Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ: Tấm gương sáng về tập luyện thể dục thể thao

Cứ đến ngày này (19-5) cả nước lại hướng về ngày sinh của Bác. Với riêng ngành Thể dục – Thể thao, ngoài tấm lòng yêu nước thương dân, Bác còn là tấm gương sáng về tập luyện thể dục thể thao. Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người, chúng ta thật xúc động và tự hào nhắc lại tấm gương rèn luyện thân thể bảo vệ sức khoẻ, tăng cường thể lực để phục vụ cách mạng và nhân dân.

Bác Hồ rèn luyện thân thể hàng ngày

Trong Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Hồ Chủ tịch được đăng tải trên tờ Cứu quốc (Tiền thân của Báo Đại Đoàn Kết) tháng 3-1946. Bác Hồ đã viết: “ Tự tôi ngày nào tôi cũng tập”. Hồ Chủ tịch là tấm gương trong sáng về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trí tuệ lỗi lạc, lối sống lành mạnh và tinh thần rèn luyện thân thể để giữ gìn sức khoẻ và nâng cao thể lực nhằm phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập, Hồ Chủ Tịch thay mặt Chính phủ mới ký sắc lệnh số 38 (vào ngày 27-03-1946) về việc thành lập Nha Thanh niên và Thể dục gồm Phòng thanh niên Trung ương và Phòng thể dục Trung ương. Bác am hiểu sâu sắc và có lòng tin mãnh liệt vào phương pháp bảo vệ sức khoẻ bằng tập luyện thể dục thể thao (TDTT). Chẳng hạn, ở nước Nga, trong mùa Đông, Bác Hồ vẫn đều đặn dậy sớm tập thể dục tay không, kết hợp với tập các loại tạ và dây thun… Chủ tịch Hồ Chí Minh có thói quen tránh ăn quá no, rèn luyện thân thể vào buổi sáng, không ngủ trưa, và buổi chiều Người đi làm vườn, cho đồng bào trong xóm… Các vị lão thành cách mạng còn kể lại, thời kỳ chuẩn bị Hội nghi Trung ương Đảng lần thứ 8 năm 1941, sáng nào, Cụ Hồ cũng đi đến các lán gọi mọi người cùng dậy tập thể dục bên dòng Khuổi Nậm, rồi dành một lúc tăng gia và đi tắm suối rồi sau đó mới bắt tay vào công việc nghiên cứu, viết tài liệu.

Lúc ở Liễu Châu (Trung Quốc) Bác Hồ vẫn tập luyện thể dục đều đặn, nhiều hôm Bác tập Thái Cực quyền và chạy bộ 4-5 km. Đồng chí Vũ Kỳ kể rằng: Bác Hồ có kiểu tập nhảy “dậm chân tại chỗ” thật lạ và thú vị. Số là “Phòng Chủ tịch nước”- nơi làm việc của Bác cách các lán khác thường từ dăm chục mét đến ba bốn trăm mét. Đường đi lên lán hay xuống suối, đến nhà ăn đều được Bác cho đặt những rào chắn cao từ 10 – 15cm, mức cao nhất trên 40cm. Mỗi khi đi qua, Bác và mọi người phải chụm chân nhảy không được lấy đà. Tập sức bật tại chỗ như vậy khá “trường kỳ” nhưng rõ ràng đạt hiệu quả. Cách rèn luyện “vượt chướng ngại vật” như thế, giúp Bác có thêm sức khoẻ dồi dào. Đồng chí Vũ Kỳ kể tiếp: “Hồi đó mỗi ngày Bác tập hành quân từ 5 đến 10km có hôm tăng lên tới 20km đường rừng, băng đèo, vượt sông. Bác cũng đeo ba lô nặng 25kg”. Là người khai sinh ra nền TDTT nước nhà, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chủ tịch luôn luôn quan tâm, dành thời gian theo dõi, chỉ đạo, chăm sóc phát triển ngành TDTT. Dù rất bận việc Nhà nước nhưng Bác luôn cố gắng có mặt tại các sự kiện thể thao trong nước. Đặc biệt, Bác luôn gặp mặt và động viên các VĐV thi đấu đạt thành tích tại các giải quốc tế (danh thủ Trần Oanh – bắn súng, Trần Hữu Chỉ – điền kinh, Vũ Thị Sen – bơi…). Hồ Chủ Tịch căn dặn: “Đánh giặc Mỹ gian khổ khó khăn như vậy, nhưng quân và dân ta có quyết tâm đánh thắng. Các cháu phải quyết tâm đạt thành tích cao hơn nữa. Muốn vậy phải đoàn kết, giúp đỡ nhau trong tập luyện và thi đấu, phải cố gắng thật nhiều để xứng đáng là những VĐV của dân tộc anh hùng”. Nhớ lời Bác dặn, ngành TDTT và giới TDTT cả nước càng nhớ Bác, phấn đấu làm theo lời Bác Hồ dạy và noi theo tấm gương đạo đức của Người.

AN CHI (tổng hợp)
daidoanket.vn

Dân tộc mang họ Bác và những kỷ vật có một không hai

Có lẽ, trên thế giới, ít có một dân tộc nào vì quý trọng một vị lãnh tụ anh minh của dân tộc mình mà tự nguyện lấy họ của lãnh tụ đó làm họ cho cả dân tộc mình như đồng bào Tà Ôi, Pa Cô hay Pahy ở huyện A Lưới (tỉnh Thừa Thiên – Huế) của Việt Nam. Không những thế, đồng bào nơi đây còn lưu giữ những kỷ vật thiêng liêng, có một không hai về Người.

Tấm chân dung in trên vải sau ngày Bác mất
luôn hiện hữu ở nơi trang trọng trong các nhà dân

30 năm trường tồn một di vật

Đi trong các xã của huyện A Lưới chúng ta không khỏi rưng rưng xúc động về các hiện vật có thể coi là tầng tầng, lớp lớp về Bác Hồ mà các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đang lưu giữ. Những kỷ vật về hình ảnh người lãnh tụ kính yêu, bậc danh nhân kỳ tài của nước Việt cũng như của thế giới được đồng bào lưu giữ “ít tuổi” nhất cũng đã được trên chục năm, “nhiều tuổi” nhất cũng đã được gần 40 năm rồi. Những kỷ vật đó thể hiện sự kính trọng lớn lao với Bác mà cuộc đời giản dị, hết lòng vì dân, vì nước đã như một mạch nguồn, thấm chẩy trong từng tấc đất, trong mỗi tấm lòng người dân.

Lần đầu tiên đặt chân lên mảnh đất này, chúng tôi thật sự bất ngờ vì được đối diện với một kho kỷ vật về Bác mà đồng bào đã cất công lưu giữ, thờ tụng đến lớn lao như vậy. Và thú thực chúng tôi rất khó lựa chọn để giới thiệu về các kỷ vật đó.

Khi chúng tôi đến nhà ông Lê Xuân Rắc, xã Hồng Quảng, huyện A Lưới để được xem kỷ vật về Bác chúng tôi phải chờ đến tận 2 ngày vì ông Rắc đang ở trên ngàn. Ngoài ông Rắc, những người trong gia đình không ai được tự ý lấy xem những kỷ vật mà ông giữ.

Chờ đợi đến khi ông Rắc về. Đó là một người nông dân vậm chắc và trực tính. Khi chúng tôi đề xuất ý định của mình là muốn xem di vật của Bác mà ông gìn giữ đã gần 40 năm nay, không nói không rằng ông Rắc lặng lẽ ra con suối đầu bản để tắm. Lúc trở lại nhà ông mới cho biết là ông không muốn để người còn bụi bặm khi động đến và nói về kỷ vật ấy.

Nói rồi ông đặt thang trèo lên nơi bàn thờ của gia đình, lật tấm vải đỏ phủ kín, ông cẩn trọng mang xuống một bức phù điêu bằng đá tạc nổi rõ chân dung của Bác. Ông bảo, ông đã được cơ quan, bà con lối xóm ủy quyền để gìn giữ bức phù điêu tạc chân dung Bác đã gần 40 năm nay. Ông hồi tưởng, bức phù điêu ra đời và được đưa về nhà ông từ năm 1971. Năm ấy, toàn dân tộc ta đang dốc sức, dốc lực cho chiến trường miền Nam để thực hiện thống nhất Nam Bắc một nhà theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm này, có một đoàn Quân bưu miền Bắc hành quân vào chi viện cho miền Nam đã qua làng ông. Trong thời gian lưu trú, biết dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, Pahy ở đây rất yêu kính Bác Hồ nên một người trong đoàn có hoa tay đã lấy đá ở Hồng Quảng tạc một bức phù điêu về Bác để kỷ niệm bà con. Sau đó, bức phù điêu này đã được Quân bưu A Lưới gìn giữ. Sau vì dân hay tìm đến xem nên Quân bưu A Lưới đã có ý định đưa về cho dân quản lý.

Quân bưu và lãnh đạo ở đây thống nhất giao ông Rắc là người được dân quý mến, có đạo đức vinh hạnh nhận nhiệm vụ này. Sau lễ tiếp nhận, có xôi đồ, gà luộc, hương hoa như một ngày lễ trọng đại, ông Rắc đã kính cẩn cùng gia đình, làng xóm rước Bác về cùng gia đình. Ông đã chọn nơi tôn nghiêm nhất, ấy là bàn thờ tổ tiên mình để đặt bức phù điêu của Bác. Ông và gia đình cũng như bà con đã thờ tự, nhang khói cho Bác được gần 40 năm nay.

Người sống mãi trong trái tim dân

Thấu hiểu được những tình cảm mà Bác đã dành cho toàn dân Việt Nam cũng như dân tộc mình, sau khi Bác mất, không ai bảo ai, đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy đã đồng loạt tự nguyện lấy họ của Bác để làm họ cho dân tộc, dòng họ và cá nhân mình. Những người được mang họ Hồ ở đây luôn tâm niệm một lòng học và phấn đấu theo lời Bác dạy. Từ hành động và tâm nguyện này nên nhiều người trong các dân tộc Tà Ôi, Pa Cô, hay Pahy đã trở thành các cá nhân xuất sắc và điển hình. Tiêu biểu nhất là Anh hùng Kan Lịch và Anh hùng Hồ Đức Vai. Đây là hai đại biểu, đã được Bác tiếp ở Phủ Chủ tịch.

Trong các kỷ vật hiện hữu nhiều nhất ở nhà đồng bào các dân tộc như Tà Ôi, Pa Cô, Pahy là chân dung Bác được in trên vải, được treo trang trọng nhất trong gian nhà lớn của các gia đình. Sau khi Bác mất, với tấm lòng tiếc thương vô hạn, theo đề xuất của người dân, lãnh đạo Huyện đã tặng mỗi gia đình một chân dung như vậy để đồng bào đem về nhà treo cho đỡ nhớ Bác. Theo ông Hồ Rơi thì đồng bào treo ảnh Bác, ngoài việc tưởng nhớ còn là nơi để dạy dỗ cháu con. Cha mẹ đã kể cho con cháu những mẩu chuyện về Bác để khuyên dạy cháu con.

