Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Hạ B52 rơi xuống Ngọc Hà

QĐND-Một sáng đầu đông, chúng tôi đến thăm bác Phạm Văn Chắt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285, Sư đoàn 363 (Quân chủng Phòng không-Không quân) – người trực tiếp chỉ huy phân đội bắn chiếc máy bay B-52 rơi xuống làng Ngọc Hà.

Ngôi nhà bác Chắt nằm trên một con phố nhỏ thuộc khu A, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương. Từ lâu, nơi đây đã trở thành điểm đến của nhiều bạn hữu, của những người muốn tìm hiểu về cách đánh B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm cách đây 40 năm.

Đưa cho chúng tôi xem tấm ảnh kíp chiến đấu rút gọn trong trận đánh B-52 của Tiểu đoàn 72 năm xưa, giọng ông bỗng trở nên hào sảng:

“Tháng 4-1972, tôi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72. Biết được thủ đoạn của đế quốc Mỹ, đơn vị chủ động vừa huấn luyện vừa chiến đấu, trong đó tập trung vào tìm cách đánh B-52.

Rạng sáng ngày 23-12, Tiểu đoàn 72 đang chiến đấu ở Hải Phòng thì nhận được lệnh hành quân về trận địa Đại Chu-Yên Phong-Bắc Ninh để bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Bằng kinh nghiệm 7 năm chỉ huy đơn vị hành quân chiến đấu bắn máy bay Mỹ trên nhiều địa hình ven biển, rừng núi, đồng bằng, tôi đã tổ chức chỉ huy đơn vị nhanh chóng thu hồi khí tài hành quân theo phương châm: “Đi nhanh, đến đủ, trụ vững, đánh thắng, đơn vị an toàn”.

Đêm 27-12 là đêm thứ 10 của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Mỹ tiếp tục sử dụng nhiều tốp B-52 và máy bay chiến thuật tiếp tục đánh hủy diệt Hà Nội. Tiểu đoàn 72 được lệnh đánh B-52.

Nhận mệnh lệnh, tôi chỉ huy kíp chiến đấu chọn tốp 491. Sư đoàn vừa thông báo B-52 bắt đầu xuất hiện thì đài 1 của đơn vị đã bắt được tốp 491. Lúc này, tôi dùng đài 2 mở máy thu nhiễu. Nhiễu của B-52 rất mạnh. Chính cái mạnh là cái yếu của nó. B-52 to, nặng, cồng kềnh không thay đổi đường hướng cơ động nên dải nhiễu rất ổn định.

CCB Phạm Văn Chắt bên chiếc động cơ máy bay B-52 trưng bày tại Nhà truyền thống Trung đoàn 285 (Đoàn Nam Triệu). Ảnh chụp lại.

Tôi lệnh cho 3 trắc thủ bám sát chính xác mục tiêu, chọn phương pháp bắn vượt trước nửa góc và xác định cự ly phóng hợp lý. Khi B-52 vào tầm bắn hiệu quả, tôi ra lệnh cho sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng phóng kịp thời 2 rồng lửa xé màn đêm bay lên lao thẳng vào B-52. Bất ngờ trúng đạn, pháo đài bay của Mỹ nổ tung rơi xuống quận Ba Đình-Hà Nội khi chúng chưa kịp cắt bom tàn phá Thủ đô. Lúc đó là 23 giờ 3 phút đêm 27-12-1972.

Sáng 28, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến tận vị trí máy bay B-52 rơi để thị sát. Thân máy bay B-52 rơi ở hồ Hữu Tiệp, phường Ngọc Hà, đuôi và cánh rơi trên đường Hoàng Hoa Thám vườn Bách Thảo, cạnh Phủ Chủ tịch. Hai động cơ B-52 rơi ở vườn nhà dân tại tổ 51, Ngọc Hà.

Sau khi tai nghe mắt thấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khen: “Đây là trận đánh thắng B-52 của bộ đội tên lửa Việt Nam thật đặc biệt xuất sắc mà Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 đã thực hiện được”. Xuất sắc là vì đơn vị bắn trúng mục tiêu pháo đài bay B-52 làm rơi tại chỗ và bắt sống được giặc lái. Đặc biệt là đơn vị đã đánh trúng địch trước khi chúng cắt bom.

Ngay sau chiến thắng, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 72 và nhân dân Đại Chu được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng “thưởng nóng” một con bò để đơn vị và nhân dân liên hoan. Trong niềm vui ấy, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 72 và nhân dân Đại Chu cùng cất cao bài ca chiến thắng. Bài ca đó được viết: “Trận địa Đại Chu ghi chiến tích/ Rồng lửa Nam Triệu phóng chẳng sai/ Pháo đài bay Mỹ rơi tại chỗ/ Ngọc Hà, Hữu Tiệp thấy tận nơi.”

TRỊNH VĂN DŨNG
qdnd.vn

Chiến tranh Việt Nam là như thế đó

QĐND-Thượng tướng Khiu-pê-nen A-na-tô-li I-va-nô-vích sinh ngày 25-5-1928 tại thành phố Xanh Pê-téc-pua trong một gia đình công nhân. Ông đã trải qua cuộc đời phục vụ quân ngũ từ chức vụ chỉ huy trung đội đến chức vụ Tư lệnh tập đoàn quân phòng không độc lập, Tư lệnh Binh chủng tên lửa phòng không của Liên Xô. Từ tháng 12-1972 đến tháng 1-1975, ông là Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng tôi trích đăng hồi ký “Chiến tranh Việt Nam là như thế đó” của ông, đoạn nói về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày 14-12-1972, tôi đáp máy bay sang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau suốt một ngày đêm bay một mạch bằng máy bay IL-18 theo lộ trình Mát-xcơ-va – Ta-sken – Đê-li – Can-cút-ta – Răng-gun – Viêng Chăn – Hà Nội, đến sáng ngày 15-12, chúng tôi đã tới sân bay Gia Lâm. Trên dọc đường, chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy những hành động dã man của đế quốc Mỹ. Ngay từ những giờ đầu tiên có mặt ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những gì được nhìn thấy đã buộc tôi phải đánh giá theo cách mới đối với quan niệm về cuộc xung đột vũ trang ở Đông Nam Á.

Trước khi diễn ra chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II” của không quân Mỹ, phía Việt Nam đã thực hiện một loạt biện pháp: Sắp xếp lại các đơn vị quân đội; hoàn thiện công tác kỹ thuật xây dựng các trận địa và khâu ngụy trang các trận địa; các đơn vị và các phân đội chiến đấu đã trải qua thực tiễn chiến đấu tại Quân khu 4…

Các khâu chuẩn bị tổ chức và tác chiến đều được thực hiện theo đúng các luận điểm cơ bản của học thuyết chiến tranh nhân dân: Dùng lực lượng ít để thắng kẻ địch có ưu thế về số lượng; kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh thông thường, kết hợp chặt chẽ hoạt động chiến đấu của quân chính quy với hoạt động chiến đấu của quân địa phương và dân quân tự vệ. Do đó, nhiệm vụ của bộ đội tên lửa phòng không, của bộ đội pháo cao xạ, của không quân tiêm kích là tiêu diệt địch, bảo toàn lực lượng của mình.

Ngày 16-12, chúng tôi đã được cảnh báo về khả năng địch tiến hành các đòn oanh tạc, đến ngày 17-12 đã xác định được chính xác thời gian diễn ra đợt oanh tạc thứ nhất.

Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, Đại tá Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng) đã triệu tập tất cả các sĩ quan chỉ huy sư đoàn và trung đoàn tại Sở chỉ huy trung tâm và giao nhiệm vụ chiến đấu. Nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội tên lửa phòng không là tiêu diệt các máy bay ném bom B-52. Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu không phải là phòng thủ cơ sở, tức là không để địch đánh phá cơ sở, mà chủ yếu là bắn rơi máy bay. Nhiệm vụ của không quân tiêm kích là chỉ hành động bằng những lực lượng thường trực.

Buổi chiều tối ngày 18-12, đã vang lên còi báo động máy bay địch. Không quân Mỹ đã mở đầu chiến dịch trên không mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” bằng một trận bắn phá ồ ạt mà lực lượng nòng cốt của trận bắn phá này là máy bay ném bom chiến lược B-52.

Vào lúc 12 giờ ngày 19-12, chúng tôi đã sơ bộ tổng kết cuộc đánh trả của phòng không-không quân của Việt Nam. Tổng cộng đã bắn rơi 5 máy bay: Hai chiếc B-52, hai chiếc F4, một chiếc F111.

Chúng tôi đã tiến hành phân tích cặn kẽ các hoạt động tác chiến, nêu lên những điểm tích cực cũng như những điểm thiếu sót trong hoạt động của sở chỉ huy và của các khẩu đội binh chủng phòng không-không quân, đưa ra những đề xuất, đặc biệt trong vấn đề điều khiển của các khẩu đội thuộc sở chỉ huy của các trung đoàn.

Cuộc chiến trên không của Mỹ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bước vào giai đoạn mới. Trên thực tế, Mỹ đã tung ra tất cả những lực lượng không quân và hải quân hiện có của Mỹ ở Đông Nam Á để chống lại Việt Nam. Các hoạt động tác chiến của lực lượng không quân Mỹ diễn ra hồi tháng 12-1972 là đỉnh điểm của toàn bộ cuộc chiến trên không của Mỹ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô Khiu-pê-nen và phi công Phạm Tuân ở sân bay Nội Bài ngày 28-12-1972. Ảnh: Sách “Chiến tranh Việt Nam là như thế đó”.

Theo ý đồ của ban lãnh đạo chính trị-quân sự của Mỹ thì những cuộc giội bom dữ dội và ồ ạt vào Thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và vào những thành phố khác thuộc các tỉnh trung tâm phải làm suy sụp tinh thần, bẻ gãy ý chí kháng cự của nhân dân Việt Nam và qua đó buộc ban lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ký hiệp định theo những điều kiện có lợi cho Mỹ.

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu chính trị cơ bản, bộ chỉ huy của Mỹ tại chiến trường đã thực hiện từ ngày 18 đến ngày 30-12-1972 chiến dịch tấn công từ trên không được hoạch định kỹ lưỡng, với việc điều động tất cả lực lượng không quân: Không quân chiến lược, không quân chiến thuật và máy bay của hải quân. Tổng cộng trong chiến dịch này đã huy động hơn 800 máy bay chiến đấu, trong đó có 83 máy bay ném bom chiến lược B-52, 36 máy bay chiến thuật F111, 54 máy bay của hải quân A-7D đã có sẵn tại khu vực chiến trường. Một bộ phận lực lượng thuộc Hạm đội 7 đã được huy động để bảo đảm chiến dịch trên không này.

Trong cuộc đấu này, người thắng là bộ đội phòng không Việt Nam.

Tuy nhiên, các chuyên gia quân sự Liên Xô cũng đã đóng góp phần to lớn vào thắng lợi của Việt Nam. Họ đã anh dũng và hy sinh quên mình trong khi thực hiện nghĩa vụ quân nhân để giúp nhân dân Việt Nam theo tinh thần quốc tế chủ nghĩa.

Theo các số liệu của Tổng cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, thì từ ngày 11-7-1965 đến ngày 31-12-1974, đã có 6.359 sĩ quan và tướng lĩnh và hơn 4.500 binh sĩ và hạ sĩ quan của các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam. Tổn thất về người trong thời gian đó là 13 người, trong đó 4 người hy sinh trên các trận địa chiến đấu.

Đã có 2.190 quân nhân Liên Xô được tặng các phần thưởng nhà nước của Liên Xô, đã có hơn 3000 chuyên gia quân sự Liên Xô được tặng thưởng các huân chương và huy chương của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bìa cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam là như thế đó”. Ảnh: TRUNG NGUYÊN.

Trong đợt đánh trả chiến dịch trên không mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” Đại tá C.X.Ba-ben-cô (sau này là Trung tướng), trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô bên cạnh Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam đã thiết lập được những quan hệ mang tính chất hết sức cầu thị, thân hữu và đầy tin cậy với vị Tư lệnh Phòng không-Không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tá Lê Văn Tri. Thông thường, những khuyến cáo của ông đều luôn luôn được chấp nhận và thực hiện. Về phần mình, ông Ba-ben-cô luôn được phía Việt Nam cung cấp kịp thời những tin tức chính xác tạo điều kiện cho các chuyên gia Liên Xô đưa ra những đề xuất đáp ứng tình hình mới xuất hiện.

