàn cán bộ thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến tranh điện tử làm nhiệm vụ nghiên cứu tìm hiểu phương tiện của Mỹ. Bộ tư lệnh Quân chủng thành lập Đội nhiễu để phối hợp với bạn.

Ngày 10/1/1967, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân ký quyết định thành lập Đội nhiễu (thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng) do đồng chí Phan Thu làm đội trưởng. Đội nhiễu ban đầu chỉ có 34 đồng chí là các cán bộ, trắc thủ, thợ sửa chữa radar từ các đơn vị quân chủng điều về.

Trang bị của Đội trinh sát nhiễu gồm có: máy thu sóng m P-313, P-314, P-325; máy thu sóng dm và cm D1K; máy thu tín hiệu radar PC-1, PC-2, PC-3; các máy phân tích phổ của tín hiệu; máy ghi âm để ghi lại tín hiệu thu được và máy quay phim, chụp ảnh.

“Vạch mặt kẻ phá đám” SAM-2

Giai đoạn 1967-1968, để đối phó với đạn tên lửa của ta, máy bay Mỹ sử dụng máy gây nhiễu ALQ-71 mở rộng tần số gây nhiễu sóng 10cm trùm qua rãnh đạn tên lửa, làm cho đạn tên lửa của ta mất điều khiển.

Theo tổng kết, tên lửa của ta gặp phải ba trường hợp: đạn được phóng lên nhưng rơi tại chỗ, đạn không có điều khiển bay vọt lên cao tự nổ hoặc đạn không rời bệ phóng vì không bắt được tín hiệu điều khiển.

Thủ đoạn này của đối phương làm bộ đội tên lửa giảm đáng kể khả năng chiến đấu, đạn bắn lên rơi xuống đất rõ ràng không thể đối phó máy bay địch. Một yêu cầu được đặt ra, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ đặc điểm từng loại nhiễu để đề xuất các phương án cải tiến kỹ thuật. Trước tình hình đó, Đội nhiễu khẩn trương vào cuộc nghiên cứu phân tích để tìm ra và khắc phục.

“Thật may, tháng 5/1967 bộ đội tên lửa phòng không đã bắn rơi một chiếc F-4C của Không quân Mỹ và chúng tôi thu được một máy gây nhiễu ALQ-71 khá nguyên vẹn. Đây là một chiến lợi phẩm rất quý, có nó chúng ta có thể giải đáp được nhiều vấn đề về chống nhiễu trong đội hình đối với các loại máy bay chiến thuật của Không quân Mỹ”, Trung tướng Phan Thu kể lại.

“Kẻ phá đám” SAM-2 – máy gây nhiễu rãnh đạn AN/ALQ-71.

Sau đó, cán bộ kỹ thuật quân sự Việt Nam nhanh chóng triển khai công tác nghiên cứu, phân tích kỹ càng máy ALQ-71.

“Chúng tôi đã “mổ xẻ” ALQ-71 để nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ. Đèn phát máy ALQ-71 được nối điện theo đúng thông số kỹ thuật của nó để khảo sát tính năng điện của máy gây nhiễu. Sau khi nối điện để đèn phát nhiễu của máy ALQ-71 làm việc, chúng tôi đã đo được dải tần số phát ổn định của nó rất rộng, có thể trùm hết cả rãnh mục tiêu và rãnh đạn của đài điều khiển tên lửa”, Trung tướng Phan Thu nói.

Những thông tin quý giá do Đội nhiễu tìm ra được chuyển lên cấp Bộ Tư lệnh Quân chủng và chuyên gia Liên Xô. Ngay sau đó, thông tin này tiếp tục chuyển sang Moscow để các nhà khoa học Liên Xô cải tiến.

“Các nhà khoa học Liên Xô đã có bước cải tiến cơ bản, vừa điều chỉnh lệch tần số, vừa nâng cao công suất đèn phát tín hiệu trả lời của đạn về đài điều khiển. Nhờ vậy, tín hiệu trả lời của đạn vượt lớn hơn tín hiệu nhiễu, khiến máy gây nhiễu của Mỹ không thể rượt đuổi theo được do bị hạn chế về công suất phát. Từ đó, tất cả đạn tên lửa của ta đều được thay máy phát tín hiệu trả lời có công suất lớn hơn nhiều và nhiễu rãnh đạn bị chấm dứt từ đây”, Trung tướng Phan Thu cho biết.