Trong lần vào các gia đình ở đây chúng tôi rất cảm động trước “Hũ muối Bác Hồ”. Hũ muối này hình thành từ thời đất nước ta còn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp. Khi đó bắt đồng bào Tà Ôi, Pa Cô, Pahy phải “đói muối”. Bác đã gửi muối vào cho đồng bào. Đồng bào giữ  muối trong các hũ và để nhớ ơn Người, đồng bào gọi đó là “Hũ muối Bác Hồ”. Ngày nay, đất nước ta thống nhất, phát triển và hội nhập, muối trở thành gia vị thông thường nhưng đồng bào các dân tộc nơi đây vẫn giữ “Hũ muối Bác Hồ”. Theo ông Hồ Phờn, thôn A Vin, xã Hồng Thái thì “Hũ muối Bác Hồ” không bao giờ vơi trong gia đình ông. Lúc nào nhà có việc trọng như cúng tế, tết nhất hay giỗ chạp ông và gia đình luôn lấy muối ở “Hũ muối Bác Hồ” để dùng. Ngoài sự thiêng liêng, ông và gia đình đều tâm niệm: Dùng muối ấy để ăn mà nhớ về công lao trời biển của Bác đối với các dân tộc trong đó có người Tà Ôi, Pa Cô và Pahy.

Đơn Thương
daidoanket.vn

Nhà văn Mỹ Lady Borton: Vì dân là Tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mấy chục năm nay, Lady Borton  đã trở thành quen thuộc trong giới nghiên cứu quốc tế về Việt Nam và cũng khá thân quen với nhiều người Việt Nam. Đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, bà dành nhiều năm tháng sống cùng bà con nông dân ở các làng quê Việt Nam, đi đi về về giữa Mỹ và Việt Nam không biết bao nhiêu lần với tư cách là một nhà báo, nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu và hoạt động từ thiện.

Đã được đọc Tiếp sau nỗi buồn – tác phẩm viết về cuộc sống nông thôn Việt Nam thời kỳ hậu chiến của Lady Borton, nghe nhiều chuyện kể về bà từ lâu, gặp bà, tôi không ngờ bà giản dị như vậy. Trở lại Việt Nam lần này, bà là một trong những đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” với tư cách của một nhà khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từng viết sách “Hồ Chí Minh – một hành trình”, đã từng dịch tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” sang tiếng Anh và nhiều tác phẩm khác về Việt Nam, về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

Bác Hồ với các Anh hùng, dũng sĩ miền Nam

Thưa bà Lady Borton, nhiều người Việt Nam muốn biết vì sao bà  gắn bó với Việt Nam và bỏ nhiều công sức để nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy?

Lần đầu tiên tôi nghe nói đến tên Hồ Chí Minh là vào năm 1954, khi đang học lớp 6 tại một ngôi trường ở ngoại ô thủ đô Washington D.C. Bấy giờ người ta bàn tán xôn xao về thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Thầy giáo chỉ định nhóm của tôi viết một bài để đăng trên một tờ báo dành cho học sinh khắp nước Mỹ

Tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1969, hoạt động thiện nguyện nhân đạo tại Quảng Ngãi. Tại vùng chiến sự ác liệt miền Trung đó tôi đã giúp đỡ nạn nhân chiến tranh ở cả hai phía. Và vào tháng chín năm đó, tôi ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam tuy ở hai chiến tuyến nhưng đều tỏ lòng tiếc thương khi được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Thú thật bản thân tôi lúc ấy không biết nhiều về Hồ Chí Minh và cũng không hiểu nổi hiện tượng lạ lùng này.

Năm 1975, lần đầu tiên tôi đến Hà Nội và từ đó, tôi có rất nhiều người bạn Việt Nam; trở thành một người bạn của Việt Nam từ khi 2 nước Việt Nam và Mỹ còn chưa bình thường hoá quan hệ. Vậy nên khi mà 2 nước đã bình thường hoá thì tôi càng là bạn bè thân thiết của những người bạn Việt Nam của tôi. Tôi đến Việt Nam như trở lại nhà của mình.

Bà Lady Borton

– Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thậm chí ngay tại Mỹ cũng đã có nhiều tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vậy vì sao bà vẫn viết tác phẩm “Hồ Chí Minh – một hành trình”? Tác phẩm này có gì mới và khác so với các tác phẩm xuất bản trước đó về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Khi cuốn sách này được xuất bản (bằng tiếng Anh – nv) tôi đã viết trong lời tựa của cuốn sách là: “Một cuốn sách mà đáng ra bản thân tôi đã phải được đọc vào thời còn rất trẻ, nhiều năm về trước”. Tôi có những người bạn rất thân thiết ở Việt Nam và họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện về Bác Hồ. Nhưng khi tôi đọc những cuốn sách xuất bản ở Mỹ thì tôi ngạc nhiên vì có nhiều chi tiết sai quá. Ở đây không bàn đến chuyện quan điểm mà chỉ riêng số liệu, thời điểm, tính xác thực của thông tin đã sai rồi. Vì thế, tôi bỏ rất nhiều công đi khắp thế giới, thu thập các tư liệu về Hồ Chí Minh. Nhất là gần đây khi hồ sơ lưu trữ quốc tế về Việt Nam được công bố tại nhiều nước thì tôi được tiếp cận với nhiều dữ liệu mới. Tôi cũng đến tận những nơi Hồ Chí Minh đã đặt chân đến, đã sống và hoạt động… để tìm hiểu. Đó là lý do tôi viết Hồ Chí Minh – Một hành trình, tác phẩm giản dị nhưng chính xác. Tôi muốn giải mã và trình bày thật đơn giản hiện tượng Hồ Chí Minh cho người đọc phương Tây.

Cuốn sách không dừng lại ở thời điểm Hồ Chí Minh mất năm 1969 mà kết thúc với ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Cuộc hành trình của Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ 20.

Là người nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, có trong tay những tư liệu quý, tình cảm của cá nhân bà với danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh?
Tôi cho rằng nếu không có Hồ Chí Minh thì Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam chắc không thành công. Tôi vô cùng khâm phục Hồ Chí Minh. Đó là một lãnh tụ tài giỏi. Trên thế giới có nhiều người giỏi, nhưng thường mỗi người chỉ giỏi một lĩnh vực còn Hồ Chí Minh giỏi cả về thơ ca, ngoại giao, quân sự… Lãnh tụ giỏi thì có nhiều trên thế giới, nhưng Hồ Chí Minh khác người khác ở chỗ biết tập hợp những người giỏi quanh mình. Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam lúc ấy gồm toàn những người giỏi được mời tham gia không phân biệt thành phần, giai cấp… Hơn nữa, ảnh hưởng của Hồ Chí Minh không chỉ ở Việt Nam mà còn phải xét trên bình diện đóng góp với phong trào Cộng sản thế giới.

Chắc bà cũng biết là ở Việt Nam đang có cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đứng ở góc độ một nhà nghiên cứu, theo bà đạo đức Hồ Chí Minh mà mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phải học tập và làm theo nhất hiện nay là gì?

Tư tưởng Vì dân là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh. Không chỉ ở Việt Nam mà cả một số nước khác trên thế giới, tôi thấy nghiêm trọng nhất bây giờ là nạn tham nhũng. Đúng là nạn tham nhũng thì ở xã hội nào cũng có, ở quốc gia nào cũng tồn tại nhưng nó có mức độ thôi. Phải hạn chế ở mức thấp thôi. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thì phải chú trọng nhất vào vấn đề tham nhũng. Hồ Chí Minh đã phấn đấu suốt đời vì dân tộc, vì nhân dân, các thế hệ người Việt Nam phải học tập và làm theo tấm gương đó.

Trân trọng cảm ơn bà!
Cẩm Thúy (thực hiện)
daidoanket.vn

Tháng năm hành trình theo chân Bác

(GD&TĐ) – Những ngày đầu tháng 5 lịch sử, trong không khí chuẩn bị lễ kỷ niệm 65 năm Bác Hồ và Bộ Chính trị về Định Hóa lập thủ đô kháng chiến, chúng tôi làm một cuộc hành trình về thăm những địa danh và những di tích nơi xưa kia, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ chọn là nơi dừng chân để chuẩn bị cho chiến lược lâu dài. Theo bước chân của Người, chúng tôi được trở về với không khí của những tháng năm gian khổ mà nghĩa tình nơi Việt Bắc thiêng liêng.

Nơi thắp lửa cuộc Tổng khởi nghĩa

Hướng về vùng núi rừng Việt Bắc, nơi xưa kia Bác và Bộ Chính trị chọn là “Thủ đô kháng chiến”, chúng tôi dừng chân ở Chợ Chu Định Hóa, cách thành phố Thái Nguyên 50 km.

Cây đa cùng biển di tích trước cửa chợ Chu

Cách thị trấn Chợ Chu khoảng 2km, chợ Chu nằm giữa ngã ba xóm Đồng Chùa, cạnh hai cây đa tỏa rộng bóng mát. Theo người già ở đây, chợ Chu được thực dân Pháp xây dựng từ trong vòng 10 năm từ 1915 đến 1925, khi chúng tiến hành xâm lược Việt Nam và chọn Định Hóa là phên giậu tiến hành những cuộc càn quét và xây dựng nhà tù. Chợ Chu được xây dọc thành nhiều gian với nhiều cột to, xù xì, chạy dọc theo một khu đất rộng. Chợ Chu không đơn thuần là một khu chợ để mua bán và sinh hoạt cộng đồng mà còn là nơi diễn ra những cuộc đàn áp đẫm máu của thực dân Pháp với những cộng sản yêu nước thời bấy giờ.

Theo cuốn Lịch sử Định Hóa của tác giả Lê Nhâm, người dày công viết lịch sử cách mạng của quê hương, chợ Chu là địa điểm đặc biệt quan trọng, là nơi khởi đầu cho cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945. Vẫn còn đây, trước cửa chợ Chu là hai cây đa lịch sử ghi dấu ấn ngày 28 tháng 3 năm 1946. Tại đây, đúng ngày này, đã diễn ra cuộc mít tinh lịch sử với hàng ngàn quần chúng tham gia. Trong cuộc mít tinh này, Việt Minh huyện Định Hóa đã tuyên bố xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai. Từ đây, ngọn lửa cuộc Cách mạng Tháng Tám bùng lên mạnh mẽ, Mặt trận Việt Minh tiến về Hà Nội cướp chính quyền.

