Thư viện

Phục kích tiêu diệt “Pháo đài bay”

QĐND – Thực hiện chỉ thị của Quân chủng Phòng không – Không quân, từ cuối năm 1968, Binh chủng Không quân tiếp tục tổ chức một bộ phận lực lượng ở Quân khu 4, phối hợp cùng các lực lượng phòng không đánh máy bay địch, bảo vệ tuyến đường vận tải giao thông chiến lược. Đặc biệt là nghiên cứu quy luật, thủ đoạn hoạt động của máy bay B-52 và tìm cách đánh máy bay B-52 của Không quân Mỹ.

Cơ quan tham mưu binh chủng và các trung đoàn không quân xây dựng kế hoạch, tổ chức cho một số phi công có kinh nghiệm chiến đấu huấn luyện phương án đánh máy bay B-52 và máy bay AC-130 của địch. Bộ tư lệnh Binh chủng đã chọn lựa, tổ chức huấn luyện một số phi công Mig-17 và Mig-21 đánh địch ban đêm ở tầm cao trong điều kiện thời tiết phức tạp; tổ chức cho một số biên đội bí mật vào các sân bay Quân khu 4 làm nhiệm vụ phục kích máy bay B-52.

Phi công Đinh Tôn, người phát hiện máy bay B-52 đầu tiên của lực lượng không quân. Ảnh tư liệu

Binh chủng Không quân cử một số cán bộ tham mưu, phi công lên đỉnh đèo Mụ Giạ (Quảng Bình) trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của máy bay B-52 địch cả ban ngày và ban đêm.

Ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn từ Đa Phúc bay vào Sân bay Đồng Hới, đến 19 giờ 13 phút cùng ngày, Đinh Tôn nhận lệnh xuất kích. Với quyết tâm cao không để lỡ thời cơ tiêu diệt địch, anh cho Mig-21 cất cánh, phát hiện được hai chiếc máy bay B-52, nhưng ở thế đối đầu không đánh được nên phải quay về hạ cánh ở Sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa).

Ngày 20-10-1971, Binh chủng tiếp tục đưa một biên đội 2 chiếc Mig-21 vào trực chiến ở Sân bay Vinh và một biên đội Mig-21 vào trực chiến ở Sân bay Anh Sơn. Đến 20 giờ cùng ngày, phát hiện máy bay B-52 địch hoạt động ở vùng trời Sầm Nưa, phi công Vũ Đình Rạng trực bay ở Sân bay Anh Sơn nhận lệnh xuất kích. Vào 20 giờ 46 phút cùng ngày, Mig-21 còn cách tốp B-52 khoảng 100km, theo lệnh chỉ huy anh thả thùng dầu phụ, kéo máy bay lên cao 10.000m. Còn cách địch 15km, Vũ Đình Rạng bật ra-đa và phát hiện B-52 cách 11km ở phía trước, anh tăng tốc độ cho máy bay tiếp cận gần mục tiêu, đến cự ly 8km anh bắn một quả tên lửa. Khi vòng máy bay lại, nhìn thấy một chiếc B-52 khác, anh bắn tiếp quả tên lửa thứ hai rồi nhanh chóng thoát ly, hạ cánh an toàn lúc 21 giờ 15 phút xuống Sân bay Anh Sơn.

Theo xác nhận của Không quân Mỹ, trận này một chiếc B-52 bị hỏng động cơ do trúng tên lửa, buộc phải hạ cánh ở Sân bay U-Đôn, Thái Lan. Đây là trận đánh đầu tiên của không quân ta với máy bay B-52, một trận đánh được chuẩn bị công phu, chỉ huy và dẫn đường tốt, giữ được bí mật bất ngờ cho đến khi nổ súng. Tuy chưa bắn rơi tại chỗ máy bay địch, song đây là thực tế đã chứng minh, máy bay Mig-21 của ta có thể bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của địch.

HOÀNG NAM
qdnd.vn

Bộ đồ bay của Trung tướng Phạm Tuân

Đã 40 năm, nhưng Trung tướng Phạm Tuân vẫn nhớ như in trận đánh B-52 đêm 27/12/1972.

Sau khi cất cánh trong đêm tối, ông bay giữa các lớp mây ở độ cao 500m, khoảng cách đến mục tiêu là 10km. Đúng lúc đó ông nhận được lệnh tấn công. Vì muốn tiếp cận mục tiêu gần hơn nữa để ăn chắc, ông đã thực hiện mệnh lệnh đó chậm lại. Sau khi phóng 2 quả tên lửa, cho máy bay bổ nhào xuống, ông đưa máy bay xuống độ cao an toàn và hạ cánh. Mấy giờ sau có tin thông báo chính thức Không quân Việt Nam đã bắn rơi B52 của Mỹ. Cái tên Phạm Tuân luôn được nhắc tới với thành tích là phi công đầu tiên của Việt Nam bắn rơi B52, phi công đầu tiên của Việt Nam bay vào vũ trụ…

Nhưng ít ai biết, để có những chiến công vang dội ấy, ông đã phải trải qua bao gian khổ hiểm nguy. Một trong những tình huống hiểm nghèo đối với Anh hùng phạm Tuân là ngày 18/12/1972, máy bay Mỹ bất ngờ tấn công sân bay của ta. Đường băng cất cánh, đài chỉ huy phá hủy, liên lạc bị cắt. Phạm Tuân là phi công đầu tiên cất cánh lên bầu trời sau khi có báo động.

Bộ đồ bay của Trung tướng Phạm Tuân.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhiên liệu trên máy bay sắp cạn, cần hạ cánh khẩn cấp, Phạm Tuân đã quyết định hạ cánh ở sân bay vừa bị đánh bom. Đêm tối, không hề có đèn pha trên sân bay, máy bay hạ cánh chỉ nhờ ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pha. Khi máy bay vừa chạm đất thì lập tức bị tụt xuống hố bom. Tốc độ hạ cánh của MIG – 21 khá cao và chiếc máy bay đã lộn nhào rồi trượt đi khoảng 300m, bụng hướng lên trời và quay trở lại 180 độ. Chiếc máy bay gần như đã bị phá hủy, may mắn là nó nhanh chóng dừng lại và không bốc cháy. Phạm Tuân bị va đập rất mạnh trong buồng lái, nhưng nhờ bộ đồ bay ông đã thoát chết.

Nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, Trung tướng Phạm Tuân vẫn cất giữ bộ đồ bay và chiếc mũ phi công ở nơi trang trọng nhất trong nhà mình, như một lời nhắc nhở về một thời gian khổ và hào hùng. Hiện nay chiếc mũ đã cũ đi rất nhiều, những móc khóa không còn nguyên vẹn, ngay cả tấm kính chắn trước mặt cũng ố mờ với vài vệt xước, bộ quần áo sờn bạc, dù được sản xuất tại Liên xô bằng thứ vải khá đặc biệt… Ông nâng niu kỉ vật này không chỉ vì những chiến công lừng lẫy mà một phần bởi nó gắn với những kỷ niệm sinh tử.

Phạm Cường
baodatviet.vn

Đánh máy bay địch bằng mọi quy mô, từ mọi hướng

QĐND – “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của thế trận phòng không nhân dân (PKND) và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam, được phát huy và kế thừa từ truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đỉnh cao của PKND là chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, cuối tháng 12-1972, đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B -52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương lân cận.

Nội dung cơ bản nhất của PKND là tổ chức phòng tránh, thông báo, báo động và đánh trả không quân địch. Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng lực lượng không quân chiến lược và phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất để tiến công ta, với tham vọng “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”. Biện pháp và thủ đoạn phổ biến là đi đôi với đánh phá ác liệt bằng không quân, hải quân, từ leo thang từng bước đến tiến công ồ ạt các thành phố, thị xã lớn, các huyết mạch giao thông thủy, bộ, các cơ sở kinh tế, văn hóa, các vùng đông dân, hệ thống đê điều, đập nước… hòng cứu vãn sự bị động về chiến lược trên chiến trường miền Nam.

Xác máy bay F -111 bị quân dân miền Bắc bắn rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972. Ảnh tư liệu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thực hiện một cuộc chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không từ Trung ương đến các địa phương, nhất là các thành phố lớn đều có sự chuẩn bị chủ động về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tổ chức PKND. Các hoạt động SSCĐ, sơ tán, bảo đảm giao thông, vận tải, y tế, đánh trả được triển khai nhanh chóng. Các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… cũng được chuyển hướng phù hợp với tình hình. Trên cơ sở một cuộc chiến tranh nhân dân, PKND đã nhanh chóng hình thành với đầy đủ yêu cầu và nội dung, đó là toàn dân vừa đánh máy bay, vây bắt giặc lái, vừa làm công tác phòng tránh, thông báo, báo động; toàn dân khắc phục hậu quả, cứu hỏa, cứu sập, cứu thương; toàn dân làm công tác giao thông vận tải, toàn dân vừa chiến đấu vừa sản xuất, vừa bảo vệ hậu phương, vừa phục vụ tiền tuyến.

