Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bài 5: Tượng Bác Hồ ở Madagascar

Với quan hệ ngoại giao thân thiết, năm 2003, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang nghiêm giữa quảng trường mang tên Người tại Thủ đô Antananarivô của Madagascar.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Madagasca

Madagascar – quốc gia ở châu Phi này trước đây cũng từng là thuộc địa của Pháp như Việt Nam. Thế nên tình bạn giữa lãnh tụ cách mạng Madagascar Jean Ralaimongo và Bác Hồ thêm phần đặc biệt của những người chiến sĩ cách mạng trong những năm tháng hoạt động tại Pháp

Bức tượng Bác Hồ ở Madagascar bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4m. Bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tượng được nhà điêu khắc Lê Đình Bảo thiết kế năm 2001. Cùng với tượng đài Lênin, tượng đài Bác Hồ và tượng đài lãnh tụ Jean Ralaimongo trở thành biểu tượng cách mạng của Madagascar.

Làm phụ bếp trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville năm 1911, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đi qua các cảng châu Phi. Hình ảnh người dân nô lệ quốc đảo Madagascar làm việc dưới đòn roi của những tên thực dân Pháp đã khiến người thanh niên Việt Nam rơi nước mắt khi anh nghĩ đến số phận những người dân mất nước nơi quê hương mình. Từ hình ảnh người nô lệ Madagascar, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra chân lý: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: loại người bóc lột và người bị bóc lột”.

Khi hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cùng các bạn châu Phi, trong đó có hai bạn người Madagascar là Jean Ralaimongo và Samuel Stephanie tích cực tổ chức và tham gia lãnh đạo Hội liên hiệp thuộc địa, tập hợp những người dân thuộc địa của Pháp (cuối tháng 11-1921). Nhóm ra báo Le Paria (Người cùng khổ) để mở rộng tuyên truyền đến các thuộc địa (tháng 4-1922). Ngay số đầu phát hành, báo Le Paria đã khẳng định: Báo “ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc Phi, Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Madagascar, ở Đông Dương, ở quần đảo Ăngti và Guyan”. Rồi trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Paris năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo hành động man rợ của đội quân viễn chinh Pháp ở Madagascar năm 1895. Người nhắc lại cuộc tàn sát đẫm máu mà thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Madagascar: “Chúng đã thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát một lúc 5.000 người của bộ lạc Sacavala trên bờ biển phía Tây của Madagascar”. Trong buổi trò chuyện với nhà thơ Xôviết Osip Emilyevich Mandelstam, Nguyễn Ái Quốc cũng nhắc lại “những người anh em Madagascar”.

Sau khi công trình tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng tại Thủ đô Antananarivô, nơi đây đã trở thành điểm tổ chức các sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Madagasca.

Mạnh Thắng
daidoanket.vn

Bài cuối: Tượng Bác Hồ ở một số nước châu Á

LTS: Tại các bài báo trước, chúng tôi đã nêu những tượng đài Bác tiêu biểu ở một số quốc gia thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Kết thúc loạt bài này, chúng tôi xin đề cập tượng đài về Bác ở một số nước châu Á – nơi cùng máu đỏ, da vàng, cùng nét tương đồng văn hoá với Việt Nam.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng
đoàn đại biểu dự lễ khánh thành tượng
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Công viên Asean (Philippin)

Trung Quốc là quốc gia láng giềng và từ xưa đến nay luôn có mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam. Thời gian Bác Hồ hoạt động ở Trung Quốc khá dài. Di tích Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13a và 13b) đường Văn Minh ngày nay còn lưu giữ nhiều hiện vật thời kỳ Bác tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước trong thời gian từ đầu 1926 đến tháng 4-1927. Một di tích quan trọng khác nữa gắn với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác được Trung Quốc gìn giữ là Khách sạn Nam Dương ở Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây). Bác Hồ đã ở đây từ cuối năm 1943 đến tháng 9-1944, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc dân Đảng. Tại đây, Người đã triển khai nhiều hoạt động cách mạng Việt Nam, như mở lớp học đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (3-1944). Hiện nay, khách sạn đã dành cả tầng 1 và 2 phòng trên tầng 2 để trưng bày tái hiện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu và một số mốc chính trong quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh… Căn phòng Người đã ở và làm việc được trưng bày như nguyên gốc.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam – Ấn Độ, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, nuôi dưỡng và ngày càng đơm hoa kết trái. Ngày nay, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại công viên nằm giữa giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Jawaharlal Nehru, ở thành phố Cancútta. Và tại Thủ đô Niu Đêli có một đại lộ mang tên Hồ Chí Minh.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ấn Độ

Thái Lan cũng là một trong những quốc châu Á mà Bác Hồ dừng chân hoạt động nhiều năm. Hiện nay, di tích Nhà Hợp tác tại bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhonphanom vẫn còn lưu giữ những hiện vật về thời kỳ hoạt động của Bác từ tháng 7-1928. Nhà Hợp tác ở bản Mạy là trạm liên lạc, đưa đón những người Việt Nam yêu nước. Tháng 1-2004, Thủ tướng hai nước Việt Nam – Thái Lan và các đại biểu dự Hội nghị liên Chính phủ Việt – Thái đã khai trương Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó hạt nhân là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc. Tại đây có tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cao 1,1cm do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam trao tặng ngày 12-10-2011.

Tại Philippin có một công viên mang tên ASEAN. Ngày 27-10-2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến đặt vòng hoa tại tượng đài Anh hùng dân tộc Jose Rizal và dự lễ khánh thành tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại công viên ASEAN. Việt Nam và Philippin đã thành lập Hội Hữu nghị Quốc tế giáo dục văn hóa Jose Rizal – Hồ Chí Minh. Đây là sáng kiến của Đại sứ quán Việt Nam tại Philippin và Đại học Bách khoa Laguna nhằm đưa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ra nước ngoài và nhằm góp phần tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Philipin. Mục đích của hội là để giáo dục và thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay và mai sau bằng trí tuệ kiệt xuất, ý chí kiên cường thể hiện lòng yêu đất nước, nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Jose Rizal – hai vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại của Việt Nam và Philipin. Tại Philippin, có 4 tượng đài Hồ Chủ tịch được đặt cạnh tượng anh hùng dân tộc Philippin Jose Rizal.

Trong tương lai, khi đất nước ta ngày một phát triển, quan hệ với các nước ngày một rộng khắp, và nhất là tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một lan toả thì chắc chắn tượng đài Bác ở nhiều quốc gia khác sẽ nhiều thêm. Đó cũng là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam chúng ta.

Huy Văn
daidoanket.vn

Học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ để mỗi người, mỗi tổ chức tốt hơn, trong sáng hơn (*)

Tại Hội nghị sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu kết luận quan trọng, chỉ đạo công tác triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW trong thời gian tới. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời rất oanh liệt, đầy gian khổ, hy sinh, vô cùng phong phú và cao đẹp. Người không chỉ là nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà chiến lược tài ba, mà còn là nhà hoạt động thực tiễn kiệt xuất. Người đã để lại cho chúng ta một gia tài đồ sộ, một di sản hết sức quý báu. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh và thời đại Hồ Chí Minh. Thời đại Hồ Chí Minh là gia tài vô cùng đồ sộ, là thực tiễn đang hiển hiện trước mắt chúng ta.

Trách nhiệm của chúng ta và các thế hệ mai sau là phải mãi mãi giữ gìn, bảo vệ, kế thừa và phát huy một cách tốt đẹp nhất những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người và bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu quý của chúng ta ngày càng tươi đẹp, để dân tộc ta mãi mãi trường tồn và phát triển. Vì vậy, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết, không chỉ là yêu cầu của cách mạng, mà còn là tình cảm, nguyện vọng của nhân dân ta, của Đảng ta và mọi người Việt Nam yêu nước.

Ngay từ khi Người còn sinh thời, đã có rất nhiều phong trào thi đua học tập, làm theo Bác. Sau khi Bác qua đời, chúng ta có một khẩu hiệu hành động, một phong trào rất sâu rộng: “Sống, chiến đấu, lao động, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Nơi nào cũng có phong trào làm theo lời Bác, thanh niên làm theo lời Bác, phụ nữ làm theo lời Bác…

Trong những năm gần đây, Bộ Chính trị tiếp tục khởi xướng, phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã thực hiện từ đầu năm 2007 tới nay, đã đạt được những kết quả rất quan trọng, góp phần vào việc xây dựng con người, xây dựng tổ chức trong cả hệ thống chính trị, bảo đảm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, cũng như góp phần để sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung đạt được những thành tựu như ngày nay.

Đến Đại hội XI của Đảng, căn cứ vào tình hình thực tiễn, Đại hội đã quyết định chúng ta chuyển sang học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác một cách thường xuyên, có chiều sâu hơn (không gọi là cuộc vận động nữa), trên cơ sở những kinh nghiệm của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và nhiều cuộc vận động khác nữa.

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW, yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nội hàm của việc học tập bao gồm cả ba vấn đề: Tư tưởng đạo đức, tấm gương đạo đức và phong cách của Bác. Đồng thời yêu cầu việc học tập, làm theo Bác phải trở thành việc làm thường xuyên, lâu dài, thiết thực, đi vào chiều sâu của cuộc sống thực tế đối với mỗi con người, mỗi tổ chức.

