Thư viện

Đầu Xuân nghĩ về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí cho đến hôm nay và mãi mãi về sau, đối với cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân ta như một chân lý soi đường đưa dân tộc ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Có thể thấy rằng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí là công việc khó khăn, phức tạp, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cần nhiều sự chỉ đạo với nhiều giải pháp, biện pháp tích cực của Ðảng, Nhà nước, Chính phủ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng ở từng cương vị của mình luôn phấn đấu để trở thành cán bộ tốt, công dân tốt.

Sau đây là tổng hợp một số bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và lãnh đạo đất nước của Người.

 tiet kiemPhong cách sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh internet

1. Ngày 28/9/1945, trên Báo Cứu Quốc đăng bài “Sẻ cơm nhường áo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

            Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 4, tr33

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn sách “Cần kiệm liêm chính”, viết xong khoảng tháng 6/1949, ký tên Lê Quyết Thắng. Nội dung của cuốn sách này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bố bài báo đăng trên Báo Cứu Quốc: Thế nào là Cần, 30/5/1949; Thế là nào Kiệm, 31/5/1949; Thế nào là Liêm, 1/6/1949; Thế nào là Chính, 2/6/1949.

            Tập 6, tr 115-129

            3. Ngày 2/9/1950, với bút danh X.Y.Z, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu” đăng trên Báo Sự Thật, số 140.

Tập 6, tr 432

4. Ngày 14/2/1952, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tiết kiệm” đăng trên Báo Nhân dân, số 45.

            Tập 7, tr 316

            5. Ngày 29/2/1952, với bút danh Đ.X, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Cần và kiệm” đăng trên Báo Cứu Quốc, số 2024.

            Tập 7, tr333

            6. Ngày 17/3/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Bài nói tại buổi phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm”.

            Tập 7, tr343

            7. Ngày 20/3/1952, trên Báo Nhân Dân số 50 đã đăng “Lời kêu gọi nhân dịp phát động phong trào sản xuất tiết kiệm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

            Tập 7, tr349

            8. Tháng 3/1952, nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phó, chống bệnh quan liêu” – Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

            Tập 7, tr351

            9. Ngày 31/7/1952, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Chống quan liêu, tham ô, lãng phí” đăng trên Báo Nhân Dân, số 68.

            Tập 7, tr 457

           10. Khoảng năm 1952 – 1953, theo Tài liệu lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Bài nói chuyện trong dịp học tập chống tham ô, lãng phí, quan liêu”.

            Tập 8, tr2

            11. Từ ngày 6 đến ngày 10/6/1953, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh  viết bài “Chống bệnh quan liêu…” đăng trên Báo Nhân Dân, số 116.

            Tập 8, tr139

            12. Ngày 5/2/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua sản xuất tiết kiệm mùa Xuân” đăng trên Báo Nhân Dân, số 340.

Tập 9, tr299

            13. Ngày 11/5/1955, với bút danh C.B, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Chống lãng phí lương thực” đăng trên Báo Nhân Dân, số 434.

            Tập 9, tr469

            14. Ngày 14/1/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi đồng bào nông dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm” đăng trên Báo Nhân Dân, số 1045.

Tập 10, tr474

            15. Ngày 3/2/1960, với bút danh C.K, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Phải biết chi tiêu” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2147.

            Tập 12, tr464

16. Ngày 4/8/1963, trên Báo Nhân Dân số 3416 có đăng bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về Cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”.

Tập 14, tr138

            17. Ngày 25/6/1964, với bút danh T.L, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tăng gia sản xuất tốt, còn phải thực hành tiết kiệm tốt” đăng trên Báo Nhân Dân, số 3739.

Tập 14, tr336

            18. Ngày 21/1/1965, với bút danh T.L, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tổ chức ngày Tết tiết kiệm và vui tươi” đăng trên Báo Nhân Dân, số 3948.

            Tập 14, tr464

            19. Ngày 14/12/1965, trên Báo Nhân Dân, số 3970 có đăng bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội thi đua “Năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều” toàn miền Bắc.

Tập 14, tr484

           20. Ngày 22/12/1966, với bút danh Chiến Sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Phải chăng thế này là thực hành tiết kiệm?” đăng trên Báo Nhân Dân, số 4611.

Tập 15, tr219

Ban Biên tập xin trân trọng giới thiệu các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

1. Sẻ cơm nhường áo

Hỡi đồng bào yêu quý,

Từ tháng giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc Bộ ta đã có hai triệu người chết đói.

Kế đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ.

Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng.

Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước:

Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo.

Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói.

Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị nói trên.

Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào.

HỒ CHÍ MINH

Báo Cứu quốc, số 53, ngày 28-9-1945.

2. Cần kiệm liêm chính

Viết xong khoảng tháng 6/1949. Ký tên Lê Quyết Thắng. Ủy ban KCHC Liên khu I. Xuất bản năm 1949. Theo sách của Ủy ban KCHC Liên khu I.

CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH

Vì sao Hồ Chủ tịch đề ra khẩu hiệu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính?

Vì Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức thì không thành người.

Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nền Dân chủ Cộng hòa, cho đến mấy năm kháng chiến, dân ta nhờ Cần, Kiệm, Liêm, Chính, mà đánh thắng được giặc lụt, giặc dốt, giặc thực dân và giặc đói.

Tuy vậy đồng bào ta có người đã hiểu rõ, có người chưa hiểu rõ. Có người thực hành nhiều, có người thực hành ít. Cho nên cần phải giải thích rõ ràng, để cho mọi người hiểu rõ, mọi người đều thực hành.

CẦN

Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai.

Người Tàu có câu: không có việc gì khó. Chỉ e ta không siêng.

Tục ngữ ta có câu: Nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu, cũng đầy tổ.

Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khoẻ.

Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần,cả nước đều phải Cần.

Người siêng năng thì mau tiến bộ.

Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.

Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.

Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng.

Cây gỗ bất kỳ to nhỏ, đều có gốc và ngọn.

Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít.

Cụ Mạnh Tử có nói: “Người thợ muốn làm khéo, thì trước phải sắp sẵn công cụ của mình”.

Một thí dụ:

Người thợ mộc muốn đóng một cái tủ. Trước hết, anh ta mài sẵn cưa, bào, tràng, đục, v.v. và làm sao xếp có thứ tự hẳn hoi. Rồi anh lấy gỗ vừa đủ làm cái tủ. Khi các thứ đều sẵn sàng, anh ta bèn bắt tay vào việc đóng tủ.

Như thế là anh thợ mộc ấy làm việc có kế hoạch. Như thế là anh ấy sẽ không hao thì giờ, tốn lực lượng, mà việc lại mau thành.

Trái lại, nếu anh ấy không sắp đặt sẵn sàng trước, khi cần đến cưa mới chạy đi lấy cưa, khi cần đến đục thì phải chạy đi tìm đục. Như vậy thì mất thì giờ chạy lăng xăng cả ngày, mà công việc được ít.

Việc to, việc nhỏ, muôn việc đều như vậy.

Vì vậy, siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau.

Kế hoạch lại đi đôi với phân công.

Trong một gia đình, một xưởng máy, một cơ quan, v.v. đã phải có kế hoạch, lại phải phân công cho khéo.

Phân công phải nhằm vào 2 điều:

1. Công việc: Việc gì gấp thì làm trước. Việc gì hoãn thì làm sau.

2. Nhân tài: Người nào có năng lực làm việc gì, thì đặt vào việc ấy.

Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai.

Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích. Như thế chẳng khác gì một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nước mười hôm, thì ướt hoàn ướt.

Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần vàlực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ cần.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác.

Một thí dụ:

Trong thời kỳ kháng chiến của dân tộc ta, các vị kỹ sư thì chăm lo phát minh những thứ khí giới mới. Đồng bào thì chăm lo cung cấp các thứ nguyên liệu. Những người vận tải thì chăm lo đưa những nguyên liệu ấy đến các xưởng máy. Anh em công nhân thì chăm lo rèn đúc ra những thứ khí giới mới. Các chiến sĩ chăm lo luyện tập dùng những vũ khí ấy để giết cho nhiều giặc.

Tất cả mọi người đó như kết thành một sợi dây chuyền, quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Mọi người đều Cần, thì dây chuyền ấy chạy rất thuận lợi và nhanh chóng. Kết quả là địch mau thua, ta mau thắng.

Nếu trong những người đó mà có người lười biếng, thì công việc của những người khác ắt chậm lại, khác nào sợi dây chuyền có một khúc hỏng. Kết quả sẽ tai hại thế nào, rất là dễ hiểu.

Lại một thí dụ nữa: Toàn dân tộc ta đoàn kết thành một khối. Công việc của mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều phối hợp với nhau, như một chuyến xe lửa. Tất cả mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều cố gắng, đều siêng năng, thì nước ta sẽ tiến bộ rất nhanh chóng. Cũng như chuyến xe lửa chạy đều, chạy nhanh, mau đến ga. Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc.

Kết quả chữ Cần là thế nào?

Kết quả chữ Cần rất là to lớn. Một thí dụ:

Trong 20 triệu đồng bào ta, cho 10 triệu là thanh niên và thành nhân có sức làm việc. Nếu mỗi người, mỗi ngày chỉ làm thêm một tiếng đồng hồ, thì:

Mỗi tháng sẽ thêm lên 300 triệu giờ.

Mỗi năm thêm lên 3.600 triệu giờ.

Chỉ những giờ ấy đã bằng động viên 400 triệu người làm trong một ngày 9 giờ.

Cứ tính một giờ làm là đáng giá một đồng bạc, thì mỗi năm nước ta đã thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công.

Đó là kết quả rõ ràng của chữ CẦN.

KIỆM

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

Cụ Khổng Tử nói: “Người sản xuất nhiều, người tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ”.

Tiết kiệm cách thế nào?

Chắc đồng bào ai cũng được nghe câu chuyện phong bì của Hồ Chủ tịch.

Hồ Chủ tịch dùng một cái phong bì hơn 2, 3 lần. Cụ nói:

“Trung bình, cái phong bì là 180 phân vuông giấy (0,018 m2).

Mỗi ngày, các cơ quan, đoàn thể và tư nhân trong nước ta ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy. Mỗi tháng là 5.400 thước. Mỗi năm là 64.800 thước vuông giấy.

