Lưu trữ

“Sửa đổi lối làm việc”

Nhận thấy tình hình hoạt động của các cơ quan Đảng, chính quyền ở các địa phương sau ngày toàn quốc kháng chiến có nhiều vấn đề cần phải chấn chỉnh gấp, Bác viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vào tháng 10.1947 tại chiến khu Việt Bắc. Ngay khi được xuất bản, cuốn sách lập tức đã trở thành tài liệu gối đầu giường của cán bộ, đảng viên, từ đồng chí lãnh đạo cấp cao đến cán bộ, đảng viên bình thường.

Chương đầu tiên của cuốn sách có tiêu đề: “Phê bình và sửa chữa”, Bác nêu vấn đề phải sửa đổi lề lối làm việc của Đảng. Bác nêu ra ba thứ bệnh chủ yếu cần phải sửa chữa là bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi và gọi mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Bác cho rằng mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn vì nó phá hoại từ trong phá ra.

Phần thứ hai của cuốn sách với mục “Mấy điều kinh nghiệm”, Bác mở đầu bằng cách nêu câu hỏi: “Tại sao cán bộ, đảng viên ít sáng kiến, ít hăng hái?”. Theo phân tích của Bác, họ không nói ra không phải vì họ không có ý kiến. Bác nêu kinh nghiệm: Cơ quan nào mà trong lúc hội họp, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái gì đúng thì nghe, cái gì không đúng thì giải thích. Nếu làm được như vậy thì ở cơ quan đó mọi người đều hoạt bát, mà bệnh “thì thầm, thì thào” cũng hết.

Ở mục “Tư cách và đạo đức cách mạng”, Bác phê phán mạnh mẽ bệnh “kéo bè, kéo cánh” và cho đó là một bệnh “rất nguy hiểm”. Bác nghiêm khắc vạch rõ: “Bệnh này rất có hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết, gây nên những mối nghi ngờ…”.

Nói về “vấn đề cán bộ”, Bác phân tích nhiều về những bệnh “Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn”; “Ham dùng những kẻ khéo hót mình mà chán ghét những người chính trực”; “Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người không hợp với mình”. Theo Bác, “như thế cố nhiên là làm hỏng cả công việc của Đảng…”.

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác là một cẩm nang quý báu cho tất cả chúng ta. Học tập tác phẩm chúng ta càng sáng ra nhiều điều và càng tự thấy mình phải cố gắng sống và làm việc tốt hơn để thực hiện những điều Bác dạy.

Hà Nhiên
baobinhdinh.com.vn

Hơn lúc nào hết cần “Sửa đổi lối làm việc”

hon luc nao het canTháng 10-1947, Bác Hồ đã viết cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc”. Đây là một tác phẩm về xây dựng Đảng và công tác cán bộ qua thời gian vẫn bền sức sống, có giá trị tư tưởng sâu sắc. Nhà xuất bản Sự thật cho ra mắt bạn đọc lần đầu vào năm 1948, sau đó cuốn sách này được tái bản nhiều lần.

Những căn bệnh trong Đảng mà Bác đã viết ngày nay được Nghị quyết Trung ương (TƯ) 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” thẳng thắn chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”

Ngay trong phần đầu “Phê bình và sửa chữa”, Bác viết: “Cán bộ và đảng viên ta vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa. Từ nay, chúng ta cần phải thiết thực học tập, sửa chữa các khuyết điểm. Vì có tẩy sạch khuyết điểm, công việc mới có thể tiến bộ”. Theo Bác, Đảng ta phải chú ý cảnh giác, phòng ngừa và cần nhanh chóng có “thuốc trị” 3 căn bệnh chủ yếu làm mất tư cách người cách mạng là: Bệnh về tư tưởng, đạo đức, lối sống, chủ quan; bệnh hẹp hòi, xa dân; bệnh ba hoa, thích khoa trương thành tích, không trung thực, chạy theo thành tích. Bác khẳng định: Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm. Nếu không chữa ngay, để nó lây lan thì có hại vô cùng. Phải cố sửa chữa cho tiệt nọc các chứng bệnh, khiến cho Đảng càng mạnh khoẻ, bình an.

Đặc biệt, khi nói về  đảng viên, Bác nêu  mọi cán bộ đảng viên phải hội tụ đủ 5 đức tính là: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Và cần chữa những căn bệnh: Cá nhân chủ nghĩa, lợi dụng to quyền, mạnh thế, cái gì cũng muốn vơ lợi về cho cá nhân, gia đình, vợ con dòng tộc của mình. Bác nêu thẳng thắn: Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Với bệnh cá nhân chủ nghĩa, Bác căn dặn, muốn chữa bệnh này, trước hết mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải hoàn toàn phục tùng lợi ích của Đảng, mà ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào hết. Không nên vì cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích của dân. Sau này, Bác còn viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Trong quan điểm của Người, do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ hư hỏng về đạo đức, tác phong, lối sống, mất hết phẩm chất cần có của người cộng sản. Người cho rằng chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm. Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng trước, lợi ích của cá nhân sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính đảng”.

Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng. Lợi ích của Đảng cũng là lợi ích của dân tộc, không có gì mâu thuẫn nếu Đảng là một tổ chức cách mạng chiến đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Sự phát triển và thành công của Đảng là thành công của dân tộc đồng thời cũng là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Do đó, đảng viên cần biết hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng. Nhất là những cán bộ, đảng viên càng phải xứng đáng với lòng tin của Đảng, của dân tộc. Hơn nữa, đảng viên phải làm gương cho tất cả quần chúng noi theo. Trước đây, người dân sẵn sàng đi theo tiếng gọi của Đảng, hi sinh thân mình vì tồn vong của dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, cuộc chiến đấu với nghèo nàn, lạc hậu, tham ô, tham nhũng cũng phức tạp không kém vì quan hệ “địch – ta” với giặc nội xâm nằm ngay trong tổ chức của Đảng. Không ít đảng viên thoái hóa, biến chất, hà hiếp nhân dân… đã làm giảm uy tín của Đảng, mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Những căn bệnh phổ biến của đảng viên Bác chỉ ra là:

Bệnh tham lam: Những người mắc phải bệnh này vì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình, vơ vét công quỹ, tham ô, tham nhũng.

Bệnh lười biếng: Không hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, khoán trắng cho cấp dưới và bộ máy cơ quan, lấy an nhàn cho cá nhân mình. Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn. Gặp dân chúng thì không gần gũi, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình. Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích. Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.

Các bệnh khác như: Bệnh kiêu ngạo, bệnh háo danh, bệnh tùy tiện, thiếu kỷ luật, coi thường pháp luật, làm sai pháp luật; bệnh có đầu óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ… Và còn những bệnh: “hữu danh, vô thực”, kéo bè kéo cánh thành phe nhóm. Bác yêu cầu mọi cán bộ đảng viên phải rất cảnh giác với thứ bệnh này. Theo Bác kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng  mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.

Bác chỉ ra những bệnh làm suy thoái, giảm uy tín Đảng cầm quyền như: Bệnh cận thị, không trông xa thấy rộng; bệnh tị nạnh, cái gì cũng muốn mình phải được hưởng lợi hơn người; bệnh xu nịnh, a dua, bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp…

Bác đã cảnh báo thứ bệnh không trung thực trong khi thừa hành nhiệm vụ, “làm láo, báo cáo hay, báo cáo lông bông, báo cáo gian dối. Thành công ít thì xuýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Các thứ bệnh mà Bác Hồ, với tầm nhìn xa rộng, đã chỉ ra từ 65 năm trước nay đang hiện hữu trong Đảng ta, có bệnh thuộc hàng “tứ chứng nan y”. Bác chỉ rõ: “Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Từ gần 5 năm nay, các cấp bộ đảng tổ chức sâu rộng đến từng đảng viên “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học tập là phải làm theo, noi theo tấm gương của Bác.

Trong thực tế, ai cũng thấy tuy học nhiều, nhưng cán bộ đảng viên ta làm theo còn ít, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống chưa có chiều hướng thuyên giảm, có những mặt ngày càng nghiêm trọng. Thiết nghĩ, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết TƯ 4, cần học kỹ, phân tích sâu, soi rọi để tự chỉnh đốn, trị cho hết các “căn bệnh” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”. Thật tài tình, trong cuốn sách quý này, dường như 4 nhóm giải pháp mà Nghị quyết TƯ 4 nêu ra đã được Bác phân tích rất kỹ, chỉ dạy cách làm rất cụ thể, rõ ràng, thực sự thấu đáo, có lý, có tình. Đây cũng là cách làm thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Bác chỉ rõ: Mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó. Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 khẳng định: Nguyên nhân về sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm, bất chấp đạo lý, dư luận; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm; cán bộ lãnh đạo, quản lý không gương mẫu… suy đến cùng là do không vượt qua được chủ nghĩa cá nhân.