Kỹ sư trưởng về tên lửa phòng không, Đại tá M.E.Xa-pen-cô đã có những cố gắng to lớn. Duy trì khí tài trong tư thế sẵn sàng chiến đấu trong những điều kiện của Việt Nam, nhất là trong thời gian tác chiến-đó là nhiệm vụ vô cùng phức tạp. Trong quá trình hiện đại hóa các khí tài đã có sự tham gia của Đại tá M.E.Xa-pen-cô. Ông đã quy định chế độ kiểm tra gắt gao đối với chất lượng những sự cải tiến. Các khí tài chỉ được chuyển giao cho phía Việt Nam sau khi đã có quyết định phê chuẩn của Đại tá Xa-pen-cô.

Thiếu tướng không quân, Anh hùng Liên Xô M.I.Phê-xen-cô được cử làm Trưởng nhóm chuyên gia không quân Liên Xô bên cạnh Tư lệnh không quân Việt Nam. Đồng chí Phê-xen-cô cũng được các phi công Quân đội nhân dân Việt Nam rất tín nhiệm. Nhiệm vụ chủ yếu của ông là đào tạo các phi công chiến đấu và các kíp sĩ quan cho sở chỉ huy. Theo thông lệ, trong các trận không chiến phần thắng thuộc về các phi công Việt Nam. Tháng 12-1972, Mỹ đã bị tổn thất 7 máy bay trong các trận không chiến, phía Việt Nam chỉ bị tổn thất 3 chiếc.

Tôi đã giữ liên lạc thường xuyên với Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài. Về cơ bản, chúng tôi đã cùng đồng chí Tài giải quyết mọi vấn đề về hợp tác kỹ thuật-quân sự. Trường hợp giải quyết những vấn đề phức tạp nhất thì chúng tôi gặp Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng Văn Tiến Dũng, thỉnh thoảng có gặp Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thông thường, trước khi bước vào thảo luận, các vấn đề được nghiên cứu kỹ lưỡng và chỉ sau đó mới đưa ra quyết định.

Cả trong thời gian yên tĩnh, hoạt động của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô cũng rất căng thẳng. Cần tiến hành phân tích sâu sắc các hoạt động tác chiến của Quân chủng Phòng không-Không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, thu thập một khối lượng lớn các số liệu về các trận đánh của bộ đội phòng không và về các trận không chiến, về tổ chức, lập kế hoạch, chỉ huy các phân đội, các đơn vị và các liên đội thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân, về hoạt động và khả năng của lực lượng không quân Mỹ ở Đông Nam Á, đánh giá tình hình và đề ra những đề xuất cụ thể không chỉ đối với phía Việt Nam, mà cả đối với Binh chủng phòng không Liên Xô.

Thượng tướng KHIU-PÊ-NEN (ĐÀO TẤN ANH – NGUYỄN ĐẶNG NGUYÊN (dịch)
qdnd.vn

4 tàu sân bay Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam

Trong chiến tranh Việt Nam, Hải quân Mỹ đã huy động gần 20 tàu sân bay thay nhau làm nhiệm vụ thực hiện các chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc.

>> Chuyên đề: Cha ông ta đánh giặc

Chiến tranh Việt Nam được xem là nơi tập trung nhiều tàu chiến của Mỹ nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Khi đó, 20 tàu sân bay thay nhau làm nhiệm vụ trực chiến.

Vào những lúc cao điểm của các chiến dịch leo thang đánh phá miền Bắc, ngoài khơi vịnh Bắc Bộ có tới 4 tàu sân bay đẳng cấp của Mỹ thay nhau thực hiện các cuộc không kích với cường độ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Trong số các tàu sân bay đã tham chiến tại chiến trường Việt Nam có 4 tàu sân bay thực hiện nhiệm vụ lâu nhất, thực hiện nhiều cuộc không kích nhất đó là các tàu sân bay USS-Enterprise (CVN-65), USS Coral Sea (CV-43), USS-Oriskany (CV-34), USS-Midway (CV-41).

Đây đều là những tàu sân bay đẳng cấp nhất thời đó, nhất là tàu sân bay USS-Enterprise. Đến nay, ngoại trừ tàu sân bay lớp Nimizt không có tàu sân bay nào trên thế giới có thể so sánh được với tàu sân bay USS-Enterprise.

USS-Enterprise (CVN-65)

USS-Enterprise (CVN-65) lớp Kitty Hawk đây là tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên của Mỹ tham gia vào một cuộc chiến tranh thực tế.

Tàu được đưa vào biên chế trong Hải quân Mỹ vào ngày 25/11/1961, tại thời điểm đó, USS-Enterprise (CVN-65) được xem là tàu sân bay số 1 thế giới thời kỳ đó. Đây là nền tảng cho sự ra đời của các siêu tàu sân bay lớp Nimizt.

USS-Enterprise trong chiến tranh Việt Nam. Dòng chữ E=mc2 ám chỉ tàu sân bay này chạy bằng năng lượng hạt nhân.

Tàu sân bay USS-Enterprise có khả năng mang 90 máy bay các loại trong đó có 70 máy bay chiến đấu cánh cố định. USS-Enterprise tham chiến tại chiến trường Việt Nam vào tháng 11/1965, ngay ngày đầu tiên tham chiến, tàu sân bay này đã thực hiện 125 phi vụ tấn công, ném hơn 151 tấn bom đạn vào các căn cứ của quân giải phóng gần khu vực Biên Hòa.

Trong quá trình tham chiến tại Việt Nam, tàu sân bay này gặp phải một tai nạn khá lớn. Một quả tên lửa MK-32 Zuni gắn trên chiếc F-4 Phantom chuẩn bị thực hiện không kích miền Bắc Việt Nam đã bị phát nổ gần khu vực nhà ăn.

Vụ nổ đã thiêu rụi 15 chiếc máy bay, 27 người thiệt mạng và 314 người bị thương, thiệt hại gây ra cho boong tàu khá lớn. Tàu buộc phải kéo đến Trân Châu Cảng để tiến hành sửa chữa, đầu tháng 3/1969 tàu sân bay USS-Enterprise tiếp tục trở lại vịnh Bắc Bộ và tham gia vào các chiến dịch phá hoại miền Bắc

Đến 30/7/1971, tàu sân bay USS-Enterprise đã thực hiện tổng cộng hơn 2001 phi vụ không kích trong các chiến dịch theo lang đánh phá miền Bắc, cũng như thực hiện các phi vụ hỗ trợ cho lực lượng mặt đất của thủy quân lục chiến Mỹ trên chiến trường miền Nam.

Đến cuối năm 1972, tàu sân bay này lại được huy động tham gia chiến dịch Linebacker-II (Điện Biên Phủ trên không).

Những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, tàu sân bay này tiếp tục được huy động tham gia hỗ trợ cho cuộc di tản khỏi Sài Gòn vào cuối tháng 4/1975.

USS-Midway (CV-41)

USS-Midway (CV-41) lớp Midway, là tàu sân bay của Mỹ tham chiến sớm nhất tại chiến trường Việt Nam.

Tháng 3/1965, tàu sân bay USS-Midway được lệnh rời cảng Alameda đến Việt Nam, tháng 4/1965, tàu sân bay này chính thức tham gia vào sự kiện vịnh Bắc Bộ.

Một chiếc A-6 đang cất cánh làm nhiệm vụ ném bom miền Bắc Việt Nam từ tàu sân bay của Mỹ.

Một chiếc F-4B Phantom do Trung tá Batson cất cánh từ tàu sân bay này đã bắn rơi một chiếc MiG-17 của Việt Nam đây được xem là chiến thắng đầu tiên trước máy bay chiến đấu Mig tại chiến trường Việt Nam.

Năm 1969, tàu sân bay USS-Midway quay trở lại cảng Alameda để tiến hành công tác bảo trì và hiện đại hóa. Tháng 4/1971, tàu sân bay này tiếp tục quay trở lại chiến trường Việt Nam.

Trong suốt quá trình tham chiến tại Việt Nam, bay USS-Midway đã thực hiện tổng cộng 11.900 phi vụ tấn công trên khắp Việt Nam. Ngoài việc triển khai máy bay chiến đấu, tàu sân bay này còn tham gia vào các hoạt động rải mìn tại các khu vực cửa biển tại miền Bắc Việt Nam.

Cuối tháng 4/1975, tàu sân bay này tiếp tục được huy động tham gia các hoạt động hỗ trợ di tản khỏi Sài Gòn. Tàu sân bay USS-Midway chính thức ngưng hoạt động vào ngày 11/4/1992.

USS-Oriskany (CV-34)

Tàu sân bay USS-Oriskany thuộc lớp Essex, cũng là một trong những tàu sân bay tham chiến sớm nhất tại chiến trường Việt Nam. USS-Oriskany tham gia các chiến dịch không kích miền Bắc Việt Nam ngay sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1965.

Tháng 4/1965, tàu sân bay này đến Việt Nam cùng với số lính thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Nhiệm vụ ban đầu của tàu sân bay này là tiến hành các hoạt động hỗ trợ cho quân lực VNCH đối phó với các hoạt động gia tăng của lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong suốt chiến tranh Việt Nam, tàu sân bay USS-Oriskany đã thực hiện tổng cộng 12.000 phi vụ không kích trên khắp Việt Nam, với hơn 9.100 tấn bom đạn được ném xuống đất nước ta.

Tàu sân bay USS-Oriskany được đặc biệt chú ý bởi sự kiện trung tá phi công Jonh McCain bị bắn hạ khi lái một chiếc A-4 Skyhawk thực hiện nhiệm vụ ném bom trên bầu trời Hà Nội năm 1967. Ông bị bắt làm tù binh và được trả tự do vào năm 1973 sau hiệp định Paris. Hiện nay ông là một trong những thượng nghị sỹ có uy tín tại Thượng viện Mỹ và có thiện chí với Việt Nam.

Trong quá trình tham gia chiến tranh Viêt Nam, tàu sân bay USS-Oriskany cũng gặp phải sự cố phát nổ vũ khí tương tự như tàu sân bay USS-Enterprise. Vụ nỗ làm 44 người thiệt mạng trong số đó có rất nhiều phi công vừa thực hiện cuộc tấn công ném bom miền Bắc vài giờ trước đó.

Ngày 17/5/2006, tàu sân bay USS-Oriskany bị đánh chìm ngoài khơi bờ biển Florida để tạo dãy san hô nhân tạo, một trong những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc khôi phục các rặng san hô đang ngày một chết dần.

Tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Biên tập, dựng hình: Hà Tiệp

USS Coral Sea (CV 43)

Tàu sân bay USS Coral Sea (CV 43) thuộc lớp Midway, tàu sân bay này chính thức tham chiến tại chiến trường Việt Nam vào tháng 2/1965. Tàu sân bay này đã chứng minh được khả năng thực hiện các nhiệm vụ trong điều kiện thời tiết xấu.

Cuộc không kích đầu tiên của các máy bay trên tàu sân bay này diễn ra gần thành phố Đồng Hới, Quảng Bình trong chiến dịch trả đũa cho cuộc tấn công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam vào khu vực đóng quân của Mỹ ở Pleiku.

Ngày 2/3/1965, tàu sân bay USS Coral Sea chính thức mở màn chiến dịch Sấm Rền đánh phá ác liệt các mục tiêu tại miền Bắc Việt Nam. Với sự xuất hiện của máy bay cường kích F-105 Thunderchiefs (Thần Sấm), và biến thể F-105G Wild Weasels “Chồn hoang” đã thực hiện các cuộc không kích với cường độ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Nhằm bảo vệ cho phi đội ném bom trước các hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam. Không quân Mỹ đã sử dụng chiến thuật SEAD (áp chế phòng không không quân đối phương, >> chi tiết) trong chiến tranh hiện đại với sự xuất hiện của F-105G và tên lửa chống radar AGM-45 Shrike tại chiến trường Việt Nam. Từ đó đến này SEAD trở thành một nhiệm vụ chủ đạo trong bất kỳ chiến dịch không kích nào.