Tuy nhiên, việc chuyển từ cuộc vận động sang việc làm thường xuyên thì cũng có cái khó; không như lúc đang thực hiện cuộc vận động, có thể đây đó sẽ có sự lơ là. Khi ra Chỉ thị, Bộ Chính trị đã tính, không có cuộc vận động, nhưng vẫn phải bảo đảm làm tốt. Dù không lập ban chỉ đạo, nhưng Bộ Chính trị vẫn có cơ quan thường trực giúp cho Ban Bí thư chỉ đạo; ở các địa phương, bộ, ngành cũng thế. Ở Trung ương là Ban Tuyên giáo Trung ương; thành lập Bộ phận giúp việc để giúp cho Ban Bí thư, cho cơ quan thường trực; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện rất cụ thể, bài bản.

Hôm nay, nhân kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Bác và cũng là sơ kết một năm thực hiện Chỉ thị 03, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị sơ kết nhằm kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, trao đổi kinh nghiệm về thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, với tinh thần là đã có chỉ thị, nghị quyết thì phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, không buông lơi. Trước khi tổ chức Hội nghị, đã có nhiều đoàn của Ban Bí thư Trung ương đi kiểm tra. Đã có những cuộc giao ban khu vực, đã nghe ý kiến của các đồng chí, như trong báo cáo đã nêu. Biết rằng các đồng chí rất bận, nhất là các đồng chí vừa họp Hội nghị Trung ương 9 ngày, hôm nay ở lại để họp thêm; chúng ta đang có nhiều việc phải làm, nhưng không thể không có cuộc họp này. Cuộc họp rất cần thiết, dù bận, nhưng đây cũng là một việc bận cần thiết, nhất là khi chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, đang chuẩn bị bước vào giai đoạn tiến hành tự phê bình, phê bình; những nội dung rất gắn bó với nhau. Nhân dịp các đồng chí về họp Trung ương, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị này để cho tiết kiệm, các đồng chí đỡ phải đi lại và cũng là tạo không khí để chúng ta kỷ niệm Ngày sinh của Bác một cách thiết thực.

Trên thực tế, tôi thấy các đồng chí đã rất coi trọng Hội nghị này. Nhiều đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư tham dự. Hầu hết các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, các đồng chí Ủy viên Trung ương và các thành phần được triệu tập tham dự đông đủ. Các đồng chí đã chuẩn bị các báo cáo, tham luận phát biểu tại hội trường hôm nay và nhiều tài liệu khác nữa. Hoan nghênh Ban Tuyên giáo Trung ương, với tư cách là cơ quan thường trực giúp Ban Bí thư chỉ đạo, theo dõi việc triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị và các cơ quan hữu quan đã chuẩn bị tốt báo cáo và các công việc cần thiết để chúng ta tổ chức Hội nghị hôm nay. Rất hoan nghênh, cảm ơn các đồng chí về dự đông đủ, có ý kiến đóng góp phong phú, sinh động, nhiều kinh nghiệm hay, sáng tạo, dù là mới bước đầu.

Qua báo cáo và ý kiến của các đồng chí, chúng ta nhận thấy, trong năm qua, mặc dù thời gian còn ngắn, chúng ta bận rất nhiều việc (bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, kiện toàn các tổ chức, bộ máy, cơ quan nhà nước; tập trung vào công tác kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; đẩy mạnh công tác đối ngoại và nhiều công việc khác), toàn những việc lớn và khó. Các đồng chí ở địa phương cũng rất vất vả. Nhưng chúng ta đã cố gắng thực hiện Chỉ thị 03. Đã xây dựng được chương trình, kế hoạch thực hiện, biên soạn, in ấn, phát hành tài liệu, kiện toàn bộ máy làm việc, kể cả cơ quan thường trực và bộ phận giúp việc, quy chế làm việc. Rất nhiều cơ quan, địa phương đã tổ chức tốt, đã có những sáng kiến và cho chúng ta thêm những kinh nghiệm bước đầu.

Nhìn một cách tổng quát, kết quả thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW đã thể hiện khá rõ cả trong nhận thức và hành động. Về nhận thức, nhiều cấp ủy, lãnh đạo cơ quan chính quyền, đoàn thể các cấp, các ngành đã quán triệt ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị mà trọng tâm là đẩy mạnh làm theo. Về hành động, các nội dung học tập và làm theo Bác đã dần được đưa vào sinh hoạt định kỳ của chi bộ, cơ quan, đơn vị, gắn với nhiệm vụ chính trị, gắn với chức trách, nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên, nằm trong các chương trình, kế hoạch, phong trào thi đua đang thực hiện ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Có những chuyển biến tích cực trong việc rèn luyện đạo đức, giữ gìn lối sống của cán bộ, đảng viên và trong thái độ ứng xử của cán bộ, công chức với nhân dân. Có những cố gắng tập trung vào giải quyết dứt điểm một số công việc nổi cộm ở địa phương, cơ quan, đơn vị, kể cả trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống, đem lại kết quả bước đầu. Như vậy, có thể nói, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tuy thời gian còn ngắn, nhưng đã đạt được những kết quả bước đầu, và quan trọng là cho thêm những kinh nghiệm. Tôi xin thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và cảm ơn tất cả các đồng chí, các tổ chức đảng ở Trung ương, địa phương đã tích cực, cố gắng thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Chỉ thị 03 cũng còn những hạn chế, tồn tại. Việc triển khai nhìn chung còn chậm. Một số cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Trung ương chưa hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch của Ban Bí thư. Trong tổ chức thực hiện, nhiều việc còn lúng túng, nhất là trong các hoạt động cụ thể ở địa phương và cơ sở. Nhìn chung, việc triển khai thực hiện Chỉ thị chưa tạo được sự hồ hởi, phấn khởi, lôi cuốn đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực, tự giác tham gia. Nguyên nhân là do chúng ta chưa nhận thức được thật sâu sắc, thật đầy đủ những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Ở một số nơi, việc học tập và làm theo gương Bác mới chỉ dừng lại ở các hoạt động mang tính hình thức, chưa có các nội dung thiết thực, thiếu sức thuyết phục. Ở đây có vấn đề về đánh giá kết quả, khó có thể đo đếm ngay những chuyển biến tư tưởng, tình cảm, ý thức của con người. Việc học tập và làm theo Bác phải tác động thấm sâu, lâu dần chuyển biến thành hành động. Đây là cả quá trình bồi đắp dần dần. Chúng ta cần thống nhất với nhau một số nhận thức để thực hiện tốt hơn Chỉ thị của Bộ Chính trị.

Về nhiệm vụ sắp tới, đề nghị các cấp, các ngành, địa phương cần tiếp tục triển khai thực hiện các nội dung theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Kế hoạch của Ban Bí thư, như trong báo cáo đã nêu rõ. Các đồng chí ở các địa phương cũng đã nêu những phương hướng và có những kiến nghị, chúng tôi xin ghi nhận và bổ sung, để chúng ta tiếp tục làm tốt hơn việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ. Tôi xin nói rõ thêm về 3 vấn đề: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm những nội dung gì? Học tập và làm theo như thế nào? Vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng, các điều kiện để tiếp tục thực hiện tốt hơn Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị?

Thứ nhất, là về nội dung, học gì? Theo tôi, có rất nhiều điều cần học, nên học, phải học. Bởi vì Bác Hồ là tấm gương sáng về mọi mặt. Cả cuộc đời Bác là biểu tượng cao đẹp về ý chí cách mạng kiên cường; tinh thần độc lập tự chủ; lòng yêu nước, thương dân tha thiết; trí tuệ anh minh, mẫn tiệp, có tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; có tác phong, phong cách khiêm tốn, giản dị; có tấm lòng nhân hậu, tình cảm chan chứa yêu thương con người; là một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói, cách làm việc, được cả thế giới ca ngợi, ngưỡng mộ. Cuộc sống của Người vô cùng cao đẹp. Đây là kết tinh những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, với tinh hoa văn hóa thế giới.

Học Bác, là phải giữ gìn phẩm chất chính trị, kiên định lý tưởng cách mạng, con đường cách mạng, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; tinh thần lạc quan tin tưởng, phẩm chất kiên cường bất khuất “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Vào lúc này, chúng ta học Bác, càng phải kiên định, tin tưởng vào mục tiêu, lý tưởng thể hiện ở Cương lĩnh, đường lối của Đảng.

Học Bác là học về đạo đức cách mạng trong sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, học về tư cách người cách mạng, đặc biệt là đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân – kẻ thù ở trong mỗi con người, đấu tranh với cái ác, nâng cái thiện lên để giảm cái ác đi… Bác phê phán những cái xấu, quan liêu, xa dân… Bác dạy đối với mình, với người phải thế nào; đối với Đảng, với dân phải thế nào; đối với địch thế nào…

Học Bác là học phong cách, lối sống giản dị, khiêm tốn, thanh bạch, gần dân, không quan liêu, quan cách, từ ăn, mặc, ở, đi lại, làm việc, xuống với dân thì thế nào… Bác dạy từ cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, phụ nữ, đến các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi,… rất cụ thể, rõ ràng, sâu sắc lắm. Mỗi người hãy thấm vào máu mình để thực hiện. Học tập, làm theo Bác thì có rất nhiều việc để học, học ngay trong cách học, trong thái độ đối với việc học, trong cách nói, cách viết, cách làm, cách ăn, ở, đối nhân xử thế, cách ngoại giao của Bác… Trên cơ sở cái chung, phải xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, sát hợp cho từng cơ quan, đơn vị, lĩnh vực, tránh hình thức, nói phải đi đôi với làm. Cần phải học đi, học lại những điều Bác nói, Bác viết, Bác làm. Học tập và làm theo tấm gương của Bác, cần gắn với việc thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, Quy định về những điều đảng viên không được làm, thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, phải bắt đầu từ những việc rất cụ thể, từ đó tạo chuyển biến tích cực trên thực tế.