Có thể nói, việc cải tiến chống nhiễu rãnh đạn cho đạn SAM-2 là một trong những bước cải tiến quan trọng. Việc khắc chế hoàn toàn nhiễu rãnh đạn giúp “rồng lửa Thăng Long” SAM-2 tiếp tục phát huy hiệu quả bắn rơi nhiều máy bay địch, trong đó có “pháo đài bay” B-52.

Tiểu sử Trung tướng Phan Thu

Trung tướng Phan Thu – nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn trinh sát nhiễu.

Trung tướng Phan Thu sinh ngày 16/6/1931 tại tỉnh Thà Khẹt (Lào). Sau Cách mạng tháng 8/1945, ông cùng gia đình trở về Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến 1946, ông tản cư về làng và làm nhiệm vụ giúp đỡ bà con, dạy bình dân học vụ, đi tuyên truyền kháng chiến. Ngày 6/1/1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5/1950, ông nhập ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được cử đi học Lục quân Khóa VI tại trường của ta đặt ở Vân Nam, Trung Quốc. Học xong, ông được giữa lại làm trợ giáo hai khóa 7-8.

Sau 1950, ông cùng đơn vị pháo binh 105mm về tham gia nhiều chiến dịch lớn của quân đội, như chiến dịch Hòa Bình. Năm 1954, ông được chuyển về phòng không, học pháo cao xạ trung cao 88mm của Liên Xô viện trợ tại Thẩm Dương (Trung Quốc).

Từ 1956-1967, ông làm trợ lý radar phòng huấn luyện Sư đoàn phòng không 367. Trong giai đoạn này, ngoài công tác huấn luyện cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu, ông cũng có những đề tài nghiên cứu cải tiến radar SON-9A bắt mục tiêu bay thấp, nâng công suất phát radar SON-9A…

Năm 1967, ông được bổ nhiệm làm Phó phòng Khoa học Quân sự rồi làm Đội trưởng Đội trinh sát nhiễu kiêm Phó phòng Quân báo.

Ngày 28/5/1970, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Khi đó, ông đang là Phó phòng Quân báo kiêm Đội trưởng Đội nhiễu và là Trưởng phòng Nghiên cứu Kỹ thuật Quân chủng Phòng không – Không quân.

>> Phòng không Việt Nam đối đầu với ‘sát thủ radar’ Mỹ
>> Những vật dụng ‘xa xỉ’ thời chiến
>> Hình ảnh phục dựng B-52, SAM-2, MiG-21
>> Điện Biên Phủ trên không: Phục dựng hình ảnh B-52, SAM-2, MiG-21
>> SR-71: Trinh sát của Mỹ, ‘chỉ điểm’ của VN
>> Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến
>> Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2

Phượng Hồng
baodatviet.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Argentina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

3. tong thong a1
Tổng thống nước Cộng hòa Argentina vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng thống nước Cộng hòa Argentina Cristina Fernandez de Kirchner sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 18-21/1/2013. Trong khuôn khổ chuyến thăm này, sáng 21/1/2013, Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao nước Cộng hòa Argentina đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Tổng thống nước Cộng hòa Argentina kính viếng.”

Chuyến thăm của Tổng thống Argentina Kirchner tới Việt Nam mang ý nghĩa rất lớn bởi hai nước đã đi qua chặng đường 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, con đường tuy chưa dài nhưng đã có nhưng bước tiến lớn. Quan hệ giữa hai nước đã ở một tầm cao mới, vì thế chuyến thăm nhân dịp này đã được cả hai bên đón chờ. Tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Argentina rất lớn, hai nước có những hoàn cảnh tương đồng nhưng đồng thời lại có khả năng bổ sung cho nhau, đặc biệt là có mục tiêu phát triển giống nhau.

3. tong tong a2
Tổng thống nước Cộng hòa Argentina đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam

Chuyến thăm lần này của Tổng thống nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, nông nghiệp, năng lượng, khoa học – công nghệ, y tế và giáo dục đào tạo. Đồng thời, tập trung trao đổi, hoạch định chính sách và thông qua những biện pháp để thúc đẩy các mối quan hệ này.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Điện Biên Phủ trên không: Phục dựng hình ảnh B-52, SAM-2, MiG-21

B-52, MiG-21 và tên lửa SAM-2 là các vũ khí chủ lực của Mỹ và Việt Nam tham chiến trong trận Điện Biên Phủ trên không, tháng 12/1972.

