Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Xuân về nhớ Bác

(Chinhphu.vn) – Mỗi mùa Xuân về lòng ta lại nhớ Bác Hồ. Nhớ Bác, học và làm theo lời Bác một cách thiết thực nhất chính là soi mình vào tấm gương sống giản dị, trung thực nhưng hết sức kiên cường của Bác và nhắc nhở nhau làm theo những lời căn dặn của Người.

“Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” (Tố Hữu)

Từ mùa Xuân 1970, chúng ta không còn được nghe Bác Hồ đọc thơ chúc Tết vào thời điểm trang trọng Giao thừa, chào đón năm mới.

Tuy nhiên, đứng trước bàn thờ gia tiên vào lúc tiễn đưa năm cũ, trong lòng mỗi chúng ta không chỉ nghĩ đến tổ tiên, ông bà và những người thân đã khuất mà còn thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ.

Khi nhân dân đặt trọn niềm tin vào Đảng

Ông Jean Sainteney, người thay mặt cho nước Pháp ký Hiệp định Sơ bộ với nước ta đầu năm 1946, về sau trong hồi ký của mình đã viết: “Từ khi gặp ông Hồ Chí Minh lần đầu tiên, tôi đã có cảm tưởng là con người khổ hạnh đó mà nét mặt biểu lộ cả trí thông minh và nghị lực, lẫn mưu trí và tế nhị, là một người siêu đẳng chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một nhân vật chính trị nổi bật trên diễn đàn châu Á… Kiến thức rộng rãi, trí thông minh cùng với sức hoạt động lạ lùng, khả năng chịu đựng mọi kham khổ và lòng vị tha không bờ bến của ông đã đem đến cho ông uy tín và sức thuyết phục không ai có thể so sánh nổi”.

Chúng ta may mắn có một vị lãnh tụ mà người bên kia chiến tuyến cũng phải ca tụng.

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi thiết thực nhất là soi mình vào tấm gương sống giản dị, trung thực nhưng hết sức kiên cường của Bác và nhắc nhở nhau làm theo những lời căn dặn vừa hết sức chân tình, vừa hết sức chí lý của Bác Hồ.

Phát biểu tại Phân hiệu II Trường Nguyễn Ái Quốc, tháng 7/1955, Bác đã nói: “Đảng phải rất mạnh, rất trong sạch. Lấy đồng hồ làm thí dụ: bộ máy đồng hồ phải chạy đều, muốn chạy đều phải sạch sẽ. Đảng muốn trong sạch, mạnh mẽ thì mỗi bộ phận, mỗi đảng viên phải trong sạch, mạnh mẽ”.

Nhân dân ta vốn rất tin yêu Đảng và công nhận tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng nhân dân yêu cầu Đảng phải luôn có những quyết sách đúng đắn và hợp lòng dân, từng đảng viên phải gương mẫu đúng như tinh thần hồi Kháng chiến (Đảng viên đi trước, làng nước theo sau).

Năm nay Đảng ta tổ chức Đại hội lần thứ XI, Đại hội tổng kết kinh nghiệm những năm Đổi mới và chuẩn bị hành trang cho một thời kỳ mới – thời kỳ phát triển nhanh trong xu thế hội nhập quốc tế.

Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng đã thẳng thắn vạch ra những tồn tại trong công tác xây dựng Đảng: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; sự yếu kém làm chưa hết trách nhiệm trong quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành, làm tăng thêm bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước… Không ít cơ sở đảng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, tự phê bình và phê bình yếu… Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng… Một số tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể chưa quan tâm đúng mức công tác dân vận. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng vẫn nặng tính hành chính”…

Tôi cho rằng như vậy là Đảng ta đã thực sự soi mình làm theo những lời căn dặn của Bác Hồ: “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”; “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Về ý thức tôn trọng quyền dân chủ của nhân dân, Bác Hồ khẳng định: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi việc đều vì lợi ích của dân mà làm”; “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”.

Dân chủ phải được biểu hiện trong toàn bộ cuộc sống. Mỗi đảng viên đều có trách nhiệm với Đảng, với nhân dân.

Học Bác cách trọng dụng nhân tài để xây dựng đất nước

Bác là tấm gương sáng trong việc trọng dụng nhân tài để xây dựng đất nước. Ông Tạ Quang Bửu là một nhà toán học nổi tiếng (lưu học tại Đại học Paris, Bordeaux -Pháp và ĐH Oxford-Anh) về nước năm 1934 và dạy học ở Huế. Năm 1945 ông cùng Luật sư Phan Anh ra Hà Nội để tham gia cách mạng. Tháng 3/1946 tuy chưa vào Đảng, ông đã được Bác Hồ giao cho làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tháng 8/1947, tuy chỉ mới được kết nạp vào Đảng tròn 1 tháng ông đã được giao trọng trách làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Về khoa học thì có lẽ trường hợp tiêu biểu nhất là GS Trần Đại Nghĩa. Ông là Kỹ sư Phạm Quang Lễ, được Bác trực tiếp thuyết phục và tìm cách bí mật đưa từ Pháp về nước để giao trọng trách làm Cục trưởng Cục Quân giới. Bác còn tự tìm tên để đổi cho ông. Bác nói: “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình , bà con chú  còn ở trong Nam”.

Bác tin ai là không có nhầm. Là một Việt kiều sống lâu năm xa Tổ quốc, mặc dầu bắt đầu từ hai bàn tay trắng nhưng GS Trần Đại Nghĩa đã ra sức góp phần tích cực xây dựng ngành quân giới non trẻ để phục vụ trực tiếp cho chiến đấu. Có lần Bác gửi cho GS Nghĩa một chiếc áo  với mẩu giấy ghi hàng chữ: “Chiếc áo sơ mi của đồng bào Thái Lan tặng Bác. Bác tặng lại chú, mặc cho ấm để làm việc tốt”.

Những chuyện ấm lòng như vậy đối với những người trí thức cống hiến cho đất nước kể sao cho xiết.

Bác phân tích: “So với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được việc gì hết…Ta cần hợp tác với người ngoài Đảng. Ta không được khinh rẻ họ, chê bai họ… Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên không làm nổi”.

Chúng ta càng tự hào về Đảng ta, về dân tộc ta thì càng thấy rõ yêu cầu bức thiết phải bứt phá về kinh tế, để Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong mỏi.

Muốn đất nước ngày càng giàu có lên Đảng phải vạch ra được những kế hoạch phát triển kinh tế rất xác đáng và động viên được toàn thể nhân dân hào hứng và nỗ lực tham gia vào việc thực hiện kế hoạch đó. Muốn nhân dân hào hứng và nỗ lực trước hết phải thực thi dân chủ.

Bác dặn chúng ta: “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”. Bác còn nhắc nhở: “Kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước”.

Năm 2011 này cả nước phấn đấu để GDP tăng thêm 7-7,5% so với năm 2010, nhập siêu không vượt quá 18% kim ngạch xuất khẩu, chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 7%, tổng thu ngân sách trung ương là 591. 279 tỷ đồng, tạo thêm việc làm cho 1,6 triệu lao động, đưa được 87.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài; tuyển mới đại học- cao đẳng tăng 6,5%, trung cấp chuyên nghiệp tăng 10%, cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 16,5%; giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% theo tiêu chuẩn mới; có 4% số xã đạt các chỉ tiêu nông thôn mới; tỷ lệ che phủ rừng đạt 40%…

Hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 là hành động thiết thực nhất để chào mừng thành công Đại hội Đảng lần thứ XI và cũng là để đáp lại lòng mong muốn của Bác Hồ: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

* Những lời nói của Bác được dẫn từ cuốn: “Về xây dựng và chỉnh đốn Đảng”, NXB Chính trị Quốc gia năm 2000.

GS.NGND Nguyễn Lân Dũng

baodientu.chinhphu.vn

Bác Hồ với việc thực hành dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt những viên gạch đầu tiên cho một xã hội bình đẳng, dân chủ và dày công vun đắp xây dựng một Nhà nước Việt Nam thật sự của dân, do dân và vì dân.

Trong bộn bề công việc năm đầu của chính quyền nhân dân non trẻ, Bác Hồ vẫn đặt lên hàng đầu công tác bầu cử Quốc hội (cuộc tổng tuyển cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946).

Nêu cao việc thực hiện quyền làm chủ

Kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân đi bỏ phiếu, Bác nói: Trước hết, tôi xin tóm tắt Luật Bầu cử của ta thật là dân chủ. Tất cả các công dân gái cũng như trai, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, tự do lựa chọn người thay mặt mình.

Bác phân tích rõ cho đồng bào biết, tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể nhân dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, hễ là công dân Việt Nam thì đều có 2 quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ đoàn kết.

Trải qua hơn 65 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tính dân chủ đoàn kết hay chính là dân chủ XHCN được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng, mở rộng và phát huy mạnh mẽ và đó cũng là bản chất tốt đẹp của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.

Đây cũng chính là luận điểm khẳng định những vấn đề chủ yếu nhất, cốt lõi nhất của nền dân chủ XHCN, bản chất và vai trò của nền dân chủ ấy, sự trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại và thực tiễn Việt Nam.

Có thể nói, thực hiện quyền dân chủ là một quá trình vận động gian khó và lâu dài, cả hệ thống chính trị và từng người dân phải góp công sức, trí tuệ từ nhận thức về quyền dân chủ, nâng cao trình độ để có thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hành quyền dân chủ.

Kêu gọi, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình khi bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên, Bác nói: Chúng ta hãy thúc những người lừng khừng đến trước thùng phiếu. Có quyền mà không tìm cách dùng quyền cho sáng suốt, ấy là tự mình hủy quyền của mình.

Đại biểu hãy luôn giữ lòng hăng hái ra sức giúp ích nước nhà

Bác đã phân tích rất rõ với những người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, nếu trúng cử thì phải ra sức cố gắng làm việc cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc. Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã có lòng hăng hái với nước với dân thì hãy luôn luôn giữ vững lòng hăng hái đó. Dù ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được trúng cử thì ta cứ giúp làm cho nhân dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau nếu ta ứng cử, nhân dân nhất định bầu ta.