Thứ hai, học Bác như thế nào? Học Bác là học suốt đời, học hằng ngày, thiết thực, thiết thân. Học Bác là việc làm tự giác của mỗi người, mỗi tổ chức, không ai có thể làm thay được. Nói đi đôi với làm, học để làm theo, làm theo rồi lại học, lại bổ sung, thường xuyên liên tục, không phải một lần là xong. Mỗi chúng ta ngồi đây phải thấm thía, hiểu sâu sắc điều này để về chỉ đạo thực hiện.

Học Bác bằng nhiều hình thức, phong phú, sinh động: Học qua sách báo, ở trường, lớp; qua thực tiễn công việc, trường đời; qua sinh hoạt chi bộ đảng, đoàn thể, ở cơ quan, trong gia đình; tự phê bình và phê bình; qua mạn đàm, trao đổi kinh nghiệm; qua phong trào thi đua người tốt, việc tốt, nêu gương những điển hình tiên tiến, phê phán những việc làm xấu, tiêu cực… Học Bác qua các hình thức sinh hoạt tập thể, như: Chào cờ đầu tuần, tham quan du lịch về nguồn, di tích lịch sử, đăng ký chương trình công tác, qua sự giám sát, góp ý của nhân dân, của báo chí, công luận… Rất nhiều hình thức, nhiều con đường. Cái chính là chúng ta có muốn học Bác thật không, lòng chúng ta có trong sáng không?

Thứ ba, để bảo đảm việc thực hiện Chỉ thị 03 ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả hơn, cần có nhiều điều kiện, trong đó pháp luật là quan trọng, nhưng đạo đức nhân văn cũng rất quan trọng, nhiều khi còn bền vững hơn. Bên cạnh pháp trị, còn có đức trị. Vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn là rất quan trọng. Cần nhận thức sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy mạnh lên một bước việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị thông qua các chương trình kế hoạch hành động cụ thể; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc; qua các phong trào thi đua thiết thực, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các tấm gương người tốt, việc tốt, dùng cái tốt để dẹp cái xấu. Vai trò của Bộ phận giúp việc ở đây cũng rất quan trọng, vì cấp ủy còn rất nhiều việc, nên bộ phận giúp việc phải rất chủ động.

Mong rằng sau Hội nghị này, chúng ta có thêm những nhận thức mới và quyết tâm mới, thực hiện tốt hơn nữa Chỉ thị 03, nền nếp hơn, thường xuyên hơn và hiệu quả cao hơn. Cùng với Nghị quyết Trung ương 4 và các nghị quyết khác của Đảng, tạo một bước chuyển biến rõ rệt trong việc học tập và làm theo tấm gương của Bác để mỗi người, mỗi tổ chức chúng ta tốt hơn, trong sáng hơn.

qdnd.vn

Những kỷ niệm về Bác

QĐND Online – “Được làm cận vệ của Bác là một niềm vinh hạnh lớn không phải ai cũng có được. Được gần Bác, tôi cùng các anh em khác đã có những kỷ niệm không thể nào quên. Sự giản dị và thanh bạch của Bác là tấm gương để cho thế hệ chúng tôi và thế hệ mai sau noi theo”.

Bác Tăng Văn Soát, người vinh dự được làm cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 6 năm liền, đã xúc động chia sẻ với chúng tôi như vậy, khi ông cùng đoàn cán bộ phục vụ và bảo vệ Bác Hồ năm xưa thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh của Bác.

Nhập ngũ năm 1948. Năm 1953, ông được tuyển vào học lớp Công an Trung ương. Năm 1954, ông được chọn sang Cục Cảnh vệ. Sau quá trình rèn luyện, nhiều năm liền được nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua, năm 1962, ông may mắn được chọn vào đội bảo vệ Hồ Chủ tịch. Đối với ông, đó là niềm vinh dự và tự hào lớn.

Đã bước qua tuổi 80, nhưng người cận vệ năm xưa vẫn nhớ như in cảm xúc ngày được chính thức nhận vào đội cận vệ của Bác. Hôm đó, đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác nói với ông: “Trưa nay ăn cơm xong chú đi với anh”. Trong lòng băn khoăn không biết mình sẽ đi đâu. Đúng 11 giờ 30 phút, sau bữa cơm trưa, ông theo đồng chí Vũ Kỳ qua nhà sàn của Bác. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ báo cáo: “Thưa Bác, hôm nay cháu đưa chú Soát sang xin Bác làm cận vệ”. Bác gật đầu đồng ý. Ông Soát mắt rưng rưng nhớ lại: “Lúc đó, tôi xúc động đến nỗi không thốt nên lời”.

Ông còn nhớ những ngày đầu tiên làm nhiệm vụ, Bác luôn căn dặn: “Khi được giao nhiệm vụ, chú được phép hỏi lại nếu chú nghe chưa rõ”. Ông nói: “Trong suốt quá trình được gần Bác, tôi thấm nhuần lời dặn dò đó của Bác. Làm việc gì cũng phải hiểu rõ nhiệm vụ thì mới hoàn thành tốt được”.

Bác Tăng Văn Soát đang chia sẻ những kỷ niệm về Bác

Cũng từng được phục vụ trong các buổi tiếp khách của Bác, cô Nguyễn Thị Đạc, cũng chia sẻ cho chúng tôi kỷ niệm về những lần may mắn được nói chuyện với Bác Hồ.

Cô không thể nào quên lần đầu tiên được gặp Bác.

Vừa nhìn thấy cô, Bác hỏi, “Cháu tên gì?”

“Dạ thưa Bác, cháu tên Đạc”, cô hồi hộp đáp lại.

Bác hỏi tiếp, “Thế bố cháu có phải nhà Nho không?”.

Chưa kịp trả lời thì Bác nói tiếp, “Có phải tên cháu trong bài thơ này không?”. Nói xong Bác từ từ đọc:

“Mộc đạc vang lừng trong bốn cõi

Âm thanh chuyển động khắp nơi nơi”

Nghe Bác đọc xong hai câu thơ trên, cô reo lên: “Thưa Bác, đúng rồi ạ, đúng rồi ạ”.

“Tự nhiên mọi sự hồi hộp tan biến, thay vào đó là cảm giác gần gũi như nói chuyện với người thân vậy”, cô Đạc nhớ lại.

Cô chia sẻ thêm, ngày cô vào phục vụ ở đây là lúc cô mới tròn 18 tuổi, vẫn còn nhiều bỡ ngỡ. Những ngày đầu tiên làm việc, Bác luôn luôn tận tình chỉ bảo cho cô cũng như những người phục vụ ở đây.

Có lần Bác gọi cô đến và nói: “Hôm nay Bác tiếp khách, cháu ra vườn hái mỗi loại hoa một cánh hoa, rồi bỏ vào chén úp. Khi có khách thì rót nước chè vào những chiếc chén đó”. Ngày hôm đó, một vị khách vừa nhấp một ngụm trà, suy nghĩ một lát và nói: “Trà của Bác có mùi hoa bưởi”. Một người khác phản đối: “Không, trà có mùi hoa nhài”. Cứ như thế, mỗi người lần lượt đem ra ý kiến riêng của mình. Điều đó đã tạo ra không khí vui vẻ, thoải mái cho những vị khách trong buổi tiếp khách hôm đó.

Các buổi chiếu phim vào tối Chủ Nhật hàng tuần, Bác thường gọi các cháu sang xem. “Đã hơn 40 năm trôi qua, nhưng những hình ảnh về Bác vẫn còn in đậm trong trái tim tôi và chắc chắn trong tim người dân Việt Nam, những người may mắn dù chỉ là một lần được gặp Bác. Những kỷ niệm về Bác như còn mới đây thôi. Chúng tôi hy vọng rằng, những câu chuyện này sẽ giúp thế hệ trẻ ngày hôm nay hiểu thêm về Bác”, cô Đạc chia sẻ.

Bài, ảnh: Trần Hoài – Mai Hương
qdnd.vn

“Nơi huyền thoại bắt đầu”

GiadinhNet – “Nơi huyền thoại bắt đầu” là bộ phim phóng sự tài liệu đậm chất sử thi về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam trong đó dãy Trường Sơn là một nguồn mạch mang tính biểu tượng.

Phim được phát sóng từ ngày 31/3 trên kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam vào lúc 21h30 các ngày thứ 4, thứ 6, thứ 7 trong tuần.

Dãy Trường Sơn không chỉ là huyền thoại về con đường vận chuyển quân sự 559, mà còn là minh chứng sống động cho khát vọng mãnh liệt, ý chí thống nhất, sự hợp nhất không thể chia tách của dân tộc từ thuở các Vua Hùng dựng nước. Càng trải qua thử thách nghiệt ngã, khát vọng ấy ngày càng định hình rõ ràng hơn trong tâm thức của các thế hệ người Việt, đúng như lời của chủ tịch Hồ Chí Minh – “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”.

