Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Lời dặn của Bác đã đi sâu vào hàng vạn trái tim

Chúng tôi về Nông trường Đông Hiếu vào một chiều cuối năm, Giám đốc Nông trường ông Thiếu Văn Anh tiếp chúng tôi thân tình và cởi mở, ông nói rất vui: “Cán bộ công nhân viên nông trường Đông Hiếu cũng như người dân Phủ Quỳ đang nô nức chuẩn bị lễ kỷ niệm lớn nhân 50 năm ngày Bác Hồ về thăm nông trường”.

Ngày ấy, về thăm Nông trường Đông Hiếu – một trong những lá cờ đầu trong sản xuất nông nghiệp của miền Bắc, Bác đã đi thăm các cơ sở sản xuất của nông trường, gặp gỡ nói chuyện thân tình với hơn một vạn cán bộ và nhân dân huyện Nghĩa Đàn.

Mọi người còn nhớ mãi lời dặn dò của Bác: “Mỗi một công nhân, mỗi một cán bộ cần đề cao tinh thần làm chủ, làm chủ nước nhà, làm chủ nông trường… Các nông trường có nhiệm vụ đoàn kết và tìm cách giúp đỡ đồng bào địa phương, vì vậy đồng bào địa phương cần đoàn kết với nông trường học tập cách lao động của nông trường xây dựng hợp tác xã cho tốt. Đời sống xã viên ngày càng ấm no, thế là XHCN”.

Đã 5 thập kỷ trôi qua, Nông trường Đông Hiếu cũng đã trải qua biết bao thăng trầm, vượt qua nhiều khó khăn thách thức vươn lên phát triển bền vững theo lời Bác dặn. Trong cơ chế nền kinh tế thị trường nghiệt ngã, cán bộ và công nhân viên đoàn kết phấn đấu không mệt mỏi gặt hái được nhiều thành tích đáng phấn khởi.

Qua việc chuyển đổi cơ chế mới, xóa bỏ quan liêu bao cấp, hiện nay nông trường thực hiện kinh doanh sản xuất bằng hình thức khoán đất cho người lao động. Với tổng diện tích quản lý 1.300 ha đã giao cho hơn 400 gia đình công nhân.

Đến năm 2010, tổng sản phẩm xã hội đạt hơn 400 tấn mủ cao su và gần 300 tấn cà phê, chưa kể các sản phẩm cam, mía và chăn nuôi… Ước đạt giá trị trên đất xấp xỉ hơn 22 tỷ đồng.

Nông trường đang tổ chức 8 đội sản xuất, trong đó nhiều đội làm kinh tế giỏi như đội Đồng Quang, với sản lượng kinh doanh cây cao su và cà phê gần 100 ha nhiều năm đạt và vượt chỉ tiêu.

Ông Nguyễn Xuân Lương, đội trưởng đội Đồng Quang cho biết: “Các gia đình công nhân trong đội Đồng Quang không còn gia đình nào nghèo đói mà phần đông là kinh tế khá giả. Ngoài nguồn thu từ cà phê, cao su còn có các khoản thu khác như trồng mía, chăn nuôi cũng ngót nghét 50 triệu đồng/năm”.

Chúng tôi đi tham quan khu vực sản xuất, trước mắt hiện ra những cánh rừng cao su xanh ngát, mênh mông, phía Bắc nông trường những vùng cà phê trĩu quả nối nhau hút tầm mắt.

Gặp ông Phan Minh Hảo, công nhân nông trường thuộc đội Đồng Quang, ông nói: “Trước đây, công nhân chúng tôi thích trồng cà phê. Cây cà phê trồng trên đất đỏ Phủ Quỳ thơm ngon ít nơi sánh kịp. Đến mùa thu hoạch, các thương gia từ Buôn Mê Thuột ra thu mua đưa vào Đắc Lắc, cà phê Đông Hiếu trở thành thương hiệu cà phê Tây Nguyên. Nhưng trồng cà phê không kinh tế bằng cây cao su. Tuy nhiên, trồng cao su vốn lớn hơn, nhưng hiện nay kinh tế gia đình đã khá hơn, các gia đình công nhân nhận đất khoán của nông trường đang chuyển hướng sang trồng cây cao su. Cây cao su có chu kỳ kinh tế kéo dài trên dưới 50 năm nhất định sẽ đem lại lợi nhuận kinh tế lớn hơn”.

Ông nói tiếp: “Hiện nay vấn đề người dân bức xúc là tại vùng trồng cà phê, cao su có nạn tranh mua cướp bán do một số đầu nậu ôm hàng. Đã lắm lúc xảy ra tranh chấp, xô xát phải gọi lực lượng công an tới mới giải quyết được…”.

Trao đổi về việc đảm bảo an ninh trật tự tại Đông Hiếu, lãnh đạo nông trường cho biết: “Để làm kinh tế tốt phải gắn liền với việc làm tốt công tác an ninh trật tự để bảo vệ cây trồng tại nông trường cho công nhân có điều kiện thâm canh. Chúng tôi thường xuyên mời Công an huyện về mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho anh em bảo vệ cũng như xây dựng lực lượng công nhân làm nhiệm vụ dân phòng. Biết kết hợp với Công an xã Đông Hiếu và Công an huyện để xây dựng mạng lưới đảm bảo ANTT, cũng như phát động người dân tự nguyện tố giác tội phạm thì địa bàn mới trong sạch, công nhân và nông dân mới yên tâm lao động sản xuất”.

Nhờ lấy dân làm gốc, địa bàn Nông trường Đông Hiếu gần đây đã đẩy lùi được tệ nạn trộm cà phê, cam và mủ cao su… Bên cạnh đó, nông trường còn tổ chức cho các gia đình công nhân cam kết với chính quyền địa phương “nói không với ma túy và các tệ nạn xã hội”. Nhờ vậy, tuy là trung tâm buôn bán thương mại nhưng khu vực Đông Hiếu hiện tại ANTT khá lành mạnh.

Dẫu biết rằng thời kỳ đất nước mở cửa, hội nhập kinh tế toàn cầu hóa, bên cạnh những thành tích đã đạt được, Nông trường Đông Hiếu vẫn còn những việc làm phải trăn trở với lời căn dặn của Bác trước lúc Người đi xa.

Lê Hoa

congannghean.vn

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên

(ĐCSVN)- Mỗi một giai cấp trong lịch sử, mỗi một dân tộc, một cộng đồng dù lớn, hay nhỏ đều có giá trị và chuẩn mực đạo đức riêng. Đạo đức thuộc phạm trù ý thức xã hội, cũng như các loại hình thái ý thức xã hội khác, nó được hình thành và phát triển trên một cơ sở kinh tế – xã hội nhất định và điều kiện lịch sử nhất định.

Đạo đức của giai cấp vô sản – đạo đức cộng sản – được hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp những người lao động, giải phóng dân tộc và nhân loại khỏi áp bức, bất công. Đạo đức ấy tác động góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh đó. Lênin cho rằng đạo đức cộng sản góp phần cải tạo xã hội cũ và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Trên ý nghĩa đó đạo đức mang tính cách mạng.

Nhận thức vai trò chủ động, tích cực của đạo đức, ngay khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1927 trong tác phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đặt lên trang đầu nội dung về tư cách một người cách mệnh. Có thể coi đó là chuẩn mực đầu tiên cần có cho những ai bước vào con đường cách mạng. Tư cách ấy có 3 nhóm vấn đề: tự mình phải làm gì; đối với người phải thế nào; làm việc phải như thế nào. Trong 14 điểm tự mình phải làm gì rất đáng chú ý như: Giữ chủ nghĩa cho vững; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; ít lòng tham muốn về vật chất; cần kiệm; vị công vong tư … Có ý nghĩa sâu sắc, bền vững. Nhiều thế hệ các chiến sĩ cách mạng, những đảng viên cộng sản đã giữ vững khí tiết cộng sản, ý chí đấu tranh trên nền đạo đức đó.

Ngay từ khi đi tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng, chính Nguyễn Ái Quốc là hiện thân của những tư cách đạo đức đó. Mùa xuân năm 1930 Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam. Từ đó Đảng được trang bị lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, những tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và cả đạo đức mới – đạo đức cách mạng.

Với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền ở Việt Nam. Ngay sau đó, trong bộ máy chính quyền cách mạng các cấp đã xuất hiện những tiêu cực, những căn bệnh cần phải loại trừ. Trong thư gửi chính quyền các cấp ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh như: Trái phép, Cậy thế, Hủ hoá, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo. Người nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vô cùng khó khăn gian khổ đặt ra những yêu cầu nghiêm khắc về tu dưỡng đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc (10-1947) Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm của một số cán bộ, đảng viên với các bệnh tham nhũng, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi địa phương chủ nghĩa, bè cánh cá nhân… Người nhấn mạnh 5 đức tính tốt cần rèn luyện đó là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Đó là đạo đức cách mạng.
Sau ngày miền Bắc được giải phóng (1954) và tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cầm quyền đứng trước những nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên của Đảng phải có trình độ học vấn và lý luận nhất là lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, hiểu biết về kinh tế, nắm bắt quy luật và đặc điểm thực tiễn. Mặt khác phải tu dưỡng đạo đức nhiều hơn để khắc phục những nguy cơ của Đảng cầm quyền. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm quan trọng: Đạo đức cách mạng. Người nêu rõ, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.

Ngày 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật”. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.

Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Làm theo Di chúc của Người, trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn chú trọng đổi mới, chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Quan điểm nhất quán của Đảng là coi trọng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên cả về đức và tài trong đó đức là gốc.

Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2006) nhấn mạnh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nội dung xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng được Đại hội đề cập toàn diện từ nâng cao trình độ trí tuệ, lý luận, bản lĩnh chính trị đến đổi mới tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ, từ thực hiện tốt nhất những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng đến kiện toàn và đổi mới tổ chức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, từ đổi mới phương thức lãnh đạo đến nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Chất lượng đội ngũ đảng viên thể hiện ở trình độ học vấn, hiểu biết lý luận, ở năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, ở khả năng, trình độ chuyên môn cao và ở phẩm chất, đạo đức tốt. Rèn luyện về phẩm chất đạo đức, nâng cao đạo đức cách mạng trở thành yêu cầu và nội dung rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đại hội X cũng thẳng thắn chỉ ra rằng “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ công chức diễn ra nghiêm trọng”.