Bác nói, tất cả đại biểu Quốc hội hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm đại biểu Quốc hội, không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc, mà làm người đày tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào.

Theo Bác, làm việc nước là hy sinh, phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung của dân tộc. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không bầu. Ngày bầu cử không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy.

Khi phân tích sâu sắc giá trị của lá phiếu cử tri, Bác nói, lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta. Vì vậy, đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri. Phải đi bỏ phiếu để tự mình lựa chọn những người xứng đáng thay mặt mình trong Quốc hội.

Những lời nói của Người cách đây hơn 65 năm vẫn đang vang vọng trong không khí toàn Đảng, toàn dân đang nô nức chuẩn bị cho việc bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 hôm nay: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử. Ngày mai dân ta sẽ lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước… Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Theo Chinhphu.vn

doanhnghieptrunguong.vn

Anh bưu tá 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Nguoiduatin.vn) – Là nguyên thủ quốc gia, thế nhưng khi về thăm quê, Chủ tịch Hồ Chí Minh có khi lại chỉ đi chiếc ô tô giản dị do một người bưu tá điều khiển.

Ông Nguyễn Đình Ngọc, người có vinh dự được Bác 2 lần ngồi trên chính chiếc ô tô do mình cầm lái kể lại dù đã hơn 50 năm kể từ lần đầu tiên được gặp Bác nhưng với ông, đó là kỷ niệm và niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời.

Ông Ngọc (bên phải) kể chuyện 2 lần chở Bác về thăm quê cho con trai nghe

Vị lãnh tụ giản dị

Ông Nguyễn Đình Ngọc sinh ra và lớn lên tại Thọ Hạc, Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường Điện Biên, TP Thanh Hoá). Năm 1946 ông vào quân ngũ và học lái xe. Đến năm 1953, ông được điều động lái xe chở hàng chi viện phục vụ chiến trường Điện Biện Phủ. Trong giai đoạn này, ông còn vinh dự được Chính phủ giao chở đoàn công tác của Ấn Độ sang thực hiện Hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam.

Sau khi giải phóng Điện Biên Phủ, ông Ngọc được điều chuyển về Nghệ An lái xe cho Tỉnh uỷ, với nhiệm vụ vận chuyển công văn, thư từ hoả tốc đến các vùng. Cũng từ đó, anh về sinh sống cùng vợ con ở khối 4, phường Lê Lợi (TP Vinh).

Ông Ngọc kể: Ngày 13/6/1957, Tỉnh uỷ họp phiên đột xuất và thông báo sáng mai (tức 14/6) tỉnh sẽ đón một cán bộ cao cấp của trung ương tại sân bay Vinh. Tất cả thông tin về chuyến đi này được tuyệt đối giữ bí mật, kể cả danh tính của vị lãnh đạo ấy. ông Ngọc được giao nhiệm vụ lái xe phục vụ và bảo vệ vòng ngoài.

Giờ G đã đến, tất cả thực hiện đúng nhiệm vụ đã được phân công. Khi chiếc máy bay trực thăng hạ cánh, ai nấy đều hồi hộp. Một người đàn ông mang bộ ka ki bạc màu bước ra cầu thang máy bay. Dù chưa một lần gặp mặt, nhưng ai nấy đều nhận ra đó là Bác Hồ. Tất cả chạy ùa về phía Bác. Bác bắt tay, ôm hôn mọi người và bất ngờ bước lên chiếc xe commăngca cũ kỹ của ông Ngọc chứ không phải chiếc xe chở khách chuyên dụng sang trọng hơn mà Tỉnh uỷ Nghệ An đã chuẩn bị trước đó.

“Lúc đó xe cộ đông đúc và lộn xộn. Vui và hồi hộp quá, tôi quên mất nhiệm vụ cấp trên giao mà chỉ biết thực hiện theo mệnh lệnh của Bác. Theo lời Bác, tôi cho xe chạy thẳng về trung tâm TP Vinh. Những chiếc xe khác cứ chạy theo phía sau, các cận vệ tỏ ra lo lắng. Bác bảo tôi chở Bác tham quan một vòng để vẫy chào bà con 2 bên đường và đi về thăm quê hương Kim Liên (Nam Đàn). Thông qua hệ thống phát thanh nên hầu hết người dân Nghệ An, Hà Tĩnh đều đã biết Bác Hồ về thăm quê nên người ở dọc tuyến đường từ Vinh lên Kim Liên cứ nườm nượp từng đoàn người”, ông Ngọc kể lại.

Ông Ngọc cho biết, là người rất cẩn thận, giữ an toàn nên trên quãng đường, Bác không nói chuyện với lái xe mà chỉ vẫy tay chào nhân dân 2 bên đường đứng đón Bác. Nghe tin Bác về quê, ai ai cũng náo nức, phấn khởi chờ Bác từ rất sớm. Trong một buổi sáng tháng 6 nắng chan hoà, với bộ quần áo ka ki, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Câu chuyện xúc động

Khi về tới quê, một vị lãnh đạo tỉnh mời Bác đi vào nhà khách mới được xây dựng, nhưng Bác ngăn lại: “Bác xa nhà, xa quê đã lâu rồi nên phải về thăm nhà trước đã. Nhà khách là dành để tiếp khách, cho khách ở. Chứ Bác là người nhà chứ có phải là khách đâu!”.

Ông Nguyễn Đình Ngọc bên chiếc xe đã 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “Nhà Bác Hồ”, Bác liền quay lại bảo: “Viết thế này là chưa đúng. Đây là nhà cụ Phó Bảng chứ có phải là nhà của Bác Hồ đâu”. Đúng như Bác nói, ngôi nhà này chính dân làng Kim Liên đã góp công, góp sức dựng mừng quan Đại khoa Nguyễn Sinh Sắc nhân dịp ông thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901.

Rồi Bác bước vào trong và tiếp tục phê bình: “Các chú mở lối như thế này là sai. Cổng nhà cụ Phó Bảng ở hướng Đông, chứ đâu phải chỗ này”. Điều này cho thấy trí nhớ của Bác rất tốt. Đã 50 năm Bác bôn ba khắp nơi, nay mới trở về thăm quê, thăm nhà lần đầu nhưng Bác vẫn không quên bất cứ điều gì ở đây.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà và chỉ cho những người đi theo, đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên… đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của Người.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là nơi chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành của Bác; là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Trong buổi sáng mùa hè đặc biệt ấy, ngay trước sân nhà mình, Bác đã xúc động nói: “Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do”.

Gần 4 năm sau, ngày 8/12/1961, Bác Hồ lại về thăm quê lần thứ 2. Đảng bộ và nhân dân Nghệ An tiếp tục được đón Bác tại sân bay Vinh trong niềm vui vô bờ. Lần này, ông Ngọc được lãnh đạo tỉnh tin tưởng giao nhiệm vụ tháp tùng Bác. ông Ngọc còn nhớ rất rõ, đó là chiếc máy bay mang ký hiệu BS 58482. Lần về thăm quê này, Bác tóc đã bạc hơn.

“Gặp ai Bác cũng dặn dò. Bác căn dặn phải siêng năng lao động sản xuất, phải yêu nước. Không ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng Bác trở về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình”, ông Ngọc kể.

Khi bài viết này lên trang thì nhân vật Nguyễn Đình Ngọc vì tuổi cao sức yếu đã qua đời. Trong lần gặp chúng tôi cuối cùng để cung cấp tư liệu cho bài viết, ông Ngọc bồi hồi: “Chỉ là một anh bưu tá, đưa thư, trước đó tôi chưa bao giờ dám tin một ngày được gặp Bác. Vậy mà đã 2 lần tôi có vinh dự được lái xe chở Bác về thăm quê. Vinh dự này không phải ai trong đời cũng 1 lần có được”.

Phan Xuân Hồng

nguoiduatin.vn

Gia đình hai đời tổ chức lễ giỗ Bác Hồ

(Nguoiduatin.vn) – Trọn 42 năm kể từ ngày Bác mất, có một gia đình vẫn thầm lặng tự tổ chức lễ giỗ cho Bác suốt quãng thời gian qua. Đó là gia đình của cụ Cao Văn Đằng (SN 1922, ngụ tại khóm 9, thị trấn Càng Long, tỉnh Trà Vinh), một người nông dân nghèo, chất phát mà người dân quanh đây thường gọi với cái tên là “ông Hai con trai Bác Hồ”.

Giờ đây, tuy cụ Hai không còn nữa nhưng mỗi năm đến ngày 2/9, các con của cụ vẫn đều đặn thắp nén nhang và nấu một ít món ăn dâng lên Bác để bày tỏ lòng thành kính.

Cô Mừng thắp nén nhang cho Bác Hồ trong lễ giỗ

Chiếc radio kỷ niệm

Con đường vào nhà cụ rất khó đi và khá vòng vèo, thế nhưng năm nào cũng thu hút hơn 100 người đến dự lễ giỗ tại căn nhà nhỏ này. Ngày trước, cụ Hai tham gia làm công tác hậu cần, dân quân, tiểu tổ nông hội đi vận động tiếp tế cho quân ta thời kháng chiến chống Pháp. Bốn người con trai đầu của cụ cũng nối gót cha tham gia cách mạng, nhưng một người đã nằm xuống trong một cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lúc đó, bà con trong vùng ai cũng bỏ nhà tránh bom đạn của giặc. Duy nhất còn lại mình cụ bám trụ lại để dự trữ lúa gạo nuôi quân.

Cô Cao Thị Mừng (57 tuổi), người con thứ 5 của cụ Hai lấy trong tủ ra cho tôi xem một cái radio đã cũ. Cô chia sẻ: “Hồi trước cha tôi đi cuốc mướn hai công khoai, bán thêm một tạ heo, một bầy gà vịt mới có tiền mua cái radio này với giá 7.200 đồng. Tại ổng mê nghe tin tức lắm, ngày nào cũng kè kè cái radio bên tai”.

Cũng nhờ chính chiếc radio này mà cụ Hai hay tin Bác mất. Chiều ngày 3/9/1969, đài phát thanh Hà Nội loan tin về sự ra đi của Bác, nghe tin này, cụ Hai đã khóc rất nhiều. Mặc dù chưa một lần được gặp mặt Bác, nhưng qua những thông tin từ báo đài, ông rất ngưỡng mộ về sự giản dị và tài giỏi, thương nước thương dân của Bác.