Đậm đặc trong suốt 15 tập phim là những ký ức lịch sử được ghi lại bằng hình ảnh, bằng lời kể của người trong cuộc, lời bình của những người có trách nhiệm sau cuộc chiến, bằng những chất liệu sống, muôn màu, vượt qua thời gian. Những chất liệu sống động đó sẽ đưa khán giả đến với dòng suy tư rõ ràng và sâu lắng xung quanh những sự thật lịch sử đã vượt quá sức tưởng tượng của con người, lung linh như huyền thoại.

Bộ phim lấy hình ảnh Trường Sơn để minh chứng và gợi ra một ý niệm tưởng chừng như bất tận ở cả hai chiều không gian và thời gian. Đó là ý niệm về chiều dài lịch sử dữ dội của một dân tộc trải qua nhiều thế hệ, những đời người nối tiếp nhau. Đó là độ bền bỉ chịu đựng của một dân tộc để vượt qua một cuộc chiến dài nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới. Đó là sự đặc tả độ hùng vĩ của những chiến tích trải dài trên từng mỏm đá, bến sông, bờ lau ngọn cỏ, dọc suốt những cuộc Trường Chinh giữ nước, từ Nam Quan đến Cà Mau.

Với tên gọi “Từ Âu Lạc đến Đại Nam”, tập 1 của bộ phim lược qua dòng lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như một dòng chảy gian nan nghiệt ngã để định hình những yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc của người Việt. Tập phim như lời dẫn cho câu chuyện dài xung quanh cuộc chiến khốc liệt nhất của lịch sử thế kỷ 20 giữa dân tộc Việt Nam với các thế lực cường quyền hung hãn nhất. Từ các đế chế phong kiến Trung Hoa, đến hệ thống thực dân đế quốc sau này, qua cuộc đọ sức ấy, cuối cùng đều nghiệm ra rằng: cường quyền khổng thể nuốt chửng được khát vọng độc lập tự do của người Việt…

T.Hà
giadinh.net.vn

Mời quý vị đón xem trọn bộ 15 tập:

Nơi huyền thoại bắt đầu

“Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu”

Câu này dẫn trong bài “Bác ơi” của Tố Hữu viết vào ngày 6-9-1969, những ngày “…đau tiễn đưa/ Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa” . Và nhà thơ viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế/Ôm cả non sông mọi kiếp người/ Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau/ Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu”. “Nỗi năm châu” thì đã rõ. Thế còn “nỗi đau dân nước” là nỗi đau gì đây.

Bác Hồ với thiếu nhi – Ảnh TL

Vào buổi ấy, đó là nỗi đau đất nước bị chia cắt, khói lửa chiến tranh thiêu đốt cả hai miền, là nỗi đau của người mẹ, người vợ Việt Nam nhận được tin dữ từ chiến trường, là nỗi đau B52 làm bằng địa nhiều cánh rừng, nhiều dãy phố, là chất da cam đầu độc cuộc sống cỏ cây và con người để lại di chứng cho nhiều thế hệ Việt Nam, là nỗi đau của “chuồng cọp”, trại tập trung và những trận bố ráp, rình rập của lũ chó săn chuyên săn bắt người yêu nước…Vậy thì hôm nay, “nỗi đau dân nước” là nỗi đau gì đây?

Cũng là “nỗi đau”, trong “Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương” Việt Phương lại viết :

“Trời đổ mưa, đi viếng Bác, đồng bào chờ, bị ướt
Bác thương đồng bào, con biết Bác không vui”
[ Cửa Mở ]

Câu thơ viết cách nay đã hơn bốn mươi năm mà sao xốn xang tính thời sự. “Thương đồng bào, con biết Bác không vui”! Những ngày này thì trời lại đang nắng gắt. Đài truyền hình vừa đưa tin những vùng đất chuyên canh trồng ngô huyện miền núi ở Lào Cai đang nứt nẻ. Trên màn hình, những khuôn mặt sạm đen khắc khổ nói mà như mếu về nỗi lo đói, vì vụ ngô mất trắng, vì mãi chẳng có giọt mưa nào.

Vậy thì liệu “trời không đổ mưa” như buổi ấy có làm khuây khỏa được nỗi niềm “không vui” của Bác như tác giả của “Cửa Mở” day dứt?

“Thương đồng bào”, niềm thương buổi ấy, “nỗi đau dân nước” buổi ấy giờ đây là gì, khi mà sự nghiệp giải phóng dân tộc hoàn thành, non sông quy vào một mối đã hơn phần ba thế kỷ, bằng thời gian của cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc gộp lại? Và gộp lại thời gian thì đồng thời cũng “gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” tích tụ trong trái tim Hồ Chí Minh. Câu này Bác nói với một nhà báo nước ngoài 50 ngày trước khi mất, lúc “ngừng đập trái tim tột bậc con người” [Việt Phương. Cửa Mở].

Đắm mình trong những miên man suy ngẫm, cứ ngỡ như là Bác đã nói về những điều này, khi trong Di chúc Bác lưu ý đến “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”! Đây là điều Hồ Chí Minh gọi là “cuộc chiến đấu khổng lồ”, mà để giành thắng lợi thì phải “động viên toàn dân, tổ chức giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”!

“Những cái cũ kỹ, hư hỏng” thì đã quá rõ, vậy những “cái mới mẻ tốt tươi” là gì nếu không phải là dân chủ và tự do? Độc lập đã hoàn thành, vấn đề còn lại phải là dân chủ và tự do. Ai cũng nhớ câu nói của Hồ Chí Minh từ những ngày chính quyền mới thành lập năm 1946: “Nếu độc lập mà dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.

Dân chủ là tiền đề tất yếu để có tự do và hạnh phúc, là công cụ và phương tiện để đấu tranh giành tự do và xây đắp hạnh phúc. Không ai cho không quyền đó. Máu chảy thành sông, xương chất thành núi để giành độc lập, là nhằm tạo ra điều kiện để đấu tranh cho dân chủ và tự do! Phải chăng đây chính là “cuộc chiến đấu khổng lồ”?

Nghĩ kỹ về cuộc “chiến đấu khổng lồ” mà Bác viết trong Di chúc quả là có dáng dấp của những lời tiên tri. Tiên tri? Đúng như vậy. Có người gọi đó là “những dự cảm thiên tài” của những tầm vóc vĩ nhân. Xin gợi lại vài cứ liệu lịch sử để hiểu thêm về điều đó. Năm 1941, trong cuốn sách nhỏ Bác viết làm tài liệu tuyên truyền về “Lịch sử nước ta” bằng thơ lục bát, ở cuối có mục “Những năm tháng quan trọng”, Bác viết: “1945-Việt Nam độc lập”! Trong Hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, lúc ấy “Anh em có người nói sớm, kẻ nói muộn. Bác nghe trao đổi chỉ nói :” Để rồi xem”. Một ví dụ khác: trong diễn văn đọc tại lễ mừng Quốc khánh 2-9-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh, thì chậm lắm là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc-Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Trong bút tích bản thảo in trên báo “Nhân Dân” số ra ngày 30-4-1985 cho thấy: Bác gạch dưới những chữ “chậm lắm là 15 năm nữa”! Rồi chuyện Bác từng căn dặn Tư lệnh bộ đội Phòng không-Không quân: “Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”!

Phải chăng những dấu ấn của thiên tài ấy là sự thăng hoa kỳ diệu của bản lĩnh Hồ Chí Minh. Bản lĩnh dám đặt ra và giải quyết những vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn. Vì mục tiêu trước sau như một là giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân mà Hồ Chí Minh dám có quyết định táo bạo, sáng suốt, là tuyên bố Đảng tự giải tán chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Làm được như vậy vì “Hồ Chí Minh có sự nhạy cảm đặc biệt đối với lịch sử, thấu hiểu cuộc sống con người, có nhận thức sâu về vận mệnh dân tộc, về hướng đi của thời đại”. Không phải chiếc ghế nguyên thủ quốc gia mà chính là sự “nhạy cảm”, sự “thấu hiểu”, “sự nhận thức” đó khiến cho Hồ Chí Minh được lịch sử chọn làm lãnh tụ của nhân dân ở vào thời điểm có ý nghĩa nhất, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống đất nước cần bước vào quỹ đạo chung của thời đại.

Trong dòng chảy bất tận của thời gian, có những thời điểm xuất hiện những con người đáp ứng một cách tuyệt vời đòi hỏi đã chín muồi của lịch sử, người ta gọi đó là sự xuất hiện của thiên tài. Điều này cho thấy thiên tài không ra đời từ những cuộc tranh bá đồ vương để giành nhau chiếc ghế quyền lực. Đành rằng trong lịch sử không thiếu những nhân vật cũng đã bước vào lịch sử bằng con đường như vậy như những hôn quân, bạo chúa, những gian thần, nghịch tướng bán nước, bán chúa cầu vinh. Nét bi hài của lịch sử là có sự trộn lẫn chính tà ấy để giúp cho nhân dân có dịp nhận ra chuyện vàng thau lẫn lộn. Đó cũng là cách để cho nhân dân tự vượt lên chính mình, biết tự “xoay chung quanh mặt trời của chính mình” mà không để bị những ngón đòn lừa mị, ru ngủ của bọn thống trị, mà C.Mác đã từng chỉ ra. Và đó cũng là lý do trong Di Chúc, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải “động viên toàn dân, tổ chức giáo dục toàn dân”.