Ngày nay, chợ Chu của thị trấn được xây dựng khang trang hơn ở một khu mới, song vẫn còn đó chợ Chu thời Pháp cùng hai cây đa tọa lạc ngay giữa ngã ba đường. Tuy có chợ mới nhưng người dân khu vực này hàng ngày vẫn lấy chợ Chu cũ là nơi họp chợ, bày bán hàng hóa.

Cùng hướng đường đến chợ Chu, chúng tôi đến khu di tích nhà tù Chợ Chu trên đỉnh núi cao cách thị trấn hơn 1 km.

Di tích nhà tù Chợ Chu nằm trên đồi cao ở xóm Vườn Rau. Theo sử sách,  năm 1889 thực dân Pháp chiếm đóng đã xây dựng đồn bốt. Năm 1894 chúng đặt cơ quan đại lý cai trị vùng này. Đến năm 1916 tiến hành xây dựng nhà tù.

Nhà tù Chợ Chu ban đầu được làm bằng tre, gỗ, đơn sơ, chủ yếu giam tù thường phạm. Nhà tù Chợ Chu giam giữ các chiến sỹ yêu nước tham gia cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên (1917) và khởi nghĩa Yên Bái(1930). Năm 1940 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, bị thực dân Pháp đàn áp dã man, nhiều chiến sỹ cách mạng và thân nhân bị bắt và đem về giam giữ tại nhà tù Chợ Chu. Đến năm 1942 nhà tù được xây dựng lại kiên cố, bằng gạch ngói, xi măng, có thể giam giữ 200 người một lúc…

Đài tưởng niệm liệt sỹ Chu Hóa

Cuối năm 1944 tình hình cách mạng nước ta phát triển mau lẹ, Trung ương Đảng chủ trương lấy cán bộ ở các nhà tù ra để xây dựng lực lượng, chi bộ nhà tù Chợ Chu đã nhất trí cử 12 đồng chí vượt ngục. Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Xứ uỷ và tổ chức khôn khéo, bí mật của các đồng chí trong tù, ngày 2/10/1944 các đồng chí đã vượt ngục thành công xây dựng được một vùng căn cứ địa hết sức quan trọng ở huyện Định Hoá, Đại Từ (Thái nguyên) và Sơn Dương (Tuyên Quang). Thành lập cơ quan chỉ huy chiến khu Nguyễn Huệ do đồng chí Song Hào làm bí thư, xây dựng căn cứ đón Bác Hồ và Trung ương Đảng về Tân Trào lãnh đạo toàn dân ta khởi nghĩa giành chính quyền 8/1945 thành công.

Di tích nhà tù chợ Chu, biểu tượng sinh động của người chiến sỹ cách mạng nguyện hiến dâng cuộc sống, chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc. Trong nhà tù Chợ Chu nhiều đồng chí đã nêu cao tấm gương sáng về tinh thần học tập, trưởng thành qua thực tiễn đấu tranh bất khuất, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đường về Chu Hóa

Cái nắng oi ả cùng tiếng ve râm ran đầu tháng năm trên con đường trải nhựa phong quang đưa chúng tôi về Chu Hóa, một xã vùng ven thành phố Việt Trì (Phú Thọ). Qua tấm biển chỉ dẫn và chỉ đường của người dân, chúng tôi tới được khu nhà tưởng niệm Bác Hồ ở Chu Hóa. Được biết, Chu Hóa là nơi trong những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Bác và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng đã về làm việc trong 11 ngày trên đường  lên Việt Bắc chỉ đạo kháng chiến.

Học sinh trường THCS Chu Hóa chăm sóc Khu đền thờ lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu Hóa

Tại đây, chúng tôi được tiếp xúc với ông Nguyễn Kim Đức, người dày công tìm hiểu và sưu tầm những tư liệu về Bác Hồ trong những ngày ở Chu Hóa. Đồng thời, qua cuốn “Bác Hồ với Phú Thọ Phú Thọ làm theo lời Bác” đã đưa chúng tôi trở về không khí của những ngày đầu khi Bác Hồ dừng chân nơi đây. Đầu tháng 12-1946, đồng chí Trần Đăng Ninh, phụ trách đội công tác TƯ về Phú Thọ trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Đức Thắng, Bí thư Tỉnh ủy chuẩn bị sẵn một số địa điểm để Bác và cơ quan Trung ương đến ở và làm việc khi cần thiết. Nơi Bác ở phải đạt yêu cầu là: “Có phong trào quần chúng tốt, đường ra lối vào thuận tiện nhưng kín đáo, bảo đảm được bí mật”.

Thi hành chỉ thị cấp trên, Tỉnh ủy Phú Thọ đã khẩn trương chuẩn bị. Mọi địa điểm đều được đồng chí Trần Đăng Ninh và các đồng chí lãnh đạo tỉnh Phú Thọ xem xét cẩn thận và quyết định chọn 3 xã ở 3 huyện là xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông; xã Chu Hóa, huyện Lâm Thao (nay về Việt Trì) và xã Yên Kiện, huyện Đoan Hùng. Cả 3 xã này đều là nơi có phong trào cách mạng sớm, chính quyền và các đoàn thể quần chúng vững, lại nằm gần quốc lộ, thuận tiện giao thông nhưng lại kín đáo, đảm bảo được bí mật. Để đảm bảo tuyệt đối an toàn và yên tĩnh cho Bác làm việc, theo yêu cầu của đội công tác, chủ nhà các gia đình Bác ở đều vui vẻ nhường hẳn nhà cho cơ quan Trung ương, chuyển gia đình sang nhà khác ăn ở tạm một thời gian.

Khu nhà trưng bày trong khu di tích Chu HóaKhu nhà trưng bày trong khu di tích Chu Hóa

Cũng trong thời gian dừng chân ở Chu Hóa, Bác đã ký và soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng như: Ký 8 sắc lệnh liên quan đến tổ chức, bộ máy, bổ nhiệm cán bộ, đảm bảo quyền tự do của nhân dân; Điện chúc mừng Hội nghị liên Á; viết thư trả lời các nhà báo Pháp về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Thực dân Pháp tại Việt Nam; gửi thư cho Báo Vệ quốc quân nói về 12 điều răn với chiến sỹ Vệ quốc quân và sau này trở thành 12 điều kỷ luật của Quân đội; hoàn thành tác phẩm “Đời sống mới”; viết thư cho đồng bào miền Nam sau đúng 100 ngày toàn quốc kháng chiến; Bác cũng viết thư gửi Thủ tướng Ấn Độ Nêru.. trong cuốn tài liệu Lịch sử Đảng bộ xã Chu Hóa thì những ngày Bác ở đây, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước như: Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng… thường xuyên đến làm việc và xin chỉ thị của Bác. Do phải giữ bí mật nên những ngày ở Chu Hóa, Bác không trực tiếp gặp cán bộ, đảng viên và nhân dân xã, nhưng Bác thường xuyên nghe các đồng chí phục vụ báo cáo về tình hình mọi mặt của địa phương, đồng thời có những chỉ thị giúp đỡ nhân dân.

Ngày nay, Chu Hóa đã đổi thay nhiều, cuộc sống của người dân nơi đây ngày càng đi lên. Để tưởng nhớ và ghi dấu những ngày tháng Bác về Chu Hóa, Đảng bộ và nhân dân nơi đây đã xây dựng khu nhà lưu niệm Bác ngay trong căn nhà Bác ở năm xưa. Hiện trong nhà lưu niệm của Bác, nhân dân vẫn giữ được chiếc mâm gỗ, bộ trường kỷ bằng tre cùng nhiều văn bản, bản sao của Bác ở Chu Hóa. Ngày ngày, các em học sinh trường THCS, Tiểu học Chu Hóa thay nhau đến chăm sóc, quét dọn và trồng hoa trong khuôn viên nhà lưu niệm Bác. Đồng thời, nơi đây đã trở thành điểm đến tâm linh của du khách mọi nơi trong hành trình về nguồn.

Như Bác vẫn còn đây 

Dời nhà tù Chợ Chu, chúng tôi đến thăm chùa Hang phía bên kia sườn núi đá cao sừng sững. Ngôi chùa được “thiên tạo” trong lòng đá, cách thị trấn Chợ Chu 2km.

Ngôi đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu HóaNgôi đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chu Hóa

Theo sư thầy Thích Thanh Thắng, nhà sư trụ trì nhiều năm ở chùa này thì ngôi chùa có từ lâu rồi, sư thầy, người dân nơi đây không biết rõ ngôi chùa có từ khi nào. Họ chỉ biết, khi lớn lên đã thấy có một ngôi chùa trên vách núi đá, trong hang sâu.

Lần theo những bậc đá uốn lượn dẫn lối lên cổng chùa, chúng tôi đặt chân lên chùa Hang. Đây là ngôi chùa có cấu trúc đặc biệt, không giống với cấu trúc của những ngôi chùa thông thường. Chùa được “thiên tạo” trong hang đá. Bước vào cửa chùa là một vòng tròn cửa hang khá rộng và thoáng mát, bên trong là một hang sâu với vòm mái cao, phẳng được “sắp xếp” bởi nhiều hình khối khác nhau của đá. Không gian chùa có hai gian. Gian trên gần cửa hang và gian dưới thấp hơn gần cửa sau của chùa. Phía bên trong nữa là hang sâu chưa được khám phá.

Bước chân vào không gian chùa Hang, du khách được sống trong không khí yên tĩnh, thanh tịnh, trầm mặc và linh thiêng chốn cửa Thiền. Cái độc đáo ở ngôi chùa này có lẽ không gian có sự chan hòa giữa tuyệt phẩm của thiên nhiên với không khí tâm linh và thiện tâm từ bi của chúng sinh. Chính vì vậy mà sư thầy Thích Thanh Thắng đã khẳng định: “ Đến với chùa Hang là đến với chốn bình yên nơi tiên cảnh, thoát hẳn với bụi trần”.

Thế hệ trẻ Chu Hóa hôm nayThế hệ trẻ Chu Hóa hôm nay

Trong những năm kháng chiến chống Thực dân Pháp, những ngày đầu khi cách mạng còn trong “trứng nước” vô cùng khó khăn, gian khổ, chùa Hang còn là một căn cứ cách mạng quan trọng. Trong tình thế giặc Pháp truy lùng, càn quét lực lượng cách mạng, nhất là cơ quan đầu não của Đảng ta, chùa Hang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc bí mật, luận bàn những kế sách quan trọng chuẩn bị cho chiến dịch Thu Đông năm 1950.

Vì vậy, ngày nay, cùng với ban thờ Phật, chùa Hang còn có ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thiêng liêng và tôn kính. Điều đặc biệt, ban thờ Bác Hồ được đặt ngang với ban thờ Phật trong không gian chùa. Khi được hỏi về điều này, sư thầy Thích Thanh Thắng nhấn mạnh: “ Trong lòng dân, Bác Hồ là một vị Phật nhân từ, bác ái, nên đặt ban thờ như vậy là một niềm tôn kính vô cùng”. Đến thăm chùa Hang, không khí linh thiêng hòa cùng không khí cách mạng năm xưa làm cho lòng người không khỏi dưng dưng cảm xúc.

