Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Thư gửi cán bộ, chiến sĩ và thanh niên nam nữ vùng địch tạm chiếm (1-2-1954)

Gửi cán bộ, chiến sĩ và thanh niên nam nữ ở vùng tạm bị chiếm,

Nhân dịp nǎm mới Giáp Ngọ, Bác thân ái chúc các cô, các chú nǎm mới, cố gắng mới, thắng lợi mới.

Nǎm vừa qua các cô, các chú đã anh dũng đánh du kích và bảo vệ tính mạng, tài sản của đồng bào.

Sang nǎm mới, cuộc kháng chiến của ta sẽ gay go hơn, nhưng sẽ thu nhiều thắng lợi hơn. Giặc càng thất bại, chúng càng ráo riết dùng những thủ đoạn hung ác để cướp của, bắt người, bắt cả phụ nữ đi ngụy binh để chống lại kháng chiến, giết hại đồng bào và làm bia đỡ đạn cho chúng.

Để phá tan âm mưu của giặc, Bác kêu gọi:

– Cán bộ và chiến sĩ phải thi đua thực hiện những nghị quyết của Hội nghị du kích toàn quốc nǎm ngoái, tiêu diệt thật nhiều giặc để giữ nước, giữ làng.

– Thanh niên nam nữ thì cùng đồng bào ra sức đấu tranh chống giặc, quyết không đi lính cho giặc, hǎng hái tham gia du kích và bộ đội của ta.

– Tất cả mọi người ra sức vận động ngụy binh quay về với Tổ quốc. Chính phủ và nhân dân ta sẽ khoan hồng đối với họ.

Đến cuối tháng 3-1954, các địa phương phải báo cáo lên, Bác sẽ có giải thưởng đặc biệt cho những đơn vị và những cá nhân lập công nhiều nhất.

Bác nhờ các cô, các chú chuyển lời Bác chúc nǎm mới cho các cụ phụ lão và các cháu nhi đồng.

Chào thân ái và quyết thắng
Tháng 7 nǎm 1954
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 163,
từ ngày 1 đến 5-2-1954.
cpv.org.vn

Lòng trách nhiệm và chí cầu tiến (6-2-1954)

Lòng trách nhiệm và chí cầu tiến là thế nào? – Trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, bất kỳ việc to việc nhỏ đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Cho nên việc gì cũng quý, việc gì cũng cần. Công cuộc cách mạng là do nhiều việc nhỏ, nhiều bộ phận mà xây dựng nên. Nếu không có những việc nhỏ, những bộ phận nhỏ cộng lại, thì sẽ không thành việc lớn. Công việc xã hội cũng giống như cái đồng hồ, nếu thiếu 1 cái đinh nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng đến cả cái đồng hồ.

Vì vậy, khi chúng ta phụ trách một công việc gì, bất kỳ to nhỏ, chúng ta cũng phải luôn luôn nhớ đến việc đó quan hệ với cách mạng, ảnh hưởng đến cách mạng. Chúng ta phải đưa toàn tâm toàn lực làm cho thành công, làm trọn nhiệm vụ. Chỉ làm cho xong chuyện, làm qua loa, tức là có hại cho cách mạng, có hại đến nhân dân.

Tư tưởng ta thông như vậy, thì gặp việc gì chúng ta cũng cẩn thận, cố gắng, quyết tâm làm cho vượt mức. Thế là lòng trách nhiệm.

Xã hội ngày càng tiến, công tác của ta cũng phải ngày càng tiến. Chúng ta phải kháng chiến thắng lợi, phải thực hiện dân chủ mới, phải tiến đến chủ nghĩa xã hội, rồi tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, nǎng lực của ta, sáng kiến của ta, tiến bộ của ta cũng phải luôn luôn phát triển, tiến lên không ngừng. Không tiến, tức là thoái.

Chúng ta quyết tâm cầu tiến bộ, quyết tâm vượt khó khǎn, thì dù công việc to lớn như cải tạo xã hội, cải tạo thiên nhiên, chúng ta cũng làm được. Người Liên Xô đã đổi rừng hoang làm thành phố, biến bãi cát thành ruộng vườn, cũng vì có chí cầu tiến không ngừng. Vì vậy, mỗi người chúng ta đều phải có lòng trách nhiệm và chí cầu tiến.

C.B.

Báo Nhân dân, số 164,
từ ngày 6 đến 10-2-1954.
cpv.org.vn

Vững chắc và cố chấp (11-2-1954)

Lập trường chắc chắn và tư tưởng cố chấp, hai điều đó khác nhau, nhưng có người nhầm lẫn cố chấp với chắc chắn. Vì nhầm lẫn ấy, mà tưởng chỉ có ý kiến mình là “đúng”, ý kiến của người khác là “sai”. Khi bàn bạc việc gì, dù sai hay là đúng, cũng cứ khư khư giữ lấy ý kiến của mình, tưởng như thế là “lập trường chắc chắn”, “có tính nguyên tắc”. Thế là cố chấp.

Thế nào là lập trường vững chắc?

– Tức là đứng hẳn về lập trường giai cấp công nhân. Không có chút tự tư tự lợi làm mờ tối tư tưởng và hiểu biết của mình. Lý luận phải chǎng đều do công tác thực tế thử thách. Việc đúng là đúng, chứ không phải cứ tự cho mình là đúng. Khiêm tốn, cẩn thận, chứ không phải hàm hồ, khinh người. Người khác đúng, thì mình thật thà hoan nghênh và sẵn sàng học tập. Người khác sai, thì mình chịu khó lắng nghe, bền lòng giải thích. Dù sai lầm của mình rất nhỏ, cũng mạnh dạn thừa nhận, kiên quyết sửa chữa. Dù ý kiến của người khác chỉ đúng một chút, mình cũng phê phán chỗ sai, hoan nghênh chỗ đúng.

