Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Vận dụng tư tưởng, tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh

Tự học và học suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và chính Người là tấm gương sáng ngời về tinh thần suốt đời bền bỉ và khiêm tốn học hỏi. Người căn dặn: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học hỏi ở nhân dân”, “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.

Học tập phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”

Truyền thống gia đình, quê hương đã hun đúc nên tinh thần hiếu học của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Trong những năm tháng ra đi tìm đường cứu nước, Người chứng kiến và thấu hiểu được cảnh lầm than, thất học của nhân dân các dân tộc thuộc địa. Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáu là: “Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh”. Chính quá trình tự nghiên cứu, học tập và khảo sát mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc: Đó là sự kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác coi việc diệt giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm: “Giặc đói, giặc dốt là bạn đồng hành của giặc ngoại xâm” vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Bác động viên khích lệ đồng bào: “Đi học là yêu nước”. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ do Hồ Chí Minh chủ trì đã nêu xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân lao động là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ. Mỗi người biết chữ đều phải tham gia dạy cho người mù chữ: “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo…”. Trong bài “Chống nạn thất học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Năm 1946, trong “ham muốn tột bậc” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của chúng ta, bên cạnh ham muốn “nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc”, là ham muốn “ai cũng được học hành”. Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh để có một  kiến thức uyên bác,  tài năng lỗi lạc, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới bến bờ vinh quang.

Với sự nghiệp trồng người, Bác căn dặn “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Theo Bác, trong cách học thì “lấy tự học làm cốt”, phải coi trọng trách nhiệm tự học của mỗi người, tự học thêm để làm chủ được tri thức. Những điều được học, được nghiên cứu tại trường chỉ có thể ví như một “hạt nhân bé nhỏ” mà người học “sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả”. Mục đích của việc học là để làm cán bộ phục vụ cho Tổ quốc “phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Người cảnh báo trước cho cán bộ thấy là “không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Để thực hiện được mục đích giáo dục thì nội dung giáo dục phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Bác nhấn mạnh: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Bác nêu ra nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành”, “kết hợp lý luận với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn kết hợp với thực tiễn nước nhà…”.

Học tập suốt đời là khâu then chốt để cải cách giáo dục và là nội dung cốt lõi của xã hội học tập. Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bắt gặp xu thế của thời đại khi mô hình xã hội học tập là một trong những đặc điểm và yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia trong nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu. UNESCO nhận định: chính việc học tập suốt đời sẽ thúc đẩy tạo ra sự bình đẳng cho mọi người, làm cho mọi người đều có cơ hội học tập trong mọi điều kiện khác nhau vì mục đích của việc học tập là “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khảng định mình”. Học vấn ở trong nhà trường trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn và không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của thực tiễn. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại cho nhân loại một lượng tri thức và thông tin theo hàm số mũ, sự đổi mới công nghệ làm cho kiến thức và tay nghề trước đây mà người học tiếp thu được trong giáo dục ban đầu trở nên lỗi thời, tụt hậu đòi hỏi phải liên tục được đào tạo và tự đào tạo để có khả năng thich ứng với những thực tiễn mới đòi hỏi

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới, Đảng ta đề ra khái niệm giáo dục suốt đời, Văn kiện Đại hội IX của Đảng xác định  mục tiêu  xây dựng “Cả nước trở thành một xã hội học tập nhằm“Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời”, Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Điều này phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước, giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân với điều kiện cơ sở vật chất còn  hạn chế.

Từ các Nghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 50 – CT/TW ngày 24/8/1999 và Chỉ thị 11/CT/TW ngày 13/4/2007 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác định: “Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta” và Chỉ thị 02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hoá về mặt nhà nước, nhằm đưa chủ trương lớn của Đảng vào cuộc sống.

Để xây dựng một xã hội học tập, chúng ta phải tiến hành đổi mới giáo dục cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy lẫn  cách kiểm tra, đánh giá. Việc đề cao phương thức học tập suốt đời đi đôi với đề cao năng lực tự học của mỗi người mà chủ yếu là học cách học, đưa người học từ vị trí thụ động trở thành người chủ động, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Các hình thức giáo dục phải đa dạng và linh hoạt với những phương pháp khoa học, phương tiện hiện đại nhằm biến cả nước trở thành một trường học lớn, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ đều được học tập, cập nhật kiến thức, công nghệ để tự nâng cao năng lực trí tuệ và khả năng thực hành, đáp ứng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, chúng ta phải học thường xuyên, học suốt đời, góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập./.

Tác giả bài viết: Bùi Viết Trung
Nguồn tin: Nội san 2010 – Trường Chính trị

truongchinhtri.edu.vn

Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong giảng dạy môn học Xây dựng Đảng hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết xây dựng Đảng của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác – Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để giải quyết đúng đắn những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Đảng ta, đảm bảo cho Đảng ta luôn thể hiện được bản chất cách mạng và khoa học – thuộc tính căn bản nhất của một Đảng Mác-Lê nin.

Với nhận thức sáng suốt và sâu sắc rằng: Chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, Hồ Chủ Tịch đã nổ lực phấn đấu để sáng lập Đảng ta và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Người luôn luôn chăm lo xây dựng Đảng ta lớn mạnh về mọi mặt.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đổi mới tư duy lý luận là một yêu cầu rất quan trọng. Với bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với những nguyên lý xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền Nhà nước đã được cuộc sống kiểm nghiệm và đã trở thành chân lý, Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Chúng ta không những phải nắm vững những nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí minh, nắm vững những quan điểm cơ bản về xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước mà còn phải tiếp tục phát sáng tạo trong điều kiện lịch sử mới.

Vì vậy, việc nghiên cứu, quán triệt chủ nghĩa Mác – Lê nin và nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh một cách thật sự nghiêm túc và sâu sắc là một yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với người giáo viên ở các Trường chính trị nói chung và trường chính trị Nghệ An nói riêng.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, trước lúc vĩnh biệt thế giới này, trong Bản di chúc để lại cho các thế hệ mai sau, điều trước hết Người cũng nói về Đảng. Người căn dặn: “Việc cần làm đầu tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mọi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Trong công tác xây dựng Đảng, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục lập trường và bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng và niềm tin cộng sản, lòng yêu nước thương dân cho cán bộ, đảng viên.

Trong bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, mãi mãi còn in sâu trong tâm hồn các thế hệ đảng viên, Bác viết:

“Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hàng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang…

Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm.

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn đảng về lý tưởng cộng  sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên… Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết “quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”.

Đối với công tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất nhiều nội dung từ việc khẳng định Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và không ngừng phấn đấu nâng cao tính chất giai cấp công nhân của Đảng; và đã là Đảng của giai cấp công nhân thì phải lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, nhưng dân chủ phải đi đôi với kỷ luật. Để giữ vững kỷ luật của Đảng Người căn dặn: cán bộ, đảng viên phải thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình được Người đặc biệt quan tâm, Người coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp để củng cố và phát triển sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, giữ vững và phát huy sức mạnh của Đảng ta.

Phê bình và sữa chữa, tự phê bình và phê bình được Người đề cập ở rất nhiều bài nói bài viết của mình; Người coi “Tự phê bình và phê bình” cũng như cơm ăn, nước uống, như không khí để thở của người cách mạng. “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm”.

Nghĩa là tự phê bình phải thường xuyên, chứ không phải chờ khi khai hội mới tự phê bình, không phải khi làm khi không. Bác Hồ cặn dặn chúng ta:

“Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sữa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

“Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sữa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng”. “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

Để “Tự phê bình và phê bình” có hiệu quả, Người căn dặn rất cụ thể:

“Tự phê bình phải thật thà. Khi tự mình kiểm điểm cũng như khi tự phê bình trước mọi người, có khuyết điểm gì nói hết, không dấu giếm chút gì. Phải tìm cho ra vì sao mà sai lầm. Sai lầm ấy sẽ thế nào. Dùng cách gì mà sữa chữa.

Tự phê bình và sữa chữa khuyết điểm có khi dễ , nhưng cũng có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh. Tự mình, không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng được kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý. Vì vậy người cách mạng nhất định phải thật thà tự phê bình và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm”.

Chúng ta  vì dân, vì nước mà làm cách mạng.Muốn cách mạng thành công, ắt phải đoàn kết và tiến bộ. Muốn đoàn kết càng chặt chẽ, tiến bộ càng mau chóng, thì mọi người phải sữa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Mà muốn được như thế thì không có cách gì hơn là thật thà tự phê bình và phê bình.

Mục đích phê bình là cốt lợi cho công việc chung. Nguyên tắc phê bình là phải nhằm vào tư tưởng và công tác. Tư tưởng không đúng đắn thì công việc ắt sai lầm. Phê bình là cốt đẻ giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù, không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng”.

Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ. Cấp dưới có quyền phê bình cấp trên. Nhân dân có quyền phê bình cán bộ, phê bình chính quyền, Đảng và đoàn thể. Mọi người có quyền phê bình nhau để cùng nhau tiến bộ.

Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, quyết không nên thầm thì, thầm thụt “viết thư dấu tên”, như một vài cán bộ ở trung ương đã làm.

Đảng viên và cán bộ, Đảng, các đoàn thể nhân dân và chính quyền cần phải hoan nghênh và khuyến khích nhân dân phê bình. Nếu phê bình sai thì phải giải thích. Phê bình đúng thì phải công khai thừa nhận và sửa chữa.
Dìm phê bình hoặc phớt phê bình  là khinh rẻ ý kiến nhân dân, là trái với dân chủ và rất có hại, cũng như có bệnh mà từ chối uống thuốc.

Phê bình và tự phê bình là công việc thường xuyên. Ngừng phê bình và tự phê bình tức là ngừng tiến bộ, tức là thoái bộ.

Người ta luôn luôn cần không khí để sống. Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bình thiết tha như người ta cần không khí.

Cách mạng sở dĩ phát triển mãi, tiến bộ mãi, càng gặp nhiều gian khổ càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình.  Cho nên toàn thể đảng viên và cán bộ cần làm gương mẫu, thật thà và tự phê bình để tự giáo dục mình và giáo dục nhân dân, để làm tròn sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ cho chúng ta thấy rõ một số biểu hiện không lành mành của một số cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện tự phê bình :

“Vẫn có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài đảng. Họ không biết rằng: có hoạt động thì khó hoàn toàn tránh khỏi sai lầm. Chúng ta không sợ sai lầm; chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân”.

Tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng và sự lớn mạnh của Đảng.

Để thực hiện lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Người Đảng ta đã ra Nghị quyết TW 6(lần 2) trong đó có nội dung: mở cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng từ 19-5-1999 đến 19-5-2001 và những năm tiếp theo. Năm 2001, Đảng ta đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết TW 6 (lần 2); TW Đảng đã nêu rõ những ưu điểm qua quá trình thực hiện Nghị quyết trên là đã tạo ra được một sự chuyển biến tiến bộ trong sinh hoạt của các tổ chức Đảng đã thể hiện được bầu không khí dân chủ rộng rãi hơn. Tuy nhiên, TW cũng  thẳng thắn nêu rõ mặt còn tồn tại khuyết điểm là kết quả việc thực hiện Nghị quyết TW6( lần 2) chưa đạt được như mong muốn. Những tồn tại trên có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân quan trọng là do nhiều cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tư tưởng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, việc quán triệt nội dung trên trong các bài giảng của môn học Xây dựng Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, đó là một trong những nội dung để xây dựng Đảng ta mãi mãi trong sạch vững mạnh./.