Hành trình của chúng tôi chỉ dừng chân ở ba khu di tích, còn nhiều địa điểm khác trong cuộc hành trình của Bác, song, Chợ Chu, Chu Hóa và chùa Hang đã có thể làm cho chúng tôi thêm hiểu về những ngày tháng cách mạng gian khổ mà Bác và Bộ Chính trị phải trải qua. Mỗi địa điểm như một nét son lịch sử, như một “Việt Bắc” để mỗi người dân trông về để thêm yêu lãnh tụ và bền sâu ý chí trong cuộc sống hôm nay.

Nguyễn Thế Lượng
gdtd.vn

Bác Hồ chống tham nhũng, tha hóa đạo đức cách mạng

Bác Hồ với người dân Pác Bó xã Trường Hà,
huyện Hà Quảng, Cao Bằng
Ảnh: TL

Những năm kháng chiến, nền kinh tế ta theo chế độ bao cấp. Từ đó, nảy sinh hai giá là một sơ hở làm cho một khối lượng sản phẩm, hàng hóa rất lớn của Nhà nước lọt vào tay bọn đầu cơ tích trữ lũng đoạn nền kinh tế, tha hóa cán bộ, nhân viên Nhà nước. Chênh lệch giá được triệt để khai thác bằng mọi cách, có đến 50% hàng đối lưu với nông dân bị một số cơ quan ăn chặn, cả nông sản lẫn vật tư hàng hóa đều bị thất thoát khá nhiều mà dân gian vẫn nói “hàng công nghiệp ăn từ trên ăn xuống, hàng nông sản ăn từ dưới ăn lên”, Nhà nước và nông dân đều chịu thiệt thòi, chỉ béo bở tham nhũng. Từng có lúc đưa một tỷ “Rúp” (tiền Liên Xô cũ) vật tư ra, ta chỉ thu về 20 tỷ đồng Việt Nam (VN), nếu tính theo tỷ giá hối đoái 100 đồng VN đổi lấy một “rúp” thì ta đã mất 80 tỷ đồng VN.

Chống ngoại xâm và chống nội xâm rõ ràng đều hết sức bức thiết, không thể để bọn nội xâm và bọn buôn gian, bán lận hoành hành, phá hoại hậu phương lớn đang hàng ngày chi viện người và của cho miền Nam. Ngày 24-7-1962 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước về Cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô lãng phí, quan liêu. Người nêu rõ ý nghĩa, nội dung, phương hướng của cuộc vận động, phân tích những biểu hiện, nguyên nhân và tác hại của các bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu trong cán bộ hiện nay, đồng thời phê phán những thái độ không đúng. Người nhấn mạnh: “Cuộc vận động này là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu. Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – tập 8 – trang 268).

Cuộc vận động mang tên “Ba xây, Ba chống”. Ba xây gồm có: Nâng cao ý thức trách nhiệm – Tăng cường quản lý kinh tế tài chính – Cải tiến kỹ thuật. Ba chống gồm có: Chống tham ô – Chống lãng phí – Chống quan liêu.

Ngày 26-12-1963, Hội đồng Chính phủ họp phiên cuối năm Hồ Chủ tịch đến thăm và chúc Tết, Người nhắc nhở Chính phủ phải làm tốt cuộc vận động “Ba xây – Ba chống”. Người nói: “Hiện nay chúng ta làm “Ba xây, ba chống” còn kém. Anh chị em công nhân và nhân viên ở cơ sở rất hăng hái nhưng từ cấp giám đốc lên đến bộ trưởng, thứ trưởng thì còn nhiều người chưa chuyển cho nên có chỗ cuộc vận động bị tắc lại. Bây giờ phải làm “Ba xây, ba chống” cả hai chiều, từ dưới lên, từ trên xuống. Bản thân các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng, các cán bộ lãnh đạo phải “Ba xây, ba chống”. Hơn ai hết người lãnh đạo phải nhận rõ cuộc vận động này là rất quan trọng để làm cho tốt” (Biên bản Hội đồng Chính phủ lưu lại tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Ngày 31-1-1964, Bộ Chính trị họp bàn về công tác lãnh đạo cuộc vận động “Ba xây, ba chống”. Hồ Chủ tịch đã đến dự, Người đề cập vấn đề không bình thường là cán bộ lãnh đạo lại hưởng ứng “Ba xây, ba chống” không tích cực bằng đông đảo cán bộ, nhân viên. Người nêu câu hỏi:
Tại sao dưới động, trên không động?
Nhỏ động, to không động?

Người đề nghị phải làm cho cấp bộ trưởng, thứ trưởng thông suốt tư tưởng. Bởi lãnh đạo còn có người cho “Ba xây, Ba chống” chỉ cấp dưới mới học; lại có lãnh đạo để xảy ra tham nhũng, lãng phí tìm mọi cách né tránh. Còn ở cơ sở phải kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức chi bộ đảng, công đoàn, đoàn thanh niên để chấn chỉnh cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” khỏi sộc sệch. Khi biết chưa nơi nào, phát động “Ba xây, Ba chống” chưa nơi nào có dân tham gia, Người phê bình nghiêm khắc những cán bộ sợ quần chúng, không dám phát động, phong trào. Người yêu cầu phát hành loại sách nhỏ, bài ngắn để tuyên truyền giải thích, lôi cuốn nhân dân tham gia vào cuộc vận động. Hội nghị đánh giá cuộc vận động “Ba xây, Ba chống” đã đạt nhiều tiến bộ, Hồ Chủ tịch không đồng tình với đánh giá này, Người nhận xét: “Mới chỉ là tiến bộ bước đầu”. (Biên bản hội nghị Bộ Chính trị lưu tại Cục lưu trữ văn phòng T.Ư .Đảng, trích trong Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử).

Đọc một số tài liệu lưu trữ ghi một số cuộc họp của Bộ Chính trị, của Hội đồng Chính phủ, thấy Hồ Chủ tịch đã phải dành một phần thời gian và sức lực vào cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm. Cán bộ lãnh đạo còn một số thiếu gương mẫu, Người biết. Có lãnh đạo nhà đã đủ ở, gian trong gian ngoài lại đòi có nhà rộng hơn, đã có xe công lại đòi xe đẹp hơn; có người đi nước ngoài dùng tiền Nhà nước mua hàng xa xỉ, vợ con trưng diện, thậm chí còn mang hàng ngoại về để vợ con buôn bán. Mất đoàn kết nội bộ xảy ra ở một số nơi, nhất là khi các tỉnh sát nhập, mất đoàn kết càng kéo dài, lộ liễu, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước.

Còn giặc Mỹ trên đất nước ta, nguy cơ mất nước đã đành, nhưng nhìn xa hơn khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Hồ Chủ tịch vẫn chưa yên tâm. Đảng viên kém phẩm chất chỉ là số ít, nhưng phần nhiều trong số đó lại có chức có quyền, chỉ nghĩ đến “vinh thân phì gia” trong khi dân đang ra sức thực hiện khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; đã có một số gia đình hai, ba người vào chiến trường miền Nam… Không tăng cường giáo dục, nâng cao phẩm chất số cán bộ kém, chẳng khác gì nuôi dưỡng trong lòng đất nước mầm mống của mối họa lớn dễ phát sinh. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh, mấy lần đại thắng quét sạch giặc ngoại xâm (đời Trần và đời Lê) chỉ còn ta với ta nhưng rồi lại mất nước vì mọi quyền hành lúc đó đã vào tay bọn gian thần tham nhũng cùng vua quan chỉ biết hưởng lạc, đè đầu cưỡi cổ dân.

Hồ Chủ tịch đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 12 – trang 557).

Cách mạng tháng 10 Nga thành công, nghe tin một số đảng viên có chức có quyền kiêu căng, xa dân, Lê Nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt Đảng cộng sản Nga. Chỉ có những đảng viên của Đảng mới có thể làm việc đó”.

Thắng lợi cuối cùng càng đến gần, Hồ Chủ tịch càng suy nghĩ nhiều đến đội ngũ đảng viên, cán bộ sẽ lãnh đạo đất nước khi đã độc lập và thống nhất, sạch bóng giặc ngoại xâm. Ngày 3-2-1969, nhân Kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (9 tháng trước khi Người qua đời) Báo Nhân dân đã đăng bài báo quan trọng của Hồ Chủ tịch, đầu đề: Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Bài báo đề cao đông đảo đảng viên, cán bộ đã rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác, nhân dân ta rất tự hào có những người con như thế. Bài báo phê phán một số ít đảng viên, cán bộ đạo đức, phẩm chất thấp kém, lúc nào cũng chỉ muốn “mọi người vì mình”.

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, thiếu kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng của nhân dân”.

Đọc bài báo này nhiều người biết cán bộ lãnh đạo vẫn còn những người bị tiêm nhiễm bao thói hư tật xấu. Chúng ta càng hiểu sâu xa tại sao trong Di Chúc, Hồ Chủ tịch đã viết: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, theo ý tôi việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”.

Thái Duy
daidoanket.vn

Viên kẹo của Bác Hồ

– Gương mặt Bác thoáng buồn, Bác nói với tôi mà như nói với chính mình: “Còn hàng triệu cháu như các cháu, giờ này chưa có được một viên kẹo nào đâu…”

TIN BÀI KHÁC

Những mẩu chuyện nho nhỏ về Bác Hồ đã được nhiều người Việt Nam thuộc nằm lòng, trong đó có những câu chuyện Bác tặng quà cho trẻ em Việt Nam cũng như trẻ em quốc tế: “Quả táo của Bác Hồ“, hay “Ai ngoan sẽ được thưởng“.

Là một trí thức cấp tiến, một người say mê lao động, một chiến sĩ cách mạng, một lãnh tụ giải phóng dân tộc, một nhà báo, nhà thơ, họa sĩ…, con người rộng lớn và sâu thẳm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được nhiều thế hệ khám phá và học hỏi. Qua cảm nhận của các nghệ sĩ về Người ghi lại trong bộ tác phẩm 11 cuốn “Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ – Văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh(NXB Văn học), Người còn hiện lên là một Con Người tha thiết nhất với con người.

Dưới đây là một câu chuyện ít người biết đến, được kể bởi nghệ sĩ H’ben (Quang Tuệ ghi), một người con của dân tộc Bahnar, Việt Nam – được trích trong tập sách nói trên.

*****

Bác Hồ chia kẹo

Tôi sinh năm 1933 ở làng Đé Đơng, xã Yang Trung, huyện Kông Chro – một cái làng nghèo khó của người Bahnar.

Khi tôi bắt đầu lớn lên, Đé Đơng là một làng nô lệ nên sự khổ nhục của con người không thể kể xiết…. Khi đã có nhận thức, biết thương người làng mình, cũng là lúc tôi biết làng tôi có cán bộ chống Pháp đang ở.