Một yếu tố làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là lực lượng phòng không quốc gia và PKND đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ. Bằng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không quốc gia, PKND, quân và dân ta đã tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không rộng khắp, hiểm hóc, nhiều tầng, nhiều lớp; sử dụng cả lối đánh phân tán và tập trung; đánh máy bay địch bằng mọi quy mô; đánh địch từ xa đến gần; đánh bằng cả lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động; đánh địch từ tầm thấp, đến tầm trung và tầm cao; đánh địch đến từ mọi hướng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng không quân Mỹ. Chúng ta đã xây dựng, tổ chức lực lượng với khẩu hiệu: “Toàn dân bắn máy bay Mỹ, toàn dân tham gia vây bắt giặc lái; già trẻ, trai, gái bằng súng bộ binh đều tham gia bắn máy bay Mỹ, mỗi người dân là một chiến sĩ”. Nét phát triển sáng tạo của nghệ thuật tổ chức lực lượng tác chiến PKND chống không quân hiện đại của Mỹ là cách đánh độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không ”, lực lượng bắn máy bay của dân quân, tự vệ đã tổ chức và kiện toàn các đơn vị dân quân “tay cày, tay súng” và tự vệ “tay búa, tay súng”. Đến tháng 12-1972, ta có 54.000 chiến sĩ dân quân, tự vệ với hàng trăm súng, pháo phòng không các loại. Các đơn vị tự vệ vừa bám chắc nhiệm vụ sản xuất, vừa sẵn sàng tham gia chiến đấu, khắc phục địa hình chật hẹp và tầm bắn hạn chế, hầu hết tận dụng nóc nhà cao tầng trong nội thành để bố trí các trận địa súng máy cao xạ (12,7mm, 14,5mm…). ở các khu phố của Ba Đình, Hoàn Kiếm, ta bố trí hỏa lực tự vệ khá tập trung. Như vậy, với lực lượng dân quân, tự vệ có nhiệm vụ đánh máy bay địch ở tầm thấp, xen kẽ với các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa đánh địch ở tầm trung và tầm cao, chúng ta có lưới lửa phòng không dày đặc của ba thứ quân được tổ chức chặt chẽ theo mệnh lệnh chỉ huy thống nhất, tổ chức đánh trả máy bay Mỹ đạt hiệu quả cao. Lực lượng PKND mà nòng cốt là dân quân, tự vệ trong 12 ngày đêm đã bắn rơi 11 máy bay địch, chiếm tỷ lệ 13,5% tổng số máy bay bị bắn rơi trong chiến dịch. Có những trận đánh xuất sắc như cụm súng máy phòng không 14, 5mm của tự vệ Hà Nội bố trí ở Vân Đồn, đã bắn rơi 1 máy bay F -111…

Lưới lửa PKND trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch, đánh bại không quân của đế quốc Mỹ, giành chiến thắng vĩ đại trong thời đại Hồ Chí Minh…

Thiếu tướng Ngô Mạnh Hà, Cục trưởng Cục PKLQ
qdnd.vn

Vẫn còn nhiều bài học từ chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

(ĐVO) Do Viện Lịch sử quân sự tổ chức, nằm trong các hoạt động kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, hội thảo đã tập hợp được các gần 70 tham luận quý giá từ các nhà khoa học trong và ngoài quân đội. Đặc biệt, hội thảo còn có sự tham gia của các nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia sự kiện trên nhiều lĩnh vực.

Các tham luận tại hội thảo đã tập trung khẳng định, làm sáng tỏ sâu sắc những vấn đề về tầm nhìn chiến lược của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; Mối quan hệ biện chứng giữa thắng lợi trên chiến trường và đàm phán ngoại giao;…

Thiếu tướng PGS, TS  Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam báo cáo tổng thuật hội thảo.

Trong đó, các ý kiến đánh giá Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là một trong 10 trận đánh lịch sử, một trong ba trận quyết chiến chiến lược diễn ra tại Thăng Long – Hà Nội trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Bên cạnh những bài học đã tổng kết từ chiến thắng này còn có rất nhiều bài học khác cần được đúc rút, tổng kết để làm phong phú thêm kho tri thức lịch sử, chính trị, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo và đại diện của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân chủng Phòng không – Không quân, thành ủy Hà Nội, các vị lão thành cách mạng.

>> Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến
>> Điện Biên Phủ trên không: Phục dựng hình ảnh B-52, SAM-2, MiG-21
>> Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2

>> Triển lãm sách báo ‘Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không’
>> 70 tham luận mới về chiến thắng B-52

baodatviet.vn

Triển lãm sách báo ‘Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không’

(ĐVO) Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012), thực hiện kế hoạch số 232/KH-TH của Tổng cục Chính trị về tổ chức các hoạt động kỷ niệm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Thư viện Quân đội tổ chức triển lãm sách báo chuyên đề “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không bản hùng ca của thế kỷ XX”.

Tại triển lãm, thư viện sẽ giới thiệu hơn 800 cuốn sách và tư liệu xuất bản ở trong và ngoài nước viết về Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không được lựa chọn trong kho sách phong phú và đa dạng của thư viện.

Các cuốn sách tập trung chủ yếu vào các nội dung như: sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Quân đội Nhân dân anh hùng – Truyền thống vẻ vang; Chiến tranh phá hoại của Đế Quốc Mỹ; Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không; Ý nghĩa bài học chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”; Thế giới viết về chiến thắng của nhân dân ta; hình ảnh…

Cùng với sách báo, tư liệu giấy, tại cuộc triển lãm này Thư viện Quân đội còn giới thiệu các hình ảnh, thư mục, cơ sở dữ liệu điện tử, tài liệu viết về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Thông qua triển lãm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” giúp đông đảo bạn đọc trong và ngoài quân đội có thêm tư liệu để hiểu sâu sức và toàn diện hơn về chiến công vĩ đại này của dân tộc ta, về ý nghĩa to lớn của thắng lợi mà nhân dân ta và quân đội ta đã phải trải qua bao gian khổ, hy sinh mới giành được.

Triển lãm sẽ mở cửa từ ngày 21/11-31/12/2012 phục vụ rộng rãi mọi đối tượng có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

>> 70 tham luận mới về chiến thắng B-52

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)
>> Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52′ trong bảo tàng Hà Nội

>> Phòng không Việt Nam và xu hướng thế giới
>> Chùm ảnh về ‘rồng lửa’ của Quân đội nhân dân Việt Nam

Chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam:

>> ‘Chúng tôi từng chiến đấu ở Việt Nam’
>> Quật đổ siêu pháo đài bay
>> Ký ức một vị tướng

baodatviet.vn

S-300 sẵn sàng bảo vệ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

Về Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng không – Không quân), đơn vị chủ công đánh B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vào những ngày tháng 11, chúng tôi được chứng kiến khí thế luyện tập sôi nổi của các chiến sĩ tên lửa hôm nay.

Tại Đoàn Tên lửa phòng không 64, ngay sau khi Sở chỉ huy Đoàn chuyển đơn vị vào cấp 1, tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng máy các loại xe tác chiến gầm vang, báo hiệu “trận đánh” của tên lửa S-300 sắp bắt đầu…

“Khắc tinh” của “giặc trời”

Ngay sau khi nhận lệnh từ Sở chỉ huy cấp trên, Sở chỉ huy Đoàn Tên lửa phòng không 64 (Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không – Không quân) nhanh chóng chuyển toàn đoàn vào cấp 1. Các xe tác chiến nhanh chóng cơ động triển khai chiếm lĩnh các công sự chiến đấu. Công tác triển khai hoàn thành trước chỉ tiêu thời gian cho phép. Các kíp chiến đấu nhanh chóng vận hành triển khai vũ khí trang bị về trạng thái chiến đấu.

Tại vị trí xe điều khiển, theo lệnh của chỉ huy bắn, Thiếu tá Nguyễn Trần Luyện, Phó đoàn trưởng Tham mưu trưởng Đoàn 64, các thành phần khẩn trương kiểm tra chức năng, đánh giá khả năng sẵn sàng chiến đấu của khí tài.

Sau khoảng một phút 30 giây, tham số trên các màn hiện sóng và tín hiệu đèn báo khí tài tốt, sẵn sàng chiến đấu. Giải quạt chiến đấu quay về hướng X; đài radar phát hiện mục tiêu mọi độ cao tiến hành sục sạo phát hiện mục tiêu trong 360 độ; kíp đài điều khiển sục sạo ở hướng được chỉ định.

Trên màn hiện sóng, mục tiêu được xác định là máy bay ném bom chiến lược, đang bay ở cự ly 200km, độ cao 10km, tốc độ 250m/s. Trung úy Nguyễn Văn Đạt, Sĩ quan bắt bám sát, cùng các trắc thủ căng mắt quản lý chặt mục tiêu.

Khi mục tiêu vào đến cự ly 160km, Thiếu tá Nguyễn Trần Luyện hạ lệnh phóng! “Quả đạn” bay vút vào không trung. Tại cự ly 148km, đạn gặp mục tiêu. Tín hiệu mục tiêu ngay lập tức bị xóa trên màn hình, khẳng định mục tiêu đã bị tiêu diệt gọn.

Lúc này, gương mặt đẫm mồ hôi của các sĩ quan trên xe điều khiển mới giãn ra. Đây là một trong nhiều tình huống đánh địch tiến công đường không, bảo vệ mục tiêu của Đoàn 64.

Xe điều khiển cơ động chiếm lĩnh trận địa.

Theo Trung tá Nguyễn Quốc Văn, Đoàn trưởng Đoàn 64, các tình huống luyện tập được đưa ra đều sát thực tế chiến đấu, sát đặc thù nhiệm vụ của đơn vị nên trình độ cá nhân, khả năng hiệp đồng của các thành phần kíp chiến đấu được nâng lên qua từng bài tập…

“Với vũ khí trang bị hiện có và với trình độ của các kíp chiến đấu, chúng tôi khẳng định có thể đánh thắng vũ khí công nghệ cao của địch trong tác chiến đường không, khi có tình huống xảy ra”, Trung tá Văn khẳng định chắc nịch.

Coi trọng tự đào tạo chuyển loại

Đoàn 64 là một trong những đơn vị của Quân chủng Phòng không – Không quân được đầu tư các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đơn cử như tổ hợp tên lửa phòng không S-300. Đây là loại vũ khí có hỏa lực mạnh, độ chính xác và tính chống nhiễu cao, có thể đối chọi có hiệu quả với các loại tên lửa và máy bay hiện đại của đối phương trong chiến tranh công nghệ cao.

Để có thể tiếp thu và làm chủ số khí tài nói trên, các cán bộ của Đoàn có nền tảng kiến thức về khoa học kỹ thuật, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú đã được tuyển chọn và đưa đi đào tạo chuyển loại vũ khí, khí tài mới ở nước bạn và được bắn đạn thật nghiệm thu khí tài. Khi về đơn vị, số cán bộ này đã tiến hành tự đào tạo chuyển loại cho sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của đơn vị.

Thượng tá Bùi Văn Khỏa, Chính trị viên Đoàn 64 khẳng định: “Bằng nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, nên công tác tự đào tạo chuyển loại khí tài mới là nhiệm vụ đạt kết quả nổi bật của Đoàn trong những năm qua. Đối với sĩ quan mới về đơn vị, sau 3 tháng huấn luyện, đơn vị sẽ tiến hành đánh giá bước đầu; sau 6 tháng phải đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sau một năm phải đạt khá trở lên trên cương vị được giao”.

Nhân viên tiêu đồ quản lý chắc các mục tiêu trên không.

Bám sát phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, các kíp chiến đấu của Đoàn 64 đã được huấn luyện từ đơn giản đến phức tạp, từ cá nhân đến hiệp đồng, từ lý thuyết đến thực hành; huấn luyện “khan” kết hợp nhuần nhuyễn với huấn luyện điện; tập trung huấn luyện các bài bắn cơ bản, đánh mục tiêu trên không, đặc biệt mục tiêu là các loại vũ khí công nghệ cao. Trong huấn luyện thực hiện tốt quan điểm cấp trên dạy cấp dưới, người đã được chuyển loại truyền đạt cho người chưa được chuyển loại.