Tác giả : Hồ Sỹ Quế – Trưởng khoa Xây dựng Đảng

truongchinhtrina.gov.vn

60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc

(ĐCSVN) – Nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 – 3-2-2008) và 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (10-1947 – 10-2007) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

Thiết thực thực hiện cuộc vận động của Đảng và nhân dịp kỷ niệm 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự đồng ý của Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã phối hợp với Báo Nhân dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, tổ chức Hội thảo khoa học – thực tiễn quốc gia với chủ đề: 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Cuộc Hội thảo đã nhận được sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học của nhiều bộ, ban, ngành, nhà trường, học viện, viện nghiên cứu… Các bài tham luận khoa học đã tập trung phân tích làm nổi bật những tư tưởng, quan điểm cách mạng, khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc về xây dựng Đảng cầm quyền, về công tác cán bộ, về đạo đức cách mạng, về mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, v.v.. Đồng thời, các bài tham luận cũng đã nêu bật được ý nghĩa, tính thời sự nóng hổi của tác phẩm Sửa đổi lối làm việc đối với sự nghiệp đổi mới đất nước của chúng ta hôm nay với nhiều thành công nhưng cũng còn tồn tại không ít khuyết điểm, yếu kém cần phải được sửa đổi, khắc phục, theo đúng tinh thần “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là một tấm gương sáng chói và mẫu mực về đức hy sinh cao cả cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, kể từ khi chuẩn bị cho sự ra đời chính đảng mácxít – lêninnít chân chính ở Việt Nam cho đến khi Người rời xa chúng ta để về cõi vĩnh hằng, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu và trăn trở nhiều nhất là vấn đề xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng đi đến thành công, đem lại độc lập cho Tổ quốc, phồn thịnh cho đất nớc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, Người thường xuyên chăm lo công tác xây dựng, củng cố Đảng, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ đức đủ tài, để trong bất kỳ giai đoạn nào, Đảng cũng phải là một tổ chức cách mạng tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, lương tâm và danh dự của dân tộc, làm tròn nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân đã tin tưởng giao phó.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, về công tác cán bộ, về giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên được thể hiện trong rất nhiều bài viết, bài nói của Người, mà một trong số đó là tác phẩm Sửa đổi lối làm việc hoàn thành vào tháng 10-1947 tại Chiến khu Việt Bắc trong hoàn cảnh Đảng ta cầm quyền mới được hai năm, chính quyền cách mạng còn non trẻ, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang trong những năm đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vô cùng gian khó. Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Người được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản đầu năm 1948 và phổ biến rộng rãi trong toàn quốc đã chỉ đạo, hướng dẫn toàn Đảng thực hiện một cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thực sự nâng cao năng lực lãnh đạo, nâng cao uy tín, đạo đức và sự gắn bó máu thịt với nhân dân, lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc gồm có sáu phần, là sự thể hiện những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, thực sự có ý nghĩa sâu sắc trong xây dựng Đảng ta cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, là cẩm nang cho cán bộ, đảng viên trong học tập, phấn đấu công tác, tu dưỡng đạo đức và rèn luyện tác phong làm việc. Với những câu văn ngắn gọn, hàm súc, lời văn gần gũi với quần chúng, dễ đọc, dễ hiểu, tác phẩm Sửa đổi lối làm việc đề cập một cách toàn diện các vấn đề về xây dựng Đảng:

Tự phê bình và phê bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập nhiều lần nhất trong tác phẩm bởi tầm quan trọng đặc biệt của nó đối với công tác xây dựng Đảng. Tự phê bình và phê bình, theo Người, là để nhận rõ ưu điểm, thấy được khuyết điểm, để từ đó mà tìm cách phát huy ưu điểm, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, để giúp nhau tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn.

Sửa đổi lối làm việc của Đảng để sửa trị các chứng bệnh nguy hiểm bên trong như chủ quan, hẹp hòi, ba hoa. Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm, nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì nguy hại vô cùng. Từ bệnh chủ quan mà sinh ra các bệnh kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông; bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức. Từ bệnh hẹp hòi mà sinh ra nhiều bệnh khác như: chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa… Từ thói ba hoa mà sinh ra nhiều thói xấu khác: dài dòng, rỗng tuếch; cầu kỳ; khô khan, lúng túng; báo cáo lông bông; lụp chụp cẩu thả; “sáo cũ”; nói không ai hiểu; bệnh hay nói chữ… Để chữa khỏi những bệnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương thuốc hay nhất vẫn là tự phê bình và phê bình.

Mấy điều kinh nghiệm phê phán những khuyết điểm trong công tác như cách lãnh đạo kém và quan liêu dẫn tới không biết cất nhắc cán bộ tốt, hao phí nhân tài, không biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc, làm việc ít có sáng kiến và lòng hăng hái, cách lãnh đạo không đợc dân chủ, cách công tác không được tích cực, không sát quần chúng, hợp quần chúng… Đồng thời, đối với sai lầm, khuyết điểm trong mỗi công tác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có những chỉ dẫn thiết thực, cụ thể để sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm đó.

Tư cách và đạo đức cách mạng được Người đề cập không dài nhưng toát lên đầy đủ những nội dung cơ bản của đạo đức cách mạng, tầm quan trọng của nó đối với mỗi con người cũng như đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng, đặc biệt, Người đã bàn tương đối cụ thể về phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng. Người nêu lên tư cách của Đảng chân chính cách mạng gồm 12 điều, mà theo Người: “Muốn cho Đảng được vững bền, mười hai điều đó chớ quên điều nào”. Về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, Người chỉ rõ, cán bộ, đảng viên phải: “Trọng lợi ích của Đảng hơn hết”, nghĩa là “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là tính Đảng”. Người chỉ ra năm tính tốt của người cán bộ chân chính cách mạng gồm: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, và khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng… Đạo đức đó… không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”.

Vấn đề cán bộ luôn là vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Người cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Với quan điểm đó, Người đề cập đến một cách toàn diện về công tác cán bộ bao gồm cách huấn luyện cán bộ, dạy cán bộ và dùng cán bộ, lựa chọn cán bộ, chính sách cán bộ… chỉ rõ những khuyết điểm trong công tác cán bộ và chỉ dẫn cách khắc phục, để xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện một đội ngũ cán bộ có đức có tài, trong đó đức là gốc, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Phương thức lãnh đạo của Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng cách nói giản đơn, dễ hiểu là cách lãnh đạo. Theo Người, cách lãnh đạo đúng là liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng và liên hợp lãnh đạo với quần chúng. Cách lãnh đạo đúng còn phải biết làm việc theo cách quần chúng, học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng. Lãnh đạo phải gắn với công tác kiểm tra, giám sát thì mới có hiệu quả, đồng thời phải giữ vững mối liên hệ mật thiết, máu thịt giữa Đảng và nhân dân, “một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”, bởi vì “không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”, v.v..

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lối làm việc cách đây đã 60 năm, nhưng những vấn đề Người nêu ra trong tác phẩm vẫn sống mãi với thời gian. Bởi vì, đó là những vấn đề đã được Người nghiền ngẫm, suy nghĩ, dự đoán, tiên liệu khi Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, được Người viết ra bằng toàn bộ tâm huyết, bằng lý luận, khoa học và kinh nghiệm thực tiễn hoạt động cách mạng của mình. Học tập, quán triệt và vận dụng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Đảng ta đã không ngừng phấn đấu, rèn luyện, đổi mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả chính trị, tư tưởng và tổ chức để không ngừng trởng thành, nâng cao năng lực tổ chức và năng lực lãnh đạo, nâng cao sức mạnh chiến đấu, uy tín, đạo đức cách mạng, sự liên hệ máu thịt với nhân dân, để từ đó lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giành thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và đem lại những thành công có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới hơn 20 năm qua của đất nước ta.

Hơn 60 năm đã trôi qua, đất nước ta đã trải qua bao nhiêu thay đổi lớn lao, nhng những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc vẫn là những vấn đề nóng hổi tính thời sự đối với quá trình đổi mới, phát triển đất nước ta hiện nay. Những căn bệnh của Đảng cầm quyền, của cán bộ, đảng viên mà Người đã phát hiện, cảnh báo từ 60 năm trước vẫn còn tồn tại, thậm chí có phần phức tạp hơn trước, khó sửa chữa hơn trước, như Đảng ta đã chỉ ra: “Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp uỷ còn yếu. Quan hệ giữa Đảng và nhân dân có lúc, có nơi bị xói mòn… Không ít tổ chức đảng yếu kém…, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Đó là một nguy cơ liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Chính vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ cơ bản và cấp bách hiện nay. Đảng ta đã phát động và tiến hành cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó có cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Vì vậy, việc học tập, nắm vững và thực hiện có hiệu quả những lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Sửa đổi lối làm việc thực sự có ý nghĩa sâu sắc đối với Đảng, cán bộ, đảng viên trong cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Trên cơ sở hơn 63 bài tham luận khoa học tại Hội thảo của các tác giả, Nhóm Biên soạn và Ban Biên tập đã chỉnh lý, biên tập và sắp xếp thành năm phần. Các bài viết được tập hợp vào mỗi phần chỉ mang tính tương đối, bởi các vấn đề được đề cập trong đó đều xoay quanh chủ đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Phần thứ nhất: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và sự lãnh đạo của Đảng.

Phần thứ hai: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với công tác cán bộ.

Phần thứ ba: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với việc giữ vững mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.

Phần thứ tư: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Phần thứ năm: Ý nghĩa cách mạng và tính thời sự của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.

BVK

dangcongsan.vn

Một số bài học qua tác phẩm “sửa đổi lối làm việc”

(Nhân Dân) – Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, tổng hợp và vạch rõ những căn bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân có thể làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự, thậm chí phá hỏng cả sự nghiệp vẻ vang của Ðảng ta.

Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một Nhà nước do Ðảng Cộng sản lãnh đạo là Nhà nước kiểu mới, khác về bản chất và tổ chức so với Nhà nước của các giai cấp bóc lột. Ðó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân và nhân dân là người chủ thực sự. Ðảng Cộng sản cầm quyền là lực lượng chính trị lãnh đạo Nhà nước cùng toàn thể xã hội. Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Ðảng có trách nhiệm vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn để lãnh đạo Nhà nước và nhân dân cùng thực hiện, nhưng đồng thời, Ðảng cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về tất cả những kết quả đúng – sai, thành công – thất bại theo định hướng mà Ðảng đã đề ra.

Hiểu rõ bản chất và vai trò lãnh đạo của Ðảng nên từ năm 1947, Người đã viết cuốn Sửa đổi lối làm việc để xây dựng cách lãnh đạo và lề lối làm việc, làm cẩm nang cho cán bộ đảng viên trong điều kiện Ðảng cầm quyền. Sau khi tổng hợp và vạch rõ những căn bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân có thể làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự, thậm chí phá hỏng cả sự nghiệp vẻ vang của Ðảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, trước hết là lãnh đạo chủ chốt thật sự có đức, có tài, tiêu biểu cho trí tuệ,danh dự, lương tâm của Ðảng Cộng sản. Qua thực tiễn hoạt động và những thành quả cách mạng đã đạt được, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một số bài học mà chúng ta cần nghiêm túc nghiên cứu, áp dụng sáng tạo trong hoàn cảnh Ðảng ta đang kiên trì và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng Ðảng, vững mạnh trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức.

1- Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong:

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Ðó là một chân lý nhất định”. Ngay từ khi chính quyền cách mạng nhân dân được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời những nhân sĩ, học giả, trí thức của xã hội cũ ra làm việc và tham gia vào công tác chính quyền. Tất cả những ai có chuyên môn, cần dùng vào lĩnh vực nào nếu có nhiệt tâm đều được trọng dụng. Bên cạnh việc đào tạo và rèn luyện đội ngũ cán bộ cần kiệm liêm chính, chí công vô tư làm công bộc cho dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi các ngành các cấp và địa phương tìm và tiến cử nhân tài để kiến quốc. Nhờ sự góp sức đồng lòng của toàn dân, toàn quân mà cuộc kháng chiến trường kỳ của ta thắng lợi vẻ vang và sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Ðảng từng bước phát triển bền vững. Ngày nay, các thế hệ cán bộ của chúng ta được đào tạo cơ bản, đầy đủ, chính quy với số lượng đông đảo thường xuyên nhưng thực tế chất lượng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, không ít cán bộ lãnh đạo sa vào tham nhũng, lãng phí, quan liêu khiến nhân dân bất bình, giảm lòng tin. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, kinh tế, nào quân sự, văn hóa, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến như A. Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: Bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài”.

2- Chính sách thì đúng, cách làm thì sai:

Những đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước ban hành hoàn toàn đúng, nhưng xuống đến các địa phương thì bị thực hiện sai lệch hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn, đánh trống bỏ dùi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét nguyên nhân của sự việc là vì chúng ta không xét đến nguyên nhân cơ bản: trách nhiệm và năng lực của những người thi hành chính sách, một điều rất đơn giản: “Tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Như vậy, những người cụ thể điều hành và chỉ đạo chính sách thực tế ở cơ sở cũng quan liêu, không kiểm tra, kiểm soát sát sao, mà cũng có thể do chủ quan, kế hoạch không ăn khớp với hoàn cảnh, lý thuyết áp dụng chéo chân, cốt lấy thành tích cho xong chuyện, kết quả là công sức, tiền của, chất xám, thời gian đổ vào đầu tư đều phí phạm. Thí dụ, khẩu hiệu dạy tốt – học tốt của ngành giáo dục. Chủ trương thì đúng nhưng thực tế là rất nhiều trường chạy đua lấy thành tích cao, lấy tiếng trường điểm nên đối phó, nâng điểm, chữa điểm, dễ dãi trong thi cử và ghi học bạ theo yêu cầu cho nên học sinh mất gốc, giáo viên biến chất. Thậm chí tại một trường PTTH chuẩn của thành phố Hà Nội, người ta còn sửa điều cuối trong 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng thành: Tăng cường rèn luyện sức khỏe để phục vụ cho phong trào thể dục thể thao nhà trường! Ngoài ra, một số địa phương cũng chạy theo thành tích, tất cả vì thành tích và danh hiệu cho nên thi đua ồ ạt, đã thiếu kinh nghiệm lại thêm nóng vội kết quả cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng. Cũng vì thế nên Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bất kỳ việc gì, chúng ta phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc”.

3- Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái:

Trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ anh dũng, chúng ta đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu và sản xuất, phát huy nhiều sáng kiến và khích lệ tinh thần hăng hái cống hiến của quân và dân ta. Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì dường như những sáng kiến và sự hăng hái không bằng thời kỳ trước. Cũng có nhiều cá nhân và tập thể doanh nghiệp đưa ra nhiều công trình, phát minh trong lĩnh vực khoa học, công nghệ vì nhu cầu thực tế và phát triển kinh doanh nhưng trong các cơ quan hành chính sự nghiệp thì phần nhiều ý tưởng tự phát chứ chưa phải tự giác. Muốn phát huy được sáng kiến và lòng hăng hái thì phải đầu tư điều kiện phát triển về cả tinh thần và vật chất mà trong đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ rằng, chính cách lãnh đạo không được dân chủ và công tác tư tưởng không được tích cực là nguyên nhân cản trở sáng kiến và làm nguội nhiệt tình. Hiện tượng này cụ thể là: “Ðối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau… Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra”. Chính vì những ấm ức, bức xúc để bụng nên cán bộ không thoải mái hăng hái đưa ra sáng kiến, họ sẽ dùng nhiều thời gian vàng ngọc xả bớt những chán nản dồn nén, sinh ra hiện tượng không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng và nhiều thói xấu khác nữa. Ðể giải quyết triệt để hiện tượng này thì cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới và đồng thời người lãnh đạo: “Phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”. Khi đã thoải mái, hăng hái rồi ắt sẽ có sáng kiến. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng hai chữ sáng kiến không nên sử dụng một cách mênh mông không thiết thực, chỉ nêu ra để đấy hoặc không khả thi, làm không mang lợi chỉ thêm tốn tiền của công sức tập thể sẽ trở thành tối kiến. Chúng ta cũng nên xác định rằng: “Sáng kiến không phải cái gì kỳ lạ. Nó chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực”. Cách hữu hiệu nhất để phát huy sáng kiến và lòng hăng hái là mở rộng dân chủ, khuyến khích cán bộ đảng viên ham học hỏi, nghiên cứu sáng tạo và lãnh đạo cần phải khen ngợi đúng người đúng việc.

Ðại hội toàn quốc lần thứ X của Ðảng đã thống nhất quyết tâm tạo chuyển biến rõ rệt về công tác xây dựng Ðảng, để Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Chính vì vậy, trong giai đoạn cách mạng quan trọng này, chúng ta càng phải đi sâu nghiên cứu những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để áp dụng vào quá trình đổi mới và hội nhập, đặc biệt là một số bài học trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Người sẽ giúp cán bộ đảng viên càng hiểu rõ trách nhiệm của mình, ra sức rèn luyện và phấn đấu để: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

haugiang.gov.vn

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

(DVHNN) 1. Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người tận tâm suốt đời với sự nghiệp đấu tranh để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Chưa thấy ai nói lên được đầy đủ nỗi khổ của nhân dân, phản ánh chân thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và cũng chưa thấy ai bênh vực quyền lợi cho nhân dân như Hồ Chí Minh.

Ngay từ những năm, tháng gian nan vất vả đi tìm đường cứu nước, Người đã nói rõ mục đích của mình là để giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ ở Việt Nam. Dân tộc là đấu tranh để giải phóng dân tộc, dân chủ là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Tư tưởng dân chủ của Người được phát triển từng bước, khi Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Một nước dân chủ, theo quan điểm của Người là tất cả lợi ích, quyền hạn, quyền hành, trách nhiệm đều quy về nơi dân, đều ở nơi dân. “Nhân dân”, hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên trong lòng Người, cũng là tiếng chuông rung lên trong hàng triệu, hàng triệu trái tim của nhân dân Việt Nam. Ngay từ năm 1907, 1908, Người đã chứng kiến sức quật khởi vùng lên của nhân dân trong phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ. Từ “đồng bào” (chung một bọc) được Người dùng từ đây và trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người lấy đức, lấy tình thương yêu thật sự để cảm hóa dân.

Tư tưởng trọng dân được thể hiện không chỉ ở những trang sách lý luận bàn về dân, dân làm chủ, mà điểm chính yếu là người ta đã tìm thấy trong hoạt động thực tiễn của Người. Trọng dân, Người đến với dân. Trọng dân, Người gần gũi với các cụ già, trẻ thơ, thăm hỏi ân cần những người dân lương thiện, lao động cần cù, một nắng hai sương, an ủi họ, tạo mọi điều kiện để họ có cơ hội sống tốt, sống khỏe, sống vì mình, vì người, vì cộng đồng của 54 dân tộc anh em.

Tư tưởng dân chủ là tư tưởng tiến bộ nhất của phương Tây thời cận, hiện đại. Hồ Chí Minh xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện tiếng nói của dân tộc là tiếng nói chung của nhân dân, các quyền của nhân dân, chính quyền thật sự của nhân dân.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến lòng tin của người dân với Ðảng và Nhà nước, cụ thể là với những người lãnh đạo, quản lý. Người cho rằng, muốn được dân tin Ðảng, tin Nhà nước của mình, thì người lãnh đạo và quản lý, trước hết, phải dân chủ với dân, tôn trọng dân như tôn trọng chính bản thân mình. Không tôn trọng dân, không dân chủ với dân sẽ làm khoảng cách giữa Ðảng, Nhà nước với dân ngày một xa, làm cho lãnh đạo và người dân cách biệt nhau, xa rời nhau. Người chỉ ra: Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra. Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nói ra, cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Ðảng im tiếng, ngoài Ðảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cần phải nâng cao, mở rộng dân chủ, để cho người dân được “mở mồm”, động viên mọi người suy nghĩ để làm những việc ích lợi cho dân.  Người nói: Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: Dân rất tốt. Theo Người: Mỗi công việc của Ðảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, đó là trọng dân.

Hồ Chí Minh đã thường xuyên giáo dục cán bộ phải làm tốt công tác vận động nhân dân. Dân vận là vận động từng người dân, góp thành lực lượng toàn dân để chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Ðiều quan trọng là kiên trì giải thích cho dân hiểu trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích của mình. Người lãnh đạo chân chính bao giờ và bất cứ việc gì cũng phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, sao cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, lòng ham ý muốn của dân. Xét cho cùng, mọi cái đều từ dân mà ra và trở về nơi dân. Ðể cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là trọng dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề quan trọng bậc nhất là vấn đề lợi ích của người dân. Nếu lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, sẽ làm cho dân tin Ðảng, tin chế độ. Nguyên tắc chung của chính sách với dân là tạo sự hài hòa giữa ba lợi ích: Lợi ích công dân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, trong đó, phải hết sức coi trọng lợi ích của người lao động chân chính. Ðiều tiết thu nhập hợp lý và phân chia công bằng lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân là việc làm có ý nghĩa nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào Ðảng và Nhà nước. Muốn mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, trước hết, phải có chính sách đúng.  Quan điểm của Hồ Chí Minh là, tất cả đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước đều có ảnh hưởng trực tiếp đến dân, đều phải hướng vào dân và nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Di chúc, Người viết: Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân (Người gạch dưới nhấn mạnh cụm từ “nâng cao đời sống của nhân dân”). Mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, là trọng dân.

2. Hồ Chí Minh là người có phong cách rất đặc biệt để gần dân. Ðó là phong cách cao thượng đến giản dị. Tiết kiệm và giản dị là phong cách nổi trội của Hồ Chí Minh. Vì vậy, dân được đến với Người, được đứng bên người, được trò chuyện với Người, như được trò chuyện với người hiền, người cha, người thân yêu nhất của mình. Ðến với nông dân, Người mặc quần nâu, áo vải, khăn mặt vắt vai, đầu đội mũ cát. Ðến với công nhân, Người mặc bộ quần áo xanh đã bạc mầu, đi đôi dép cao-su. Ðến với trí thức, Người mặc bộ quần áo ka-ki mầu vàng, đi đôi giày vải, thể hiện sự hòa đồng rất tự nhiên với nhân dân lao động nói chung.

Sự tiết kiệm đến mẫu mực, thể hiện phong cách cao thượng  của  Hồ Chí Minh.