Điều cần nói rõ là thiên tài Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của người dân mà ngược lại. Thiên tài Hồ Chí Minh, bản lĩnh Hồ Chí Minh được hun đúc từ cuộc sống của nhân dân mình. Mỗi người Việt Nam đều có thể nhìn thấy mình trong sự nghiệp Hồ Chí Minh, trong trái tim của Hồ Chí Minh. Cái làm nên thiên tài Hồ Chí Minh, rèn đúc nên bản lĩnh ấy là vì nhịp đập của trái tim “Người Yêu Nước Hồ Chí Minh” luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà người ấy gửi gấm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân.

Không có trái tim ấy, không thể có bản lĩnh ấy. Vì rằng, “ở đâu nội dung của sự tất yếu phổ biến không nhất trí được với trái tim, thì sự tất yếu ấy – xét về nội dung- không là gì cả, và phải nhường chỗ cho quy luật của trái tim” như Hêghen nói. Có lẽ thực chất của “quy luật trái tim” mà Hégel nói đây trước hết là sự trung thực với chính mình, là bản sắc cá nhân được thể hiện một cách chân thực. Vì nói cho đến cùng, quy luật của trái tim là sự phản ánh chân thực nhất biện chứng của cuộc sống với tất cả những sắc thái phong phú và phức tạp của nó. Vì vậy, những gì mà trái tim thờ ơ thì mắt cũng không nhìn thấy được ! Không thường trực “nỗi đau dân nước” trong tim thì mọi cao đàm khoát luận giảng giải hàng ngày không sao đến được với lòng dân mà chỉ tạo ra những phản cảm.

Cho nên,với Hồ Chí Minh, “Khi đã quyết rất kiên cường mạnh mẽ/ Đốt cháy Trường Sơn đánh Mỹ cũng không sờn” nhưng “Bác không bằng lòng gọi trận đánh chết nhiều người là “đánh đẹp”/Con xóa chữ “đẹp” đi như xóa sự cạn hẹp trong lòng con/ Thêm hiểu lòng người đối với quân thù như sắt thép/ Mà tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn”. [ Việt Phương. nt]

Với Hồ Chí Minh, “tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn” ấy trước hết là thương dân, trọng dân vì nhận thức rõ sức mạnh bất tận của dân. Đây là điểm cốt lõi trong tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh. Nói học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mà không trước hết vận dụng một cách thiết thực tư tưởng cơ bản này thì chỉ là nói suông.

Đặc biệt, cần lưu ý điều mà Hồ Chí Minh khẳng định rất dứt khoát: “nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ”. Cần nhớ rằng, điều này được nhắc nhở vào năm 1947 khi Bác phê phán gay gắt lối “Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo… Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại!”

Việc “đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ” là điều tối kỵ đối với người cầm quyền. Có phải khi nói đến điều này, như vẫn thường làm, Bác đã nhắc đến luận điểm của Mạnh Tử : “Vua coi dân như cỏ rác thì dân coi vua như cừu thù” và lên án việc đẩy dân đến chỗ là “cừu thù” rồi dùng hình phạt hà khắc để trừng trị họ “khác nào đặt lưới bẫy dân”.

Hồ Chí Minh đòi hỏi “phải đưa chính trị vào giữa dân gian” phải “tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng”. Làm được điều ấy chính là đi đúng vào quỹ đạo của tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, điều mà hiện nay đang được thường xuyên giảng giải. Cho nên, lắng nghe tiếng nói của dân, tiếp nhận nguồn sức mạnh từ dân chính là điều Hồ Chí Minh thiết tha căn dặn.

Nói theo ngôn từ và hình tượng thơ thì như tác giả “Cửa Mở” đã viết từ những năm 60 thế kỷ trước, đó là: “Nơi sự thật chỉ cần là sự thật/ Nơi lương tâm đến gặp tấm gương soi/ Lời hàn huyên có màu trời hương đất/ Bỗng sáng bừng chân lý hiện tinh khôi”![Việt Phương. Cửa Mở].

GS Tương Lai
daidoanket.vn

Bốn phương lồng lộng Thủ đô gió ngàn

Kỷ niệm 122 năm Sinh nhật Bác và 65 năm Ngày Bác Hồ về An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên)

Đường vào ATK Định Hoá hôm nay xanh mướt mát, ATK Định Hóa hôm nay đã trở thành Di tích Quốc gia Đặc biệt. 65 năm đã trôi qua, vẫn còn nguyên nơi đây những tên bản, tên núi, tên sông lịch sử, gắn liền với các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của cách mạng Việt Nam.

Bác Hồ tại Điềm Mặc (Định Hóa, Thái Nguyên) vào mùa hè 1947

Việc chọn Việt Bắc làm căn cứ địa cách mạng đã được Bác Hồ với tầm nhìn chiến lược, từ rất sớm đã tính đến. Tháng 10-1946, trước khả năng cuộc kháng chiến sẽ bùng nổ, Bác cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh lên Việt Bắc để chuẩn bị căn cứ địa. Ít ngày sau, kháng chiến bùng nổ, các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội lần lượt rời Thủ đô Hà Nội di chuyển về Việt Bắc.

Ngày 20-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt tại ATK Định Hóa (Thái Nguyên). Cũng từ tháng 5 năm ấy, những cơ quan trọng yếu của Đảng, Nhà nước, Chính phủ theo kế hoạch đã lần lượt đến đứng chân ở mảnh đất này. Nơi ở và làm việc của Bác được đặt tại khu rừng Khau Tý (thôn Điềm Mặc, xã Thanh Định, huyện Định Hóa). Nhưng để đảm bảo bí mật, trong những ngày ở ATK Định Hóa, Bác Hồ thường qua lại mấy xã liền kề, như Phú Đình, Định Biên, Thanh Định… Từ đây, có đường sang Sơn Dương, lên Chợ Đồn, ra Phú Lương, xuống Đại Từ.

Vậy là ATK Định Hóa trở thành nơi đặt đại bản doanh của Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận Liên Việt (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng… cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các nhà cách mạng cao nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, Tôn Đức Thắng, Văn Tiến Dũng… ở và làm việc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ và hào hùng.

Tại ATK Định Hóa, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng Tư lệnh đã ra nhiều quyết định quan trọng trong việc mở các chiến dịch lớn như chiến dịch Thu Đông năm 1947, chiến dịch Biên Giới năm 1950, chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch đường 18, Hà Nam Ninh, chiến dịch Hòa Bình. Đặc biệt là tại ATK, Bác Hồ và Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Nhà tưởng niệm Bác Hồ tại ATK Định Hóa

Cũng tại đây còn diễn ra nhiều sự kiện quan trọng khác như Hội nghị tuyên dương các anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất; Lễ phong hàm cấp tướng đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và 10 tướng lĩnh khác.

Một tháng sau khi đặt chân đến ATK Định Hóa, Bác Hồ đã ra Lời kêu gọi nhân kỷ niệm nửa năm kháng chiến toàn quốc. Trong Lời kêu gọi, Bác đã khẳng định: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta nhất định thắng lợi. Vì đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa, vì đồng bào ta đoàn kết một lòng, vì tướng sĩ ta dũng cảm, vì chiến lược của ta đúng đắn, vì ta có nhiều bầu bạn.

Về mặt quân sự, theo chỉ đạo của Bác, các lực lượng vũ trang như bộ đội chủ lực, dân quân du kích từng bước được hình thành và phát triển mạnh trong phạm vi toàn quốc. Từ ATK Định Hóa, nhiều mệnh lệnh của cách mạng được chuyển đi các chiến trường trong cả nước, chỉ đạo các bước đi của đội quân Tây Tiến, cách đánh địch ở đường 5, chiến trường Bình Trị Thiên, chỉ đạo cuộc chiến tranh du kích ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Về mặt đối ngoại, Đài Tiếng nói Việt Nam đóng tại ATK đã nhiều lần phát đi các bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phê phán lập trường ngoan cố của chính quyền thực dân Pháp, khẳng định thái độ thiện chí của ta trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Lán Khuôn Tát – nơi Bác Hồ làm việc ở ATK Định Hóa

Cũng trong những ngày ở ATK Định Hóa, với phương châm “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân. Do vậy, ATK Định Hóa ngày ấy thực sự là Thủ đô kháng chiến, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của cả nước, nơi nuôi dưỡng chí bền gan chiến đấu của dân tộc.

Từ ATK Định Hóa đến chiến dịch Điện Biên Phủ là một hành trình cách mạng gian khổ và nhất định thắng lợi. Điều đáng nói là trong những năm kháng chiến đầy gian khổ hy sinh ấy, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã hết lòng bảo vệ cách mạng, bảo vệ Bác Hồ. ATK Định Hóa trở thành quê hương của cách mạng Việt Nam.

Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, để ca ngợi công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời phát huy những giá trị, ý nghĩa to lớn của ATK Định Hóa trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức các hoạt động kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ về ATK Định Hóa lãnh đạo cuộc kháng chiến (20-5-1947 – 20-5-2012) và đón nhận Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt: Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa. Đây là một sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng của tỉnh Thái Nguyên thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ con cháu quyết tâm vững bước đi theo con đường mà Bác Hồ đã chọn, xây dựng quê hương Thái Nguyên ngày càng giàu mạnh và phồn vinh.

T. Vĩnh
daidoanket.vn

Chiêm ngưỡng chữ ký Hồ Chủ Tịch từ 1945 – 1969

79 chữ ký trải dài từ những ngày đầu nước nhà độc lập năm 1945 đến 1969, sẽ giúp chúng ta có thêm một góc nhìn thú vị về người Cha già của dân tộc Việt Nam.