>> Chiến thuật chế áp phòng không hiện đại (kỳ 1)
>> Chiến thuật chế áp phòng không hiện đại (kỳ 2)

Trong chiến dịch Sấm Rền kéo dài từ 2/3/1965-1/11/1968, chỉ tính riêng Hải quân và thủy quân lục chiến Mỹ đã thực hiện tổng cộng 152.399 phi vụ tấn công. Tổng số bom đạn mà Mỹ ném xuống trong chiến dịch này lên đến 643.000 tấn, nhiều hơn bất kỳ cuộc chiến tranh nào từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Tổng cộng có gần 900 máy bay của Mỹ bị bắn hạ trong chiến dịch.

Kể từ sau chiến dịch Sấm Rền, tàu sân bay USS Coral Sea còn quay trở lại nhận nhiệm vụ tại chiến trường Việt Nam thêm 7 lần nữa. Chỉ tính riêng năm 1972, tàu sân bay này đã thực hiện tới 4.833 phi vụ tấn công trên khắp Việt Nam.

Cuối tháng 4/1975, tàu sân bay này tiếp tục tham gia hỗ trợ cuộc di tản khỏi Sài Gòn, ngày 26/4/1990, tàu sân bay USS Coral Sea chính thức ngưng hoạt động. Trung Quốc từng tìm cách để mua lại tàu sân bay này, tuy nhiên Tòa án Liên bang Mỹ đã ra lệnh cấm bán tất cả các tàu sân bay ngưng sử dụng ra nước ngoài. Tàu sân bay USS Coral Sea chính thức bị đánh chìm vào 8/9/2000.

Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, quân và dân Việt Nam không chỉ phải đối đầu với lực lượng quân sự khổng lồ của Mỹ với hơn nữa triệu thủy quân lục chiến trên chiến trường miền Nam, cùng với hơn 1 triệu binh lính của quân lực VNCH mà còn phải đối đầu với áp lực rất lớn đến từ 20 tàu sân bay đẳng cấp của Mỹ ngoài khơi vịnh Bắc Bộ thay nhau thực hiện các chiến dịch đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Song với tinh thần quả cảm, không hề nao núng quân và dân Việt Nam đã chiến đấu một cách ngoan cường, bẻ gãy sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris rút quân về nước.

>> Tác động tàu sân bay Trung Quốc tới biển Đông
>> Mạng Trung Quốc: ‘Việt Nam lo lắng trước tàu sân bay?’
>> Dân mạng Trung Quốc đánh giá hạm đội tàu ngầm Việt Nam

>> ‘Bom thông minh’ trong chiến tranh Việt Nam
>> Người hẹn giờ cho những chiến công

Quốc Việt
baodatviet.vn

Chuyện “khan hiếm” đạn tên lửa đánh máy bay B52

QĐND-Trung tướng Lương Hữu Sắt, nguyên Cục trưởng Cục Vũ khí đạn, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kể: Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, kỷ niệm sâu sắc nhất với ông là vấn đề bảo đảm đạn tên lửa cho các đơn vị. Đạn tên lửa phòng không của ta hầu hết do Liên Xô giúp đỡ. Trước khi sử dụng loại đạn này, chúng ta phải đưa qua một dây chuyền lắp ráp khá phức tạp và tốn nhiều thời gian. Trước ngày 18-12-1972, các đơn vị tên lửa vẫn có một số đạn dự trữ, nhưng không đáng kể. Chuẩn bị cho chiến dịch, các tiểu đoàn tên lửa được trang bị 2 cơ số đạn với các tham số kỹ thuật của các dây chuyền sản xuất đạn có hệ số kỹ thuật tốt nhất. Để phục vụ cho các trận địa ở Hà Nội, Hải Phòng, có hai đơn vị, hai dây chuyền sản xuất đạn.

Từ ngày 18, 19 tháng 12 năm 1972 trở đi, các dây chuyền sản xuất đạn được bổ sung cán bộ, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, nhiệt tình, trách nhiệm liên tục thay nhau sản xuất cả ngày lẫn đêm để kịp có đạn cho bộ đội chiến đấu. Kế hoạch tổ chức lắp ráp, bảo đảm đạn tên lửa khá chu đáo, có phương án chuẩn bị từ trước và công tác dự phòng cũng đã được triển khai, song mới chỉ qua hai đêm 18 và 19, những tín hiệu về “cơn sốt đạn tên lửa” đã nhanh chóng xuất hiện. Khẩu hiệu tiết kiệm đạn “Dành đạn cho pháo đài bay B-52” đã trở thành mệnh lệnh cho các đơn vị tên lửa phòng không. BTL Quân chủng PK-KQ chủ trương dành tên lửa đánh B-52. Như vậy, toàn bộ gánh nặng phải đương đầu với hàng trăm, hàng nghìn lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá liên tục cả ngày lẫn đêm dồn hết cho bộ đội cao xạ, không quân và dân quân tự vệ đảm nhiệm. Nhưng các đơn vị tên lửa vẫn không thoát khỏi tình trạng thiếu đạn. Hầu như đêm nào cũng có những tiểu đoàn phải đánh đến quả đạn cuối cùng.

Đưa tên lửa vào bệ phóng của Sư đoàn 361 ở Đông Anh, Hà Nội. Ảnh: Cảnh trong phim “Hà Nội – Bản hùng ca” của Điện ảnh Quân đội.

Khẩu hiệu lúc này là: “Tất cả cho sản xuất đạn tên lửa”. Toàn Quân chủng lúc đó tìm các biện pháp tối ưu tập trung vào việc lắp ráp đạn tên lửa nhanh nhất, sửa chữa những hư hỏng của tên lửa; đồng thời bảo dưỡng, sửa chữa gấp khí tài trang bị của các đơn vị. Cả guồng máy lắp ráp đạn tên lửa được vận hành hết công suất. Sản lượng tăng gấp đôi nhưng những nỗ lực đó vẫn chưa thấm gì với mức tiêu thụ đạn ghê gớm trên từng bệ phóng. Cảnh chạy đạn cho các bệ phóng như cảnh nhà nghèo chạy ăn từng bữa. Bãi lắp ráp làm được quả đạn nào, xe TZK trực sẵn lập tức đưa đi và được đưa lên bệ phóng ngay. Trong ánh lửa của bom đạn, những quả đạn tên lửa vừa “bóc tem” được chuyển đến đặt ngay trên bệ phóng. Có những quả đạn chỉ ít phút sau khi hoàn tất đã lao vút lên tìm diệt máy bay B-52. Chưa bao giờ cuộc đời của những quả đạn tên lửa được sản xuất ra lại ngắn ngủi và vinh quang đến như vậy.

Đêm 19, địch vào 87 lần/chiếc B-52; đêm 20-12-1972, tăng lên 93 lần/chiếc máy bay B-52. Ai nấy đều hồi hộp nghĩ rằng đêm 21-12-1972, địch sẽ vào nhiều hơn, mà đạn tên lửa thì chỉ lắp ráp có hạn nên sẽ là đêm thử thách ngặt nghèo nhất, khốc liệt nhất. Nhưng những điều dự đoán đó lại không xảy ra. Đêm 21, chỉ có một đợt 24 lần chiếc máy bay B-52 tập trung đánh vào Bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư An Dương, ga Giáp Bát, Văn Điển,…

Từ đêm 22 trở đi, B-52 hầu như “lảng xa” Hà Nội. Đêm 23, B-52 vào đánh Đồng Mỏ-Lạng Sơn, Bắc Giang. Đêm 24, B-52 đánh Thái Nguyên, Kép. Như vậy, đang “cơn sốt” đạn tên lửa, các đơn vị bảo vệ Hà Nội lại có thời gian để chuẩn bị đạn. Các đơn vị tên lửa, pháo phòng không nhanh chóng củng cố trận địa, hầm hào, rút kinh nghiệm chiến đấu. Vì thế, đến ngày 26-12-1972, các bệ phóng tên lửa của ta đã có đủ cơ số đạn theo quy định. “Cơn sốt” đạn đã bị đẩy lùi. Bộ đội tên lửa không còn phải lo thiếu đạn, chủ động tự tin chuẩn bị sẵn sàng cho trận đánh quyết định đêm 26-12-1972.

Vậy là, trong trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tình trạng khan hiếm đạn tên lửa để đánh máy bay B-52 trong một vài ngày đầu chiến dịch là có thật. Nhưng không phải chúng ta đã hoàn toàn bị bó tay, mà trên thực tế, đạn cho đánh B-52 vẫn được bảo đảm. Đó là sự thể hiện tính chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường của Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ và cán bộ, chiến sĩ đơn vị tên lửa, đã góp phần vào thắng lợi to lớn của chiến dịch phòng không bảo vệ thủ đô Hà Nội tháng 12-1972.

Kết quả cuối cùng là chính Mỹ phải đương đầu ngay với một trong những hệ thống phòng không tốt nhất thế giới. Sau này, các ngọn đồi quanh Hà Nội trở thành các kho chứa máy bay Mỹ rơi. Các nhà tù ở Hà Nội đầy rẫy phi công bị bắn rơi của Mỹ (tướng 4 sao hải quân đánh bộ Ray-mơn Đê-vít (Raymond David) trong bài “Chính trị và chiến tranh 12 quyết định tai hại dẫn đến thất bại ở Việt Nam” – Tạp chí “Marine Corps Gazette” tháng 8-1989).

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN
qdnd.vn

Anh hùng Lê Thanh Đạo kể chuyện diệt F-4

Trong suốt quá trình chiến đấu, phi công Lê Thanh Đạo đã lập công tiêu diệt 6 máy bay địch góp phần vào chiến thắng của toàn quân dân ta trong chống chiến tranh phá hoại miền bắc.

Anh hùng phi công Lê Thanh Đạo.

Phi công Lê Thanh Đạo sinh năm 1944 tại xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1965, ông được cử đi học lái máy bay ở Liên Xô. Năm 1968, ông hoàn thành nhiệm vụ học tập trở về nước tham gia chiến đấu trong Trung đoàn Không quân Tiêm kích 921 (Sao Đỏ). Năm 1973, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong một ngày cuối hè 2011, Đất Việt đã có dịp gặp người anh hùng năm xưa. Qua lời kể của ông cụ tóc bạc trắng nhưng thân hình vẫn vạm vỡ, giọng nói sang sảng, chiến công của một thời oai hùng được thuật lại vô cùng hấp dẫn.

Chiến công đầu

Từ ngày 1/11/1968, Không quân Mỹ ngừng ném bom toàn miền bắc. Nhưng năm 1969 chính quyền Nixon chối bỏ cam kết ngừng ném bom tiếp tục các cuộc đánh phá từ vĩ tuyến 17 tới vĩ tuyến 20.

Cuối năm 1971, mật độ đánh phá của Không quân Mỹ ngày càng trở nên ác liệt hơn, các máy bay trinh sát hoạt động liên tục bất kể ngày đêm do thám miền bắc.

Ngày 18/12/1971 là ngày bình thường như mọi ngày. Vào khoảng 3h chiều, còi báo động bất ngờ hú vang ở căn cứ Trung đoàn Không quân Tiêm kích 921 (đóng ở Nội Bài), giọng nói trong điện thoại khi đó rất khẩn trương. Người phi công trẻ Lê Thanh Đạo linh cảm hôm nay không phải là một cuộc diễn tập.

Sau tiếng còi báo động, biên đội 2 chiếc tiêm kích MiG-21 nhanh chóng cất cánh bay vút lên cao. Trong đó, chiếc thứ nhất do phi công Lê Thanh Đạo điều khiển.

Biên đội MiG-21 bay về hướng 270 độ theo lệnh của người dẫn đường. Vốn đã làm quen với địa hình nên ông ước lượng rằng mình đang ở khu vực Hòa Bình. Hai chiếc “én bạc” tiếp tục bay qua Ba Vì rồi vượt lên.

“Sau đó tiếp tục có thông báo “phía trước 40km, 20 độ” thêm một đoạn nữa thì “phía trước 30km”. Cảm giác của tôi lúc đó cho rằng minh hơi “đối đầu”, nghĩa là nó đi vào còn mình đi ra,” ông nhớ lại.

Tiếp tục có lệnh “vòng trái 60 độ, phía trước 25km”, phi công số 2 (sau này đã khi hi sinh trong một trận đánh khác) reo lên “tôi phát hiện ra rồi, phía trước có 1 chiếc”. Số 2 khẳng định lại lần nữa “phía trước, bên trái 30 độ, 20 km”.