Tham ô (mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng) và lãng phí, dựa vào tiền “chùa” để ăn chơi vung phí, cái mà Người ghét cay, ghét đắng, thường xuyên lên án. Người nói: Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân. Lãng phí tuy khác với tham ô ở chỗ người gây ra lãng phí không trực tiếp trộm cắp của công làm của riêng. Nhưng kết quả thì làm tổn hại nghiêm trọng cho Nhà nước, cho nhân dân.

Tiết kiệm thời giờ là một trong những phong cách đặc sắc, thể hiện đạo đức cao quý của Hồ Chí Minh. C.Mác có lần đã nói: Tiết kiệm thời gian chính là một trong những nguồn gốc để tạo nên giá trị và giá trị sử dụng. Với Hồ Chí Minh, vấn đề tiết kiệm thời gian được xem như “thì giờ là vàng ngọc”, cho nên phải tiết kiệm thì giờ đi đôi với tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nó phải được xem như là một yếu tố kinh tế – xã hội, là vấn đề mang tính quy luật của quá trình vận động xã hội. Người là hiện thân và mẫu mực của việc sử dụng thời gian hợp lý trong mọi công việc. Trong hồi ký của một vị lão thành cách mạng kể rằng, khi còn là người đi lao động làm thuê ở nước ngoài trong lộ trình đi tìm đường cứu nước, đã chiếm hết thời gian trong mỗi ngày của Bác, nhưng khi rảnh rỗi, nhất là về đêm, Bác lại tranh thủ học tập, nghiên cứu. Khi trở về Tổ quốc thân yêu để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Bác đã dành hết thời gian để chăm lo, xây dựng lực lượng cách mạng, phát động quần chúng, tiến lên giành thắng lợi trong tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong những ngày hòa bình lập lại ở miền bắc, Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và nhân dân phải tranh thủ mọi thời gian để lo vào việc sản xuất và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền bắc, ủng hộ đồng bào miền nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiết kiệm thời gian sẽ góp phần đẩy nhanh tới thống nhất đất nước.

Phong cách gần dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở những công việc giản dị, đơn sơ hằng ngày khi tiếp xúc với dân, ở cách cư xử đầy tính nhân văn của tình người, tình làng, nghĩa xóm. Trong Hồi ký: Con đường theo Bác, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể lại, trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hồi ở núi rừng Việt Bắc, Ðảng, Chính phủ và Bác đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, nông dân, trường học, các lực lượng vũ trang như phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm. Bản thân tôi thuộc loại “chân yếu” (1), nhưng chiều nào cũng vác cuốc đi tăng gia. Có hôm cuốc đất tới lúc trời tối hẳn mới về. Sự cố gắng được đền bù bằng những luống rau xanh, bí, ngô, khoai. Tôi trồng được một vườn bí sai quả. Khi bí to, tôi hái vài quả, nhờ đồng chí thư ký mang sang biếu Bác. Bác nhận bí, rồi gửi lại đồng chí thư ký chuyển cho tôi bức thư. Trong thư, Bác đề vẻn vẹn có hai câu thơ:

“Ăn quả nhớ người trồng cây

Cảm ơn chú Việt. Bí này còn non”.

Câu thơ của Bác nhắc nhở tôi đừng vội hái quả non, mọi cái phải đạt tới “độ chín” mới có giá trị. Cách nhắc nhở nhẹ nhàng của Bác làm tôi thấm sâu. Ðặc điểm trong phong độ của Bác bao giờ cũng tế nhị, nhưng sâu sắc, chính vì thế mà Bác cảm hóa được nhiều người.

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là điểm hội tụ hợp thành đạo đức Hồ Chí Minh. Người là hiện thân của đạo đức, tình cảm, lương tâm, danh dự vì nhân dân.

Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là việc làm đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Tiếc rằng, trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên còn không ít những người xa dân, lên mặt với dân. Miệng nói phục vụ nhân dân, nhưng trong lòng lại chỉ muốn nhân dân phục vụ mình. Miệng nói nguyện làm đầy tớ của dân, nhưng việc làm lại bắt dân làm đầy tớ cho mình, còn mình thì chễm trệ ngồi trên ghế ông chủ. Miệng nói mang lại lợi ích cho dân, nhưng trong lòng lại chỉ lo thu vén cho mình. Trên bục giảng, có người thao thao bất tuyệt về học tập đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng khi về đến nhà lại đánh nhau với người hàng xóm. Thật trớ trêu! Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải rất nghiêm túc trong việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Người, mỗi người chúng ta phải phấn đấu, rèn luyện rất gian khổ, thì mới có thể thấm nhuần tư tưởng đạo đức trọng dân và phong cách gần dân của Người.

Chúng ta hãy thực hiện điều mong ước của Người: Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Ðược như thế thì trong Ðảng sẽ không có bệnh mà Ðảng sẽ mạnh khỏe vô cùng.

(1) Bản thân đồng chí Hoàng Quốc Việt, trong thời gian hoạt động bí mật của những ngày đầu thành lập Ðảng, bị mật thám Pháp bắt, đánh đến tàn phế, què chân, suốt đời phải đi “cà nhắc”, cho nên đồng chí đó thường nói vui: Tôi thuộc loại chân yếu, tay mềm.

PGS. TS ÐỨC VƯỢNG
Nguồn tin: THEO NHÂN DÂN ĐIỆN TỬ

dvhnn.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức

Chủ tịch Hồ Chí Minh trò chuyện với GS. Trần Hữu Tước và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch (người ngồi bên trái). Ảnh: TL - suckhoedoisong.vn

Những lời dạy của Bác Hồ về y đức là nội dung quan trọng trong tư tưởng và đạo đức của Người. Trong 20 năm, từ 1947 đến 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tới 25 bức thư gửi ngành y tế, thương binh – xã hội. 

Ngoài những lời khuyên về công tác chăm sóc, cứu chữa cho người bị bệnh, người bị thương, Người đặc biệt quan tâm đến y đức, cái đạo đức cần phải có của người thầy thuốc cách mạng, vì dân.

Tháng 3-1948, trong thư gửi Hội nghị Quân y, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”.

Vì sự kích thích trong chiến trận, vì sự sinh hoạt khắc khổ trong quân đội, vì sự tu dưỡng chưa đầy đủ, hoặc vì những điều kiện khổ sở, một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, đối với thầy thuốc không được nhã nhặn. Gặp những ca như vậy, chúng ta nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động, cảm hoá họ. Người ta có câu: “Lương y như từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải như một người mẹ hiền…”

Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người viết: “… Cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y như từ mẫu”…

Với tinh thần nhân văn cao cả, lòng nhân hậu hết mực, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, tháng 2-1955, đã nhấn mạnh: “… Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang.

Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”.

“Lương y như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng…”

Nội dung của y đức được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và chuẩn xác nhất trong bức thư này.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, trong đó, những người đau ốm, bệnh tật là những người được Người quan tâm nhất.

Trong thư gửi cán bộ và nhân viên quân y ngày 31 tháng 7 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần căn dặn: “Bác nhắc nhủ các cô, các chú phải:

Đoàn kết chặt chẽ, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kĩ thuật.

Luôn luôn ghi nhớ rằng, người thầy thuốc giỏi, đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khoẻ của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn…”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức đã được ngành y tế nước ta từng thời điểm cụ thể hoá, và trở thành nền tảng đạo lí của mọi thầy thuốc, là cốt lõi tư tưởng của mọi hoạt động xây dựng và phát triển ngành y tế.

Mấy chục năm qua, tuân theo lời dạy về y đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều tấm gương làm việc quên mình, xả thân vì người bệnh, vì sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân như các giáo sư, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ… đã trở thành niềm tự hào của ngành y tế, được nhân dân quý trọng và ngưỡng mộ.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, một số tiêu cực của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng không ít đến một số người làm công tác y tế. Một số ít thầy thuốc, cán bộ y tế cửa quyền, tắc trách, thậm chí chạy theo đồng tiền, coi thường sức khoẻ, mạng sống của người bệnh, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với thiên chức cao cả “trị bệnh cứu người” của người thầy thuốc.

Hơn lúc nào hết, những người thầy thuốc và mọi cán bộ, nhân viên y tế phải chủ động rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, tu dưỡng y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần bảo đảm tốt nhất chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xứng đáng với truyền thống “Thầy thuốc như mẹ hiền”, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.n

Tác giả: Nguyễn Xuyến

nguoicaotuoi.org.vn

Nói thật, làm thật để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên

Những ngày áp Tết Nhâm Thìn vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã ban hành Nghị quyết: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay và các bài phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt, sự kỳ vọng lớn lao của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta.

Từ khi  thành lập đến nay, Ðảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, giành chính quyền, thiết lập Nhà nước dân chủ nhân dân, tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thống nhất đất nước, đưa đất nước ta từng bước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Ðảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Quá trình lãnh đạo cách mạng biết bao thăng trầm, lúc thuận lợi, lúc khó khăn, lúc thành công, có lúc vấp phải những khuyết điểm sai lầm, nhưng Ðảng ta đã dũng cảm nhận rõ những sai lầm ấy và được nhân dân tha thứ, bởi vì Ðảng ta trước sau như một tuyệt đối trung thành với dân tộc với giai cấp (như trong cải cách ruộng đất hoặc sau năm 1975…). Ðại hội Ðảng lần thứ VI với sự chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới, Ðảng ta mở ra một bước ngoặt xây dựng đất nước trong hòa bình, với những tiền đề mới để đến Ðại hội lần thứ VII đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Và từ đó, qua năm kỳ Ðại hội, đến Ðại hội XI, Cương lĩnh 91 được bổ sung và phát triển. Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo chiến lược; hoạch định đường lối, xây dựng củng cố đội ngũ, Ðảng đã làm nhiều việc với nhiều quyết định đúng đắn cho nên đất nước ta, dân tộc ta ngày càng phát triển, được nhân dân ta và bạn bè thế giới khâm phục. Tuy nhiên, đánh giá về sự phát triển và sự trưởng thành của Ðảng, đối chiếu với bản chất Ðảng, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đang diễn ra trong nước và trên thế giới thì còn những khuyết điểm, thậm chí có những khuyết điểm nghiêm trọng, nổi lên là công tác xây dựng Ðảng chưa tương xứng với vị trí, vai trò của một đảng cách mạng tiền phong cầm quyền.

Phải nói ngay rằng những vấn đề Nghị quyết nêu lên là rất đúng, rất trúng, vì tình hình thực tế trong Ðảng ta, nếu tính từ năm 1991 đến nay không lúc nào Ðảng  không đề cập vấn đề xây dựng, củng cố đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng: Hội nghị Ðại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Ðảng tháng 1-1994, Ðảng ta đã chỉ ra bốn nguy cơ lớn đe dọa tới sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta, trong đó tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, cửa quyền thiếu ý thức phục vụ nhân dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là nguyên nhân bên trong làm cho bộ máy Ðảng và Nhà nước suy yếu, niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, với chế độ bị xói mòn. Ðến văn kiện các Ðại hội VIII, IX, X, XI những vấn đề này tuy có thực hiện, có thu được những kết quả nhưng tình hình chuyển biến rất chậm, một số mặt còn có những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng hơn. Ngay Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng cũng nêu: “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định và phát triển của đất nước. Trong nội bộ Ðảng, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp.