Bộ sưu tập bắt đầu với chữ ký vào ngày 10/9/1945 tức chỉ 8 ngày sau khi nước ta dành độc lập và kết thúc vào năm 1969.

Theo dòng thời gian, có chữ ký thể hiện sự vui mừng của Bác khi nước nhà hoàn toàn độc lập, có những chữ ký nói lên sự suy tư của Người khi đất nước khó khăn, cũng có chữ ký quyết đoán trước những vấn đề trọng đại của dân tộc, tất cả đã làm hiện lên một vị Lãnh tụ trọn đời vì dân, vì nước.

Không chỉ là nét bút của một Lãnh tụ vĩ đại, mỗi chữ ký tại đây đều gắn liền với những sự kiện trong một giai đoạn lịch sử gian khổ nhưng hết sức hào hùng của dân tộc ta.

Bác Trần Chung, cán bộ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia II – một trong số ít những người đang có bản chính của bộ sưu tập này cho biết, những chữ kí có trong đây đều được chọn lọc từ hàng ngàn văn bản tại Cục Văn thư và lưu trữ Nhà nước (Bộ Nội vụ), và tất cả đã được thẩm định bằng những biện pháp nghiệp vụ cẩn trọng nhất.

Ngoài việc lưu trữ tại những bảo tàng trên nhiều miền đất nước, bộ sưu tập này còn được tặng tới nhiều chính khách nước ngoài khi đến thăm Việt Nam như một món quà giúp thế giới hiểu thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả bộ sưu tập quý giá này:

D

D

JToàn cảnh các chữ ký của Bác trong bộ sưu tập

J
Khi đất nước dành độc lập từ tay phát xít Nhật

J
Trong những năm tháng sóng gió của nền độc lập non trẻ

J

F
Trong (hình trên) và sau (hình dưới) chiến dịch biên giới

N
Sau chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ

M
Thời gian chuẩn bị chiến dịch Tết Mậu Thân

H
Trước khi Bác đi xa

DS
Bác Trần Chung với bộ sưu tập hết sức ý nghĩa của mình

(Theo Infonet)
bee.net.vn

“Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó” ra đời như thế nào?

Ai đã một lần lên Cao Bằng đều tìm tới khu di tích lịch sử Pắc Pó. Ở đó có dòng suối Lê Nin nước trong vắt lách ra từ những khe núi đá, có ngọn núi Các Mác vút lên trời xanh, có hang Pắc Pó và những con đường mòn từng in dấu chân Bác, có bàn đá chông chênh nơi Bác Hồ viết bao tài liệu quan trọng liên quan tới đường đi và vận mệnh của đất nước. Và ở đó, luôn văng vẳng những câu hát: “Ơ rừng Pắc Bó quê ta nhớ rừng xưa ôm bóng Người/ Bước chân Người đi đất chuyển dời theo Người/ Người về rừng núi theo Người ngày mai tươi sáng…”. Đó là một trong những sáng tác hay nhất của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, tuy nhiên và ít người biết, bài hát được viết khi nhạc sĩ mới 23 tuổi và chưa một lần được đặt chân tới Cao Bằng, tới Pắc Pó…

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ từng khẳng định: “Đúng là cho tới lúc viết tôi chưa từng được lên Cao Bằng nhưng Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó được viết xuất phát từ một tình yêu lớn lao với Bác Hồ, nên cảm xúc dạt dào. Có cảm xúc rồi nhưng lại không có thực tế vì Việt Bắc núi rừng, sông suối ra sao tôi chưa từng được biết. Sự ra đời của bài hát là cả một kỉ niệm lớn. Khoảng mùa thu năm 1959, anh Quốc Hương đi tu nghiệp ở Tây về gặp tôi và bảo “Tuệ ơi, Tuệ viết một bài ca về Bác Hồ đi, để mình hát báo cáo với Bác cùng đồng bào miền Nam nhân dịp sang năm mừng thọ Bác 70 tuổi”. Tôi đáp: “Thôi anh đặt các anh khác đi, đề tài này lớn quá, tôi lại chưa lên Việt Bắc, chưa được gần Bác, làm sao có cảm xúc thật”… Tôi không ngờ anh Quốc Hương sau đó rủ tôi ra chợ Đồng Xuân (Hà Nội) tìm mua một cái xe đạp Trung Quốc để chuẩn bị chuyến hành hương lên Việt Bắc của hai anh em. Nhưng thật không may, mua xe xong, hai anh em đạp xe đến Bờ Hồ, loay hoay thế nào lại sa vào đường ray điện khiến xe đạp bị hỏng. Chuyến đi coi như bỏ lỡ vì không còn tiền mua xe. Loại vành xe cỡ 680 rất hiếm nên không thể nói chuyện sửa. “Cái khó ló cái khôn”, bí quá tôi về lục lại tài liệu liên quan đến chiến khu, đặc biệt đọc thuộc lòng bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu để lấy chất liệu cho bài hát. Đầu năm 1960, bài hát vừa viết xong được ca sĩ Quốc Hương tập ngay để kịp hát chúc thọ Bác vào dịp 19-5”.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ Tuệ sinh ngày 15-5-1936, quê ở Thanh Chương, Nghệ An. Ngay từ bé, những làn điệu dân ca như hò ví dặm, hát phường vải đã ngấm sâu vào trong máu thịt của ông. Năm 17 tuổi, Nguyễn Tài Tuệ rời quê hương ra đi với hi vọng đi theo con đường nghệ thuật. Ban đầu với sự dẫn dắt của nhạc sĩ Trọng Bằng, Nguyễn Tài Tuệ trở thành một giọng nam cao tham gia trong dàn hợp xướng cùng các nghệ sĩ Chu Minh, Quốc Hương, La Thăng, Mai Khanh… Một thời gian sau đó, Nguyễn Tài Tuệ được cử lên công tác tại Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái. Chính những năm tháng này đã đem lại cho ông vốn sống, những hiểu biết quý giá về văn hóa của bà con các dân tộc vùng cao.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước bảo tôi trước khi đi rằng: Phải nắm lấy cái sli, lượn, cọi, then… mà làm tiết mục cho đoàn. Tất nhiên là làm tiết mục cho đoàn nhưng tôi ý thức rằng phải góp cho cái vốn của người sáng tác… Đoàn chúng tôi vừa làm văn nghệ phục vụ đồng bào, giác ngộ đồng bào, vừa tiễu phỉ… Đôi khi cả đoàn hát cho một gia đình nghe thôi, nhà họ Vương ấy mà cảm tình cách mạng thì sẽ có nhiều người theo cách mạng. Vì vậy khi viết “Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó” tất cả tình yêu với Bác và vốn liếng tích lũy được trong những ngày sống ở rừng núi đã được tôi “huy động”.

Bài hát ngợi ca lãnh tụ Hồ Chí Minh, có thể xếp vào hàng xuất sắc nhất về Người. Âm hưởng núi rừng Việt Bắc ngập tràn trong giai điệu và ca từ của bài hát, vừa hoành tráng vừa mang chất sử thi. Sau khi ra đời bài hát đã được các nghệ sĩ tài danh hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam như nghệ sĩ ưu tú Bích Liên, nghệ sĩ nhân dân Thanh Huyền, nghệ sĩ ưu tú Tuyết Thanh và người nghe cũng đặc biệt ấn tượng với giọng hát cao vút như suối ngàn của nghệ sĩ nhân dân Lê Dung. Theo nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, “bài hát được Bác Hồ nghe lần đầu do anh Quốc Hương hát. Đến năm 1962, sau khi trưng cầu ý kiến thính giả Đài Tiếng nói Việt Nam cả hai miền Nam, Bắc, bài “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó” được giải nhất.

Trên nền âm nhạc dân tộc, những giai điệu của Nguyễn Tài Tuệ vút lên, với những “Tiếng hát giữa rừng Pắc Pó”, “Xuân về trên bản”, “Suối Mường Hum còn chảy mãi”, “Lời ca gửi Nọong”, “Xa khơi”… Bằng những giai điệu âm nhạc tuyệt vời này, Nguyễn Tài Tuệ để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc. Ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước đợt I (2001) về văn học – nghệ thuật vì những đóng góp cho nền âm nhạc nước nhà.

Hương Liên
daidoanket.vn

“Liêm” và “Tu thân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

“Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cán bộ chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc,vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít,mà những tính tốt như sau ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm” (Hồ Chí Minh. Toàn tập NXBCTQG tập 4, trang 466).

Ai cũng được học hành – Một ham muốn tột bậc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ảnh: TL

“Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc. Trời có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có 4 đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa thì không thành trời; thiếu một phương thì không thành đất; thiếu một đức thì không thành người” (Hồ Chí Minh Toàn tập NXBCTQG tập 5, trang 293).