Để khắc phục tình trạng đó, đẩy mạnh công tác xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã và đang kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu, vô cảm, vô trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức. Từ ngày 1-6-2006 Luật Phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, là cơ sở pháp lý quan trọng để chống tham nhũng, lãng phí có hiệu quả. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (7-2006) đã ra nghị quyết Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trung ương Đảng nhấn mạnh quan điểm, vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. Làm sao để tệ nạn tham nhũng, lãng phí bị đẩy lùi, không còn diễn ra nữa. Đó là mong muốn của toàn Đảng, toàn dân. Các giải pháp cơ bản đã được đề ra. Trong các giải pháp đó, vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là rất quan trọng và cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, sâu sắc.

Ngày 7-11-2006 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TƯ về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Toàn Đảng thực hiện Chỉ thị đó với đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh từ ngày 3-2-2007. Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những nội dung, tiêu chuẩn của đạo đức cách mạng để mọi đảng viên, cán bộ phấn đấu, rèn luyện, mà chính Người là hiện thân và nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng.

Đạo đức Hồ Chí Minh trước hết là Người đã suốt đời “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”, là tận trung với nước, tận hiếu với dân. Độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào là mục tiêu phấn đấu của Người. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một ngày mà đất nước chưa độc lập, thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. Người đau nỗi đau của nhân dân, vui niềm vui và hạnh phúc của nhân dân. Yêu nước, thương dân, một lòng tận tụy vì nước, vì dân, mở lòng mình hoà vào cuộc sống của nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là ý chí, nghị lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi hiểm nguy với niềm tin vào tương lai của cách mạng, của đất nước, dân tộc, tin vào con người. Đó là một con người mà uy vũ không thể khuất phục, gian khó chẳng thể chuyển lay, vật chất không thể cám dỗ. Ở Hồ Chí Minh sáng ngời lý tưởng cộng sản, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, công bằng, căm ghét những gì xấu xa, hư hỏng. Người kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của mọi tiêu cực và những căn bệnh xấu, chủ nghĩa cá nhân làm tha hoá con người:
Hồ Chí Minh đã sống “một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”. Người là hiện thân của lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, của “muôn vàn tình thân yêu” để lại cho muôn đời con cháu. Người là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng nhưng lại vô cùng khiêm tốn, giản dị, càng vĩ đại vì giản dị. Người luôn luôn sống như một người bình thường, hoà đồng, gần gũi với nhân dân và không chấp nhận bất cứ một đặc ân, đặc quyền, đặc lợi gì cho riêng mình, không ham danh lợi, chức vụ, tiền tài. Hồ Chí Minh không có của cải, tài sản riêng và trên ngực không một tấm Huân chương, “một đời thanh bạch chẳng vàng son”.

Hồ Chí Minh là mẫu mực về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Suốt đời Người học tập và làm việc không mệt mỏi để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trí tuệ Hồ Chí Minh là kết quả của sự học tập, nghị lực tự học phi thường, học từ thực tiễn, từ sách vở, từ giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại. Người vừa lao động vừa hoạt động cách mạng. Khi ở cương vị lãnh đạo cao nhất vẫn tiết kiệm từng đồng tiền, hạt gạo, từng mẩu giấy, mẩu bút chì, tranh thủ từng phút, từng giờ cho công việc. Ở Hồ Chí Minh là sự công minh, chính trực, không thiên tư, thiên vị, đồng thời chứa chan tình yêu thương đối với gia đình, họ hàng, quê hương, xứ sở, một con người trung hiếu vẹn toàn.

Đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa nói và làm. Người coi trọng công việc thực tế mà nói ít. Đã nói là phải làm. Người trân trọng, khích lệ những điều tốt đẹp những gương người tốt việc tốt. Người phê phán thói ba hoa, nói suông, hứa suông mà không làm hoặc nói hay mà làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Người kết hợp mật thiết giữa lý luận với thực tiễn, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn Việt Nam và luôn luôn tổng kết thực tiễn để trở thành lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên ý nghĩa đó, đạo đức đúng như Lênin nói đã góp phần cải tạo, đẩy lùi cái xấu và xây dựng một xã hội tốt đẹp.

Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh chắc chắn làm cho Đảng ta, Nhà nước ta mạnh lên, chế độ ta và mỗi con người tốt đẹp thêm lên và tin rằng sẽ ngăn chặn, đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi thói hư, tật xấu khác làm cho công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa có thêm nhiều thành tựu mới, thực hiện thành công nguyện ước của Bác Hồ.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

dalat.gov.vn

Cuộc hành trình của thời đại

ảnh minh hoạ

Ngày 5-6 cách đây 100 năm, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Thế giới kính trọng ghi nhận: “Hồ Chủ tịch, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Từ những năm 1920, trên nhiều diễn đàn, Hồ Chí Minh được xem như biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước, là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, chống áp bức bất công. Con đường cứu nước của Người là một sáng tạo, một khát vọng cao cả. Người đem hết nghị lực cho công cuộc giải phóng công – nông. Từ con đường cứu nước độc đáo, sáng tạo của mình, Người đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Qua 30 năm bôn ba khắp thế giới, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, Người không chỉ làm giàu trí tuệ, bản lĩnh của mình mà còn kiến tạo cho Việt Nam và thế giới một tương lai mới, một tương lai của hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Dù đi qua con đường cứu nước đầy những gian nan, trắc trở nhưng Người vẫn bình tĩnh, vững vàng, chịu đựng một cách kiên cường, tự tại, bao dung. Người vừa bình dị vừa cao cả. Người là một tấm gương cho đức hy sinh vì dân, vì nước; là niềm tin, chỗ dựa của đất nước, của dân tộc. Di sản tư tưởng của Người là cứu cánh đưa Đảng thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối trong những năm cuối thế kỷ XX. William J.Duiker, giáo sư sử học Mỹ, tác giả tập Ho Chi Minh a life, Hyperion, một cuốn tiểu sử được coi là đầy đặn nhất đã được xuất bản ở Mỹ năm 2000, cho rằng con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự tìm lại cho Việt Nam một “quốc thể”, “một là độc lập dân tộc, hai là công bằng xã hội và kinh tế”. Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh thiên tài “ở chỗ đã kết hợp được những giá trị của phương Tây với những giá trị của CNXH vào Việt Nam”.

Con đường cứu nước Hồ Chí Minh thể hiện một trí tuệ Hồ Chí Minh, từ lúc tìm đường, lựa chọn con đường đến sự dung hợp một cách xuất sắc giữa chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa dân tộc và kiên trì đến cùng để thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc, làm cho mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành; xây dựng một đất nước công bằng, dân chủ, văn minh. Con đường cứu nước Hồ Chí Minh là sự sáng tạo của một nhà tư tưởng thông thái, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, kế thừa xuất sắc những giá trị, tư tưởng tiến bộ dân chủ tư sản của phương Tây, đã thực tiễn hóa lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, nhiều học giả, nhà nghiên cứu phương Tây vẫn tiếp tục hành trình nghiên cứu, tìm hiểu lại con đường cứu nước Hồ Chí Minh. Bà Dominique de Miscault, Tổng Biên tập tạp chí Viễn cảnh Pháp – Việt, nói về con đường cứu nước Hồ Chí Minh: “Hồ Chủ tịch rất am hiểu về đất nước và dân tộc mình, một người yêu chuộng hòa bình, một học giả tiến bộ. Người đã chiến đấu và cuộc chiến đấu do Người lãnh đạo đã tạo nên sự vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc này đã chiến thắng. Đây là di sản diệu kỳ nhất mà Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam”.

Nguồn: baobinhduong.org.vn (TT)

tuoitrebinhduong.vn

Tư tưởng đoàn kết quân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Congannghean.vn) – Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ quân dân là mối quan hệ đặc biệt, “quan hệ cá nước”. Trong đó, “nhân dân là nền tảng, là cha là mẹ của bộ đội” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5).

Quân đội muốn hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó thì phải gắn bó mật thiết máu thịt với nhân dân. Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng mọi sức mạnh đều ở nhân dân, từ cơm ăn, áo mặc, xe cộ đi lại đến vũ khí đánh giặc đều do mồ hôi công sức nhân dân mà có.

Trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong một lần trò chuyện với đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Pắc Bó (Cao Bằng), Bác nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng: “Phải biết dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”.

Đó chính là nền tảng ban đầu cho vấn đề đoàn kết quân – dân. Ngay trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác cũng đã nêu rõ: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”.

Những ngày đầu thành lập, những người đứng đầu Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân hỏi Bác: Đội tuyên truyền hoạt động theo kế hoạch của liên tỉnh, khi tới địa phương thì quan hệ thế nào? Bác nói: “Thống nhất chỉ đạo cả chủ lực và địa phương. Ba lực lượng ấy đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với nhau…”. Đó cũng chính là phương châm mà quân đội ta đã thực hiện trong suốt hai cuộc kháng chiến lâu dài.

Trong hồi ký “Một lòng theo Bác”, Thượng tướng Chu Văn Tấn có viết: Bác căn dặn rằng: “Cán bộ không được tự kiêu, tự mãn như ông tướng, mà phải khiêm tốn… Phải lấy dân làm gốc như cá dựa vào nước tùy theo lực lượng của quần chúng mà nâng dần lên; Phải gương mẫu, chịu hi sinh gian khổ, đi đầu trong mọi khó khăn…”. Bộ đội về Bắc Sơn, Vũ Nhai đánh giặc, tới Đông – Ngàn, thấy quần chúng đông nghịt như hội, hát si, hát lượn… Hỏi ra thì biết, nhân dân tổ chức si lượn để che mắt địch, đón bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay của đất nước ta, nhắc lại tư tưởng của Bác về vấn đề đoàn kết quân dân vẫn là điều vô cùng cần thiết và quan trọng. Để thực hiện tốt tư tưởng trên của Người và không ngừng tăng cường, củng cố, phát triển mối quan hệ máu thịt này, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đang ra sức thi đua và thực hiện tốt những vấn đề lớn theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quân dân.

Người khẳng định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh toàn tập. T5). Người luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, chiến sĩ phải hiểu rõ: nhân dân là nền tảng, là gốc rễ sinh ra quân đội. Muốn quân đội vững mạnh thì phải dựa vào cái gốc, cái nền tảng ấy: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 2, Bác đã có thư gửi đồng bào, chiến sĩ và nêu rõ: “… Chúng gây nên chiến tranh… muốn chia rẽ dân ta… Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc, nhờ tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường đó, mà hai năm kháng chiến… lực lượng của địch thì ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hăng, càng mạnh… Hãy tin tưởng vào vận mệnh lớn lao của Tổ quốc, tin tưởng vào sức đoàn kết, chiến đấu của ta… Tướng sĩ ở mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ… thì cuộc trường kì kháng chiến của ta nhất định thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập, T4).