Cô Cao Thị Rành (50 tuổi), người con thứ 8 của cụ chia sẻ: “Cha tôi thương Bác lắm. Để thể hiện tấm lòng của mình, cha tôi bắt đầu để râu giống Bác, đi dép cao su. Hễ có ai khen cha tôi giống Bác là ổng vui cả buổi trời”.

Ngày cụ Hai còn sống, dù Bảo tàng Trà Vinh đã nhiều lần ngỏ ý mang chiếc radio và một cái gầu tát nước mà ngày xưa ông bắt cá làm giỗ cho Bác về trưng bày nhưng cụ Hai không đồng ý. Từ giường bệnh, ông cụ lòm còm bước lại đến ôm chiếc radio và cái gầu vào lòng, vì đối với cụ, đây là những kỹ vật thiêng liêng, quý giá, không gì có thể sánh bằng cho dù nó đã hỏng suốt mười mấy năm nay.

Lừa lính ngụy đốt nhang lạy Bác

Sau khi Bác mất, cụ Hai lập ngay một bàn thờ nhỏ và giấu kín trong nhà để giặc không phát hiện. Vì không có hình của Bác nên cụ lấy một con tem kháng chiến có hình của Bác để thờ. Cụ tính từng ngày cúng thất, cúng 49, 100 ngày cho Bác, đầy đủ lễ tiết như người thân trong gia đình.

Cụ Hai bên chiếc radio kỷ niệm

Ngày đó, gia đình còn khó khăn nên có gì cụ cúng nấy, có cá bắt cá, có gà làm gà. Lần đầu tiên giỗ Bác, lấy lý do đám giỗ bố, cụ đã mời bọn lính Ngụy đến dự rất đông, còn các anh bộ đội sắm vai con cháu trong nhà. Thấy lính Ngụy đốt nhang lạy Bác, ông cụ cười thầm trong bụng.

Sau khi đi giỗ về, bọn lính Ngụy sinh nghi nên bắt cụ Hai về đồn chất vấn. Tuy nhiên, vì không đủ chứng cứ, bọn chúng đành phải để ông cụ ra về.

Ấm ức vì không thể kết tội cụ Hai, tên đồn trưởng quyết định cho lính đến mai phục bắn cụ cho hả tức. Núp trong một bụi cây, nhìn thấy cụ đang đặt dĩa khoai lang lên bàn thờ và thắp nén nhang, bọn lính bắn một phát đạn vào cánh tay phải của cụ.

Cô Mừng nhớ lại: “Lúc đó nghe tiếng sung trước nhà, tôi sợ quá, chạy ra thì thấy cha đang giữ lấy cánh tay đầm đìa máu. Tôi vội vàng lấy chiếc xe đạp ra kêu cha lên chở đi nhà thương nhưng cha một mực không chịu. Cha nói, tụi lính Ngụy đang nghi ngờ mà bây giờ đi nhà thương cho tụi nó giết chết cả nhà nên tôi đã đưa cha đi trạm xá mổ vết thương lấy viên đạn ra”. Vì chậm trễ làm máu chảy rất nhiều nên sau hôm đó, tay phải cụ Hai không còn hoạt động bình thường được nữa.

Sau ngày giải phóng, ông Hai liền đóng một cái tủ nhỏ làm bàn thờ Bác và đặt trang trọng giữa nhà, nơi thường dành thờ cúng tổ tiên.

Muốn giỗ cùng ngày với Bác

Bệnh tật đã dần dần cướp đi sức khỏe cụ Hai. Sau bao nhiêu năm bị bệnh gan hành hạ, cụ Hai quyết định về nhà để được gần Bác, được lo cơm nước, thắp nhang cho Bác mỗi ngày.

Cô Mừng bên di ảnh cụ Hai 

Đến giữa tháng 9 năm ngoái, cụ Hai đã ra đi, 10 ngày sau đám giỗ của Bác. Cô Mừng nghẹn ngào tâm sự: “Trước lúc mất, mắt cha tôi cứ nhìn chăm chăm vào bàn thờ Bác. Ông dặn, sau này nếu có làm giỗ cho ông thì làm chung ngày giỗ với Bác Hồ. Nên năm sau tụi tôi sẽ tổ chức chung một ngày cho ông vui lòng”.

Gia đình cụ Hai mỗi năm có đến sáu cái giỗ nhưng giỗ của Bác luôn luôn là giỗ lớn nhất. Trước giỗ 2 ngày, các con cụ đã bắt tay vào công việc làm đồ ăn. Cô Mừng chia sẻ: “Hồi đó làm giỗ đơn giản lắm, chỉ có mấy anh chị em trong nhà thôi, nhưng bây giờ thu hút càng ngày càng đông người, có năm tiếp hơn cả chục bàn nên phải chuẩn bị nhiều hơn, sợ khách lại mà không đủ đồ ăn thì ngại lắm”.

Ngày đầu tiên, các con cụ Hai từ phương xa trở về quây quần lại gói bánh tét, bánh ít biếu tặng khách. Ngày thứ hai, mọi người tiếp tục làm heo, gà, vịt để đúng ngày 2/9 bà con lại chung vui. Tất cả đồ ăn nấu giỗ đều do tự tay các con cụ nuôi trồng vì như thế vừa đỡ chi phí vừa đảm bảo vệ sinh an toàn cho mọi người.

Trong bàn ăn, các con cụ Hai không quên dọn thêm một bộ chén đũa, vì mọi người biết, dù có đi đâu thì ngày này, chắc chắn cụ Hai sẽ về dự giỗ Bác Hồ.

Chị Nguyễn Thị Hoa sáng sớm đã đi mua trái cây rồi lặn lội từ huyện Vũng Liêm (Vĩnh Long) đến nhà cụ Hai dự giỗ. Chị chia sẻ: “Tôi đến đây lần này là được 4 lần rồi. Hồi đó nghe người ta nói nhiều về ông nên tôi rất tò mò và tìm đến đây dự giỗ. Tôi không phải bà con gì của ông Hai hết vậy mà gia đình ông vẫn đón tiếp niềm nỡ. Riết rồi cũng thành quen, năm nào tôi cũng dành chút thời gian xuống thắp cho Bác nén nhang”.

Anh Lê Văn Ngoan, Bí thư thị trấn Càng Long nhận xét: “Đây là một việc làm hết sức ý nghĩa nên tôi rất trân trọng tấm lòng của chú Hai. Sau khi xuống Đền thờ Trà Vinh là tôi tranh thủ qua nhà chú Hai. Việc làm này tưởng chừng đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể làm được”.

Sau khi cụ Hai qua đời, các con cụ tiếp tục tự tổ chức lễ giỗ cho Bác Hồ. Vì đó không những là tâm nguyện của cụ Hai mà còn là ý muốn của các con cụ, để mọi người có dịp thể hiện tấm lòng của mình đối với vị cha già của dân tộc.

Đỗ Dũng

nguoiduatin.vn

Kiều nữ Thành Nam lần đầu gặp Bác

(Nguoiduatin.vn) – “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi của Bác làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa.

Với bất cứ ai, được trực tiếp nhìn thấy Bác một lần trong đời là niềm hạnh phúc lớn. Riêng đối với bà Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyên cán bộ Ban Tổ chức Thành ủy Nam Định, nguyên đại biểu Quốc hội khóa III – niềm hạnh phúc đó thật to lớn vì bà không chỉ được gặp Bác hai lần mà còn được Người trò chuyện và dạy bảo.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung thời trẻ

Sinh năm 1937 tại xã Hải Quang (Hải Hậu), bà Kim Dung cùng gia đình chuyển tới sống tại xã Nam Phong vào năm 1963. Một năm sau, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử rồi được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa III. Tại kỳ họp thứ nhất ở Thủ đô Hà Nội, bà và các đại biểu trẻ vinh dự được vào gặp Bác ở vườn cây gần nơi Bác ở.

Quá xúc động và bỡ ngỡ vì lần đầu tiên trong đời được gặp Bác, bà không nghe thấy Bác gọi tên mình. Phải tới khi Bác gọi đến lần thứ ba và mọi người xung quanh nhắc, bà mới vội vàng đứng dậy, lúng túng đến nỗi để chiếc áo dài quấn vào ghế.

Bác nhìn bà đôn hậu rồi hỏi đùa: “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa. Thấy vậy, Bác nói ngay: “Thôi, Bác đùa đấy. Thế Chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”.

Sau khi trò chuyện, hỏi han, Bác cùng mọi người ra cửa Phủ Chủ tịch chụp ảnh kỷ niệm. Hôm đó, các đại biểu trẻ được về gặp Bác rất đông, ai cũng muốn được đi gần Bác. Các anh chị em khác chen nhau đi trước còn bà Dung đi sau.

Bỗng Bác dừng lại bên cạnh rồi nắm lấy tay bà nói: “Những thành tích của cháu đạt được, Bác rất hoan nghênh. Bác sẽ tặng cho cháu Huy hiệu của Bác. Cháu cố gắng học tập để có đủ trình độ làm tốt nhiệm vụ của nguời Đảng viên, người đại biểu Quốc hội nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi nhưng nhiều con. Cháu phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới tiến bộ được”.

Những lời dạy bảo của Người làm bà vô cùng vui sướng và xúc động. Bà không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc như vậy mà lại có thể nắm rõ một cách tường tận thành tích của một Chi bộ, một Đảng bộ và hơn thế là cả lai lịch chi tiết của một đảng viên trẻ ở vùng quê như bà. Lời Bác như những lời dạy bảo chân tình của người ông nội, người cha đối với con, cháu trong nhà.