Một hôm, cán bộ người Kinh vào làng nói, bây giờ tôi vẫn còn nhớ đại ý: Hiện nay có Bác Hồ là người lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Đánh được Pháp rồi, người làng ta và cả dân các làng Tây Nguyên rộng lớn này sẽ được sung sướng, tự do…

Hồi đó, tôi không hiểu biết những lời ấy. Nhưng cuộc sống hiện tại cực quá, nên chẳng riêng tôi mà cả làng ai cũng muốn đứng lên đánh Pháp, đứng lên làm cách mạng. Vả lại, từ trong sâu thẳm suy nghĩ của mỗi người nói đến Bác Hồ là nói đến lẽ phải, sự công bằng nên ai ai cũng ưng, cũng muốn đi theo con đường của Bác…

Một ngày của năm 1956, Bác đến thăm trường Dân tộc Trung Ương đóng tại Gia Lâm, Hà Nội. Lần đầu tiên, tôi được biểu diễn văn nghệ cho Bác và các cán bộ cùng đi theo. Xem xong, Bác xoa đầu tôi và ân cần hỏi.

– Cháu dân tộc gì?

– Thưa Bác, dân tộc Bahnar – Tôi trả lời Bác.

Bác hỏi tiếp:

– Cháu ở đây ăn cơm có no không?

– Thưa Bác, có no ạ – Tôi thưa.

Bác lại hỏi:

– Cháu có nhớ nhà không?

– Thưa Bác, có ạ – tôi trả lời Bác.

Bác thoáng đăm chiêu “ừ” rồi nói với tôi:

– Cháu cố gắng học cho giởi rồi sau này sẽ trở về quê hương Tây Nguyên phục vụ đồng bào…

Nhưng rồi chiến tranh đã không cho tôi những như bao người khác trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình như điều người ta vẫn hằng mong đợi… Là diễn viên của Đoàn văn công giải phóng, sống ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, nhớ lời Bác dặn tôi càng cố gắng phấn đấu để biểu diễn phục vụ ở Phủ Chủ tịch và Nhà khách của Bác thêm một lần nữa. Có lần chúng tôi còn được biểu diễn phục vụ một “người khách đặc biệt” của Bác Hồ, ông Xu-các-nô.

Ấn tượng sâu sắc nhất của tôi là hôm biểu diễn lần cuối cùng cho Bác xem ở Phủ Chủ tịch năm 1967. Kết thúc buổi biểu diễn, Bác gặp riêng các diễn viên. Bác cho kẹo và hỏi từng người;

– Cháu xin Bác bao nhiêu?

Ai cũng nhanh nhẩu xin Bác cho nhiều nhiều. Đến lượt tôi, Bác hỏi:

– Thế cháu xin Bác bao nhiêu?

Tôi thật thà đáp:

– Thưa Bác, cháu chỉ  xin một viên thôi ạ.

Bác cười to và nói:

– À, cháu này ngoan lắm!

Nhưng rồi gương mặt Bác thoáng buồn. Bác nói với tôi, với mọi người xung quanh mà như nói với chính mình, với những người đang ở xa:

– Còn hàng triệu cháu như các cháu, giờ này chưa có được một viên kẹo nào đâu..


Chúng tôi lặng đi trong xúc động. Chúng tôi hiểu trái tim mênh mông của Bác khi ấy, cũng như bất cứ lúc nào khác vẫn đang hướng về miền Nam còn ngập chìm trong lửa đạn. Trước ngày mất không lâu, Bác có nói một lời tưởng như đơn giản, nhưng nghĩ ra thì mới thấy thấm sâu về ý nghĩa: miền Nam luôn ở trong trái tim tôi….

Bác Hồ ở chiến dịch biên giới 1950 – Đinh Đăng Định.

Bác Hồ chẻ củi

Bác Hồ kéo lưới với bà con ngư dân Thanh Hóa năm 1960

“Con tàu đưa Nguyễn Tất Thành đi khắp mọi miền đất lạ, cho anh cơ hội tiếp xúc với đủ mọi loại người, để cuối cùng anh tự giác ngộ ra rằng, ở đâu, người lao động cũng tốt, cũng thống khổ như nhau” (trích bài GS, TS Hoàng Chí Bảo)

Dưới con mắt quan sát của một nhà thơ Việt Nam, nhà thơ Huy Cận, thì “Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người của một quyển sách, một nền văn hóa duy nhất“. Từ tuổi nhỏ, Người đã học chữ Hán và văn học cổ điển Trung Quốc. Người cũng tiếp thu nền văn hóa Ấn Độ qua ảnh hưởng của đạo Phật và qua sự tiếp xúc với rất nhiều người bạn Ấn Độ quen thân trong cuộc chiến đấu. Tại Liên Xô, vào những năm 20, Bác khám phá ra nền văn học Nga của thế kỉ XIX. Người đọc nhiều Turgenev, Tolstoi và cũng đọc một vài tác phẩm của Chekhov. Tại Pháp, “thế kỉ ánh sáng” đã chiếu rọi ánh sáng vào tâm trí Người. Ham đọc Voltaire và Rousseau, và cũng đọc nhiều Victor Hugo, Anatole France, Người thật sự đã hấp thụ được tinh thần của cách mạng Pháp ngay từ nguồn. Suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mang dấu ấn của lòng ham mê đầu tiên ấy về những lý tưởng tự do và bác ái.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một ấn tượng sâu sắc cho những người có dịp gặp Người: người ta tưởng được tiếp kiến một lãnh đạo Nhà nước, một lãnh tụ cách mạng, thì người ta lại được gặp một con người. Người đấu tranh giành độc lập, tự do, bảo vệ nhân phẩm cho đồng loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người hiền vĩ đại, bởi vì Người đã tin tưởng ở con người, ở những  dân tộc, bởi Người đã tin vào những khả năng vô tận của con người để tự cải thiện tâm hồn và cuộc sống của chính mình.

Trên báo Ogoniok (Liên Xô trước đây), số 39, ra ngày 23-12-1923, nhà thơ đồng thời là nhà báo Xô-viết nổi tiếng O.Mandenxtam đã viết như sau: “Dáng dấp con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai“. Thời gian ấy Bác đang học tập tại trường Đại học Phương Đông tại Moscow, mới bước sang tuổi ba mươi. Nhà thơ viết: “Dân An Nam làm một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới…

Vân Sam
vietnamnet.vn

Học tập cách viết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là nhà báo lớn của dân tộc. Người đã hoạt động báo chí liên tục suốt cuộc đời cách mạng của mình. Người để lại một di sản báo chí quý báu với khoảng 2000 bài báo đủ các thể loại. Tìm hiểu di sản báo chí đồ sộ của Bác Hồ, mỗi người làm báo có thể tiếp cận học tập được nhiều điều bổ ích cho công việc của mình. Bài viết này sẽ trình bày một số điểm thiết thực có thể học tập từ cách viết của Bác Hồ.

Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957
Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957

Viết phải có mục đích

Hồ Chí Minh tâm niệm: “Viết và nói phải có mục đích, phải có nội dung”. Trả lời câu hỏi “Viết để làm gì?” Người khẳng định: “Viết để tuyên truyền, để giác ngộ, để đoàn kết, để thức tỉnh quần chúng”. Người cũng chỉ rõ thêm: “Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ Chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới” và “Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với mục đích như vậy, rõ ràng hoạt động báo chí nói chung và việc viết báo nói riêng không thể tách rời với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Điều này đòi hỏi người viết phải có lập trường chính trị đúng đắn, vững vàng, phải có nhãn quan chính trị sắc bén và phải có độ nhạy cảm chính trị – xã hội cao. Trong đó, ngòi bút của nhà báo phải hướng tới phục vụ lợi ích của Đảng, của dân, của đất nước và dân tộc.

Viết phải có nội dung

Về nội dung, Hồ Chí Minh xác định: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội”. Còn đối với địch “thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết…để gây lòng căm thù đối với quân địch”. Như thế, nội dung viết phải nhằm tới việc thực hiện mục đích viết, giúp cho việc đạt được mục đích viết. Nội dung viết phải chứa đựng những thông tin, những vấn đề của thực tiễn thực sự cần thiết cho bạn đọc, phục vụ lợi ích của bạn đọc, lợi ích của dân của nước. Muốn được như vậy, người viết phải năng động, xông xáo, bám sát thực tiễn, tìm tòi, phát hiện.

Viết phải đúng sự thật

Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”. Như vậy, Người yêu cầu bài viết phải bảo đảm tính chân thực. Không bảo đảm tính chân thực sẽ làm mất niềm tin của bạn đọc, sẽ không thuyết phục được họ. Muốn vậy, người viết phải bám sát thực tiễn, điều tra, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra, chọn lọc thông tin, phải thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin. Với tinh thần như vậy, Hồ Chí Minh căn dặn: “Không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”. Đáng tiếc là hiện nay nhiều người viết còn chưa thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin, vì nôn nóng muốn có tin bài ”nóng” mà không thẩm tra, cân nhắc kỹ lưỡng, đưa lên mặt báo những tin bài có nội dung sai lạc; điều này nhiều khi gây ra những hậu quả tiêu cực khôn lường.

Ngắn gọn

Ngắn gọn là điều Hồ Chí Minh rất chú trọng khi viết. Người chỉ rõ: “Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống”, nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”. Mình viết ra cốt để giáo dục, cổ động, nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích…”. Người giải thích: “Ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn với ý nghĩa như vậy đòi hỏi bài viết phải hàm súc, cô đọng, mỗi chữ, mỗi ý đều phải thực sự thiết thực, gắn với mục đích đặt ra, không có chữ thừa, ý thừa. Để đạt được điều này, điều tối quan trọng là người viết phải rèn luyện công phu. Hồ Chí Minh đã từng kể lại việc Người đã học viết báo công phu như thế nào, khởi đầu là viết ngắn, sau đó là viết dài, rồi từ viết dài phải tập viết ngắn lại, viết cho cô đọng ra sao. Viết dài, ba hoa, sáo rỗng rõ ràng là điều tối kỵ đối với người viết, nhưng không phải hiện nay người viết báo nào cũng tránh được điều này. Để bài viết được ngắn gọn, cũng cần chống tư tưởng viết dài chiếm nhiều “diện tích” trên mặt báo để được trả nhuận bút nhiều hơn.