Hơn 60 năm qua, những lời nói, câu viết ấy, những giá trị cốt lõi trong tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, như một sự tiếp nối và nhất quán về “tư cách một người cách mạng” được Nguyễn Ai Quốc – Hồ Chí Minh đưa lên hàng đầu trong các bài giảng về Đường cách mạng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng thời dựng Đảng (1925-1929) để hôm nay và lâu dài mai sau, lớp lớp đồng chí, đồng bào, con cháu của Người học tập, rèn luyện, làm theo. Trong những lời khuyên bảo, giảng huấn ấy nổi bật là chữ “Liêm” gắn chặt với bài học “Tu thân”, được Bác Hồ của chúng ta nêu cao và tự mình thực hành trước, nêu gương…

“Liêm – là đức tính trong sạch, không tham lam, không tham của công và của người khác”, cả từ điển tiếng Việt và từ điển Hán – Việt đều chú giải như vậy. Theo đó, liêm khiết là trong sạch đến độ thanh khiết, thuần khiết, tinh khiết, cao khiết, không một chút bụi bậm, nhơ bẩn. Liêm còn là liêm chính, ở đó có sự trong sạch gắn liền với sự ngay thẳng, một sự chân thật, trên căn bản lẽ phải, không chỉ là theo lẽ phải mà còn là bảo vệ lẽ phải, không gian dối, dối trá, thiên vị. Liêm phải gắn liền với sỉ, liêm sỉ – giữ mình sao cho trong sạch, tránh những điều phải xấu hổ, hổ thẹn với mọi người, trước nhất là hổ thẹn với lương tâm của chính mình.

“Liêm” là một trong “tứ đức” (cần, kiệm, liêm, chính), là một trong “ngũ thường” (nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm), trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và đây là một đặc sắc, sáng tạo trong tư duy đạo đức, triết lí đạo đức của Người. Hồ Chí Minh đã sử dụng nguyên vẹn 3 chữ: nhân, trí, dũng của Khổng Tử, lấy thêm chữ nghĩa của Mạnh Tử; và đưa vào thêm chữ liêm, mà trước đó không một ai đưa vào “ngũ thường”. Đây không chỉ là chữ, là từ, là khái niệm, là chuẩn mực giá trị đạo đức, được dùng lại và đưa thêm vào mà quan trọng hơn, cơ bản nhất lại là ở chỗ Hồ Chí Minh đã có cách tiếp cận mới nên đã xác định nội hàm mới về chất để các từ khái niệm đạo đức truyền thống trở thành những chuẩn mực, giá trị đạo đức cách mạng, thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải là đạo đức, là văn minh “thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình”. Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là nền tảng của người cách mạng, cũng như gốc của cây, ngọn nguồn, của sông của suối. Người vẫn thường nói, đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, mới đi được xa; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng… Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy phải là công việc của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta. Theo Hồ Chí Minh, phải có cái đức để đi đến cái trí. Vì khi đã có cái trí thì đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã lựa chọn, đã tiếp nhận, đã đi theo. Nói về liêm, Hồ Chí Minh đã dẫn lời của Khổng Tử: “Người mà không liêm không bằng súc vật”. Hơn thế đây coi là một phẩm chất nhân cách của con người trong các mối quan hệ xã hội, trong đối nhân xử thế, là một phẩm chất xã hội của cá nhân và của cộng đồng.

Theo Hồ Chí Minh thì “Liêm là không tham địa vị, không tham sung sướng, không tham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”… Liêm là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa thì không ham gì hết…”, “Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, tham sống yên đều là bất liêm”… “Dìm người giỏi để giữ gìn danh tiếng của mình… gặp việc phải mà sợ khó nhọc, nguy hiểm không dám làm… gặp giặc mà rụt rè mà không dám đánh đều trái với liêm, đều là bất liêm”. Như vậy trong Liêm có Chính, có Nghĩa, có Nhân, có Dũng; bất liêm là biểu hiện và bắt nguồn từ bất nhân, bất chính, bất nghĩa, vô dũng. Liêm gắn liền với liêm sỉ, từ sự hổ thẹn của con người về điều gì và với ai, ở đâu, khi nào mà ta nhận ra cái đức liêm, đức nhân, đức nghĩa, đức chính của con người, đánh giá được một cách trực giác về trình độ trưởng thành của nhân tính, nhân cách, nhân phẩm, tức phẩm giá làm người của con người và của cộng đồng dân tộc. Đây là điều mà Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Liêm và Sỉ, bất liêm và vô sỉ, do vậy đã trở thành trung tâm của sự phán xử, đánh giá về trình độ phát triển của con người, cơ sở của tiến bộ xã hội.

Nêu cao đức liêm khiết, liêm chính trong giáo dục, tự giáo dục và “giáo dục lại” của mọi người Việt Nam, trước hết là đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh cũng là mẫu mực trong thực hành tu thân. Tu thân là tự rèn luyện, tự giáo dục về đạo đức cách mạng để phụng sự tổ chức, phụng sự nhân dân, làm người con Trung Hiếu. “Trung với nước. Hiếu với dân,nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; “kẻ thù” không chỉ là giặc ngoại xâm mà còn là giặc “nội xâm” – chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân, chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.

Đây chính là nội dung của khái niệm “tu thân” theo tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh, một khái niệm cơ bản của đạo đức học phương Đông truyền thống – Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, được biến đổi và nâng cao về chất. Tu thân là “sửa mình” để mình luôn trong sạch. Liêm, liêm khiết, thanh liêm, liêm chính, trong sạch và ngay thẳng. Tu thân là đối với mình, là tự mình từ đó mà đối với việc và đối với người khác, từ tu thân mà đối nhân xử thế. “Là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” là thực hành chủ nghĩa Mác-Lênin bằng cách ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa”.

Tu thân xét từ chiều sâu tâm lý của chủ thể nhân cách chính là cái trình độ, năng lực làm chủ ham muốn. Ham muốn là cái lẽ thường tình, là “thói đời”, là tính người phổ biến của con người thực, sống ở đời và làm người. Không chỉ là sự phong phú đa dạng, mạnh mẽ hay nghèo nàn, đơn điệu, yếu ớt nơi ham muốn của mỗi người. Rất quan trọng còn là định hướng giá trị xã hội và văn hóa, đạo đức và chính trị của những ham muốn ấy. Hơn thế còn là cách thức theo đuổi của con người để thỏa mãn nhu cầu ham muốn. Ham muốn do vậy trở thành tiêu chí cơ bản, phép màu thử nghiệm để nhận ra cái cốt cách, bản lĩnh của mỗi con người trong đối nhân, xử thế, trong sự tự thực hiện bổn phận của mỗi người với mọi người và đối với chính bản thân mình. Tinh thần này đã được thể hiện trong một bài của Bác Hồ trả lời các nhà báo nước ngoài, đăng toàn văn lần đầu trên báo Cứu Quốc, số ra ngày 21-1-1946, tại Hà Nội. Bài viết có đoạn như sau:

“Nhân dịp các bạn tân văn, ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và các nhân sĩ nước ngoài đều biết:

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu đến vòng danh lợi…”

Ở Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì mọi sự đều công khai và minh bạch trong sự lựa chọn và xác định, theo đuổi và thực hiện tới cùng, từ thời tuổi trẻ cho tới lúc “đi xa”. Không chỉ công khai minh bạch mà còn là dứt khoát quyết liệt, khẳng định và phủ định. Đó là “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc”… là “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”… “không dính líu gì với vòng danh lợi”. Đây không phải là sự biện luận cùng phép tu từ trong ngôn ngữ văn bản. Đây là cốt cách, bản lĩnh của một con người, nhân cách tự do, “tự do tin tưởng, tự do tổ chức”, tự do trong suy nghĩ và hành động của một chiến sĩ cách mạng, lãnh tụ của dân tộc, của Đảng. Con người đó là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, là Bác Hồ kính yêu của tất cả chúng ta, của mỗi người Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Một năm trước ngày đi gặp các bậc cách mạng đàn anh khác, Bác còn căn dặn: “Muốn giáo dục nhân dân làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục, rèn luyện hàng ngày. Người xưa còn biết tu thân… Đảng viên, cán bộ ta từ nhân dân anh hùng mà ra, phải sống cho xứng đáng với nhân dân và Đảng anh hùng”.

“Đảng anh hùng” đó cũng đồng nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Hồ Chí Minh đã định nghĩa, định tính, định chất về Đảng như vậy, Đảng do Người sáng lập và rèn luyện dìu dắt, trở thành “Đảng ta” trong suy nghĩ và mong đợi thiết tha của mọi người dân nước Việt về “Đảng của mình” độc đáo và riêng biệt có một không hai.

Nguyễn Đức Thạc
daidoanket.vn

Về Bạc Liêu viếng đền thờ Bác

Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới (huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu), cách trung tâm TP. Bạc Liêu hơn 8 km về hướng đông bắc, ban đầu được xây dựng với vật liệu đơn sơ (tre, lá). Việc hình thành, giữ gìn Đền thờ là một câu chuyện ly kỳ của Đảng bộ và nhân dân xã Châu Thới anh hùng.

Các chú Hội CCB tỉnh Bạc Liêu viếng đền thờ Bác ở Châu Thới

Cách đây gần 43 năm, ngày 5-9-1969, khi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát tin buồn Bác Hồ vĩnh viễn đi xa, quân dân xã Châu Thới bàng hoàng, đau đớn. Nghĩ đến tình yêu thương của Bác đối với nhân dân miền Nam ruột thịt, Đảng bộ và nhân dân Châu Thới có tâm nguyện chung là xây dựng Đền thờ Bác ngay tại quê hương để ngày đêm hương khói cho Người, củng cố thêm niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Sáng ngày 19-5-1972, Lễ khánh thành Đền thờ Bác được tiến hành trong niềm hân hoan và trang nghiêm của trên một ngàn người trong xã Châu Thới và các chiến sĩ huyện Vĩnh Lợi. Khu di tích này được công nhận là di tích lịch sử cách mạng quốc gia 1998. Đây cũng là niềm tự hào của Châu Thới nói riêng và Bạc Liêu nói chung.