Bà Kim Dung được Bác nắm tay dẫn đi tiếp trên con đường rải sỏi, dưới hàng cây mát rượi. Trong bàn tay ấm áp của Người, bà cảm thấy như được truyền thêm sức mạnh để có thể vượt qua tất cả mọi khó khăn và sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong lần chụp ảnh đó, Bác còn bảo với bà: “Cháu thấp, cháu đứng đằng trước để thợ chụp ảnh nhìn cho đẹp”. Khi lấy ảnh, bà mới biết được rằng mình được đứng ngay dưới chân Bác. “Trải qua mấy chục năm rồi nhưng thời khắc thiêng liêng đó vẫn không phai mờ trong ký ức của tôi” – Bà nói, tay nâng niu bức ảnh cũ đã sờn, khóe mắt ngấn lệ vì xúc động xen lẫn vẻ tự hào.

Bác Hồ tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần 3, tháng 5-1962

Sau lần gặp đó, vào năm 1968, bà được Đảng bộ tỉnh cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc tại Hội trường Ba Đình. Đến giờ giải lao, các đại biểu xôn xao vì không thấy Bác đến dự.

Khi đang đứng ở hội trường, bà thấy đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban Tổ chức Trung ương – đến tìm và nói: “Bác đang hỏi cô. Cô về chụp ảnh với Bác”. Lúc gặp, Bác vẫy vẫy tay gọi bà đến bên và bảo: “Bác cháu ta ngồi xuống để chụp ảnh”.

Bà ngồi xuống ôm chân Bác như một đứa cháu nhỏ. Nhìn thấy Bác gầy và xanh, bà hỏi: “Thưa Bác, Bác có khỏe không ạ?”. Bác hiền từ nhìn bà và bảo: “Bác vẫn khỏe”. Bác còn quan tâm hỏi han bà rất nhiều về chuyện chồng con, cuộc sống gia đình… Bà không ngờ đó là lần cuối cùng bà được gặp Bác và được chụp ảnh chung với Bác.

Trong 8 năm làm đại biểu Quốc hội cũng như trong quá trình công tác và về địa phương nghỉ hưu sau này, bà vẫn luôn nhớ và làm theo lời Bác dặn: Phấn đấu rèn luyện phẩm chất lối sống để mãi là người đảng viên tốt được quần chúng tin yêu.

Năm 1993, bà nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực tham gia hoạt động trong các tổ chức như Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Mặt trận Tổ quốc… Cách đây 2 năm, bà xin thôi giữ chức Chủ tịch Hội Khuyến học xã Nam Phong và bàn giao công việc cho người khác.

Trong cuộc sống hàng ngày, bà luôn xông xáo, miệng nói tay làm, sẵn sàng đi đầu giải quyết những vụ việc khó khăn, phức tạp ở địa phương với tinh thần “bất cứ lúc nào, bất cứ đâu cần là mình có mặt”.

Bà tâm niệm phải cố gắng làm tốt nhất những gì mình có thể, làm những gì có lợi cho Đảng, cho dân và rất tự hào đến nay vẫn giữ được cốt cách, đạo đức của người đảng viên. Điều hạnh phúc nhất của bà là cả 5 người con đều đã thành đạt và có gia đình êm ấm. ở bất kỳ vị trí nào, các con bà đều luôn phấn đấu để xứng đáng với truyền thống cách mạng của gia đình.

Bà Kim Dung chia sẻ, năm tới sẽ được nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Bà cũng kể thêm, có một cán bộ trên Trung ương vừa tìm về xin mượn tấm huy hiệu mà Bác đã trao tặng cho bà cách đây gần 50 năm cùng tấm huy hiệu đại biểu Quốc hội để trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà quyết định xin giữ lại tấm Huy hiệu cao quý Bác tặng để làm kỷ niệm cho mình và cho con cháu sau này.

Hữu Chiến

nguoiduatin.vn

Tới Pác Bó ngẫm tầm vóc tư duy chiến lược của Người

Tác giả: VƯƠNG QUÂN HOÀNG

Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công.

Sáng 28-1-2011 (tức ngày 25 tháng Chạp) chúng tôi tiếp tục hành trình trên mảnh đất Cao Bằng, nơi biên cương tổ quốc để được đến với địa danh Pác Bó, khu di tích lịch sử ghi mốc những ngày đầu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam, tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

…Càng đi trên con đường dẫn tới khu di tích Pác Bó, ta có cảm giác núi cao hơn, rừng bao phủ dày đặc hơn. Con đường có vẻ như hẹp lại – mặc dù rõ ràng là không phải như vậy. Tôi có cảm giác như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn để lại ở đây – hoặc tiếp tục trao cho nơi đây – rất nhiều năng lượng của Người, như thể Người chưa bao giờ nằm xuống vậy. Đó là cảm giác rất thực, thực đến mức càng cố gắng sử dụng ngôn ngữ để miêu tả, có lẽ càng làm cho điều ấy ít thực hơn đi.

Phiến đá bên đường ghi lại rằng, vào năm 1961 Hồ Chủ tịch đã trở lại thăm Pác Bó sau khi lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng 8 và Kháng chiến 1946-54 lẫy lừng bốn bể. Cờ hoa dọc hai bên con đường dẫn vào khu di tích – nơi nhiều hộ dân sinh sống làm sáng lên và ấm hơn cho vùng núi non hiểm trở nơi địa đầu tổ quốc.

Từ nơi này vào tới trung tâm của khu di tích không còn bao xa. Phía trong, đường bê tông đã trải tới tận sát những phiến đá đầu tiên dẫn vào lối nơi Người sống và làm việc từ cuối tháng 1 năm 1941, cái nơi mà Người tả rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang,” mà đa số học sinh phổ thông đều thuộc, nhưng khó mà mường tượng ra sự sang trọng của “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.”

Hang Pác Bó, nơi Bác Hồ đã từng làm việc.

Và đây cũng là lần đầu tiên tôi được tận mắt ngắm nhìn và sờ tay vào dòng suối Bác Hồ đặt tên Suối Lê Nin, chạy uốn quanh núi đá thấy ngay từ khi bước vào sân khu di tích – Núi Các-Mác (Karl Marx). Nhìn thấy “phong thủy” của sự lựa chọn sáng suốt của Già Thu thời ấy, tôi càng khẳng định đó là sự lựa chọn cho một năng lượng chiến đấu với những thách thức lớn của cả một dân tộc, cầu sự an bình, độc lập, hạnh phúc cho cả 3 miền đất nước. Có lẽ cảm nhận năng lượng ấy không khó.

Tôi có biết một giả thiết – cứ xem như được mật truyền – của nhà khoa học Nga tên là Ernest Muldashev, người được rất nhiều người Việt gần đây biết đến qua bản dịch tiếng Việt các cuốn sách “Chúng ta thoát thai từ đâu,” và “Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân,” và “Trong vòng tay Sambala.” Ông ấy có biện luận cho sự tồn tại và lý giải năng lượng của các ngọn núi lớn nơi Phật giáo Tây tạng phát triển là nhằm tiêu diệt cái ác, đem đến năng lượng thiện, sự cải hóa tâm tính con người… Nếu Muldashev có lý, thì lựa chọn 70 năm trước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đối với vùng núi biên cương này chứa đựng sự thấu hiểu cao độ những nguyên lý năng lượng vũ trụ, sự hòa hợp năng lượng tự nhiên với tâm năng của ý chí Người nuôi dưỡng vượt mọi thách thức thời cuộc… Nói ngắn gọn, chúng ta bắt gặp tiên cảnh ở nơi đây.

Trộm nghĩ, với một tầm vóc tư duy lớn lao, những khao khát theo đuổi sự nghiệp giải phóng cả một dân tộc, thống nhất một đất nước chia cắt làm 3 miền kể từ 1884 bởi những các thế lực chính trị Pháp lần lượt cai trị An Nam, Già Thu không thể câu cá nơi đây để có sự thư thái, ung dung. Cái sự “cuộc đời cách mạng thật là sang,” như tự nhủ ấy có lẽ là một cách tự nhắc nhở bản thân của Người về cái đích còn rất diệu vợi của cái ngày thành công. Sử sách vẫn còn ghi đó, ngay khi vừa tới Pác Bó, Hồ Chủ tịch đã sớm phác họa con đường chiến lược lấy Cao Bằng với địa hình thuận lợi và phong trào cách mạng có chiều sâu trong nhân dân làm điểm bắt đầu, và huấn thị phải nhanh chóng chuyển biến được thuận lợi ban đầu này thành căn cứ để lan tỏa sức mạnh tới Bắc Kạn, Thái Nguyên, từ đó tiếp cận đồng bằng và triển khai sự liên kết lực lượng các mạng các vùng miền của Việt Nam.

Thẳng thắn mà nói, đời sống vật chất tiện nghi, văn hóa nghe nhìn, bấm nút rầm rộ đã phần nhiều cản trở chúng ta thoát khỏi sự hời hợt của những khái niệm không đầu không cuối. Trong khi đó, để thấu hiểu những phát biểu chiến lược này, cần phải quay ngược lại không thời gian của giai đoạn lịch sử ấy. Một người sâu sắc như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã biết rõ rằng, mỗi một bước đi chiến lược đều liên quan đến sinh mệnh đồng chí, đồng bào, đến sự tồn vong của một lực lượng non trẻ… và phép tính ấy còn phải vượt qua rất nhiều thử thách để đi từ một chốn tiên cảnh nơi hoang sơ trở thành phong trào cách mạng rộng khắp toàn quốc chỉ hơn 4 năm sau đó. Những bất trắc như thời kỳ ngục tù 1943 dưới tay quân Tưởng là một phần của những khó khăn Người đã dự liệu.

Không có cách nào để hiều điều ấy nếu chúng ta không chịu rời chăn ấm và phòng kín điều hòa, những bữa tiệc ngon để biết trong hang đá lạnh lẽo chừng hơn 10 mét vuông ở Hang Cốc Bó, Người và 5 đồng chí thuở ban đầu chỉ có ý chí và ngọn lửa sự nghiệp dân tộc làm hơi ấm tiếp sức. Rõ ràng cháo bẹ, rau măng ấy là những món sang nhất trên đời, một khi đó là nguồn năng lượng đem đến những kỳ tích dân tộc

Nơi nghỉ của lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam cũng chỉ đơn sơ với một tấm phản bằng gỗ như thế này mà thôi. Một nhân cách vĩ đại là thế, một tài năng lỗi lạc là thế, một sự nghiệp lớn lao bao trùm là thế, nhưng nhu cầu vật chất nào có là bao.