Bác Hồ đã nhiều lần nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác, là giặc nội xâm, nó không mang gươm, mang súng nhưng vô cùng nguy hiểm, gian giảo, xảo quyệt; nó kéo người ta xuống dốc không phanh. Mọi thứ xấu xa, hư hỏng đều sinh ra từ căn bệnh này. Nếu không đánh bại, không quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì Đảng ta không thể trong sạch, vững mạnh được, không thể là một đảng cách mạng chân chính hết lòng vì nước, vì dân. Tuy cuốn sách Bác Hồ đã viết từ 65 năm trước, nhưng nay đọc lại, tưởng như đang nghe Bác nói với chúng ta hôm nay. Để ngăn chặn  và loại trừ suy thoái, để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu, hơn lúc nào hết cần nghiêm túc, thật sự học và làm theo đúng những chỉ dẫn của Bác trong “Sửa đổi lối làm việc”./.

Theo Bùi Văn Bồng/Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Vận dụng nội dung tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào bài giảng: “Một số vấn đề về cải cách nền hành chính nhà nước”

Tác giả : Th.s Thái Xuân Sang – Gv Khoa Quản lý nhà nước
File đính kèm: Không có

Tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong tháng 10 năm 1947 ký tên XYZ- Nxb sư thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948, xuất bản lần thứ 7 năm 1959. Từ khi ra đời đến nay, tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc” luôn là văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng. Tác phẩm được viết trong một thời kỳ đặc biệt, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, kẻ thù đã gửi 3 tối hậu thư trong 2 ngày, đòi chúng ta phải hạ vũ khí; chúng đã buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên bảo vệ nền độc lập. Cuộc kháng chiến trường kỳ càng khó khăn, gian khổ yêu cầu sức chiến đấu của Đảng ngày càng cao. Để kịp thời chỉnh đốn Đảng, phê bình những khuyết điểm, sai lầm, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã kịp thời ra đời để sửa đổi lối làm việc của Đảng. Được viết cách đây hơn 50 năm, nhưng đến nay nội dung, tư tưởng tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị, là một trong những tài liệu phục vụ cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Qua việc học tập, nghiên cứu tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, chúng tôi nhận thấy nội dung, tư tưởng của tác phẩm không những được vận dụng rất tốt cho môn học Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Dân vận… mà còn được vận dụng hiệu quả cho môn học Quản lý hành chính, chương trình trung cấp lý luận chính trị.

Như chúng ta đã biết, cải cách hành chính Nhà nước đang là yêu cầu khách quan, cấp bách của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nền hành chính Nhà nước là hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương, cơ cấu gắn với hệ thống thể chế hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức và hệ thống quản lý tài chính công thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính Nhà nước(thể chế, cơ cấu, tổ chức, cơ chế vận hành, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Nhà nước là trung tâm, cột trụ của hệ thống chính trị, nền hành chính có vai trò thực thi quyền hành pháp. Để thực hiện thắng lợi các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước sự vận hành hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính có vai trò quyết định. Do tính chất đặc thù của hệ thống chính trị nước ta đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đa số là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng nếu như tất cả các đảng viên trong cơ quan hành chính Nhà nước đều học tập, thực hành sửa đổi lối làm việc đúng với tư cách và đạo đức cách mạng thì mục tiêu của cải cách nền hành chính quốc gia sớm đạt được.

Có nhiều lý do để cần phải cải cách nền hành chính, một trong những lý do chủ quan là: Cải cách nền hành chính xuất phát từ yêu cầu khắc phục những yếu kém, hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước. Vấn đề đặt ra là:

“Ai cũng nghĩ đến việc thay đổi thế giới, nhưng chẳng ai nghĩ đến việc thay đổi chính mình”

Lev. Toilstoy

“Khuyết điểm do cơ chế, trì trệ do quy trình, sai pham do hạn chế năng lực, thiên tai dịch bệnh do trời, còn biện pháp xử lý thì…..xin ý kiến chỉ đạo cấp trên. Rốt cuộc mọi người đều sai lầm, mọi người đều có lý”

Lưu Quang Vũ – Tôi và Chúng ta

Một trong những yếu tố cơ bản của nền hành chính là yếu tố con người (đó chính là đội ngũ cán bộ, công chức). Chính con người định ra thể chế, thiết lập tổ chức bộ máy và hệ thống tài sản công, tài chính công. Nếu như nhận thức và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức không thay đổi thì toàn bộ nền hành chính không thay đổi(cải cách được).

Đọc tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta thật sự giật mình, bởi vì những căn bệnh trong Đảng đã có từ năm 1947 đến nay vẫn tồn tại, phát triển với quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nguy hiểm. Đó là vì “kém tính Đảng mà có những bệnh như sau:

– Bệnh ba hoa;
– Bệnh địa phương;
– Bệnh ham danh vị;
– Bệnh thiếu kỷ luật( Gặp sao hay vậy);
– Bệnh xa quần chúng;
– Bệnh chủ quan;
– Bệnh hình thức;
– Bệnh ích kỷ; bệnh hủ hoá;
– Bệnh thiếu ngăn nắp;
– Bệnh lười biếng .” (1)

Thời gian gần đây những bệnh này đã phát triển thành bệnh tham nhũng, bệnh quan liêu, bệnh xa hoa lãng phí, bệnh vô cảm trước nỗi khổ của dân…

Những căn bệnh này cần phải được điều trị, phương thuốc đặc hiệu là phải “ráo riết dùng tự phê bình và phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy”.(2)

Trong chương trình tổng thể cải cách hành chính đã đưa ra một hệ thống các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu cải cách nền hành chính( trong các giải pháp đó có giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức…).

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tác giả đã dành một phần (IV) viết về vấn đề cán bộ với những nội dung cơ bản:

1. Huấn luyện cán bộ;
2. Dạy cán bộ và dùng cán bộ;
3. Lựa chọn cán bộ;
4. Cách đối với cán bộ;
5. Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ.

Nghiên cứu nội dung vấn đề cán bộ, hệ thống các trường chính trị(Nơi huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ) có thể vận dụng nhiều quan điểm và nội dung thiết thực vào công tác cán bộ, công tác giảng dạy. Mở đầu tác giả XYZ viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.

Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.”(3)

“Khuyết điểm trong sự huấn luyện: Đã có nơi mở lớp huấn luyện, thế rất tốt. Song những lớp ấy còn nhiều khuyết điểm. Thí dụ: huấn luyện cán bộ trong các cơ quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính. Còn dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được.”(4)

Hơn 50 năm đã trôi qua, kể từ khi tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được xuất bản. Thực tiễn chứng minh và mọi người đều thừa nhận quan điểm trên hoàn toàn đúng. Có một điều thật đáng tiếc thí dụ mà tác giả đã nêu trên cho đến nay chúng ta vẫn chưa khắc phục được. Việc đào tạo cán bộ trong một thời gian dài còn xem nhẹ kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính, khoa học hành chính kém phát triển, hệ thống các trường đào tạo quản lý hành chính không ổn định, khoa học hành chính công chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Vì những lẽ trên mà một thực tế hiện nay là cán bộ, công chức Nhà nước không thạo việc, kém về thực hành, thường chạy theo phong trào (cán bộ phong trào). Đây là căn bệnh có từ năm 1947, bệnh chủ quan: Lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau, dạy học theo cách học thuộc lòng. Trong những năm gần đây bệnh này đang được chữa, tuy nhiên cần phải quyết liệt hơn. Nếu không được sửa chữa nền hành chính không theo kịp tiến trình đổi mới kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.

Tác giả XYZ đã đưa ra cách sửa chữa khoa học, thiết thực:

– Huấn luyện nghề nghiệp;
– Huấn luyện chính trị;
– Huấn luyện văn hoá;
– Huấn luyện lý luận.

“Cách học tập: Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.(5)

Trong một thời gian dài phương pháp giảng dạy chủ yếu trong hệ thống trường Đảng, trường chính trị là phương pháp thuyết trình thầy đọc, trò chép. Phương pháp này đã không phát huy được tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. Trở lại tác phẩm sửa đổi lối làm việc, ngay trang đầu tiên, phần (I) phê bình và sửa chữa, tác giả XYZ đề cập ngay đến cách thức học tập.

1. “Nghiên cứu: Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì.

2. Thảo luận: Khai hội thảo luận và phê bình. Trong lúc thảo luận, mọi người được tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh. Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức.”(6)

Cách thức học tập này có thể vận dụng cho các môn học khác nhau, trong đó có môn quản lý hành chính. Bộ giáo trình TCLLCT được sử dụng trên phạm vi cả nước, nội dung giáo trình mang tính khái quát, có những vấn đề rất chung chung. Nhiệm vụ của giáo viên là: Cung cấp đầy đủ những nội dung cơ bản trong giáo trình. Ngoài ra giáo viên cần dành thời gian nhất định cho việc thảo luận những vấn đề thiết thực gắn với đối tượng tham gia học, bài giảng sẽ rất có ý nghĩa khi học viên có thể vận dụng được ngay những kiến thức đã học vào công việc của cơ quan, đơn vị, địa phương và công việc của người học đang làm. Với tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” có thể vận dụng vào nhiều nội dung khác nhau của các môn học thuộc chương trình trung cấp lý luận chính trị. Tuy nhiên, vận dụng không có nghĩa là giáo viên trích dẫn tràn lan. Từ những cách tiếp cận khác nhau giáo viên có thể vận dụng về nội dung, hình thức, quan điểm hoặc về phương pháp của tác phẩm. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy lý luận chính trị cần phải phong phú, linh hoạt. Mục đích cuối cùng cần đạt được là sau khi học, học viên nhận thức đúng, nhận thức sâu sắc hơn, thực hành đúng, sáng tạo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhằm phục vụ nhân dân một cách tốt nhất. Đây chính là tính Đảng trong công tác giảng dạy của giáo viên.