Tình trạng tiêu cực hiện nay trong Ðảng đang diễn ra đúng như Nghị quyết đề cập. Chúng ta không thể xem thường, đó là vấn đề cấp bách nhất phải tập trung giải quyết và phải giải quyết cho bằng được. Mục tiêu, phương châm và các giải pháp thực hiện được xác định trong Nghị quyết là đầy đủ. Có nghĩa là Nghị quyết T.Ư 4 đã xem mạch bắt đúng bệnh, kê đúng đơn thuốc. Vấn đề còn lại là có dám uống thuốc đắng để chữa bệnh hay không. Có theo phác đồ điều trị là bệnh nào thuốc nấy, đau ở đâu chữa ở đó hay không? Ðau ở não bộ, lại chữa ở chân tay là sai, hậu quả sẽ khôn lường.

Chúng ta cần phải làm rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị là gì? Nghiêm trọng đến mức nào? Tôi cho rằng, BCH T.Ư, trước hết là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đội ngũ cán bộ chủ chốt của các Ðảng bộ trực thuộc Trung ương cần tự phê bình và phê bình để làm rõ có hay không có sự mơ hồ, dao động về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta? Có hay không tình trạng nói và viết thì tỏ ra kiên định mục tiêu và con đường đi lên CNXH; vững vàng trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng khi lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối thì làm ngược lại. Từ đó, cần phải soi rọi mọi chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra, đã thấm nhuần đến đâu bản chất tốt đẹp của CNXH mà toàn Ðảng, toàn dân ta đang xây dựng? Sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, như Nghị quyết T.Ư đề cập dẫn đến sự suy thoái trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống. Phải chăng đó là sự suy thoái từ ý thức hệ, là sự phai nhạt lý tưởng XHCN. Làm gì và làm thế nào để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, tiếp tục kiên định con đường phát triển đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH mà Cương lĩnh 1991 đã xác lập và được bổ sung, phát triển năm 2011?

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc là tàn dư của chế độ phong kiến. Ðảng ta vẫn thường xuyên đấu tranh ngăn chặn, nhưng làm chưa đến nơi đến chốn. Do vậy, căn bệnh cá nhân chủ nghĩa đã trở nên trầm trọng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Do quyền lực chi phối dẫn đến tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy huân chương, chạy tội… Quyền và tiền tài gắn liền với nhau. Tiền tài, danh lợi đã biến cán bộ, đảng viên thoái hóa thành tù binh của nó. Vậy làm gì và làm thế nào để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp?

Về mặt tổ chức, Ðảng xác định nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình là nguyên tắc tối thượng của một Ðảng kiểu mới, nhờ đó Ðảng ta đã vượt qua mọi thử thách, thật sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mới phòng tránh được bệnh cá nhân chủ nghĩa, quan liêu xa rời quần chúng, mới phát huy được dân chủ, Ðảng ngày càng vững mạnh trong sạch. Bác Hồ đã nói, trong Ðiều lệ Ðảng đã xác định như vậy. Trong mỗi con người đảng viên vẫn có hai mặt – mặt tích cực là chủ yếu, là cơ bản nhưng có cả mặt tiêu cực, tùy ở động cơ giác ngộ lý tưởng, ở sự rèn luyện trong thực tiễn cuộc sống mà mức độ tích cực hoặc tiêu cực cao hay thấp, ít hay nhiều, chính vì vậy mà Ðảng ta lấy tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển. Nếu như trong từng tổ chức và trong mỗi cá nhân đều nhận thức đúng và nghiêm túc chấp hành các nguyên tắc trên thì sức chiến đấu của Ðảng ngày càng cao, những tiêu cực sẽ được khắc phục hiệu quả, chủ nghĩa cá nhân không thể làm mục ruỗng được nhân cách của người cách mạng.

Trong quá trình tham gia cách mạng, mỗi tổ chức, mỗi đảng viên đều được Ðảng phân công nhiệm vụ công tác nhất định, khi thực hiện có ưu điểm, có khuyết điểm, có đúng có sai, tất nhiên đúng nhiều hơn, không thế thì làm sao cách mạng phát triển và có được thành quả như ngày nay, ta có quyền tự hào nhưng không được chủ quan, tự mãn. Thấy sai phải nghiêm chỉnh khắc phục. Người đảng viên chân chính là người biết nghe lời nói thẳng, biết nghiêm túc nhìn ra cái sai của mình và quyết tâm khắc phục, gần gũi nhân dân, học tập dân, nếu xa dân, xa thực tiễn, xa phong trào cách mạng thì người đó không phải là người đảng viên chân chính.

Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình hiện nay, có hiện tượng chỉ nói cái hay và nói đi nói lại, còn cái dở thì cứ giấu và giấu thật kỹ, né tránh, có khi ở dưới báo cáo lên, nhưng rồi để vào “im lặng đáng sợ”, “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lạiể. Cho nên đã nói đến vấn đề cấp bách thì phải có biện pháp cấp bách để giải quyết, nói là củng cố, chấn chỉnh thì mọi người đảng viên phải tự “củng cố, tự chấn chỉnh” mình trước. Tự phê bình và phê bình như là người rửa mặt; là đảng viên, kể cả đảng viên thường hay đảng viên cấp cao trước hết mình phải nhìn lại mình, cái gì ưu thì phát huy, cái gì khuyết điểm thì sửa chữa. Ðồng thời phải giúp đồng chí mình sửa chữa, có ưu thì mình nói cho đồng chí biết, có khuyết thì giúp cho đồng chí nhận ra.

Ðối với tổ chức thì phải tôn trọng giữ vững và chấp hành nguyên tắc một cách triệt để, từ đảng viên thường cho đến các đồng chí lãnh đạo cấp cao, mà trước hết phải từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng – Bộ Tham mưu tối cao của Ðảng, vì đây là một Ðảng duy nhất cầm quyền, Bộ Tham mưu tối cao ở đây là Ban Chấp hành Trung ương trong đó Bộ Chính trị phải là mẫu mực thực thi những nguyên tắc này. Bản thân Trung ương cũng như các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải làm rõ vì sao tình hình suy thoái trong Ðảng kéo dài và khắc phục mãi chưa được? Trách nhiệm của Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư như thế nào, đã rút ra được những kết luận gì, bài học gì về tình hình Ðảng hiện nay và biện pháp khắc phục ra sao?

Ðảng ta là Ðảng duy nhất cầm quyền, cho nên dù chỉ là một vài hiện tượng cá biệt hoặc một bộ phận không nhỏ suy thoái nhưng mà tính chất nghiêm trọng và tác hại của nó ảnh hưởng lớn đến uy tín của toàn Ðảng, đến vị trí, vai trò của đảng  cầm quyền, nhất là những đảng viên giữ trọng trách cao trong Ðảng, trong bộ máy Nhà nước mà hư hỏng thì tác hại sẽ rất lớn. Một đảng viên ở dưới thôn mà hư hỏng thì chỉ ảnh hưởng đến thôn đó, còn một người đứng đầu tổ chức đảng, đứng đầu một cơ quan nhà nước, thì ảnh hưởng đến cả quốc gia, dân tộc. Nghĩa là tính chất, tác hại sẽ khác nhau. Cho nên trong tự phê bình, phê bình, cấp trên phải làm gương trước “trên trước dưới sau”, “đã tắm thì phải biết gội đầuể. Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ trong Ðảng. Bác Hồ đã căn dặn “Trong Ðảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Ðảngể. Chúng ta chưa làm được bao nhiêu so với những điều Bác đã căn dặn. Ở cấp chiến lược, cần phải trả lời câu hỏi các chủ trương, đường lối chính sách do Ðảng ban hành đã thật sự là kết tinh trí tuệ của tập thể chưa? Chúng ta đã thật sự dân chủ trong tự phê bình và phê bình chưa hay chỉ là hình thức, không thực chất do sợ bị trù dập. Làm thế nào để thực hành dân chủ rộng rãi trong hoạch định đường lối, chính sách; dân chủ trong tự phê bình và phê bình; dân chủ trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ một cách công khai, minh bạch? Vậy nên Trung ương Ðảng phải có những kế hoạch thật cụ thể để thực hiện nghiêm túc các vấn đề đã nêu trên.

Về xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng. Tôi cho rằng, vấn đề then chốt để thực hiện tốt nhiệm vụ này là ở chỗ phải xây dựng các quy chế, quy định phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu để khuyến khích đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ðồng thời ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện độc đoán chuyên quyền, thiếu trách nhiệm trước Ðảng, trước dân; tình trạng tranh công đổ lỗi cho nhau của không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Khi nói đến việc củng cố, chỉnh đốn Ðảng, trong Di chúc Bác Hồ có nói, sau chiến tranh việc trước tiên là củng cố lại Ðảng. Chúng ta đã làm theo di huấn của Bác Hồ về vấn đề này, nhưng làm chưa đến nơi đến chốn, cho nên những tiêu cực trái với bản chất cách mạng của Ðảng vẫn đang hoành hành trong nội bộ Ðảng ta. Khi nói đến củng cố Ðảng hoặc chỉnh đốn Ðảng thì người đảng viên của Ðảng từ cấp cao đến cơ sở, người đảng viên trước hết phải tự rà soát mình, củng cố mình, cái tốt thì phát huy, cái xấu thì phải gột rửa cho bằng được. Về tổ chức thì từ chi bộ, đảng bộ, xã, huyện, tỉnh, thành phố, trung ương, Ban cán sự đảng các cấp… tự mình cũng phải chỉnh đốn bản thân mình. Làm như thế là đúng bài bản. Nhưng tình hình Ðảng ta lúc này phải tập trung làm trước hết cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành. Trung ương phải phất cao ngọn cờ tự chỉnh đốn, tự củng cố bản thân mình; trong đó Bộ Chính trị đi tiên phong, đối chiếu với nguyên tắc tổ chức của Ðảng, với chức năng, trọng trách của cấp Trung ương, của Bộ Chính trị, của Ban Bí thư để soi rọi vào công việc mình đã làm, đang làm; mối quan hệ với quần chúng nhân dân, quan hệ trong nội bộ Ðảng; xem xét tinh thần tự phê bình và phê bình, tính chiến đấu của mỗi thành viên đã cao chưa hay là có gì nể nang, dĩ hòa vi quý như nhận định trong Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng.

Sau một thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, củng cố chấn chỉnh trong nội bộ, Trung ương sẽ rút kinh nghiệm triển khai xuống cấp tỉnh. Làm tốt ở hai cấp này sẽ thông báo kết quả đến toàn Ðảng, toàn dân, đồng thời cũng là gắn với việc chuẩn bị Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XII.

Chúng ta đã nhiều lần xây dựng, củng cố, chỉnh đốn Ðảng, những kết quả thu được đã thúc đẩy đất nước phát triển và củng cố niềm tin của nhân dân, nhưng những hạn chế khuyết điểm trong Ðảng chậm được khắc phục cũng ảnh hưởng rất lớn đến lòng tin của dân và lòng tin của chính ngay trong nội bộ Ðảng. Vì vậy, lần này Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy phải tiên phong đi trước trong xây dựng củng cố Ðảng, nếu làm tốt, thành công thì niềm tin của toàn Ðảng và nhân dân sẽ nâng lên, nếu làm không tốt, làm nửa vời thì tác hại sẽ rất lớn, không thể lường hết được.