Bác dạy: “Mình đánh giặc là vì dân, nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình phải có trách nhiệm phụng sự nhân dân” (HCM toàn tập.T6). “Phải giúp đỡ nhân dân bất kì việc to, việc nhỏ” … Đó là điều “Thương dân, trọng dân, tốt với dân”. Có vậy, mới gắn bó chặt chẽ được với nhân dân, mới được dân tin, dân phục, dân yêu.

Quán triệt, thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng đoàn kết quân dân của Hồ Chủ tịch, 67 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, mối quan hệ quân dân cá nước, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó.

Nguyễn Thanh

congannghean.vn

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh qua tác phẩm “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bước chân vào con đường hoạt động cách mạng, Bác Hồ quan tâm hàng đầu tới việc giáo dục đạo đức cho mọi người Việt Nam yêu nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Theo Người, tư cách của người cách mạng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp các thế hệ người Việt Nam vững tin đi vào con đường cách mạng và đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản đến thắng lợi cuối cùng. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng. Mọi việc thành hay bại, chủ yếu là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không. Ðạo đức cách mạng không chỉ tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người.

Bác Hồ quan tâm đạo đức cách mạng một cách nhất quán, xuyên suốt từ những năm hai mươi đến tận cuối đời. Người đặc biệt chú trọng cả hai mặt lý luận và thật sự thực hành đạo đức của cán bộ, đảng viên từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền. Tại sao như vậy? Bởi vì trong điều kiện Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên dễ mắc bệnh quan liêu, nhũng lạm. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, hệ thống chính trị là tấm gương của xã hội. Gương sáng thì dân soi, gương mờ làm lòng dân không yên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tóm lại, Ðảng cầm quyền liên quan vận nước. Ðảng và mỗi cán bộ, đảng viên vui với mỗi bước phát triển, đi lên của đất nước và phải chịu trách nhiệm trước những lời kêu ca, phàn nàn của dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nỗi quan tâm lớn từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền, bởi sứ mệnh nặng nề của Ðảng là làm cho dân tự do, hạnh phúc sau khi giành được độc lập dân tộc. Người chú trọng giáo dục việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Nâng cao đạo đức cách mạng, trước hết là nâng cao nhận thức và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, Ðảng có quyền lực chính trị, lãnh đạo xã hội và hệ thống chính trị. Vì vậy, Ðảng phải nâng cao ý thức phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, thanh niên…, cùng với những đức tính cần cù, tiết kiệm, chính trực, thì phải trong sạch, không tham lam tiền của, đặc biệt không tham địa vị, quyền hành, vì địa vị quyền hành dẫn tới lợi ích vật chất. Là cán bộ, đảng viên thì phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước lợi ích cá nhân. Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân là đạo đức đẹp đẽ nhất của mỗi cán bộ, đảng viên. Ðặc biệt, trên cơ sở nhận thức Ðảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, là gốc; Ðảng cầm quyền cho dân làm chủ, cán bộ đảng viên phải có ý thức chịu trách nhiệm trước nhân dân. Vì Ðảng, Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, như cách nói của Bác Hồ.

Chống suy thoái về đạo đức là chống lười biếng, xa xỉ, quan liêu và đặc biệt là chống sự nhũng lạm. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, là cán bộ, công chức Nhà nước thì dù ít, dù nhiều đều có quyền hành. Cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Có quyền mà thiếu lương tâm, không chịu tu dưỡng rèn luyện thì dễ trở nên hủ bại, dễ biến thành sâu mọt, dễ “dĩ công vi tư”. Vì vậy, tham nhũng theo tinh thần Hồ Chí Minh là bệnh của những người có quyền lực, lạm dụng quyền lực cộng với lòng tham để nhũng nhiễu dân. Muốn chống tham nhũng, phải chống cả xa xỉ, vì xa xỉ mà sinh ra tham nhũng. Mà chống tham nhũng trước hết là chống tham quyền. Chống tham nhũng phải bằng giáo dục, công tác tư tưởng. Nhưng chỉ có giáo dục đạo đức không thôi thì không thể xóa bỏ được tham nhũng, mà phải kết hợp chặt chẽ với pháp luật, mà quan trọng là tính khoa học và minh bạch của bộ máy; đồng thời phải dùng cả “pháp trị” với tính nghiêm minh của pháp luật, phép nước theo tấm gương Hồ Chí Minh.

Chống suy thoái về đạo đức, đặc biệt phải tập trung chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì chủ nghĩa cá nhân là một loại giặc, đồng minh với các loại giặc khác. Muốn chống các loại giặc khác, trước hết phải chống giặc trong lòng, tức chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh khác nhau. Nó không chỉ ảnh hưởng tới từng cá nhân, đối với dân tộc, mà còn làm mất niềm tin của nhân dân đối với Ðảng. Nói ngắn gọn, theo quan điểm Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một trở lực trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, là đối lập với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là chà đạp lên lợi ích cá nhân.

Giờ đây, trong bối cảnh tình hình mới, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trở thành một nhu cầu cấp bách và có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chứa đựng một ý nghĩa sâu xa về lý luận và thực tiễn, tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới đất nước.

PGS,TS Bùi Ðình Phong

dalat.gov.vn

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng qua một số tư liệu gốc tại bảo tàng cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới đã về với cõi vĩnh hằng được gần 38 năm. Người ra đi, nhưng đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản vô cùng to lớn – đó là tư tưởng về đạo đức cách mạng.

Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, nền đạo đức đã được hình thành hàng ngàn năm suốt chiều dài lịch sử dân tộc và kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông cũng như tinh hoa đạo đức của nhân loại và dựa trên nền tảng tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Song, với tư duy độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức của quá khứ, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Thông qua các tác phẩm, các bút tích gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy trong lĩnh vực đạo đức cách mạng, Người thường sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đã có trong Nho giáo từ mấy trăm năm trước Công nguyên; hoặc các khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái… xuất hiện tại Tây Âu từ thời Hy-La cổ đại. Song Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “Việt Nam hóa” thành các khái niệm đơn giản dễ hiểu, dễ thực hiện và gần gũi hơn với cán bộ và nhân dân lao động.

Nhìn chung, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản, là : Trung với nước, hiếu với dân ; Yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng. Trong hàng trăm trang tư liệu gốc – các bản thảo quí hiếm của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang có vinh dự được lưu giữ, thì hai nội dung được đề cập đến nhiều nhất, đó là Trung với nước, hiếu với dân và Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Phẩm chất trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào đó những nội dung mới. Tư tưởng trung với nước, hiếu với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước.

Như chúng ta đã biết, sau gần 30 năm bôn ba ở nước ngoài đi tìm đường cứu nước, tháng 1 năm 1941 trở về Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập báo Việt Nam Độc lập (số đầu tiên ra ngày 1-8-1941) để tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Thông qua những mẩu chuyện, những tin, bài ngắn, súc tích, dễ hiểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương những tấm gương người tốt, việc tốt, qua đó để giáo dục tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, tinh thần dám xả thân vì độc lập tự do của dân tộc. Trên báo Việt Nam độc lập, số 3 ra ngày 21-8-1941, ngay trên trang nhất, báo đã in trang trọng câu thơ: “Có Tổ quốc mới có ta; Nước là rất trọng ta là rất khinh” (Khinh là xem nhẹ – TVH). Còn trong một tài liệu khác dưới tiêu đề “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (bản gốc hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Người kịch liệt phê phán những cán bộ miệng thì nói dân chủ, nhưng khi thực hiện công việc thì lại theo lối quân chủ và xa rời nhân dân. Người viết: Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra? Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó mà không hiểu tâm lý của nhân dân, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là dân ngu khu đen, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị cao xa như mình.

Sợ nhân dân: Khi có sai lầm khuyết điểm thì lại sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy dễ mấy làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân thì việc khó mấy to mấy cũng làm được.

Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy quyền lợi thiết thực, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc, đối với dân không thể lý luận suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của sức người của nhân dân.

Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra cách chữa bệnh quan liêu mệnh lệnh là phải theo đúng đường lối quần chúng và phải thực hiện tốt 6 điều:
Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm kiểu mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Thực ra tư tưởng Hồ Chí Minh về chống bệnh quan cách, ức hiếp nhân dân đã được Người cảnh báo từ trước cách mạng Tháng Tám 1945. Khi hình thành khu giải phóng, có một số cán bộ hống hách, ức hiếp, ăn chặn của dân, xa rời dân, báo Việt Nam độc lập đã có một loạt bài lên án các ông quan cách mạng tha hóa ấy.

“Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” là một phẩm chất đạo đức gắn liền với các hoạt động hàng ngày của mọi người. Nhưng đối với những người cách mạng, thì đây là một phẩm chất quan trọng nhất. Vì vậy, trong các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng phẩm chất này được đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cần kiệm liêm chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau. Có khi Người coi cần kiệm như hai chân của con người, phải đi đôi với nhau, có khi Người coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính quan trọng của mỗi con người, mà thiếu một đức tính thì không thành người. Đức tính cần kiệm được thể hiện ngay trong các việc làm nhỏ nhất và thường nhật của Người. Trong hơn 300 bài báo, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ bản gốc, thì có tới 90% bài viết Người sử dụng các mảnh giấy loại đã viết một mặt: như bản tin, giấy tiêu đề của Chủ tịch phủ in bằng tiếng Trung Quốc, thậm chí có những bản thảo bài báo ngắn khoảng gần 200 chữ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng hai mảnh giấy nhỏ chắp lại. Trong một tài liệu dài 5 trang đánh máy do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm 1949 dưới tiêu đề “Kiểm điểm công việc của Đảng”, Người đã chỉ ra một số khuyết điểm của các đảng viên, như: Trong cuộc đấu tranh to lớn, lâu dài, gay go, ít nhiều đảng viên, ít nhiều nơi không tránh khỏi những khuyết điểm: chủ quan, hẹp hòi, mạo hiểm, hủ hóa, xa quần chúng, chủ nghĩa địa phương, không giữ kỷ luật, làm việc luộm thuộm, tự kiêu, tự mãn v.v…

Dù đó là chứng bệnh thanh niên (có lẽ từ bệnh thanh niên ở đây nên hiểu là bệnh ấu trĩ – TVH), nhưng từ nay Đảng đòi hỏi các Đảng viên phải kiên quyết tẩy cho kỳ sạch những bệnh ấy, vì nếu không trị cho khỏi hết thì nó có thể lây ra mà trở nên rất nguy hiểm cho Đảng. Sau đó Người viết tiếp: Mỗi một đảng viên phải kiên quyết thực hành những việc sau đây:

– Nghiên cứu chủ nghĩa (không hiểu chủ nghĩa thì như mò trong đêm tối).