“Tôi nhìn theo hướng mà phi công số 2 chỉ thì thấy có một chiếc, tôi liền nói “tôi thấy rồi”. Khi đó thì máy bay địch tiếp cận từ 20km rồi còn 15km, còn 10km. Tôi nói với số 2 “tôi công kích chiếc thứ nhất,” ông kể.

Sau đó, ông điều khiển chiếc MiG-21 tiếp cận vào cự ly 5km, trần bay của MiG-21 lúc đó đang ở độ cao 7.000m trong khi máy bay địch là 5.000m. Từ độ cao 7.000m, ông lái MiG-21 bổ nhào xuống tiếp cận ở cự ly khoảng 3km. Lúc này, tên lửa không đối không R3S đã bắt được mục tiêu.

Nhưng lúc đó, ông cho rằng vẫn còn khá xa. “Tôi hướng vào máy bay địch thì thấy nó còn xa, theo kinh nghiệm lớp trước truyền lại (anh hùng Nguyễn Văn Cốc) thì nếu trông thấy kiểu máy bay có cánh đuôi cụp xuống, cánh chính vểnh lên thì F-4 là chính. Vào gần hơn, tôi thấy rõ hai động cơ, tôi quyết định bắn nếu không bắn thì đâm vào nó mất”.

Cầm cần điểu khiển chiếc MiG, ông “bóp cò” phóng tên lửa. “Nhưng nghĩ mãi chả thấy tên lửa ra, dù thực tế chỉ có 3/10 giây để động cơ tên lửa cháy nhưng tôi thấy sốt ruột với thời gian trôi quá lâu,” phi công Lê Thanh Đạo nhớ lại giây phút quyết định đó.

Tên lửa phóng, cảm giác cánh máy bay dềnh lên. Ông nhanh chóng lái MiG thoát ly và nói với số 2 “anh vào công kích tiếp đi”. Ngay lập tức số 2 trả lời “cháy rồi còn đâu”. Ông lật cánh lại và nhìn rõ chiếc F-4 của địch bùng cháy như bó đuốc, một chiếc dù bật ra – phi công địch nhảy dù.

Trung đoàn Không quân Tiêm kích 921 (Sao Đỏ).

Ông cùng số 2 thoát ly an toàn về hạ cánh  trong niềm hân hoan với chiến công đầu bắn rơi máy bay địch.

Viên phi công địch bị dân quân Hòa Bình bắt sống, khi lấy cung thì tên này đã khai là chúng thực hiện một phi vụ trinh sát miền bắc. Ban đầu, đúng ra phải có 2 chiếc F-4 cùng xuất kích tuy nhiên 1 chiếc bất ngờ bị hỏng động cơ nên chỉ có một chiếc cất cánh.

Táo bạo, dũng cảm, quyết tâm diệt địch

Không bao lâu sau, tháng 4/1972 chính quyền Mỹ tiếp tục cuộc chiến tranh phá hoại miền bắc với quy mô, cường độ mạnh hơn nhiều so với lần trước. Chúng tiếp tục đưa vào miền bắc những công nghệ kỹ thuật quân sự mới mẻ hơn, nguy hiểm hơn.

Sau chiến công đầu, ngày 3/2/1972 ông được chuyển sang Trung đoàn Không quân Tiêm kích 927. Khi đó, ông mới 28 tuổi đã được cử làm Phi đội trưởng Phi đội 9 (mỗi phi đội có khoảng 18 chiếc MiG-21).

Lúc này, trung đoàn 927 chuyển về sân bay Kép (Bắc Giang). Hôm đó là ngày 10/5/1972, ông cùng với phi công số 2 (tên là Hợp) đang trong kíp trực ở sân bay Kép thì có lệnh báo động. Biên đội 2 chiếc MiG-21 nhanh chóng nổ máy cất cánh.

Dưới sự hướng dẫn mặt đất, biên đội ta đuổi theo một tốp máy bay địch. “Khi đó, tôi bắt đầu thấy biển, áng chừng có lẽ đã tới Uông Bí. Lúc này, biên đội phát hiện hai chiếc F-4 của địch, có vẻ địch cũng phát hiện có đuổi theo nên tăng lực bỏ chạy,” ông kể lại tình huống trận đánh.

Dù vậy, biên đội MiG-21 vẫn bám đuổi được địch và  tiếp cận vào rất gần khoảng 4km. Sở chỉ huy khi đó mới yêu cầu biên đội quay lại do đã tới sát biển, nếu tiếp tục có thể máy bay hết dầu buộc phải nhảy dù như vậy sẽ rất nguy hiểm cho phi công.

Hai chiếc F-4 của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Tuy nhiên, lúc này khoảng cách rất gần, hoàn toàn có thể đánh tiêu dịch địch nên ông vẫn chỉ huy biên đội tiếp tục bám theo. Sở chỉ huy tiếp tục nhắc lần 2 yêu cầu quay lại. Nhưng lúc này, cự ly cách địch còn 3km, tên lửa R3S đã khóa mục tiêu.

Tốp 2 chiếc F-4 địch tách ra, ông liền nói với số 2 “tôi bám chiếc số 1”, số 2 bám chiếc còn lại. Vào tiếp cận gần hơn khi chỉ còn cách 2km thì số 2 reo lên “cháy rồi”, phi công số 2 đã phóng tên lửa tiêu diệt địch trước. Vài giây sau, ông cũng phóng tên lửa và tiêu diệt chiếc F-4 còn lại. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bắn rơi liền 2 chiếc, biên đội MiG-21 do phi công Lê Thanh Đạo bay số 1 chỉ huy nhanh chóng thoát ly về sân bay Kép.

Tuy nhiên, lúc này lại nảy sinh tình huống cực kỳ nguy hiểm. Về gần tới Kép, biên đội phát hiện 2 tốp F-4 đang khống chế sân bay, phi công số 2 lúc này đã hết dầu buộc phải hạ cánh. Ông bình tĩnh yểm hộ cho số 2, cùng với đó là hỏa lực pháo phòng không mặt đất cũng nổ súng tạo hành lang an toàn cho số 2 đáp cánh.

Riêng ông, với kinh nghiệm thông thuộc địa hình đã nhanh chóng đưa chiếc MiG-21 hạ thấp bay sát núi lách về sân bay Nội Bài an toàn. “Lớp của tôi về năm 1968, năm 1969-1971 bay huấn luyện nên rất thông thạo từng con sông, ngọn núi, không bao giờ bị lạc, luôn biết mình ở đâu,” ông chia sẻ.

Trong suốt cuộc chiến ác liệt năm 1972, anh hùng phi công Lê Thanh Đạo tiếp tục lập công bắn rơi 4 chiếc máy bay khác góp phần vào chiến thắng vang đội của toàn quân dân ta trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Ngày 11/1/1973, phi công Lê Thanh Đạo được Nhà nước tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Mặc dù vậy, trong các trận đánh trên không anh hùng phi công Lê Thanh Đạo cũng bị bắn rơi một lần vào ngày 15/10/1972. Ông bị thương buộc phải điều trị gần 1 năm. Sau khi lành vết thương, ông tiếp tục rèn luyện sức khỏe và “tung cánh trở lại” trên chiếc MiG-21 thêm 5-6 năm nữa.

F-4 Phantom là máy bay tiêm kích đánh chặn siêu âm, hai chỗ ngồi do Tập đoàn McDonnell Douglas chế tạo.Trong chiến tranh Việt Nam, F-4 tham gia chiến đấu trong nhiều vai trò: tiêm kích đánh chặn, ném bom, trinh sát.  Chiến đấu cơ F-4 có khả năng mang tới hơn 8 tấn vũ khí (gồm tên lửa không đối không, không đối đất, bom, rocket).F-4 được coi là một trong những chiến đấu cơ thành công nhất của Mỹ sau Thế chiến thứ 2. Khoảng 5.000 chiếc F-4 được sản xuất và cho tới ngày nay vẫn còn hàng trăm chiếc phục vụ tích cực ở một số quốc gia đồng minh Mỹ.

MiG-21 là tiêm kích siêu âm đánh chặn hạng nhẹ do Cục thiết kế Mikoyan Gurevich (Liên Xô) thiết kế chế tạo. Khoảng 10.000 chiếc MiG-21 đã được sản xuất và hoạt động trong thành phần trang bị 50 quốc gia trên thế giới.

MiG-21 có tốc độ bay siêu âm Mach 2, bán kính tác chiến khoảng 300km, các mẫu biến thể đầu của MiG-21 chỉ mang được 2 tên lửa đối không R3S. Những biến thể sau này có thể mang 4 tên lửa đối không.

Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam thường sử dụng chiến thuật bay biên đội 2 chiếc: chiếc số 1 đóng vai trò chỉ huy, chiếc số 2 làm nhiệm vụ bảo vệ và có thể tham gia công kích mục tiêu. Chúng ta luôn luôn trong tình trạng chọi với số đông quân địch, phải đối đầu với những phi công Mỹ già dặn với hàng nghìn giờ bay kinh nghiệm. Mặc dù vậy, với tinh thần dũng cảm, sáng tạo trong chiến đấu những phi công trẻ tuổi của Không quân Nhân dân Việt Nam anh hùng vẫn giành được những chiến thắng trên không.

>> Chuyên trang: Cha ông ta đánh giặc

Lê Nam
baodatviet.vn

Phi công phản chiến trong Lai-nơ-bếch-cơ II

QĐND-LTS: Còn có những “quả bom” gây sốc tâm lý tại Nhà Trắng, Lầu Năm Góc trong Lai-nơ-bếch-cơ II, góp phần chặn bàn tay cuồng chiến của phe diều hâu, củng cố phong trào hòa bình Mỹ. Đó là các vụ phản chiến của các quân nhân Mỹ, trong đó có cả những phi công lái B-52, F4…

Người phản chiến đầu tiên

Tháng Giêng năm 1973, trong khi người dân Mỹ nóng ruột chờ tin ký kết Hiệp định Pa-ri, tờ Thời báo Niu Y-oóc (NY) số ra ngày 20-1-1973 đưa lại tin của Hãng AP, phi công F4 đã từ chối không bay đi không kích Bắc Việt Nam ngay từ ngày đầu (18-12-1972) của chiến dịch ném bom ồ ạt Hà Nội – Hải Phòng. Đó là Đại úy Đoai-tơ I-van (Dwight Evans), 26 tuổi, thuộc phi đội chiến thuật số 34 đóng tại Thái Lan, bị đưa ra tòa án binh. Cùng kỳ, hai viên phi công khác lái B-26 thuộc trường hợp tự giác phản kháng nhiệm vụ chiến đấu (consientious objector) đã bị buộc giải ngũ khỏi Không lực Mỹ.

Báo NY cũng cho hay từng có các vụ phản chiến khác, thuộc về một phi công F4 nữa và một phi công lái trực thăng chiến đấu AC-123… Tuy nhiên, đã nổ thêm một “quả bom” trong lòng Không lực Mỹ và cả ở Nhà Trắng, Lầu Năm Góc: Đó là, đang đối đầu với án phạt tù tại Tòa án binh cùng Đại úy Đoai-tơ I-van còn có một người lái “Pháo đài bay”.

Phi công Mỹ bên xác máy bay B-52 bị bắn rơi ở Hà Nội. Ảnh: Cảnh trong phim “Hà Nội – Bản hùng ca” của Điện ảnh Quân đội.

Đúng ngày đầu của đợt sau của chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II (sau khi ngưng ném bom ngày Nô-en) ngày 26-12-1972, Đại úy Mai-cơn Hếch (Michael Heck), 30 tuổi, viên lái trưởng của một kíp bay B-52 đã chống lại lệnh điều đi ném bom miền Bắc Việt Nam, cho dù SAC- Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ cố nhấn mạnh là chỉ có một trường hợp người lái B-52 phản chiến thôi.

Câu chuyện của Mai-cơn Hếch

Phi trường U-ta-pao, vào cái đêm 26-12 ấy, lái trưởng B-52 Mai-cơn Hếch đã nói với cấp trên là quyết định phản chiến của anh ta dựa trên những suy xét về đạo lý, và các quan điểm khoa học (moral considerations and matters of science).