Hơn lúc nào hết, toàn Ðảng ta, từ Trung ương đến chi bộ, mọi cán bộ, đảng viên nghiêm túc tự phê bình và phê bình với tinh thần “Phải trái phân minh, nghĩa tình trọn vẹn” để giải quyết thật tốt những vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng đã được Nghị quyết T.Ư 4 đề ra.

Tôi hoan nghênh Báo Nhân Dân mở chuyên mục “Những việc cần làm ngay về xây dựng Ðảng” và kêu gọi đồng chí, đồng bào cả nước tích cực tham gia chuyên mục này để hiến kế, hiến công xây dựng Ðảng ta ngày càng trong sạch, ngày càng vững mạnh.

LÊ KHẢ PHIÊU
Nguyên Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng

nhandan.com.vn

Bác Hồ với vấn đề dân chủ nội bộ

Bác Hồ rất chú trọng làm cho sinh hoạt của các cơ quan phải tuân thủ một chế độ chặt chẽ mà Bác là người gương mẫu thực hiện. Trong những năm cuối đời, sức khỏe Bác yếu dần, tuy nhiên, Bác rất cố gắng tham gia đều đặn các sinh hoạt ấy.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước thường xuyên thuyết phục Bác là sẽ có cách làm việc chu đáo với Bác để Bác góp ý kiến về các vấn đề phải thảo luận ở cơ quan lãnh đạo, chủ yếu thuyết phục Bác không phải dự đều các kỳ họp. Nhưng Bác không chấp nhận và luôn luôn giữ đúng chế độ sinh hoạt.

Trong các kỳ họp của cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bác luôn luôn chăm lo phát huy đến mức cao dân chủ nội bộ, để mọi người đều góp được ý kiến. Đối với những đồng chí hay nói nhiều, nói dài thì Bác nhẹ nhàng nhắc: “Chú để cho các đồng chí khác có cơ hội nói”.

Đồng chí Phạm Văn Đồng kể lại: “Trong các kỳ họp Bộ Chính trị, nhiều khi Bác có những gợi ý để chúng tôi thảo luận. Song cũng có trường hợp sau khi nêu ra, Bác thấy chúng tôi do dự, có ý không tán thành, thì Bác nói ngay: “Mình có ý kiến như vậy, nếu các chú thấy không được, thì mình rút”. Bác nói những lời này một cách rất hồn nhiên không gợi một chút khó chịu nào và chúng tôi cũng quen với phong cách cực kỳ cao quý của vị lãnh tụ tối cao và người thầy của tất cả chúng tôi. Tôi nghĩ đây là bài học lớn về tinh thần dân chủ nội bộ, ý thức tập thể và sinh hoạt lành mạnh của các tổ chức từ trên xuống dưới”.

Trong Di chúc Bác căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Tư tưởng và phong cách dân chủ của Bác là những bài học quý soi sáng cho công cuộc đổi mới hiện nay, nhất là trong việc khắc phục khuyết điểm, sai lầm nhằm tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, nêu cao và thực hiện từng bước quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Đỗ Ngọc Uẩn
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

baobacninh.com.vn

Bầu cử ở Việt Nam: “Dân chủ hình thức” hay dân chủ thực chất

Thực hiện nghĩa vụ công dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II (ngày 8/5/1960) tại tiểu khu Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội - Ảnh: tư liệu

Bản chất của luận điệu chống đối này là lợi dụng những quan điểm của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam trong quá trình phát triển đường lối đổi mới, nhất là trên phương diện chính trị, để loại bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, đưa Việt Nam sang mô hình chính trị phương Tây, lệ thuộc vào nước ngoài. Theo những kẻ chống đối lại Nhà nước Việt Nam hiện này thì: “Việt Nam phải thực hiện ngay tam quyền phân lập”, và muốn vậy phải “trưng cầu dân ý có sự giám sát của Liên hợp quốc về Điều 4, Hiến pháp 1992” – về vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Và rằng, ở Việt Nam làm gì có dân chủ trong bầu cử, ứng cử – đó là cơ chế “Đảng cử – dân bầu”, là “dân chủ trình diễn”…; phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do…

Vậy nội dung, bản chất của hệ thống bầu cử Việt Nam như thế nào – xét về mặt lý luận, pháp lý và thực tiễn? Hệ thống bầu cử ở nước ngoài ra sao, phải chăng Việt Nam nhất thiết phải thay đổi mô hình dân chủ theo phương Tây?

Trước hết phải nhắc lại lịch sử để những kẻ đang cố tình bôi nhọ ĐCS Việt Nam và những người nhẹ dạ, cả tin hiểu rằng, chế độ cộng hòa, Hiến pháp dân chủ, nhà nước pháp quyền, quyền công dân và quyền con người ra đời ở Việt Nam là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do ĐCS Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên 80 năm thống trị của thực dân Pháp, 30 năm chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, trong vùng chúng chiếm đóng trên đất nước này, làm gì có bầu cử, ứng cử thật sự, làm gì có Hiến pháp, có quyền công dân và quyền con người, làm gì có tự do ngôn luận, báo chí. . . Lúc đó sao không thấy các “đại gia” phương Tây chia sẻ các giá trị dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Đến nay, họ và những kẻ tay sai lại lên giọng dạy bảo dân chủ, nhân quyền cho các quốc gia, thậm chí còn can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Những động thái chính trị của phương Tây ở Ai Cập, Bắc Phi và nhiều quốc gia Trung Đông khác trong những ngày qua cho thấy, “diễn biến hòa bình” không phải là “con ngáo ộp” của những người làm chính trị ở Việt Nam, mà là một thực tế đang diễn ra sôi động trên chính trường quốc tế. Nói cách khác, những gì phương Tây đã và đang làm không phải vì dân chủ, nhân quyền đích thực cho nước khác, dân tộc khác, mà vì những lợi ích chính trị – kinh tế mà họ đang theo đuổi.

Hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào chế độ chính trị được hình thành trong lịch sử và ý chí của nhân dân các nước. Hệ thống bầu cử ở những nước theo thể chế liên bang (như: Hoa Kỳ, Ố-xtrây-li-a…) khác với các quốc gia theo thể chế hệ thống hành chính tập trung, thống nhất. Về kỹ thuật cũng có nhiều mô hình khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp – thông qua đại cử tri… Hệ thống bầu cử được các nhà nghiên cứu xem là có nhiều ưu điểm là hệ thống bầu cử theo nguyên tắc đa số, trực tiếp. Nguyên lý của hệ thống này đơn giản, đó là ứng cử viên (hoặc đảng phái chính trị) nào thu được nhiều phiếu hơn sẽ trúng cử.

Khi nói đến bầu cử, ứng cử ở một quốc gia có dân chủ, công bằng hay không? người ta phải xem xét toàn bộ hệ thống bầu cử, ứng cử và nhất là kết quả của hệ thống đó được áp dụng vào bối cảnh đặc thù về lịch sử và văn hóa chính trị của một quốc gia – dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào, chứ không thể chỉ nhìn vào một yếu tố nào đó để khái quát đánh giá. Hệ thống bầu cử của Việt Nam ra đời từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Phù hợp với nguyên tắc “phổ thông”, số lượng đại biểu của mỗi địa phương tỷ lệ với số cử tri của địa phương đó. Các cử tri được bầu cử trực tiếp các đại diện của mình ở các cơ quan dân cử từ cấp cơ sở đến Quốc hội.

Là một quốc gia có nhiều dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến điều này. Điều 10 Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng”. Thực hiện quy định này trong nhiều nhiệm kỳ qua, tỷ lệ đại biểu thuộc dân tộc thiểu số luôn luôn cao hơn tỷ lệ dân số. Nhiệm kỳ khóa XI, số đại biểu là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,2%; nhiệm kỳ khóa XII, chiếm 17,6%; trong khi đó, tỷ lệ 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13% dân số Việt Nam.

Phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, nâng cao vai trò của Phụ nữ, Điều 10a, Luật Bầu cử Việt Nam quy định: “Số đại biểu Quốc hội là Phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để Phụ nữ có số đại biểu thích đáng“. Theo Báo cáo của Quỹ phát triển Phụ nữ Liên hợp quốc (UNIFEM), tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ của Việt Nam (Khóa XII) cao hơn nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á. Trong khi tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội ở Việt Nam là: 25,8%, thì tỷ lệ đó ở Thái Lan là 11,7%, Ma-lai-xi-a là 23,7%, In-đô-nê-xi-a là 11,6%, Xinh-ga-po là 24,8%, Lào là 25,2%, Cam-pu-chia là 19,5%…

Còn việc người ta nói rằng ở Việt Nam “đảng cử dân bầu”, bầu cử ở Việt Nam chỉ là “dân chủ hình thức, dân chủ trình diễn”, “hầu hết đại biểu dân cử đều là đảng viên ĐCS Việt Nam thì sao có dân chủ được?”.Quả thật đây là một cách lập luận điển hình cho tư duy dân chủ, nhân quyền nhập ngoại. Thử hỏi ở quốc gia nào mà không có vận động bầu cử của các đảng phái chính trị, không có “đảng cử, dân bầu” ? Lấy hệ thống bầu cử ở Mỹ làm một ví dụ. Ở quốc gia này, cuộc bầu cử Tổng thống có tới hai chiến dịch bầu cử: Chiến dịch vận động bầu của hai đảng Dân chủ và Cộng Hòa, kéo dài tới 6 tháng để lựa chọn đại biểu của mỗi đảng. Chiến dịch thứ hai mới là vận động tranh cử của các ứng cử viên Tổng thống. Hai chiến dịch vận động rầm rộ, tốn kém này thu hút sự quan tâm của nhân dân tới cả năm. Đương nhiên đảng nào, ứng cử viên nào có nguồn lực dồi dào, nhất là được giới truyền thông ủng hộ nhiều thì có lợi thế hơn và ngược lại. Còn về sự quan tâm của cử tri, ở Mỹ, có nhiều người dân không đi bỏ phiếu. Theo Duoglas K. Stevenson trong chuyên khảo: “Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ”: Cuộc bầu cử năm 1988 chỉ có 57,4% người đăng ký tham gia bầu cử. Trong số đó chỉ có 86,1% người đi bỏ phiếu. Như vậy. trên thực tế chưa đến 50% số người có quyền công dân đi bỏ phiếu. Lại nói về tính ưu việt và khiếm khuyết của hệ thống bầu cử. Thử hỏi những ai đang vận động cho thể chế bầu cử của Hoa Kỳ, họ nghĩ như thế nào về hệ lụy của thể chế đại cử tri? Đó là trường hợp xảy ra vào cuộc bầu cử năm 2000: trong cuộc bầu cử này, đại diện của đảng Dân chủ – ông Al Gore giành được 48,38% số phiếu phổ thông toàn quốc, cao hơn đối thủ là ông George Bush – đại diện của đảng Cộng hòa chỉ giành được 47,87% số phiếu bầu. Mặc dù vậy, theo thể chế bầu cử của quốc gia này, ông Bush vẫn trúng cử Tổng thống vì ông có số phiếu đại cử tri cao hơn ông Gore. Một vấn đề khác liên quan đến sự công bằng của bầu cử ở đây là thể chế liên bang. Sở dĩ ông Bush thắng cuộc là vì ông đã giành chiến thắng trước ông Gore ở bang Florida. Chúng ta không chỉ trích hệ thống bầu cử ở Hoa Kỳ, mà chỉ muốn nói rằng, không có bất cứ một hệ thống bầu cử nào là hoàn hảo. Tuy vậy, như nhà triết học Heghen đã nói: “cái tồn tại là cái hợp lý”, hệ thống bầu cử của Hoa Kỳ được hình thành trên ba trăm năm, gắn liền với văn hóa chính trị của dân tộc Mỹ, nó được nhân dân Mỹ chấp nhận. Tương tự như vậy, ở nhiều quốc gia phát triển, như: Anh, các nước Bắc Âu…, bên cạnh quyền uy của Nhà nước, Nghị viện, Chính phủ, Thủ tướng, Tòa án…, còn có vai trò của Nhà vua, Hoàng tộc, cho dù vai trò đó là nhỏ bé, thậm chí chỉ là hình thức. Ở Việt Nam, hệ thống chính trị, thể chế bầu cử, ứng cử, pháp luật…, của quốc gia ra đời sau thắng lợi của cuộc cách mạng do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, nó không thể không để lại dấu ấn của ĐCS Việt Nam, không thể không phản ánh văn hóa chính trị được hình thành trên một nửa thế kỷ qua, trong đó có hệ thống bầu cử, ứng cử – vai trò của chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc – trong hiệp thương, dự kiến – định hướng cơ cấu đại biểu thuộc các nhóm xã hội yếu thế như phụ nữ, dân tộc thiểu số, hình thức tiếp xúc cử tri…