MỘT SỐ CÁCH THỨC VẬN DỤNG VÀO BÀI GIẢNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

Cách 1: Giáo viên đưa vấn đề cần thảo luận theo nhóm:

Ví dụ:

1. Đồng chí hãy phát hiện, phân tích thực trạng những yếu kém trong quản lý hành chính ở cơ quan mình ? Nguyên nhân của những yếu kém đó?

2. Đồng chí hãy phê bình những yếu kém trong công tác của bản thân mình ? Nguyên nhân? Cách sửa chữa ? Trong cơ quan, đơn vị đồng chí, đồng chí phải làm gì để hoạt động quản lý hành chính ở cơ quan, đơn vị mình có hiệu lực, hiệu quả?

Cách 2: Giáo viên có thể kể một câu chuyện về Bác gắn với nội dung bài giảng(Chẳng hạn: quan điểm, tư tưởng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Bác nói nhiều trong các bài nói chuyện, trong công tác, trong sinh hoạt đời thường của Bác – Ví dụ: Những câu chuyện Bác Hồ đến với cơ sở).

Cách 3: Giáo viên trích dẫn một đoạn viết nguyên văn của Bác sau đó phân tích, đối chiếu, so sánh ở các thời điểm, không gian khác nhau. Trong quá trình phân tích, giáo viên gợi mở cho học viên phát biểu quan điểm, chính kiến của mình. Sau khi thảo luận dân chủ, giáo viên tổng hợp, kết luận.

Ví dụ: Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên về tư cách đạo đức cách mạng, về phương pháp, cách vận động quần chúng nhất là về tinh thần tự phê bình và phê bình. Người chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (7)

Là cán bộ, công chức, đảng viên đồng chí hãy phân tích, chứng minh quan điểm trên. Liên hệ địa phương, đơn vị, bản thân đồng chí.

Cách 4) Trong khi giảng trích dẫn chính xác những câu nói, đoạn viết gắn với nội dung đang thực hành giảng.

Ví dụ: Khi bàn về phẩm chất chính trị của người cán bộ, công chức, giáo viên có thể trích dẫn 12 điểm về tư cách của Đảng chân chính cách mạng(…….)(8), trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Bác kết luận:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào

Trên đây là một số nhận thức và kinh nghiệm trong quá trình quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc giảng dạy môn học Quản lý hành chính, Chương trình trung cấp lý luận chính trị. Rất mong các đồng chí cùng trao đổi, góp ý để việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả hơn đáp ứng yêu cầu về nhiệm vụ chính trị của nhà trường trong giai đoạn hiện nay./.

Chú thích:

(1),(2) Hồ Chí Minh toàn tập“Sửa đổi lối làm việc”, Nxb CTQG, H, 1995, tr267.
(3), (4), (5) Sđd, tr269.
(6) Sđd, tr273
(7) Sđd, tr231-232
(8) Sđd, tr261

truongchinhtrina.gov.vn

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết xong vào tháng 10 – 1947, ký tên là XYZ. Khi đó, bộ máy chính quyền của chúng ta có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung sức cho sự nghiệp kháng chiến giải phóng dân tộc. Nhưng với tầm nhìn xa, thấu hiểu những vấn đề có quan hệ cốt tử với chính quyền cách mạng, Người đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm xây dựng và bồi dưỡng ý thức chính trị của những người cán bộ, để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta vẫn thấy nguyên vẹn giá trị to lớn của nó, nhất là đối với việc xây dựng và giữ gìn chính quyền cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Sau đây chúng tôi tập trung đề cập một số vấn đề về phê bình và sửa chữa; vấn đề cán bộ, qua tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

I – Phê bình và sửa chữa lối làm việc

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Người chỉ rõ: mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Cũng vì đối tượng phê bình là đồng chí của mình và bản thân mình, mục đích vì sự vững mạnh và tiến bộ của Đảng, nên việc phê bình và thực hiện tự phê bình vừa phải nghiêm túc nhưng cũng rất thân ái: tự phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, châm chọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Người nêu lên những căn bệnh mà người cán bộ thường mắc phải cần phê bình, sửa chữa. Đó là bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi và bệnh ba hoa.

Một là, bệnh chủ quan. Đó là chứng bệnh nguy hiểm gây tác hại lớn cho cách mạng. Vì mắc bệnh chủ quan, cán bộ, đảng viên ta thường giải quyết công việc xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà không căn cứ vào điều kiện cụ thể và quy luật khách quan. Do không biết nhận rõ điều kiện, hoàn cảnh khách quan, khăng khăng làm theo ý mình, nên kết quả thường nhận lấy thất bại. Người chỉ rõ nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông. Người mắc bệnh chủ quan đều coi khinh lý luận, làm việc chỉ theo kinh nghiệm của bản thân, không biết khái quát thành lý luận chung, giải quyết công việc một cách sự vụ, vụn vặt. Đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Chủ nghĩa kinh nghiệm chính là một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, nguyên nhân của bệnh chủ quan, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là do kém lý luận hay khinh lý luận. Do đó, có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ.

Vì vậy, không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Ngược lại, lý luận là cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn cuốn lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách. Xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận. Khi phân tích các biểu hiện của bệnh chủ quan như: kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ bệnh lý luận suông là bệnh giáo điều chủ nghĩa. Đó là sự bắt chước kinh nghiệm của người khác, kinh nghiệm của các nước anh em một cách máy móc, mù quáng; xem thường kinh nghiệm của quần chúng, không năng đi xuống cơ sở để học tập và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn…

Hai là, bệnh hẹp hòi. Đây là căn bệnh rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải. Trong, thì bệnh này ngăn cản Đảng thống nhất và đoàn kết. Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa… đều do bệnh hẹp hòi mà ra! Biểu hiện của bệnh hẹp hòi là ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách đẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Bệnh hẹp hòi trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất trong Đảng. Từ trước đến nay, vì bệnh hẹp hòi mà có những sự lủng củng giữa bộ phận và toàn cục, đảng viên với Đảng, cán bộ địa phương với cán bộ phái đến, cán bộ quân sự với cán bộ mặt trận, cán bộ mới và cán bộ cũ, cơ quan này và cơ quan khác.

Bệnh hẹp hòi của cán bộ, đảng viên còn biểu hiện ở thói tự tôn tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Những cán bộ, đảng viên mắc bệnh này quên rằng: chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước. Họ cố tình không hiểu: so với nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, dân tộc thiểu số, anh em trí thức…). Điều đó tất yếu dẫn đến phá hoại chính sách đoàn kết, cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ba là, bệnh ba hoa. Ba hoa là nói và viết dài dòng, rỗng tuyếch, dùng chữ cầu kỳ, khó hiểu, không nhằm đúng đối tượng, quần chúng không hiểu, cho nên không có tác dụng gì cả. Người nhắc nhở: cán bộ tuyên truyền bao giờ cũng tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như có ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.

Như vậy, sửa đổi lối làm việc của Đảng ở các cấp, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, trước hết phải phê bình và sửa chữa bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh giáo điều, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa… Mỗi chứng bệnh đó là một kẻ địch nguy hiểm. Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài, trong đó kẻ địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để chữa khỏi những bệnh trên, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau. Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày rửa mặt. Được như vậy Đảng ta mới thực sự trong sạch, vững mạnh.

II – Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ

Cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng. Từ định hướng đó, Người khẳng định, cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Thực hiện tư tưởng của Người, các nghị quyết của Đảng ta đều dành sự quan tâm cho công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII của Đảng xác định, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ, mức chính xác của đường lối và việc cụ thể hóa đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng thắng lợi đều tùy thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ.

1 – Về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, huấn luyện cán bộ là công việc “gốc” của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì, vô luận cán bộ ở môn nào, làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở môn ấy; đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có; cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.

2 – Về bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng luôn nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta.

Theo tư tưởng của Người, Đảng phải biết rõ cán bộ;… xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; cán bộ phải được tập thể tin cậy, lại bố trí đúng ngành nghề đào tạo, huấn luyện. Một trong những vấn đề Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp: Phải khéo dùng cán bộ. Chúng ta phải biết tùy tài mà dùng người. Phải phân phối cán bộ cho đúng. Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc.

Khi đã đặt cán bộ thích hợp với công việc, cần tiếp tục giúp họ có điều kiện hoàn thành công việc một cách có hiệu quả: Luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ; giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm; khen ngợi họ lúc họ làm được việc, và phải luôn kiểm soát cán bộ, giữ gìn cán bộ.

Người nhấn mạnh, đối với công tác cán bộ của Đảng ta, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và kiểm tra cán bộ là một quy trình liên hoàn, yêu cầu thực hiện nghiêm túc, triệt để. Cán bộ được đề bạt là dựa vào cả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Sau khi nhận chức trách, lại tiếp tục được tổ chức quan tâm theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra. Có như vậy, công tác cán bộ của Đảng mới đem lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

3 – Xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra có năm cách. Cách thứ nhất là chỉ đạo – thả ra cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Cách thứ hai là luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Cách thứ ba là thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Cách thứ tư là khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Cách thứ năm là giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Tùy hoàn cảnh mà giúp họ khi ốm đau, khi gia đình họ gặp khó khăn. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng.