Cùng với huấn luyện tại chỗ, Đoàn 64 còn tích cực tham gia huấn luyện diễn tập vòng tổng hợp, huấn luyện đêm…nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện thời gian. Tính đến nay, 100% kíp chiến đấu của Đoàn 64 đều đảm nhiệm tốt nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu.

“Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng bộ Đoàn 64 luôn đạt đơn vị vững mạnh toàn diện và là đơn vị huấn luyện giỏi nhiều năm liên tục. Đặc biệt, năm 2012, tham gia diễn tập vòng tổng hợp của Sư đoàn 361, đơn vị được Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân tặng bằng khen; các lần trực sẵn sàng chiến đấu tăng cường đều hoàn thành tốt nhiệm vụ”, Đoàn trưởng Nguyễn Quốc Văn cho biết.

Giữa những ngày cả nước đang hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, được hòa mình vào không khí luyện tập của các chiến sĩ tên lửa S-300, chúng tôi thêm tin, thế hệ các chiến sĩ phòng không – không quân hôm nay, trong đó có bộ đội tên lửa S-300 sẽ tiếp nối xứng đáng truyền thống của lớp cha anh đi trước, luôn cảnh giác cao độ, sẵn sàng chiến đấu thắng lợi, vì sự bình yên của bầu trời Tổ quốc…

baodatviet.vn

Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến

Trong năm 1972, Việt Nam nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc hai tổ hợp tên lửa phòng không mới, SAM-3 và Hồng Kỳ 2 (HQ-2).

(ĐVO) Câu hỏi đặt ra là liệu 2 loại tên lửa phòng không mới này có tham gia chiến dịch bảo vệ thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc trong 12 ngày đêm cuối năm 1972?

“Nuối tiếc” SAM-3

SAM-3 là hệ thống tên lửa đất đối không (Liên Xô gọi là S-125 Pechora) do Cục Thiết kế Trung ương Almaz nghiên cứu phát triển và đưa vào sử dụng từ năm 1961.

SAM-3 có tầm bắn hiệu quả ngắn hơn và độ cao diệt mục tiêu thấp hơn so với SA-2. Nhưng tên lửa rất hiệu quả khi tấn công mục tiêu bay thấp, cơ động cao và có khả năng kháng nhiễu điện tử mạnh hơn so với SA-2.

Một hệ thống SAM-3 gồm: 3 bệ phóng (mỗi bệ 4 đạn) và đài điều khiển hỏa lực SNR-125.

Đạn tên lửa dùng cho SAM-3 thiết kế 2 tầng động cơ: động cơ khởi tốc nhiên liệu rắn (thời gian đốt 2,6 giây) và động cơ hành trình nhiên liệu rắn (thời gian đốt 18,7 giây).

Trên tầng động cơ khởi tốc có gắn 4 cánh vây hình chữ nhật, ở phần thân trên có 4 cánh vây cố định và 4 vây chuyển động nhỏ hơn ở đầu tên lửa. Tên lửa được điều khiển bằng sóng vô tuyến.

Hai biến thể đạn chính dùng cho SAM-3 gồm: đạn V-600 có đầu đạn nổ tạo mảnh (nặng 60kg) và tầm bắn 15.000m; đạn V-601 lắp đầu đạn nổ tạo mảnh (nặng 70kg, số mảnh tạo 4.500), vùng sát thương tới 35.000m, độ cao bay 18.000m.

Được đưa vào phục vụ trong lực lượng phòng không Liên Xô từ những năm 1960 nhưng mãi tới năm 1972, Liên Xô bắt đầu viện trợ tên lửa SAM-3 cho Việt Nam.

Nếu các trung đoàn SAM-3 kịp thời triển khai chiến đấu thì có thể chúng ta đã bắn rơi nhiều B-52 hơn.

Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, từ tháng 6/1972, cán bộ chiến sĩ của ta mới sang Liên Xô học tập sử dụng SAM-3. “SAM-3 có tốc độ bắn rất nhanh, độ cao tuy không lớn hơn so với SA-2 nhưng ở trong tầm với tới B-52. SAM-3 có xác suất trúng mục tiêu cao hơn”, ông nói.

Ngày 5/12/1972, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 277 (trang bị SAM-3) về tới Hà Nội, đóng quân tại Vân Nội, Vân Trì, Đông Anh, Hà Nội. Tại đây, trung đoàn đã củng cố lại tổ chức, sắp xếp lại cán bộ, quán triệt, nhiệm vụ, chuẩn bị trận địa, chờ vũ khí – khí tài về là triển khai chiến đấu ngay.

Tới đêm 18/12, Trung đoàn 276 – đơn vị SAM-3 thứ hai về đến ga Kép (Bắc Giang) được lệnh dừng lại. Trung đoàn cho bộ đội xuống tàu, kịp thời sơ tán về làng Kép Hạ để chờ các đoàn tàu chở vũ khí khí tài về triển khai chiến đấu.

Với quyết tâm cao, mặc mưa bom bão đạn, địch đánh phá suốt ngày đêm, ban chỉ huy trung đoàn 276 tập trung mọi khả năng cho tiểu đoàn hỏa lực 169 hoàn chỉnh đồng bộ bước vào chiến dịch trước. Tiểu đoàn 169 đã chiếm lĩnh và triển khai trận địa ở Bắc Hồng (Đông Anh, Hà Nội), các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật làm việc hết sức mình triển khai nhanh dây chuyền lắp ráp được 4 quả đạn SAM-3 chuyển cho tiểu đoàn 169.

Rất tiếc, khi công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất, tên lửa đã nằm trên bệ sẵn sàng diệt B-52 thì chiến dịch phòng không đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của Đế Quốc Mỹ vào Hà Nội kết thúc.

“Trong niềm hân hoan đón mừng chiến thắng của dân tộc, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 276 ai cũng nuối tiếc đã không kịp phóng đạn đánh vào những chiếc máy bay cuối cùng của địch trên bầu trời Hà Nội. Nhiều người đã thốt lên: Nếu như đạn về đồng bộ với vũ khí khí tài thì trung đoàn đã phát huy được hỏa lực tham gia những trận đánh cuối cùng bảo vệ Hà Nội”, tài liệu Lịch sử Trung đoàn 276 viết.

Thất vọng Hồng Kỳ 2

Hệ thống tên lửa phòng không tầm trung – cao Hồng Kỳ 2 (HQ-2) do Trung Quốc thiết kế cải tiến từ thế hệ Hồng Kỳ 1 (HQ-1) được nước này sao chép từ hệ thống S-75 Dvina của Liên Xô.

Trang bị của một hệ thống tên lửa HQ-2 tương tự hệ thống S-75 Dvina của Liên Xô với 6 bệ phóng và đài điều khiển hỏa lực cùng các xe hỗ trợ khác.

Đạn tên lửa HQ-2 thiết kế 2 tầng gồm tầng khởi tốc dùng nhiên liệu rắn và động cơ hành trình dùng nhiên liệu lỏng. Tên lửa lắp đầu đạn nổ tạo mảnh nặng 190kg, vùng sát thương 12-32km, độ cao diệt mục tiêu 12-32km, tốc độ hành trình 1.150m/s. Đạn HQ-2 có độ chính xác trong phát bắn đầu tiên là 68%.

So với HQ-1, HQ-2 được giới thiệu là cải tiến mạnh về khả năng kháng nhiễu điện tử đối phó với các loại máy bay Mỹ. Nhưng thực tế, trên chiến trường Việt Nam, HQ-2 không thể hiện được nhiều.

Dù đã được cải tiến nhưng HQ-2 không thể đối phó với nhiễu điện tử của Mỹ.

Đầu những năm 1970, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam một Trung đoàn tên lửa HQ-2.

Ngày 6/5/1972, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 73/QĐ-QP giao cho Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức thêm Trung đoàn tên lửa 268 do đồng chí Trịnh Đình Xuyến làm trung đoàn trưởng và đồng chí Yến làm chính ủy.

Trung đoàn 268 biên chế 3 tiểu đoàn hỏa lực 38-39-49 và tiểu đoàn kỹ thuật 50. Đoàn 268 trang bị hệ thống tên lửa đất đối không HQ-2.

Toàn thể cán bộ và chiến sĩ trung đoàn do chuyên gia Trung Quốc trực tiếp huấn luyện. Ngay sau khi huấn luyện xong, hệ thống HQ-2 được đưa vào chiến đấu thử nghiệm nhưng không phát huy hiệu quả trong điều kiện nhiễu điện tử phức tạp.

“Hồng Kỳ 2 là loại tên lửa cải tiến từ S-75 Dvina nhưng cải tiến không triệt để. Trong quá trình chiến đấu, Hồng Kỳ 2 rất khó bắt mục tiêu trong điều kiện bị đối phương gây nhiễu điện tử mạnh, đạn phóng lên rơi xuống đất”, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết.

Như vậy, cả hai hệ thống tên lửa mới của phòng không Việt Nam trong năm 1972 là SAM-3 và HQ-2 đều không tham chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Trong khi việc không thể triển khai kịp SAM-3 là điều đáng tiếc thì HQ-2 là sự thất vọng khi không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật chiến đấu.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 tại Hưng yên. Ông nhập ngũ tháng 2/1960, năm 1972 ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) cấp bậc Thượng úy. Năm 1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Năm 1999, ông được phong hàm Trung tướng – Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 2003, ông chính thức nghỉ hưu.

baodatviet.vn

Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2

(ĐVO) Vậy thực hư chuyện này là như thế nào?

SAM-2 thừa sức với tới B-52

Máy bay ném bom chiến lược B-52 là thiết kế đồ sộ của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ. Chiếc máy bay có chiều dài lên tới 48,5m, sải cánh 56,4m, cao tới 12,4m, trọng lượng cất cánh tối đa tới 220 tấn.

B-52 trang bị 4 cặp (8 chiếc) động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy cho phép đưa “con quái vật 220 tấn” lên trời cao, đạt tốc độ tối đa hơn 1.000km/h, bán kính tác chiến hơn 7.000km. B-52 có khả năng mang gần 30 tấn bom trong khoang.

Đặc biệt, trong khi bay ném bom, B-52 thường bay ở độ cao ném bom hiệu quả 11-12.000m, trần bay khi ném bom tối đa là 17.000m.