– Gần gũi quần chúng (cách xa quần chúng, thì việc gì cũng không thành).

– Giữ nghiêm kỷ luật (kỷ luật không nghiêm thì lực lượng kém sút)

– Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư (không làm được như thế, thì không xứng đáng là người cộng sản).

Trong một số tài liệu khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, người cán bộ phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, vì trách nhiệm trước nhân dân chính là một trong những thước đo quan trọng về phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ đảng viên. Dưới tiêu đề “Tinh thần trách nhiệm”, một bài báo được viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và lấy bút danh là C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải về tinh thần trách nhiệm của người nấu bếp, của người cán bộ quân sự được thể hiện các công việc hàng ngày và cuối cùng Người kết luận: Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ. Cũng nằm trong phông tư liệu gốc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đang lưu giữ có một tập Bản thảo chương trình lớp huấn luyện bổ túc cấp xã do Bộ Nội vụ chuyển giao ngày 14-8-1958. Tập bản thảo dài 27 trang đánh máy trên giấy dó đã ngả màu. Đây là tập giáo trình do Bộ Nội vụ soạn thảo từ năm 1949 dùng để tập huấn bổ túc kiến thức lãnh đạo cho cán bộ cấp xã trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Điều đặc biệt là tập bản thảo này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và sửa chữa trực tiếp. Tại mục D – Công việc lãnh đạo từ nay về sau phải như thế nào? của phần thứ V giới thiệu về “Phối hợp lãnh đạo”, trong dự thảo có 5 tiểu mục là: Nhận thức cho rõ vai trò lãnh đạo; Học tập nghiên cứu; Phải có tinh thần trách nhiệm; Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí; Theo dõi đôn đốc điều tra. Sau khi xem Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thêm một số ý vào các tiểu mục và bổ sung thêm 2 tiểu mục mới. Cụ thể như sau: Tiểu mục Học tập nghiên cứu, Người sửa thành Học tập phương pháp lãnh đạo; tiểu mục Cùng nhau bàn bạc để thống nhất ý chí, Người sửa thành “Cùng nhau bàn bạc thống nhất chủ trương hành động”; Còn 2 tiểu mục Chủ tịch Hồ Chí Minh mới thêm là: 6/-Kiểm thảo; 7/- Học hỏi thêm. Sau đó Người viết thêm: Bất kỳ công việc gì, còn một người dân chưa hiểu rõ, chưa làm đúng tức là lãnh đạo còn kém. Cuối cùng, trong phần câu hỏi thảo luận, Người viết : Muốn lãnh đạo: 1/- Người cán bộ hiểu thật rõ công việc; 2/- Phải tìm cách giải thích cho mọi người hiểu việc đó; 3/- Cán bộ phải xung phong gương mẫu.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, thì tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc không thể thiếu được trong xây dựng nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng. Trong một bài báo dưới tiêu đề Phê bình (bản gốc lưu tại BTCMVN viết là Fê bình), được viết vào năm 1951 đã đăng trên báo Nhân dân, số 16 ra ngày 12-7-1951, sau khi giải thích thế nào là phê bình, cách thức phê bình, mục đích phê bình, nguyên tắc phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ… Không phê bình tức là bỏ mất một quyền dân chủ của mình. Song phê bình phải đường hoàng, chính đáng, tuyệt không nên “thầm thì thầm thụt”, viết thư dấu tên như một vài cán bộ Thái Nguyên đã làm – (Chữ Thái Nguyên trong bản gốc, khi đưa đi đăng báo đã sửa lại thành ở T.N) (9). Phần cuối bài báo Người viết: Người ta luôn luôn cần lửa và nước cho đời sống. Người cách mệnh và đoàn thể cách mệnh cần phê bình và tự phê bình cũng thiết tha như người ta cần lửa và nước – (Theo như bản gốc thì 2 từ lửa và nước trước khi đăng báo sửa thành không khí).

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là một di sản tinh thần vô cùng quí báu của Đảng và dân tộc ta. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, vấn đề đặt ra không chỉ ở chỗ thừa nhận và khẳng định những giá trị thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà một điều rất quan trọng là vận dụng và phát triển những giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Những tư liệu gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam là những di sản vật chất quí báu để góp phần nghiên cứu tư tưởng của Người.

Th.s Triệu Văn Hiển
(Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

dalat.gov.vn

Tinh thần Nguyễn Tất Thành – bài học về lý tưởng cho tuổi trẻ

Bến Nhà Rồng nơi người thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu tìm đường cứu nước

Ngày 5-6 một thế kỷ trước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra nước ngoài tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân phong kiến. Cuộc hành trình ấy là bài học về lý tưởng cho thanh niên ngày nay, để mỗi bạn trẻ thể hiện tình cảm, tâm huyết của mình, đóng góp trí tuệ, tài năng xây dựng quê hương đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu” như tâm nguyện của Người lúc sinh thời.

Cập nhật ngày: 04/06/2011 15:05:03

Trách nhiệm đưa Việt Nam trở thành nước giàu mạnh phụ thuộc vào tinh thần dám dấn thân của thế hệ trẻ hôm nay

Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh 100 năm trước đã cho chúng ta một bài học lớn: Sự sống còn của một dân tộc phụ thuộc căn bản ở quyết tâm vượt qua chính mình. Người chọn một hướng đi riêng cho mình là đi vào nơi có những cuộc cách mạng tư sản điển hình, có nền khoa học kỹ thuật phát triển – để học hỏi rồi trở về giúp đồng bào mình. Việc chọn sang phương Tây khi con đường cứu nước của nhiều vị cách mạng tiền bối đều bị bế tắc, đã thể hiện bản lĩnh độc lập và tư duy sáng tạo của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

Theo Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng: “Cách mà Nguyễn Tất Thành chọn con đường đi là sự kết hợp của việc một người lao động, một người dân bình thường với hoài bão của một thanh niên yêu nước, muốn tìm đường cứu nước. Điều đáng nói là Người đã chấp nhận con đường đi riêng, hết sức thử thách cam go và cũng chưa rõ kết quả sẽ ra sao, nhưng động lực thôi thúc Người chính là tình yêu nước, yêu đồng bào. Tuy nhiên, cũng cần phải nói đây chính là tính cách, ý chí khám phá, khát khao vươn tới đỉnh cao của văn minh và trí tuệ nhân loại, muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình có của Nguyễn Tất Thành. Chính tính cách cá nhân (là dũng khí, sự dấn thân) cộng với đại nhân cách (là tình yêu nước, yêu dân tộc) mới tạo nên bước quyết định này”.

Hai mươi mốt tuổi, với lòng nhiệt thành của tuổi trẻ và hành trang là bầu máu nóng sục sôi lòng yêu quê hương đất nước, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường chân lý một cách âm thầm, lặng lẽ. Để làm được điều đó phải có lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ dám làm, dám dấn thân, nhất là trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ.

Giáo sư – Tiến sĩ Dương Phú Hiệp, nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận trung ương cho rằng, ở Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hội đủ những yếu tố cần thiết cho sự dấn thân vào quá trình tìm đường, mở đường, dẫn đường cho dân tộc Việt Nam đi theo. Đó là: ý chí lớn lao, tinh thần ham học hỏi, sẵn sàng vượt qua gian khó, tự nguyện hòa vào cuộc sống của giai cấp cần lao để trực tiếp cảm nhận về thời cuộc… Đến nước nào, Người cũng làm việc để kiếm sống và hoạt động. Đi đến đâu, Người cũng tự nghiên cứu, tự học. Cả cuộc đời Người là bài học về sự tu dưỡng, rèn luyện, coi cuộc sống là bài học sống động cho mình, coi khó khăn là “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, tất cả chỉ vì một mục tiêu lý tưởng là giành “Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”.

Giáo sư – Tiến sĩ Dương Phú Hiệp nói: “Hồ Chí Minh xây dựng cho thanh niên giá trị “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”. Những giá trị, bài học này được rút ra từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, từ khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, vượt qua biết bao gian khổ, phải làm đủ các nghề: xúc tuyết, bồi bàn, rửa ảnh, viết báo… rồi sau này phải chịu cả tù đày. Gian khổ như vậy nhưng Người không rời ý chí của mình, quyết tâm và nghị lực phi thường vì một khát vọng cháy bỏng là giải phóng dân tộc, để mọi người dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Nếu như 100 năm trước, Nguyễn Tất Thành chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân với những “giấc mơ con”, thì đã không có cuộc trở về mùa xuân năm 1941 để Cách mạng Việt Nam có một vị lãnh tụ thiên tài, đức độ lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách Mạng tháng 8 năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, đưa nhân dân lầm than thành người chủ đất nước – người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trọn đời cống hiến. Nhưng trách nhiệm đưa Việt Nam trở thành nước giàu mạnh, sánh ngang với các cường quốc trên thế giới, tất cả phụ thuộc vào tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân của thế hệ trẻ hôm nay.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thế Thắng, Trưởng khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Ngày nay, nước nhà độc lập rồi, thì thanh niên phải cảm thấy cái nghèo, cái tụt hậu của mình là một nỗi nhục không kém gì nỗi nhục mất nước. Bác Hồ đã nói: “Thắng được phong kiến, đế quốc còn là dễ; thắng được bần cùng lạc hậu khó hơn nhiều”. Cho nên bây giờ, yêu nước là thanh niên phải dám hướng tầm nhìn ra thế giới, quyết tâm học tập, chinh phục những đỉnh cao của khoa học công nghệ, hoặc trên lĩnh vực của mình thì tìm được đường đi mới có hiệu quả cao hơn, với tinh thần không ngại khó, không ngại khổ. Chỉ có làm được như vậy, thì thanh niên mới góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh.

Một thế kỷ đi qua, đất nước đã hòa bình, độc lập, tự chủ và phát triển; nhưng khát vọng đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” vẫn luôn là niềm thôi thúc bao lớp thanh niên hôm nay tiếp tục học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng. Trong hành trình đưa đất nước tiến lên, tinh thần độc lập tự chủ, bản lĩnh dám nghĩ dám làm, dám dấn thân của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mãi là bài học quý báu để thế hệ trẻ hôm nay vững vàng niềm tin trong hành trình lập thân, lập nghiệp.

Nguồn: baobinhduong.org.vn (xp)

tuoitrebinhduong.vn

Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm trong lời kêu gọi thi đua ái Quốc của Hồ Chủ tịch

Vào ngày này, cách đây hơn 60 năm, ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời Kêu gọi thi đua ái quốc trước quốc dân, đồng bào. Người đã chỉ rõ “Mục đích của thi đua ái quốc là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân”. “Vì vậy, bổn phận mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh…”, “bất kỳ già, trẻ, trai, gái, bất kỳ giàu nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên chiến sĩ đấu tranh trên một mặt trận Quân sự, kinh tế, chính trị , văn hoá…”, “ Chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc…”, “Thực hiện dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”.

Thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua ái quốc đã phát triển rộng khắp các vùng miền và thu hút tầng tầng, lớp lớp nhân dân tham gia. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược các phong trào thi đua lớn như: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “Bình dân học vụ”, “Hũ gạo kháng chiến”… đã cuốn hút, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; Thi đua học tập xoá nạn mù chữ, chống giắc dốt và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu.

Phát huy truyền thống lịch sử Điện Biên năm xưa, trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, các phong trào thi đua tiếp tục được duy trì và nở rộ trên khắp các lĩnh vực, các vùng miền trong cả nước. Các phong trào thi đua tiêu biểu như: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”; “Sóng Duyên hải” trong sản xuất công nghiệp; “Gió Đại phong” trong sản xuất nông nghiệp; “Cờ Ba nhất” trong quân đội; “Trống Bắc lý” trong giáo dục; “Thanh niên Ba sắn sàng”; “Phụ nữ Ba đảm đang”… khẩu hiệu hành động nhà nhà thi đua, người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua, tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng giặc Mỹ xâm lược đã động viên cổ vũ huy động cả sức người, sức của cho chiến trường và sức mạnh thần kỳ của cả dân tộc Việt Nam đã được khơi dậy, cả dân tộc đã đoàn kết đứng lên đánh Mỹ và Thắng Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước bước sang kỷ nguyên mới, cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Bước sang thời kỳ đổi mới, kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã và đang ra sức hưởng ứng phong trào thi đua trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo và lạc hậu, xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là các phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, cuộc vận động ngày vì người nghèo”; phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo trong công nhân và người lao động, phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi; phong trào phụ nữ giỏi việc nước đảm việc nhà; phong trào thanh niên tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phong trào Công an nhân dân thi đua thực hiện 6 Điều Bác Hồ dạy; phong trào thi đua quyết thắng trong lực lượng vũ trang và nhiều phong trào thi đua khác do các Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương phát động. Đó là sự tiếp nối truyền thống thi đua ái quốc trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Các phong trào thi đua luôn là biểu tượng cho tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí anh hùng bất khuất của dân tộc, tạo thành động lực to lớn, phấn đấu vượt qua thời điểm khó khăn nhất giành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Thông qua các cuộc vận động và các phong trào thi đua đã xuất hiện các tập thể, cá nhân anh hùng và hàng triệu tấm gương điển hình tiên tiến tiêu biểu cho tinh thần vượt khó, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và ý chí tự lực tự cường của con người Việt Nam. Trong 60 năm qua, Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng 13.583.540 Huân, Huy chương, Danh hiệu vinh dự Nhà nước và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho các tập thể, cá nhân trong và ngoài nước đã có nhiều thành tích trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lao động sản xuất, học tập, nghiên cứu khoa học, giữ gìn bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Hưởng ứng các phong trào thi đua do Đảng, Bác Hồ phát động, nhân dân các dân tộc Lạng Sơn cùng các lực lượng vũ trang đã lập những chiến công vang dội trên mặt trận đường số 4 góp phần cho thắng lợi của chiến dịch Biên giới năm 1950, giải phóng một vùng biên cương rộng lớn, mở rộng chiến khu Việt Bắc, nối liền nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơnevơ, lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Ghi nhận thành tích của quân và dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho nhân dân 5 huyện và 28 xã, thị trấn; 2 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhiều đồng chí, đồng bào được tặng thưởng huân, huy chương các loại. Tiểu đoàn 249, Khu du kích Ba Sơn được tặng Huân chương Quân công hạng 2; Khu du kích Nà Thuộc; Chi Lăng được thưởng Huân chương quân công hạng 3.

Những năm khói lửa của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Lạng Sơn trở thành “cảng nổi” trên tuyến đường huyết mạch chi viện cho Miền Nam. Nhân dân các dân tộc Lạng Sơn đã kề vai, sát cánh giữ vững mạch máu giao thông. Thực hiện lời hiệu triệu của Bác Hồ “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả cho giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước”, tỉnh Lạng Sơn đã trở thành một trong những hậu phương vững chắc, chi viện sức người, sức của cho chiến trường Miền Nam. Quân và dân các dân tộc Lạng Sơn vừa ra sức thi đua sản xuất, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiếp nhận, bảo vệ và vận chuyển an toàn hàng hoá của các nước XHCN anh em ủng hộ chi viện cho các chiến trường miền Nam, đồng thời luôn sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ.

Nghe theo Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lớp lớp thanh niên Lạng Sơn đã nô nức lên đường với tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Họ đã anh dũng chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc, nhiều người trong số đó đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường hoặc mang thương tật suốt đời. Trong hai năm 1965 – 1966, tỉnh ta đã thành lập hai tiểu đoàn tăng cường, chi viện cho tiền tuyến có phiên hiệu Bắc Sơn 1 và Bắc Sơn 2. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn Bắc Sơn đã lần lượt lên đường ra tiền tuyến. Họ có mặt ở nhiều chiến trường nóng bỏng từ Bình Trị Thiên khói lửa, Quảng Nam, Đà Nẵng trung dũng kiên cường; từ núi rừng Tây Nguyên bất khuất đến đồng bằng sông Cửu Long. Vượt qua nhiều năm gian khổ, chiến sĩ của Tiểu đoàn Bắc Sơn đã chiến đấu anh dũng, lập nên những chiến công xuất sắc, 10 đồng chí được nhà nước tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (như Nông Văn Nghi, Dương Công Sửu, Nguyễn Như Hành, Nguyễn Bá Tòng, Hoàng Văn Quyết…). Những hy sinh, đóng góp to lớn của quân và dân các dân tộc Lạng Sơn đã góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng Mùa Xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quân và dân các dân tộc Lạng Sơn luôn phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc anh em, tiếp tục truyền thống thi đua yêu nước, vươn lên, vượt qua khó khăn, thử thách, giành được nhiều thành tích đáng tự hào. Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ một tỉnh miền núi còn nghèo, dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, đến nay tỉnh Lạng Sơn đã có bước phát triển khá nhanh và toàn diện trên các lĩnh vực. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và ngày càng bền vững, công tác xúc tiến đầu tư – thương mại có bước chuyển biến mới, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được tăng cường, năng lực sản xuất mới được bổ sung. Văn hoá, xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ. Tình hình chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đạt kết quả tích cực. Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao.

Đóng góp to lớn của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao, nhân dân luôn ghi nhớ: Tổ quốc đã ghi công 5.400 liệt sỹ, Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho 67 bà mẹ, đã tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang cho 52 tập thể và 18 cá nhân, anh hùng Lao động cho 3 tập thể; phong tặng danh hiệu 29 Nhà giáo ưu tú, 21 Thầy thuốc ưu tú, 3 Nghệ sỹ ưu tú. Có chính sách khen thưởng và đãi ngộ cho 34.000 Người có công. Nhiều cá nhân, tập thể xuất sắc tiêu biểu đã được tặng các danh hiệu thi đua vẻ vang, huân chương, huy chương các loại.

Công tác khen thưởng thành tích trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ những năm qua được tỉnh quan tâm chỉ đạo tích cực. Việc xét khen thưởng tiến hành thận trọng, chặt chẽ và chính xác. Từ năm 1998 đến năm 2007, tỉnh đã giải quyết chính sách cho 997 trường hợp người có thành tích chống Pháp, 8.955 trường hợp người có thành tích chống Mỹ. Thực hiện Quyết định số 98/2006/QĐ-TTg ngày 05/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tặng Bằng khen cho các đối tượng có thành tích kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Chủ tịch UBND tỉnh đã tặng 3.701 Bằng khen cho các đối tượng có thành tích tham gia kháng chiến.

Từ năm 2001 đến nay, qua các phong trào thi đua nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu xuất sắc đã được Nhà nước, Chính phủ: tặng thưởng hàng trăm Huân chương Lao động các hạng, 8 Cờ thi đua của Chính phủ, 106 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tặng thưởng 101 Cờ thi đua và 8.800 Bằng khen, công nhận danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh cho 16 cá nhân, tặng danh hiệu đơn vị Quyết thắng cho 94 đơn vị. Hợp tác xã Nà Pán, xã Nhượng Bạn, huyện Lộc Bình và Công ty TNHH Huy Hoàng, thành phố Lạng Sơn đã vinh dự được Đảng, nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

Kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, nhìn lại chặng đường 60 năm qua, chúng ta luôn tự hào về Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại; tư tưởng thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là ngọn đuốc sáng soi đường, là kim chỉ nam cho các phong trào thi đua yêu nước của chúng ta ngày nay.

Kỷ niệm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc hôm nay, chúng ta không chỉ nhớ ơn Người mà còn học tập ở Bác phương pháp vận động quần chúng, phương pháp tổ chức phong trào thi đua yêu nước và niềm tin son sắt vào sức mạnh của đồng chí, đồng bào ta.

Năm 1949, một năm sau Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi những thành tích đã đạt được của quân và dân ta, đồng thời Người cũng thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm trong công tác thi đua, đó là: còn nhiều người dân, mà trước hết là cán bộ chưa hiểu rõ ý nghĩa của phong trào thi đua ái quốc… Tưởng lầm thi đua là một việc khác với những công việc hàng ngày. Tưởng thi đua chỉ nhất thời, thay vì phải trường kỳ. Người nói: nhiều nơi đặt ra những phong trào thi đua không sát với hoàn cảnh, với địa phương. Nơi thì đặt kế hoạch to quá rồi làm không nổi. Nơi thì ban đầu làm quá ồ ạt đến nỗi ít lâu sau thì đuối sức đi, không tiếp tục thi đua được. Nơi thì mỗi đoàn thể, mỗi ngành đều có một kế hoạch riêng mà kế hoạch thì không ăn khớp với nhau, thành thử trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Nhân dân thì bù đầu, không đủ sức mà theo cả các kế hoạch và không biết nên theo kế hoạch nào. Nhiều nơi có kinh nghiệm, hoặc kinh nghiệm thành công, hoặc kinh nghiệm thất bại, nhưng không biết trao đổi cho nơi khác để tránh cái dở, học cái hay của nhau.
Để có thể sửa chữa khuyết điểm, Bác đã dạy chúng ta rằng: “Công việc hàng ngày chính là thi đua. Từ trước đến giờ ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc ở cho hợp vệ sinh, cho khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm cho đất ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn. Thi đua là phải trường kỳ, là phải giải thích cho mọi người dân hiểu rằng: thi đua ái quốc là lợi ích của mình, lợi ích của gia đình mình, và lợi ích cho làng, cho nước, cho dân tộc. Mọi người dân hiểu rõ thì tất cả mọi khó khăn đều giải quyết được, tất cả mọi khuyết điểm đều sửa chữa được.