4 – Về một số điểm lớn trong chính sách cán bộ. Theo Hồ Chí Minh:

– Cần hiểu biết cán bộ. Vấn đề nhận xét và đánh giá cán bộ là vấn đề không đơn giản. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không dễ. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người còn chỉ rõ, các chứng bệnh của cán bộ ta như: tự cao tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông. Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn công việc của cán bộ. Do đó, nhận xét đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ, từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu.

– Khéo dùng cán bộ. Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời chống những chứng bệnh như: ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. Ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực… Vì những việc đó, kết quả là dù họ có làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì “bới lông tìm vết” để trả thù. Như thế, cố nhiên hỏng cả việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.

– Phải có gan cất nhắc cán bộ. Phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, phải căn cứ vào kết quả công việc họ làm, cách nói, cách viết và cách sinh hoạt v.v..

– Thương yêu cán bộ là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ.

– Phê bình cán bộ. Đối với cán bộ sai lầm, chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ, những người lãnh đạo sẽ không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sự sửa chữa khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó, nhưng cũng một phần trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm cố nhiên cần dùng cách thuyết phục, giải thích, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Nếu không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại.

Cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc vấn đề cán bộ quyết định mọi công việc. Vì vậy, phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, và trước yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên; nhất là phục vụ kịp thời và thiết thực đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội X của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

quandoantanbinh.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947, hai năm sau khi Nhà nước giành được độc lập, có giá trị đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn. Lúc bấy giờ đất nước ta vẫn tồn tại hai loại chính quyền: chính quyền do thực dân Pháp dựng lên và chính quyền cách mạng. Nhưng Bác biết rằng chính quyền cách mạng sẽ nắm được quyền lãnh đạo, và để nắm được quyền quản lý đất nước thì chính quyền cách mạng phải có các phẩm chất tốt. “Sửa đổi lối làm việc” – nói cho cùng, đó là sửa đổi tinh thần cơ bản của những người nhận trách nhiệm hướng dẫn và lãnh đạo một dân tộc nhằm mục tiêu giải phóng Tổ quốc, giải phóng nhân dân. Tác phẩm của Bác đã quán triệt tinh thần đó, với lối viết cô đọng, sáng rõ và cụ thể, “Sửa đổi lối làm việc” trước hết thể hiện tư tưởng và tình cảm là tất cả vì nhân dân.

Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh – kể từ khi bước chân ra đi tìm đường cứu nước tới khi viết những dòng Di chúc cuối cùng – tất cả đều toát lên một tư tưởng vĩ đại: vì Nhân Dân! Nhân dân trong tâm hồn Bác như một nỗi thương cảm, nỗi day dứt, như mục tiêu sống của mình. Nhân dân Việt Nam có lịch sử lâu dài nghìn năm, trong đó có thời gian dài với thân phận đau khổ và “lép vế”. Bác đã thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ đau, sự bất hạnh và thân phận “lép vế” của một dân tộc bị “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” hoành hành. Cuộc cách mạng mà Bác và Đảng lãnh đạo chính là vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân.

Toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Bác là để giải phóng nhân dân, như Bác đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”…1 Toàn bộ tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” thể hiện nỗi khắc khoải chính trị, những ưu tư, băn khoăn của Người và mong muốn cán bộ cách mạng thay đổi phong cách làm việc để tất cả vì nhân dân phục vụ. Nếu nhìn từ góc độ này thì chúng ta thấy cả cuộc đời của Bác là nỗi niềm đau đáu vì hạnh phúc của nhân dân. Qua tác phẩm này, chúng ta hiểu được một điều sâu sắc rằng: Bác quan tâm đến nhân dân với tất cả tấm lòng và tình cảm của Người.

Cũng xuất phát từ tình cảm đó mà trong “Sửa đổi lối làm việc” Bác đặt vấn đề cho những người phục vụ nhân dân, “người lãnh đạo là người đầy tớ của nhân dân” phải có phẩm chất và đạo đức cách mạng. Bác yêu cầu những cán bộ cách mạng phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng và mục tiêu của Đảng là suốt đời rèn luyện đạo đức cách mạng để phục vụ nhân dân. Chính vì nỗi lo lắng ấy, nên Bác đã đặt ra vấn đề rèn luyện đạo đức đối với các đồng chí của mình. Bằng tác phẩm này, Bác trang bị cho các đồng chí của mình các công cụ và tiêu chuẩn đạo đức nhằm hai mục đích rất rõ ràng: Thứ nhất là, thu hút sự ủng hộ của nhân dân để tiến hành một cách thuận lợi cuộc kháng chiến; và thứ hai là, để cán bộ cách mạng sửa chữa những thói hư, tật xấu thường có trong mỗi người để rèn luyện và nêu cao đạo đức cách mạng, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Bác quan niệm: cán bộ cách mạng là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời báo cáo tình hình của dân cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng. Từ định hướng đó, Người khẳng định rằng, cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc. Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu có ảnh hưởng quyết định tạo nên.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người phê bình những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ, đồng thời đề ra những quan điểm và giải pháp về vấn đề cán bộ, trong đó việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trở thành những người có văn hóa, có tri thức và nghiệp vụ. Điều đó được thể hiện:

1. Về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ. Vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, do đó, huấn luyện cán bộ là công việc “gốc” của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu đầu tiên. Vì rằng, cán bộ làm nghề nào, ngành nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở ngành, nghề ấy. Đồng thời, phải nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học tập những kinh nghiệm thành công và thất bại; học tập lịch sử truyền thống cách mạng và sự phát triển trong từng thời kỳ… Theo đó, việc huấn luyện phải sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ dần dần đi đến thành thạo công việc; huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có; cần coi trọng nâng cao kiến thức văn hóa.

2. Về bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đảng luôn coi cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu; trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi người có ích cho công việc chung.

Theo tư tưởng của Người, Đảng phải hiểu biết rõ cán bộ, xem xét lại nhân tài và tìm nhân tài mới. Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; cán bộ phải được tập thể tin cậy, bố trí đúng ngành nghề đào tạo, huấn luyện. Một trong những vấn đề Bác đặc biệt quan tâm, đó là đặt đúng người vào đúng công việc thích hợp: phải khéo dùng cán bộ; phải biết tùy tài mà dùng người; phải phân phối cán bộ cho đúng; phải dùng người đúng chỗ, đúng việc. “Dụng nhân như dụng mộc” – không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn cách mạng. Ngay từ khi mới giành được chính quyền năm 1945, Bác đã thành lập một Chính phủ Liên hiệp, đoàn kết, mở rộng, tập hợp xung quanh Bác những nhân sỹ trí thức (cả quan lại của chế độ cũ). Giành chính quyền, đạp đổ chế độ phong kiến và ngai vàng của vua chúa, nhưng Bảo Đại được Bác mời làm Cố vấn Chính phủ mới. Ông vua không bị treo cổ như khi cách mạng Pháp và cách mạng Nga thành công. 12 vị quan chức của Chính phủ thân Nhật – Trần Trọng Kim, thì 10 vị được tham gia Chính phủ Cụ Hồ, như các ông Hoàng Xuân Hãn, Trần Đình Nam, Phan Anh… Có đến 50 ghế Nghị sỹ thuộc lực lượng chống đối được quyền đặc cách, không qua bầu cử Quốc hội. Những người không phải đảng viên như bác sỹ Trần Duy Hưng, bà Thục Viên, Vũ Đình Hòe, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe, Đỗ Đức Dục… đều được trọng dụng và có những đóng góp lớn cho cách mạng ở vị trí công tác của mình. Thậm chí, những nhân vật chính trị như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh cũng được mời tham gia Chính phủ. Nghĩa là Bác đã sử dụng từng đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Đó là sự thể hiện tinh túy và cốt lõi của“Sửa đổi lối làm việc” để bồi dưỡng và giáo dục cán bộ cách mạng.

Khi đã đặt cán bộ thích hợp với công việc, cần tiếp tục giúp họ có điều kiện hoàn thành công việc một cách có hiệu quả: luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm; khen ngợi họ lúc làm được việc tốt, và phải luôn kiểm soát cán bộ, giữ gìn cán bộ.

Người nhấn mạnh, đối với công tác cán bộ của Đảng ta, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và kiểm tra cán bộ là một quy trình liên hoàn và liên tục, yêu cầu thực hiện nghiêm túc, triệt để. Cán bộ được đề bạt phải dựa vào cả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu. Sau khi nhận chức trách, lại tiếp tục được tổ chức quan tâm theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra. Có như vậy, công tác cán bộ của Đảng mới đem lại hiệu quả thiết thực cho sự nghiệp cách mạng.