Ai mà tư tưởng cố chấp, chắc chắn là người chủ quan. Chỉ nghe, chỉ hiểu một chút, hoặc chỉ có chút kinh nghiệm, rồi cứ lắp nguyên vǎn vào tất cả mọi việc một cách máy móc. Kết quả là đầu óc cứng đờ, không biết biến hoá, trái ngược với thái độ của giai cấp công nhân, trái hẳn với khoa học cách mạng.

Vì vậy, chúng ta phải học tập và rèn luyện, làm cho lập trường vững chắc; và phải chống tư tưởng và thái độ cố chấp, chủ quan.

C.B.

Báo Nhân dân, số 165,
từ ngày 11 đến 15-2-1954.
cpv.org.vn

Điện mừng nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập quân đội Liên Xô (26-2-1954)

Kính gửi đồng chí K.Vôrôsilốp,
Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao Liên Xô,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 36 Ngày thành lập Quân đội Liên Xô, thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và nhân danh cá nhân tôi, tôi xin đồng chí Chủ tịch chuyển tới Quân đội và nhân dân Liên Xô anh dũng lời chúc mừng nhiệt liệt của chúng tôi.

Nhân dân Việt Nam, cũng như nhân dân toàn thế giới tin tưởng vào lực lượng ngày càng lớn mạnh của Quân đội Liên Xô là một đảm bảo vô cùng vững chắc cho thắng lợi cuối cùng của công cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình và dân chủ thế giới, dưới sự lãnh đạo của Liên Xô vĩ đại.

Kính chúc đồng chí mạnh khoẻ.

Ngày 22 tháng 7 nǎm 1954
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

Báo Nhân dân, số 168, từ ngày 26 đến 28-2-1954.
cpv.org.vn

Chống nạn giấy tờ (6-3-1954)

Từ các Bộ ở trung ương đến cơ quan các xã, nạn giấy tờ rất nặng, làm hại rất nhiều. Như: Bộ Nội vụ: một bản thông tư (biên chế) dài 26 trang; một biên bản (hội nghị củng cố xã) dài hơn 100 trang; v.v..

Bộ Tài chính: riêng Vụ ngân sách, một tháng đòi hỏi hơn 10 báo cáo, có báo cáo dài hơn 10 trang; bản thống kê dài 53 cột; v.v..

Bộ Canh nông: là một Bộ có quan hệ nhiều nhất với nông dân, cho nên chúng tôi có nhiều thí dụ hơn:

– Giấy tờ quá nhiều, quá dài: Bộ đã gửi công vǎn (về việc mở trường chuyên nghiệp) cho 38 cơ quan, trong đó nhiều cơ quan không cần nhận công vǎn ấy. Một biên bản (tổng kết vụ chiêm 1953) kèm thêm tài liệu phụ lục dài 120 trang. Một cơ quan canh nông địa phương đòi hỏi ở xã cung cấp một thống kê dài 153 cột.

– Quá chậm trễ: chỉ thị của Bộ về việc giữ gìn cho trâu bò khỏi rét: mùa rét đã lâu rồi, chỉ thị mới đến. Bộ viết giấy xin giống nấm, Thứ trưởng ký rồi, sau một tháng giấy vẫn còn nằm ở Vǎn phòng của Bộ.

– Không đúng nguyên tắc: có những công vǎn gửi lên Ban Kinh tế trung ương, mà Bí thư ký tên; công vǎn gửi cho Uỷ ban các liên khu, mà Giám đốc ký tên. Những công vǎn ấy phải do Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng ký tên mới đúng.

– Cách làm luộm thuộm: như chương trình sản xuất, đánh máy luộm thuộm, đến nỗi Quốc hội xem không được, phải gửi trả lại.

– Kém giữ bí mật: Bộ dùng điện thoại đánh điện, phải kinh qua nhiều trạm chuyển, mà nói cả những điều cần giữ bí mật.

Nguyên nhân: Vì không sát thực tế, không gần gũi quần chúng. Cán bộ chỉ lo viết cho nhiều chỉ thị, thông tư… Nhưng không lo việc làm phải ǎn khớp với lời nói, chỉ thị phải có thể thực hành. Cán bộ nhầm tưởng rằng cứ gửi nhiều thông tư, chỉ thị, là xong việc; mà không theo dõi, đôn đốc giúp đỡ địa phương, không kiểm tra công việc thực tế.

Cách chống nạn: Mỗi cán bộ cần phải thiết thực phụ trách công tác thực tế, mọi việc phải làm cho có kết quả thiết thực. Phải gần gũi quần chúng, học tập quần chúng, để hướng dẫn và giúp đỡ quần chúng, phải rút bớt thời giờ viết công vǎn, thêm nhiều thời giờ công tác thực tế. Phải mở rộng dân chủ, thực hiện thật thà tự phê bình và phê bình từ trên xuống, từ dưới lên, nhất là từ dưới lên.

Kết luận: Nạn giấy tờ đã làm tốn của hao công của nhân dân, nó cũng làm hỏng tư tưởng và tác phong của cán bộ. Nó là di tích của đế quốc và phong kiến, là hiện tượng tai hại của nạn quan liêu. Mà nạn quan liêu là mẹ đẻ ra nạn tham ô, lãng phí.

Nhân dân rất mong các Bộ thi đua tiễu trừ triệt để bệnh giấy tờ và đôn đốc cấp dưới cũng thi đua như vậy. Đó là một cách để thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

C.B.

Báo Nhân dân, số 170, Từ ngày 6 đến 10-3-1954
cpv.org.vn

Thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ (3-1954)

Thân ái gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận,

Các chú sắp ra mặt trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khǎn, nhưng rất vinh quang.

Các chú vừa được chỉnh quân chính trị và chỉnh huấn quân sự và đã thu được nhiều thắng lợi về tư tưởng và chiến thuật, kỹ thuật. Nhiều đơn vị đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khǎn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới.

Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất.

Chúc các chú thắng to.

Bác hôn các chú.