Nhũ đá trong hang Cốc Bó được Người đặt tên “tượng Các Mác” như một minh chứng của trí tuệ phong phú, khởi nguồn cho những tư duy chiến lược, viễn kiến quốc gia mãi mãi sau này vẫn là bài học sống động của lịch sử Việt Nam.

Tôi chợt nhớ những vần thơ của Tố Hữu – không phải viết về Hồ Chủ tịch, mà trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn Trỗi – nhưng lại hợp lý vô cùng khi suy ngẫm về tầm vóc và sự nghiệp của Người:

“Có những phút làm nên lịch sử
Có cái chết hóa thành bất tử
Có những lời hơn mọi bài ca
Có con người như chân lý sinh ra
“

Con người “như chân lý sinh ra” ấy có một cuộc đời giản dị tới mức những người bình thường sống trong xã hội chúng ta ngày hôm nay không sao hình dung được đó là cuộc sống của một lãnh tụ vĩ đại, một cuộc sống được đánh đổi bằng những năm tháng tuổi trẻ bôn ba, và sự đau đáu cả đời, hy sinh mọi thú vui cá nhân… Chỉ để thế này thôi sao?

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước, Người đã chọn bản Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) làm nơi khởi sự cho công cuộc cách mạng. Vào thời kỳ đó, lương thực có lẽ chỉ là ngô. Cảnh thiếu đói triền miên phổ biến với vùng cao đất nước này. Người về sống trong hang Cốc Bó, trước đó là kho trữ lương thực của ông Lý Quốc Sùng, người ban đầu chăm lo cuộc sống cho Người. Bác sống đạm bạc, với cháo ngô, măng và rau rừng như những người dân quanh đây. Bác sống ở Cốc Bó khoảng 2 tháng. Đến đầu tháng 4-1941, chuyển sang sống ở lán Khuổi Nặm. Chuyện kể rằng, có người cán bộ bẫy được con gà lôi đẹp, muốn giữ nuôi cảnh. Bác bảo: “- Nuôi gà lôi giải trí cũng thích, nhưng hiện nay lương thực rất thiếu thốn, cơm gạo chúng ta còn chưa đủ ăn thì các chú lấy gì để nuôi gà cảnh?”

Anh em có ý kiến rằng sẽ bắt sâu bọ để nuôi gà, Bác đồng ý, nhưng chỉ được vài bữa con gà gầy rộc. Cuối cùng, anh em đành xin phép thịt con gà ấy đi. Khi Bác nhất trí, mọi người nghĩ sẽ được bữa ngon, nhưng sau khi thịt lại chỉ được phép lấy bộ lòng để nấu một bữa tươi. Còn lại thì phải băm nhỏ toàn bộ để trộn muối và rang mặn, cất trữ trong ống tre ăn dần…

Năm 1942, Bác sang Trung Quốc để gặp gỡ với chính quyền Trung ương Tưởng Giới Thạch bàn về mối quan hệ giữa hai nước trong công cuộc chống Nhật. Không may, đi đến phố Túc Vinh, huyện Đức Bảo, Quảng Tây, Trung Quốc, Bác đã bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Chúng giải Bác đi qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện thị Quảng Tây, Trung Quốc. Tháng 10-1943, mới được trả tự do. Tháng 10-1944, Bác quay trở lại Pác Bó. Khi này, sức khỏe đã giảm sút đi nhiều. Tuy vậy, Người vẫn kiên quyết từ chối những chế độ chăm sóc đặc biệt. Trong chữ “đặc biệt” ở đây chỉ là những bữa ăn có thêm chất mà thôi, chứ tuyệt nhiên chẳng có gì để so với những bữa tiệc hoành tráng, lãng phí, trang điểm bằng âm thanh “dzô dzô…” mà dân chớm có tiền của ở đô thị VN hiện đại ngày nay đãi nhau mỗi khi có cớ và cả không cớ.

Lại nói tới điều kiện, tôi vốn không tin rằng điều kiện vật chất là thứ phải có để cho con người có đủ năng lượng chinh phục khát khao. Giống như khi tôi lấy ví dụ rằng,(*) Louis Pasteur đã phát minh ra những thứ vĩ đại cho y học hiện đại (trong đó có vắc-xin chống bệnh dại) trong điều kiện nửa não đã teo, và nửa kia ngập trong bệnh tật, có nguy cơ dừng làm việc bất cứ lúc nào. Nhưng Pasteur xa quá, còn Hồ Chủ tịch thì ngay nơi đây, trong lịch sử đương đại của chính đất nước này.

Tôi đã thỉnh xin vị Thánh dân tộc để được ngồi thử vào chiếc “bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,” trong bộ dạng trang bị ấm áp của kẻ từ dưới xuôi lên, đã sẵn sàng chống chọi với cái rét vùng cao. Tuy thế, cái lạnh thấu xương vẫn cứ xuyên qua những lớp vải bảo vệ, như ngầm nhắc nhở rằng, ngủ quên trong sự ấm áp, hưởng thụ, có sức công phá và gây xói mòn nhanh chóng nghị lực, ý chí và cả đạo đức con người.

… Nhìn xuống dòng Suối Lê-Nin, vẫn thấy những đàn cá đang bơi trong nước lạnh. Những người ở đây nói, thường là cá chép. Nước suối Cao Bằng thật lạnh, tê buốt tay, và ta có thể mường tượng chỉ có những vĩ nhân với năng lượng mãnh liệt mới vừa chinh phục sự khắc nghiệt thời tiết để tạo dựng những viễn kiến lớn của tương lai một đất nước đang chìm trong kiếp nô lệ. Lại tự hỏi, không biết có bao nhiêu người được gọi là quan đầu tỉnh này, bộ kia… có thể tự mình rời bỏ những nơi ấm áp, để thấu hiểu nỗi khổ của thiên hạ, để chia sẻ nỗi đau của muôn dân, để thoát khỏi sự mụ mị của mâm cao, cỗ đầy, say đắm tửu sắc nơi phồn hoa đô thị (cho dù chỉ là sự phồn hoa giả tạo, cục bộ).

Khi cha tôi còn sống, tôi biết ông nhiều lần đã gặp Cụ Hồ, vì ông cũng là thiếu sinh quân từ khi còn nhỏ ở Liên Xô (chừng 10 tuổi hay hơn chút), mà Cụ Hồ có lịch sử quan hệ rất đặc biệt với Liên Xô, lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, cũng như đặc biệt quan tâm đến thiếu nhi. Tôi có hỏi cha tôi về sự kiện Bác mất năm 1969, và hỏi cụ thể rằng: “Thế bố có khóc không?” Câu trả lời rất ngắn gọn: “Người Việt Nam, ai cũng khóc.” Và hàng triệu bạn bè khắp năm châu bốn bể cũng thương nhớ chia sẻ mất mát này. Giờ tôi lại tự hỏi, liệu nay còn được bao nhiêu người ở bậc sang trọng, quyền chức có thể khiến cho hàng chục triệu người Việt, và bạn bè khắp năm châu rơi lệ tiếc thương được nữa?

Trước khi rời khu di tích, chúng tôi tới thắp hương tưởng nhớ Hồ Chủ tịch ở khu tưởng niệm người, cách hang Cốc Bó không xa. Nơi đây, những cây trồng kính dâng người của lớp học trò xuất sắc như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt lên trời cao, vững vàng trước nắng mưa, gió rét. Một cây lát hoa đã cao vài chục mét của ông Hồ Tế đã có vòng thân lớn khỏe… Dọc đường chúng tôi mới để ý, vùng này người dân trồng thật nhiều cây lát, dọc cả hai bên quốc lộ.

Hơn bao giờ hết, tôi ý thức được sự bé nhỏ của mình, khi đứng trước tầm vóc lớn lao của một nhân cách vĩ đại, một tư duy chiến lược xuyên không-thời gian mà Hồ Chủ tịch đã mang đến cho đất nước. Chỉ nguyên giao thông thôi, ta cũng nên hiểu rằng ngồi trên những chiếc xe hơi đời mới, tiện nghi không thiếu gì, bánh ngọt nước uống đủ cả, mà chúng ta vượt đèo tới nơi cũng ê ẩm cả người. Hãy nghĩ tới khi Người vượt núi rừng về đây, ở trong hang đá lạnh hơn 10 mét vuông, xung quanh rừng rậm chỉ có chồn sóc, rắn rết… mà nghĩ tới một tương lai độc lập dân tộc, để thấy chúng ta bé nhỏ nhường nào.

Vào lúc này đây, xin được dành phút giây này nhớ đến vị anh hùng dân tộc, Người đã mang lại sự toàn vẹn của tổ quốc Việt Nam hình chữ S thân thương, người cho tôi được nói mình là “người Việt Nam”.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Câu chuyện “Bác Hồ về thăm làng Gốm” giờ mới kể

Sơ lược lịch sử Bát Tràng

Trước năm 1961 xã Bát Tràng là xã Quang Minh gồm 3 thôn Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan. Hiện nay xã Bát Tràng có 2 thôn :Giang Cao và Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội.

Theo cuốn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Bát Tràng (1930 – 2000) thì diện tích toàn bộ xã là 164 ha với 1628 hộ và 6655 nhân khẩu. Về địa lý, xã Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía Bắc giáp xã Đông Dư , phía đông giáp xã Đa Tốn, phía nam giáp xã Xuân Quan (huyện văn giang, tỉnh Hưng Yên) Phía tây là sông Hồng. Xã Bát tràng cách trung tâm thành phố Hà Nội 12km.