Coi trọng phương pháp vận động quần chúng thông qua phong trào thi đua yêu nước, Hồ Chí Minh kịch liệt phê phán tư tưởng khoa trương “phát” mà không “động”, hoặc lối làm ăn theo kiểu đánh trống bỏ dùi, đầu voi đuôi chuột. Người yêu cầu các cấp, các ngành khi phát động thi đua thì phải tổ chức tuyên truyền, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, vì thành tích chung, không phải vì thành tích anh hùng cá nhân.

Vời thái độ trân trọng, ghi nhận tinh thần phấn đấu và công lao của những anh hùng, chiến sĩ thi đua đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, những thành tích “Tuyệt đối không tự cao, tự đại, cho minh là giỏi rồi. Phải luôn luôn nhớ rằng thành tích là thành tích tập thể, anh hùng là anh hùng tập thể”. Chính nhờ có sự quán triệt kịp thời và thường xuyên về động cơ phấn đấu và mục đích thi đua yêu nước của Bác Hồ mà phong trào thi đua giữa các ngành, các giới được duy trì liên tục, đúng mục đích, được sự ủng hộ của quần chúng va đem lại hiệu quả rất thiết thực trong suốt những năm qua.

Trước yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, đất nước đang đứng trước những khó khăn, thách thức như: quy mô kinh tế còn nhỏ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, hạ tầng kinh tế xã hội và nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển; đặc biệt tình hình lạm phát và giá cả tiêu dùng tăng cao tác động tiêu cực đến sản xuất, ảnh hưởng đến công ăn, việc làm, thu nhập và đời sống của nhân dân, tham nhũng, lãng phí, tệ nạn xã hội còn nhiều bức xúc. Đảng, nhà nước chủ trương phải tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng theo tinh thần Chỉ thị 35 và Chỉ thị 39 của Bộ Chính trị, nghiêm túc thực hiện Luật thi đua khen thưởng; nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của thi đua, khen thưởng và vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, người đứng đầu các tổ chức; phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mặt trận và các đoàn thể nhân dân đối với công tác thi đua khen thưởng. Từng ngành, từng cấp, từng cơ quan, đơn vị phải cụ thể hoá mục tiêu thi đua thành chương trình, biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện có hiệu quả, khắc phục tính hình thức trong thi đua và bệnh thành tích trong khen thưởng để công tác thi đua, khen thưởng thực sự là phong trào của quần chúng, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và xây dựng con người mới.

Để tiếp tục thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 27-TU ngày 18/3/2008 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tổ chức các hoạt động tiến tới Kỷ niệm Ngày sinh đồng chí Hoàng Văn, lãnh tụ của Đảng, người con ưu tú của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn. Tại Lễ Kỷ niệm trọng thể này, tôi xin thay mặt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh phát động đợt thi đua lập thành tích thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 14 và hướng tới Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Hoàng Văn Thụ với những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là,Phát huy cao độ truyền thống yêu nước; khơi dậy ý thức tự giác; sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân; tạo khí thế thi đua sôi nổi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói, giảm nghèo; đảm bảo quốc phòng an ninh, triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp kiềm chế lạm phát, tập trung mọi nguồn lực duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững; phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2008, tạo tiền đề để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 và những năm tiếp theo. Trong đó:

– Tập trung, phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư, phát triển, đặc biệt là phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, các hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ, các khu vực kinh tế trọng điểm, khu vực nông nghiệp, nông thôn, phấn đấu đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 12 – 12,5% so với năm 2007. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi nhanh hơn theo hướng sản xuất hàng hoá. Tạo môi trường thông thoáng cho các hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ, tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại; khẩn trương triển khai thực hiện Quyết định số 55/2008/QĐ-TTg ngày 28/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn.

Hai là, hiện tốt các mục tiêu văn hoá – xã hội, đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, cải thiện, nâng cao đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng cao, vùng còn nhiều khó khăn; đẩy mạnh công tác xã hội hoá: trước mắt tập trung vào lĩnh vực giáo dục, y tế, thể thao.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính. Đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa và cơ chế một cửa liên thông ở các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, các thủ tục liên quan đến doanh nghiệp, liên quan đến quyền lợi trực tiếp của nhân dân. Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tăng cường công tác kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị và sự giám sát của nhân dân.

Bốn là, tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lãng phí. Thực hiện tốt chương trình kế hoạch phòng, chống tham nhũng năm 2008, trong đó chú trọng việc chống tham nhũng là yếu tố quan trọng để góp phần phòng ngừa tốt hơn. Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền và công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp thời, nghiêm minh các biểu hiện vi phạm kỷ cương, phép nước.

Năm là, thực hiện tốt công tác đảm bảo quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; triển khai có hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm và các loại tệ nạn xã hội. Hoàn thành việc phân giới, cắm mốc trên thực địa trong tháng 6/2008; tổ chức tốt công tác tuyên truyền và thực hiện quy chế quản lý biên giới sau phân giới cắm mốc; tăng cường công tác đối ngoại, nhất là đối ngoại nhân dân.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò tập hợp quần chúng của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, huy động động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, vận động nhân dân tích cực tham gia và hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, đẩy mạnh hoạt động lao động, sản xuất, xoá đói giảm nghèo, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Bẩy là, Để phong trào thi đua yêu nước thực sự có hiệu quả, là động lực thúc đẩy thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế – xã hội cần tăng cường công tác tuyên truyền tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay; coi thi đua yêu nước là động lực to lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện tốt tinh thần Chỉ thị 39 của Bộ chính trị, Chỉ thị 19 của Ban Bí thư, Chỉ thị 17 của Thủ tướng Chính phủ về công tác thi đua khen thưởng gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh.

– Các cơ quan truyền thông đại chúng tổ chức tuyên truyền sâu rộng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc; tuyên truyền, học tập tấm gương hoạt động cách mạng của đồng chí Hoàng Văn Thụ; tăng cường sáng tác, xuất bản, xây dựng các chuyên mục về đề tài thi đua yêu nước, giới thiệu, ca ngợi những điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực, các phong trào thi đua tiêu biểu của tỉnh…

– Tiếp tục đổi mới nội dung và hình thức thi đua, khen thưởng; tổ chức phát động các phong trào, các đợt thi đua ở cơ sở với nội dung phong phú, thiết thực; tăng cường tuyên truyền vận động cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, chiến sỹ lực lượng vũ trang và nhân dân tham gia phong trào thi đua yêu nước với khí thế sôi nổi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

– Tăng cường kiểm tra, đôn đốc, thực hiện tốt việc sơ kết, tổng kết theo định kỳ, sau mỗi đợt thi đua để kịp thời đánh giá, rút ra kinh nghiệm trong chỉ đạo, tổ chức công tác thi đua, kịp thời có hình thức tuyên dương, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc, phát hiện, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến để phong trào thi đua thực sự có hiệu quả và trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

– Tiếp tục thực hiện kiện toàn tổ chức, bộ máy cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng từ tỉnh đến cơ sở đảm bảo ổn định và nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác thi đua khen thưởng trong giai đoạn mới.

– Tổ chức triển khai thực hiện tốt các dự án trùng tu, tôn tạo công trình, di tích liên quan đến thân thế và sự nghiệp của đồng chí Hoàng Văn Thụ như: Khuôn viên Tượng đài đồng chí Hoàng Văn Thụ; Nhà lưu niệm đồng chí Hoàng Văn Thụ tại số 8, phố Chính Cai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn; Khu lưu niệm đồng chí Hoàng Văn Thụ tại xã Hoàng Văn Thụ, huyện Văn Lãng để kịp thời phục vụ các hoạt động kỷ niệm.

Phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng và thành quả quan trọng đã đạt được của quê hương Xứ Lạng, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ, chiến sỹ Lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, kiên quyết khắc phục khó khăn, yếu kém, với khí thế, niềm tin và sức mạnh mới, tăng cường đoàn kết, chung sức, đồng lòng, chủ động, sáng tạo, khơi dậy, khai thác một cách có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nỗ lực thi đua, quyết tâm xây dựng và phát triển Lạng Sơn tiến lên giành nhiều thành tích to lớn và toàn diện hơn.

langson.gov.vn

Học làm báo với Bác Hồ

TTO – Không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất, suốt cả cuộc đời, Bác đã là một nhà báo, là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam…

Với 150 bút danh, Bác là tác giả hàng ngàn bài báo. Phong cách viết báo của Bác là một tấm gương sáng ngời tư tưởng và bản chất cách mạng của giai cấp công nhân: dùng báo chí làm vũ khí đấu tranh cách mạng; viết báo là để tuyên truyền, vận động cách mạng; viết báo cho quảng đại quần chúng cùng đọc, văn phong giản dị, chính xác, trong sáng…

Buổi đầu đi tìm đường cứu nước, khi hoạt động tại Pháp, Bác là người sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ). Vừa là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, vừa là cây bút chính của tờ báo, Bác đã viết nhiều bài lên án chủ nghĩa thực dân, hô hào, hướng dẫn nhân dân các nước thuộc địa cùng nhau đoàn kết đứng lên giải phóng dân tộc.

Sáng lập báo Thanh niên (21-6-1925) xuất bản tại Quảng Châu, Trung Quốc đưa về nước, Bác hướng tôn chỉ mục đích của tờ báo vào nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ, vận động các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên phải đoàn kết đứng lên cứu nước, cứu nhà, tự đem sức ta mà giải phóng cho ta.

Thời gian làm Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Bác viết báo biểu dương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, cổ vũ các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua kháng chiến, kiến quốc, xây dựng con người mới, bài trừ thói hư, tật xấu…

Bác dạy chúng ta viết báo là để cho nhân dân đọc, trong đó công nông chiếm đa số, trình độ học vấn chưa cao, nên bài viết phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu; không nên viết theo lối “bác học”, sính dùng chữ nghĩa cầu kỳ, sáo rỗng, vay mượn, lạm dụng từ ngữ nước ngoài…

Trong một chuyến về thăm bà con nông dân ngoại thành Hà Nội đang vào mùa gặt rộ, đông đảo nữ sinh trường Trưng Vương về lao động giúp dân, Bác động viên các học sinh: ”Các cô tiểu thư Hà Nội lao động có thành tích thì chú nhà báo nầy (Bác chỉ phóng viên báo Thủ Đô) sẽ viết tin đăng lên báo của thành phố, Bác đọc báo, sẽ khen thưởng các tiểu thư”. Bác quay sang dặn nhà báo: ”Chú viết đầy đủ, không được để sót. Bác bảo chú viết đầy đủ, chứ không phải viết dài. Bài viết dài thì ai cũng ngán đọc”.