Trong khi đó, về phần mình, SAM-2 trang bị cho bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam có vùng sát thương xa đến 34km, độ cao đạt 27km, hoàn toàn thừa sức vượt qua trần bay của B-52 để bắn hạ “siêu pháo đài bay” này.

SAM-2 là cái tên mà phương Tây định danh Hệ thống tên lửa đất đối không tầm cao S-75 Dvina.

S-75 Dvina thừa sức tiêu diệt B-52 mà không cần “nối tầng”.

Trong quá trình sử dụng ở Liên Xô và Việt Nam, SAM-2 nhiều lần bắn hạ mục tiêu ở độ cao 19-20km.

Ngày 1/5/1960, phòng không Liên Xô đã sử dụng tên lửa SAM-2 để bắn hạ một máy bay trinh thám tầng cao U-2 của Mỹ ở độ cao 20km.

Còn ở Việt Nam, ngày 26/7/1965, Tiểu đoàn 64 (Trung đoàn 263) đã dùng SAM-2 bắn rơi tại chỗ một máy bay không người lái tầng cao BQM-34A ở độ cao tới 19km.

Ngày 7/2/1966, Tiểu đoàn 84 (Trung đoàn 238) bắn rơi tại chỗ một BQM-34A ở độ cao 20km.

Như vậy, qua những thí dụ kể trên và so sánh thông số kỹ thuật cơ bản của SAM-2 và B-52 có thể khẳng định không cần thiết phải “nối tầng” SAM-2.

Cũng nhận xét về vấn đề này, trong cuốn “Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam” tác giả Lưu Trọng Lân viết: “Chúng ta thấy rõ việc cải tiến nâng cao tầm bắn cho tên lửa SAM-2 là không cần thiết, mà trong thực tế là không hề diễn ra. Đây là sự hiểu lầm đáng tiếc của một vài nhà báo”.

Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, trong quá trình triển khai chiến đấu trong nhiều năm, bộ đội Việt Nam cùng chuyên gia Liên Xô thực hiện một số cải tiến bộ khí tài nhưng là ở những mặt khác, không phải là “nối tầng”.

Thiếu đạn tên lửa đánh B-52?

Bên cạnh thông tin sai lệch về “nối tầng tên lửa đánh B-52”, một thông tin khác cũng gây tranh cãi trong nhiều năm là vấn đề thiếu đạn để đánh B-52. Thực tế việc thiếu đạn trong chiến dịch 12 ngày đêm không hoàn toàn chính xác.

Trao đổi với Đất Việt về vấn đề này Trung tướng Nguyễn văn Phiệt cho biết: “Trong cả chiến dịch 12 ngày đêm, chúng ta bắn chưa đến 350 quả đạn, nếu so với kho đạn ở Hà Nội thì còn hơn 300 quả. Như vậy, chúng ta vẫn còn thừa đạn đánh B-52. Đó là chưa kể việc chúng ta “hồi sinh” hàng trăm quả đạn hỏng, hết thời gian phục vụ kịp thời đánh B-52”.

Cũng theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, việc thiếu đạn ở các tiểu đoàn hỏa lực chủ yếu là do lắp ráp đạn không kịp. Đạn tên lửa SAM-2 khi chuyển từ Liên Xô sang đều ở trong tình trạng tháo rời. Từng bộ phận tên lửa được sếp gọn trong các thùng bảo quản. Chúng sẽ được các đơn vị kỹ thuật (thường gọi là Tiểu đoàn 5) lắp ráp lại, kiểm tra hệ thống điện, nạp nhiên liệu và chuyển đến tiểu đoàn hỏa lực.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ bầu trời Hà Nội, dù rất nỗ lực, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 5 làm việc với cường độ cao hết mức nhưng vẫn không thể nào đáp ứng được yêu cầu của các tiểu đoàn hỏa lực nên mới xảy ra tình trạng “trắng đạn” trên bệ phóng tại một số khẩu đội tên lửa.

“Một vấn đề nữa cũng làm chậm việc chuyển đạn cho các đơn vị hỏa lực, các xe chở đạn không thể vào trận địa do các tuyến đường giao thông bị đánh phá dữ dội. Ví dụ, trong trận đánh rạng ngày 21/12, Trung đoàn chúng tôi có 4 tiểu đoàn thì 2 tiểu đoàn hết đạn, tiểu đoàn 57 còn 4 đạn, tiểu đoàn 93 còn 5 đạn. Nhưng xe tiếp đạn không về được do đường bị đánh phá nên không thể vào chuyển đạn mặc dù chỉ cách trận địa vài kilomet”, Trung tướng Phiệt cho biết.

Bộ đội tên lửa đưa đạn vào bệ phóng.

Ngoài ra, còn có một số sự hiểu lầm khác do phim ảnh chưa truyền tải đúng thực tế. Trong bộ phim “Hà Nội 12 ngày đêm” của đạo diễn Bùi Đình Hạc, có cảnh cán bộ lắp ráp đạn nói với người chiến sĩ lái xe rằng “đơn vị nào đánh giỏi thì cho nhiều đạn”. Đây là một câu nói hoàn toàn sai!

Thực tế, việc chuyển đạn từ Tiểu đoàn này sang Tiểu đoàn khác là điều bất khả thi. Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, đạn tên lửa của mỗi Tiểu đoàn – Trung đoàn tên lửa được chuyển sang có “cốt, phách” (khác nhau. Việc thay đạn tên lửa từ đơn vị này sang đơn vị khác phải thay đúng “cốt, phách” mới điều khiển được. Việc thay thế này sẽ mất rất nhiều thời gian.

“Cốt” ở đây có thể được hiểu là tần số các rãnh đạn (của đài điểu khiển), để đạn tên lửa khi phóng đi (nhiều quả cùng lúc) sẽ không bị lẫn với cánh sóng điều khiển mỗi đài điều khiển hỏa lực hay trong cùng một đài điểu khiển.

Mỗi tiểu đoàn được phân 3 “cốt” (6 đạn trên bệ, 2 đạn/cốt) đài điểu khiển có 3 rãnh  để điều khiển các quả tên lửa. Trong một trung đoàn, mỗi tiểu đoàn có một “phách” riêng để khi phóng đạn không lẫn sóng điều khiển mỗi đài giữa các tiểu đoàn.

Mỗi tiểu đoàn SAM-2 trang bị 24 quả đạn, trong đó 6 quả nằm trên bệ phóng, 12 quả nằm ở tiểu đoàn kỹ thuật (trong đó có 6 quả đã lắp ráp nhưng chưa kiểm tra và 6 quả chưa lắp ráp).

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 tại Hưng yên. Ông nhập ngũ tháng 2/1960, năm 1972 ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) cấp bậc Thượng úy. Năm 1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Năm 1999, ông được phong hàm Trung tướng – Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 2003, ông chính thức nghỉ hưu.

baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 4)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bộ đội Không quân Nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công xuất sắc bắn hạ các máy bay hiện đại của địch.

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa
>> Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời
>> Kỳ 3: Rồng lửa SA-2 – Nỗi kinh hoàng của giặc trời

(ĐVO) Kỳ 3: “Én bạc” tiêu diệt “Con ma, Thần Sấm”

Sao Đỏ – Yên Thế cùng ghi công

Ngày 23/8/1967, trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923 lần đầu chiến đấu phối hợp giữa loại máy bay khác nhau, MiG-17 và MiG-21 giành thắng lợi bắn rơi 5 máy bay địch.

Nhận lệnh từ sở chỉ huy, lúc 14h58 phi công Nguyễn Nhật Chiêu (số 1) và Nguyễn Văn Cốc (số 2) thuộc trung đoàn 921 (Sao Đỏ) cất cánh từ Nội Bài bay về hướng Tuyên Quang.

Phát hiện địch số lượng 20 chiếc, cự ly 10-15km, ở tầm thích hợp phi công Nguyễn Nhật Chiêu ấn nút phóng tên lửa bắn hạ một F-4. Khi chuẩn bị thoát ly, ông tiếp tục thấy  8 máy bay địch. Cách 1.500m, âm lượng bắt mục tiêu của đầu tự dẫn tên lửa đạt lớn nhất, ông ấn nút phóng quả thứ hai đánh trúng chiếc số 2 của địch. Về gần tới sân bay, Nguyễn Nhật Chiêu lại thấy thêm 4 F-105 nhưng không có điều kiện công kích tiếp.

Bay số 2 – phi công Nguyễn Văn Cốc tăng tốc lên ngang số 1, cách địch 1.000m, ông ấn nút phóng tên lửa diệt thêm một F-4. Có thể nói, đây là lần đầu tiên biên đội MiG-21 vận dụng thành công chiến thuật “số 2 đồng thời công kích” đạt hiệu quả cao.

Phi công Nguyễn Nhật Chiêu (trái) và Nguyễn Văn Cốc (phải).

Cùng thời gian trong ngày 23/8, tại sân bay Sao Vàng – căn cứ trung đoàn tiêm kích 923 Yên Thế, biên đội 4 máy bay MiG-17 do các phi công Cao Thanh Tịnh (số 1) – Lê Văn Phong (số 2) – Nguyễn Văn Thọ (số 3) – Lê Hồng Điệp (số 4) cất cánh đánh địch.

Dưới sự dẫn đường của Sở chỉ huy, khi đang giảm độ cao, số 1 phát hiện tốp F-105, cự ly còn cách 300m ông xiết cò bắn hạ một F-105. Số 2 làm nhiệm vụ yểm hộ, bảo vệ cho số 1 công kích. Khi thấy 4 chiếc F-4 lao về phía mình, ở cự ly cho phép ông bắn hạ một F-4. Tuy nhiên, trên đường trở về sân bay, máy bay anh bị trúng đạn địch, anh đã anh dũng hi sinh.

Số 3 phát hiện địch ở khu vực đỉnh núi Tam Đảo, nhiều lần công kích nhưng không trúng mục tiêu. Số 4 làm nhiệm vụ yểm họ cho số 3 cho tới khi trận đánh kết thúc. Cả hai đã về hạ cánh an toàn.

1 chọi 36

Sáng ngày 3/1/1968, phát hiện máy bay địch vào đánh Hà Nội, cả hai trung đoàn 921 và 923 đồng loạt xuất kích tiêu diệt địch. Trong trận này, ta đã diệt hai chiếc F-105. Tuy nhiên, khi trở về sân bay một MiG-21 của trung đoàn 921 bị hỏng do hạ cánh ngoài đường băng. Vì thế lực lượng trực chiến chỉ còn đúng một chiếc.