Xã Bát tràng có làng nghề gốm sứ cổ truyền là làng Bát Tràng, cũng như mọi làng quê Việt Nam, làng Bát Tràng có nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ… chứng minh cho một làng quê văn hiến. Làng Bát tràng từ xa xưa đã nổi tiếng là đất học, đất làng nghề có nhiều người đỗ đạt , khoa bảng . Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Huế và Văn Miếu Bắc Ninh ( trước 1961 làng Bát Tràng thuộc tỉnh Bắc Ninh) đã ghi danh các bậc đại khoa của làng Bát Tràng gồm một trạng nguyên , tám tiến sĩ, mười quận công. Đầu thế kỷ 20, xã Bát tràng có nhà chí sĩ cách mạng Phạm Văn Tráng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bộ Châu, cùng đồng đội tiêu diệt viên tuần phủ gian tỉnh Thái Bình và đã hi sinh anh dũng. Nhiều người làng Bát Tràng đã tham gia Việt Minh, cùng nhân dân nổi lên cưới chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Làng Bát tràng cũng là nơi in ấn bài hát tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, sau này là Quốc ca của nước ta. trong kháng chiến chống pháp giữa vòng vây kìm kẹp của kẻ thù, người dân làng Bát Tràng vẫn hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu, không ngại hy sinh gian khổ, tích cực tham gia chiến đấu , phá tề trừ gian, chống giặc càn. trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân tự vệ Bát tràng đã đánh trả máy bay Mỹ ném bom vào thôn bát tràng. Thanh niên Bát tràng đã xung phong vào bộ đội và đi khắp mọi miền Đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Làng Bát tràng có nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chống Mỹ cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 8 năm 1958, TW Đảng và Chính phủ quyết định đào sông Bắc Hưng Hải nhằm phục vụ tưới tiêu cho 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương). Do việc đào sông, xã Quang Minh được tách thành hai xã: Xã Bát Tràng và xã Kim Lan.

Để phục vụ cho đào sông Bắc Hưng Hải, phải di chuyển một nửa thôn Bát Tràng ra chỗ đất mới. Trong đó, có hơn 200 ngôi nhà cổ, một ngôi chùa, các lò nung đồ gốm sứ và các cơ sở sản xuất lâu đời…

Trong tình hình các hộ dân đã di chuyển ra chỗ ở mới, mới chỉ có một số hộ dân xây dựng được nhà cửa , còn một số hộ đang chuẩn bị xây dựng nơi ăn chốn ở và cơ sỏ sản xuất thì Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.

Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng

Sáng ngày 20-2-1959, nhân dân xã Quang Minh (Tên xã ở thời điểm đó) vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ về thăm làng Bát Tràng. Cùng đi với Bác có các cán bộ của xã và huyện. Rất đông dân làng nô nức đón Người, vô cùng sung sướng được ngắm nhan dung Bác và đi theo người đến thăm các nơi.

Trên đường vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Bác ghé thăm nhà ông lang Tự (Nguyễn Trọng Đức, đã mất vào năm 1983). Nhà ông Tự đã được di chuyển ra chỗ đất mới và xây dựng xong. Ông lang Tự và con trai đi làm vắng nhà, chỉ có 2 con gái, cô chị là Nguyễn Thị Trâm 13 tuổi., cô em gái Nguyễn Thị Oanh 9 tuổi đang chơi ngoài sân, theo Bác vào Nhà.

Bác hỏi:

– Ba mẹ đi đâu rồi?

– Thưa Bác, thầy cháu và anh cháu đi làm, u cháu đi chợ.

Bác ngắm, đọc bức hoành phi và đôi câu đối ở ngoài hiên nhà thờ. Bác bảo hai cô gái.

– Các cháu nói với ba mẹ là treo câu đối không đúng vị trí, phải đổi câu bên trái sang bên phải.

Bác xuống nhà dưới, mở lồng bàn để xem mâm cơm của gia đình.

Lúc đó chưa đến bữa ăn nên mâm cơm chỉ có bát rau muống luộc. Sau ngày Bác về thăm, ông Lang Tự đã treo lại câu đôi như lời bác dặn.

Bác rời nhà ông lang Tự, vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Thời gian đó HTX này là mô hình sản xuất gốm sứ tiến bộ nhất của làng Bát Tràng, có nội dung và hình thức gần giống như một công ty cổ phần ngày nay. Tiền thân của HTX là tập đoàn sản xuất Minh Châu được thành lâp bởi một số thợ làm thuê tập hợp nhau lại và đóng góp cổ phần. Ban đầu, tập đoàn chỉ có 30 người. Trong vòng 2 năm, tập đoàn này đã phát triển thêm được gần 50 người nữa. Tháng 10 năm 1957, tập đoàn chuyển thành HTX sản xuất Minh Châu. Tháng 8-1959, HTX hợp nhất với các xí nghiệp gốm công ty hợp doanh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng. HTX sản xuất Minh Châu chỉ được thông báo vào hôm trước là sẽ có lãnh đạo của TW về thăm. Sáng hôm sau Bác đã về. Tất cả các xã viên đều sản xuất bình thường.

Bác đi qua khu bể lọc đất rồi vào khu sản xuất đứng xem anh Vũ Văn Vinh (sinh năm 1941, hiện nay đã 63 tuổi đã nghỉ hưu) in bát. Vì cảm động quá và còn ít tuổi nên anh Vinh in ra một bát còn hơi méo rồi đặt lên bàn sản phẩm.

Bác hỏi:

– Khi nung chín ra, bát có méo không?

– Thưa Bác, bát cũng méo ạ!

– Thế thì phải làm lại!

Bác quay sang chỗ anh Trần văn Tửu (sinh năm 1940, đã nghỉ hưu) đang tiện tiện bát (một công đoạn sản xuất sau khi in bát và để khô) và hỏi:

– Mỗi ngày cháu tiện được bao nhiêu cái bát?

Anh Tửu hồi hộp quá nên không trả lời được. Một anh cán bộ huyện trả lời.

– Thưa Bác , được 300 cái ạ!

– Như thế có ít không? Có thể gấp hai được không?

Rồi Bác đi ra sân, xem chị Nguyễn Thị Kiểm ( Gọi theo tên chồng là Định, năm nay 74 tuổi đã nghỉ Hưu dấn men phủ Bát . Lúc đó là mùa Xuân nhưng vẫn còn rét, công nhân phải đun nước nóng để pha vào huyễn dịch men sứ cho khỏi giá. Một cán bộ huyện Gia Lâm cầm chậu để đi lấy nước nóng.
– Để các công nhân làm, kẻo chú làm hỏng mất!

Chị Định còn mải ngắm Bác nên Bác nói:

– Cứ làm đi cháu, khéo không đổ vỡ.

Xem xong, bác hỏi chị Định:

– Các cháu làm thế này, thu nhập có cao không? Sản phẩm có chất lượng không?

Mọi người chỉ mải nhìn Bác nên không ai biết trả lời như thế nào.
Cuối cùng, Bác bá vai anh Phùng Ngọc Oanh (hiện 71 tuổi, đã nghỉ hưu) là chủ nhiệm HTX Minh Châu, căn dặn:

– Các cháu cố găng sản xuất hàng hoá sao cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ để phục vụ nhân dân!

Bác Hồ rời khỏi HTX trong tiếng hô của mọi người

Hồ chủ tịch muôn năm!

Bác rẽ xuống thăm nhà ông Lang Xương (Lê Văn Xương đã mất) làm nghề Đông dược. Nhà ông lang Xương cũng đã được xây dựng xong ở chỗ đất mới.

Bác thấy trong nhà có mâm cơm, mổ lồng bàn ra xem. bác thấy cơm trắng, đậu rán, rau muống luộc, cà muối. Bác khen nhà có cơm ngon. Rồi Bác ngồi xuống phản gỗ, nói chuyện với ông lang. Bác thấy các lọ và hộp tủ đựng thuốc có dán nhãn tên thuốc bằng chữ Hán, Bác bảo:

– Chú phải dán tên thuốc bằng chữ Quốc ngữ ở dưới chữ Nho để khi chú đi vắng, người nhà bốc thuốc cứu người.

Bác lại hỏi:

– Chú có đắt hàng không?

– Thưa Bác, không được đắt lắm ạ!

Bác nói:

– Thế thì tốt, hàng thuốc mà đắt thì dân có nhiều người bệnh. Bác ngoặt sang một ngôi nhà 2 tầng gần đấy cũng đã được xây dựng xong.
Bác hỏi

– Đây là nhà ai?

Ông Trần Văn Tuý (nguyên Phó chủ tịch xã Bát Tràng đã mất)

– Thưa Bác, nhà ông Phạm Huy Giáp đi bộ đội về ạ!

Bác vào thẳng gian hàng giữa nhà và thấy chăn chiếu trên giường được xếp gọn gàng. bác hỏi bà Trần Thị Vinh (vợ ông Giáp, nay đã 83 tuổi):

– Gia đình ta có mấy người?

– Thưa Bác, có 5 người cháu, 2 vợ chồng và một mẹ già , tổng cộng là 8 người ạ!

Bác nói;

– Thế thì có quá nhiều con.

Ngày 2- 09 – 2002, gia đình ông Phạm Huy Giáp đã lập bia đá gắn và ở tường trước ngôi nhà mà Bác đã đến thăm để kỷ niệm ngày Bác về thăm Gia đình .

Ra khỏi nhà ông Giáp, Bác vào nhà bà Nguyễn Thị Bùi (gọi theo tên chồng là bà Tín, đã mất) chưa xây dựng xong nhà ở tại khu đất mới.

Bác hỏi:

– Sao cô chưa làm nhà?

– Thưa Bác, chưa có vôi ạ!

Thế là hôm sau, bà Tín có vôi làm nhà.

Cuối cùng, Bác trở lại để nói chuyện với dân làng. Trên khu đất có một đường goòng chạy đến cửa sông Bắc Hưng Hải để chở vật liệu và dụng cụ cho việc xây dựng cửa sông này. có một chiếc cầu cao bằng gỗ vượt qua đường gòong để anh chị em công nhân chất đồ xuống xe goòng. Dân làng muốn Bác Hồ đứng trên cầu vượt để nói chuyện với nhân dân.

Bác bảo các cán bộ lãnh đạo huyện và xã:

– Các cô chú cho Bác ra chỗ nào rộng!

Bác ra khoảng đất rộng trước HTX mua bán cho nhân dân trong xã (nay là Trạm Y tế thôn Bát Tràng), Anh Trần Văn Tửu vào một gia đình ở gần đó, mượn một cái bàn gỗ nhỏ , dài chừng 1,2m và cùng mấy người khiêng ra chỗ đất rộng để Bác đứng nói chuyện với dân làng. Mọi người đứng xung quanh Bác, yên lặng và trật tự để nghe Bác nói chuyện.