Chào thân ái và quyết thắng

Tháng 3 nǎm 1954
HỒ CHÍ MINH

Quân đội nhân dân,xuất bản tại mặt trận, số 131, ngày 14-3-1954.
cpv.org.vn

Một góc nhìn về văn hóa Hồ Chí Minh

“Đã có nhiều đoàn làm phim với nhiều góc độ tiếp cận về Bác, nên sau khi khảo sát, chúng tôi quyết định chọn cách tiếp cận mới, là một góc nhìn văn hóa về Hồ Chí Minh. Thực tế, nét văn hóa ở Bác chính là điều các nhân chứng đặc biệt ấn tượng”, NSƯT đạo diễn Trần Cẩm, tác giả kịch bản và đạo diễn phim “Hồ Chí Minh với nước Nga”.

Kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) đang phát sóng bộ phim “Hồ Chí Minh với nước Nga”. Đây là bộ phim tài liệu lịch sử nhiều tập đầu tiên về Bác được VTV đầu tư, thực hiện tại nước ngoài trong thời gian ngắn nhất. Với những câu chuyện được bố cục có hệ thống, phim đã mang đến những hình ảnh chân thực, xúc động về tình cảm của Bác với nhân dân Nga, sự thủy chung, sâu nặng của nhân dân Nga với Bác, với nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này, chúng tôi đã gặp gỡ NSƯT, đạo diễn Trần Cẩm, tác giả kịch bản và đạo diễn phim.

PV: Là một trong các “chuyên gia” phim tài liệu về Hồ Chủ tịch với gần 20 bộ phim và từng đoạt Cánh diều vàng ở thể loại này, vì sao đến nay, ông mới quyết định làm phim về Bác ở Nga?

NSƯT Trần Cẩm: Trong 30 năm Bác bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã đi nhiều nước, nhưng có tới 6 năm Người học tập và làm việc ở Liên Xô. Người đã tìm thấy ở nước Nga những kinh nghiệm quý báu để giành độc lập tự do cho dân tộc và cả nền văn hóa tương lai. Vì thế, có nhiều sự kiện, nhân chứng quan trọng ở Nga. Nhưng đến giờ VTV mới có điều kiện làm phim, bởi chi phí rất lớn, do phải đi nhiều nơi, vì sinh thời, Bác từng có mặt ở hầu khắp nước Nga. Các nhân chứng ngày ấy đều đã cao tuổi, nhiều người không còn nữa, nếu chúng tôi không chạy đua với thời gian, sẽ không kịp gặp ai nữa. Việt Nam xác định Nga là đối tác chiến lược đặc biệt, là nước đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh, cho đến hôm nay, như lời Tổng thống Putin: “2 nước có mối quan hệ đặc biệt mà trách nhiệm của chúng ta phải gìn giữ quan hệ tốt đẹp đó”.

PV: Cách ông xác định tiêu chí và lựa chọn các địa danh ở Nga có liên quan đến Bác?

NSƯT Trần Cẩm: Nguồn thông tin quan trọng là hồi ký của ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ và Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi cũng thông qua đại diện của VTV tại Nga để tìm lại những người từng gặp Bác. Chúng tôi đã gặp gỡ hơn 60 nhân chứng người Nga và hơn 10 người Việt ở 9 thành phố và 2 nước cộng hòa, với những câu chuyện tiêu biểu, ấn tượng sâu đậm, để có chất liệu cho bộ phim mang ý nghĩa lịch sử này.

PV: Ông có thể nói rõ hơn về điều này?

NSƯT Trần Cẩm: Bộ phim là 8 câu chuyện kể độc lập, nhưng xâu chuỗi hợp lý, giúp người xem dõi theo hành trình của Bác: St Peterburg là một điểm nhấn, vì là nơi lần đầu tiên Người đặt chân đến nước Nga vào ngày 30/6/1923 từ cầu tàu số 7. Hay tượng đài Bác Hồ với thông điệp “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ở thủ đô nước Nga được xây dựng những năm 90 và gìn giữ đến nay, trong bối cảnh tượng đài Lênin, Các Mác bị tháo dỡ, cho thấy nhân cách của Người đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ với các tầng lớp nhân dân Nga.

Chúng tôi gặp gỡ nhà báo Cô-bê-lep, tác giả “Đồng chí Hồ Chí Minh” đã 3 lần tái bản, với lượng phát hành 200.000 bản, vượt xa nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách. Tầm tư tưởng của Người: muốn xây dựng đất nước phải đào tạo con người, được thể hiện qua câu chuyện 100 thanh niên và 100 thiếu niên đầu tiên được người cử sang Nga học từ năm 1954. Thực tế, nhiều lưu học sinh ở Nga về sau đã trở thành lãnh đạo cao cấp, nhà khoa học xuất sắc và cán bộ chủ chốt trong mọi ngành của đất nước v.v…

Bác Hồ với người dân Nga.

PV: Có câu chuyện nào liên quan đến Bác lần đầu được hé lộ trong phim?

NSƯT Trần Cẩm: Có chứ! Chúng tôi được tiếp cận với nhiều tài liệu của KGB từng được coi là tuyệt mật như “Hồi ức cựu binh”, “Những điều bí mật về chiến tranh Việt Nam” v.v… để hiểu thêm nhiều điều về tình cảm sâu nặng của Bác với những người bạn Nga, cũng như của các bạn Nga với Bác, với nhân dân Việt Nam.

PV: Đã rất nhiều người làm phim về Bác. Đây là thách thức cho những người đi sau. Ông có sự mới lạ trong tiếp cận hình tượng Bác để hấp dẫn người xem?