3. Xây dựng cơ chế làm việc cho cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra có năm cách: Thứ nhất là chỉ đạo – tạo điều kiện cho họ làm, thử cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tùy hoàn cảnh mà hướng dẫn cho họ phương hướng, cách thức công tác để phát triển năng lực và sáng kiến. Thứ hai là luôn bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tư tưởng, trình độ lý luận và cách làm việc cho họ. Việc đào tạo và sử dụng hợp lý đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc vấn đề cán bộ quyết định mọi công việc. Thứ ba là thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Thứ tư là khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp họ sửa chữa, cải tạo. Thứ năm là giúp đỡ họ điều kiện sinh sống đầy đủ để làm việc. Tùy hoàn cảnh mà giúp họ khi ốm đau, khi gia đình họ gặp khó khăn. Những điều đó quan hệ rất lớn tới tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng. Nghĩa là phải quan tâm đầy đủ cả vật chất lẫn tinh thần của người cán bộ để họ có đủ điều kiện hoạt động và phục vụ cách mạng.

4. Về chính sách cán bộ. Bác chỉ ra cần phải hiểu biết cán bộ. Vấn đề nhận xét và đánh giá cán bộ là vấn đề không đơn giản. Biết người cố nhiên là khó, tự biết mình cũng không dễ. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người còn chỉ rõ các chứng bệnh của cán bộ ta như: tự cao tự đại; ưa người ta nịnh mình; do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người khác thiếu khách quan. Không thể đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó “cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông”. Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn công việc của cán bộ. Do đó, nhận xét đánh giá cán bộ phải xuất phát từ hiện thực khách quan, với quan điểm toàn diện, lịch sử – cụ thể. Qua đó mới biết chỗ tốt và chỗ xấu của cán bộ. Từ đó mà nâng cao chỗ tốt, sửa chữa chỗ xấu, trong đó Bác coi trọng nghệ thuật sử dụng cán bộ. Bác đề ra các yêu cầu như sau:

4.1. Khéo dùng cán bộ. Mục đích của việc này là cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Đồng thời chống những chứng bệnh như: ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài, ham dùng những kẻ nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực… Vì những việc đó, kết quả là dù họ có làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì “bới lông tìm vết” để trả thù. Như thế, cố nhiên hỏng cả việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.

4.2. Phải có gan cất nhắc cán bộ. Phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào. Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng, phải căn cứ vào kết quả công việc họ làm, cách nói, cách viết và cách sinh hoạt của họ, v.v…

4.3. Thương yêu cán bộ. Điều này được thể hiện là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ.

4.4. Phê bình cán bộ. Đối với cán bộ sai lầm, chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm.Và càng sợ, những người lãnh đạo sẽ không biết tìm đúng cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Sự sửa chữa khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó, nhưng cũng một phần trách nhiệm của người lãnh đạo. Sửa chữa sai lầm cố nhiên cần dùng cách thuyết phục, giải thích, cảm hóa, dạy bảo. Song, không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Nếu không xử phạt, thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, của Đảng, mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm.

Cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” của Bác Hồ tuy nhỏ, nhưng có giá trị vô cùng lớn lao. Cuốn sách ra đời đến nay đã hơn nửa thế kỷ, nhưng qua thực tiễn của cách mạng Việt Nam, qua kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và 30 năm kháng chiến chống Mỹ, cũng như qua công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã khẳng định những đóng góp to lớn của đội ngũ những người lãnh đạo các cấp của Đảng và Nhà nước được Bác Hồ rèn luyện và giáo dục theo tinh thần được thể hiện trong “Sửa đổi lối làm việc”. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới của đất nước hiện nay cũng như trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” càng có ý nghĩa to lớn và quan trọng không chỉ đối với mỗi cán bộ, đảng viên, mà còn cho tất cả chúng ta./.

HẠNH LIÊN
Tạp chí Ngân hàng


Chú thích:

1 Hồ Chí Minh (1984), Toàn tập, tập 4, Lời giới thiệu, tr.XII, Nxb. Sự thật, Hà Nội.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh (2002), Tuyển tập, “Sửa đổi lối làm việc” tập II, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, (2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Võ Nguyên Giáp (2006), Hồi ký – Tổng tập, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

vssr.org.vn

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 10-1947, Bác Hồ viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, mang bút danh X.Y.Z. Bài này giới thiệu tóm tắt bài viết của Bác.

Năm 1947, trong điều kiện toàn quốc kháng chiến, tình hình đất nước lúc này, hơn bao giờ hết đòi hỏi mọi người cán bộ, đảng viên phải gương mẫu nêu cao đạo đức cách mạng, dám chấp nhận hy sinh gian khổ, vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu xa rời quần chúng và chống chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức.

Để cán bộ, đảng viên hiểu và thực hiện được yêu cầu đó, tháng 3-1947, Bác gửi thư cho các tổ chức Đảng, đề cập đến căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân và các biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.Tuy nhiên, trong quá trình kiểm tra đáng giá thực tế, Bác thấy ở nhiều nơi, biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân không được nhắc nhở, việc thực hiện không nghiêm túc.

Tháng 10-1947, Bác Hồ viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, mang bút danh X.Y.Z (Bác có khoảng 160 bút danh, tên gọi khác nhau). Lúc này Trung ương chỉ đạo tổ chức đợt học tập chính trị trong toàn Đảng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác là tài liệu quý giúp cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện, tu dưỡng trên các mặt tư tưởng, đạo đức và phương pháp làm việc.

Trong tác phẩm, Bác khẳng định “Sửa đổi lối làm việc” của Đảng là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng; là nhiệm vụ thường xuyên, vừa lâu dài, vừa cấp bách của một Đảng chân chính. Theo Bác: Sửa ở đây là sửa chữa, khắc phục. Đổi là đổi mới; Lối là phương pháp cách thức; Làm việc là hoạt động của Đảng, lãnh đạo của Đảng. Sửa đổi lối làm việc là để nâng cao sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giúp cho mọi tổ chức và cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình. Nội dung tác phẩm đề cập đến các lĩnh vực về tư tưởng, tổ chức, phương thức, phương pháp lãnh đạo, công tác quần chúng của Đảng trong điều kiện đặc thù của đất nước vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Bác Hồ chỉ ra có 3 loại khuyết điểm mà cán bộ thường gặp, đó là bệnh chủ quan; bệnh hẹp hòi; bệnh ba hoa. Biểu hiện của các loại khuyến điểm đó là: Không đem lý luận thực hành trong cuộc sống; nói, viết dài dòng; tự cao tự đại, coi thường mọi người, dẫn đến chia rẽ, bè phái, đố kỵ; công thần, suy bì, tị nạnh với đồng chí, đồng đội; kể công với Đảng. Nguyên nhân chính dẫn đến các khuyết điểm đó theo Bác là do yếu kém lý luận, khinh lý luận hoặc lý luận suông. Bác cho rằng lý luận chân chính phải xuất phát từ thực tiễn, tổng kết thực tiễn, gắn với cuộc sống, chỉ đạo cuộc sống. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế hàng ngày. Phải biết tổng kết kinh nghiệm ngay trong công việc của mình.

Bác chỉ ra nhiệm vụ của toàn Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên là phải thường xuyên xem xét, sửa đổi lối làm việc; xác định đâu là ưu điểm, đâu là khuyến điểm. Đừng sợ khuyết điểm, không che dấu khuyến điểm, phải tự phê bình, phê bình rộng rãi. Bác cho rằng: Một Đảng mà giấu khuyết điểm là một Đảng hỏng, có gan thừa nhận khuyết điểm, tìm nguyên nhân, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm thì Đảng đó là một Đảng tiến bộ.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác rất chú trọng đến vấn đề đạo đức cách mạng. Bác cho rằng, đạo đức cách mạng là cái căn bản, là cái gốc đối với toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, không có đạo đức thì dù giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Theo Bác, đạo đức cách mạng bao gồm 5 tính tốt: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm: Nhân là hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không có việc gì giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dũng là gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm phải có gan sửa chữa. Cực khổ có gan chịu đựng. Liêm có nghĩa là trong sạch, không tham lam. Bác chỉ rõ “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, Bác khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Cán bộ tốt phải có đủ đức và tài, trong đó đức là gốc. Vì vậy, phải quan tâm, chú trọng đến tất cả các khâu của công tác cán bộ, từ việc huấn luyện cán bộ; lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ đến việc thực hiện chính sách đối với cán bộ. Bác cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là lực lượng to lớn của cách mạng, mục đích cách mạng là phục vụ lợi ích của quần chúng. Do đó, muốn cho sự nghiệp cách mạng thành công, Đảng phải có phương thức lãnh đạo đúng đắn và thích hợp; phải biết dựa vào quần chúng, tổ chức cho quần chúng thực hiện mục tiêu của cách mạng. Phải có phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng phù hợp. Bác yêu cầu phải học cách nói của quần chúng, dùng lời lẽ dễ hiều, phù hợp với từng đối tượng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác vừa thể hiện sự kế thừa sâu sắc lý luận Mác – Lênin về xây dựng Đảng, vừa bổ sung, phát triển làm phong phú thêm nhiều vấn đề quan trọng, nhất là vai trò đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đây là tài liệu bổ ích, thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện, hướng dẫn cán bộ, đảng viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, giảm bớt những sai lầm khuyết điểm; củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân, huy động được nhiều lực lượng tham gia xây dựng Đảng. Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước, nội dung tác phẩm của Bác vẫn còn nguyên giá trị, giúp cho chúng ta thống nhất về nhận thức và hành động, nhằm đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống; khắc phục các biểu hiện tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, lãng phí, độc đoán chuyên quyền, thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật…của một số cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh, trong sạch, gắn bó mật thiết và phục vụ nhân dân được tốt hơn.