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu là điều có thể nhận thấy rất rõ ở tất cả các bài viết của Hồ Chí Minh, dù các bài viết này thuộc thể loại nào, phục vụ cho đối tượng người đọc nào, nói về những vấn đề cụ thể nào của cuộc sống chiến đấu, lao động hay những vấn đề lớn nào của đất nước, dân tộc, thời đại. Theo Hồ Chí Minh, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu phải học cách nói của quần chúng. Có học cách nói của quần chúng thì mới được người đọc là quần chúng chấp nhận. Người dạy “chớ ham dùng chữ”, “viết phải thiết thực”. Mặc dù là người uyên bác, am hiểu văn hóa phương Đông, phương Tây, biết nhiều ngoại ngữ nhưng Người thường sử dụng từ ngữ đơn giản, thông dụng mà lại phản ánh đúng bản chất sự vật, có sức thuyết phục cao. Chính bởi vậy nhiều câu, nhiều ý trong các bài viết của Người đã đi vào đời sống và trở thành khẩu hiệu, phương châm hành động như: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…” vv… Người cực lực phê phán những cách dùng chữ cầu kỳ, không phù hợp đối tượng, ví dụ như đem “tân dân chủ nghĩa” giáo dục cho các cháu nhi đồng chẳng hạn.

Cái tâm người cầm bút

Tôi muốn dùng mục nhỏ này để thay cho lời kết của bài viết. Cái tâm là điều chúng ta có thể cảm nhận được và học tập từ tất cả các bài viết của Bác Hồ. Cái tâm là điều không thể dùng kỹ thuật viết thay thế được. Cái tâm ở đây chính là tình cảm rộng lớn và sâu sắc của Người đối với đồng bào, đồng chí, đồng loại, với các cháu thiếu niên, nhi đồng, với đất nước, dân tộc. Chính tình cảm lớn này đã góp phần quan trọng nâng nhà báo lớn Hồ Chí Minh lên tầm một danh nhân văn hóa kiệt xuất.

TS. Nguyễn Danh Bình
gdtd.vn

Thấm nhuần tư tưởng của Người về GD-ĐT

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chăm lo cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Người thể hiện rõ  trong mọi chính sách, chủ trương về GD.

Ngay khi cách mạng Tháng 8 thắng lợi, Người đã khai sinh cho nền GD mới, tiến bộ; một nền GD dân tộc, nhân dân, khoa học, dân tộc và đại chúng. Và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn “những ngày trứng nước” của chính quyền mới, bên cạnh hai nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, Người còn đặt ra nhiệm vụ diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách nhất của Chính phủ lâm thời bấy giờ với vận mệnh của dân tộc. Ngay tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Người đề nghị “mở chiến dịch để chống nạn mù chữ”, và ngày 4/10/1945, Người ra “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”. Bởi Người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Phát động phong trào chống nạn mù chữ, Người mong muốn mỗi người dân đều “Biết học, biết viết chữ quốc ngữ” để “Nâng cao dân trí”, “Giữ vững nền độc lập” và “Làm cho dân mạnh nước giàu”. Nhờ vậy, từ chỗ 95% dân số mù chữ trước Cách mạng Tháng 8, dân tộc ta đã vươn lên trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học, đủ khả năng để bảo vệ và xây dựng đất nước.

Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đặt niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ của dân tộc. Trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường (tháng 9/1945): Người dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đặc biệt trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người đã một lần nữa khẳng định: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Đồng thời, Người căn dặn: “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những căn dặn đó của Người cũng là những nội dung hoạt động chủ yếu của nhà trường XHCN chúng ta trong quá trình GD-ĐT, dù ở thời kỳ nào, dưới hình thức nào. Thấm nhuần tư tưởng của Người và thực hiện những căn dặn mà Người để lại trong Di chúc, trong suốt 40 năm qua, ngành GD&ĐT nước nhà đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, nâng cao chất lượng GD – ĐT, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ XHCN, bước đầu đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và tiến tới “sánh vai các cường quốc năm châu” như mong đợi của Người.

Có thể nói những căn dặn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân trong Di chúc là kết tinh của toàn bộ tư tưởng của Người. Đối với tư tưởng về GD, sinh thời Người đặc biệt chú trọng đến GD toàn diện với sự cân bằng cả về GD đức lẫn tài và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách của con người mới – con người XHCN. Người từng dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đồng thời Người còn chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền GD toàn diện ngày nay chúng ta hướng tới không nằm ngoài lời dạy của Người, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với chắt lọc sự tiên tiến của các nền GD trong khu vực và trên thế giới. Tư tưởng GD toàn diện của Người đã chỉ ra cho chúng ta thấy được mô hình chung của con người phải đào tạo trên những định hướng chính về các mặt phẩm chất và tài năng cùng mối liên hệ giữa các mặt đó với nhau để cùng hoàn thiện nhân cách. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược con người cho thế kỷ 21, trước mắt là đến năm 2010, trong đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định nòng cốt thực hiện là ngành GD&ĐT.

Trong tư tưởng về phương pháp GD, Người đặc biệt chú ý đến vấn đề tự học và học tập suốt đời. Người quan niệm: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Điều này tương đồng với quan điểm của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Tư tưởng tự học của Người có thể quy thành 5 vấn đề:

1 – Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.

2 – Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.

3 – Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.

4- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học.

5- Học đến đâu, ra sức luyện tập thực hành đến đó.

Đây là cống hiến to lớn và quý báu của Người vào lý luận dạy – học của nước ta mà trong suốt bao năm qua ngành GD&ĐT đã triển khai thực hiện một cách hiệu quả. Ngày nay, xã hội chúng ta là một xã hội học tập, học tập không ngừng. Đảng và Nhà nước đã xác định GD là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho GD là đầu tư cho tương lai của nước nhà; chỉ có đẩy mạnh GD&ĐT mới có thể đưa đất nước sớm “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi. Riêng đối với ngành GD, không những ngày càng đẩy mạnh đổi mới GD, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm mà việc học đi đôi với hành đã thực sự được chú trọng, qua đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng GD-ĐT nước nhà thời gian qua.

Bên cạnh đề cao việc “tự học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác GD phải nhận thức đúng đắn “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Tư tưởng lớn này tạo ra sức mạnh để huy động tất cả mọi lực lượng chính quyền, đoàn thể, gia đình và xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp GD, không chỉ bằng mặt vật chất, mà chủ yếu là để xây dựng mặt con người mới cho thế hệ trẻ – những người kế thừa xây dựng XHCN vừa “hồng” vừa “chuyên”. Còn nhớ sinh thời mặc dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn quan tâm theo dõi chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “dạy tốt, học tốt”, “người tốt, việc tốt”. Tư tưởng “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” của Người đã được Đảng, nhân dân ta và ngành GD&ĐT vận dụng một cách sáng tạo thành phong trào xã hội hoá GD đang phát triển sôi nổi và rộng khắp trên phạm vi cả nước hiện nay trên cơ sở xây dựng mối quan hệ giữa ba lực lượng GD: Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Trên cả nước, mạng lưới cơ sở GD không ngừng được mở rộng; các loại hình GD ra đời đáp ứng như cầu xã hội; các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở GD thường xuyên ngày càng được mở rộng với sự tham gia của toàn xã hội. Công tác xã hội hoá chưa bao giờ được coi trọng và đẩy mạnh như ngày nay. Để làm được điều đó, chính là nhờ chúng ta đã nhận thức đúng đắn được quan điểm của Người: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc thực sự là kết tinh toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ngày nay chúng ta không ngừng học tập, noi theo; trong đó có những quan điểm, những lời căn dặn quý báu của Người về sự nghiệp GD-ĐT nước nhà mà ngành GD-ĐT ngày nay đã và đang thực hiện theo để sớm đưa nền GD nước ta đạt tới sự tiên tiến, toàn diện, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Người đã dặn.

Mai Thành Chung
gdtd.vn

“Cụ Hồ ở giữa lòng dân”

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là vị lãnh tụ, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam chúng ta. Người được tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên Hợp Quốc (Unesco) tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Hình tượng Bác Hồ đã đi vào thơ ca, nhạc, họa, và được thể hiện đặc biệt sinh động trong ca dao, dần tạo nên một kho tàng “Ca dao Việt Nam về Bác Hồ”.

Với mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ thân yêu và gần gũi như ruột thịt. Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

Để nói lên tâm tư, tình cảm của mình, nhân dân ta thường sáng tác ca dao. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có nhiều câu ca dao ca ngợi Bác Hồ. Những câu ca dao này nói lên tình cảm kính yêu Bác của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớn nhân dân trên các vùng miền đất nước.

Đối với nhân dân ta, Bác Hồ là tên gọi đẹp nhất, sáng chói nhất, lung linh nhất:

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Công ơn trời biển của Bác Hồ đối với đất nước, đối với dân tộc và toàn thể nhân dân ta là không gì có thể so sánh được:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ hơn cha
Ơn cao, nghĩa nặng bao la biển trời
Vì dân chiến đấu suốt đời

và:

Trên trời có ông sao Rua
Việt Nam ta có cụ Hồ, em ơi!
ánh sao Rua sáng ngời một góc
Gương cụ Hồ tỏ khắp năm châu.

Nhân dân ta đã dùng những hình anh so sánh cổ truyền để nói lên công ơn vĩ đại của Bác:

Đố ai đếm được trời sao
Đố ai đếm được công lao Bác Hồ
Đố ai lên được trời cao
Đố ai đáp được công lao Bác Hồ

Nhân dân ta cũng dùng những hình ảnh cụ thể, những sự vật cụ thể để ghi ơn công đức Bác, của Đảng.

Ngày xưa bưng lấy bát cơm
Nhớ thầy, nhớ mẹ phong sương cấy cày
Ngày nay bưng bát cơm đầy
Ơn Bác, ơn Đảng ngày ngày không quên.

Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu cho nhân dân, cho đất nước. Đất nước ta, nhân dân ta cũng kính yêu người với tình cảm sâu sắc, bao la:

Lòng Bác rộng khắp bao la
Lòng dân, lòng Bác chan hoà nước non

Các cháu thiếu nhi thì luôn luôn ghi nhớ
“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”

và luôn luôn các cháu mong đợi”

Bao giờ được Bác về chơi
Để cho các cháu khắp nơi đón mừng.

Trải qua những ngày kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ. Trải qua những ngày hậu phương tiền tuyến cùng góp sức, góp công, góp của chiến thắng khẻ thù xâm lược quỷ quyệt, tàn ác, nhân dân ta càng thấm thía công ơn của Bác:

Trèo đèo mới biết đèo cao
Có đi tiếp vận mới biết công lao Cụ Hồ.

Càng nhớ ơn Bác Hồ, mọi người, mọi tầng lớp nhân dân càng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được cách mạng phân công, giao phó:

Cụ Hồ với dân
Như chân với tay
Như chày với cối
Như cội với cành
Toàn dân dốc một lòng thành
Làm tròn nhiệm vụ, đáp tâm tình Cụ thương dân.

Nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh đã bao đời cực khổ vì bọn thống trị thực dân, bọn chủ mỏ bóc lột, áp bức:

Ăn cơm với cá mòi he
Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời

Họ mong ngày kháng chiến thắng lợi, ngày ánh sáng của Đảng, của Bác Hồ về với vùng mỏ:

Bao giờ mà Cụ về đây
Bao nhiêu đau khổ một ngày sạch không
Ăn cơm với cá mòi bông
Lấy chồng Cẩm Phả sướng hơn ông chủ nhì

Nhân dân Nam Bộ với gậy tầm vông, với mã tấu, với lựu đạn đã đứng lên anh dũng chiến đấu chống đội quân xâm lược nhà nghề có vũ khí hiện đại cũng mong đợi:

Bài thơ Nam Bộ của Người, Người ơi
Có vần, có điệu đủ rồi
Còn đợi bóng Người in giữa bài thơ
Bao giờ độc lập Người vô
Bấy giờ là lúc bài thơ hoàn thành

Nhân dân Liên khu 5 trong những tháng ngày kháng chiến gian lao và trường kỳ luôn luôn nhận được tình thương bao la của Bác Hồ, trong lòng luôn luôn tâm niệm và mong ước:

Ai ngoài muôn dặm trùng dương
Cũng thường nhận được tình thương Bác Hồ
Mong ngày độc lập Cụ vô
Thoả lòng mong đợi, ước mơ đêm ngày.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (ảnh TL)

Nhân dân cả nước ta thấm thía công ơn của Đảng, của Bác Hồ. Có Bác Hồ, có Đảng, nhân dân cả nước mới có độc lập, tự do, có điều kiện để xây nền hạnh phúc cho bản thân mình và cho muôn đời con cháu mai sau. Người nông dân càng thấm thía công ơn của Bác mang lại ruộng đất, được làm chủ ruộng đồng, làm chủ quê hương. Công ơn Bác, hình ảnh Bác đi liền với hạnh phúc, ấm no:

Ơn Người lúa lại vàng tươi
Sắn khoai lại biếc mây trời lại xanh.

Đồng bào miền Nam khi tiễn con em ra miền Bắc tập kết theo Hiệp định Giơ – ne – vơ năm 1954 đã nhắn nhủ:

Con ra thưa với Bác Hồ
Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao

Bác Hồ ở giữa lòng dân, Bác Hồ sống mãi trong lòng nhân dân cả nước. Hình ảnh Bác Hồ thật cao quý, thiêng liêng nhưng lại rất thân thiết, gẫn gũi:

Cụ Hồ ở giữa lòng dân
Tuy xa xa lắm mà gần, gần ghê
Mỗi khi thư Cụ gửi về
Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng.

Bác Hồ là lãnh tụ cách mạng, là hình ảnh của toàn dân tộc. Bác Hồ đem lại sự đổi đời cho đất nước, cho toàn dân, nhưng Bác Hồ cũng là người ông, người cha, người anh thân thiết của mỗi gia đình người Việt Nam chúng ta. Bác Hồ là người dẫn đường, là tấm gương sáng, là ngọn đuốc lung linh soi sáng cho nhân dân cả nước đi lên trên con đường tới độc lập, tự do và hạnh phúc. Bác Hồ là cả một chân trời:

Cụ Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu, là vừng thái dương
Chúng con đi giữa đêm trường
Nhờ cha dìu dắt, dẫn đường chúng con
Ơn cha như nước, như non
Như gương Hồ Thuỷ, như hòn Thái Sơn

“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” đó là truyền thống đạo đức của nhân dân ta. Được sống trong đất nước hoà bình, độc lập, tự do, nhân dân ta càng thấm thía, càng ghi sâu công ơn và tấm gương đạo đức trong sáng, cao quý của Bác Hồ:

Uống nước là nhớ đến nguồn
Cơm no áo ấm nhớ ơn Bác Hồ
Ơn Bác Hồ sâu hơn Nam Hải
Công Bác Hồ bằng dải Trường Sơn
Nam Hải sâu ta đo cũng được
Trường Sơn dài ta vượt cũng qua
Công ơn của Bác bao la
Nhân dân kể đến bao giờ cho xong

Làm sao kể hết công lao của Bác Hồ và làm sao kể hết những câu ca dao của nhân dân ta viết về Bác Hồ vì nhân dân vẫn không ngừng sáng tác những câu ca dao, những bài cao dao ca ngợi công ơn của Bác. Các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu và cả nhân dân vẫn tiếp tục sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu… về Người. Và công việc ấy sẽ còn tiến hành mãi mãi…Đó là mạch nguồn cảm hứng vô tận, như nghĩa tình tha thiết dân Việt hướng về vị Cha già dân tộc kính yêu.

Đặng Trần Tụy
(Hội Văn Nghệ Dân gian Hà Nội)
gdtd.vn

Học tập “phong cách học tập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(GD&TĐ) – Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức, trí tuệ, tài năng, nhân cách và lối sống mà còn là một mẫu mực về phương pháp và phong cách. Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà người đã để lại cho dân tộc và nhân loại.

Trong đó, phong cách học tập là một trong những nội dung cơ bản trong phong cách Hồ Chí Minh. Nghiên cứu ngày càng sâu về phong cách học tập Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm vĩ đại của Người với tư cách là nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược thiên tài, nhà hoạt động thực tiễn lỗi lạc và là tấm gương sáng ngời đã để lại những bài học quý giá trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng và rèn luyện phong cách học tập của người cán bộ cách mạng, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Phong cách học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở động cơ học tập trong sáng, thái độ học tập đúng mực và phương pháp học tập khoa học, sáng tạo với phương châm lấy tự học làm trung tâm. Phương pháp đó là sự thống nhất biện chứng giữa động cơ, thái độ, nội dung và phương pháp học tập.

Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, người chủ tương lai của nước nhà… Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống nhân dân”.

Phong cách học tập Hồ Chí Minh là một cống hiến quan trọng, là đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận dạy – học của nước ta; trở thành một triết lý học tập; một giá trị nhân sinh cao đẹp, tiêu biểu cho trí tuệ, tâm hồn và phong cách Việt Nam – phong cách đó rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hóa, có thể học tập và làm theo. Phong cách học tập Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời được soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách học tập đó không những tạo cơ sở khoa học mà còn là tấm gương mẫu mực và thiết thực cho mọi người học tập và tự học tập suốt đời để vươn lên không ngừng. Phong cách đó không chỉ là lý luận mà còn là cách thức và phương pháp soi đường và chỉ dẫn cho chúng ta học tập và noi theo.

Nét đặc trưng trong phong cách học tập Hồ Chí Minh mang tính độc đáo, đó là phong cách học tập hàm chứa những yếu tố rất giản dị, đại chúng với động cơ, mục đích cao cả, trong sáng mà thiết thực; với thái độ cầu thị, khiêm tốn nhưng lại đòi hỏi rất cao và hết sức nghiêm túc; với phương pháp học tập khoa học mà dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi… Cụ thể là:

Một là, động cơ học tập trong sáng vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì sự tiến bộ của nhân loại. Quan tâm, chăm lo tới sự nghiệp giáo dục của nước nhà, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi mọi người thi đua học tập, coi học tập là nhiệm vụ thường xuyên, suốt đời, “còn sống thì còn phải học”. Và trong việc học tập Người đặc biệt chú trọng đến động cơ, thái độ học tập: “Muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng” [1]. Tức là, trước hết phải có động cơ học tập đúng để xác định rõ và đúng xu hướng nghề nghiệp chân chính của mình là vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì con người và vì sự tiến bộ của chính bản thân mình. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại ”[2 ].

Động cơ chính là động lực bên trong của mỗi con người, sự thể hiện nó được biểu hiện qua hành vi, thái độ và việc làm của con người đó. Do vậy, chỉ khi nào xác định được động cơ học tập đúng đắn thì mỗi chúng ta mới có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn và khoa học. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào người học cũng phải nỗ lực, cố gắng và phải xây dựng cho mình một động cơ học tập đúng đắn; đồng thời không cho phép tồn tại những tư tưởng cơ hội, vụ lợi, thực dụng, ích kỷ cá nhân, hay những biểu hiện lười học tập, ngại rèn luyện, hoặc là dùng mọi thủ đoạn nhằm đạt kết quả cao trong học tập. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc và tương lai của cách mạng, học để hành”; “học để làm việc”; chứ không phải học để “làm ông nọ bà kia”, hay là để “làm quan cách mạng”… cho nên, “tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”[ 3].

Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò của việc học tập đối với người cán bộ cách mạng. Trong nhiều lần nói chuyện với giới trí thức, Bác thường nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc học tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Trên cơ sở nắm bắt được xu thế của thời đại và khả năng dự báo được tương lai, Người đã chỉ rõ: “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì chúng ta phải nghiên cứu, học tập”[ 4] và “nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được … không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Người thường dẫn câu nói của Lênin “Học, học nữa, học mãi” để nhắc nhở bản thân, để giáo dục cán bộ, đảng viên và mọi người.

Bản thân Hồ Chí Minh đã nêu gương mẫu mực về động cơ học tập trong sáng. Người học tập với một động cơ hết mực trong sáng và với một ý nguyện thật cao cả; việc học tập đó không chỉ dừng lại ở sự mở rộng vốn hiểu biết, nâng cao trình độ tri thức và tiến bộ của bản thân, đó cũng hoàn toàn không phải vì bằng cấp nọ, học vấn kia… mà quan trọng hơn là để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[ 5]. Động cơ và mục đích này luôn luôn trở thành động lực thường xuyên và trực tiếp thôi thúc Bác một cách mạnh mẽ trong việc học tập, tiếp thu tri thức nhân loại.

Hai là, thái độ học tập đúng đắn, khiêm tốn, say mê, cầu thị, chân thành, không kiêu ngạo, không dấu dốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần học tập suốt đời, về thái độ khiêm tốn, say mê và cầu thị, không dấu dốt trong học tập.. Cho đến những năm cuối đời mình, Người vẫn chú trọng, không sao nhãng việc học tập. Tháng 5-1966, trong một buổi nói chuyện với các đồng chí đảng viên mới ở Hà Nội, Người đã nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[ 6]. Người cho rằng: “Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi” và “người nào tự cho là đã biết đủ rồi, thì người đó dốt nhất”, mỗi người phải biết khiêm tốn, chớ “kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”. Đức tính khiêm tốn yêu cầu, đòi hỏi con người ta không được thỏa mãn với vốn kiến thức của mình và cũng không được phép bằng lòng với những thành tích đã đạt được.

Ba là, phương pháp học tập khoa học, sáng tạo và hiệu quả theo phương châm “lấy tự học làm cốt”. Việc xác định đúng động cơ và thái độ trong học tập là nội dung hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng để hiện thực hóa động cơ, thái độ đó; đòi hỏi tất yếu khách quan là phải xây dựng được phương pháp học tập khoa học. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và thông qua quá trình đó, Người đã hình thành cho mình một phương pháp học tập khoa học, đó là con đường tự học, với phương châm “lấy tự học làm cốt” và phải biết “tự động học tập”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: tự học, tự rèn, tự tu dưỡng cũng giống như “mài ngọc luyện vàng”, “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vì, theo Người: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”[ 7].