Nếu ai cũng tiết kiệm, dùng một cái phong bì 2 lần, thì mỗi năm chỉ tốn một nửa giấy, tức là 32.400 thước vuông. Còn 32.400 thước thì để dành cho các lớp bình dân học vụ, thì chẳng tốt sao?

Hơn nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể thêm vào việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa…”.

Cái thí dụ ấy rất rõ rệt, dễ hiểu. Đối với giấy như thế, đối với mọi thứ vật liệu khác đều như thế.

Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được. Có ai kéo lại ngày hôm qua được không?

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần.

Bất kỳ làm việc gì, nghề gì, khi đã làm thì phải hăng hái, chăm chỉ, chuyên chú, làm cho ra trò làm.

Tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ người khác.

Thánh hiền có câu: “Một tấc bóng là một thước vàng”.

Tục ngữ Âu nói: “Thời giờ tức là tiền bạc”.

Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại.

Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài đến 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ.

Ăn không ngồi rồi, trong lúc đang cần kháng chiến và xây dựng, là xa xỉ.

Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Tiết kiệm nghĩa là:

1 giờ làm xong công việc của 2, 3 giờ.

1 người làm bằng 2, 3 người.

1 đồng dùng bằng giá trị 2, 3 đồng.

Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức. Cái thí dụ người thợ mộc nói trên, đã chứng tỏ rằng: biết tổ chức thì tiết kiệm được sức lực, thời giờ, và vật liệu.

Không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm. Thí dụ: nếu 1 nhà 10 người, mỗi người nấu riêng một nồi cơm, thì tốn biết bao nhiêu nồi, bao nhiêu củi và nước, bao nhiêu công phu. Góp nhau lại nấu chung một nồi, thì lợi biết bao nhiêu.

Vì vậy, góp sức làm việc (lao động tập đoàn), và hợp tác xã, là một cách tiết kiệm tốt nhất.

KẾT QUẢ CỦA TIẾT KIỆM

Trên kia đã thuật lại cái thí dụ tiết kiệm phong bì, mà Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta. Đây tôi xin thêm một thí dụ nữa:

Nước ta có 20 triệu người. Nhiều bù ít, mỗi người mỗi ngày ăn 700 gam gạo, mỗi tháng là 21 kilô gạo.

Nếu mỗi ngày mỗi người chỉ tiết kiệm nửa bát cơm (việc đó rất dễ, ai cũng làm được), thì mỗi tháng cả nước sẽ tiết kiệm được 20 triệu kilô gạo, nghĩa là đủ nuôi một triệu chiến sĩ trong một tháng.

Hiện nay, mấy xã ở Liên khu I có sáng kiến làm “Hũ gạo kháng chiến”. Mỗi nhà mỗi ngày cứ bỏ vào hũ một vốc gạo. Chỉ thế thôi, mà số gạo đủ nuôi anh em dân quân du kích trong xã.

Đó là một sáng kiến tiết kiệm hay, mà các nơi nên làm theo. Nếu toàn dân ta THI ĐUA TIẾT KIỆM:

Các cơ quan tiết kiệm tiền công và của công, để đỡ tốn ngân quỹ;

Chiến sĩ thi đua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy;

Công nhân thi đua tiết kiệm nguyên liệu;

Học sinh thi đua tiết kiệm giấy bút;

Đồng bào hậu phương thi đua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội;

Mỗi người, thi đua tiết kiệm thời giờ;

Thì kết quả thi đua tiết kiệm cũng bằng kết quả thi đua tăng gia sản xuất.

Một mặt, chúng ta thi đua KIỆM

Một mặt, chúng ta thi đua CẦN

Kết quả CẦN cộng với kết quả KIỆM là: bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiền tiến trên thế giới.

Kết quả chữ CẦN chữ KIỆM to lớn như vậy đó.

Cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm.

LIÊM

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ LIÊM có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM. Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lậu chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.

Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng đồng bào.

Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.

Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của mình. Đều là tham lam, đều là BẤT LIÊM.

Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo.

Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh uý tử.

Đều làm trái với chữ LIÊM.

Do BấT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp.

Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”.

Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Để thực hiện chữ Liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên.

Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân.

“Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM.

Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM.

Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì.

Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân.

Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân.

Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.

Dân tộc ta đang kháng chiến và kiến quốc, đang xây dựng một Đời sống mới trong nước Việt Nam mới. Chẳng những chúng ta phải cần kiệm, chúng ta còn phải thực hành chữ LIÊM.

CHÍNH

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: Việc CHÍNH và việc TÀ

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.

Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:

1. Mình đối với mình.

2. Mình đối với người.

3. Mình đối với công việc.

§èI VíI M×NH

– Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.

– Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.

– Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.

Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.

Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? đối với việc có chuyên cần không?

Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

§èI VíI NG¦êI

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.

Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

®èi víi viÖc

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công.

Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.

Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt,

Con cháu mình sung sướng,

Gia đình mình no ấm,

Làng xóm mình thịnh vượng,

Nòi giống mình vẻ vang,

Nước nhà mình mạnh giàu.

Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.

Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.

Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều Thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

 (Còn nữa)

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Tấm gương Bác Hồ về cần kiệm liêm chính chí công vô tư

Rèn luyện và tu dưỡng đạo đức là vấn đề quan tâm hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời,
Thiếu một phương, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành người” 1

Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ toạ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người trình bày sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có vấn đề thứ tư cần phải giải quyết lúc bấy giờ là “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH” 2

Để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này, Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, chương đầu tiên của cuốn sách là Tư cách một người cách mệnh và tiêu chuẩn đầu tiên trong tư cách một người cách mệnh chính là: cần kiệm. Sau này là các tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), “ Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952). “Đạo đức cách mạng” (12-1958) và các bài báo như “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm liêm chính”, “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ  nghĩa cá nhân”… Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người nhắc “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…” và “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”.

Về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói một cách ngắn gọn, giản dị, cụ thể, dễ hiểu và dễ làm  theo.

CẦN tức là “Siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai” và nếu đã cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Người chỉ ra cách thực hiện CẦN sao cho có kết quả. Đó là làm việc phải có kế hoạch, dù công việc gì, to hay nhỏ, lớn hay bé, đều phải sắp xếp khoa học và tính toán cẩn thận. Phân công công việc theo năng lực của từng người, như vậy sẽ không bị mất thời gian và hiệu quả công việc cao.

Cần phải đi đối với chuyên. Nếu không chuyên thì cũng vô ích. Cần không phải là xổi. Phải biết nuôi dưỡng sức khoẻ, tinh thần và lực lượng để làm việc lâu dài. Một người lười biếng sẽ làm chậm và ảnh hưởng đến công việc của rất nhiều người khác. Cần là nâng cao năng suất lao động.

KIỆM là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. Cần với kiệm đi đối với nhau như hai chân của một người. Cần mà không kiệm “thì làm chừng nào xào chừng ấy”, cũng như một cái thùng không đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không. Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, không phát triển được.

Bác cho rằng cần phải tiết kiệm cả của cải, thời gian và sức lực, bởi của cải nếu hết còn có thể làm ra được, còn thời gian đã qua đi, không bao giờ quay trở lại. Muốn tiết kiệm thời gian, bất kỳ việc gì, nghề cũng phải chăm chỉ, làm nhanh, không nên lần nữa. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ của người khác. Theo Bác “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn”.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm” 3

Để thực hành tiết kiệm phải kiên quyết với những việc làm xa xỉ, như kéo dài thời gian lao động không cần thiết, làm hao phí vật liệu trong sản xuất, luôn tìm cách ăn ngon, mặc đẹp trong lúc đồng bào còn khó khăn, thiếu thốn, v.v… Phải biết cách tổ chức thì tiết kiệm mới có hiệu quả.

LIÊM là “trong sạch, không tham lam”; “không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ” 4

Liêm phải đi đối với kiệm, bởi có kiệm mới liêm được. Tham lam là một điều rất xấu hổ. Những hành động bất liêm đều phải dùng pháp luật để trừng trị, dù đó là người nào, giữ cương vị gì, làm nghề gì. “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”5. Và như cụ Mạnh Tử đã nói “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”6
Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. CHÍNH “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”.

Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. Chính đối với mình là không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, phát triển điều hay và sửa chữa khuyết điểm của mình. Đối với người, phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới. Phải để việc nước, việc công lên trên việc tư, việc nhà. Công việc dù to hay nhỏ đều phải cố gắng hoàn thành. Phải luôn luôn nhớ “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh” 7

Về CHÍ CÔNG VÔ TƯ, Bác nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người giải thích “…Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp là ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” 8 .

Vụ án Trần Dụ Châu những năm 50 là một bài học đắt giá cho những cán bộ, đảng viên không thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, không thực hành cần kiệm liêm chính, dẫn đến hành động tham ô, hủ hoá, suy thoái về đạo đức.

Lời nói phải đi đôi với việc làm, nói được, làm được sẽ mang lại thành công, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết thì không được. Nếu nói rắng phải cần kiệm liêm chính, mà bản thân mình lại cười lao động, lười học tập, không hoàn thành những công việc được giao, không tiết kiệm, sống hoang phí, xa hoa, luôn tìm cách tham ô, bòn rút tiền của Nhà nước và nhân dân, tâm không trong sáng… thì sẽ không hiệu quả và không có tính thuyết phục. Thực hành tốt cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ rèn luyện, làm cho con người có những phẩm chất tốt, như “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Chính nhờ thực hành cần kiệm liêm chính mà trong những năm đầu mới giành được độc lập nhân dân ta đã thu được nhiều thắng lợi, chiến thắng giặc lụt, giặc đói và giặc ngoại xâm. Trong những năm hoà bình xây dựng đất nước, từng bước đời sống nhân dân đã được nâng cao cả về vật chất và tinh thần.

Trong đạo đức thì việc nêu gương là vô cùng cần thiết, vì “…Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” 9.

Bác rất quan tâm đến việc rèn luyện tư cách đạo đức, tác phong cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, từ lời nói đến việc làm. Bản thân Bác là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để chúng ta học tập và noi theo.