Sau chiến tranh, các cựu chiến binh Mỹ làm rõ đoạn tường thuật trên của NY (số ra ngày 9-2-1973). Khi nhận thấy các mục tiêu biên đội mình phải đánh phá là các bệnh viện và các khu dân cư, Đại úy Hếch đã trích dẫn các nguyên tắc của Tòa án quốc tế Nuremburg để từ chối tham gia Cuộc ném bom dịp Giáng sinh[1].

Quay lại đêm 26-12, cấp trên của Đại úy Hếch hẳn đã vô cùng bất ngờ (cho dù vào 26-12 đã có nhiều chuyến B-52 bị hủy bỏ vì lý do “kỹ thuật”?) vì phi công Hếch từng bay 175 phi vụ chiến đấu, được thưởng Huân chương Thập tự bay (Flying Cross) hạng cao và mề đay Không lực Mỹ (Air Medal).

Vẫn theo một bản tin của NY, khi nghe tin các cuộc ném bom ồ ạt vào các thành phố Bắc Việt Nam được lệnh tiếp tục vào 26-12, Đại úy Hếch “đã đi đến quyết định không trở thành một bộ phận của nó (phi vụ ném bom vào dân cư), và kiên quyết trình bày quyết định này với cấp chỉ huy”. Khi được hỏi phải chăng đây là một vụ phản chiến tự giác, hay do các nguyên nhân khác (không mang tính chất chính trị), Đại úy Hếch khẳng định mình đã trở thành một quân nhân chống chiến tranh một cách tự giác.

Về những động thái xảy ra với Mai-cơn Hếch quanh vành móng ngựa Tòa án binh, người dân Mỹ phải chờ tới số báo NY ra ngày 9-2-1973 cho hay, mặc dù Tòa án binh định kết án tù Mai-cơn Hếch với tội danh chống quân lệnh, nhưng đấu tranh của luật sư đến từ Liên đoàn quyền công dân Mỹ (American Civil – Liberties Union) đã buộc Lãnh đạo Không lực Mỹ phải chấp nhận, về căn bản, yêu cầu được giải ngũ của “bị cáo” Mai-cơn Hếch, với những điều kiện không ưu đãi, bất chấp bản lý lịch đầy những “công trạng” trước đó của Đại úy Hếch.

Trả lời phỏng vấn qua điện thoại của NY, bà Giôn W.Hếch (John W. Heck), thân mẫu của Đại úy Hếch, ngụ tại Chula Vista, California nhấn mạnh bà rất hãnh diện vì anh: “Tôi rất tự hào về con trai mình. Con tôi đã có đủ dũng khí đi đến cùng với niềm tin của mình, đã nói lên tiếng nói của lương tâm nước Mỹ”.

Trước đó, song thân của Mai-cơn Hếch cũng nhấn mạnh với Tạp chí Time (số ra ngày 22-1-1973) rằng, họ không ngạc nhiên sự kiện đó, vì đã nhận thấy những tâm trạng chống chiến tranh của con mình trong các thư gửi về gia đình. Cha của Mai-cơn Hếch nói, cuộc ném bom vào dịp Giáng sinh là “giọt nước làm tràn ly” (the last straw) dẫn tới quyết định phản chiến của con trai ông.

Theo NY số ra ngày 9-2-1973, gia đình và những người đồng quan điểm với Đại úy Hếch nghĩ rằng, Lãnh đạo Không lực Mỹ sẽ buộc phải đưa trả anh về quê hương trong vòng tuần tới.

Vu khống

Một số quan chức Lầu Năm Góc thời đó luận giải quyết định chống Lai-nơ-bếch-cơ II của Mai-cơn Hếch là “do quá mệt mỏi vì chiến trận”. Tuy nhiên, một phóng viên Mỹ lúc đó đã sang tận U-ta-pao để phỏng vấn Hếch nhân sự kiện này cho hay, người phi công B-52 bày tỏ đã “quá mệt mỏi trong tàn sát phụ nữ và trẻ em Việt Nam”[2].

Một sĩ quan cấp cao của Không lực Mỹ thì ám chỉ quyết định này của Hếch là do “quá sợ” phi vụ đánh phá miền Bắc do B-52 bị thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, Đại úy Hếch khẳng định quyết định phản chiến của anh không liên quan gì đến sự sợ hãi. Hếch nhấn mạnh anh từ chối tất cả các nhiệm vụ, dù là bay ở miền Nam Việt Nam khi không bị ai bắn, dù là chỉ làm nhiệm vụ bảo đảm hậu cần mặt đất như lắp bom hay tiếp nhiên liệu. “Các mục đích của cuộc chiến tranh Việt Nam không biện hộ được cho hủy diệt và tàn sát hàng loạt”, Hếch nhấn mạnh trong bài báo “Từ chối ném bom” (Bombing Fallout) của tờ Time, số ra ngày 22-1-1973.

Sau khi trở lại Hoa Kỳ, Mai-cơn Hếch đã mở một cuộc họp báo. Theo bài tường thuật “Người cựu phi công B-52 vững vàng với quyết định của mình” của Thời báo Niu Y-oóc số ra ngày 17-2-1973, Hếch tuyên bố: “Cho tới nay, tôi càng tin tưởng chắc chắn vào điều mình đã làm. Lẽ ra tôi phải làm điều này sớm hơn”.

Phản ứng dây chuyền

Khẳng định của Bộ chỉ huy Không lực Mỹ là chỉ có một phi công B-52 phản chiến tới lúc này đã sai. Sự kiện “Mai-cơn Hếch” đã có phản ứng dây chuyền. Tại Tòa án Liên bang Mỹ, tháng 4-1973, bốn người lái B-52 của Không lực Mỹ đã cùng đứng tên với Ê-li-da-bét Hôn-dơ-man (Elizabeth Holtzman), nữ nghị sĩ bang Niu Y-oóc (New York), trong một vụ kiện đòi điều tra tính hợp hiến của các vụ không kích vụng trộm Cam-pu-chia xảy ra sau khi Hiệp định Pa-ri đã ký kết. Vụ “bốn phi công B-52” này, gồm cả một con “át” đã bay tới 230 phi vụ chiến tranh, đã làm Lầu Năm Góc trải qua một cơn sốc.

Các phi công B-52 ở căn cứ trên đảo Guam mở một chiến dịch phản đối các hành động ngoan cố, tiếp tục chiến tranh của tập đoàn Ních-xơn. Sách Hãy cho hòa bình một cơ hội: Khám phá phong trào hòa bình Mỹ[3] dẫn một bức thư gửi Thượng nghị sĩ Ét-uốt Ken-nơ-đi (Edward Kenendy), có đoạn viết: “Tôi ước mong mình có được quyết định đúng đắn như Đại úy Mai-cơn Hếch, hoặc của những quân nhân phản chiến Mỹ mà Tổng thống và Phó tổng thống Mỹ đang cực lực buộc tội, để làm được điều gì hơn… Hằng ngày, hằng giờ, bàn tay chúng tôi vẫn đang vấy máu trong các cuộc ném bom mất trí (insane) này”.

Theo hồ sơ của một tổ chức CCB Mỹ ở Việt Nam, những vụ ném bom thảm sát dân thường theo lệnh của Nhà Trắng, như Lai-nơ-bếch-cơ II, đã khởi phát một cuộc khủng hoảng tinh thần sâu sắc trong các kíp lái máy bay B-52 thời kỳ chiến tranh Việt Nam[4].

———-

[1] Chủ đề: (Phản chiến bằng cách) rút lựu đạn: chuyện hoang đường hay thực tế (Fragging: Myth or Reality?), lưu trữ trên Trang điện tử http://www.vvawai.org/archive/sw/sw41/myth-or-reality.html.
[2] Lời đầu sách Sổ tay phóng viên (Associated Press Reporting Handbook, NXB McGraw-Hill Companies, 2002), đăng trên http://www.ereader.com/servlet/mw?t=book&bi=6353&si=59
[3] Give Peace a Chance: Exploring the Vietnam antiwar Movement, của Melvin Small và một số tác giả khác, NXB Syracuse University Press, 1992.
[4] Chủ đề: (Phản chiến bằng cách) rút lựu đạn: chuyện hoang đường hay thực tế (Fragging: Myth or Reality?), lưu trữ trên Trang điện tử .

Trong đánh giá hiệu lực của các cuộc tiến công đường không của Mỹ, trước sau như một, CIA kết luận rằng, các cuộc tiến công không làm giảm khả năng hậu cần duy trì chiến tranh của Bắc Việt Nam, rằng Bắc Việt Nam có thể có đủ khả năng chịu sự trừng phạt, rằng ý chí của Hà Nội không bị lung lay trong khi hệ thống phòng không không ngừng được cải tiến của Hà Nội (do Liên Xô và Trung Quốc cung cấp) gây thiệt hại ngày càng tăng cho máy bay Mỹ (tướng 4 sao Bru-xơ Pan-mơ.JR (Bruce Palmer, Jr) trong cuốn “Cuộc chiến tranh 25 năm: vai trò quân sự của Mỹ ở Việt Nam”. N.Y. Touchstone, 1984. tr.163).

LÊ THÀNH
qdnd.vn

‘Bom thông minh’ trong chiến tranh Việt Nam

“Bom thông minh’ là một trong những thứ vũ khí nguy hiểm mà Mỹ đưa vào sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Năm 1965, Không quân Mỹ tiến hành chiến dịch Sấm Rền (Rolling Thunder) đánh phá dữ dội miền Bắc Việt Nam. Mục tiêu của chiến dịch này phá hoại cầu cống, bến bãi, kho tàng, căn cứ quân sự ở miền bắc. Đặc biệt là Mỹ âm mưu ngăn chặn đường tiếp tế của miền bắc vào miền nam Việt Nam.

Để đánh phá các mục tiêu hiệu quả bằng rocket, bom không điều khiển đòi hỏi các máy bay chiến đấu Mỹ như F-100, F-105, A-4, A-6… phải bay ở độ cao thấp nhưng như vậy Không quân Mỹ khi phải đối phó hỏa lực phòng không dày đặc, nhiều tầng nhiều lớp của quân dân miền bắc Việt Nam.

Mạng lưới phòng không miền bắc trang bị đủ loại vũ khí do Liên Xô viện trợ. Ở tầm thấp có súng máy phòng không (12,7mm và 14,5mm), pháo tầm thấp (23mm, 37mm).

Ở tầm trung có pháo 57mm, 85mm, 100mm được dẫn bắn bằng radar điều khiển hỏa lực. Trên tầm cao, quân “giặc trời” phải kinh hồn bạt vía với “rồng lửa” SA-2.

Không quân Mỹ có thể tiến hành gây nhiễu radar dẫn bắn pháo tầm trung và tên lửa SA-2 giảm bớt hiệu quả những loại vũ khí đó. Nhưng, đối với pháo tầm thấp thì thủ đoạn này không giải quyết được vấn đề.

Vì vậy, bom có điều khiển là lựa chọn tối ưu nhất để máy bay ném bom có thể hoạt động ở tầm cao vừa có thể công kích mục tiêu đạt độ chính xác lớn.

Hệ thống phòng không nhiều tầng, nhiều lớp của quân dân miền Bắc Việt Nam là cơn ác mộng đối với phi công Mỹ.

Một trong những loại bom có điều khiển đầu tiên mà Mỹ sử dụng ở Việt Nam là AGM-62 Walleye. Đây là loại bom có điều khiển dẫn đường TV, trên thân có 4 cánh lớn, mang đầu đạn thuốc nổ mạnh 113kg.

AGM-62 không có động cơ nhưng nó hoàn toàn có thể bay lướt tới mục tiêu dưới sự hỗ trợ hệ thống dẫn đường TV.  Ở đầu mũi quả bom có chứa camera TV và đầu dò điện tử.

Camera TV sẽ truyền hình ảnh tới màn hình trong buồng lái. Trên cơ sở đó, viên phi công sẽ dễ dàng tìm thấy mục tiêu trên màn hình của mình, chỉ định sẽ đánh vào đó và phóng quả bom. Công việc còn lại là quả bom sẽ tự tiến về hướng mục tiêu được chỉ thị.

Trong quá trình sử dụng, người Mỹ nhanh chóng nhận ra nhược điểm của AGM-62. Nó thường không khóa được mục tiêu hoặc “mất khóa” trong quá trình bay. Nguyên là mục tiêu bị che phủ bời tầng mây thấp, sương mù – đặc trưng khí hậu ở các nước Đông Nam Á.