Năm 1948, trong dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Bác đến thăm nhà máy cơ khí Hà Nội, dừng lại chăm chú xem tờ báo tường của cán bộ, công nhân nhà máy. Bác chỉ tay vào bài báo nhan đề “Ngày mai trời lại sáng”  và hỏi một người đứng gần: “Thành phố giải phóng đã mấy năm rồi?”. Có người thưa rằng đã gần bốn năm, Bác liền nói: “Thế thì bài báo nầy viết không đúng. Trời đã sáng lâu rồi, sao lại phải đến ngày mai. Vậy hiện giờ là đêm tối à?”.

Một lần khác, Bác đến thăm khu triển lãm Vân Hồ, dừng lại xem ảnh tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hà Nội qua cầu Long Biên trên báo Thủ Đô, Bác hỏi bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch thành phố: ”Tấm ảnh nầy tốt. Nhưng sao lại không để tên người chụp?”. Bác nói thêm: ” Báo chí, nhất là báo hằng ngày phải có nhiều ảnh tư liệu để khi cần là có thể dùng ngay. Đăng ảnh phải đề rõ tên người chụp hoặc ghi là lấy ở đâu”…

Một lần dự họp Quốc hội, nghe Chính phủ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước, nêu những con số tăng phần trăm “so với trước”, Bác mỉm cười hỏi một cán bộ lãnh đạo ngồi cạnh: “Chẳng so với trước thì so với sau à?”. Bài học về những thời điểm cụ thể, không chung chung trong báo chí được Bác truyền thụ như thế.

Nêu cao trách nhiệm xã hội về bài báo mình viết, khi nào Bác cũng rất cẩn trọng, đắn đo suy nghĩ từng nội dung, từng ý tứ, từng câu chữ sao cho quần chúng nhân dân hiểu và quan tâm đọc. Những ngày đầu viết báo, muốn có một bài báo tốt, Bác phải sửa đi, sửa lại nhiều lần, lúc đầu viết dài, sau ngắn dần, rút ngắn đến mức tối đa, nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ những nội dung quan trọng, cần thiết, thể hiện bằng văn phong ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ. Đã thành thói quen, kể cả lúc làm Chủ tịch nước, viết xong một bài báo, Bác thường đem đọc cho những người xung quanh kể cả nhân viên phục vụ nghe, góp ý kiến; thấy chỗ nào có người không hiểu hoặc hiểu chưa đúng thì Bác sửa ngay.

Năm 1949, Tổng bộ Việt Minh mở lớp học viết báo cách mạng đầu tiên ở nước ta mang tên Lớp Báo chí Huỳnh Thúc Kháng. Trong thư gửi lớp học, Bác viết: ”Có thể ví dụ rằng, ba tháng nay, các bạn đã học cửu chương. Còn muốn giỏi các phép tính, thì cần phải học nữa, phải học mãi. Học ở đâu, học với ai? Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng. Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”.

Bác ân cần căn dặn: ”Muốn viết báo thì cần: gần gũi quần chúng, ít nhất phải biết một thứ tiếng nước ngòai, luôn luôn gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ…”.

NGUYỄN CÔNG HOÀNG (Bình Định)

tuoitre.vn

Nhớ người cha thân yêu

TTO – Sau chiến dịch Điện Phủ toàn thắng ngày 7 tháng 5 năm 1945, tôi và một số đồng chí  thuộc E98 – F316 được cấp trên cho đi làm nhiệm vụ “đặc biệt”. Ai cũng hồi hộp. Đến khi cấp trên tuyên bố: “Các đồng chí được vinh dự lớn, bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung Ương và Bác Hồ” thì lòng tôi vỡ òa sung sướng…

Tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, ngày 11-10-1954 anh em chúng tôi trong trang phục gọn gàng, súng đạn sẵn sàng tiến quân vào Hà Nội nhận nhiệm vụ cao quí mới. Những ngày đầu, cơ quan Trung ương đóng tại nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108), về sau chuyển về khu Ba Đình.

Năm đó Bác rất khỏe và đi đứng nhanh nhẹn, ánh mắt Bác thật ấm áp trìu mến. Thường ngày Bác hay mặc bộ bà ba màu nâu và đi dép cao su. Lúc rảnh rỗi, Bác tập trung anh em cảnh vệ lại, bằng giọng nói rõ ràng và ấm áp, Bác chỉ bảo cho chúng tôi biết phong tục tập quán riêng của đồng bào Hà Nội, cách đi đứng và những việc thông thường rất cần thiết như vào nhà tắm, nhà vệ sinh, uốn nắn chúng tôi từng lời ăn tiếng nói…

Với tấm lòng yêu mến lãnh tụ, nhân dân trong nước và kiều bào nước ngoài thường hay tặng Bác những món quà đặc biệt quí hiếm. Một lần, có người dân chài lặn lội từ miền biển lên, biếu Bác mấy cân bong bóng cá. Bác giao cho đồng chí Cẩn mang đến tặng đơn vị chúng tôi. Bác còn cẩn thận nhờ đồng chí Cẩn, là người lo cơm nước cho Bác chế biến để anh em chúng tôi được thưởng thức đặc sản.

Một lần khác, có tiền nhuận bút từ Liên Xô (cũ) gởi về, Bác đem đến tặng đại đội chúng tôi trước lễ Quốc Khánh 2-9 khoảng hai, ba tháng. Bác dặn: “Nhiều no ít đủ, Bác không có nhiều tiền cho các chú. Số tiền này, các chú mua con giống tăng gia thêm để đến ngày Quốc Khánh các chú có đủ thịt, cá, rau mà liên hoan cùng nhau”.

Ngày lễ lớn những năm đầu tiếp quản Thủ đô, nhân dân Hà Nội và các cơ quan đoàn thể tham dự mit tinh thả bồ câu trắng tung bay rợp trời, tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Hàng đàn bồ câu trắng ở lại quanh lễ đài, quanh nhà khách Chủ tịch và quanh nhà Bác ở. Đất lành chim đậu, Bác rất vui. Những lúc rảnh rỗi, Bác thường cho bồ câu ăn. Vậy mà có một vài đồng chí bộ đội vô ý thức bắt bồ câu làm thịt. Bác không vui, phê bình thật nhẹ nhàng, thấm thía: “Nhân dân thả bồ câu để cầu nguyện hòa bình, sao các chú nỡ giết thịt?”.

Nhớ một ngày hè, Bác dạo quanh vườn bắt gặp tổ 3 người chúng tôi là anh Hạnh, anh Thái và tôi đang trèo cây hái nhãn. Sợ quá, tưởng Bác sẽ quở trách, ai ngờ Bác vui vẻ dặn dò: “Hái nhãn ăn cũng được nhưng phải hết sức cẩn thận, kẻo ngã thì khốn”.

Những việc làm của Bác, những lời của Bác dạy bảo chúng tôi chỉ là những chuyện thông thường, rất giản dị nhưng đã làm chúng tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng, bởi những điều đó xuất phát từ tình thương bao la của Bác, thắm đượm tình cảm của Bác – như tình cảm một người cha dành cho những đứa con thân yêu của mình.

Những lần đại tiệc, tiếp khách nước ngoài, Bác đều dặn dò bộ phân giao tế nhớ để phần cho bộ đội bảo vệ. Những hôm có đoàn ca kịch hoặc chiếu phim, ngoài những người đang làm nhiệm vụ còn tất cả chúng tôi đều được quây quần quanh Bác cùng xem. Một lần đoàn kinh kịch của Trung Quốc biểu diễn tích xưa có vai các tướng đấu kiếm với nhau, buổi biểu diễn kết thúc, các đại sứ nước ngoài đua nhau tặng hoa cho vị tướng đóng vai thắng trận. Riêng Bác, Bác tặng hoa cho viên tướng đóng vai thua trận. Bác cười vui: “Ăn cho đều, kêu cho khắp, phải động viên họ để lần sau đánh thắng chứ”.

Có lần đoàn tuồng Ái Liên biểu diễn phục vụ cơ quan Chính phủ vở Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, diễn viên trình diễn xuất sắc làm rung động lòng người, khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Xong buổi diễn Bác có vẻ không được vui, Người bước lên sân khấu và đọc mấy vần thơ:

“Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
Chữ tình nên trọng, chữ tài nên thương
Lão già dở dở ương ương.
Làm đôi anh chị dở duyên không thành
Đánh cho phong kiến tan tành,
Cho trăm ngàn Sơn Bá – Anh Đài thành đôi”

Bác dạy chúng tôi những bài học thật tế nhị, trong lúc chờ phim, chúng tôi quây quần bên Bác vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài, Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ”. Lại một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi”, Bác bảo: “Chú hát bài khác, bài này cũ lắm rồi!”.

Có một đêm chiếu phim ở Liên Xô (cũ) không có người thuyết minh chính, một cán bộ học ở Nga về có lẽ chưa quen nên dịch nghe không được rõ. Bác cười bảo để Bác thuyết minh cho. Chúng tôi lắng nghe từng đoạn, từng ý, Bác dịch thật mạch lạc, gãy gọn, dễ hiểu… Ở Bác, điều gì cũng thật giản dị, và hình như điều gì Bác cũng có thể làm được!…

HOÀNG VĂN HIỂN

tuoitre.vn

Chị gái Bác Hồ – Người mẹ xứ Nghệ

Bà Thanh và mẹ

Năm 1949, tôi là nữ chiến sĩ của Đại đội quân y dã chiến thuộc Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, trực tiếp đánh quân Pháp ở chiến trường Liên khu 4. Năm ấy, Tôi mới 21 tuổi, khá xốc vác, hăng hái. Đại đội quân y trung bình 7-8 ngày lại phải hành quân chuyển địa điểm đóng quân để tránh máy bay địch, bảo toàn cán binh cùng phương tiện quân y, thuốc men… Đang tuổi thanh niên, nên tôi đủ sức theo kịp đơn vị.

Đại đội tôi toàn là nam, chỉ có tôi là nữ. Đại đội chỉ có vài y sĩ, y tá, còn toàn là những người mới học cấp tốc nghiệp vụ y tế phục vụ chiến trường. Một lần, đơn vị hành quân suốt đêm, gần 2 giờ sáng thì tới địa phận xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đơn vị quyết định trú quân lại. Tôi được xếp ở nhà bà Nguyễn Thị Thanh. Đại diện địa phương cho Tôi biết đó là nhà chị ruột Hồ Chủ tịch. Thấy tôi còn trẻ các đồng chí dặn thêm vài câu rồi chào bà Thanh, tạm biệt tôi, quầy quả đi nhanh để tiếp tục công việc sắp xếp chỗ ở cho các chiến sĩ.