Sinh thời, Bác sống rất giản dị, từ lời nói đến việc làm, phong cách làm việc, từ cách ăn mặc cho đến những sinh hoạt hàng ngày, ngay cả khi Người đã là Chủ tịch nước. Tác phong giản dị ấy mang lại một sự gần gũi, một ấn tượng khó quên với những ai đã được gặp Bác dù chỉ một lần.  Bác ăn mặc rất giản dị và tiết kiệm. Quần áo Bác mặc chỉ có vài bộ, may cùng kiểu. Có cái áo của Bác rách, vá đi vá lại, thay cổ mà Bác vẫn không cho đổi. Có lần Bác nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng một cách chân tình: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”10.  Đôi dép cao su của Bác, bộ quần áo ka-ki sờn Bác vẫn dùng hàng ngày, khi biết các đồng chí phục vụ định thay, Bác không đồng ý. Chiếc bút chì mòn vẹt Bác dùng để theo dõi tin tức trên báo. Những trang bản thảo được Bác viết ở mặt sau của những tờ tin tham khảo của Việt Nam Thông tấn xã. Chiếc ô tô Bác đi công tác hay đi thăm đồng bào và chiến sĩ trong cả nước cũng chỉ là loại xe bình thường. Bác không dùng chiếc điều hoà nhiệt độ do các đồng chí cán bộ ngoại giao đang công tác ở nước ngoài biếu, mà đề nghị chuyển chiếc điều hoà ấy cho các đồng chí thương bệnh binh đang điều trị tại trại điều dưỡng hoặc quân y viện, mặc dù lúc đó Bác đang ở trong ngôi nhà của người thợ điện (nhà 54) rất nóng. Những bữa ăn thanh đạm của Người “thường là dưa cà, đôi khi có thịt”. Những lần đi thăm các địa phương, Bác thường không báo trước và mang theo cơm nắm để tránh sự đón rước linh đình, gây phiền hà và tốn kém tiền của nhân dân.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên chiến khu Việt Bắc, Bác ở trong ngôi nhà sàn đơn sơ, giản dị thì đến khi cách mạng thành công, trở về Thủ đô, Bác cũng chỉ ở trong ngôi nhà nhỏ của người thợ điện, sau đó chuyển sang nhà sàn, chứ không ở ngôi nhà to, sang trọng của Toàn quyền Đông Dương. Bác dành ngôi nhà sang trọng đó làm nơi đón tiếp khách của Đảng và Nhà nước ta.

Sự tiết kiệm của Bác còn thể hiện trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ. Là Chủ tịch Chủ tịch nước, nhưng những năm tháng sống trên chiến khu Việt Bắc, đi theo Bác chỉ là tổ công tác ít người kiêm nhiều việc. Cách mạng Tháng Tám thành công, trở về Thủ đô, các đồng chí phục vụ Bác ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Những lần đi công tác xa, không cần nhiều cán bộ cùng đi, Bác cho những anh em còn lại về thăm gia đình. Bác dặn “Các chú tranh thủ về thăm nhà, nhưng nhớ đúng hẹn lên đón Bác”. Điều đó thể hiện sự quan tâm của Bác đối với con người và cũng là một hình thức tiết kiệm thời gian.

Những lời nói của Bác về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt là tấm gương của Bác về thực hành cần kiệm liêm chính vẫn mãi mãi để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi theo. Trong kháng chiến cũng như trong xây dựng đất nước đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Họ là những người luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong lao động sản xuất, chiến đấu và học tập. Tuy nhiên còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa làm đúng những lời dạy của Bác. Nạn tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí, xa xỉ, quan liêu, công thần, cửa quyền… ngày càng nhiều. Các vụ án PM18 ở Bộ Giao thông vận tải, vụ chạy cô-ta ở Bộ thương mại hay vụ án Mạc Kim Tôn ở Thái Bình, v.v… cho thấy đó là những cán bộ, đảng viên bị sa sút về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tha hoá về lối sống. Họ đã làm giản sút lòng tin, uy tín của Đảng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thực hành tốt những lời dạy của Bác về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là chúng ta đã góp phần làm giàu cho đất nước, làm tăng lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Như vậy là chúng ta cũng đã góp phần thực hiện tốt cuộc vận động: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

————————————

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5; tr631
2. Sdd, t.4, tr.8-9
3. Sdd, t.5, tr.637
4. Sdd, t.5, tr.252
5. Sdd, t.5, tr.642
6. Sdd, t.5, tr.641
7. Sdd, t.5, tr.645
8. Sdd, t.5, tr.641
9. Sdd, t.1, tr.263
10. Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb. Thông tấn H, 2003, tr.115

ubmttq.gialai.gov.vn

Chữ Liêm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Để Đảng ta thật sự là một Đảng lãnh đạo và là đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết…

liem
Chủ tịch Hồ Chí Minh cuốc đất trồng rau trong vườn Phủ Chủ tịch

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”. Để Đảng ta thật sự là một Đảng lãnh đạo và là đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết. Chính vì lẽ đó, trong những phẩm chất cần có của người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chữ LIÊM.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, LIÊM tức là luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước và của nhân dân: “Phải trong sạch, không tham lam. Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Người chỉ rõ, do bất liêm mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất Liêm tức là trộm cắp. Người đã dẫn câu nói của Khổng Tử để răn dạy những kẻ bất Liêm rằng: Người mà không liêm không bằng súc vật. Và trong thực thi quyền lực, ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy (Mạnh Tử).

Để thực hiện chữ LIÊM, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Bởi lẽ, theo Người, cán bộ các cơ quan, đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân. Người nói: “Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân”. Vì lẽ đó, hơn ai hết, cán bộ phải thi đua thực hành liêm khiết để làm tấm gương cho quần chúng noi theo. Theo Người, một dân tộc biết Cần, Kiệm, Liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, con thuyền cách mạng Việt Nam đã vượt qua bao thử thách to lớn để từng bước cập bến bờ thắng lợi. Ngày nay, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã gặt hái được nhiều thắng lợi to lớn trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: Từ kinh tế đến văn hoá… Đặc biệt, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được Đảng ta nhận thức rõ hơn. Song, để đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội, chúng ta còn phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách. Trong đó, một trong những thử thách lớn nhất đối với chúng ta hiện nay là tình trạng thoái hoá, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ có chức, có quyền, mà biểu hiện của nó là bất LIÊM. Vì bất LIÊM mà tham ô, tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”, “quốc sỉ” đang làm lệch chuẩn những mục tiêu tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, làm băng hoại đạo đức – phong hoá, làm cho lòng dân không yên, đe doạ đến sự an nguy của chế độ… Vì vậy, hơn lúc nào hết, hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải ra sức thực hành chữ LIÊM.

Trước hết, Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết. Đảng lãnh đạo và những cán bộ, đảng viên của Đảng phải là hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại. Vì vậy, chúng ta phải quán triệt trong thực tế tư tưởng và cách làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc Người đã dặn lại: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ở thời điểm hiện nay, cần phải thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

Cần khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp… sao cho chặt chẽ, đồng bộ, không còn kẽ hở cho tham nhũng lợi dụng luồn lách. Mặt khác, để phòng, chống tham nhũng lâu dài, đi đôi với siết chặt cơ chế, luật pháp còn phải thường xuyên tăng cường công tác giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành yêu cầu thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân – một kẻ thù nguy hiểm, một thứ “giặc nội xâm”, là nguồn cội của bất LIÊM.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, một trong những nguồn gốc của “quan tham” là do “dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan” dù  “không Liêm” cũng phải hoá ra “Liêm”. Vì vậy, cần phải nâng cao dân trí để dân biết quyền hạn của mình, biết kiểm soát cán bộ, để “giúp” cán bộ thực hiện chữ LIÊM. Đồng thời, pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ  bất LIÊM, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đang được các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở triển khai thực hiện nghiêm túc, tin tưởng Nghị quyết sẽ tạo sự chuyển biến tích cực trong cán bộ, đảng viên về thực hành chữ LIÊM để xây dựng một Chính phủ liêm khiết và một Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân như mong đợi của nhân dân và như ý nguyện của Bác Hồ./.

Theo NGUYỄN THỊ CHIÊN
Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Liêm” và “Tu thân” theo tư tưởng Hồ Chí Minh

“Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cán bộ chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc,vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít,mà những tính tốt như sau ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm” (Hồ Chí Minh. Toàn tập NXBCTQG tập 4, trang 466).

Ai cũng được học hành – Một ham muốn tột bậc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ảnh: TL

“Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc. Trời có 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có 4 đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa thì không thành trời; thiếu một phương thì không thành đất; thiếu một đức thì không thành người” (Hồ Chí Minh Toàn tập NXBCTQG tập 5, trang 293).

Hơn 60 năm qua, những lời nói, câu viết ấy, những giá trị cốt lõi trong tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, như một sự tiếp nối và nhất quán về “tư cách một người cách mạng” được Nguyễn Ai Quốc – Hồ Chí Minh đưa lên hàng đầu trong các bài giảng về Đường cách mạng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng thời dựng Đảng (1925-1929) để hôm nay và lâu dài mai sau, lớp lớp đồng chí, đồng bào, con cháu của Người học tập, rèn luyện, làm theo. Trong những lời khuyên bảo, giảng huấn ấy nổi bật là chữ “Liêm” gắn chặt với bài học “Tu thân”, được Bác Hồ của chúng ta nêu cao và tự mình thực hành trước, nêu gương…

“Liêm – là đức tính trong sạch, không tham lam, không tham của công và của người khác”, cả từ điển tiếng Việt và từ điển Hán – Việt đều chú giải như vậy. Theo đó, liêm khiết là trong sạch đến độ thanh khiết, thuần khiết, tinh khiết, cao khiết, không một chút bụi bậm, nhơ bẩn. Liêm còn là liêm chính, ở đó có sự trong sạch gắn liền với sự ngay thẳng, một sự chân thật, trên căn bản lẽ phải, không chỉ là theo lẽ phải mà còn là bảo vệ lẽ phải, không gian dối, dối trá, thiên vị. Liêm phải gắn liền với sỉ, liêm sỉ – giữ mình sao cho trong sạch, tránh những điều phải xấu hổ, hổ thẹn với mọi người, trước nhất là hổ thẹn với lương tâm của chính mình.