NSƯT Trần Cẩm: Đã có nhiều đoàn làm phim với nhiều góc độ tiếp cận về Bác, nên sau khi khảo sát, chúng tôi quyết định chọn cách tiếp cận mới, là một góc nhìn văn hóa về Hồ Chí Minh. Thực tế, nét văn hóa ở Bác chính là điều các nhân chứng đặc biệt ấn tượng. GS. Titarenco, Viện trưởng Viện Viễn Đông, chia sẻ: “Trên ngực con người đó không có tấm huân chương nào, nhưng vẫn đóng góp hết mình cho Tổ quốc và điều đó khiến chúng tôi phải suy nghĩ”. Có nhiều người Nga chưa gặp Bác, nhưng sau khi thăm nhà sàn, ao cá Bác Hồ, đã nhận ra sự khác biệt của vị lãnh tụ Việt Nam với các lãnh tụ mà họ biết. Thiếu tướng Anatoly Gozdeev, cựu quân nhân Nga tham gia bảo vệ bầu trời miền Bắc Việt Nam 1965-1972 nhớ lại: Giữa bom đạn dày đặc, Người vẫn đến thăm các chuyên gia quân sự Nga đang ở Việt Nam. Điều đó, truyền đến chúng tôi sự dũng cảm và niềm lạc quan chiến thắng.

PV: Những ngày làm phim về Bác ở nước Nga, ông cảm nhận thế nào về tình cảm của người dân Nga với Bác Hồ và với Việt Nam?

NSƯT Trần Cẩm: Chúng tôi đã gặp gỡ nhiều người, ở nhiều lứa tuổi khác nhau và khi biết làm phim về Bác, họ đều nhiệt tình giúp đỡ, tận tình dẫn đường đến những nơi Bác Hồ đã tới và sinh sống. Nhiều người ở xa hàng trăm cây số cũng trở về để trả lời phỏng vấn. Có người đã cao tuổi, sức yếu, vẫn đồng ý lên hình. Đó là tình cảm sâu nặng của họ với Bác Hồ, với Việt Nam và là điều phim ảnh không thể nói hết được. Với bộ phim này, chúng tôi muốn gửi đến người xem cái nhìn đầy đủ về quãng thời gian Bác sống, làm việc ở Nga; đồng thời, là sự tri ân tình cảm thủy chung hiếm có Việt – Nga mà nhân dân Nga dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông!

Thanh Hằng (thực hiện)
cand.com.vn

Gương sáng Hồ Chí Minh còn mãi

(Chinhphu.vn) – Trong lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta, nhân dân ta có được niềm tự hào xứng đáng là Tổ quốc Việt Nam đã sinh ra một con người vĩ đại, vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là nhà văn hóa lớn có tầm vóc thời đại, được nhân loại tiến bộ thừa nhận, là Hồ Chí Minh, người mang ánh sáng soi đường cho mọi con người, mọi đất nước cùng phát triển đi tới Tự do, Bình đẳng và Hạnh phúc.

Con người tiến bộ vẫn tiếp tục khám phá và tìm về Hồ Chí Minh như tìm về lòng tốt của con người, tình bạn, lòng nhân ái.

GS. Sử học Hungari Zogiô Lôxangô đã đánh giá cao những cống hiến của Hồ Chí Minh: “Ngày nay, trong phong trào thế giới, không có nhân vật lịch sử nào có thể so sánh với Hồ Chí Minh. Đó là tầm vóc của một con người có phẩm giá, mà tên gọi gợi lên một lòng kính trọng bất di bất dịch của không những từ các bạn bè mà cả chính những đối thủ của Người. Đó là tầm vóc những hoạt động mà với tư cách là nhà cách mạng, nhà chính khách, Người được mọi người tôn kính khi còn sống cũng như khi đã qua đời, không những trên đất nước xứ sở của người mà cả trên toàn thế giới”.

Cho đến ngày nay, khi nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, trong hoàn cảnh thế giới có đổi thay, nhưng tư tưởng và cuộc đời hoạt động phong phú của Người vẫn là ánh sáng soi đường cho mọi người nắm chắc mục tiêu mà đi tới.

Bà Macxêla Lômbácđô, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu triết học và tư tưởng chính trị xã hội Mexico, khẳng định: “Rõ ràng là những sự kiện đang xảy ra hiện nay cho thấy thế giới bước sang thiên niên kỷ thứ III, sự đối đầu không chỉ là bằng vũ khí mà bằng cả sức mạnh tư tưởng. Cũng rõ ràng là con người tiến bộ vẫn tiếp tục khám phá và tìm về Hồ Chí Minh như tìm về lòng tốt của con người, tình bạn, lòng nhân ái. Một con người không nghĩ đến mình, giản dị, khiêm tốn, không tự giam mình trong tháp ngà, một con người của quần chúng, sống cho hạnh phúc của quần chúng”.

Trong khi trăn trở về một thế giới đang đứng trước thảm họa vật chất, con người và xã hội vận động theo quy luật đồng tiền, bị xô đẩy vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt tiêu diệt lẫn nhau để giành lấy lợi nhuận và giành lấy quyền bá chủ, khiến cho thế giới không thể ổn định, bình yên, nhà sử học người Mỹ G.Xtensơn nhận xét: “Trong khi một số đông người đã tha hóa, chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm, đạo đức, thì nhân loại lại phải tìm về tấm gương sáng chói nhân cách của Hồ Chí Minh, một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp sau”.

Lãnh tụ Cuba Phiđen Caxtơrô đánh giá rằng: “Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp người đặc biệt mà cái chết là mầm mống của sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt”.

Ngày nay, nghĩ nhớ về Bác, là chúng ta nghĩ nhớ về một thời mà được sự dìu dắt của Bác và của Đảng, nhân dân ta đánh giặc ngoại xâm nhưng không ai bị đói, không ai không được học; trong khi trai tráng ra chiến trường, phụ nữ ở lại làng mạc, nhiều người đã trở thành Chủ tịch xã, Xã đội trưởng, Bí thư Đảng ủy; nhiều thanh niên ưu tú đã được Nhà nước gửi đi học nước ngoài ngay trong thời chiến để đến khi hòa bình vừa được lập lại, đã trở thành những chiến lược gia kinh tế, những kỹ sư, công trình sư có năng lực, kịp thời phát triển ngay những ngành công nghệ, kỹ thuật hiện đại như dầu khí, cơ khí, công nghệ thông tin và các ngành khoa học kỹ thuật khác, đủ nhân lực để bước vào thực hiện công cuộc Đổi mới  từ năm 1986.