Bom lượn AGM-62.

Bên cạnh AGM-62, Không quân Mỹ đưa vào thử nghiệm ở chiến trường Việt Nam loại GBU-12 HOBOS. GBU-12 không hẳn là một loại bom điều khiển mà nói đúng hơn là loại bom được trang bị 1 bộ phụ kiện biến “bom ngu” thành “bom thông minh”.

Thành phần của một bộ GBU-12 gồm: đầu mũi gồm camera TV và đầu dò điện tử, bốn cánh nhỏ ở đuôi để điều khiển bom lượn tới mục tiêu. Bộ phụ kiện này được lắp cho bom Mk84 (925kg). Cách thức hoạt động của GBU-12 tương tự AGM-62.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai sử dụng, AGM-62 và GBU-12 đều không đạt được những thành công như mong đợi do nó sử dụng công nghệ camera TV lỗi thời. Những hậu duệ sau này của bom dẫn đường TV được sử dụng khá thành công tại cuộc chiến tranh vùng vịnh 1991.

Bom dẫn đường bằng laze GBU-1/B.

Sau này, Mỹ áp dụng phương pháp điều khiển bằng laze cho bom thông minh. Mở đầu là loại bom GBU-1/B, ra đời từ giữa những năm 1960.

Bom GBU-1/B bao gồm: một quả bom thông thường M117 loại 343kg, thiết bị điều khiển và dẫn đường bằng laze KMU-342. Ngoài ra, bom có thêm thiết bị chỉ thị mục tiêu laze AVQ-9 Pave Light, do tập đoàn Martin Marietta chế tạo. (Năm 1995, hãng này sát nhập với Lockheed trở thành tập đoàn Lockheed Martin nổi tiếng). Thiết bị này còn có tên gọi khác là “zot box”, gồm kính ngắm quang học và bộ phận phóng laze đặt ở buồng lái phía sau chiếc F-4D.

Sĩ quan điều khiển hệ thống vũ khí (WSO) trên chiếc F-4D sẽ ngắm tìm mục tiêu qua kính của “zot box” và ấn cò bắn tia laze. Một chiếc F-4 khác mang và ném bom laze.

Không lâu sau đó, AVQ-9 được thay thế bởi AN/AVQ-10 Pave Knight, là container được treo dưới cánh máy bay, đầu mũi của thiết bị này chứa bộ phận phát chùm tia laze và camera TV. Camera TV sẽ truyền những hình ảnh về màn hình đặt ở buồng lái của sĩ quan WSO, anh ta sẽ “dễ dàng” hơn trong việc xác định mục tiêu để chiếu tia laze.

Bom điều khiển bằng laze GBU-1/B được triển khai lần đầu vào năm 1968 trong phi đội tiêm kích chiến thuật số 8 (căn cứ Ubon, Thái Lan). Nó nhanh chóng được sử dụng ném bom các mục tiêu cầu, đường, quân sự ở miền Bắc Việt Nam.

Cầu Hàm Rồng bị đánh sập một nhịp, ảnh chụp từ máy bay trinh sát Mỹ.

Không quân Mỹ thực sự tự hào khi loại bom dẫn đường bằng laze này chứng minh được hiểu quả trong các chiến dịch không kích miền Bắc Việt Nam. Nếu trước đây, họ phải mất nhiều lần ném bom với số lượng bom lớn và phải trải qua nhiều lưới lửa phòng không nguy hiểm mới có thể phá hủy mục tiêu. Thì nay, họ chỉ mất 1 hoặc 2 quả bom dẫn đường laze là có thể phá hủy mục tiêu ở độ cao bay an toàn.

Thấy được hiệu quả cao của loại bom laze này, Mỹ chi tiền đầu tư mạnh phát triển bộ phụ kiện cho bom thông thường sử dụng công nghệ đầu dò laze. Bộ phụ kiện GBU-1/B lắp cho bom thông thường M118 loại 1.300kg, Mk84 loại 908kg và Mk83 loại 454kg. Như vậy, Mỹ đã xây dựng được một gia đình bom dẫn đường bằng laze.

Việt Nam đối phó bom laze

Tính tới cuối tháng 5/1972, Không quân Mỹ đã đánh hỏng 68 cây cầu ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều cây cầu (như cầu Hàm Rồng) đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển vũ khí, lương thực vào miền Nam.

Đứng trước tình hình đó, Quân chủng Phòng không Không quân cùng Viện kỹ thuật quân sự đã phối hợp nghiên cứu chống tác hại do bom laze gây ra.

Quân đội ta đã tìm cách để kiếm được một đầu dẫn laze còn nguyên vẹn từ địch. Ngay sau đó, các cán bộ ta “mổ xẻ” tìm ra nguyên lý hoạt động đầu tự dẫn laze.

Đầu tự dẫn bom laze là sự kết hợp quang học, cơ khí và điện tử. Đầu dò của bom có gắn 4 quang trở bằng silic gắn với các kênh bán dẫn và vi điện tử làm nhiệm vụ khuếch đại tín hiệu điện.

Tín hiệu điện tác động vào động cơ nhỏ, động cơ quay nhờ hệ thống cơ khí làm lệch bánh lái bom, bom chuyển hướng vào nơi có cường độ tín hiệu laze cao nhất do một máy chiếu laze làm (AVQ-9 hay AVQ-10).

Sau khi nghiên cứu kỹ cơ chế của bom laze, bộ đội ta bắt đầu tìm và đưa ra phương án đối phó với loại bom “nguy hiểm” này.

Phía ta tiến hành thả khói ngụy trang bảo vệ mục tiêu. Lực lượng bộ đội hóa học tích cực tham gia thả khói phủ kín mục tiêu chủ yếu quan trọng ở Hà Nội. Quân ta còn cơ động linh hoạt dùng xe thả khói ở các phố lận cận cơ sở kinh tế xã hội quan trọng khiến cho gió đổi hướng thì mục tiêu vẫn phủ kín.

Việc thả khói giúp che giấu mục tiêu, làm giảm tầm nhìn của phi công địch. Việc xác định chính xác và phóng tia laze dẫn đường cho bom vì thế mà khó khăn hơn. Điều này, ít nhiều làm giảm thiệt hại cho ta trong các chiến dịch phá hoại miền bắc bằng Không quân của Mỹ trong năm 1972.

>> Chuyên trang: Cha ông ta đánh giặc

Lê Nam (tổng hợp)
baodatviet.vn

Cuộc tập kích Hà Nội bằng B52 bị “bắt bài” ra sao?

QĐND-Theo Nhật ký Han-đơ-man (Haldeman)[1] ngay trước chiến dịch Lai-nơ-bắc-cơ II (Linebacker II), bất chấp những hục hặc, Kít-xinh-giơ (Kissinger) đã tán thưởng Ních-xơn (Nixon) về quyết định ném bom hủy diệt Hà Nội là “thượng sách”. Kít-xinh-giơ cho rằng Ních-xơn sẽ công thành danh toại nhờ những “hành vi thú tính không thể đoán trước” (brutal unpredictability)…

Nhưng gần bốn thập kỷ sau, tác giả các bài báo nổi tiếng từ những năm 70 của thế kỷ 20, về Lai-nơ-bắc-cơ II (chiến dịch đánh phá Hà Nội, Hải Phòng bằng không quân chiến lược Mỹ 12 ngày đêm cuối năm 1972) là Đa-na Đren-kốp-xki (Dana Drenkowsky) và Lét-xtơ Grao (Lester Grau) đã công bố nghiên cứu của mình về chủ đề này, nhan đề “Rập khuôn và đoán trước được” (Patterns and predictability), phân tích các đánh giá của các phía về chiến dịch Lai-nơ-bắc-cơ II[2]. Công trình được xem như tổng hợp các góc nhìn từ ba phía rọi vào đoạn kết cuộc chiến trên bầu trời Hà Nội.

Các tác giả Đren-kốp-xki và Grao cho hay, Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ (SAC) “mắc những sai lầm nghiêm trọng, chịu những tổn thất nặng nề trong một chiến dịch được xem là thất bại”.

Đòn tập kích không gây bất ngờ

Hôm nay nhìn lại, các tác giả cựu phi công Mỹ như D. Đren-kốp-xki, E. Tin-phoóc (E. Tilford) và cả M. Mác-san (M. Marshall) về cơ bản nhất trí với các cựu chuyên gia Liên Xô, như Thượng tướng, Giáo sư, Tiến sĩ A. Hiu-pơ-nen (A. Hiupenen), rằng trong một quyết định chiến tranh dốc toàn lực (all out – ý nói sử dụng một quy mô lực lượng lớn) như Lai-nơ-bắc-cơ II, huy động toàn bộ sức mạnh không quân của Mỹ, nhưng lại sử dụng các sơ đồ ném bom và các đường tiếp cận vào đánh phá khu vực trung tâm đồng bằng Bắc Bộ đã biến thành “lối mòn”, bởi các máy bay ném bom chiến thuật của Mỹ (đội hình đi đánh phá, kể từ giữa năm 1972 đã xuất hiện cả B-52, thường thưa hơn, mỏng hơn so với Lai-nơ-bắc-cơ II) trong suốt 6 năm liền kể từ đầu chiến tranh phá hoại đường không chống miền Bắc. “Việc Mỹ vẫn sử dụng các thủ đoạn tác chiến, trình tự bay cố định, cho phép Việt Nam dân chủ cộng hòa có thể phòng thủ tốt hơn, thậm chí là thành công, chống lại cuộc đại không kích Lai-nơ-bắc-cơ II, tháng 12-1972”…

“Kế hoạch của Không lực Mỹ là tỉ mỉ, chu đáo, nhưng rất dễ bị đoán ra, buộc đội hình máy bay Mỹ tuân thủ biểu đồ chiến dịch mẫu… Cất cánh, hành trình bay, tác chiến điện tử, hoàn thành thời gian bay dự kiến đều đoán trước được. Các chiến thuật đánh phá là cố định nên đối phương dễ nắm bắt. Công nghệ của Mỹ tạo ra một mức độ khó khăn cho Bắc Việt, nhưng cách áp dụng lại vẫn là có thể dự đoán được. Chính công nghệ cao nhưng mang tính dự đoán được của Mỹ đã giúp cho Bắc Việt chống trả hữu hiệu”.

Chính Mỹ bị bất ngờ

Các chi tiết gây bất ngờ về chiến dịch, chiến thuật cho phía Mỹ gây tốn kém giấy mực. Chẳng hạn, các nguồn Mỹ cho rằng bộ đội phòng không Việt Nam đã bắn khoảng 1000 quả đạn tên lửa SAM-2 trong toàn Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, tuy nhiên, kết toán của Liên Xô về hạng mục này[3] khẳng định chỉ có 244 quả tên lửa đã được bắn. Để phát hiện những tốp F-4 phát nhiễu đóng giả đội hình B-52, các trắc thủ Việt Nam làm động tác phóng tên lửa giả và những “quả đạn giả” này hẳn đã làm thiết bị của Mỹ đếm lầm…

Loại B-52 được cải tiến nhằm che mắt các ra-đa hiện đại hơn của đối phương, theo Tin-phoóc, bất ngờ mất tác dụng, vì chúng (B-52G “đời mới”) bị phát hiện bởi những ra đa “cổ lỗ” thuộc thế hệ đầu nhưng vẫn được “giữ tốt dùng bền”, bên cạnh các trang bị tác chiến điện tử hiện đại khác, nhờ những “bàn tay vàng”, tinh thần vượt khó, tính cần kiệm và óc sáng tạo của bộ đội Việt Nam (nhận định của chuyên gia Liên Xô, một số tác giả phương Tây).

Còn cả những bất ngờ vượt xa cấp chiến thuật là Mỹ đã phát hiện những thông tin chiến dịch của Lai-nơ-bắc-cơ II đã bị đối phương biết được, hoặc giải mã… Theo tác giả Đren-kốp-xki, đó là do xu thế người dân Mỹ, tới năm 1972, xem cuộc chiến tranh Việt Nam là phi nghĩa (unjust war), tất dẫn đến chiến bại. Kết quả là nhiều rò rỉ đã xuất hiện trên báo chí ở Mỹ, thậm chí xảy ra trao bí mật cho phía đối phương (như vụ bắt một nhân viên của Cục cơ yếu Hải quân Mỹ)[4].