Tin rằng những người cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, thông minh để hiểu rằng, họ phải làm gì để giữ vững niềm tin của nhân dân đối với mình, nhưng chắc chắn đó không phải là biện pháp du nhập mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, mà các thế lực thù địch đang cố tình gieo rắc, áp đặt./.

(Theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

cpv.org.vn

Tự phê bình và phê bình, vũ khí sắc bén để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng

(Chinhphu.vn) – Giá trị đích thực của nguyên tắc tự phê bình và phê bình Ðảng ta thường nói: Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Ðảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết, mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ

Sự khẳng định ấy là đúng đắn, cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Nhìn lại hoạt động của Ðảng trong hơn 80 năm qua, chúng ta thấy rõ: Trong công tác xây dựng Ðảng, Ðảng ta luôn nhất quán lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy tự phê bình và phê bình làm phương pháp chính yếu để kiểm điểm công việc, đánh giá đúng sai, phát huy ưu điểm, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, làm cho Ðảng luôn tiên phong, tiến bộ.

Không phải ngẫu nhiên, trong “Sửa đổi lối làm việc” (1947) một tác phẩm mẫu mực về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, Bác Hồ đã mở đầu bằng chương I “Phê bình và sửa chữa”.

Bác viết:

“Mục đích của phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

“Ðảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang.

Nhưng nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Ðảng còn to tát hơn nữa.

Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì thành tích nhiều”.

Bác ví khuyết điểm như bệnh tật, phê bình như uống thuốc. “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính mệnh”. “Một Ðảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Ðảng hỏng. Một Ðảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra những khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Ðảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. (Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, 2011, Tập 5, tr 273 và tr 301).

Những lời chỉ dạy của Bác Hồ trong “Sửa đổi lối làm việc” cũng như trong nhiều bài nói và bài viết sau này đã thật sự đặt nền móng cho việc xây dựng một chế độ tự phê bình và phê bình có nền nếp trong Ðảng ta. Và nhờ sử dụng tự phê bình và phê bình như một vũ khí, Ðảng ta đã gặt hái được nhiều kết quả trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Qua đó, góp phần làm cho Ðảng ta làm tròn sứ mệnh của một Ðảng tiên phong, lãnh đạo nhân dân giành những thắng lợi vĩ đại. Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải mọi việc đều suôn sẻ. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng nói chung, tự phê bình và phê bình nói riêng, nhiều lúc, nhiều nơi còn bị buông lỏng hoặc làm một cách hình thức, qua loa, chiếu lệ. Sinh hoạt tự phê bình và phê bình bị biến dạng dưới nhiều kiểu, nhiều cách. Phổ biến nhất là tình trạng nể nang, xuề xòa, né tránh, không dám nói thẳng, nói thật, “nói tốt trước mặt, hục hặc sau lưng”. Lợi dụng tự phê bình và phê bình để đề cao cá nhân, bơm thổi những việc mình làm được, bào chữa những việc mình làm hỏng; che giấu khuyết điểm cho nhau; vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; hoặc ngược lại; bới móc và đả kích nhau, biến những cuộc họp kiểm điểm thành nơi “đấu đá” và “hạ bệ” nhau.

Những lệch lạc nêu trên cần được kịp thời chấn chỉnh. Trả lại giá trị đích thực cho nguyên tắc tự phê bình và phê bình, đồng thời lành mạnh hóa sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong Ðảng là một yêu cầu bức thiết.

Mài sắc hơn nữa vũ khí tự phê bình và phê bình

Với quyết tâm tạo nên một chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, Hội nghị Trung ương 4 đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay”, coi tự phê bình và phê bình là “khâu mấu chốt nhất” để kiểm điểm, đánh giá tình hình, đề ra quyết sách và tổ chức việc thực hiện.

Chính với tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, Trung ương không chỉ khẳng định những kết quả tích cực đạt được mà còn thẳng thắn chỉ ra rằng: “Công tác xây dựng Ðảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự tồn vong của chế độ”. Trong ba loại yếu kém nổi bật nhất, nổi lên hàng đầu là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp. Suy thoái có những biểu hiện khác nhau: phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc. Vì lẽ đó, “kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái…” được coi là vấn đề cấp bách nhất trong ba vấn đề cấp bách được xác định.

Về hệ thống giải pháp cho ba vấn đề cấp bách, cũng trên tinh thần đặc biệt coi trọng tự phê bình và phê bình, Trung ương đã đặt lên hàng đầu nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cấp trên.

Thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, chúng ta có thể tìm lời giải đáp cho một số câu hỏi lâu nay vẫn thường được đặt ra.

Về mối quan hệ  giữa tự phê bình và phê bình.

Tự phê bình và phê bình không phải hai chuyện khác nhau mà là hai mặt của cùng một vấn đề. Chỉ khác nhau ở chỗ: phê bình là kiểm điểm người khác, còn tự phê bình là mình kiểm điểm mình. Nói mình và người là nói đến chủ thể. Chủ thể có thể là một cán bộ, đảng viên, một cấp ủy hay một tổ chức đảng. Với bất cứ chủ thể nào, tự phê bình vẫn là mặt chính yếu nhất. Bởi chủ thể là người biết rõ công việc của mình hơn ai hết, biết mình đã làm gì và làm như thế nào; tự phê bình thể hiện tính tự giác và tinh thần trách nhiệm trước công việc, trước Ðảng và trước nhân dân. Nhưng tự phê bình cũng có mặt hạn chế khi chủ thể có sự chủ quan trong nhận thức: sai tưởng đúng, xấu tưởng tốt, trái tưởng phải. Vì vậy, cần có phê bình. Phê bình là chỉ ra khuyết điểm (hay ưu điểm) của chủ thể tự kiểm điểm. Phê bình đúng sẽ giúp cho người mắc sai lầm, khuyết điểm thấy sự cần thiết phải sửa chữa. Người phê bình thường có thái độ khách quan hơn người tự phê bình. Về mặt này, phê bình có ý nghĩa rất quan trọng, có khi quan trọng hơn tự phê bình. Tự phê bình và phê bình giống như hai cánh của cùng một con chim. Chim không thể bay nếu hai cánh không cùng vỗ. Sẽ là không đúng nếu đánh giá kết quả một cuộc họp kiểm điểm, nhất là kiểm điểm một tập thể, một cấp ủy, một tổ chức đảng mà chỉ căn cứ vào tiếng nói của một chiều phê bình hay tự phê bình. Ðó là chưa nói đến những trường hợp có biểu hiện sai trái làma biến dạng tự phê bình và phê bình như đã nói ở phần trên.

Về mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong tự phê bình và phê bình.

Trước nay, ta vẫn chủ trương, tự phê bình và phê bình phải tiến hành đồng bộ, từ trên xuống và từ dưới lên, mà thường là từ dưới lên. Lần này, cũng như trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khóa VIII (1998), Trung ương chủ trương làm từ trên xuống.

Trước hết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương tập trung kiểm điểm, đánh giá làm rõ tại sao những hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra nhiều năm nhưng chậm được khắc phục, có mặt còn yếu kém, phức tạp thêm, làm rõ nguyên nhân trở ngại trong việc lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng Ðảng. Tiếp đó, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương tiến hành kiểm điểm, đánh giá, liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến một số vấn đề cấp bách nêu trong nghị quyết này, đề ra biện pháp giải quyết. Sau nữa, các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Ðảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế.

Trung ương cũng nhấn mạnh: Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là cấp Trung ương, người đứng đầu làm trước và phải thật sự gương mẫu để cho các cấp noi theo.

Về mối quan hệ giữa kiểm điểm, tự phê bình và phê bình với xử lý theo kỷ luật Ðảng và theo pháp luật của Nhà nước.

Tự phê bình và phê bình có mục đích giúp các chủ thể (cá nhân và tập thể) thấy rõ ưu điểm để phát huy, nhận rõ khuyết điểm để sửa chữa, coi trọng sự giáo dục, sự giúp đỡ chân thành của các đồng chí, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau, “trị bệnh cứu người”. Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, không tiếp thu sự giúp đỡ của tập thể thì phải xử lý thích đáng.

Ðó là nói trong phạm vi tự phê bình và phê bình. Còn xử lý như thế nào, theo kỷ luật Ðảng hay theo pháp luật của Nhà nước là tùy thuộc vào tính chất và mức độ của các sai phạm.

Kỷ luật Ðảng bao gồm nhiều hình thức. Ðối với tổ chức đảng, đó là khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Ðối với cá nhân đảng viên, đó là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.

Pháp luật của Nhà nước cũng quy định nhiều khung hình phạt khác nhau, tùy theo từng loại tội phạm.

Việc thi hành kỷ luật trong Ðảng hoàn toàn không thay thế cho việc xử lý theo pháp luật. Có những trường hợp chỉ thi hành kỷ luật trong Ðảng là đủ. Nhưng có những trường hợp sai phạm nghiêm trọng, gây tổn hại cho Ðảng, Nhà nước và nhân dân, thậm chí vi phạm pháp luật rõ ràng thì nhất thiết phải truy tố trước pháp luật và chịu sự phán xử nghiêm minh của pháp luật.

Ðiều cần nói thêm

Ðể đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, giải quyết các vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, tự phê bình và phê bình được coi là nhóm giải pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng đó không phải là giải pháp duy nhất. Còn có các nhóm giải pháp khác nhau: nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; nhóm giải pháp về tổ chức về cơ chế, chính sách và nhóm giải pháp về công tác chính trị, tư tưởng. Mỗi nhóm giải pháp ấy đều chứa đựng những nội dung mới, những việc làm cụ thể và thiết thực.

Tiếc rằng, để tập trung vào chủ đề tự phê bình và phê bình, bài viết này không thể đề cập tới những nội dung và việc làm ấy.