Ngày nay, nghĩ nhớ về Bác là chúng ta phải nghiêm túc nhận rõ những thiếu sót của thế hệ chưa thực hiện được những gì Bác mong muốn, chưa làm được những gì Bác đã chỉ đường, chưa noi theo những gì Bác nêu gương.

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”, như Tố Hữu đã nói bằng một câu thơ quá đẹp.

Trần Thái Bình
baodientu.chinhphu.vn

Bài 1: Cô Tô (Quảng Ninh) nơi duy nhất được dựng tượng Bác khi Người còn sống

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc…

Tượng đài Bác Hồ ở đảo Cô Tô

“Ôi Bác Hồ ơi nhớ Bác nhiều, nước non ơn Bác biết bao nhiêu/ Tháng năm ngày hạ mùa sen nở nhắc nhở cháu con những sớm chiều”. Nhiều năm trở lại đây, mỗi dịp hè về vùng đảo Cô Tô lại tấp nập khách ghé thăm. Khi đến với hòn đảo nằm ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc này, không ai không ghé thăm tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi đây là tượng đài đầu tiên và duy nhất được Bác Hồ đồng ý cho phép dựng lúc Người còn sống.

Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí chiến lược trong vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngày 9-5-1961, Bác đã tới thăm nhân dân các dân tộc trên đảo Cô Tô. Yêu kính Bác, người dân nơi đây đã xin dựng tượng Người để ngày ngày được ở bên Bác. Và đầu năm 1968, tượng đài Bác Hồ đã được nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng các đồng nghiệp bắt tay vào thực hiện. Tượng được làm bằng chất liệu thạch cao, Lúc đầu, tượng Bác được dựng bán thân, tay phải giơ lên cao vẫy chào như hình ảnh Người đang tươi cười vẫy chào nhân dân khi tới thăm Cô Tô. Tượng cao 1,8m (cả bệ là 4 m). Công trình được khánh thành ngày 22-5-1968, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 78 của Bác. Tháng 6-1976 bức tượng bán thân được thay bằng bức tượng toàn thân với chất liệu bê tông cốt thép. Tượng có chiều cao 4,5m, cả bệ cao 9m nằm cách bờ biển 100m. Tượng đài Bác đứng uy nghiêm, lưng tựa vào núi, tay phải giơ cao vẫy chào, mặt nhìn hướng ra Biển Đông bao la như che chở cho đất và người nơi đây. Năm 1996, kỷ niệm ngày sinh lần thứ 106 của Bác, bức tượng Bác bằng bê tông đã được thay thế bằng chất liệu đá Granit. Giờ đây, tượng Hồ Chủ Tịch ở Cô Tô vẫn được đánh giá là tượng Bác đẹp nhất vùng Đông Bắc. Đến thăm Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ Tịch trên đảo Cô Tô ngoài tượng đài Bác Hồ, du khách còn có thể tham quan nhiều địa danh ghi dấu chân Người như: Khu nhà lưu niệm – nơi Bác Hồ đã gặp gỡ cán bộ, nhân dân Cô Tô. Cánh đồng muối nơi Bác đến thăm. Bờ ruộng khoai nơi Bác đến xem bới khoai và dừng lại trò chuyện cùng bà con. Khu Di tích lưu niệm Bác Hồ trên đảo Cô Tô là một trong những di tích đặc biệt quan trọng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp Bằng công nhận là di tích lịch sử số 985 QĐ/VH, ngày 7-5-1997.

Năm 2005, cán bộ chiến sĩ và nhân dân các dân tộc huyện Cô Tô đã xây dựng ngôi đền thờ Bác. Năm 2010, khu di tích Bác Hồ trên đảo Cô Tô đã được đầu tư tôn tạo, mở rộng với tổng diện tích được mở rộng từ 6.500m2 lên trên 62.500m2 gồm các hạng mục: Khu khuôn viên tượng đài và đền thờ Bác Hồ, ao cá Bác Hồ, hệ thống hồ điều hoà cùng nhiều hạng mục khác… Công trình có tổng kinh phí trên 39 tỷ đồng được trích từ ngân sách Trung ương, ngân sách của tỉnh Quảng Ninh, huyện Cô Tô và từ các nguồn huy động khác.

Ngày nay, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng luôn nhắc nhiều đến vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Đảo Cô Tô nằm vững chắc nơi tiền tiêu trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Ngược dòng thời gian trở lại thời điểm những năm 1965, khi ấy, miền Bắc còn ngổn ngang trong công cuộc tái thiết đất nước, miền Nam vẫn đang trong những ngày gian khổ để giành độc lập hoàn toàn, nhưng với tầm nhìn xa trông rộng của một nhà lãnh đạo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gác lại nhiều công việc để đến với bà con ở vùng Biển đảo Cô Tô. Phải chăng đó như một lời nhắc nhở cháu con hướng tầm nhìn ra Biển Đông để bảo vệ chủ quyền biên giới của Tổ quốc.

Ngày nay, những người con đất Việt khi đến với Cô Tô, đứng giữa bốn bề sóng nước mênh mông, có thể cảm nhận được chiều cao, bề rộng của các tượng đài không phải bằng những con số mà bằng tình yêu Tổ quốc và lòng tự hào dân tộc… Còn với những người sống trên đảo Cô Tô, khi ngắm nhìn tượng Bác, đồng bào và chiến sĩ nơi đây như được tiếp thêm sức mạnh để sống, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sẵn sàng bảo vệ, giữ gìn từng tấc đất quê hương. Vì vậy có thể khẳng định, tượng đài Bác Hồ trên đảo Cô Tô có một vị trí rất đặc biệt trong hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước.