15h chiều ngày 3/1/1968, địch tiếp tục huy động 36 chiếc máy bay gồm cường kích F-105 và tiêm kích F-4 hộ tống từ phía Yên Châu, Sơn La về hướng Hà Nội. Được phép của Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân và Bộ tư lệnh Không quân, trung đoàn quyết định cho chiếc MiG-21 duy nhất do phi công Hà Văn Chúc điều khiển xuất kích đánh địch.

Bay tới vùng trời Yên Châu, Sơn La, đồng chí phát hiện ba tốp địch bay phía trước, một tốp F-4 lướt qua trên đầu. Một tốp F-4 từ phía khác phát hiện ra máy bay ta liền lao tới đón đầu.

Sau nhiều lần được sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên dẫn vào công kích địch, máy bay của Hà Văn Chúc và quân địch đã vượt qua quãng đường dài quần lượn, bám đuổi nhau về tới vùng trời Tam Đảo, phát hiện phía trước  8 chiếc F-105 đang dần khép vào đội hình, đồng chí lao xuống.

Đến cự ly có lợi, anh giữ máy bay ổn định và ấn nút phóng tên lửa vào một máy bay địch, F-105 bùng cháy. Đội hình địch rối loạn, tan vỡ ngay lập tức. Đặc biệt, tên giặc lái nhảy dù là Đại tá liên đội phó Không quân Mỹ tại Korat (Thái Lan) đồng thời cũng chỉ huy 35 chiếc còn lại.

Chiều hôm đó, bộ đội tên lửa còn bắn rơi thêm 2 máy bay địch nữa. Phi công Hà Văn Chúc đã ứng dụng có hiệu quả chiến thuật đánh nhanh, thọc sâu, bằng lực lượng rất nhỏ đánh vào đội hình lớn của địch. Điều này góp phần phát triển lên một bước mới về nghệ thuật tác chiến của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Sao Đỏ – Lam Sơn sát cánh

Ngày 27/6/1972, lực lượng không quân ta lần đầu tiên đánh thử nghiệm thành công phương pháp chiến đấu hiệp đồng giữa các trung đoàn không quân tiêm kích khác nhau trên cùng một mặt trận, một hướng đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Nhận báo cáo phát hiện có hai phi công Mỹ nhảy dù tại khu vực Mộc Châu, đồng thời theo dõi trên bản tiêu đồ thấy xuất hiện máy bay địch bay về hướng Mộc Châu. Sở chỉ huy binh chủng không quân nhận định: lực lượng vào tìm cứu phi công Mỹ nhảy dù và ra lệnh đánh theo phương án đã định.

11h49 từ sân bay Nội Bài (trung đoàn 921 Sao Đỏ), biên đội Phạm Phú Thái – Bùi Thanh Liêm cất cánh. Tới 11h53, từ sân bay Kép (trung đoàn 927 Lam Sơn), biên đội Nguyễn Đức Soát – Ngô Duy Thư cất cánh.

Cả hai biên đội được dẫn vào Mộc Châu tạo thành hai mũi phát hiện và công kích tiêu diệt địch. Biên đội Soát – Thư liên tục được sở chỉ huy thông báo địch, thực hiện phương pháp đồng thời công kích. Nguyễn Đức Soát (số 1) tiếp cận mục tiêu, đường ngắm ổn định, ấn nút phóng liên tiếp 2 quả tên lửa đánh trúng chiếc F-4. Đồng thời, khi số 1 công kích, Ngô Duy Thư (số 2) tiếp cận và bắn tên lửa diệt thêm một F-4.

Cùng thời gian, Phạm Phú Thái (số 1) – Bùi Thanh Liêm (số 2) được mặt đất dẫn tới khu vực Nghĩa Lộ – Vạn yên. Ở độ cao 3.000m, điểm ngắm ổn định, số 1 phóng tên lửa diệt một F-4, tiếp đến số 2 phóng một quả  tên lửa diệt chiếc F-4 còn lại.

Trận đánh kết thúc thắng lợi, công tác tổ chức chỉ huy cũng như phi công đầy sáng tạo, mưu trí. Cả 4 phi công bắn rơi 4 máy bay F-4 của địch và về hạ cánh an toàn.

Chui vào “điểm chết”

Ngày 5/7/1972, nhận lệnh từ cấp trên, biên đội MiG-21 do Nguyễn Tiến Sâm – Hạ Vĩnh Thành trực tại sân bay Nội Bài cất cánh đánh địch bảo vệ đường số 1, tuyến giao thông huyết mạch đưa hàng viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa vào nước ta.

Sau 22 phút, từ lúc cất cánh tới lúc trở về sân bay hạ cánh an toàn, biên đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cản phá thành công, phá vỡ đội hình địch, bắn rơi 2 chiếc F-4 ở khu vực Thái Nguyên.

Biên đội tiêm kích MiG-21 xuất kích.

Đặc biệt, trong trận đánh phi công Nguyễn Tiến Sâm sau khi bắn trúng một chiếc F-4, do anh bay quá gần nên cả chiếc MiG-21 đã lao vào điểm nổ của máy bay địch. Thiếu oxy làm động cơ tắt máy, anh bình tĩnh xử lý mở máy trên không và trở về sân bay an toàn trong niềm vui sướng của đồng đội. Chiếc MiG-21 bị ám khói đen toàn bộ do chui qua điểm nổ máy bay địch.

Lấy máy bay địch đánh địch

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, bộ đội không quân cũng tham gia chiến đấu với trận đánh ngày 28/4 oanh tạc sân bay Tân Sơn Nhất phá hủy nhiều máy bay ngụy quân.

Điểm đặc biệt trong chiến công này, không quân ta đã dùng máy bay chiến lợi phẩm A-37 thu giữ được từ những sân bay ở các tỉnh đã giải phóng để đánh địch. Phi đội đặc biệt này lấy tên “phi đội quyết thắng” với 6 phi công: Nguyễn Thành Trung, Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Mai Vương, Trần Văn On, Hán Văn Quảng cùng 5 máy bay cường kích A-37.

Các phi công ta từ ngoài bắc được khẩn trương huấn luyện chuyển loại từ MiG-17 sang A-37. Chỉ sau 5 ngày bay chuyển loại, 16h17 phút cả phi đội  đã cất cánh. Mặc dù thời tiết phức tạp, Nguyễn Thành Trung (số 1) vẫn bình tĩnh dẫn đội hình bay đến sân bay Tân Sơn Nhất.

Từ độ cao khoảng 1.600m, Nguyễn Thành Trung bổ nhào cắt bom nhưng bom không ra. Từ Đễ (số 2) cắt bom 2 quả/lượt, cả 4 quả bom rơi trúng mục tiêu, những cột khói bốc lên giữa khu vực để máy bay. Trong ống nghe của các phi công vang lên tiếng quát hỏi hoảng hốt: “A-37 của phi đoàn nào?” không ai trả lời.

Tiếp đó, Nguyễn Văn Lục (số 3), Hoàng Mai Vương và Trần Văn On (số 4),  Hán Văn Quảng (số 5) bổ nhào cắt bom. Những trái bom đều rơi trúng mục tiêu. Không quân ngụy hoàn toàn bị bất ngờ, tới lúc số 5 vào cắt bom chúng mới biết. Qua vô tuyến, phi công ta nghe được những tiếng kêu: “Tân Sơn Nhất bị oanh kích”.

Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng đồng chí Lê Văn Tri, Đào Đình Luyện chụp ảnh kỷ niệm với Phi đội Quyết Thắng.

Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Văn Lục nhanh chóng vào cắt bom lần thứ hai, nhưng đến lần thứ ba Nguyễn Thành Trung phải cắt bom bằng hệ thống “khẩn cấp”, 4 quả bom mới rời khỏi máy bay, một khối lửa lớn bùng lên từ bãi đỗ những máy bay F-5 đang đậu.

Các phi công thoát ly trở về trong điều kiện mây dày đặc, đạn pháo phòng không của địch ở dinh Độc Lập bắn lên. Tất cả lần lượt hạ cánh an toàn lúc 18h5 phút.

Trận tập kích đã phá hủy và làm hỏng nặng cụm máy bay tập trung ở khu vực sân đỗ gồm 24 chiếc A-37 và F-5E, 4 chiếc máy bay vận tải, tiêu diệt hàng trăm tên địch.

Những tiếng bom của Không quân Nhân dân Việt Nam được xem như hiệu lệnh tổng công kích cho đại quân ta đồng loạt nổ súng, tiến công giải phóng Sài Gòn, cắt cầu hàng không di tản của địch.

Bằng những máy bay và bom đạn vừa thủ được của địch, không quân ta đã đánh vào một trong những sào huyệt cuối cùng của Mỹ – Ngụy, góp phần giành thắng lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Lê Nam
baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 3)

Bộ đội tên lửa đã lập nhiều công lớn bắn hạ hàng trăm loại máy bay hiện đại của địch, đặc biệt là “pháo đài bay” B-52 tạo nên chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”.

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa
>> Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời

(ĐVO) Kỳ 3: Rồng lửa SA-2 – Nỗi kinh hoàng của giặc trời

Thiếu tá Hải quân John McCain.

Hạ “chim ưng” trên vùng cấm

Trưa ngày 26/10/1967, tại trận địa Dương Tế, tiểu đoàn tên lửa 61 phát sóng bắt được một tốp máy bay địch ở phương vị 360, cự ly 23km, độ cao 4.600m. Khi các đơn vị khác phát hiện mục tiêu, cự ly đã quá gần không còn khả năng xạ kích (phóng tên lửa).

Duy nhất chỉ có tiểu đoàn 61 đủ khả năng đánh nhưng mục tiêu lại bay trong vùng cấm bắn (góc cấm bắn để bảo đảm an toàn cho mặt đất). Đối với các cán bộ chiến sĩ, đánh hay không là quyết định rất táo bạo và chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc với trách nhiệm rất cao.

Vì trong phạm vi xác xuất nhỏ bé nào đó, tên lửa không có điều khiển hoặc khi phóng tên lửa lên đúng mục tiêu bổ nhào, đạn rơi xuống đất giữa lòng Hà Nội có thể gây tổn thất khó lường.

Nhưng nếu không đánh để địch vào Hà Nội, ném bom nhà máy điện Yên Phụ – nguồn cung cấp điện cả thành phố, hậu quả và trách nhiệm của đơn vị với thủ đô rất lớn.

Đồng chí chính ủy Nguyễn Ly Sơn ngồi trong xe điều khiển đã hạ lệnh cho tiểu đoàn tiêu diệt tốp mục tiêu này.