Dẫu sao, tôi vẫn tin, chỉ có thực hiện đầy đủ và đồng bộ các nhóm giải pháp đã đề ra, với tinh thần tích cực, khẩn trương, chắc chắn, có lộ trình và bước đi hợp lý, đã nói là làm, thì việc đưa Nghị quyết Hội  nghị Trung ương 4 vào cuộc sống mới thật sự trở thành hiện thực.

Hà Đăng
(Báo Nhân dân)

baodientu.chinhphu.vn

Gần dân và vì dân mới là đại biểu của dân

Tư tưởng ấy không mới, nhưng luôn có tính thời sự như một lời nhắc nhở vừa ân cần vừa bắt buộc, đối với mỗi cán bộ trong chế độ ta. Còn nhớ, thời thuộc Pháp, nhà yêu nước và cách mạng Nguyễn Ái Quốc, bằng nhãn quan chính trị sắc bén đã vạch trần bản chất chuyên chế, tùy tiện trong cách thức quản lý, cai trị của bọn thực dân. Ở đó, người bản xứ thì bị trói tay chân, phải gánh chịu thói tùy hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp, và thói tham lam của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn. Nguyễn Ái Quốc nêu một ví dụ. Vị Công sứ, đứng đầu mỗi tỉnh phía Bắc, có toàn quyền cai quản mọi mặt, từ tư pháp, thuế vụ, sinh mệnh, tài sản của người bản xứ. Ông ta, đặc biệt còn “cai quản” cả việc bầu cử những người cầm quyền bản xứ nữa. Xem ra, quan lại bấy giờ không gần dân và vì dân một chút nào cả!

Tưởng ấy không mới, nhưng luôn có tính thời sự như một lời nhắc nhở vừa ân cần vừa bắt buộc, đối với mỗi cán bộ trong chế độ ta. Còn nhớ, thời thuộc Pháp, nhà yêu nước và cách mạng Nguyễn Ái Quốc, bằng nhãn quan chính trị sắc bén đã vạch trần bản chất chuyên chế, tùy tiện trong cách thức quản lý, cai trị của bọn thực dân. Ở đó, người bản xứ thì bị trói tay chân, phải gánh chịu thói tùy hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp, và thói tham lam của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn. Nguyễn Ái Quốc nêu một ví dụ. Vị Công sứ, đứng đầu mỗi tỉnh phía Bắc, có toàn quyền cai quản mọi mặt, từ tư pháp, thuế vụ, sinh mệnh, tài sản của người bản xứ. Ông ta, đặc biệt còn “cai quản” cả việc bầu cử những người cầm quyền bản xứ nữa. Xem ra, quan lại bấy giờ không gần dân và vì dân một chút nào cả!

Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh tư liệu: H.T (st)

Cách mạng tháng Tám thành công. Vai trò nhân dân thay đổi, quan niệm về vị trí, sức mạnh của họ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ, đại ý dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra! Chính vì hiểu và tin dân, nên ngay từ đầu khóa I Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946), trong diễn văn khai mạc, Bác khẳng định: “Từ giờ về sau, Quốc hội và Chính phủ còn có những gánh nặng nề, phải bước qua nhiều sự khó khăn, nhưng tôi chắc rằng quốc dân sẽ nhất trí, dựa vào sức đoàn kết mà làm việc, và như thế thì dù khó khăn đến đâu kháng chiến sẽ thắng lợi và kiến quốc sẽ thành công!”. Dự đoán của Bác về vận mệnh đất nước còn nhiều gian nan trắc trở, quả không sai. Giành được độc lập nhưng thực dân Pháp quay trở lại, chúng ta còn phải làm thêm một Điện Biên Phủ nữa, người Pháp mới thực sự đầu hàng. Miền Bắc hòa bình, nhưng còn đó miền Nam sau vĩ tuyến 17. Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước phải kéo dài đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Bác Hồ không còn vào vui với miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, nhưng sinh thời, vào những thời điểm cầm trên tay lá phiếu bầu cử Quốc hội ở miền Bắc, mỗi người dân đều háo hức hướng về Người và các đồng chí:Đêm tháng năm trống cờ bay bổng

Ta ghi vào lá phiếu của ta những dòng hy vọng:

Hồ Chí Minh

Lê Duẩn, Trường Chinh…
Ôi cái tên những người Cộng sản
Nghe dặt dìu tên núi tên sông
Tên viết bằng chữ đỏ chiến công
Những cái tên, trong lòng ta, đã thành câu hát…

(Chính Hữu-“Lá phiếu hôm nay”, 1960)

Hiểu dân tin dân, đánh giá cao tiềm lực của nhân dân nên mỗi bận bị “xa dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất buồn phiền! Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, một chiến sỹ nhiều năm bảo vệ Bác cho tới lúc Người qua đời, kể lại mẩu chuyện Bác Hồ đi bỏ phiếu bầu cử HĐND Thành phố Hà Nội, vào tháng 4-1969. Bấy giờ Người đã yếu, phải chọn nơi bỏ phiếu nào không ảnh hưởng đến sức khỏe của Bác. Khảo sát nhiều nơi, thấy hòm phiếu ở Nhà Thuyền (Hồ Tây), lối đi vào hòm phiếu không phải lên xuống, lại yên tĩnh, khí hậu mát mẻ là tốt hơn cả. Địa điểm thế là ổn, còn thời gian? Cuối cùng, chọn phương án bảo vệ Bác đi bỏ phiếu vào buổi chiều, cử tri vắng vẻ, tránh căng thẳng cho vị Chủ tịch nước. Chuẩn bị xong tất cả, mời Bác lên xe và mọi việc đều được tiến hành theo đúng kế hoạch. Khi xe về đến Phủ Chủ tịch, Bác bước xuống đi bộ về nhà. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng từ xe khác cũng kịp xuống, bước theo Bác. Vừa đến bên, Bác quay lại hỏi:

– Chú Kháng, chú có biết vì sao Nguyễn Hải Thần bị dân khinh, dân ghét không?

Nghe Bác hỏi vậy, ông Kháng chột dạ. Trấn tĩnh lại, ông nhớ năm 1945, mỗi lần Nguyễn Hải Thần đi đâu là bọn lính bảo vệ ngồi trên xe, tay lăm lăm chĩa súng ra ngoài. Có hẳn một khẩu trung liên đặt trên nóc xe luôn sΩn sàng nhả đạn, khiến ai trông thấy cũng chướng mắt, coi thường… Nghĩ đến đó, ông Kháng trả lời Bác:

– Thưa Bác, vì bọn bảo vệ Nguyễn Hải Thần nhố nhăng quá?

Nghe xong Bác hỏi tiếp:

– Chú có biết, ai bảo vệ an toàn cho Bác không?

Thực tế công tác bảo vệ Bác trong bấy nhiêu năm đã khiến ông Kháng nói ngay:

– Thưa Bác, Nhân Dân ạ!

Trả lời vậy, nhưng ông Kháng vẫn chưa rõ “trục trặc” ở khâu nào khiến Bác không vui lòng? Phải một thời gian sau, một đồng chí trực tiếp bảo vệ ngồi cùng xe với Bác nói lại, ông Kháng mới ngộ ra, là do hôm nọ nơi đến bỏ phiếu Bác thấy vắng cử tri quá. Bảo vệ an toàn cho Bác mà vô tình thiếu niềm tin vào dân, xa dân, là trái với quan điểm quần chúng của người cán bộ cách mạng.

Sự việc ngỡ như nhỏ bé, tình cờ kể trên xẩy ra vào tháng 4, thì đến ngày 02 tháng 9 năm đó Bác Hồ đi xa. Những ngày tháng 5 này, toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta đang tích cực chuẩn bị cho bầu cử Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp (2011 – 2016). Ứng cử viên đang tích cực tiếp cận người dân, nêu chương trình hành động, lắng nghe nguyện vọng, hứa hẹn những việc sẽ làm… Đấy là điều cần nhưng chưa đủ. Gần dân khi mình cần dân thì không khó, cái khó gấp nhiều lần, thử thách gấp nhiều lần là gần dân để vì dân. Bởi, như Bác kêu gọi toàn dân đi bỏ phiếu năm 1946: “Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền Độc lập của tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào.” Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Để nâng cao chất lượng Đại biểu Quốc hội, cần tạo cơ chế giúp cho mỗi đại biểu gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri.

Xem ra, ý nghĩa câu chuyện Bác Hồ đi bỏ phiếu ở hòm phiếu Nhà Thuyền, Hồ Tây – Hà Nội, và niềm day dứt của người bảo vệ Bác năm nào, mãi tới hôm nay còn có sức lan tỏa…

K.H
Nguồn: Báo Nghệ An

baodientu.chinhphu.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân do dân vì dân

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945 tại Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ đó khai sinh ra nước Việt Nam mới. Ngày 03/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra với Chính phủ 1 trong 6 nhiệm vụ cấp bách là: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để sớm có Nhà nước lập hiến do dân bầu ra. Thực hiện lời đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 06/01/1946 nước ta tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I thành công tốt đẹp. Tiếp đó, ngày 02/3/1946 Quốc hội họp phiên đầu tiên và bầu Người làm Chủ tịch Chính phủ. Đây là các đại biểu Quốc hội của nhân dân, do nhân dân bầu có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề nội trị và ngoại giao của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bác Hồ trong một chuyến về thăm bà con nông dân năm 1956 (T-TNN st)

Ngay từ buổi đầu Bác Hồ đã khẳng định “Nước ta là nước dân chủ”, nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Nhà nước là của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thực hiện dân chủ với đa số nhân dân và chuyên chính với thiểu số phản động chống lại nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Trung ương do dân cử ra. Nói tóm lại quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Chính đó là điểm khác nhau về bản chất giữa nhà nước dân chủ của ta và nhà nước của các giai cấp bóc lột.

Theo Bác Hồ, Nhà nước ta là nhà nước của dân vì “tất cả quyền hành trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”… “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân, nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”. Các vị đại diện của dân, do dân cử ra chỉ là thừa ủy nhiệm của dân, chỉ là “công bộc của dân”. Bác Hồ phê phán những vị đại diện lầm lẫn sự ủy quyền đó với quyền lực cá nhân: “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải cậy thế với dân”.

Theo Bác Hồ, Nhà nước do dân, là nhà nước do dân lựa chọn bầu ra, do dân ủng hộ giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động, do dân phê bình xây dựng. Cho nên Bác Hồ luôn yêu cầu: Tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và sự giám sát, kiểm tra, kiểm soát của nhân dân.

Về Nhà nước vì dân, theo Bác Hồ, chỉ có nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức xây dựng mới có thể là nhà nước vì dân. Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, trong sạch vững mạnh. Bác Hồ yêu cầu “việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Vì vậy cán bộ nhà nước phải là đầy tớ của dân, đồng thời là người lãnh đạo hướng dẫn nhân dân. Bác dạy: “người thay mặt đều phải đủ cả đức và tài, vừa hiền lại vừa minh”.

Nhận thức về nhà nước của dân, do dân, vì dân cũng cần thấy rõ sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhà nước dân chủ của ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời, tồn tại và phát triển đến ngày nay là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ với sự hy sinh xương máu của bao thế hệ trước và sau Cách mạng Tháng Tám. Khi nhà nước vừa ra đời phải đảm nhận nhiệm vụ lịch sử tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ của dân tộc để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, giữ vững nền độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội của đất nước. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

HOÀNG KIM

binhthanh.hochiminhcity.gov.vn