Trong lần tới thăm Cô Tô, Bác Hồ đã căn dặn bà con trên đảo: “Thủ đô Hà Nội tuy xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết, cố gắng và tiến bộ”. Ngày nay, khoảng cách về địa lý giữa Thủ đô và vùng đảo Cô Tô đang dần được nối liền nhờ những chuyến tàu tấp nập suốt ngày đêm, nhờ điện thoại di động và cả internet. Và không phải ai cũng biết, Cô Tô là hòn đảo phủ sóng wifi đầu tiên của tỉnh Quảng Ninh và cả nước.

TS. ĐINH CÔNG VỸ
daidoanket.vn

Bài 2: Tượng Bác Hồ ở nước Nga

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Nga là mối quan hệ đặc biệt và sâu đậm. Nước Nga – quê hương của Cách mạng Tháng Mười – quê hương của lãnh tụ Lê Nin đã tác động to lớn đến tư tưởng của Bác Hồ và góp phần làm nên Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường
mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người tại Matxcơva là một công trình điêu khắc đẹp, giàu ý tưởng, ý nghĩa. Cuối năm 1969, sau khi Bác từ trần, khu Công viên Akademichexki rộng hơn 1 ha được đổi tên thành Quảng trường Hồ Chí Minh và một hòn đá đầu tiên được đặt tại vị trí để chuẩn bị cho việc dựng tượng. Quảng trường Hồ Chí Minh ở thủ đô nước Nga có vị trí đắc địa, giao điểm của đại lộ Đmitria Ulianôpva và đại lộ 60 năm Tháng Mười, xung quanh là những ngôi nhà cổ và nhà bằng gạch cao từ 8 đến 10 tầng, không che khuất tầm nhìn.

Nghệ sĩ điêu khắc Nhân dân Liên Xô (Liên bang Nga) Vladimir Efimovich Tsigal, người được vinh dự nhận giải thưởng Lênin và nhiều giải thưởng quốc gia, viện sĩ Viện Hàn lâm mỹ thuật Liên Xô (sinh năm 1917) được chọn là tác giả thể hiện tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau một thời gian, ông đã tạo ra bản phác thảo đầu tiên: Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tư thế đứng, tay đặt trên quyển sách, tượng trưng cho những tác phẩm của Mác và Lênin. Nhưng ông vẫn còn băn khoăn nhiều vì cảm thấy pho tượng hao hao giống như nhiều pho tượng danh nhân khác. Năm 1985, ông quyết định sang Việt Nam để tìm hiểu. Sau hành trình xuyên Việt, Vladimir Efimovich Tsigal đã tìm ra “đáp án”.

Năm 1990, đúng vào năm UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa kiệt xuất thì tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường mang tên Người ở thủ đô Matxcơva – Liên bang Nga khánh thành. Tượng – nhưng thực ra là một bức phù điêu đồng lớn hình khối, cao 5m, nổi bật hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phù điêu được đặt trên bệ cũng bằng đồng khối có chiều dài 6m, dày nửa mét; diện tích khuôn viên là 676m2, có 3 chiếu nghỉ và 8 bậc thang rộng được khánh thành. Hàng chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” bằng tiếng Nga, khắc sâu vào mặt trước của tượng đài, cách vài ba trăm mét vẫn có thể đọc được. Trước nhà số 1/24 và số 2/22 của hai phố Đmitria Ulianôpva và phố Công đoàn đều có hai tấm bảng bằng đá khổ 1m x 1m20 ghi rõ “Quảng trường Hồ Chí Minh” và tóm tắt thân thế và sự nghiệp của Người.

Nhà điêu khắc tài danh Vladimir Efimovich Tsigal nói: “Tôi muốn bức phù điêu Hồ Chí Minh sẽ thu hút được sự chú ý và để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai từng một lần đứng trước tác phẩm này”. Quả vậy, bức phù điêu hình tròn biểu thị cho mặt trời – biểu thị một ngày mai tươi sáng. Giữa phù điêu, hình tượng Bác Hồ đang tươi cười, mắt trìu mến nhìn vào người xem. Bên dưới, hình tượng chàng trai Việt Nam ở thế chuẩn bị bật dậy, tượng trưng cho sức sống của một dân tộc. Phía sau là hình tượng cây tre Việt Nam – loài cây đã mang trong mình sức sống dẻo dai chống chọi với kẻ thù, với bão tố và giúp người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày.

Và không chỉ bức phù điêu bằng đồng khổng lồ mang ý nghĩa sâu xa, mà cả bệ đá hoa cương mà bức phù điêu trụ trên đó cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Bệ đá gồm 8 bậc. Theo cách giải thích của nhà điêu khắc Vladimir Efimovich Tsigal: Con số 8 mang ý nghĩa tượng trưng, bởi tôi nhận thấy bông sen – loài hoa được người Việt Nam coi là biểu tượng của sự thanh tao, thường có 8 cánh.

Trong quá trình thực hiện, có một sự kiện kỳ lạ đã diễn ra. Nhà điêu khắc kể: Ông biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mơ ước được gặp V.I.Lênin. Khi ông đúc bức phù điêu Hồ Chí Minh trong một xưởng điêu khắc rất lớn ở Matxcơva thì cùng thời điểm đó, một nhà điêu khắc khác cũng đang đúc tượng V.I.Lênin. “Và đôi lúc tôi cảm thấy rất vui vì dường như mình đã góp phần tạo điều kiện để hai con người vĩ đại đó gặp gỡ nhau trong lĩnh vực điêu khắc”.

Đã thành một truyền thống, kể từ khi bức phù điêu Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quảng trường mang tên Người này khánh thành, thì nơi đây đã trở thành một địa chỉ cho các Đoàn đại biểu cấp cao từ trong nước sang thăm hữu nghị chính thức nước bạn đều đến thành kính đặt hoa trước tượng đài Hồ Chủ tịch. Và cũng thành thông lệ hàng năm, vào ngày 19-5 và ngày 2-9, đúng mười giờ sáng, cán bộ Đại Sứ quán, đại biểu Cộng đồng người Việt làm ăn và sinh sống ở Matxcơva và những người bạn Nga làm lễ dâng hoa trước tượng Người. Nhiều đôi nam nữ người Việt khi tổ chức đám cưới cũng mang hoa đến đặt trước tượng Bác và Đài Liệt sĩ vô danh tại điện Kremli như là một sự biết ơn và một nếp sống văn hóa.