Ngay lập tức, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Lan chỉ huy, sĩ quan điều khiển Nguyễn Xuân Đài, trắc thủ góc tà Trịnh Văn Hưng, trắc thủ phương vị Nguyễn Trọng Vinh, trắc thủ cự ly Lê Quang Khánh tập trung cao độ vào nhiệm vụ phóng và lái quả đạn tới mục tiêu.

A-4E “Chim ưng nhà trời” mang loại bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình Valley đã chiếm được đỉnh cao bổ nhào lao xuống nhà máy điện Yên Phụ.

Chiếc A-4E xuống độ cao 1.800m thì tên lửa gặp nổ, mục tiêu bị tiêu diệt và rơi xuống bãi xi măng nhà máy điện lúc 11h57 khi chưa kịp thả bom. Viên phi công – Thiếu tá Jonh McCain bị bắt sống.

Vít cổ “kẻ phá đám” A-6A

22h1 ngày 24/3/1967, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng 77 Nguyễn Ngọc Điền và kíp điều khiển (gồm sĩ quan điều khiển Đinh Thế Văn, trắc thủ góc tà Nguyễn Văn Cư, trắc thủ cự ly Kiều Thanh tịnh, trắc thủ phương vị Nguyễn Văn Đức) đã bắn rơi tại chỗ một chiếc A-6A ở đồng Đông sân bay Kép. Đây là chiếc A-6A bị bắn rơi tại chỗ đầu tiên của đơn vị.

Chiếc thắng ngày 24/3/1967 của tiểu đoàn 77 góp phần cùng lực lượng phòng không đánh thắng thủ đoạn bay thấp, đánh lén ban đêm của địch.

Từ năm 1966 tới 1972, tiểu đoàn 77 còn bắn rơi thêm 18 máy bay Mỹ các loại. Ngày 3/9/1973, tiểu đoàn được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Rồng lửa bắt ‘bóng ma’ AC-130

Trong kháng chiến chống Mỹ, tuyến đường Trường Sơn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong con đường vận tải vũ khí – hàng hóa từ Bắc vào Nam. Không quân Mỹ đã tìm mọi cách, dùng nhiều chiến thuật, huy động các loại phương tiện cực kỳ hiện đại nhằm ngăn chặn tuyến đường này.

Một trong những phương tiện nguy hiểm mà Mỹ sử dụng, AC-130 – máy bay vận tải quân sự được cải tiến thành máy bay trinh sát vũ trang.

AC-130 trang bị hệ thống quan sát hồng ngoại và khuyếch đại ánh sáng mờ tới 4 vạn lần, nên nó phát hiện mục tiêu dưới đất rất chính xác. AC-130 có hỏa lực mạnh: pháo bắn thẳng cỡ nòng 40mm và đại liên 6 nòng cỡ 20mm.

Loại máy bay này đã gây cho ta rất nhiều thiệt hại. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh đoàn 559 và Bộ tư lệnh phòng không – Không quân chỉ thị cho sư đoàn phòng không 377 nghiên cứu tiêu diệt AC-130 nhằm đảm bảo luôn thông suốt tuyến đường vận chuyển chiến lược.

AC-130 đền tội trên con đường huyền thoại Trường Sơn.

Tiểu đoàn 67, trung đoàn tên lửa 275 hành quân vào chiến trường đưa “rồng lửa” SA-2 lùng diệt AC-130. Trên đường đi, tiểu đoàn 67 bị không quân địch phát hiện và đánh hư hỏng một vài phương tiện, khí tài nhưng với tinh thần quyết tâm các chiến sĩ vẫn thiết lập trận địa sẵn sàng đón tiêu diệt địch.

2h10 ngày 29/10/1972, đài radar phát hiện một tốp máy bay ở cự ly 28km, phương vị 220 độ, kíp trắc thủ xác định đây là AC-130. Trắc thủ số 2 qua đường dây thông tin đọc phần tử của mục tiêu cho nhân viên tiêu đồ đánh dấu đường bay lên bảng tiêu đồ hỏa lực 5×5. Đài 2 đã sẵn sàng, ba rãnh, hai bệ, hai đạn.

Tới 2h50, tình huống khó đã phát sinh khi hỏng đường truyền tín hiệu từ đài P12 sang đài điều khiển, tiểu đoàn phó Nguyễn Lành quyết định đánh theo phần tử của tiêu đồ hỏa lực 5×5, khi mục tiêu vào đến cự ly 20km, đài 2 nâng cao thế, chuẩn bị liên tục 2 đạn và đồng bộ.

Mục tiêu vào tới 15km, kíp điều khiển (gồm sĩ quan điều khiển Hà Viết Bá, trắc thủ góc tà Nguyễn Đăng Dương, trắc thủ phương vị Ngô Văn Bằng, trắc thủ cự ly Ngô Văn Chàng) mở công tắc ăng ten phát hiện AC-130 ở cự ly 14km, phương vị 192 độ, độ cao 3km. Dù trên màn hình sóng có nhiễu râu, nhiễu tích cực song các chiến sĩ vẫn thấy mục tiêu.

Tiểu đoàn phó Nguyễn Lành ra lệnh: “tiêu diệt tốp số 1, phương pháp điều khiển K, hai quả, ngòi nổ vô tuyến, cự ly phóng 13km, phương vị 192 độ, giãn cách 6 giây”. Ngay tức khắc, sĩ quan điều khiển ấn nút phóng hai quả đạn, “rồng lửa” rời bệ lao về phía “bóng ma” AC-130.

Đạn điều khiển gặp mục tiêu ở cự ly 11km, phương vị 193 độ, độ cao 3km. Chiếc AC-130 bốc cháy rơi tại chỗ ở bản Nopo cách trận địa 6km lúc 3h.

Đây là trận đánh thực hiện phóng hai quả đạn tên lửa bắn rơi tại chỗ một chiếc AC-130 đầu tiên của trung đoàn và là chiếc rơi tại chỗ đầu tiên trong mùa khô 1971-1972.

Chiến thắng đã buộc AC-130 phải ngừng hoạt động một thời gian ở khu vực này, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch vận chuyển Quang Trung giành thắng lợi.

5 phút hai B-52

Trong chiến dịch bảo vệ vùng trời miền Bắc tháng 12/1972 trước cuộc tập kích đường không tàn bạo của Đế quốc Mỹ. Bộ đội tên lửa lập nhiều chiến công, điển hình là những trận tiêu diệt máy bay ném bom chiến lược B-52 – niềm tự hào của Không quân Mỹ.

Sáng ngày 21/12/1972, lúc 4h36 tiểu đoàn 57 (trung đoàn tên lửa 261) được lệnh vào chiến đấu cấp 1, cấp trên giao nhiệm vụ cho đơn vị phải tiêu diệt tốp B-52 số 518.

Tình hình lúc đó, đài radar nhìn vòng P12 bị nhiễu nặng…khi mục tiêu đến cự ly 55km, đài K8-60 bắt được mục tiêu. Đài trưởng radar ra lệnh phóng quả đạn thứ nhất đánh máy bay địch ở “cự ly 55km, phương vị 3300, cao 12km” nhưng đạn tên lửa hỏng.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt lệnh phóng tiếp quả thứ 2, cự ly 25km, đạn bay đến mục tiêu, B52 bị tiêu diệt, bốc cháy lúc 5h9.

Trên bệ phóng trận địa tiểu đoàn chỉ còn một quả đạn, đồng chí Nguyễn Văn Phiệt hội ý nhanh với chính trị viên Nguyễn Văn Ưởng quyết tâm bắn rơi tại chỗ máy bay địch, tiêu diệt tốp 532, mục tiêu đã vào cự ly 38km.

Sau khi nâng cao thế kiểm tra không thấy mục tiêu, chỉ có nhiễu, tiểu đoàn trưởng ra lệnh: “hạ cao thế, phương pháp 3 điểm, cự ly 35km, ngòi nổ 11,5 giây chậm”.

Quả đạn duy nhất rời bệ nhằm tốp B-52 lao tới…sĩ quan điều khiển vừa quan sát vừa đọc cự ly bay của đạn: “cự ly 15km, 18km, 20km, 22km, 24km, nổ” B-52 bị tiêu diệt lúc 5h14.

Chỉ sau 5 phút chiến đấu, bằng 2 quả đạn tiểu đoàn 57 đã bắn rơi hai B-52 trong đó có một chiếc rơi tại chỗ ở núi Đôi, Đa Phúc, Vĩnh Phú. Trận đánh khẳng định hiệu quả phương pháp xạ kích, bắn phát một (một quả đạn bắn vào tiêu diệt một B-52).

Bắn rơi “nguyên chiếc” B-52

23h ngày 27/12/1972, tiểu đoàn tên lửa 72 đánh địch từ hướng Đông Nam vào khu vực Văn Điển, Giáp Bát.

Tiểu đoàn 72 gồm: tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chất, sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng, trắc thủ phương vị Trương Đăng Khoa, trắc thủ góc tà Nguyễn Đức Chiêu, Lê Đông Hưởng , chính trị viên Dương Đình Phương, trắc thủ cự ly Nguyễn Văn Tuyền bám sát chính xác giải nhiễu B-52, phát hiện 3 máy bay B-52 ở độ cao 11.000m lao tới, tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt ra lệnh đánh địch bằng phương pháp T, chế độ giãn cách 6 giây.

Hai quả đạn được phóng lên ở cự ly 34, 32 và nổ trúng mục tiêu, máy bay cháy rất lớn. Điểm đặc biệt, chiếc B-52 này còn nguyên bom đạn chưa kịp ném vào mục tiêu. Cả máy bay B-52 rơi xuống quật Ba Đình, một phần xác phơi mình trên đường Hoàng Hoa Thám, cạnh vườn Bách Thảo. Phần khác rơi xuống Hồ Hữu Tiệp, 2 động cơ rơi xuống nhà bà Nguyễn Thị Nề ở tổ 51 Ngọc Hà.

Chiến công bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của địch là chiếc B-52 duy nhất trong tổng số 16 chiếc rơi tại chỗ còn nguyên bom đạn và rơi xuống đường phố thủ đô Hà Nội gần khu vực cơ quan Trung ương của ta làm việc.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)

Lê Nam
baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 2)

Bộ đội radar không chỉ đóng vai trò “con mắt” canh giữ, mà còn làm nhiệm vụ dẫn đường cho phi công ta tiêu diệt địch trên vùng trời, vùng biển.