Nhưng bất ngờ lớn nhất với Mỹ, mà đến nay các nghiên cứu quốc tế chưa nêu bật được, là những cuộc vây bắt “hung thần” B-52 ngay từ năm 1966 khi “rồng lửa” đã mang cả đội hình chiến đấu cấp trung đoàn đã vào tận các tọa độ lửa ở Khu 4 và Trường Sơn để xây dựng cơ sở cho một chiến lược “đánh B – 52”, bất chấp những quan ngại của nhà sản xuất tên lửa SAM về bảo đảm kỹ thuật – hậu cần… Trí óc và sự quả cảm không tả xiết trong kỳ công “vào hang bắt cọp” (chữ dùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh) này sẽ chín muồi thành cuộc “nghênh tiếp dữ dội” (violent welcome) đầy bất ngờ trên bầu trời Hà Nội, dành cho cách kỷ niệm Noel 1972 của quỷ Xatăng.

Địa ngục trên khoảng trời hẹp

E. Tin-phoóc, sắc sảo cả về chiến thuật, chính trị – ngoại giao, lẫn về cuộc đấu trí giữa phe diều hâu và phe phản chiến ở Mỹ thời Ních-xơn, đã viết:

“Hàng năm trời B-52 đơn phương ném bom xuống các cánh rừng không được lực lượng phòng không đối phương bảo vệ ở miền Nam,… các chiến thuật thấp kém và một đô (dose – lượng) khá mạnh của sự quá tự tin đã làm cho vài đêm đầu tiên của Lai-nơ-bắc-cơ trở thành ác mộng cho các kíp bay B-52”[5].

Sự chủ quan của SAC, theo các nhà quan sát của các bên, là do Mỹ đã vận dụng các tiện ích mới nhất để gây nhiễu trên toàn giải đối với ra đa của Việt Nam, đưa đến kết quả là các đợt đánh phá Hải Phòng giữa năm 1972, bộ đội tên lửa đã không bắn hạ được B-52 Mỹ. Nói chung, như Prados đã chỉ ra, “các nguyên soái không quân Mỹ chắc mẩm vũ khí của họ sẽ làm việc như được quảng cáo”. Tới nửa cuối năm 1972 ấy, thần tượng B-52 vẫn sừng sững, còn SAM-2 “cổ lỗ” do Liên Xô sản xuất, về mặt tính năng được xem là khó có thể bắn hạ B-52.

Sự kiện chiếc B-52 bị Không quân Việt Nam bắn hỏng tháng 11-1971 càng làm tăng sự chú ý đối với MIG-21 được Liên Xô thiết kế chuyên để đánh B-52. Nhưng MIG-21 chỉ được trang bị hai quả tên lửa, khó mà chọc thủng hàng rào dày đặc các F-4 tháp tùng B-52.

Kẻ ném bom điên khùng. Tranh: Lính Mỹ phản chiến.

Cho đến tháng 11-1972, khi chiếc B-52 đầu tiên bị SAM bắn rơi trên bầu trời Nghệ An, vẫn nhiễu tin, rằng chiếc B-52 này bị MIG bắn rơi, hoặc thậm chí rơi vì trục trặc kỹ thuật…

Vì thế lực lượng không quân chiến thuật Mỹ được lệnh vây hãm các sân bay của miền Bắc, thậm chí “trực” trên không trung, để tập trung đánh các MIG vừa cất cánh, hoặc bay về sau khi tác chiến.

Ních-xơn cũng chắc mẩm đã cô lập được Hà Nội khỏi các đồng minh đứng đầu khối “Đỏ”. Xích gần Mát-xcơ-va (Moscow) và nhất là khai phá được quan hệ với Bắc Kinh vừa là điểm nhấn năm 1972 giúp ông ta tái đắc cử, có thể dùng làm đối trọng chống sự ủng hộ mạnh chưa từng có của nhân loại tiến bộ đang dành cho Việt Nam.

Sụp đổ thần tượng

Đòn phủ đầu với ba B-52 bị SAM bắn rơi tại chỗ, hai chiếc nữa bị bắn hỏng nặng ngay đêm đầu (số liệu của Mỹ) đã làm các nguyên soái Không quân Mỹ bị choáng váng. Tin này có vẻ đã bị giấu nhẹm, vì đến ngày 20-12 (sáu B-52 bị bắn rụng, một chiếc khác bị hỏng nặng, vẫn theo số liệu của Lầu Năm Góc mà nhiều học giả Mỹ cho là không đáng tin) mới xuất hiện các ghi chép của Chánh văn phòng Nhà Trắng về sự “đau lòng nhức óc” của P (President – tổng thống Ních-xơn) trong một Nhà Trắng như tối sầm dưới sức đè những tổn thất quá lớn về B-52. Đâm lao phải theo lao, Ních-xơn ra lệnh tiếp tục ném bom, nhưng ở quy mô nhỏ hơn và chuyển hướng không kích ra ngoài Hà Nội để tránh SAM-2. Đến đây đã có thể xem Lai-nơ-bắc-cơ II đã thất bại về chiến lược, tan ảo mộng chiến thắng, giúp làm nguội cái đầu nóng của ông chủ Nhà Trắng. Tác giả Đren-kốp-xki viết: “Đêm 22 rạng ngày 23-12, trên đà thắng của bộ đội phòng không Hà Nội, không một cuộc không kích nào nhằm vào mục tiêu chính là Thủ đô của Việt Nam. Thay vào đó, 30 chiếc B-52 tiến công Cảng Hải Phòng, nơi được bảo vệ về phòng không kém hơn”.

Không quân Mỹ sau ngày Noel tỏ ra biết thay đổi chiến thuật và kế hoạch không kích, thực ra là rút ngắn thời gian không kích và đánh phá các địa bàn xa Hà Nội, nhưng máy bay Mỹ vẫn tiếp tục bị bắn rụng như sung. Thậm chí, B-52 rơi không phải do một salvos (loạt đạn tên lửa) mà chỉ do một quả SAM-2 “đồ cổ” trên bầu trời Sơn La.

Sách báo thời chiến của Mỹ ghi nhận một sự suy sụp về tinh thần chưa từng có trong các đơn vị Không quân Mỹ. Một đỉnh điểm của nó là có tới 9 chuyến bay B-52 bị đình chỉ đêm 26 rạng ngày 27-12, do trục trặc “cơ khí”. Đây là những “vết thương” từ các cuộc “dạo chơi” những đêm trước trên bầu trời Hà Nội, hay còn cả những cảm nhận “mở nắp buồng lái như mở cửa nhà mồ” của các tay lái “Pháo đài bay”?

Bất ngờ vẫn tiếp tục sau khi Mỹ đã tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc vào đúng ngày cuối cùng của năm dương lịch 1972, vài B-52 sẽ còn bị SAM-2 bắn rụng tiếp trên chiến trường nam vĩ tuyến 20, cách xa các đầu mối tiếp tế – bảo dưỡng.

Chôn vùi mộng xâm lăng

Theo hồi ký Kít-xinh-giơ, ngày 6-1-1973 Ních-xơn đã chỉ thị cho Kít-xinh-giơ trở lại Pa-ri (Paris), phải đạt cho được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện nào (whatever temrs available), với bộ dạng hoàn toàn khác ngày thường (belying his image – makers; ý nói không còn tỏ ra hùng hổ được nữa). Tổng thống Mỹ nhấn mạnh sẵn sàng chấp nhận trở lại văn bản đã thỏa thuận tháng 10-1972[6]. Lai-nơ-bắc-cơ (người cứu bóng trước khung thành) II quả là một quyết định thú tính đầy bất trắc trong mắt nhân loại, nhưng chịu thất bại vì đã bị Việt Nam “bắt bài”.

——————-

[1] The Haldeman Diaries Inside the Nixon White House, băng CD.

[2] “Rập khuôn và đoán trước được: đánh giá của Liên Xô về chiến dịch Linebacker II”, của Dana Drenkowsky và Lester Grau (PATTERNS AND PREDICTABILITY: THE SOVIET EVALUATION OF OPERATION LINEBACKER II).

[3] Nguồn: chú thích 2, tr.33.

[4] Nguồn: chú thích 2, tr.36.

[5] Sách Triển khai lực lượng không quân Mỹ ở Việt Nam: đã làm được gì và tại sao? (Setup: What the Air Force Did in Vietnam and Why; NXB Air University Press, 1991, tr. 255 – 256).

[6] Những năm ở Nhà Trắng/ White House Years, Hồi ký Henry Kissinger, NXB Little, Brown and Company, 1979, trang 1.462.

LÊ THÀNH
qdnd.vn

Những kỷ vật vô giá làm từ vũ khí kẻ thù

Từ mảnh xác máy bay, pháo sáng của Mĩ, người lính Cụ Hồ đã chế tạo những vật dụng thiết thực, góp phần cải thiện đời sống nơi chiến trường.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, quân đội Mĩ đã sử dụng những khí cụ chiến tranh tối tân nhất của mình như máy bay ném bom hạng nặng, máy bay tiêm kích siêu âm cùng hàng chục loại bom, mìn sát thương nhằm tiêu diệt sinh lực và đè bẹp ý chí của quân Giải phóng. Biết bao xương máu của quân và dân Việt Nam đã thấm đẫm dải Trường Sơn bởi những thứ vũ khí hủy diệt này.

Tuy nhiên, cuộc chiến tranh diễn ra càng khốc liệt, tinh thần lạc quan và phẩm chất sáng tạo của người chiến sĩ Giải phóng lại càng phát huy mạnh mẽ. Tận dụng chính những mảnh xác máy bay, vỏ đạn bom, pháo sáng của Mĩ, người lính Cụ Hồ đã chế tạo ra những vật dụng thiết thực hàng ngày, góp phần cải thiện đời sống nơi chiến trường như ấm chén, bát đĩa, bếp, đèn dầu…

Sau nhiều thập niên, những vật dụng ấy vẫn còn được các chiến sĩ Giải phóng năm xưa lưu giữ và trở thành những kỷ vật vô giá, chứa đựng ký ức không thể mờ phai về một thời kỳ lửa khói đau thương nhưng vẫn chan chứa niềm tin và hi vọng.

Hàng chục kỷ vật  như vậy đã có dịp ra mắt công chúng tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự từ ngày 15/12. Đây là một phần kết quả của cuộc vận động sưu tầm những kỷ vật kháng chiến kéo dài 3 năm, với trên 11.000 hiện vật đã được quy tập.

Một số hình ảnh Đất Việt ghi nhận.

Chiếc chân giả này được đồng chí Nguyễn Bằng Phi, huyện đội Dĩ An, tỉnh Bình Dương (thương binh 1/4) làm từ mảnh xác máy bay và vỏ pháo sáng để vào chiến trường tiếp tục chiến đấu từ năm 1967 – 1971.

Tấm phù điêu Bảng vàng ghi công được làm bằng mảnh xác máy bay AD-6, Trung đội Dân quân gái xã Hoàng Trường và Hoàng Hải, tỉnh Thanh Hóa bắn rơi ngày 16/11/1967.

Một số phích nước tự tạo do bộ đội và thanh niên xung phong làm từ mảnh xác máy bay Mĩ bị bắn rơi và ống pháo sáng của địch thả xuống đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mĩ.

Chiếc bếp dầu tự tạo do đồng chí Nguyễn Ngọc Sinh, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 252 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không làm từ mảnh xác máy bay AC130 bị bắn rơi tại trọng điểm Tha Mé. Đồng chí Sinh đã sử dụng chiếc bếp ở Trường Sơn từ năm 1972 – 1975.

Một bộ ấm chén được xưởng cơ khí của các chiến sĩ giải phóng làm từ mảnh xác máy bay và ống pháo sáng của Mĩ.

Để làm chiếc lược này, người lính Trường Sơn phải tranh thủ từng phút nghỉ ngơi để tỉ mẩn mài giũa từng răng lược trên một mảnh xác máy bay.

Trên nắp của một ca cà phê vẫn còn có thể đọc được những dòng chữ  ghi trên vỏ của một chiếc máy bay Mĩ.

Những quả bom bi, bom dứa lính Mĩ thả xuống đường Trường Sơn đã được các chiến sĩ Giải phóng tận dụng làm những chiếc đèn dầu xinh xắn.