Đặt ba lô xuống cạnh cột nhà, tôi hỏi thăm sức khỏe bà Thanh. Bà chừng hơn 60 tuổi, mắt sáng, người hơi gầy, giọng nói ấm, thân tình, dễ mến. Nhà bà Thanh chỉ là một ngôi nhà nhỏ, lợp tranh đơn sơ, mộc mạc như bao ngôi nhà của đồng bào miền Trung lúc đó. Trong nhà, mọi thứ được sắp xếp ngăn nắp, sạch sẽ, gọn gàng, đồ đạc rất ít, ngoài cái rương nhỏ, có kim, chỉ khâu để trong cái đĩa cũ xếp trên rương. Quần áo mặc hàng ngày mắc trên đinh đóng vào chiếc cột nhà. Chỗ ngủ chỉ có 1 cái chõng tre đã lên nước màu vàng bóng nên tối đến, hai bác cháu phải ngủ chung. Mùa đông năm 1949 rét lạ thường, như cắt da thịt. Hai bác cháu bàn nhau dùng rơm đánh thành 2 chiếc nệm rơm ghép với nhau trải lên chõng. Nằm trên nệm rơm tự tạo, bà còn đắp thêm chiếc chăn dạ cũ đã sờn, còn tôi đắp chiếc chăn trấn thủ của bộ đội và mặc tất cả áo quần vào cho ấm.

Buổi tối, sau một ngày ra Trú xá quân y chăm sóc thương bệnh binh, sinh hoạt như người lính, ăn cơm độn khoai sắn và có khi còn tập văn nghệ đến khản cổ… tôi về nhà thì bà Thanh đã ăn tối xong, ngồi trên võng chờ tôi như người thân.

Chiếc bếp nối với nếp nhà gianh cũng được bà Thanh dọn dẹp tinh tươm: 3 ông đầu rau sạch sẽ, cạnh là 2 chiếc nồi nhỏ, xa một chút có 2 cái bát, 2 thìa, bó đũa con, đôi đũa cả, con dao cau xếp vào cái rổ vừa, trên úp một cái sàng cũ. Đàng sau bếp có bồ cào, cuốc, lưỡi hái, dây thừng… móc lên tường bếp. Ngoài bếp có chiếc bể cạn đựng nước mưa trong vắt.

Buổi tối bà Thanh thường thắp đèn dầu đến chừng 7 giờ rồi tắt đèn. Nằm trên chõng bà hay kể cho tôi nghe chuyện đời một cách giản dị, dí dỏm chứ không theo kiểu răn dạy. Nhờ bà Thanh, tôi biết khá nhiều về phong tục, tập quán, danh lam, thắng cảnh xứ Nghệ; hiểu được cách sống đậm nghĩa tình, đùm bọc nhau của người dân quê bà. Tôi được nghe các làn điệu ví dặm đặc sắc như: “Mùa đông tháng giá. Sang mùa hạ nắng nồng. Em đắp chiếc nằm không…Mùa nào cũng buồn tênh. Bốn mùa cứ buồn tênh. Bao giờ hết buồn tênh?”

Cuối câu chuyện bà hay nhấn mạnh: Ở đời quý nhất là thiện lương, thương người. Làm gì cũng phải nghĩ đến điều đó.

Phía trên cửa sổ gian nhà chính, bà Thanh có treo bức ảnh chụp ông bà thân sinh và mấy anh chị em nhà bà. Bức ảnh chụp rất rõ, trong đó bà Thanh chừng 15 tuổi, ngồi phía trước cùng cậu em Nguyễn Sinh Cung (Bác Hồ sau này). Đôi khi tôi mạnh dạn hỏi về Bác Hồ, bà chỉ xa xăm: chú nớ suốt đời vì việc công, xa quê hương, chòm xóm, người thân…Bà khẽ thở dài.

Biết cha tôi mới mất (Cha tôi là cụ Nguyễn Văn Lanh, một trong những thẩm phán đầu tiên của chính quyền cách mạng, được bổ nhiệm nhận công việc tại châu Văn Chấn- Phú Thọ và ốm, mất trên đường công tác năm 1949), các chị em tôi đều tham gia kháng chiến, mẹ tôi ở xa… nên bà thương tôi lắm.

Hàng ngày tôi ngủ rất say, vì đang tuổi ăn ngủ và thức dậy khoảng 5h 30 sáng, còn bà Thanh thường dậy từ hơn 3 giờ sáng. Bà thức dậy thật nhẹ, rón rén xuống bếp chế biến một trong mấy món: luộc ngô, rang nóng cơm (không có mỡ), luộc khoai. Bà ăn xong thì phần tôi để trong đĩa, đậy bát lên cho nóng rồi đi làm đồng, hoàn toàn giống như các bà con nông dân khác. Tôi thích nhất là mấy củ khoai kèm cà pháo muối vừa chín, dòn tan.

Sau này có dịp tìm hiểu, tôi mới biết bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954) có hiệu là Bạch Liên nữ sĩ, từng tham gia phong trào chống Pháp trong mạng lưới “Việt Nam Duy tân Hội” của chí sĩ Phan Bội Châu, bà từng bị địch giam cầm tại nhà lao Quảng Ngãi (1918)… Tôi cũng hiểu rằng: bà có cách ứng xử nhân văn, đầy tình người, lại khiêm tốn, giản dị, thân tình, bởi bà am hiểu sử sách, truyền thống quê hương, sớm dấn thân vào con đường đấu tranh vì nghĩa lớn của dân tộc, đi nhiều, tiếp xúc nhiều với thực tiễn, với đồng bào.

Tôi ở nhà bà Thanh khoảng hơn chục hôm rồi lại hành quân đi tiếp. Hôm chia tay thật bịn rịn, ngày thường bà nói năng rành rẽ, có lúc nghiêm trang, nhưng hôm ấy bà ăn trầu nhiều hơn, ân cần hơn, nói ít hơn…Khi tôi chào tạm biệt, bà ôm lấy tôi thật chặt, nước mắt bà chảy ướt cả má tôi, bà âu yếm nói đứt quãng: Gắng lên con nhé. Nhớ giữ ấm, mùa đông khi tắm giặt, nhớ ngậm củ gừng trong miệng để tránh rét, tránh cảm. Hơn sáu mươi năm trôi qua, nhưng tôi còn nhớ mãi bà Thanh, người mẹ xứ Nghệ yêu thương của tôi.

BS. NGUYỄN THỊ THÙY LOAN

vanhien.vn

Phê bình và tự phê bình theo tấm gương Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí”, “cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng”. Cho nên, “một đảng mà giấu khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính” .

Chủ tịch Hồ Chí Minh

…Nếu Đảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ, thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên. Vì vậy, lần này Trung ương quyết định phải tiếp tục tiến hành củng cố xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố tổ chức chặt chẽ, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta…

Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, muốn có được sức mạnh và uy tín thì Đảng phải tự rèn luyện, tự củng cố, đổi mới, chỉnh đốn; không ai có thể làm thay được. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác làm. Từng cán bộ, đảng viên từ cấp cao đến cơ sở cùng làm. Nếu mỗi người tự chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động. Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tự giác, gương mẫu làm trước; tự phê bình, kiểm điểm, nhìn lại mình; cái gì tốt thì phát huy, cái gì xấu thì tự gột rửa; tránh xa mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài; tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ tệ hại…

Nhân đây, tôi muốn nói sâu thêm một chút về tự phê bình và phê bình. Đây là khâu mấu chốt nhất nhưng thực hiện cũng có nhiều khó khăn nhất. Bởi vì, nó đòi hỏi mỗi người phải tự phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác. Nếu không thật tự giác, chân thành, công tâm thì rất dễ chủ quan, thường chỉ thấy ưu điểm, mặt mạnh của mình nhiều hơn người khác; trong khi chỉ thấy khuyết điểm, mặt yếu của người khác nhiều hơn mình. Nếu không hết lòng vì sự nghiệp chung, không có dũng khí, không thật sự cầu thị thì không dám nói hết khuyết điểm của mình và không dám phê bình người khác, nhất là phê bình cấp trên. Thái độ nể nang, hữu khuynh, “im lặng là vàng”, hoặc thái độ cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ, đều là không đúng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi mỗi người phải có tinh thần tự giác rất cao, có tình thương yêu đồng chí thật sự và phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí”, “cũng như người có bệnh nếu giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh lâu ngày nặng thêm, nguy hiểm đến tính mạng”. Cho nên, “một đảng mà giấu khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh mẽ, chắc chắn, chân chính” . Bác không chỉ kêu gọi, nhắc nhở, mà bản thân Bác luôn luôn gương mẫu tự phê bình và yêu cầu mọi người phải thẳng thắn góp ý phê bình Bác. Có lần Bác nói: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa, tức là hại người ta” . Những lời dạy ấy thật là chí tình, chí lý. Chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ thì tự mỗi người hãy học và làm theo ngay việc này đi, không tốn tiền tốn của gì cả, càng không phải chờ cơ chế, chính sách nào hết; chỉ miễn sao trong lòng chúng ta trong sáng; thật lòng vì nước, vì dân, vì Đảng; thật sự là người cộng sản…

Lâu nay chúng ta vẫn nói, tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng, để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Thực tế cũng có không ít tập thể và cá nhân làm tốt việc này. Nhưng nhìn chung, do chỉ đạo không tốt, do ý thức tự giác của một số cán bộ, đảng viên không cao, cho nên kết quả còn hạn chế. Lần này, theo tinh thần của Trung ương, chúng ta cần rút kinh nghiệm, chuẩn bị thật chu đáo; chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ; tiến hành nghiêm túc, thận trọng; làm đến đâu, chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất. Hết sức tránh làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; cũng như tình trạng lợi dụng dịp này để “đấu đá”, “hạ bệ” nhau với những động cơ không trong sáng. Nghiêm khắc xử lý những trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác. Kinh nghiệm cho thấy, muốn tự phê bình và phê bình có kết quả tốt, điều quan trọng là phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải gương mẫu và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên, và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là để làm cho Đảng mạnh hơn; cán bộ, đảng viên gương mẫu hơn; tổ chức đảng có sức chiến đấu cao hơn; đoàn kết nội bộ tốt hơn; gắn bó với nhân dân mật thiết hơn; thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt kết quả cao hơn; chứ không phải ngược lại…

(Trích phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khoá XI. Tựa đề do toà soạn đặt)

vanhien.vn