“Liêm” là một trong “tứ đức” (cần, kiệm, liêm, chính), là một trong “ngũ thường” (nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm), trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và đây là một đặc sắc, sáng tạo trong tư duy đạo đức, triết lí đạo đức của Người. Hồ Chí Minh đã sử dụng nguyên vẹn 3 chữ: nhân, trí, dũng của Khổng Tử, lấy thêm chữ nghĩa của Mạnh Tử; và đưa vào thêm chữ liêm, mà trước đó không một ai đưa vào “ngũ thường”. Đây không chỉ là chữ, là từ, là khái niệm, là chuẩn mực giá trị đạo đức, được dùng lại và đưa thêm vào mà quan trọng hơn, cơ bản nhất lại là ở chỗ Hồ Chí Minh đã có cách tiếp cận mới nên đã xác định nội hàm mới về chất để các từ khái niệm đạo đức truyền thống trở thành những chuẩn mực, giá trị đạo đức cách mạng, thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng phải là đạo đức, là văn minh “thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình”. Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là nền tảng của người cách mạng, cũng như gốc của cây, ngọn nguồn, của sông của suối. Người vẫn thường nói, đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, mới đi được xa; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng… Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy phải là công việc của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta. Theo Hồ Chí Minh, phải có cái đức để đi đến cái trí. Vì khi đã có cái trí thì đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã lựa chọn, đã tiếp nhận, đã đi theo. Nói về liêm, Hồ Chí Minh đã dẫn lời của Khổng Tử: “Người mà không liêm không bằng súc vật”. Hơn thế đây coi là một phẩm chất nhân cách của con người trong các mối quan hệ xã hội, trong đối nhân xử thế, là một phẩm chất xã hội của cá nhân và của cộng đồng.

Theo Hồ Chí Minh thì “Liêm là không tham địa vị, không tham sung sướng, không tham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”… Liêm là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa thì không ham gì hết…”, “Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, tham sống yên đều là bất liêm”… “Dìm người giỏi để giữ gìn danh tiếng của mình… gặp việc phải mà sợ khó nhọc, nguy hiểm không dám làm… gặp giặc mà rụt rè mà không dám đánh đều trái với liêm, đều là bất liêm”. Như vậy trong Liêm có Chính, có Nghĩa, có Nhân, có Dũng; bất liêm là biểu hiện và bắt nguồn từ bất nhân, bất chính, bất nghĩa, vô dũng. Liêm gắn liền với liêm sỉ, từ sự hổ thẹn của con người về điều gì và với ai, ở đâu, khi nào mà ta nhận ra cái đức liêm, đức nhân, đức nghĩa, đức chính của con người, đánh giá được một cách trực giác về trình độ trưởng thành của nhân tính, nhân cách, nhân phẩm, tức phẩm giá làm người của con người và của cộng đồng dân tộc. Đây là điều mà Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Liêm và Sỉ, bất liêm và vô sỉ, do vậy đã trở thành trung tâm của sự phán xử, đánh giá về trình độ phát triển của con người, cơ sở của tiến bộ xã hội.

Nêu cao đức liêm khiết, liêm chính trong giáo dục, tự giáo dục và “giáo dục lại” của mọi người Việt Nam, trước hết là đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh cũng là mẫu mực trong thực hành tu thân. Tu thân là tự rèn luyện, tự giáo dục về đạo đức cách mạng để phụng sự tổ chức, phụng sự nhân dân, làm người con Trung Hiếu. “Trung với nước. Hiếu với dân,nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; “kẻ thù” không chỉ là giặc ngoại xâm mà còn là giặc “nội xâm” – chủ nghĩa cá nhân. “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân, chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.

Đây chính là nội dung của khái niệm “tu thân” theo tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh, một khái niệm cơ bản của đạo đức học phương Đông truyền thống – Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, được biến đổi và nâng cao về chất. Tu thân là “sửa mình” để mình luôn trong sạch. Liêm, liêm khiết, thanh liêm, liêm chính, trong sạch và ngay thẳng. Tu thân là đối với mình, là tự mình từ đó mà đối với việc và đối với người khác, từ tu thân mà đối nhân xử thế. “Là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình” là thực hành chủ nghĩa Mác-Lênin bằng cách ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa”.

Tu thân xét từ chiều sâu tâm lý của chủ thể nhân cách chính là cái trình độ, năng lực làm chủ ham muốn. Ham muốn là cái lẽ thường tình, là “thói đời”, là tính người phổ biến của con người thực, sống ở đời và làm người. Không chỉ là sự phong phú đa dạng, mạnh mẽ hay nghèo nàn, đơn điệu, yếu ớt nơi ham muốn của mỗi người. Rất quan trọng còn là định hướng giá trị xã hội và văn hóa, đạo đức và chính trị của những ham muốn ấy. Hơn thế còn là cách thức theo đuổi của con người để thỏa mãn nhu cầu ham muốn. Ham muốn do vậy trở thành tiêu chí cơ bản, phép màu thử nghiệm để nhận ra cái cốt cách, bản lĩnh của mỗi con người trong đối nhân, xử thế, trong sự tự thực hiện bổn phận của mỗi người với mọi người và đối với chính bản thân mình. Tinh thần này đã được thể hiện trong một bài của Bác Hồ trả lời các nhà báo nước ngoài, đăng toàn văn lần đầu trên báo Cứu Quốc, số ra ngày 21-1-1946, tại Hà Nội. Bài viết có đoạn như sau:

“Nhân dịp các bạn tân văn, ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và các nhân sĩ nước ngoài đều biết:

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu đến vòng danh lợi…”

Ở Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì mọi sự đều công khai và minh bạch trong sự lựa chọn và xác định, theo đuổi và thực hiện tới cùng, từ thời tuổi trẻ cho tới lúc “đi xa”. Không chỉ công khai minh bạch mà còn là dứt khoát quyết liệt, khẳng định và phủ định. Đó là “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc”… là “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”… “không dính líu gì với vòng danh lợi”. Đây không phải là sự biện luận cùng phép tu từ trong ngôn ngữ văn bản. Đây là cốt cách, bản lĩnh của một con người, nhân cách tự do, “tự do tin tưởng, tự do tổ chức”, tự do trong suy nghĩ và hành động của một chiến sĩ cách mạng, lãnh tụ của dân tộc, của Đảng. Con người đó là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, là Bác Hồ kính yêu của tất cả chúng ta, của mỗi người Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Một năm trước ngày đi gặp các bậc cách mạng đàn anh khác, Bác còn căn dặn: “Muốn giáo dục nhân dân làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục, rèn luyện hàng ngày. Người xưa còn biết tu thân… Đảng viên, cán bộ ta từ nhân dân anh hùng mà ra, phải sống cho xứng đáng với nhân dân và Đảng anh hùng”.

“Đảng anh hùng” đó cũng đồng nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Hồ Chí Minh đã định nghĩa, định tính, định chất về Đảng như vậy, Đảng do Người sáng lập và rèn luyện dìu dắt, trở thành “Đảng ta” trong suy nghĩ và mong đợi thiết tha của mọi người dân nước Việt về “Đảng của mình” độc đáo và riêng biệt có một không hai.

Nguyễn Đức Thạc
daidoanket.vn

Bác Hồ chống tham nhũng, tha hóa đạo đức cách mạng

Bác Hồ với người dân Pác Bó xã Trường Hà,
huyện Hà Quảng, Cao Bằng
Ảnh: TL

Những năm kháng chiến, nền kinh tế ta theo chế độ bao cấp. Từ đó, nảy sinh hai giá là một sơ hở làm cho một khối lượng sản phẩm, hàng hóa rất lớn của Nhà nước lọt vào tay bọn đầu cơ tích trữ lũng đoạn nền kinh tế, tha hóa cán bộ, nhân viên Nhà nước. Chênh lệch giá được triệt để khai thác bằng mọi cách, có đến 50% hàng đối lưu với nông dân bị một số cơ quan ăn chặn, cả nông sản lẫn vật tư hàng hóa đều bị thất thoát khá nhiều mà dân gian vẫn nói “hàng công nghiệp ăn từ trên ăn xuống, hàng nông sản ăn từ dưới ăn lên”, Nhà nước và nông dân đều chịu thiệt thòi, chỉ béo bở tham nhũng. Từng có lúc đưa một tỷ “Rúp” (tiền Liên Xô cũ) vật tư ra, ta chỉ thu về 20 tỷ đồng Việt Nam (VN), nếu tính theo tỷ giá hối đoái 100 đồng VN đổi lấy một “rúp” thì ta đã mất 80 tỷ đồng VN.

Chống ngoại xâm và chống nội xâm rõ ràng đều hết sức bức thiết, không thể để bọn nội xâm và bọn buôn gian, bán lận hoành hành, phá hoại hậu phương lớn đang hàng ngày chi viện người và của cho miền Nam. Ngày 24-7-1962 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước về Cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô lãng phí, quan liêu. Người nêu rõ ý nghĩa, nội dung, phương hướng của cuộc vận động, phân tích những biểu hiện, nguyên nhân và tác hại của các bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu trong cán bộ hiện nay, đồng thời phê phán những thái độ không đúng. Người nhấn mạnh: “Cuộc vận động này là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu. Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – tập 8 – trang 268).

Cuộc vận động mang tên “Ba xây, Ba chống”. Ba xây gồm có: Nâng cao ý thức trách nhiệm – Tăng cường quản lý kinh tế tài chính – Cải tiến kỹ thuật. Ba chống gồm có: Chống tham ô – Chống lãng phí – Chống quan liêu.

Ngày 26-12-1963, Hội đồng Chính phủ họp phiên cuối năm Hồ Chủ tịch đến thăm và chúc Tết, Người nhắc nhở Chính phủ phải làm tốt cuộc vận động “Ba xây – Ba chống”. Người nói: “Hiện nay chúng ta làm “Ba xây, ba chống” còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở rất hăng hái nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm “Ba xây, ba chống” cả hai chiều, từ dưới lên, từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải “Ba xây, ba chống”. Hơn ai hết người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động này là rất quan trọng để làm cho tốt” (Biên bản Hội đồng Chính phủ lưu lại tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Ngày 31-1-1964, Bộ Chính trị họp bàn về công tác lãnh đạo cuộc vận động “Ba xây, ba chống”. Hồ Chủ tịch đã đến dự, Người đề cập vấn đề không bình thường là cán bộ lãnh đạo lại hưởng ứng “Ba xây, ba chống” không tích cực bằng đông đảo cán bộ, nhân viên. Người nêu câu hỏi:
Tại sao dưới động, trên không động?
Nhỏ động, to không động?