Chiếc cúp kỉ niệm do xưởng cơ khí 3-2 làm từ xác máy bay Mĩ, được ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Bình dành tặng Bác Hồ. Trên chiếc cúp có dòng chữ nổi “Quảng Bình chiến thắng”.

Hồng Quân
baodatviet.vn

Phục kích tiêu diệt “Pháo đài bay”

QĐND – Thực hiện chỉ thị của Quân chủng Phòng không – Không quân, từ cuối năm 1968, Binh chủng Không quân tiếp tục tổ chức một bộ phận lực lượng ở Quân khu 4, phối hợp cùng các lực lượng phòng không đánh máy bay địch, bảo vệ tuyến đường vận tải giao thông chiến lược. Đặc biệt là nghiên cứu quy luật, thủ đoạn hoạt động của máy bay B-52 và tìm cách đánh máy bay B-52 của Không quân Mỹ.

Cơ quan tham mưu binh chủng và các trung đoàn không quân xây dựng kế hoạch, tổ chức cho một số phi công có kinh nghiệm chiến đấu huấn luyện phương án đánh máy bay B-52 và máy bay AC-130 của địch. Bộ tư lệnh Binh chủng đã chọn lựa, tổ chức huấn luyện một số phi công Mig-17 và Mig-21 đánh địch ban đêm ở tầm cao trong điều kiện thời tiết phức tạp; tổ chức cho một số biên đội bí mật vào các sân bay Quân khu 4 làm nhiệm vụ phục kích máy bay B-52.

Phi công Đinh Tôn, người phát hiện máy bay B-52 đầu tiên của lực lượng không quân. Ảnh tư liệu

Binh chủng Không quân cử một số cán bộ tham mưu, phi công lên đỉnh đèo Mụ Giạ (Quảng Bình) trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của máy bay B-52 địch cả ban ngày và ban đêm.

Ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn từ Đa Phúc bay vào Sân bay Đồng Hới, đến 19 giờ 13 phút cùng ngày, Đinh Tôn nhận lệnh xuất kích. Với quyết tâm cao không để lỡ thời cơ tiêu diệt địch, anh cho Mig-21 cất cánh, phát hiện được hai chiếc máy bay B-52, nhưng ở thế đối đầu không đánh được nên phải quay về hạ cánh ở Sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa).

Ngày 20-10-1971, Binh chủng tiếp tục đưa một biên đội 2 chiếc Mig-21 vào trực chiến ở Sân bay Vinh và một biên đội Mig-21 vào trực chiến ở Sân bay Anh Sơn. Đến 20 giờ cùng ngày, phát hiện máy bay B-52 địch hoạt động ở vùng trời Sầm Nưa, phi công Vũ Đình Rạng trực bay ở Sân bay Anh Sơn nhận lệnh xuất kích. Vào 20 giờ 46 phút cùng ngày, Mig-21 còn cách tốp B-52 khoảng 100km, theo lệnh chỉ huy anh thả thùng dầu phụ, kéo máy bay lên cao 10.000m. Còn cách địch 15km, Vũ Đình Rạng bật ra-đa và phát hiện B-52 cách 11km ở phía trước, anh tăng tốc độ cho máy bay tiếp cận gần mục tiêu, đến cự ly 8km anh bắn một quả tên lửa. Khi vòng máy bay lại, nhìn thấy một chiếc B-52 khác, anh bắn tiếp quả tên lửa thứ hai rồi nhanh chóng thoát ly, hạ cánh an toàn lúc 21 giờ 15 phút xuống Sân bay Anh Sơn.

Theo xác nhận của Không quân Mỹ, trận này một chiếc B-52 bị hỏng động cơ do trúng tên lửa, buộc phải hạ cánh ở Sân bay U-Đôn, Thái Lan. Đây là trận đánh đầu tiên của không quân ta với máy bay B-52, một trận đánh được chuẩn bị công phu, chỉ huy và dẫn đường tốt, giữ được bí mật bất ngờ cho đến khi nổ súng. Tuy chưa bắn rơi tại chỗ máy bay địch, song đây là thực tế đã chứng minh, máy bay Mig-21 của ta có thể bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của địch.

HOÀNG NAM
qdnd.vn

Bộ đồ bay của Trung tướng Phạm Tuân

Đã 40 năm, nhưng Trung tướng Phạm Tuân vẫn nhớ như in trận đánh B-52 đêm 27/12/1972.

Sau khi cất cánh trong đêm tối, ông bay giữa các lớp mây ở độ cao 500m, khoảng cách đến mục tiêu là 10km. Đúng lúc đó ông nhận được lệnh tấn công. Vì muốn tiếp cận mục tiêu gần hơn nữa để ăn chắc, ông đã thực hiện mệnh lệnh đó chậm lại. Sau khi phóng 2 quả tên lửa, cho máy bay bổ nhào xuống, ông đưa máy bay xuống độ cao an toàn và hạ cánh. Mấy giờ sau có tin thông báo chính thức Không quân Việt Nam đã bắn rơi B52 của Mỹ. Cái tên Phạm Tuân luôn được nhắc tới với thành tích là phi công đầu tiên của Việt Nam bắn rơi B52, phi công đầu tiên của Việt Nam bay vào vũ trụ…

Nhưng ít ai biết, để có những chiến công vang dội ấy, ông đã phải trải qua bao gian khổ hiểm nguy. Một trong những tình huống hiểm nghèo đối với Anh hùng phạm Tuân là ngày 18/12/1972, máy bay Mỹ bất ngờ tấn công sân bay của ta. Đường băng cất cánh, đài chỉ huy phá hủy, liên lạc bị cắt. Phạm Tuân là phi công đầu tiên cất cánh lên bầu trời sau khi có báo động.

Bộ đồ bay của Trung tướng Phạm Tuân.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhiên liệu trên máy bay sắp cạn, cần hạ cánh khẩn cấp, Phạm Tuân đã quyết định hạ cánh ở sân bay vừa bị đánh bom. Đêm tối, không hề có đèn pha trên sân bay, máy bay hạ cánh chỉ nhờ ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pha. Khi máy bay vừa chạm đất thì lập tức bị tụt xuống hố bom. Tốc độ hạ cánh của MIG – 21 khá cao và chiếc máy bay đã lộn nhào rồi trượt đi khoảng 300m, bụng hướng lên trời và quay trở lại 180 độ. Chiếc máy bay gần như đã bị phá hủy, may mắn là nó nhanh chóng dừng lại và không bốc cháy. Phạm Tuân bị va đập rất mạnh trong buồng lái, nhưng nhờ bộ đồ bay ông đã thoát chết.

Nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, Trung tướng Phạm Tuân vẫn cất giữ bộ đồ bay và chiếc mũ phi công ở nơi trang trọng nhất trong nhà mình, như một lời nhắc nhở về một thời gian khổ và hào hùng. Hiện nay chiếc mũ đã cũ đi rất nhiều, những móc khóa không còn nguyên vẹn, ngay cả tấm kính chắn trước mặt cũng ố mờ với vài vệt xước, bộ quần áo sờn bạc, dù được sản xuất tại Liên xô bằng thứ vải khá đặc biệt… Ông nâng niu kỉ vật này không chỉ vì những chiến công lừng lẫy mà một phần bởi nó gắn với những kỷ niệm sinh tử.

Phạm Cường
baodatviet.vn

Đánh máy bay địch bằng mọi quy mô, từ mọi hướng

QĐND – “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của thế trận phòng không nhân dân (PKND) và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam, được phát huy và kế thừa từ truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đỉnh cao của PKND là chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, cuối tháng 12-1972, đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B -52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương lân cận.

Nội dung cơ bản nhất của PKND là tổ chức phòng tránh, thông báo, báo động và đánh trả không quân địch. Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng lực lượng không quân chiến lược và phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất để tiến công ta, với tham vọng “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”. Biện pháp và thủ đoạn phổ biến là đi đôi với đánh phá ác liệt bằng không quân, hải quân, từ leo thang từng bước đến tiến công ồ ạt các thành phố, thị xã lớn, các huyết mạch giao thông thủy, bộ, các cơ sở kinh tế, văn hóa, các vùng đông dân, hệ thống đê điều, đập nước… hòng cứu vãn sự bị động về chiến lược trên chiến trường miền Nam.

Xác máy bay F -111 bị quân dân miền Bắc bắn rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972. Ảnh tư liệu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thực hiện một cuộc chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không từ Trung ương đến các địa phương, nhất là các thành phố lớn đều có sự chuẩn bị chủ động về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tổ chức PKND. Các hoạt động SSCĐ, sơ tán, bảo đảm giao thông, vận tải, y tế, đánh trả được triển khai nhanh chóng. Các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… cũng được chuyển hướng phù hợp với tình hình. Trên cơ sở một cuộc chiến tranh nhân dân, PKND đã nhanh chóng hình thành với đầy đủ yêu cầu và nội dung, đó là toàn dân vừa đánh máy bay, vây bắt giặc lái, vừa làm công tác phòng tránh, thông báo, báo động; toàn dân khắc phục hậu quả, cứu hỏa, cứu sập, cứu thương; toàn dân làm công tác giao thông vận tải, toàn dân vừa chiến đấu vừa sản xuất, vừa bảo vệ hậu phương, vừa phục vụ tiền tuyến.

Một yếu tố làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là lực lượng phòng không quốc gia và PKND đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ. Bằng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không quốc gia, PKND, quân và dân ta đã tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không rộng khắp, hiểm hóc, nhiều tầng, nhiều lớp; sử dụng cả lối đánh phân tán và tập trung; đánh máy bay địch bằng mọi quy mô; đánh địch từ xa đến gần; đánh bằng cả lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động; đánh địch từ tầm thấp, đến tầm trung và tầm cao; đánh địch đến từ mọi hướng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng không quân Mỹ. Chúng ta đã xây dựng, tổ chức lực lượng với khẩu hiệu: “Toàn dân bắn máy bay Mỹ, toàn dân tham gia vây bắt giặc lái; già trẻ, trai, gái bằng súng bộ binh đều tham gia bắn máy bay Mỹ, mỗi người dân là một chiến sĩ”. Nét phát triển sáng tạo của nghệ thuật tổ chức lực lượng tác chiến PKND chống không quân hiện đại của Mỹ là cách đánh độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không ”, lực lượng bắn máy bay của dân quân, tự vệ đã tổ chức và kiện toàn các đơn vị dân quân “tay cày, tay súng” và tự vệ “tay búa, tay súng”. Đến tháng 12-1972, ta có 54.000 chiến sĩ dân quân, tự vệ với hàng trăm súng, pháo phòng không các loại. Các đơn vị tự vệ vừa bám chắc nhiệm vụ sản xuất, vừa sẵn sàng tham gia chiến đấu, khắc phục địa hình chật hẹp và tầm bắn hạn chế, hầu hết tận dụng nóc nhà cao tầng trong nội thành để bố trí các trận địa súng máy cao xạ (12,7mm, 14,5mm…). ở các khu phố của Ba Đình, Hoàn Kiếm, ta bố trí hỏa lực tự vệ khá tập trung. Như vậy, với lực lượng dân quân, tự vệ có nhiệm vụ đánh máy bay địch ở tầm thấp, xen kẽ với các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa đánh địch ở tầm trung và tầm cao, chúng ta có lưới lửa phòng không dày đặc của ba thứ quân được tổ chức chặt chẽ theo mệnh lệnh chỉ huy thống nhất, tổ chức đánh trả máy bay Mỹ đạt hiệu quả cao. Lực lượng PKND mà nòng cốt là dân quân, tự vệ trong 12 ngày đêm đã bắn rơi 11 máy bay địch, chiếm tỷ lệ 13,5% tổng số máy bay bị bắn rơi trong chiến dịch. Có những trận đánh xuất sắc như cụm súng máy phòng không 14, 5mm của tự vệ Hà Nội bố trí ở Vân Đồn, đã bắn rơi 1 máy bay F -111…

Lưới lửa PKND trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch, đánh bại không quân của đế quốc Mỹ, giành chiến thắng vĩ đại trong thời đại Hồ Chí Minh…

Thiếu tướng Ngô Mạnh Hà, Cục trưởng Cục PKLQ
qdnd.vn