Nguồn tin: Người làm báo Ninh Thuận – NT (Đ/máy)

vja.org.vn

Sửa đổi lối làm việc với dân

“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947. Theo nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu “Có thể coi “Sửa đổi lối làm việc” là sự tiếp bước nối dài nhằm hiện thực hóa những mục tiêu, nguyện vọng được đề cập trong “Tuyên ngôn độc lập” ”.

“Sửa đổi lối làm việc” thực chất là sửa đổi lề lối quan hệ với nhân dân. Chính vì vậy, tư tưởng “dân là gốc”, dân làm chủ toát lên từ mọi khía cạnh, mọi nội dung được đề cập trong “Sửa đổi lối làm việc”. Trong tác phẩm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nhân dân là đối tượng trọng tâm của việc sửa đổi lối làm việc. Với năm nội dung chủ yếu như sau:

Cán bộ, đảng viên trước hết phải có lòng tin vào quần chúng nhân dân. Người căn dặn “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”, và phải biết dựa vào ý kiến của dân chúng để chỉnh sửa cán bộ và tổ chức, từ đó không ngừng nâng cao năng lực phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải học quần chúng. Người cho rằng, “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng” nên chúng ta phải học, phải hỏi, phải hiểu dân chúng. Người cảnh báo: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng…”

Cán bộ, đảng viên phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với dân. Người nhấn mạnh. “Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình,… còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình”. Có dân chủ, mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến, tạo không khí hăng hái thi đua rộng khắp.

Cán bộ, đảng viên nói và làm gì nội dung cũng phải thiết thực với dân, xuất phát từ lợi ích của dân. Người căn dặn: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng… Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”.

Cán bộ, đảng viên đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của quần chúng song tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Người chỉ rõ “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”. Cán bộ, đảng viên lắng nghe ý kiến của quần chúng, song không phải dân nói gì cũng nhắm mắt nghe theo, mà phải biết chọn lựa, vận dụng những ý kiến tích cực, tiến bộ vào công việc, để phục vụ dân tốt hơn.

“Sửa đổi lối làm việc” thực sự là một cuốn cẩm nang quý báu, về phong cách, lối làm việc của toàn bộ hệ thống chính quyền và mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện thật tốt các lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta sẽ xây dựng được Đảng trong sạch, vững mạnh.

Lê Tùng

baobinhdinh.com.vn

60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc

(ĐCSVN– Nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 – 3-2-2008) và 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (10-1947 – 10-2007) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc.

Thiết thực thực hiện cuộc vận động của Đảng và nhân dịp kỷ niệm 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự đồng ý của Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã phối hợp với Báo Nhân dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, tổ chức Hội thảo khoa học – thực tiễn quốc gia với chủ đề: 60 năm tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Cuộc Hội thảo đã nhận được sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học của nhiều bộ, ban, ngành, nhà trường, học viện, viện nghiên cứu… Các bài tham luận khoa học đã tập trung phân tích làm nổi bật những tư tưởng, quan điểm cách mạng, khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc về xây dựng Đảng cầm quyền, về công tác cán bộ, về đạo đức cách mạng, về mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, v.v.. Đồng thời, các bài tham luận cũng đã nêu bật được ý nghĩa, tính thời sự nóng hổi của tác phẩm Sửa đổi lối làm việc đối với sự nghiệp đổi mới đất nước của chúng ta hôm nay với nhiều thành công nhưng cũng còn tồn tại không ít khuyết điểm, yếu kém cần phải được sửa đổi, khắc phục, theo đúng tinh thần “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là một tấm gương sáng chói và mẫu mực về đức hy sinh cao cả cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, kể từ khi chuẩn bị cho sự ra đời chính đảng mácxít – lêninnít chân chính ở Việt Nam cho đến khi Người rời xa chúng ta để về cõi vĩnh hằng, điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu và trăn trở nhiều nhất là vấn đề xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng đi đến thành công, đem lại độc lập cho Tổ quốc, phồn thịnh cho đất nớc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, Người thường xuyên chăm lo công tác xây dựng, củng cố Đảng, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ đức đủ tài, để trong bất kỳ giai đoạn nào, Đảng cũng phải là một tổ chức cách mạng tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức, lương tâm và danh dự của dân tộc, làm tròn nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân đã tin tưởng giao phó.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, về công tác cán bộ, về giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên được thể hiện trong rất nhiều bài viết, bài nói của Người, mà một trong số đó là tác phẩm Sửa đổi lối làm việc hoàn thành vào tháng 10-1947 tại Chiến khu Việt Bắc trong hoàn cảnh Đảng ta cầm quyền mới được hai năm, chính quyền cách mạng còn non trẻ, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang trong những năm đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vô cùng gian khó. Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Người được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản đầu năm 1948 và phổ biến rộng rãi trong toàn quốc đã chỉ đạo, hướng dẫn toàn Đảng thực hiện một cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thực sự nâng cao năng lực lãnh đạo, nâng cao uy tín, đạo đức và sự gắn bó máu thịt với nhân dân, lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc gồm có sáu phần, là sự thể hiện những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, thực sự có ý nghĩa sâu sắc trong xây dựng Đảng ta cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, là cẩm nang cho cán bộ, đảng viên trong học tập, phấn đấu công tác, tu dưỡng đạo đức và rèn luyện tác phong làm việc. Với những câu văn ngắn gọn, hàm súc, lời văn gần gũi với quần chúng, dễ đọc, dễ hiểu, tác phẩm Sửa đổi lối làm việc đề cập một cách toàn diện các vấn đề về xây dựng Đảng:

Tự phê bình và phê bình được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập nhiều lần nhất trong tác phẩm bởi tầm quan trọng đặc biệt của nó đối với công tác xây dựng Đảng. Tự phê bình và phê bình, theo Người, là để nhận rõ ưu điểm, thấy được khuyết điểm, để từ đó mà tìm cách phát huy ưu điểm, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, để giúp nhau tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn.

Sửa đổi lối làm việc của Đảng để sửa trị các chứng bệnh nguy hiểm bên trong như chủ quan, hẹp hòi, ba hoa. Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm, nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì nguy hại vô cùng. Từ bệnh chủ quan mà sinh ra các bệnh kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông; bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức. Từ bệnh hẹp hòi mà sinh ra nhiều bệnh khác như: chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa… Từ thói ba hoa mà sinh ra nhiều thói xấu khác: dài dòng, rỗng tuếch; cầu kỳ; khô khan, lúng túng; báo cáo lông bông; lụp chụp cẩu thả; “sáo cũ”; nói không ai hiểu; bệnh hay nói chữ… Để chữa khỏi những bệnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương thuốc hay nhất vẫn là tự phê bình và phê bình.

Mấy điều kinh nghiệm phê phán những khuyết điểm trong công tác như cách lãnh đạo kém và quan liêu dẫn tới không biết cất nhắc cán bộ tốt, hao phí nhân tài, không biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc, làm việc ít có sáng kiến và lòng hăng hái, cách lãnh đạo không đợc dân chủ, cách công tác không được tích cực, không sát quần chúng, hợp quần chúng… Đồng thời, đối với sai lầm, khuyết điểm trong mỗi công tác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có những chỉ dẫn thiết thực, cụ thể để sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm đó.

Tư cách và đạo đức cách mạng được Người đề cập không dài nhưng toát lên đầy đủ những nội dung cơ bản của đạo đức cách mạng, tầm quan trọng của nó đối với mỗi con người cũng như đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng, đặc biệt, Người đã bàn tương đối cụ thể về phương pháp rèn luyện đạo đức cách mạng. Người nêu lên tư cách của Đảng chân chính cách mạng gồm 12 điều, mà theo Người: “Muốn cho Đảng được vững bền, mười hai điều đó chớ quên điều nào”. Về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, Người chỉ rõ, cán bộ, đảng viên phải: “Trọng lợi ích của Đảng hơn hết”, nghĩa là “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là tính Đảng”. Người chỉ ra năm tính tốt của người cán bộ chân chính cách mạng gồm: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, và khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng… Đạo đức đó… không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”.

Vấn đề cán bộ luôn là vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Người cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Với quan điểm đó, Người đề cập đến một cách toàn diện về công tác cán bộ bao gồm cách huấn luyện cán bộ, dạy cán bộ và dùng cán bộ, lựa chọn cán bộ, chính sách cán bộ… chỉ rõ những khuyết điểm trong công tác cán bộ và chỉ dẫn cách khắc phục, để xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện một đội ngũ cán bộ có đức có tài, trong đó đức là gốc, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Phương thức lãnh đạo của Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng cách nói giản đơn, dễ hiểu là cách lãnh đạo. Theo Người, cách lãnh đạo đúng là liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng và liên hợp lãnh đạo với quần chúng. Cách lãnh đạo đúng còn phải biết làm việc theo cách quần chúng, học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng. Lãnh đạo phải gắn với công tác kiểm tra, giám sát thì mới có hiệu quả, đồng thời phải giữ vững mối liên hệ mật thiết, máu thịt giữa Đảng và nhân dân, “một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”, bởi vì “không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”, v.v..