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa

Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời

Tiêm kích đánh biển

Ngày 19/4/1972, bộ đội không quân đã làm nên chiến công xuất sắc dùng máy bay tiêm kích tấn công tàu Mỹ ngoài vùng biển Quảng Bình. Góp công lớn trong trận đánh này là bộ đội radar. Các chiến sĩ phân đội radar 403, trung đoàn 291 (gồm đại đội trưởng Nguyễn Văn Nhàn, đài trưởng Phan Thanh Hài, trắc thủ số 1 Lương Anh Tiễn, trắc thủ số 2 Nguyễn Xuân Hoan) hiệp đồng với biên đội MiG-17 do phi công Nguyễn Văn Bảy B (số 1) và Lê Xuân Dị (số 2) điều khiển.

15h30 ngày 19/4/1972, máy bay địch vào đánh phá sân bay Đồng Hới, tàu chiến địch pháo kích cây đèn biển. Phân đội radar được lệnh chiến đấu, tới 16h01, trắc thủ số 1 phát hiện 6 chiếc tàu địch ở cự ly 15km và 12 chiếc ở cự ly 25km. Đài trưởng radar lệnh cho trắc thủ số 2 nâng ăng ten sục sạo địch trên không, chú ý hướng biển. Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng nhắc radar phải bám sát tàu địch liên tục.

Đúng theo phương án đã định, trắc thủ số 2 liên tục thao tác ăng ten và thực hiện bám sát, còn trắc thủ số 1 thông báo phần tử, đài trưởng nhắc trắc thủ chú ý sục sạo và cảnh giới xung quanh máy bay ta.

Các trắc thủ tập trung thao tác và thông báo liên tục phần tử tàu địch và máy bay ta. Khi ra đến biển, độ cao máy bay MiG-17 là 50m, được lệnh công kích, trên màn hiện sóng tín hiệu MiG trùng lên tín hiệu địch.

MiG-17 do phi công Lê Xuân Dị điều khiển đã ném một quả bom 250kg trúng tháp pháo 127mm trên tàu khu trục USS Higbee, còn phi công Nguyễn Văn Bảy đánh trúng tuần dương hạm USS Oklahoma city.

Tranh vẽ minh họa máy bay MiG-17 của Không quân Nhân dân Việt Nam không kích tàu khu trục Mỹ.

Vọng quan sát báo về, một chiếc tàu địch bốc cháy. Máy bay ta vòng về hướng đất liền, đài trưởng tiếp tục nhắc trắc thủ sục sạo phát hiện máy bay địch và chú ý chống tên lửa chống radar AGM-45 Shrike.

Ngay sau khi biên đội MiG-17 về hạ cánh an toàn và được kéo vào vị trí cất giấu, đơn vị radar 403 phát hiện 2 tốp máy bay địch bay từ biển vào. Hai phút sau, địch phóng hai quả tên lửa chống radar Shrike xuống gần trận địa.

Bình tĩnh, các trắc thủ radar mau lẹ thao tác theo quy trình chống Shrike nên trận địa vẫn an toàn, 2 quả tên lửa nổ cách trận địa 1.500m.

Tuy cả 2 tàu địch đều chỉ gặp phải hư hỏng nhỏ nhưng ít nhiều đã làm quân Mỹ hoảng sợ. Lần đầu tiên sau chiến tranh thế giới thứ 2, tàu chiến hạm đội 7 bị không kích. Ngoài ra, trận duy nhất của bộ đội radar đảm bảo cho tiêm kích làm nhiệm vụ cường kích đánh cháy hạm tàu địch trên biển.

“Không để Tổ quốc bị bất ngờ”

Ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ký phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích đường không dùng máy bay ném bom B-52 cùng hàng trăm máy bay chiến đấu chiến thuật đánh phá hủy diệt các mục tiêu kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng ở Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố lớn.

Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, luôn đề phòng cảnh giác trước mọi âm mưu thâm hiểm của kẻ địch. Quân dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính phủ đã chuẩn bị đầy đủ kế hoạch đối phó với cuộc chiến gian khổ, khó khăn này.

Đóng góp một phần công không nhỏ trong chiến dịch 12 ngày đêm này, bên cạnh các đơn vị pháo phòng không, tên lửa, không quân tiêm kích, bộ đội radar là đơn vị cảnh giới, phát hiện sớm mục tiêu địch, để “Tổ quốc không bị bất ngờ”.

Ngay trong đêm đầu tiên của chiến dịch (ngày 18/12), các chiến sĩ đại đội radar 45 (trung đoàn 291) đã phát hiện sớm B-52 vào đánh phá miền bắc trước 35 phút. Lúc 18h14 sở chi huy trung tâm báo động mạng radar cảnh giới. Tới 19h, đại đội 45 nằm ở phía Tây Trường Sơn phát hiện tốp máy bay từ Mường Phín (Hạ Lào) bay lên phía bắc, một phút sau đại đội 16 của trung đoàn báo cáo có nhiễu B-52.

Mặc dù mục tiêu chưa hiện rõ, nhiễu tạp lại dày, nhưng bằng kinh nghiệm đã tích lỹ được, trắc thủ đo cao Tô Trọng Huy mạnh dạn quả đoán B-52 ở tọa độ X. Nhận báo cáo, trung đoàn trưởng Đỗ Năm lệnh cho đại đội 45 mở máy.

Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần nhanh chóng lệnh cho các trắc thủ, chỉ ít phút sau đài trưởng Nghiêm Đình Tích và các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích đã thấy ba dải nhiễu B-52 ở đúng tọa độ mà Tô Trọng Huy thông báo, đài radar đại đội  45 bình thường đã bắt được những tốp B-52 đi ném bom Cánh Đồng Chum Xiêng Khoảng (Thượng Lào).

Hình sóng B-52 trên các loại radar của ta.

Những tốp B-52 này thường cất cánh từ Utapao (Thái Lan) bay qua sông Mekong ngược lên phía bắc, thường đến phương vị 270, 280,290 độ là chúng rẽ trái. Vì vậy, tọa độ trở nên quen thuộc với các trắc thủ.

Nhưng lần này, chúng vượt qua phương vị 290 mà vẫn chưa đổi hướng bay, mục tiêu vào đến phương vị 300, ý nghĩ lóe lên trong đầu Nghiêm Đình Tích: B-52 bay vào miền Bắc. Ông báo cáo lên đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần giọng rành rọt: “Đúng B-52! Mục tiêu sắp bay vào vùng trời miền Bắc”.

Từ sở chỉ huy trung đoàn 291 ở Nghệ An, các phần tử của đại đội 45 được phát thẳng về trung tâm và báo cáo ngay với Tư lênh Quân chủng. Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu báo cao lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời lệnh báo động B-52 toàn miền bắc lúc 19h45.

Những tin báo đó đã bảo đảm cho Bộ tư lệnh Quân chủng nắm chắc địch, hạ quyết tâm sử dụng lực lượng và bảo đảm cho các đơn vị phòng không ba thứ quân chuyển cấp chiến đấu sớm 35 phút. Ngay trong đêm đầu bắn rơi 8 máy bay địch, trong đó có 3 chiếc B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ).

Nhỏ, thấp cũng không thoát

Trong chiến tranh Việt Nam, Không quân Mỹ sử dụng rất nhiều loại máy bay trinh thám tầm cao SR-71, U-2 tới máy bay không người lái BQM-34A. Ở tầm thấp, chúng dùng loại UAV 147 khá nguy hiểm.

Đây là loại UAV có hình dáng nhỏ nhưng có tốc độ bay nhanh (250m/giây), tầm bay thấp (dưới 1.000 m hoặc 200-300 m). Nó thường được vận tải cơ C-130 thả ở vị trí địa hình đồi núi, lợi dụng lòng sông khe núi bay vào tìm kiếm các trận địa bố phòng của ta.

Đối với loại này, bộ đội pháo cao xạ khó bắn, còn tên lửa thì càng khó hơn. Vì vậy, bộ đội radar quyết tâm tìm mọi phương án “bắt” loại UAV này lộ diện, tạo điều kiện cho bộ đội phòng không bắn hạ.

Lúc 4h15 ngày 6/8/1969, đài radar của đại đội 19 và 46 đang làm nhiệm vụ cảnh giới thì phát hiện tín hiệu một vận tải cơ C-130 cách bờ biển 130km.

Chỉ huy trung đoàn ra lệnh mở máy tăng cường đài radar P15 của đại đội 25, ngay khi chiếc UAV 147SRE-16 vừa phóng khỏi C-130 liền bị các trắc thủ Lê Đỗ Ngoạn (đại đội 46) và Nguyễn Văn Giằng (đại đội 25) phát hiện thông báo kịp thời.

Từng mũi đường bay không người lái được kéo nhanh trên bàn đánh dấu, các trắc thủ bám sát liên tục. Những tin báo của trung đoàn đã giúp hai trung đoàn tên lửa 236 và 257 chuyển cấp chiến chiến đấu nhanh chóng xác định chính xác vị trí mục tiêu địch.

Tới 4h26, tiểu đoàn tên lửa 61 (trung đoàn 236) đã bắn rơi tại chỗ một chiếc 147SRE-16 của Mỹ.

Lê Nam
baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 1)

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bộ đội pháo phòng không luôn là đơn vị mở đầu những chiến công tiêu diệt máy bay địch trên bầu trời Tổ quốc.

Nhân dịp bảo tàng PKKQ tổ chức triển lãm “Một số trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ”, Đất Việt xin giới thiệu thông tin và hình ảnh về 17 trận đánh tiêu biểu:

(ĐVO) Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa

Hạ “giặc 5 đầu” B-24

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Không quân Pháp đưa tới lòng chảo Điên Biên đội hình máy bay hùng hậu hiện đại (B-24, B-25, F-6F, F-8F, SB-20, C-47, C-119,…). Tuy nhiên, chúng đã vấp phải lưới lửa phòng không của bộ đội pháo cao xạ, hầu hết các loại phi cơ này đều bị bắn rơi.

Nhưng có một loại mà mãi tới gần cuối chiến dịch ta vẫn chưa hạ được, máy bay ném bom B-24. Trước tình hình này, Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu lực lượng phòng không nghiên cứu tìm cách bắn rơi B-24.

B-24 trang bị bốn động cơ cánh quạt, bộ đội ta thường gọi “giặc 5 đầu”, với “ 4 đầu” tương ứng 4 động cơ cánh quạt lắp trên cánh và “một đầu” là mũi máy bay.