Bác hỏi thăm dân làng và nói:

– Nhà nước đào sông Bắc Hưng Hải làm mất đi một phần đất của làng Bát Tràng, các cụ và dân làng có vui lòng không hay không đồng ý? Việc di chuyển vừa qua, tình hình xây dựng nơi ăn chốn ở của các gia đình như thế nào? Làng Bát Tràng cũng như xã Quang Minh trong những năm qua hoạt động và công tác có thành tích ra sao?

Ai nghe cũng ngẩn người ra, không biết nói gì vì chỉ ngắm Bác và nghe Bác nói. Cụ Phùng Văn Chạnh (đã mất) thay mặt dân làng báo cáo:

– Dân làng sản xuất rất tốt, thành tích so với năm 1957-1958 gấp rưỡi, không ai bị đói, làng Bát tràng không những giải quyết việc làm cho dân mà còn cho cả bà con ở các nơi khác.
Bác bảo:

– Thế thì tốt, Bác nghe bác cáo dân làng đã chuyển một nửa làng ra khu đất mới. Vậy tất cả bà con đã xây dựng được nhà mới chưa?

– Thưa Bác, đã xây dựng được 80%. bà con phấn khởi, an tâm, không ai thắc mắc gì cả ạ!

– Dân làng đã phải giúp đỡ nhau để ai cũng làm nhanh được nhà mới.
Mọi người đồng thanh nói:

– Vâng ạ!

Bác Hồ căn dặn:

– Bát Tràng là một làng nghề phát triển. Các cô chú phải xây dựng đường sá rộng rãi để xe chở nguyên liệu về làng và chở hàng hoá đi, làng phải có giao thông thuận lợi . Bác căn dặn: “Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

Sau đó Bác chúc sức khoẻ các cụ và dân làng rồi ra xe, rời khỏi làng Bát Tràng. Theo lời Bác dặn, các gia đình ở các đường cái đều lùi vào nhà 1m, còn các gia đình ở đường phụ đều lùi vào 5 m. Một tuần sau đó, thư ký của Bác về hỏi ông Trần Văn Tuý xem nhân dân đã lùi nhà vào chưa? Ông Tuý đưa thư ký của Bác đi xác minh và công nhận dân làng đã làm đúng theo lời Bác!

Nguồn: Giang Thanh sưu tầm

battrangceramics.com.vn

Bác Hồ – một tình yêu bao la

“Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…”. Đó là một đoạn trong bài hát rất hay và tràn đầy xúc cảm mà nhạc sĩ Thuận Yến đã viết và kính dâng lên Người.

Có thể nói, trong suốt quãng đời thơ ấu cho đến lúc truởng thành, sự hòa nhập giữa những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị đạo đức mới, đã đúc kết nên tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho quan niệm và tư tưởng đạo đức của Người luôn gần gũi, dễ hiểu đối với nhân dân. Những người lao động vốn vất vả tìm kế mưu sinh đã đến với Người vì Người đã thấu hiểu được tất cả ước mơ, khát vọng bình dị của họ.

Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của Hồ Chí Minh. Bác yêu thương con người không phân biệt miền xuôi hay miền ngược, già hay trẻ, gái hay trai, hễ là người Việt Nam yêu nước đều có chỗ trong trái tim và tấm lòng nhân ái của Người. Nhưng trước hết Bác dành tình yêu cho những người cùng khổ, những người bị áp bức, bóc lột. Bởi lẽ, hơn ai hết, Người đã chịu đựng và chứng kiến những nỗi đau đẫm máu và nước mắt của những người đi phu, những nhà yêu nước bị tàn sát, khủng bố.

Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, cho áo ấm, cơm no của mọi người nhưng riêng mình thì sống vô cùng giản dị và thanh đạm, bởi vì lẽ sống của Người là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ.

Người luôn đặt mình trong cùng nỗi đau khổ của nhân loại. Trái tim Người đập cùng nhịp đập với nhân dân. Người mong muốn những gì dân tộc ta mong muốn. Tấm lòng của Người được thể hiện bằng những câu nói chân thành nhất và những hành động cụ thể, thiết thực nhất. Suốt đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là hòa bình, độc lập cho nhân dân, cơm ăn áo mặc cho mọi người.

Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”, Bác đã cởi ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác dành cả tiền lương tháng, tiền nhuận bút, cả quần áo, khăn mặt để tặng cho các chiến sĩ và gia đình thương binh, liệt sĩ.

Khi biết con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi đến ông bức thư. Trong thư có đoạn: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Đọc xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động vì không dám nghĩ rằng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay cả họ hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến ông – một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lẽ, Bác đã từng nói: mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tấm lòng của Bác thật quảng đại, bao la!

Ngày nay, theo bước chân Người, trên đất nước ta đâu đâu cũng có những tấm lòng, những hành động thiết thực thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Làm được như vậy, Bác cũng thấy vui lòng.

Năm 1961, khi Bác về thăm lại Pắc Bó – chiến khu xưa, mặc dù đã là Chủ Tịch nước nhưng việc gì Bác cũng tự làm, ai cũng thương, cũng giúp. Bác tắm cho trẻ, chữa ghẻ, chốc cho các cháu. Đứa nào cũng được Bác cho quà và trò chuyện thân mật như ông với cháu. Bọn trẻ đứa nào cũng thích dù đó chỉ là những gói kẹo nhỏ. Hầu như tết Trung thu nào Bác cũng gửi quà và viết thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng với những tình cảm yêu mến thiết tha:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng.

Trong những buổi gặp gỡ với các cháu tại phủ Chủ tịch, Bác luôn muốn bồng bế các cháu nhỏ, ôm hôn tất cả.

Có người chiến sĩ từng bảo vệ Bác, kể lại trong niềm xúc động: có cán bộ cứ nghĩ rằng đạo đức cách mạng chỉ để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác, thấy ngay cả lúc ăn cơm, Bác cũng dạy ta thế nào là đạo đức cách mạng. Mỗi khi có món gì ngon là Bác chia sẻ cho người này, người kia cùng ăn. Cầm chén cơm, đôi lúc Bác như tư lự về điều gì đó. Bác yên lòng sao được khi miền Nam phải ăn cơm giữa mưa bom, bão đạn, ở đâu đó, các cụ già, em nhỏ đói rách, lang thang, các chiến sĩ dầm mưa chịu đói rét để kịp giờ hành quân.

Ngay cả lúc bệnh tình của Người ngày một xấu đi, Bác vẫn luôn trăn trở, thăm hỏi tình hình chiến sự ở miền Nam, bởi lẽ, miền Nam ruột thịt luôn ở trong trái tim Người.

Tuy nhiên, ở Bác, chỉ có tình yêu thương con người là chưa đủ mà nó phải gắn liền với thái độ tôn trọng con người, biết cách nâng đỡ, giáo dục con người, rộng lượng, khoan dung, đồng thời phải biết nghiêm khắc với bản thân.

Đối với những cán bộ, đảng viên có lỗi, Bao giờ Người cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Người dạy rằng: mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân để đẩy lùi phần ác chứ không phải đập cho tơi bời.

Tấm lòng nhân ái bao la của Bác luôn khoan dung cho tất cả mọi người. Nhờ vậy, Bác đã tập hợp được cả dân tộc, cả những thành phần trước đây đối lập với Người trong cuộc cách mạng giành độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Với tinh thần đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại, Bác đã cảm hóa được những người ở bên kia chiến tuyến, những phạm nhân trong lao tù. Năm 1946, Bác tới trại giam Hỏa Lò để thăm hỏi, khuyên bảo những phạm nhân ở đây. Bác ân cần ngồi bên họ, khuyên bảo họ, nghe họ phân trần, và Người đã rưng rưng nước mắt. Trong bức thư gửi cho người Pháp, Bác nói: than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau.

Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Hồ Chí Minh – Người là vầng thái dương rạng ngời, ấm áp!

Ngày nay, trong thời đại kinh tế thị trường, chúng ta đang từng bước hội nhập với thế giới, có nhiều luồng văn hóa độc hại du nhập vào nước ta. Trong đó, thanh thiếu niên là lớp người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước đang trong tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời quần chúng nhân dân, cơ hội, tham nhũng, thu vén cho bản thân mình mà quên mất mình là “đày tớ phục vụ nhân dân” như lời Bác đã dạy.

Cuộc vận động tìm hiểu và học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã và đang có một tác động sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân. Đó là một trong những giải pháp nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi những thực trạng trên. Song song đó, việc rèn luyện, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng của mỗi người phải là việc làm thường xuyên và liên tục.

Riêng bản thân tôi, một người làm việc trong ngành văn hóa thông tin, những câu chuyện viết về Người thật sự là những tài liệu vô cùng quý giá. Chúng tôi là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến công chúng. Vì thế, hơn ai hết, chúng tôi phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức mà nhất là phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như thế, chúng tôi mới đủ bản lĩnh, năng lực, và cảm thấy mình xứng đáng là những tuyên truyền viên, thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Võ Thị Cẩm Hiền (Bảo tàng Cần Thơ)

doandcdcantho.org.vn

Bài nói tại trường Cán bộ tự vệ

Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp. Về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta. Về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cướp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhảm để làm náo động lòng dân.

Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần. Những kẻ mưu sự phá hoại đất nước chúng ta, có thể tuyên truyền, đồn phao để chia rẽ sự đoàn kết. Chúng hủ hoá chúng ta về vật chất, về sinh hoạt, văn hoá, chính trị. Bởi thế các đồng chí phải học tập thành cán bộ để đi trước sự bảo vệ: Bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Không những thế, các đồng chí còn chỉ huy những anh em đi sau. Tóm lại, không những phải học cho biết kỹ thuật, mà còn phải học lý luận về đạo đức, tinh thần nữa.

Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

Lãnh đạo về kỹ thuật chưa đủ. Còn phải lãnh đạo về tinh thần. Phải là người tuyên truyền. Phải là những người nói cho dân hiểu. Có phao đồn gì, phải giải thích cho dân. Có mệnh lệnh của Chính phủ, phải giải thích cho dân biết rõ tại sao Chính phủ đã ban bố mệnh lệnh đó.

Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công.

Nói ngày 7-1-1946.
Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1-1946


Hoàng Nhật Minh

Hơn nửa thế kỉ đam mê sưu tầm tem về Bác

(Dân trí) – “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” – đó là câu giải thích cho niềm đam mê sưu tầm tem về Bác trong hơn 50 năm qua của ông Nguyễn Lương Hốt (82 tuổi) ở 10/38 Lê Thánh Tôn, TP Huế, người có nhiều bộ sưu tập tem về Bác Hồ trong CLB tem Huế.

Ông Nguyễn Lương Hốt và bộ sưu tập tem về Bác.

Hơn nửa thế kỷ sưu tầm tem, đến nay ông Hốt đã có những bộ sưu tập đồ sộ, nhiều bộ tem thuộc nhóm quý hiếm như: gần 1 vạn con tem các loại về các chủ đề như: Bác Hồ, Điện Biên Phủ, Cây Tre Việt Nam, chính quyền, thanh niên, lực lượng vũ trang, hoa, bướm, thú … trong đó, bộ tem về Bác Hồ là lớn nhất.

Câu chuyện “bén duyên” với tem được ông cho biết, đó là vào năm 1945, ông tham gia cách mạng với nhiệm vụ bình dân học vụ và xây dựng cơ sở cách mạng tại Hương Trà, TT Huế.

“Hồi đó nhận được thư gia đình, bạn bè là quý lắm, thư trở thành niềm vui chung cho mọi người trong đơn vị. Từ đó, mình luôn trân trọng những cái bì thư có tên những người thân yêu của mình gửi, cũng là lúc tôi yêu những con tem”, ông Hốt nhớ lại.

Năm 1957, ông bị thương phải ra Bắc để điều trị. Khi vết thương lành, ông vào làm việc tại văn phòng Ban thống nhất Trung ương. “Mỗi ngày văn phòng nhận rất nhiều thư của các cơ quan ở miền Nam gửi ra, thư Liên Hiệp Quốc, thư từ nước ngoài, từ đó dễ dàng thực hiện niềm say mê của mình”, ông nói.

Mãi cho đến khi về hưu (năm 1987), ông mới “toàn tâm toàn ý” cho thú chơi tem của mình. “Chơi tem ngoài giải trí, còn rất nhiều cái lợi, vừa văn học nghệ thuật, vừa trí tuệ. Đó là thú chơi tao nhã, lành mạnh. Khi đã say mê rồi thì sẽ từ bỏ được thói hư tật xấu”, ông tâm sự.

Bộ sưu tầm tem kỉ niệm 80 năm sinh nhật Bác Hồ trên tem.

Theo ông, chơi tem ngoài những kiến thức về nội dung in trên tem còn có những cái “ngón nghề” bắt buộc của người chơi tem: đó là sự tỉ mỉ, cẩn thận, cần mẫn, nhờ đó mà cũng tạo nên tính cách thông qua chơi tem.

Ông nói: Tôi học tập được ở Bác nhiều bài học như cần kiệm liêm chính, chí công vô tư qua những hình ảnh Bác đi tát nước, đi đạp nước với nhân dân qua những con tem.

Một bộ sưu tập tem màu về Bác.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác năm nay (19/5/2010), ông sẽ triển lãm bộ sưu tập “Bác Hồ sống mãi với Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam, Nhân loại thế giới” tại Nghệ An, quê Bác, sau đó sẽ dự triển lãm quốc gia tại Hà Nội, kỉ niệm 1000 năm Thăng Long.

Trước đó, ông Hốt cũng đã cho ra mắt độc giả các tỉnh 5 bộ tem quý về Bác Hồ như bộ sưu tập “Thơ ca, ca ngợi Bác Hồ trên tạp chí tem”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tem bưu chính hiện nay”, “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp”… Trong đó, bộ tem “Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp” đã đoạt giải khuyến khích tại triển lãm các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên năm 2004. Bộ tem này sau đó mang đi dự triển lãm tranh tại Bảo tàng trung ương và đoạt giải đồng năm 2005.

Trọng Bình

dantri.com.vn

Bài nói tại Đại hội Thanh niên cứu quốc toàn xứ

Về tình hình quốc tế: Các nước chống phát xít trong suốt thời kỳ chiến tranh đã đồng tâm hiệp lực với nhau để đánh tụi phát xít, nay phát xít đã bị thua rồi, thái độ của các nước ấy cũng đổi khác. Thái độ ấy gọi nôm na là ai lo phận nấy, đó là điều thường tình, lần Chiến tranh thế giới thứ nhất chúng ta đã thấy như thế. Tuy nhiên điều đó có ảnh hưởng ít nhiều đến ta. Các nước lo phần các nước ấy, chúng ta phải lo phần chúng ta; chúng ta lo tìm bạn bè, nhưng trước hết chúng ta phải tổ chức lực lượng của chính mình, mà muốn có lực lượng ấy cần nhất là phải biết đoàn kết.

Về tình hình bên trong: Dân ta nhờ có trào lưu thế giới, nhờ có sự đoàn kết của toàn thể dân tộc, nên đã tranh thủ được tự do độc lập. Nhưng nền tự do độc lập ấy còn chưa kiên cố, còn ở bước đầu, còn phải kinh qua nhiều nỗi gay go, khó khăn. Hiện thời, hai nỗi khó khăn là sự kháng chiến ở Nam Bộ và nạn đói kém ở Bắc Bộ.

Trước tình thế này, thanh niên có những nhiệm vụ gì?

1) Chuẩn bị luôn luôn. Một mặt ủng hộ sự kháng chiến của anh em Nam Bộ; một mặt chuẩn bị đợi đến lượt mình phải chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ.

2) Cứu nạn đói. Mang gạo từ chỗ có đến chỗ không. Quyên gạo. Khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào.

3) Sửa soạn cho cuộc Tổng tuyển cử. Tuyên truyền cho dân chúng hiểu cái bổn phận của mỗi người trong cuộc tổng tuyển cử thế nào.

Vài lời phê bình thanh niên: Trong tổ chức thanh niên vẫn còn giữ một xu hướng chật hẹp, không bao bọc được nhiều giai tầng, không kéo được đại đa số thanh niên. Chẳng hạn như trong tổ chức còn phân ra nam nữ, không giúp đỡ cho các chị em nữ thanh niên phát triển, số phụ nữ cũng ngang bằng số đàn ông, vậy mà gạt các chị em ra ngoài, tổ chức thanh niên có khác gì đi có một chân.

Một điều nữa là thanh niên có hăng hái. Nhưng hăng hái không chưa đủ, phải có kế hoạch, có phương hướng. Trước khi làm một việc gì phải cẩn thận suy xét xem việc đó thành công thì ảnh hưởng thế nào, thất bại thì ảnh hưởng thế nào; có khi việc thì thất bại mà ảnh hưởng lại tốt, và trái lại.

Nhiệm vụ chính của thanh niên là xung phong trong ba việc cần yếu nói trên. Và khẩu hiệu là: làm, phải cho thắng, nhất định không cho bại..

Nói ngày 25-11-1945.
Báo Cứu quốc, số 101, ngày 26-11-1945


Hoàng Nhật Minh

“Chủ tịch Hồ Chí Minh – người Anh hùng dân tộc vĩ đại”

Tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta…”.

>> “Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam”

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm.

Sáng 18/5, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ kỷ niệm có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Tới dự có các Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội; đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và thành phố Hà Nội, các lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện các tầng lớp nhân dân Thủ đô Hà Nội; đại diện các đoàn ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Hà Nội.

Đọc diễn văn tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã ôn lại những cống hiến to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc của tư tưởng, tấm gương, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Việt Nam và thế giới.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ, tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx-Lenin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Với những thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, của cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dân tộc ta không chỉ thi hành “Bản án chế độ thực dân” ở Việt Nam, giành lại độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới vì tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, mà còn cùng với các dân tộc thuộc địa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đấu tranh loại bỏ vết nhơ áp bức của chủ nghĩa thực dân, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng”.

Bày tỏ niềm tự hào về những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã đạt được trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tổng Bí thư chỉ rõ, để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định lập trường và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn Đảng, toàn dân ta cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới.

Tổng Bí thư khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản vô giá của Đảng và dân tộc ta. Giá trị thực tiễn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, “nói đi đôi với làm.” Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta quyết tâm thực hiện thành công, hiện thực hóa những di huấn của Người trong thực tiễn cuộc sống.

Tổng Bí thư kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sống, chiến đấu, lao động, học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta phát triển mạnh mẽ, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong không khí trang trọng, chị Nguyễn Thùy An, gương điển hình về học tập và làm theo lời Bác của Tỉnh đoàn Nghệ An, đại diện cho tuổi trẻ cả nước phát biểu bày tỏ những suy nghĩ, tình cảm, niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ. Tuổi trẻ cả nước nguyện suốt đời trung thành với lý tưởng cách mạng cao đẹp mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, tiếp tục cống hiến, nỗ lực học tập, rèn luyện theo gương Bác Hồ, để đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc đối mới xây dựng đất nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nêu rõ, năm 1987, đại hội đồng UNESCO đã thông qua nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Bày bỏ tình cảm ngưỡng mộ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Katherine Muller Marin xúc động nói, hôm nay, nhiều người trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Người vì Hồ Chí Minh được coi là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Bà Katherine Muller Marin đã nêu bật những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho các lĩnh vực hoạt động của UNESCO như văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa, truyền thông, bình đẳng giới, môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giáo dục, ngoại giao.

Bà Katherine Muller Marin kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói nổi tiếng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Câu nói này còn rất có giá trị và tác động mạnh mẽ trong bối cảnh thế giới ngày nay, bà Katherine Muller Marin khẳng định.

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi kỷ niệm ngày sinh của Người, chương trình nghệ thuật đặc sắc do các nghệ sỹ, diễn viên biểu diễn tại buổi lễ đã ngợi ca công ơn trời biển của Bác Hồ đối với dân tộc Việt Nam.

Theo Hương Thủy
Vietnam+

dantri.com.vn