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lối làm việc cách đây đã 60 năm, nhưng những vấn đề Người nêu ra trong tác phẩm vẫn sống mãi với thời gian. Bởi vì, đó là những vấn đề đã được Người nghiền ngẫm, suy nghĩ, dự đoán, tiên liệu khi Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, được Người viết ra bằng toàn bộ tâm huyết, bằng lý luận, khoa học và kinh nghiệm thực tiễn hoạt động cách mạng của mình. Học tập, quán triệt và vận dụng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Đảng ta đã không ngừng phấn đấu, rèn luyện, đổi mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả chính trị, tư tưởng và tổ chức để không ngừng trởng thành, nâng cao năng lực tổ chức và năng lực lãnh đạo, nâng cao sức mạnh chiến đấu, uy tín, đạo đức cách mạng, sự liên hệ máu thịt với nhân dân, để từ đó lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giành thắng lợi vẻ vang trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và đem lại những thành công có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới hơn 20 năm qua của đất nước ta.

Hơn 60 năm đã trôi qua, đất nước ta đã trải qua bao nhiêu thay đổi lớn lao, nhng những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc vẫn là những vấn đề nóng hổi tính thời sự đối với quá trình đổi mới, phát triển đất nước ta hiện nay. Những căn bệnh của Đảng cầm quyền, của cán bộ, đảng viên mà Người đã phát hiện, cảnh báo từ 60 năm trước vẫn còn tồn tại, thậm chí có phần phức tạp hơn trước, khó sửa chữa hơn trước, như Đảng ta đã chỉ ra: “Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp uỷ còn yếu. Quan hệ giữa Đảng và nhân dân có lúc, có nơi bị xói mòn… Không ít tổ chức đảng yếu kém…, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Đó là một nguy cơ liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Chính vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ cơ bản và cấp bách hiện nay. Đảng ta đã phát động và tiến hành cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó có cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Vì vậy, việc học tập, nắm vững và thực hiện có hiệu quả những lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Sửa đổi lối làm việc thực sự có ý nghĩa sâu sắc đối với Đảng, cán bộ, đảng viên trong cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Trên cơ sở hơn 63 bài tham luận khoa học tại Hội thảo của các tác giả, Nhóm Biên soạn và Ban Biên tập đã chỉnh lý, biên tập và sắp xếp thành năm phần. Các bài viết được tập hợp vào mỗi phần chỉ mang tính tương đối, bởi các vấn đề được đề cập trong đó đều xoay quanh chủ đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Phần thứ nhất: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và sự lãnh đạo của Đảng.

Phần thứ hai: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với công tác cán bộ.

Phần thứ ba: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với việc giữ vững mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.

Phần thứ tư: Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” với công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Phần thứ năm: Ý nghĩa cách mạng và tính thời sự của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.

BVK

dangcongsan.vn

Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc – cẩm nang chỉ dẫn hành động

Năm 1947, giữa lúc phải tập trung chuẩn bị chiến dịch Thu Đông, nhằm đánh bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Cuốn sách có 6 phần: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa. Cuốn sách đã chỉ dẫn, động viên sức mạnh của Đảng, của dân tộc, của quân, dân ta góp phần đưa cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện giành thắng lợi vẻ vang. Ngày nay, thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, yêu cầu “làm theo” trở thành cấp thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên, với tất cả các cơ quan, đơn vị, cuốn “Sửa đổi lối làm việc” càng trở nên cần thiết.

Tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, làm theo những điều chỉ dẫn của Người trong mỗi câu, mỗi ý của tác phẩm này là việc làm rất bổ ích, thiết thực hiện nay. Mỗi câu, mỗi ý nói lên những việc cụ thể cần làm và nên làm như thế nào để công tác của mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị hoàn thành, đi đến thắng lợi. Với cách viết ngắn gọn, xúc tích, mỗi trang, mỗi dòng đều toát lên sự chân tình, thẳng thắn, gần gũi, ai cũng học được, làm theo được. Đây là cuốn sách giáo khoa có nội dung sâu sắc, toàn diện về giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng của Đảng, của Nhà nước ta. Xin giới thiệu nội dung cơ bản của tác phẩm.

I. Phê bình và sửa chữa.

Người nêu mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc phê bình và tự phê bình. Phải mau phê bình và sửa chữa để khắc phục khuyết điểm, vì “có tẩy sạch khuyết điểm, công việc mới có tiến bộ”(1). Người chỉ ra những căn bệnh mà mỗi cán bộ, đảng viên phải khắc phục, sửa chữa (chủ quan, hẹp hòi, ba hoa…). Người chỉ ra cách phê bình: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớtPhải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm… Chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”.

Bệnh chủ quan là chứng bệnh kém lý luận hoặc lý luận suông. “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéoKết quả thường thất bại…”. Vì vậy, “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”.

Bệnh hẹp hòi “rất nguy hiểm… trong thì ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết; ngoài thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, v.v… đều do bệnh hẹp hòi mà ra!”. Đó là những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể. Vì ham danh vọng và địa vị cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa thì kéo vào, không ưa thì tìm cách bẩy ra…”.

Người nhấn mạnh “Để chữa khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng nhân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau… Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”.

II. Mấy điều kinh nghiệm.

Hồ Chí Minh đã khái quát một số kinh nghiệm quan trọng, phân tích nội dung, dẫn chứng thực tế trong hoạt động phong phú của cán bộ, đảng viên và nhân dân qua các phong trào ở các địa phương, đơn vị.

1. Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong, Người chỉ ra nguyên lý: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”.

2. Có chính sách đúng, phải có cách 1àm đúng, phù hợp tình hình, yêu cầu thực tế mới đạt kết quả. Phải làm “kiểu mẫu” để rút kinh nghiệm, không làm tràn lan, chủ quan, tham làm nhanh, “tham làm nhiều trong một lúc”.

3. Phải nghiên cứu, rút kinh nghiệm công việc đã làm một cách tường tận, gốc rễ; tỉ mỉ, cẩn thận, toàn diện trước khi thực hiện công tác mới.

4. Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái, tính sáng tạo, dân chủ trong công tác của cán bộ, đảng viên. Dân chủ, hăng hái, sáng kiến luôn gắn chặt với nhau, vì “có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc thì những khuyết điểm lặt vặt cũng tự sửa chữa được nhiều”.

5. Phải xác định trách nhiệm trước công tác, nhiệm vụ được giao. Khi thực hiện bất kỳ nhiệm vụ gì cũng phải trả lời câu hỏi “Vì ai mà làm? Đối với ai phụ trách?”. Phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, luôn vì lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia công tác “tìm đủ cách giải thích cho dân hiểu”, không “làm theo cách hạ lệnh, cách cưỡng bức”.

6. Phải sâu sát quần chúng, hợp quần chúng. Tránh bệnh hình thức, xa rời nhân dân. Thực hiện phương châm “Từ trong quần chúng mà ra, trở lại nơi quần chúng”. Mọi việc làm phải hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định ra cách làm việc, cách tổ chức. Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”.

III. Tư cách và đạo đức cách mạng.

1. Tư cách của Đảng chân chính cách mạng.

Hồ Chí Minh đã nêu lên 12 tiêu chí của một Đảng cách mạng chân chính, bao gồm: Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng; Hiểu biết lý luận cách mạng gắn với thực hành; Liên hợp chặt chẽ với quần chúng; Nêu cao tính cách mạng và “lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”; Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình; Đảng phải chọn những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo; Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài; Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới; Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành như thế nào. Người đã khẳng định bằng hai câu thơ lục bát: “Muốn cho Đảng được vững bền, Mười hai điều đó chớ quên điều nào”.

2. Phận sự của đảng viên và cán bộ.

Người cán bộ, đảng viên phải “Trọng lợi ích của Đảng hơn hết… vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”.

Đảng viên và cán bộ phải có “đạo đức cách mạng”. Người khái quát và đi sâu phân tích năm chữ Nhân, Nghĩa, Chí, Dũng, Liêm.

Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào.

Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng…

Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng…

Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại vinh hoa, phú quý không chính đáng.

Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình… Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ…”.

Người cán bộ, đảng viên “phải giữ kỷ luật”. Kỷ luật của Đảng là kỷ luật tự giác. “Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ tiên phong. Mà đó là tự giác, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên”.

Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc của Đảng mà xin ra khỏi Đảng thì Đảng vẫn bằng lòng để họ ra. Đảng chỉ yêu cầu họ một điều là: họ thề không lộ bí mật của Đảng, không phản Đảng, không phá hoại Đảng. Như thế thì Đảng vẫn giữ cảm tình thân thiện với họ”.