Vũ Đình Thành
daidoanket.vn

Bài 3: Tượng đài Bác Hồ ở Pháp

Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, Việt Nam bị Pháp đô hộ. Từ hai chiến tuyến, sau này, mối quan hệ của hai quốc gia được cải thiện và tốt đẹp lên. Các di tích trên nước Pháp gắn với những tháng năm hoạt động của Hồ Chủ tịch được người Pháp gìn giữ, tôn tạo. Tại Bảo tàng Lịch sử Sống thuộc thành phố Montreuil, tượng đài Hồ Chủ tịch cũng đã được dựng năm 2005.

Tượng Hồ Chủ tịch tại bảo tàng sống Montreuil

Ngày 19-5-2005, chính quyền thành phố Montreuil (Pháp) đã dựng tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ở “Không gian Hồ Chí Minh” nằm trong Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil. Vị trí đặt tượng Bác Hồ là khu vực mà khách tham quan khi tới công viên đều dễ dàng nhận thấy.

Tượng Hồ Chủ tịch dựa theo mẫu của nhà điêu khắc nổi tiếng Trần Văn Lắm. Đây cũng là pho tượng Hồ Chủ tịch duy nhất đặt trên nước Pháp. Khuôn viên đặt tượng đài bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh được bố trí rất hài hoà với nhiều cây xanh, những khóm tre, trúc, tạo nên một không gian bình dị nhưng mang đậm nét văn hóa Việt Nam.

“Không gian Hồ Chí Minh” nằm bên trái tầng 1 của Bảo tàng Lịch sử Sống, du khách dễ dàng nhận thấy ngay khi bước vào cửa. Đây là nơi lưu giữ những hình ảnh, hiện vật quý về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng Người ở Pháp: Cánh cửa bằng gỗ và tấm biển căn nhà số 9 – ngõ Compoint (nơi Bác ở từ tháng 7-1921 – 6-1923), chiếc bồn lavabo Bác dùng trước đây… Rồi có cả những hình ảnh, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác như: tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, những tấm thẻ hành nghề, ảnh, bài báo, những bức thư mà Bác viết cho các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp…

Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, sách báo, tranh ảnh giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh… Tất cả các hiện vật, tư liệu quý giá ấy luôn được nâng niu, gìn giữ với sự trân trọng của các bạn Pháp.

Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil là bảo tàng ca ngợi các vĩ nhân đã để lại những dấu ấn lịch sử sâu đậm, tác động và có sức ảnh hưởng to lớn đến thế giới. Việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bảo tàng sống Montreuil vì thế mang một thông điệp rõ ràng về sự nhìn nhận đánh giá, tôn vinh Hồ Chủ tịch một cách đúng đắn, xứng với tầm vóc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất mà UNESCO đã tôn vinh năm 1990.

Trong những năm tháng hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc (tên dùng khi đó của Hồ Chủ tịch), đã để lại những dấu ấn, những sự kiện vang dội. Ngày nay, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá. Đó là di tích nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17 (Paris). Bác đã ở đây khoảng 2 năm (từ 1921-1923). Tại đây, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và được bầu làm ủy viên thường trực của Hội. Người đã khởi thảo Tuyên ngôn, Điều lệ và Lời kêu gọi. Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng có tổ chức và quy mô đầu tiên hoạt động hợp pháp ở Paris.

Người thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội, vừa là người sáng lập kiêm chủ bút, biên tập và phát hành báo. Nhờ công lao của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở các nước thuộc địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài báo có tác động lớn, đả kích thực dân Pháp xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Tại nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã kết giao với nhiều trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng của Pháp và thế giới như: diễn viên Charles Chaplin, nhà văn Hăng-ri Bác-buýt, họa sĩ Picátxô…

Nước Pháp cũng là nơi Nguyễn Ái Quốc viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” nổi tiếng, gây chấn động nước Pháp và cả chính quyền Pháp tại Việt Nam. Cũng tại nước Pháp này, Nguyễn Ái Quốc đã viết vở kịch “Con rồng tre” giễu cợt ông vua Khải Định bù nhìn…

Ngày 14-3-1923, Nguyễn Ái Quốc dời nhà số 9, ngõ ComPoint, dọn đến số nhà 3 phố Mácsơ Đê Patơriacsơ, quận 5, Paris. Đây chính là nơi đặt trụ sở “Hội liên hiệp thuộc địa” và là tòa soạn báo Le Paria… Năm 1983, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã gắn biển di tích. Cho đến năm 1986, chủ sở hữu ngôi nhà phá bỏ nhà cũ để xây nhà mới 9 tầng. Những kỷ niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính quyền thành phố Montreuil đưa về trưng bày và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh” trong Bảo tàng Montreuil. Năm 2001, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và chính quyền thành phố Paris đã gắn lại biển di tích tại ngôi nhà số 9.

Trên nước Pháp cũng chứng kiến sự trở lại của Bác khi Người ở cương vị Chủ tịch nước. Đó là năm 1946, Người là thượng khách của nước Pháp. Cũng trong dịp này, phái đoàn ngoại giao Việt Nam sang đàm phán tại hội nghị Phông ten nơ blô. Tình hình khi đó rất căng thẳng, bằng tài ngoại giao và tranh thủ sự giúp đỡ của Việt kiều, nhân dân Pháp, Hồ Chủ tịch đã bày tỏ ước nguyện yêu chuộng hòa bình của nhân dân Việt Nam và quyết tâm đánh Pháp nếu tiếp tục bị xâm lược. Sau đó, Người và đại diện Pháp ký Tạm ước 14-9. Và cũng tại thủ đô Paris ngày 1-7-1946, hoạ sĩ Vũ Cao Đàm (Việt kiều) đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm đó, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người. Pho tượng sau đó được đúc đồng và tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh năm 1998.