Qua quá trình nghiên cứu, phía ta xác định được B-24 thường ném bom ở độ cao 3.000-3.500m, ngoài cự ly bắn hiệu quả của pháo 37mm. Dù vậy, B-24 có điểm yếu “to xác” và đường bay “ổn định”. Vì thế, nếu ta chọn thời cơ bắn chính xác, vị trí đặt pháo trên điểm cao hợp lý thì hoàn toàn có thể tiêu diệt được B-24.

Khoảng 10h ngày 12/4/1954, trinh sát của ta phát hiện “hướng 12! Một B24!”. Khi đó, Đại đội phó đại đội 828 (trung đoàn cao xạ 367) Nguyễn Đỗ Hưu bình tĩnh quan sát, còn trắc thủ liên tục báo cự ly: “6.000!…5.000!…4.000!…3.000!…”

Đúng độ cao hiệu quả, đồng chí Nguyễn Đỗ Hưu ra lệnh bắn, đồng loạt cả bốn khẩu 37mm nổ súng. Loạt 12 viên 37mm đã “chém phăng đầu dài nhất” của B-24. Chiếc B-24 mất điều khiển, từ độ cao 3.000m lao thẳng xuống cánh đồng Bản Kéo.

Đây là chiếc máy bay ném bom đầu tiên bị bắn rơi và cũng là chiếc thứ 59 bị hạ trong chiến dịch góp phần chặn đứt cầu hàng không của Pháp tăng cường cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Với chiến thắng này, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tặng thưởng đại đội 828 Huân chương Quân công hạng Nhì.

“Radar giả” lừa máy bay địch

Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, bằng chiến thuật dùng trận địa radar, pháo, tên lửa làm bằng…cót tre, bộ đội phòng không đã đánh lừa, phục kích bắn hạ nhiều máy bay địch.

Lần đầu ta sử dụng chiến thuật này trong trận chiến đấu ngày 26/3/1965 của tiểu đoàn pháo 8 – Trường sỹ quan cao xạ bảo vệ trận địa radar ở Rú Nài (Hà Tĩnh).

Tình hình lúc đó, đầu năm 1965 địch tăng cường không quân đánh phá nhiều trận địa radar ở Vĩnh Linh, Quảng Bình nhằm bịt “con mắt” canh trời miền Bắc. Bộ tư lệnh quân chủng PKKQ đưa ra nhận định, địch sẽ đánh tiếp vào đơn vị đóng ở Rú Nài – Hà Tĩnh.

Đại đội trưởng đại đội 82 và trinh sát viên đang xử lý tình huống chiến đấu.

Vì vậy, phía ta quyết định tổ chức trận phục kích nhử địch tiêu diệt chúng. Khoảng 17h30 ngày 25/3, đại đội radar 13 cơ động về vị trí dự bị, còn ở Rú Nài cho dựng trận địa radar giả lằm bằng cót, tre.

Tới 13h ngày 26/3, đại đội radar 13 phát hiện địch và thông báo “mục tiêu bay từ hướng 34 về hướng số 4 cự ly 50km”, ngay lập tức sở chỉ huy lệnh cho tiểu đoàn 8 vào vị trí chiến đấu. Ở cự ly 26km, kính TZK phát hiện nhiều tốp mục tiêu bay từ hướng 4 và 14 gồm các loại phản lực F8U, F4H vào đến tầm 20km.

Mục tiêu hướng 14 chia làm hai đường bay với 8 chiếc F8U bay thẳng vào, ba tốp bay về hướng 1. Tiểu đoàn 8 hạ lênh, “toàn tiểu đoàn tiêu diệt mục tiêu hướng 14”. Lúc này, máy bay địch theo đội hình bàn tay xòe, rồi chuyển sang đội hình so le đôi, lấy mũi Sót làm điểm kiểm tra bay vào nâng độ cao chiếm đỉnh, bổ nhào đánh trận địa giả ở Rú Nài.

Khi mục tiêu bổ nhào đến cự ly hiệu quả, đại đội 82/83 đồng loạt nổ súng bắn trúng 2 chiếc F-8U, cả hai bốc cháy lao nhanh ra biển thoát thân.

Trên hướng số 1 có hai chiếc F-8U và hai F4H ở độ cao 4.000m bay vào nhằm thu hút hỏa lực và phát hiện pháo phòng không của ta. Tốp thứ 2 địch phát hiện hỏa lực phòng không, chúng tách tốp hai chiếc bổ nhào đánh đại đội 82, còn lại đánh đại đội 27.

Trận đánh ngày càng ác liệt, hỏa lực tiểu đoàn bắn lên mãnh liệt diệt chiếc đi đầu sau khi đã cắt bom, chiếc này trúng đạn lao ra rơi ngoài biển. Ba khẩu pháo đại đội 37 bị đất đá bắn vào, máy nạp đạn bị tắc.

Trên cao, một tốp AD-6 độ cao 1.000m từ hướng 34, chếch hướng 4 bay vào, đại đội 27 phát hiện mục tiêu bay thấp hướng 34, cự ly 7.000m. Sau khi khôi phục 3 khẩu pháo, đại đội nổ súng hạ chiếc AD-6.

Còn một tốp F-4H bay thấp vào từ cửa Sót trinh sát kết quả sau trận đánh, đại đội 82/83 đã kịp thời phát hiện nổ súng bắn rơi chiếc đi đầu. Trận đánh kết thúc lúc 13h56, bộ đội ta xuất sắc bắn rơi 5 máy bay địch.

Tên lửa…cót, tre trổ tài

Ngày 24/7/1965, tiểu đoàn tên lửa 63/64 đã phóng 4 quả SA-2 bắn rơi một máy bay F-4H của Không quân Mỹ tại khu vực Suối Hai – Trung Hà (Sơn Tây). Đòn đánh này làm giặc Mỹ choáng váng, không kịp phản ứng. Ở Mỹ, Tổng thống Johnson phải bỏ dở kỳ nghỉ để về Nhà Trắng.

Đoán chắc, địch sẽ tìm mọi cách để tấn công, phá hủy các trận địa tên lửa. Phía ta đã nhanh chóng tìm ra cách đối phó “độc đáo”. Ngày trong đêm ngày 24/7, tiểu đoàn 63/64 cơ động triển khai trận địa dã chiến ở Kim Đái và Thượng Thụy.

Thay vào hai trận địa Chùa Ghề và Võ Khuy là bộ khí tài tên lửa giả làm bằng cót, tre nhằm “nhử địch” tấn công tạo điều kiện cho lưới đạn phòng không tiêu diệt.

Ngày 27/7, lúc 14h18 trinh sát cụm A phát hiện tốp 8 chiếc F-105 chia hai hướng đánh vào trận địa tên lửa Chùa Ghề và Ngọc Nhị (Võ Khuy). Chúng bị đại đội 1 trung đoàn 234 bắn hạ một chiếc.

Khẩu đội pháo của tiểu đoàn 1, trung đoàn 234 tham gia phục kích bắn rơi máy bay Mỹ.

Tiếp đó, tốp F-105 khác từ khe núi phía đỉnh Tân Viên, lần lượt hai chiếc một bay thấp bổ nhào đánh trận địa Ngọc Nhị (Võ Khuy). Ngay lập tức, hai đội đội pháo 37mm của trường sĩ quan phòng không phối hợp phân cụm B đánh trả quyết liệt. Tới phút thứ 12, quân ta bắn hạ một chiếc F-105 ở Thanh Sơn, Phú Thọ, tên giặc lái nhảy dù và được trực thăng cứu thoát.

14h25 hai trực thăng cứu nạn có AD-6 yểm trợ bay vào cứu giặc lái ở Ba Trại, trung đoàn 224 đã bắn rơi một AD-6, bắt sống giặc lái. Tuy nhiên, đại đội 1 của trung đoàn 224 trúng bom địch làm 6 chiến sĩ bỏng nặng, 2 hy sinh.

Tới 14h50, 8 chiếc F-105 từ đỉnh Lưỡi Hái xông vào đánh trận địa Chùa Ghề và trận địa pháo phòng không. Pháo 57mm của tiểu đoàn 3 đã hiệp đồng với trận địa khác bắn rơi một F-105 tại trận, bắt sống giặc lái.

14h51 tốp cuối bốn chiếc F-105 xuất hiện từ đỉnh Tản Viên (Ba Vì) lao xuống đánh trận địa Ngọc Nhị (Võ Khuy). Đại đội 2 trung đoàn 234 tiếp tục bắn rơi thêm một F-105 đồng thời bắt sống giặc lái. Trận đánh tới đây kết thúc, ta phục kích bắn hạ liền 4 chiếc F-105 và một chiếc AD-6.

2 phút diệt 5 máy bay

Ngày 17/10/1967, tiểu đoàn pháo phòng không 18 (sư đoàn 365) đã tạo nên chiến thắng “2 phút bắn rơi 5 máy bay địch, trong đó có 4 chiếc rơi tại chỗ” bảo vệ Đáp Cầu (Hà Bắc).

Lúc 10h41, kính TZK của tiểu đoàn bắt được mục tiêu hướng 34 cực ly 35km, đang bay theo trục đường 18. Trong đó, tốp đầu 4 chiếc F-4C bay chếch về hướng Bắc Giang, tốp hai F-105D bay về hướng số 3, 32.

Đến cự ly 10km, địch chuyển từ đội hình bốn chiếc bàn tay xòe thành đội hình so le đôi lần lượt lượn vòng về hướng 32, lấy thị xã Bắc Ninh (tháp nhà thờ) làm điểm bổ nhào đánh cầu.

Đến cự ly hiệu quả, đạn từ trận địa pháo đại đội 10/34/36 lao thẳng vào chiếc thứ 1 và 3. Còn đại đội 8/9 bắn vào chiếc thứ 2 và 4. Mỗi chiếc một điểm xạ, cả tốp F105D đi đầu bị bắn hạ tại chỗ. Giặc lái nhảy dù bị quân dân Hà Bắc bắt sống.

Thấy tốp đầu bị diệt gọn, tốp F-105D bay sau tiếp tục bổ nhào theo đường bay tốp đầu. Hỏa lực của 5 đại đội tiếp tục “bủa lưới” bắn chặn địch, thêm một chiếc F-105D bị hạ. Đội hình địch rối loạn, phi công hốt hoảng ném bom bừa bãi rồi rút chạy. Đây là trận đánh hỏa lực pháo phòng không ôm sát mục tiêu bảo vệ, chỉ trong 2 phút diệt 5 chiếc, bắt sống nhiều phi công địch.

(còn nữa)

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)

Lê Nam
baodatviet.vn