Người đề nghị phải làm cho cấp bộ trưởng, thứ trưởng thông suốt tư tưởng. Bởi lãnh đạo còn có người cho “Ba xây, Ba chống” chỉ cấp dưới mới học; lại có lãnh đạo để xảy ra tham nhũng, lãng phí tìm mọi cách né tránh. Còn ở cơ sở phải kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức chi bộ đảng, công đoàn, đoàn thanh niên để chấn chỉnh cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” khỏi sộc sệch. Khi biết chưa nơi nào, phát động “Ba xây, Ba chống” chưa nơi nào có dân tham gia, Người phê bình nghiêm khắc những cán bộ sợ quần chúng, không dám phát động, phong trào. Người yêu cầu phát hành loại sách nhỏ, bài ngắn để tuyên truyền giải thích, lôi cuốn nhân dân tham gia vào cuộc vận động. Hội nghị đánh giá cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” đã đạt nhiều tiến bộ, Hồ Chủ tịch không đồng tình với đánh giá này, Người nhận xét: “Mới chỉ là tiến bộ bước đầu”. (Biên bản hội nghị Bộ Chính trị lưu tại Cục lưu trữ văn phòng T.Ư .Đảng, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Đọc một số tài liệu lưu trữ ghi một số cuộc họp của Bộ Chính trị, của Hội đồng Chính phủ, thấy Hồ Chủ tịch đã phải dành một phần thời gian và sức lực vào cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm. Cán bộ lãnh đạo còn một số thiếu gương mẫu, Người biết. Có lãnh đạo nhà đã đủ ở, gian trong gian ngoài lại đòi có nhà rộng hơn, đã có xe công lại đòi xe đẹp hơn; có người đi nước ngoài dùng tiền Nhà nước mua hàng xa xỉ, vợ con trưng diện, thậm chí còn mang hàng ngoại về để vợ con buôn bán. Mất đoàn kết nội bộ xảy ra ở một số nơi, nhất là khi các tỉnh sát nhập, mất đoàn kết càng kéo dài, lộ liễu, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước.

Còn giặc Mỹ trên đất nước ta, nguy cơ mất nước đã đành, nhưng nhìn xa hơn khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Hồ Chủ tịch vẫn chưa yên tâm. Đảng viên kém phẩm chất chỉ là số ít, nhưng phần nhiều trong số đó lại có chức có quyền, chỉ nghĩ đến “vinh thân phì gia” trong khi dân đang ra sức thực hiện khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; đã có một số gia đình hai, ba người vào chiến trường miền Nam… Không tăng cường giáo dục, nâng cao phẩm chất số cán bộ kém, chẳng khác gì nuôi dưỡng trong lòng đất nước mầm mống của mối họa lớn dễ phát sinh. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh, mấy lần đại thắng quét sạch giặc ngoại xâm (đời Trần và đời Lê) chỉ còn ta với ta nhưng rồi lại mất nước vì mọi quyền hành lúc đó đã vào tay bọn gian thần tham nhũng cùng vua quan chỉ biết hưởng lạc, đè đầu cưỡi cổ dân.

Hồ Chủ tịch đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 12 – trang 557).

Cách mạng tháng 10 Nga thành công, nghe tin một số đảng viên có chức có quyền kiêu căng, xa dân, Lê Nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt Đảng cộng sản Nga. Chỉ có những đảng viên của Đảng mới có thể làm việc đó”.

Thắng lợi cuối cùng càng đến gần, Hồ Chủ tịch càng suy nghĩ nhiều đến đội ngũ đảng viên, cán bộ sẽ lãnh đạo đất nước khi đã độc lập và thống nhất, sạch bóng giặc ngoại xâm. Ngày 3-2-1969, nhân Kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (9 tháng trước khi Người qua đời) Báo Nhân dân đã đăng bài báo quan trọng của Hồ Chủ tịch, đầu đề: Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bài báo đề cao đông đảo đảng viên, cán bộ đã rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác, nhân dân ta rất tự hào có những người con như thế. Bài báo phê phán một số ít đảng viên, cán bộ đạo đức, phẩm chất thấp kém, lúc nào cũng chỉ muốn “mọi người vì mình”.

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, thiếu kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng của nhân dân”.

Đọc bài báo này nhiều người biết cán bộ lãnh đạo vẫn còn những người bị tiêm nhiễm bao thói hư tật xấu. Chúng ta càng hiểu sâu xa tại sao trong Di Chúc, Hồ Chủ tịch đã viết: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, theo ý tôi việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

Thái Duy
daidoanket.vn

Bác Hồ với chống bệnh quan liêu

Bệnh quan liêu, dân chủ hình thức, thái độ quan cách, hách dịch, xa rời quần chúng… gây phiền hà cho nhân dân, cản trở sản xuất và công tác là hiện tượng đang có tính phổ biến, kể cả ở cơ sở.

Tệ quan liêu còn biểu hiện ở bệnh phô trương, hình thức, coi nhẹ tính hiệu quả, nặng về giấy tờ, thói thụ động…

Đã là cán bộ thì ít nhiều đều có quyền hành. Quyền hành là môi trường khách quan làm cho người cán bộ nếu không tỉnh táo dễ quên vai trò của quần chúng. Những cán bộ kém năng lực thường dùng quyền lực thay cho năng lực. Cán bộ quan liêu thường chỉ ngồi bàn giấy, ra chỉ thị cho cấp dưới và thường có “sáng kiến” đề ra nhiều cuộc vận động với tên gọi rất kêu, nhưng chỉ dừng ở khẩu hiệu suông.

Thói thụ động là một dạng cụ thể của bệnh quan liêu. Người cán bộ cấp dưới chỉ biết ngồi chờ mệnh lệnh cấp trên là hiện tượng không hiếm của công chức. Thói thụ động bỏ lỡ những cơ hội có thể đem lại lợi ích lớn cho Nhà nước, cho tập thể và né tránh những vấn đề cấp bách đòi hỏi phải có nhiều cố gắng để thực hiện.

Chủ nghĩa quan liêu, về mặt tổ chức, tạo dựng ra một hệ thống tổ chức quản lý dựa trên quyền lực. Điều đặc biệt nguy hại là chủ nghĩa quan liêu khéo núp dưới cái vỏ dân chủ – dân chủ hình thức – để lẩn tránh mọi sự lên án và trừng phạt.

V.I.Lênin đã phân biệt hai kiểu quan liêu: Kiểu thứ nhất thể hiện trong tác phong hoạt động của cán bộ và các cơ quan quản lý. Kiểu thứ hai là ở trong sự quản lý tồi.

Chủ nghĩa quan liêu có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử, từ tư tưởng, nhận thức, tổ chức và tác phong. Chủ nghĩa quan liêu tồn tại là vì còn cơ chế quan liêu và nhất là còn đội ngũ đông đảo cán bộ quan liêu. Cơ chế quan liêu là cái nôi làm nảy nở đội ngũ cán bộ quan liêu. Cán bộ quan liêu ra sức củng cố, bảo vệ cơ chế quan liêu để duy trì địa vị và quyền lợi của mình. Chủ nghĩa quan liêu là mảnh đất tốt sản sinh và dung dưỡng bệnh chủ quan, nóng vội, giản đơn, duy ý chí, giáo điều.

Thật không sai nếu nói rằng: Tệ quan liêu đem lại lợi ích cho những kẻ mắc bệnh đó. Chính lợi ích vị kỷ này là lý do làm cho một số dạng của tệ quan liêu sống dai dẳng và trở thành căn bệnh mãn tính rất khó chữa.

Phong cách làm việc quan liêu làm cho cán bộ bảo thủ, trì trệ, thiếu năng động và sáng tạo, thậm chí còn cản trở và chống lại sự năng động, sáng tạo.
Tệ quan liêu gây ra hệ quả tiêu cực là có một số nghị quyết, kế hoạch, chính sách, dự án được xây dựng thiếu căn cứ khoa học, tách rời khả năng và hiện thực.

Quan liêu và dân chủ đối lập với nhau như lửa với nước. Có cái này sẽ không có cái kia. Cho nên, không thể tiến hành cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu mà không dựa vào quần chúng trên cơ sở mở rộng dân chủ và công khai hóa, huy động quần chúng tham gia mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, công khai thông tin, tạo mọi thuận lợi để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Chủ nghĩa quan liêu không tự thủ tiêu. Nó chỉ biến dạng, thậm chí, dù có đặt ra thể lệ, quy chế, nó cũng tìm cách làm cho mất hiệu lực, nếu không có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng.

Nguyên nhân của bệnh quan liêu đã được Bác Hồ chỉ rõ: “Xa nhân dân: Do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: Cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: Do đó, họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…”(1).

Theo Bác Hồ, chứng bệnh quan liêu tỏ ra bằng nhiều vẻ:

“Đối với người:

Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân chúng – chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động.

Đối với việc:

Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.

Đối với mình:

Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đường làm một nẻo.

Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí.

Một vẻ quan liêu nữa là: Chỉ biết ăn sang, diện cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình.

Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”(2).

Người khẳng định: “Nếu không lo chữa, thì bệnh quan liêu sẽ đưa bệnh nhân đến chỗ hoàn toàn bị đào thải.

Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

– Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

– Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

– Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

– Phải làm kiểu mẫu: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”(3).

—————————–

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 6, tr.292-293.
(2,3) Sđd, tập 6, tr.89-90.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng về tiết kiệm và thực hành tiết kiệm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Là một người có tấm lòng nhân ái, tình yêu thương con người hết thảy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của người dân, đặc biệt là những người cần lao. Chính vì vậy, trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều đến tiết kiệm và thực hành tiết kiệm. Vấn đề tiết kiệm và thực hành tiết kiệm đã trở thành một trong những nội dung nằm trong hệ thống tư tưởng của Người.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, tiết kiệm không phải là bủn xỉn mà những việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì mất bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. “Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực” – (Hồ Chí Minh toàn tập).

Trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn, do luôn phải chịu sự áp bức bóc lột của bọn Phong kiến tay sai và Đế quốc xâm lược, càng cần phải tiết kiệm để phục vụ cho kháng chiến và công việc kiến quốc. Chỉ có tiết kiệm mới có thể tăng thêm nguồn vốn xây dựng đất nước, góp phần nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra 3 nội dung cơ bản của việc tiết kiệm, đó là: Tiết kiệm sức lao động. Tức là phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất lao động, “1 người làm bằng 2, 3 người”; Tiết kiệm thời giờ. Bác nói: “Thời giờ tức là tiền bạc”; “Một tấc bóng là một thước vàng”. Tiết kiệm thời giờ của mình và tiết kiệm thời giờ của người khác; Tiết kiệm tiền của. Phải tiết kiệm tiền của của Nhà nước, của nhân dân và của chính mình. Việc này liên quan tới tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời giờ…

Để làm được điều đó, tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Đi đầu trong việc thực hiện tiết kiệm là các cơ quan, bộ đội, xí nghiêp. Nội dung của tiết kiệm phải cụ thể, thiết thực ngay trong từng vị trí công tác của từng cá nhân. Bộ đội, chiến sỹ thì tiết kiệm đạn, quân nhu, chiến lợi phẩm; cán bộ cơ quan hành chính thì tiết kiệm thời gian, giấy mực…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ai mang vàng vứt đi là người điên rồ. Ai mang thời giờ vứt đi là người ngu dại”. Đặc biệt đối với những người cán bộ, Đảng viên, Người nhấn mạnh “từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân… làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm… Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân”.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cá nhân, tập thể, nhất là các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước đã không ngừng triển khai thực hiện các biện pháp về thực hành, tiết kiệm (điện, nước, giấy mực, cải cách thủ tục hành chính giảm thiểu tối đa về thời gian, công sức, tiền của của nhân dân…), tạo thành phong trào thi đua rộng khắp trong đông đảo quần chúng nhân dân. Kết quả đó đã góp phần thực hiện thành công Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Nguyễn Thanh Phong – P.HCTH – ĐLCC (st)

hcmpc.com.vn

“Chí công vô tư” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

(Bài viết đã đăng trong Tập san Trường Đại học Luật Tp. HCM: Cán bộ, giảng viên và sinh viên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh)

Ở thế kỷ XVIII và XIX, những nhà triết học Anh như Benham (1748-1832), và Minlơ (1806-1873) đã đề xuất và phát triểnchủ nghĩa công lợi với nguyên tắc “hạnh phúc lớn nhất cho số đông người nhất”. Theo quan điểm này, hạnh phúc cá nhân không tách rời hạnh phúc xã hội; cá nhân càng đem lại hạnh phúc cho nhiều người thì càng cảm thấy sung sướng, hạnh phúc. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà tư tưởng của Benham và Minlơ đã được cả nhân loại trân trọng. Hay nói như A.Anhxtanh: “Những mục đích tầm thường mà người đời theo đuổi như của cải, sự thành đạt bề ngoài, sự xa xỉ, với tôi từ thời trẻ đã luôn đáng khinh”[1] và “chỉ có tấm gương của những nhân cách lớn và trong sạch mới dẫn đến những tư tưởng và hành động cao quý. Đồng tiền chỉ kích thích tư lợi và luôn mê hoặc sự lạm dụng”[2].

Thấm nhuần nguyên tắc “hạnh phúc lớn nhất cho số đông người nhất”, gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc xã hội, ngay từ lúc trẻ C. Mác cho rằng, “Nếu một người chỉ lao động vì mình thôi thì người đó có thể trở nên một nhà bác học nổi tiếng, một nhà thông thái lớn, một nhà thơ tuyệt vời, nhưng người đó không bao giờ có thể trở thành một con người thật sự hoàn thiện và vĩ đại” nhưng “nếu một người chọn nghề trong đó người ấy có thể làm được nhiều nhất cho nhân loại, thì lúc đó người ấy cảm thấy không phải một sự vui sướng ích kỷ, hạn chế và đáng thương, mà hạnh phúc của người đó sẽ thuộc về hàng triệu người”[3]. Và cả cuộc đời C.Mác đã thể hiện sự hy sinh cho sự nghiệp cách mạng cao cả của giai cấp vô sản. Trong “Điếu văn trước mộ Các Mác” năm 1883, Ph.Ăngghen đã viết: “Sứ mệnh thật sự của Mác là góp phần bằng cách này hay cách khác vào việc lật đổ xã hội tư bản chủ nghĩa và những chế độ nhà nước mà chế độ tư bản chủ nghĩa đó tạo nên… Đấu tranh là yếu tố tồn tại của đời Mác. Và C.Mác đã đấu tranh một cách say sưa, kiên cường và đạt những thành công hiếm có”.

Theo V.I.Lênin, đạo đức của người cách mạng, người cộng sản phải được thể hiện trong cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức bóc lột, xây dựng xã hội mới. Người nói: “đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” và “Đạo đức cộng sản là đạo đức phục vụ cuộc đấu tranh ấy, là đạo đức nhằm đoàn kết những người lao động chống mọi sự bóc lột…”[4].

Hồ Chí Minh không chỉ là người kế thừa, vận dụng mà còn là người tiếp tục phát triển học thuyết Mác-Lênin về đạo đức cách mạng lên tầm cao mới trên cơ sở kết hợp tư tưởng đạo đức Mác-Lênin với tinh hoa tư tưởng và truyền thống đạo đức phương Đông.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc, cái căn bản, nền tảng của người cán bộ cách mạng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, ký tên X.Y.Z, xuất bản đầu tiên năm 1948, Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Người còn vạch rõ nguyên tắc cao nhất của đạo đức cách mạng là lấy lợi ích chung của dân tộc và nhân loại làm mục đích. Người nói: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người[5]. Trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam”, ngày 24 tháng 3 năm 1961, Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức cách mạng là bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì, đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Hay trong “Bài nói ở lớp huấn luyện Đảng viên mới”, ngày 14 tháng 5 năm 1966, Hồ Chí Minh viết: “Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”.

“Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”[6].

Đạo đức cách mạng đó, theo người là đạo đức chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lợi ích của cách mạng. Thực hành chí công vô tư chính là quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc). Người nói: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích riêng của tập thể… Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, chủ nghĩa xã hội”. Nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

Từ đó, Người khẳng định: “Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng. Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập.

Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Đó cũng là biểu hiện của đạo đức cách mạng”[7].

Vì thế, Người nhắc nhở chúng ta: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Theo Hồ Chí Minh, Chí công vô tư là đức tính đạo đức tốt, tính tốt ấy có thể gồm 5 điều: nhân, tín, trí, dũng, liêm. TrongLời nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp, ngày 10 tháng 10 năm 1947Người nói:

Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sư giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây: Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liêm.

Nói rõ nghĩa: – Trí – Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh.

– Tín – Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin – cho bộ đội tin ở mình.

– Nhân – Là phải có lòng bác ái – yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình.

– Dũng – Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc.

– Liêm – Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết.

Những bài học trên theo cùng thời gian, nó tỏa ánh sáng chiếu rọi, là một trong những tiêu chuẩn đạo đức trong nhận thức và hành động của mỗi chúng ta – những công dân Việt Nam, những cán bộ, đảng viên và những giảng viên trường Đại học Luật tp. Hồ Chí Minh, hơn bao giờ hết, chúng ta cần nghiêm túc ôn lại những lời dạy của Người về đạo đức “chí công vô tư” như trong Thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc tháng 2 năm 1948, Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”.

Nhân đây, Tôi giới thiệu lại một bài học về đạo đức chí công vô tư có giá trị từ quá khứ đến tương lai để mỗi chúng ta cùng suy ngẫm và hành động: Năm 1952, trong lần đến thăm lớp chỉnh huấn chính trị cán bộ trung, cao cấp, Bác nói: “Các chú học đã giỏi, bây giờ Bác đố chữ này xem các chú có biết không nhé!”. Anh em háo hức hưởng ứng: người nào biết tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung thì “nhẩm” lại kiến thức của mình. Bác cầm một cái que, vẽ lần lượt một vạch ngang, hai vạch ngang, ba vạch ngang trên mặt đất rồi hỏi chữ gì? Cả lớp hò lên: “Thưa Bác, chữ nhất, chữ nhị, chữ tam ạ”. Bác khen giỏi, rồi Người lại gạch một gạch nữa dưới chữ tam hỏi chữ gì? Anh em ngẩn ra, chữ Pháp không phải, còn chữ tứ tiếng Hán viết khác. Bác giục: “Thế nào? Các nhà mácxít?”. Bác lại cầm que vạch một vạch, rồi hai vạch dọc từ trên xuống dưới, ban đầu thì thẳng đứng, xuống đến vạch ngang thứ hai đã “queo”, vạch thứ ba thì “quẹo”, vạch bốn như một con giun, loằng ngoằng như cái đuôi chuột nhắt… Bác để que xuống đất, đứng dậy nói: “Chịu hết à? Có thế mà không đoán ra… Các chú biết cả đấy! Chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đúng đắn… Đến tỉnh đã hơi cong, đến huỵên đã “tả, hữu”, đến xã đã sai lệnh. Vì sao? Vì cán bộ không làm đúng, không nắm chắc chủ trương đường lối, không gần gũi dân, không chịu làm “đầy tớ nhân dân” mà chỉ muốn làm “quan cách mạng”. Cho nên chữ ấy là chữ “quan liêu”. Các chú không học nhưng biết và vẫn làm. Còn cái các chú học, thì các chú lại ít làm…”.

Bài học ấy nhắc chúng ta một nội dung cụ thể: lời nói phải đi đôi với việc làm, học phải đi đôi với hành, phải không ngừng học tập, trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng…Vì thế, mỗi hành động, việc làm của chúng ta phải “chí công vô tư”, phải thống nhất vì lợi ích chung và sự phát triển của Nhà trường, của xã hội; của sinh viên trường Đại học Luật tp. Hồ chí Minh.

Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cùng ôn lại và suy ngẫm những tư tưởng, bài học quý báu về đạo đức chí công vô tư của Người để phấn đấu học tập và làm theo, bởi “Cuộc đời vĩ đại của HỒ CHỦ TỊCH là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị” như trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định. “Chính lẽ đó đã làm cho tiểu sử của Người trở thành bài ca cho niềm vinh quang đối với triển vọng và khả năng của con người…”[8].

Tp. Hồ Chí Minh, ngày  tháng  năm 2009

Ths. Nguyễn Hoài Đông


[1] A.Anhxtanh: Thế giới như tôi thấy, Nxb Thế giới, Niu óoc, 1971, tr.17.
[2] A.Anhxtanh: Sđd, tr.22.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen: Những tác phẩm ban đầu, Mát-xcơ-va, 1956, tr 35.
[4] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, t 41, tr 369.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.253
[6] Đạo đức cách mạng tháng, 12-1958Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr. 285.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr. 283-284.
[8] Xem: Báo Thế giới, ngày 20 tháng 9 năm 1969.

hcmulaw.edu.vn

Bác Hồ với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu

Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một nhiệm vụ quan trọng, to lớn và cấp bách hiện nay, bởi đây là nguy cơ, ảnh hưởng trực tiếp tới sự lãnh đạo của Đảng và sự ổn định, phát triển của đất nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới nhiệm vụ này. Người cho đây là “kẻ thù nguy hiểm”, “là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”, nó làm hỏng tinh thần và phá hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên.

Bởi vậy, Bác Hồ đã có nhiều bài nói, bài viết đề cập trực tiếp tới nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu. Người thường xuyên nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Người là hình ảnh tiêu biểu của đạo đức cách mạng, là tấm gương trong sáng về đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu mà mỗi người, từng tổ chức của cả hệ thống chính trị phải thường xuyên rèn luyện, học tập và noi theo.

Nhớ lại, sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo nguy cơ tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong bộ máy và đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một thứ “giặc nội xâm” rất nguy hiểm. Bởi vậy, ngay sau khi tuyên bố độc lập một ngày (ngày 3/9/1945) Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay, trong đó có nhiệm vụ “giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”.

Tiếp đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 7/1952, trong bài phát biểu Người nhấn mạnh: Bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí nguồn gốc trong xã hội cũ mà ra. Chúng ta không lấy làm lạ, nhưng mấy năm sau cách mạng mà tham ô, lãng phí còn khá phổ biến trong cán bộ ta là vì giáo dục thiếu sót. Chúng ta phải sửa chữa một cách có kế hoạch, có chuẩn bị.
Người từng chỉ rõ: Để kháng chiến thắng lợi, để xây dựng nhà nước, chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi, nước mắt để đóng góp. Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám.

Vì vậy, theo Người chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị.

Nhớ lại trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, giám đốc nhà quân nhu – đại tá Trần Dụ Châu phạm tội tham ô, lợi dụng chức quyền biển thủ 57.950 đồng bạc Việt Nam, 449 USD, 28 tấn lụa vải xanh, nhận 20 vạn đồng tiền hối lộ của người dưới quyền, sống xa hoa, trụy lạc, kèo bé phái, gây chia rẽ nội bộ, vụ lợi riêng, nên ngày 5/9/1950 đã bị tòa án binh tối cao tuyên phạt mức án tử hình. Điều đó cho thấy sự nghiêm minh và quyết tâm của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ trong việc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Sau vụ Trần Dụ Châu, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 15 đến 17 tháng 11 năm 1950, Bác Hồ trong bài phát biểu kết luận đã căn dặn: Lúc tìm người phải tìm cả tài, cả đức, chú trọng tư tưởng. Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc. Đồng thời phải giáo dục, cải tạo, kiểm tra cán bộ.

Cũng trong thời gian này, Bác Hồ còn có nhiều bài viết căn dặn, giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Đồng thời Người nghiêm khắc phê phán những cán bộ phạm phải căn bệnh nguy hiểm nói trên. Đó là bài: Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (tháng 9/1952). Người viết:

“Tất cả cán bộ đều là đầy tớ của dân.
Quan liêu là những người phụ trách mà chỉ biết yên thân.
Xa cách cán bộ, nhân dân và việc làm
Việc gì cũng nhắm mắt ký thàm
Không biết cán bộ tốt hay xấu, việc làm đúng hay không
Quan liêu “ngài” không biết đề phòng
Do đó mà tham ô, lãng phí mọc từ trong đến ngoài
Tham ô là những cán bộ chỉ lo phát “hoạnh tài”.
Đục khoét của nhân dân, bộ đội chính phủ, đoàn thể
Của ai họ cũng trộm làm của mình.
Để họ tiêu xài xa xỉ, linh đình
Tội ác ấy thật là to lớn, tâm tình ấy thật là nhuốc nhơ
Lãng phí là những cán bộ ngẩn ngơ
Không biết thương tiếc của cải và thời giờ của Chính phủ và nhân dân.
Đáng tiêu một phần thì tiêu đến 10 phần, 100 phần
Việc một người làm được, cũng kéo gấp đến 10 người, 100 người
Tham ô có tội đã đành rồi.
Tai hại đến của dân, của nước thì lãng phí cũng là tội to.
Hỡi những người quan liêu, lãng phí và tham ô!
Cần, kiệm, liêm, chính các người để ở mô cả rồi.
Đoàn thể và Chính phủ, nhân dân và bộ đội, ủy thác cho các người.
Mà các người làm hỏng việc thì tội này ai mang
Cho nên toàn dân ta phải đứng dậy hiên ngang
Quyết tâm chống quan liêu, tham ô, lãng phí trong hàng ngũ ta.
Mấy câu mộc mạc, nôm na
Xin mọi người ghi nhớ đem ra thực hành”.

Sau này, nội dung đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu còn được Người nêu lên trong nhiều bài nói, bài viết tại các Hội nghị Trung ương, ở những buổi làm việc với lãnh đạo các cấp, các ngành, đoàn thể ở Trung ương, địa phương, cũng như ở nhiều bài viết quan trọng khác! Điều đó cho thấy đây là một nội dung xuyên suốt trong cuộc đời đấu tranh hoạt động của Bác Hồ, là vấn đề được Người thường xuyên quan tâm để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.

Ngày nay, Đảng ta xác định tham nhũng là trong một quốc nạn. Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của từng tổ chức, của mỗi cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội X của Đảng vừa qua đã khẳng định quyết tâm: Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng, bất kể chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; những người bao che cho tham nhũng, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Biểu dương và nhân rộng những gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Điều đó thể hiện Đảng ta đã nhận thức và đang quyết tâm thực hiện đúng những gì mà Bác Hồ kính yêu căn dặn, để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của mình, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Nguồn: Báo Lâm Đồng

dalat.gov.vn

Cần – Kiệm – Liêm – Chính

(TT&VH) – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”; Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ muốn cho xứng đáng phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin dân phục dân yêu. Muốn được dân tin dân phục dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”.

Cần: Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Người siêng học tập thì mau tiến. Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến. Siêng hoạt động thì có sức khỏe. Người siêng năng thì mau tiến bộ. Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no. Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh. Cả nước siêng năng thì nước giàu mạnh. Muốn cho chữ cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc.

Bác Hồ trong ngày tết trồng cây

Cây gỗ bất kỳ to nhỏ đều có gốc và ngọn. Công việc bất kỳ to nhỏ đều có điều nên làm trước, nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để làm sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế sẽ hao tổn thời giờ, mất công nhiều mà kết quả ít. Siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau. Kế hoạch lại phải đi đôi với phân công để nhằm vào hai điểm: công việc (làm trước sau) và nhân tài (năng lực ai vào việc nấy). Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Cần là phải biết cách nuôi dưỡng, phân bổ cả tinh thần, vật chất và lực lượng của mình một cách hợp lý để làm việc lâu dài.

Đêm 30 Tết năm 1957, Bác đến thăm ba đồng chí cảnh vệ trực Phủ Chủ tịch và dạy anh em cách pha trà. Lượt nước đầu tiên và thứ hai, Bác đều rót vào một chiếc ca to, đậy kín lại. Lượt nước thứ ba, Bác rót ra 4 chén con để mọi người cùng uống. Tiếp những lượt nước sau, Bác chuyển trà từ ca vào ấm rồi thêm nước sôi vào, nhờ thế nước trà vẫn đậm đà. Cuối buổi, Bác mới nói: “Nghe nói mấy chú đầu tháng “trung nông”, giữa tháng “bần nông”, cuối tháng “cố nông” như thế là chi tiêu không kế hoạch. Nếu các chú chi tiêu theo lối pha trà của Bác thì vừa đủ tiền tiêu, vừa khỏi phải trả nợ”.

Kiệm: Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần với kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không kiệm, làm chừng nào, xào chừng nấy như cái thùng không đáy. Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được. Thời giờ cũng phải được tiết kiệm như của cải. Của cải hết còn có thể làm thêm nhưng khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo trở lại được. Biết tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người khác.

Thánh hiền có nói: Một tấc bóng là một thước vàng. Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Kết quả chữ cần kiệm to lớn như vậy cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành cần kiệm.

Tháng 4/1969, Bộ Chính trị họp bàn chuẩn bị tổ chức 4 ngày lễ lớn năm sau. Bác đang mệt nặng nên vắng mặt. Sau đó trên giường bệnh, nghe báo cáo lại cuộc họp, Người nói: “Các chú nên bàn bạc cho kỹ. Còn ý kiến của Bác, Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa 19/5 làm ngày kỷ niệm lớn năm 1970. Hiện nay các cháu học sinh sắp vào năm học mới, giấy mực tiền bạc dùng tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dùng để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Nhà sàn Bác Hồ

Liêm: Là trong sạch, không tham lam. Liêm có nghĩa rộng hơn là trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm. Có kiệm mới liêm được vì xa xỉ mà sinh tham lam. Tham tiền, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm. Để thực hiện chữ liêm, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên. Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp di công – dinh tư.