(ĐVO) Dưới đây là hình ảnh đồ họa và thông tin của B-52, MiG-21 và tên lửa SAM-2:

        

>> Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2
>> S-300 sẵn sàng bảo vệ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

>> Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52′ trong bảo tàng Hà Nội
>> Phòng không Việt Nam và xu hướng thế giới

>> Đảm bảo tác chiến điện tử cho phòng không – không quân
>> VN phát triển phần mềm mô phỏng tên lửa S-75M3
>> Tiêm kích Su-30MK2V huấn luyện bay đêm
>> Bí quyết khắc chế ‘bóng ma’ AC-130 của Việt Nam
>> Việt Nam biến C-130 thành máy bay ném bom bảo vệ Trường Sa

Đồ họa: Lê Long, Nội dung: Lê Nam, Tuấn Linh, Quốc Tuấn, Trường Sơn
baodatviet.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật quân sự

Kỷ luật quân sự được hiểu là một hình thức đặc biệt của kỷ luật mà đặc trưng của nó được quyết định bởi tính chất của hoạt động quân sự. Kỷ luật quân sự đòi hỏi những người thực hiện nghĩa vụ quân sự tính tập trung, chính xác, tinh thần chấp hành triệt để vô điều kiện, tự chủ, kịp thời, nhanh chóng thực hiện tốt nhất mệnh lệnh, chỉ thị của người chỉ huy. Khi nói về ý nghĩa của kỷ luật với tư cách là một phương tiện quan trọng nhằm nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội, V.I.Lênin viết: “Nếu suy nghĩ đến cùng, do nguyên nhân sâu xa mà có được cái kỳ tích lịch sử là một nước suy yếu, bị kiệt quệ và lạc hậu lại chiến thắng được những nước hùng cường nhất thế giới, thì chúng ta thấy nguyên nhân đó là chế độ tập trung, kỷ luật và tinh thần hy sinh chưa từng có” [i].

Là người khai sinh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bác luôn dày công chăm lo, rèn luyện và giáo dục quân nhân trong mọi lĩnh vực, nhất là tính kỷ luật. Kế thừa một cách khoa học, sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, trong quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Bác chỉ rõ: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” [ii] hay “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh” [iii]Trong nội dung xây dựng kỷ luật quân đội, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ phải chăm lo xây dựng kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Kỷ luật ấy phải xuất phát từ tính tự giác, tự nguyện của từng cá nhân và của cả tập thể.

Đối với Bác, để có kỷ luật tốt, trước tiên phải nâng cao trình độ tri thức về mọi phương diện cho cán bộ, chiến sĩ. Trong một lá thư gửi bộ đội, Bác dạy: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn. Võ như tay phải, văn như tay trái của quân nhân. Muốn biết thì phải thi đua học…” [iv].

Trong công tác giáo dục kỷ luật quân sự, Bác đặc biệt quan tâm đến giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho sĩ quan, đặc biệt là cán bộ chủ trì đơn vị. Nói chuyện với đại biểu quân đội nhân dịp Tết Đinh Dậu, Bác nhắc nhở:“Trong quân đội cách mạng, cán bộ gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.

Về phương pháp thực hành kỷ luật, Bác nhấn mạnh việc dùng vũ khí phê bình và tự phê bình trong việc quản lý và duy trì chấp hành kỷ luật. Bác dạy: “Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê bình và tự phê bình, phải biết kỷ luật”Phương pháp nêu gương được Bác coi là biện pháp hữu hiệu để hướng dẫn các hành vi về đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật cao. Trước hết là sự gương mẫu về hành vi kỷ luật của cán bộ sĩ quan. Theo Bác: “Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện tập lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm  gương”.

Để duy trì kỷ luật, thưởng và phạt là quan trọng và cần thiết nhằm động viên trong mọi người giữ nghiêm kỷ luật. Trong quốc lệnh tháng 1-1946, Bác yêu cầu: “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì  không giữ vững kỷ luật. Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết. 

Một phương pháp quản lý và thực hành kỷ luật có hiệu quả nhất theo lời dạy của Bác,  là từng người phải tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật nghiêm của quân đội, mệnh lệnh chỉ thị của người chỉ huy. Bác nhắc nhở cán bộ: “…Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh. Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng… Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm ngày càng nhiều… Mình phải tự đấu tranh với mình”.

Những tư tưởng của Người về xây dựng quân đội nói chung và tư tưởng về kỷ luật quân sự nói riêng luôn là kim chỉ nam cho quá trình nhận thức và thực hiện các nhiệm vụ của quân đội ta trong suốt chặng đường gần 70 năm qua.

Ths. Nguyễn Văn Công
Đồng Nai


[i] V.I. Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, 1978, tr.279.  [ii] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 1996, tr.341. [iii] Sđd, tập6, tr.560.  [iv] Sđd, tập 5, tr.588.

xaydungdang.org.vn