Phiên bản bức tượng Hồ Chủ tịch của nhà điêu khắc Trần Văn Lắm có chiều cao 1,1m, đặt trên bệ cao 3m, sau đó cũng được chọn để dựng tượng Bác tại Mông Cổ.

NGUYỄN LONG
daidoanket.vn

Bài 4: Tượng Bác Hồ ở Cuba

Việt Nam – Cuba có mối quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ tốt đẹp giàu truyền thống cách mạng đó như được nhân thêm khi tại trung tâm Thủ đô La Habana của Cuba, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng lên trang trọng.

Tượng đài Hồ Chủ tịch ở Thủ đô La Habana Cuba.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt ở vườn hoa trung tâm Thủ đô La Habana. Tượng đài Bác được dựng bán thân như chúng ta vẫn thường thấy ở các hội trường cơ quan của Đảng và Chính phủ Việt Nam: Tượng Bác mặc áo ka ki có hai túi ngực. Mỗi khi có sự kiện gắn với quan hệ hai nước Việt Nam – Cuba thì nơi đây đều được chọn là địa chỉ của các đoàn tới thăm viếng.

Thuở đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ từng bôn ba sang châu Mỹ. Cho đến nay, cũng chưa thấy tài liệu nào công bố Bác Hồ đã từng đến Cuba. Nhưng trái tim người chiến sĩ cộng sản quốc tế yêu nước Nguyễn Ái Quốc luôn chan chứa tình yêu thương đồng loại. Bác từng viết: “Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em” khi nói về tình hữu nghị và bình đẳng quốc tế.

Tại Nhà Di tích H67 ở Khu di tích Phủ Chủ tịch đến nay còn trưng bày một chiếc khay nhỏ làm bằng đồng trên bàn làm việc của Bác. Chiếc khay được đặt cạnh những cuốn sách, những tờ báo Bác Hồ đang xem trước lúc đi xa… Chiếc khay này là kỷ vật của nhà báo nước ngoài cuối cùng đã phỏng vấn Hồ Chủ tịch. Đó là nữ nhà báo Cuba Mácta Rôhát Rôđrigết – phóng viên, Chủ nhiệm báo Granma – Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba biếu Bác Hồ nhân dịp chị sang thăm Việt Nam, được Bác Hồ tiếp và trả lời phỏng vấn ngày 14-7-1969. Và câu nói: “Việt Nam và Cuba là hai người anh em ở hai nửa địa cầu. Khi Cuba ngủ thì Việt Nam thức để canh gác và khi Việt Nam ngủ thì Cuba thức để bảo vệ” là câu nói của Bác với nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết. Bài phỏng vấn Hồ Chủ tịch của nhà báo Mácta Rôhát Rôđrigết đã được đăng trên báo Granma ngày 29-7-1969 với tiêu đề: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” bằng tiếng Tây Ban Nha. Bài phỏng vấn sau đó được in lại bằng tiếng Pháp ngày 3-8-1969. Ngày 27-9-1969, báo Nhân dân đã đăng bản dịch bài trả lời phỏng vấn này.

Còn đối với Cuba, Việt Nam là một biểu tượng cách mạng để bạn noi theo. Chủ tịch Cuba Fidel Castro – linh hồn của cách mạng Cuba luôn coi dành cho Việt Nam những tình cảm đặc biệt. Từ tháng 1-1959 đến tháng 12-2007, lãnh tụ Fidel Castro đã sang thăm Việt Nam 3 lần, đặc biệt in đậm là chuyến thăm Quảng Trị năm 1973. Đây là vị nguyên thủ đầu tiên và duy nhất trên thế giới đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị của Việt Nam khi chiến tranh còn đang ác liệt. Với vai trò “chủ nhà” trong chuyến thăm này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cùng đi với Chủ tịch Fidel Castro. Trong chuyến đi, với dáng vóc to lớn, oai phong, Chủ tịch Fidel đội mũ lưỡi trai, mặc bộ quân phục màu xanh ôliu, đi giày cao cổ đã để lại hình ảnh gần gũi với bộ đội, nhân dân Việt Nam. Tại Đồng Hới, chứng kiến cảnh tang thương của chiến tranh, Chủ tịch Fidel Castro đã chỉ đạo cho ngài đại sứ Cuba kế hoạch ủng hộ Việt Nam một bệnh viện. Một tháng sau, Bệnh viện Việt Nam – Cuba tại Đồng Hới được khởi công xây dựng. Khi thăm sư đoàn Vinh Quang, Chủ tịch Fidel Castro đã phất cao lá cờ truyền thống của sư đoàn và nói: “Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm tại Sài Gòn”. Vào tháng 4 năm 1975 lịch sử, lá cờ của sư đoàn Vinh Quang đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập. Cũng trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, để ủng hộ Việt Nam, Đài Tiếng nói Cuba hằng ngày dành 6 giờ phát tiếng Anh để nhân dân Mỹ hiểu rõ cuộc chiến tranh phi nghĩa do Mỹ gây ra ở Việt Nam.

Chất keo kết dính mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Cuba ngoài nét tương đồng về lịch sử đấu tranh giành độc lập, về lý tưởng, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ nghĩa quốc tế, còn là sự tin cậy, đồng cảm, là tình nghĩa thuỷ chung giữa những người cùng cảnh ngộ. Ngày nay, ngoài những món hàng truyền thống như gạo, than đá, cà phê, giày dép, nay Việt Nam còn xuất khẩu sang Cuba máy tính, linh kiện máy tính, đồ điện gia dụng, bóng đèn tiết kiệm điện và nhiều hàng hoá khác. Chưa kể đến các dự án hợp tác trong ngành dầu khí, du lịch.

Huy Văn
daidoanket.vn