Vì vậy cán bộ phải thực hành chữ liêm trước để làm kiểu mẫu cho dân. Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết không chịu đút lót thì quan dù không liêm cũng phải hóa ra liêm. Vì vậy cần phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ liêm. Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết thì sẽ gây nên tinh thần liêm khiết trong nhân dân.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại Mỹ năm 1965, nhân dân Hà Nội phải ăn cơm độn mỳ sợi, ngô, bột, bo bo. Bác yêu cầu: “Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiêu phần trăm, cứ độn cho Bác từng ấy, giống như cán bộ với dân”, anh em cấp dưỡng thương Bác quá bèn thưa rằng quy định các cụ già trên 70 tuổi không phải ăn độn, nhưng Bác không đồng ý. Anh em bèn xay nhỏ ngô trộn vào gọi là thì Bác vẫn nhắc lại rõ ràng: “50% cơ mà!”.

Chính: Tức là không tà, thẳng thắn, đứng đắn. Cần – kiệm – liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây có gốc rễ, lại cần có nhành, lá, hoa, quả mới là cây hoàn toàn. Một người phải cần – kiệm – liêm nhưng còn phải chính mới hoàn toàn. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội đều phải xác định cái đúng, cái tốt trong bản thân mình đối với mọi người và đối với công việc. Bản thân luôn tự kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa khuyết điểm và hoan nghênh người khác phê bình mình.

Với mọi người phải chân thành khiêm tốn, thật thà đoàn kết, chớ nịnh trên, xem thường dưới. Trong công việc phải để việc công lên trên việc tư, việc nhà. Bất kỳ việc to, việc nhỏ phải có sáng kiến, kế hoạch, cẩn thận, quyết tâm làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Mới giữ cương vị một thời gian ngắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đứng ra nhận trách nhiệm trước quốc dân: “Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm được việc gì đáng kể cho nhân dân. Có thể nói rằng: những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này, lẽ khác… Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm là lỗi tại tôi. Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi”.

Trong thư riêng gửi ông Vũ Đình Hòe, Bác viết: “Việc ân xá, ân sám ở Thái Bình như thế là xong. Ông giám đốc N.V.H tỏ ra tận tâm với chức vụ, thì Chính phủ nên khen. Nhưng trong việc ở Thái Bình vừa rồi, ông ấy làm quá đáng, thì chúng ta phải phê bình giúp ông ấy sửa chữa và tiến bộ. Không vì công mà quên tội. Đó là cách chí công vô tư, để rèn luyện và cất nhắc cán bộ”.

Tại buổi họp của Hội đồng Chính phủ ngày 30/12/1967, Bác đã thẳng thắn góp ý: “Chính phủ ta tuy đã cố gắng nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa. Trong khi người công nhân, người nông dân, người chiến sĩ hy sinh làm tròn nhiệm vụ của mình, còn chúng ta những người làm lãnh đạo có khi lại làm chưa hết nhiệm vụ của mình. Tôi nói như vậy có đồng chí không thích, nhưng tôi nói có sách mách có chứng cả. Chúng ta phải gương mẫu trong quản lý và bảo vệ của công. Việc đoàn kết nội bộ trong các Bộ, các ngành chưa được tốt. Lề lối làm việc của chúng ta cũng có nhiều điểm chưa tốt, có tình trạng là nói mà không nghĩ, nghĩ mà không quyết, quyết rồi mà không làm…”.

Để quyết tâm xây dựng đất nước, hướng tới một tương lai tươi sáng, phồn vinh trong thế kỷ mới, mỗi người cần phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Tịch: “Một hột gạo, một đồng tiền là mồ hôi, nước mắt của đồng bào. Vì vậy, ta phải ra sức tiết kiệm. Hoang phí là một tội ác. Có tiết kiệm, không hoang phí xa xỉ thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền, do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối. Thậm chí làm chợ đen chợ đỏ, thụt két, buôn lậu. Có cần mới kiệm. Có cần, kiệm mới liêm. Có cần, kiệm, liêm mới chính”.

Đỗ Hoàng Linh

thethaovanhoa.vn

Về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại lời di huấn dặn dò về Đảng, và vấn đề đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cả cuộc đời của mình, Người đã tự thực hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn những tư tưởng và khát vọng đạo đức cách mạng; Người vừa là nhà lý luận đạo đức cách mạng, vừa là một tấm gương đạo đức trong sáng gần gũi và độc đáo nhất.

Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới. Đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Và theo cách diễn đạt bình dị của Người: Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, và đi được xa. Ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta tiến hành sự nghiệp vĩ đại giải phóng và thống nhất đất nước, Người đã khái quát và cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng thường xuyên nhấn mạnh: “Đảng phải là đạo đức, là văn minh”, cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng phải vừa hồng vừa chuyên, hội tụ đủ đức tài, đức là gốc; phải có sự trung với nước, và hiếu với dân. Trung với nước đó là sự trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, vì hòa bình hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Hiếu với dân đó không phải chỉ dừng lại ở chỗ thương dân, mà là phải chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng học tập dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc.

Về cần, kiệm, liêm chính, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là phẩm chất gắn liền với hoạt động thực tiễn, được thể hiện cụ thể hàng ngày của mỗi con người không thể che đậy được; gắn chặt giữa nói và làm, giữa suy nghĩ và hành động. Thể hiện cụ thể:

+ Cần, là sự lao động, làm việc cần cù sáng tạo, có tổ chức, có kỷ luật, có kỹ thuật, có kế hoạch, có năng suất, chất lượng cao. Những thói hư, tật xấu lười lao động, ăn bám, ăn cắp, làm láo báo cáo hay, vô tổ chức, vô kỷ luật là không phù hợp với đạo đức phẩm chất cách mạng. Bác Hồ rất ghét kẻ đạo đức giả, nói mà không làm, nói một đường làm một nẻo. Người cho rằng kẻ đó làm giảm đi lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

+ Kiệm, là tiết kiệm sức lao động, thời giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân từ cái nhỏ, đến cái lớn, không phô trương hình thức, xa xỉ, hoang phí. “Tiết kiệm là quốc sách”.

+ Liêm, là “luôn luôn tôn trọng của công, của dân”, “liêm khiết trong mọi hoàn cảnh” không tham địa vị, không tham tiền tài; không ham người tâng bốc mình. Lợi dụng chức vụ quyền hạn đục khoét của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc làm những việc trái đạo đức, trái pháp luật, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân là người không liêm.

+ Chính, là “người không tà, thẳng thắn, đứng đắn” đối với mình, đối với người và đối với việc. “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc sai thì dù nhỏ mấy cũng tránh”. Người còn dạy: “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính; đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ; đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành; đối với nhân dân phải tôn trọng lễ phép; đối với công việc phải tận tụy; đối với địch phải cương quyết khôn khéo”.

Về chí công vô tư, theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước cho thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người còn chỉ ra mối quan hệ: cần, kiệm, liêm chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư, và chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính. Người đặc biệt lưu ý: “Trước nhất là cán bộ cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Người cũng còn chỉ ra một luận điểm rất quan trọng, có giá trị vô cùng thiết thực: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm việc trước cho người ta bắt chước”. Luận điểm này thể hiện rõ một phương châm xây dựng đạo đức là nêu gương. Không gì thiết thực hơn, có sức cảm hóa và lôi cuốn hơn trong lĩnh vực đạo đức bằng việc nêu gương tốt. Quần chúng nhân dân đã và đang phàn nàn về một số cán bộ, đảng viên không thường xuyên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, không tự phê bình và phê bình để góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Ở một số Chi, Đảng bộ thực hiện việc tự phê bình và phê bình có lúc, có nơi chỉ làm qua loa, lấy lệ. Mấy ai “dũng cảm” tự bộc bạch những hành vi tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính của mình; còn việc phê bình góp ý cho nhau thì xuê xoa “dĩ hòa vi quý” chính vì vậy một số cán bộ, đảng viên đã tự đánh mất mình không còn “cái tâm” trong sáng của người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của dân. Đó chính là do lãng quên việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mà Bác Hồ đã dạy và do không thực thi nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình.

Nguyễn Hoàng Long

baobinhdinh.com.vn

Học tập lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm của Bác Hồ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm. Sự giản dị, khiêm tốn, tiết kiệm ấy mãi mãi là tấm g­ương sáng cho các thế hệ sau noi theo, nhất là trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí hiện nay.

Sau khi tiếp quản Thủ đô (10/10/1954), Trung ư­ơng bố trí Bác ở và làm việc trong ngôi nhà cao tầng, đồ sộ, vốn là nơi ở của viên toàn quyền Đông Dư­ơng. Bác không đồng ý và sau đó chọn một căn phòng nhỏ trư­ớc đây là nơi ở của ng­ười thợ điện trong Phủ toàn quyền, đồng thời bảo anh em phục vụ quét dọn ngôi nhà đồ sộ ấy làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi. Chỉ một việc đó thôi, đã có bao nhiêu điều đáng nói về vị Chủ tịch nư­ớc: Không ham lầu son gác tía, mà gần gũi với nhân dân lao động, dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em…

Thấy đôi dép cao su của Bác đã cũ, anh em phục vụ đề nghị cho thay đôi dép mới nhưng Bác chư­a đồng ý, vì thấy dép vẫn còn dùng đư­ợc. Có ngư­ời mạnh dạn th­ưa với Bác là một đôi dép chỉ có hai đồng rưỡi. Như­ng Bác giải thích: “Vấn đề không phải là hai đồng rưỡi mà phải xem là đã cần thay dép mới chư­a? Đôi dép của Bác còn dùng đ­ược thì chư­a nên thay!”. Nhiều lần đi thăm các địa ph­ương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Theo Bác, xuống thăm các địa ph­ương, cơ quan, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém, Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh nh­ư vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã đư­ợc báo trư­ớc là Bác có mang cơm theo, như­ng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi đ­ược mời Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Thiết nghĩ, việc học tập và làm theo t­ư tư­ởng, đạo đức Bác Hồ trong việc thực hành lối sống giản dị, khiêm tốn và tiết kiệm cần phải triển khai sâu rộng trong xã hội. Nhữ­ng lời dạy, nhữ­ng việc làm của Bác cần đư­ợc ôn lại, soi lại và làm cho nó bừng sáng trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Theo BCB

khcncaobang.gov.vn