Phải khắc phục “những khuyết điểm, sai lầm”. Đó là “bệnh tham lam”, “Bệnh lười biếng”, “bệnh kiêu ngạo”, “bệnh hiếu danh”, “thiếu kỷ luật”, “óc hẹp hòi”, “óc địa phương”, “óc lãnh tụ”, “bệnh hữu danh vô thực”, “bệnh kéo bè, kéo cánh”, “bệnh cận thị”, “bệnh cá nhân”, “bệnh tị nạnh”, “bệnh xu nịnh, a dua”. Người nhắc nhở về bệnh sợ tự phê bình. Người đã nói rất khảng khái”: “… Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Phải bình tĩnh tìm ra nguyên nhân sai lầm và cách sửa chữa khuyết điểm. Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa v v… Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng”. Người phê phán thái độ đối với người có khuyết điểm, sai lầm như đối với hổ mang, thuồng luồng… đòi đuổi ra khỏi Đảng ngay…, làm cho họ chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ những người máy móc quá. Đó cũng là bệnh chủ quan”.

3. Tư cách và bổn phận của đảng viên.

Hồ Chí Minh viết về tiêu chuẩn người đảng viên, thể thức giới thiệu, kết nạp người vào Đảng, rèn luyện, giáo dục đảng viên mới. Người chỉ rõ bổn phận của người đảng viên là “Suốt đời tranh đấu cho dân tộc, cho Tổ quốc; đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, lên trước hết; hết sức giữ kỷ luật và giữ bí mật của Đảng; kiên quyết thi hành những nghị quyết của Đảng; cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc; cố gắng học tập chính trị, quân sựvăn hóa. Phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, cũng như phải lãnh đạo quần chúng”.

4. Phải rèn 1uyện tính đảng.

Hồ Chí Minh khẳng định: “Mỗi cán bộ, đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Tính đảng là: “Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết; việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn; lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau. Đảng phải nghiêm ngặt kiểm tra, các địa phương phải kiên quyết thực hành những nghị quyết của Đảng. Nơi nào sai lầm, ai sai lầm, thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu, chống thói “trước mặt thì nể, kể lể sau lưng”. Phải kiên quyết thực hành kỷ luật. Phải đòi hỏi mỗi đảng viên, trước hết là mỗi cán bộ, phải thật thà tự phê bình, tự sửa chữa những khuyết điểm của mình”.

IV. Vấn đề cán bộ.

Với tư duy biện chứng, cách nhìn toàn diện, Hồ Chí Minh đã xác định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.

“Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Người chỉ ra những hạn chế trong công tác huấn luyện cán bộ, nêu lên nội dung huấn luyện cần tập trung: “Huấn luyện nghề nghiệp, Huấn luyện chính trị, Huấn luyện văn hóa; Huấn luyện lý luận. Học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế. Nên chia ra khoa học chính trị, khoa học kinh tế, khoa học lịch sử… tổ chức từng ban cao cấp hoặc trung cấp… Vô luận công tác môn nào, lớp huấn luyện nào, đều phải tuyệt đối chống bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa”.

Xuất phát từ luận đề “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Hồ Chí Minh đã xác định “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Vấn đề cán bộ là vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp, Đảng phải làm như thế nào? Người đã nêu lên 6 việc phải làm: Phải biết rõ cán bộ; phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng; phải khéo dùng cán bộ; phải phân phối cán bộ cho đúng; phải giúp cán bộ cho đúng; phải giữ gìn cán bộ.

Lựa chọn cán bộ có 4 tiêu chí:

a. Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.

b. Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ đó là người lãnh đạo của họ.

c. Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn.

Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo…

d. Những người luôn giữ đúng kỷ luật.

Có 5 cách đối với cán bộ:

a. Chỉ đạo – Thả cho họ làm, thả cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ.

b. Nâng cao – Luôn luôn tìm cách cho họ học thêm lý luận và cách làm việc, làm cho tư tưởng, năng lực của họ ngày càng tiến bộ.

c. Kiểm tra – Không phải ngày nào cũng kiểm tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm.

d. Cải tạo – Khi họ sai lầm thì dùng cách “thuyết phục” giúp cho họ sửa chữa. Không phải một sai lầm to lớn, mà đã vội cho họ là “cơ hội chủ nghĩa đã cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Những cách quá đáng như thế đều không đúng.

đ. Giúp đỡ – Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc.

Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ. Đó là những vấn đề rất hệ trọng.

Cần chú ý mấy việc: “Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”.

 a. Hiểu biết cán bộ: Cần biết những chứng bệnh người ta hay sai phạm để hiểu cán bộ: Tự cao, tự đại; ưa người ta nịnh mình; Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lấp vào tất cả mọi người khác nhau. Hồ Chí Minh đã nêu phương pháp:

“Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng.

Xem xét cán bộ không chỉ xem xét ngoài mặt mà còn phải xem tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ”.

b. Khéo dùng cán bộ. Cần tránh những chứng bệnh:

“Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài.

“Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực.

“Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình”.

“Cách dùng cán bộ đúng là phải có lòng độ lượng vĩ đại, chí công vô tư, không có thành kiến mới không bỏ rơi cán bộ. Phải có tinh thần rộng rãi, gần gũi người mình không ưa. Phải chịu khó dạy bảo, nâng đỡ người kém. Phải sáng suốt, tránh bị bọn “vu vơ” bao vây, xa cách cán bộ tốt. Phải có thái độ vui vẻ, thân mật để gần gũi đồng chí.

Phải thực hành những công việc cụ thể: Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến, khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc; không nên tự tôn, tự đại, mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới”.

c. Phải có gan cất nhắc cán bộ – “Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy… Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, với nhân dân… Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”.

d. Yêu thương cán bộ – Trong lúc tranh đấu, rất dễ mất một người cán bộ. Vì vậy, Đảng phải yêu thương cán bộ. Nhưng thương yêu không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc. Thương yêu là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm”.

đ. Đối với những cán bộ sai lầm – Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa rất biện chứng và thấu tình “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ bị sai lầm, ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại đến công việc như thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại, phải phê bình cho đúng”. Người đã nêu lên rất thẳng thắn “Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

V. Cách lãnh đạo.

Hồ Chí Minh đã “chỉ vẽ” rất cụ thể cách thức và nội dung công việc của người cán bộ.

1. Lãnh đạo và kiểm soát.

Lãnh đạo đúng nghĩa là.

“- Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng.

– Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.

– Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được…

“Chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo… Phải chú ý với những người “công thần cách mạng”, “những người nói suông”. Chống bệnh quan liêu, bàn giấy.

Vì ba điều mà cần phải có kiểm soát: 1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. 2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. 3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết. Kiểm soát có hai cách: từ trên xuống và từ dưới lên.

2. Lãnh đạo thế nào?

“Có hai cách lãnh đạo: Một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng; Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng.

… Bất kỳ việc gì, nếu không có chính sách chung, kêu gọi chung, không thể động viên khắp quần chúng… Bất kỳ việc gì (thí dụ việc chỉnh đốn Đảng), người lãnh đạo phải có một số người hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo.

Nhóm trung kiên này phải mật thiết liên hệ với quần chúng, công việc mới thành.

Vì vậy, bất kỳ cơ quan nào, bộ đội nào, cũng cần phải chọn một nhóm người hăng hái, trung thành, có năng lực, giữ kỷ luật, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”.

3. Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng.

Hồ Chí Minh xác định “Dân chúng rất khôn khéo, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng.

… Mỗi khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”.

Phải tránh cách làm việc quan liêu, mệnh lệnh, ép buộc dân chúng. Phải “làm theo cách của quần chúng”. Phải thực hành theo nguyên tắc:

– Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

– Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết.

– Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực nơi đó và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

– Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng.

“Phải đưa chính trị vào giữa dân gian“. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

VI. Chống thói ba hoa.

Bệnh ba hoa là “bạn đường” của bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi. “Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn”.

1. Thói ba hoa là gì?

Người đã chỉ ra biểu hiện của thói ba hoa.

a. Dài dòng, rỗng tuếch. Nói dài, viết dài mà không có nội dung.

b. Có thói “cầu kỳ“. Là cách “dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây” quần chúng không hiểu.

c. Khó khăn, lúng túng. Không chịu học tập, thiếu chuẩn bị, khi nói, khi viết quần chúng không hiểu.

d. Báo cáo lông bông. Báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi… Hoặc là báo cáo chậm trễKhông nêu rõ nội dung, vấn đề một cách rõ ràng, có hệ thống.

đ. Lụp chụp, cẩu thả. Phải tránh bệnh này bằng cách: “Không biết rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”.

e. Bệnh theo “sáo cũ“. Do làm việc thiếu chuẩn bị, nội dung mênh mông, không thiết thực, công thức máy móc, nói, viết những từ hoa mỹ, quần chúng không hiểu, không đem lại kết quả.

g. Nói không ai hiểu. Nội dung tuyên truyền, khẩu hiệu của Đảng “viết một cách cao xa, màu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”.

h. Bệnh hay nói chữ. Là bệnh ham dùng chữ nước ngoài nhưng không biết rõ nghĩa, “dùng không đúng mà cũng ham dùng, cái hại càng to”.

2. Cách chữa thói ba hoa.

“l. Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách.

2. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.

3. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm làm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?

4. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết.

5. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba khoanh mới nằm. Người ba năm mới nói”.

_____

(1) Những đoạn trong ngoặc kép ở bài này đều trích trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.231-236.

TS. Phan Hữu Tích

xaydungdang.org.vn