Cổng vào Đền

Từ ngày thống nhất đất nước, sau nhiều lần tôn tạo, trùng tu, ngôi đền nhỏ đơn sơ ngày nào đã trở thành khu di tích lịch sử quy mô lớn. Nhớ lại những ngày chiến đấu, xây dựng Đền thờ Bác Hồ ngay trong lòng địch đã khó, còn bảo vệ nơi hương khói cho Người còn khó hơn trăm lần, vì bọn Mỹ – Nguỵ luôn tìm cách phá hoại, các nhân chứng lịch sử luôn xúc động xen lẫn tự hào. Dù đã hơn 41 mùa xuân Bác ngủ say trong cõi vĩnh hằng, nhưng chú Nguyễn Đăng Khoa – nguyên là Đội trưởng Đội bảo vệ Đền thờ Bác, từng quyết tử để bảo vệ Đền, vẫn luôn nhớ mãi những ngày cùng đồng đội đi nhặt những trái pháo lép của địch mang về chế tạo lại, lấy trộm những trái lựu đạn để dùng làm “chướng ngại vật” ngăn chặn giặc phá Đền thờ Bác. Sau ngày giải phóng, chú Khoa tiếp tục làm công việc bảo vệ, chăm sóc Đền thờ Bác đến nay. Với tình cảm sâu nặng đối với Bác, chú Khoa đã tìm thấy được niềm vui và hạnh phúc trong công việc.

Còn với cô Lê Thị Đầm (74 tuổi) – nguyên Bí thư xã Châu Thới, hễ đến ngày sinh nhật hay giỗ Bác là cô làm một mâm cơm giản dị cúng Bác vì biết rằng “nếu làm sang trọng, lãng phí quá Bác sẽ không vui”. Đó là ngày gia đình quây quần bên nhau, mỗi lần như thế là một câu chuyện về Bác Hồ sẽ được cô Đầm kể cho các cháu nghe. Mỗi lần một ít thôi để các cháu thấm dần, cô vui sướng rơi cả nước mắt khi đứa cháu nội đang học tiểu học trầm ngâm như người lớn nhận định về Bác: “Trên đời này chỉ có một mà không có hai phải không bà nội?”. Mâm cơm cúng Bác bao giờ cũng có chén mắm nêm và đĩa cà pháo vì đó là món ăn dân dã mà Bác thích.

Cô Đầm hằng ngày vẫn thắp hương Bác tại gia đình

Những câu chuyện về tấm lòng quân dân Châu Thới đối với Bác Hồ như việc xây cất đền thờ, vừa là di sản văn hóa của địa phương, vừa là di tích lịch sử văn hóa mãi mãi trường tồn cùng non nước Việt Nam; việc thờ Bác ở gia đình, việc chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ đền thờ, trông nom và chăm sóc đền luôn được các thế hệ đi trước truyền lại cho các thế hệ sau. Có về viếng Đền thờ Bác Hồ, nhìn những hiện vật đơn sơ nhưng chan chứa tình cảm, rồi nghe người dân nơi đây kể chuyện mới thấm thía hết ý nghĩa của câu: “Bác Hồ sống mãi trong trái tim miền Nam”. Dù cho Người chưa có dịp vào thăm, dù cho niềm mong mỏi của cán bộ, nhân dân miền Nam, trong đó có người dân Bạc Liêu sẽ không bao giờ thành hiện thực, nhưng trong mỗi trái tim người dân vẫn luôn khắc ghi hình bóng và lời dạy của Người, nhất là trong giai đoạn hiện nay “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Đến với khu di tích này, bạn sẽ gặp được những chiến sĩ đã từng chiến đấu kiên cường để bảo vệ Đền thờ, bạn sẽ thấy được tinh thần anh dũng và sự mưu trí của quân dân Bạc Liêu thông qua những hiện vật được trưng bày tại đây. Một hiện vật rất nhỏ, nhưng là một câu chuyện đầy xúc động. Đó chính là hai mảnh vải đen và đỏ của cô Lê Thị Đầm và ông Nguyễn Văn Phấn trong buổi lễ truy điệu Bác tại đền thờ, được 2 người cất giữ từ năm 1969 đến nay. Sau ngày giải phóng đến nay, Đền thờ thường xuyên là địa điểm để tổ chức những hoạt động xã hội, là nơi họp mặt những ngày truyền thống, nhất là dịp 19-5, Quốc khánh 2-9 và giỗ Bác quân dân Bạc Liêu viếng, dâng hương tưởng nhớ đến Người và tổ chức mâm cơm cúng Bác.

Chú Khoa hằng ngày thắp hương cho Bác

Đến với Đền thờ Bác ở Châu Thới, thắp nén nhang trước tượng Bác uy nghiêm, nhân từ, chắc chắn ai cũng tưởng nhớ đến vị lãnh tụ của đất nước và nhìn lại bản thân mình, để nỗ lực phấn đấu “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Phương Nghi
daidoanket.vn

Nhân dân thủ đô Hà Nội lần đầu tiên kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch

Ngày18-5-1946, báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh (nay là báo Đại Đoàn Kết) xuất bản ở Hà Nội, chính thức thông báo ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ngày 19-5-1890. Chính ngày này đã ra đời một người đặc biệt của đất nước Việt Nam: Hồ Chí Minh”.

Tinh thần hoạt động của hầu hết các chiến sĩ Việt Nam đều do bộ óc tài tình của Người xây dựng nên. Ngày 19-5-1890, ngày Người nhìn thấy bầu trời Việt Nam là ngày rất quan hệ đến vận mệnh dân tộc Việt Nam.

“…Chúng ta dân tộc Việt Nam, chúng ta đi từ giai đoạn một nước nô lệ đến giai đoạn một nước tự do là nhờ có Hồ Chí Minh”. Cùng cả nước, nhân dân Thủ đô Hà Nội lần đầu tiên tổ chức kỷ niệm lần thứ 56 ngày sinh của vị Cha già dân tộc với tất cả tấm lòng thành kính, biết ơn. Chiều ngày 18-5-1946 TP. Hà Nội bừng lên trong rừng cờ biểu ngữ. Gia đình nào cũng treo ảnh chân dung Hồ Chủ tịch ở nơi trang trọng nhất. Các ngành, các đoàn thể, các giới ở Hà Nội đều gửi điện văn lên chúc thọ Hồ Chủ tịch bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối với lãnh tụ tối cao của dân tộc, sẵn sàng tuân theo mọi mệnh lệnh của Chính phủ.

Tại Bắc Bộ Phủ, từ sáng sớm các em thiếu nhi đã tụ tập ở Ấu Trĩ Viên. Theo tiếng trống ếch các em tiến vào Bắc Bộ Phủ. Bác hiền từ giản dị trong bộ quần áo vẫn mặc hàng ngày tươi cười đón các em.

Thay mặt các bạn, em Nga, 8 tuổi đọc bài chúc thọ Bác trong khi các em khác thi nhau gắn huy hiệu “Măng non mọc thẳng” lên ngực áo Bác, kính tặng Bác huy hiệu hình quả tim có chữ “i”, chữ “t” tập bài hát và điều lệ Hội Nhi đồng cứu quốc. Đồng chí Khuất Duy Tiến, Bí thư Thành bộ Việt Minh mang cây bách tán tới. Bác Hồ trao cây cho các em thiếu nhi. Người nói: “Bác có cây này tặng các cháu. Mai sau cái cây sẽ mọc ra một trăm cái tán. Các cháu về chăm lo cho cây lớn, cây tốt, thế là các cháu yêu Bác lắm đấy”. Các em sung sướng được Bác cho quà, đồng thanh hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”. Bác chụp ảnh chung với các em.

Tiếp đó, các đoàn đại biểu Hướng đạo, thiếu niên Tiền phong, đại biểu Nam Bộ, vệ quốc quân, Ban bảo vệ thành, Ban Cứu thương, đại biểu các ngành các giới, các đoàn thể, các tôn giáo, thân hào, nhân sĩ… đến chúc thọ Bác. Đại biểu UBND TP. Hà Nội kính biếu Bác một tháp rùa khổng lồ làm bằng bánh ngọt. Đại biểu Phật giáo dâng Bác quyển Kinh Dược sư.

19 giờ, tại chùa Quán Sứ, Hội Phật tử đã tổ chức buổi lễ long trọng cầu trường thọ cho Hồ Chủ tịch.

Trong ngày kỷ niệm sinh nhật 56 năm của mình, Bác vẫn không quên nhắc nhở cán bộ khi đến chúc thọ Người thực hiện khẩu hiệu “Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, vì đó là những điều không bao giờ cũ cả, tựa như cơm ăn, nước uống hàng ngày để sống vậy”.

Lễ kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch đầu tiên được tổ chức ở Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh vô cùng gay go phức tạp: quân Tưởng chưa rút hết, quân Pháp ngày càng có nhiều hành động bội ước vi phạm Hiệp định sơ bộ 6/3. Vì thế, lễ kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch không chỉ biểu lộ lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào vị lãnh tụ tối cao của dân tộc mà còn là dịp biểu dương lực lượng to lớn, biểu thị tinh thần đoàn kết, quyết tâm giữ vững độc lập của nhân dân Hà Nội và đồng bào cả nước.

Lê Quang Cảnh
(Biên tập theo báo Cứu Quốc số 243 ngày 18-5-1946 và 244 ngày 20-5-1946)
daidoanket.vn