Trong tự học phải xác định đúng nội dung tự học, “học cái gì”? Theo Hồ Chí Minh, nội dung tự học rất rộng lớn, bao gồm: học tập lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá, đạo đức… trong đó, Người luôn coi trọng việc học tập lý luận; bởi lẽ “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người luôn đặt ra yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”[8 ]. Mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất nhân cách và đạo đức cách mạng.

Muốn tự học thành công phải có kế hoạch cụ thể, khoa học. Kế hoạch học tập đó không phải là một sự tự do, tùy ý mà được xây dựng một cách chủ động, trên cơ sở căn cứ vào tình hình công việc, khả năng, thời gian và điều kiện phù hợp. Trong điều kiện thời gian không cho phép thì phải nắm cho được những vấn đề cơ bản,“phải thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều”, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Đặc biệt, theo Người, phải tự nguyện, tự giác; tích cực, chủ động và kiên trì, bền bỉ, quyết tâm thực hiện kế hoạch đến cùng, phải xem công việc học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập; nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để học. Người vạch ra: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[ 9]; “Học tập trong việc làm hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ”. Học tập trong kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Học đến đâu phải ra sức luyện tập thực hành đến đó, “học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Học đi đôi với hành cùng một lúc sẽ hình thành ở người học cả tri thức lẫn kỹ năng; do đó, “hành” trở thành một hình thức chính của “học”, quá trình “học” xảy ra trong chính quá trình “hành”. Trong buổi nói chuyện với cán bộ giảng dạy và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Ngày 20/10/1964), Người đã khuyên: Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ lúc thanh niên cho đến khi trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thành người chiến sĩ xuất sắc của phong trào cộng sản quốc tế là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, lấy tự học làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ về mọi mặt của bản thân. Sự thành công của Người trong việc tiếp thu chân lý vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin và trong việc sáng tạo sách lược đấu tranh cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến cũng chính là kết quả của một quá trình tự học kiên trì, gian khổ trong cuộc đấu tranh cách mạng liên tục, kiên cường. Người đã tổng kết những kinh nghiệm quý báu về quá trình học tập – tự học suốt cả đời mình và đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá. Tuy nhiên, tự học ở Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tuỳ ý, vô nguyên tắc… Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học.

Thực tiễn sống động trên là minh chứng hùng hồn, rõ ràng nhất về ý thức, thái độ và cách thức học tập đúng đắn của Người; thể hiện sâu sắc và rõ nét một phong cách học tập khoa học, mẫu mực. Thế hệ hôm nay có thể tìm thấy trong phong cách học tập đó tinh thần học tập không mệt mỏi; không tư lợi, học để phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân; học tập một cách thông minh, sáng tạo; học ở sách vở, học tập thực tiễn, ở quần chúng… Ngoài ra, phong cách học tập Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế. Phương pháp học tập của Người là tùy theo điều kiện, thời gian mà thực hiện từng bước và có hiệu quả; đặc biệt, phải lấy tự học làm chính. Phải hết sức khiêm tốn, không dấu dốt.

Phong cách học tập của Người là một cống hiến quan trọng, đóng góp to lớn vào kho tàng lí luận dạy học của nước ta; trở thành một triết lí học tập, một giá trị nhân sinh cao đẹp tiêu biểu cho trí tuệ tâm hồn và phong cách Việt Nam – rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hoá. Phong cách học tập của Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách đó đã tạo cơ sở khoa học để mọi người giáo dục và tự giáo dục suốt đời để vươn lên không ngừng.

Nguyễn Văn Thanh
(Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng)
gdtd.vn

Bác Hồ với giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò của đoàn viên, thanh niên, Người luôn dành tình cảm, sự quan tâm chăm lo, bồi dưỡng, động viên đến các thế hệ thanh niên của nước nhà.

Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bởi theo Người, đoàn viên, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay yếu, suy hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên. Nhìn nhận đoàn viên, thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai trò “Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai.” Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc.

Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng bởi theo Người: “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì lợi ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”. Đạo đức cách mạng ấy là sự triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả thân cho đất nước, điều đó được thể hiện ở ngay trong suy nghĩ và hành động hàng ngày của mỗi đoàn viên, thanh niên.

Bác Hồ với đoàn viên, thanh niênBác Hồ với đoàn viên, thanh niên

Để tuổi trẻ trở thành người cách mạng chân chính, những con người mới XHCN, Người nhấn mạnh việc cần thiết phải giáo dục đoàn viên, thanh niên tính trung thực, ngay thẳng, tác phong khiêm tốn, giản dị, tinh thần lao động tích cực, siêng năng, táo bạo và sáng tạo. Đoàn viên, thanh niên phải luôn có tinh thần cố gắng vươn lên, sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Không những thế, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay…đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

Thương yêu hết lòng và đặt niềm tin trọn vẹn vào đoàn viên, thanh niên, Người nhấn mạnh: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi mới thật là thanh niên “. Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho đoàn viên, thanh niên “Muôn vàn tình thương yêu”,

Người đánh giá: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”; và căn dặn “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng”vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Từ bức thư tâm huyết gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn dành cho đoàn viên, thanh niên tình cảm thương yêu, trìu mến, sự chăm sóc ân cần.

Không chỉ chăm lo và giáo dục, cổ vũ đoàn viên, thanh niên học tập và phấn đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng, cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng và nhân dân. Suốt đời phấn đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng đoàn viên, thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng – sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên  trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, tuổi trẻ cả nước đã phát huy truyền thống của thế hệ trước, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào: “Xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành cùng thanh niên lập thân lập nghiệp”, tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Thanh niên sống đẹp sống có ích”…

Những tình cảm, sự quan tâm, chăm lo, dìu dắt của Bác Hồ dành cho đoàn viên, thanh niên luôn là nguồn động lực cổ vũ, khích lệ tuổi trẻ cả nước nói chung, tuổi trẻ Yên Bái nói riêng hăng hái, xung kích cùng toàn dân xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như Bác kính yêu hằng mong muốn.

Phạm Thị Duyên
gdtd.vn

Tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học cho thế hệ trẻ

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nhiều bài học quý giá cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Có những bài học được Người dạy trực tiếp hoặc lập ngôn, trước tác để lại, tuy nhiên cũng có những bài học mà thế hệ sau rút ra được từ tư tưởng, hành động của Người. Chẳng hạn từ tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể rút ra bài học về định hướng tương lai và hành động cho thế hệ trẻ.

Dưới chân tượng đài Bác Hồ (ảnh do đoàn cung cấp)Đoàn tình nguyện Hành trình xanh chụp ảnh lưu niệm nơi tượng đài Bác Hồ trong chương trình “Hành trình xuyên Việt 2011- từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng” (ảnh do đoàn cung cấp)

Có thể thấy, tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ thuở nhỏ, khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, được giáo huấn lòng yêu nước, gần dân của gia đình; được thừa hưởng nền văn hóa truyền thống đấu tranh bất khuất của xứ Nghệ, lại tiếp thu truyền thống chống ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc để rồi hình thành ở Người lòng yêu nước thương nòi.

Đặc biệt khi được hầu chuyện cha với các sĩ phu yêu nước đồng thời là thầy học của mình như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân, Phan Bội Châu… Người dần hiểu được thời cuộc và nỗi ưu tư của các bậc thầy, cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Những câu chuyện đàm đạo đó đã truyền lửa tới tâm hồn Người. Và, vốn có tư chất thông minh, tư duy độc lập, Người đã ôm ấp chí lớn cứu nước, cứu dân. Với nghị lực phi thường, không chịu đi theo lối cũ của các bậc tiền bối, Người đã quyết chí đi sang phương Tây để thấy tận mắt đất nước của những kẻ đã tới thôn tính dân tộc mình, mong tìm con đường giải phóng dân tộc.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì Tổ quốc, vì dân tộc là mối quan tâm hàng đầu, trở thành tư tưởng trung tâm, cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Người. Và tất cả những suy nghĩ, những lời nói, mọi hành động trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhằm để thực hiện lý tưởng, hoài bão đó.

Năm 1911, với tên Văn Ba, Người ra đi tìm đường cứu nước. Tất cả những việc làm như phụ bếp, bồi bàn đến dọn tuyết, …, Người đều không từ nan để thực hiện lý tưởng. Trong suốt thời gian đó, hễ có cơ hội là Người thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình. Như tại Đại hội Tours cuối năm 1920 của Đảng Xã hội Pháp, đến lúc biểu quyết, gia nhập Đệ Tam hoặc ở lại Đệ Nhị Quốc tế thì với tên Nguyễn Ái Quốc, Người bỏ phiếu cho Đệ Tam Quốc tế. Bởi vì Người hiểu rõ một điều Quốc tế thứ 3 rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế thứ 3 nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Người nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” .

Tìm con đường giải phóng dân tộc cứ canh cánh trong lòng Nguyễn Ái Quốc, như một lực hấp dẫn, chiêu cảm mạnh mẽ, để rồi dẫn đường Người tới với Sơ thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa là “cái cần cho chúng ta, là con đường giải phóng chúng ta”.

Trở về nước năm 1941, Người chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, trong thư Kính cáo đồng bào, Người khẳng định và chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” . Thế rồi cách mạng tháng Tám thành công, chính Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” .

Rõ ràng, Tổ quốc và nhân dân là mối quan tâm thường hằng tạo nên những trăn trở thường xuyên trong tâm khảm Người. Trả lời các nhà báo, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” .

Cuối tháng 5 năm 1946, nhận lời mời đi thăm hữu nghị nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian Người đi vắng (4 tháng). Trước khi đi Người đã nói chuyện với đồng bào: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân […]. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” . Và Người nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạn biến””. Đó chính là một triết lý, là mối quan hệ giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản thể và hiện tượng,… là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi). Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng có muôn hình vạn trạng, có thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, biến hóa khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó. Ở đây cái bất biến của dân tộc Việt Nam trong lúc “ngàn cân treo sợi tóc” là Tổ quốc độc lập, dân tộc tự do. Chính với phương châm triết lý đó, ở nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nghiêm khắc trừng trị bọn Quốc dân Đảng gây rối, cũng như các thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam non trẻ, giữ vững được nền độc lập dân tộc.

Nhưng chỉ sau một năm tuyên bố độc lập cho Tổ quốc trước toàn thể quốc dân đồng bào và quốc tế, thì thực dân Pháp định cướp nước ta một lần nữa. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đanh thép tuyên bố: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!” . Và, chính bằng quyết tâm thực hiện tư tưởng chủ đạo đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân và toàn dân ta đã đánh thắng giặc Pháp xâm lược, làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu.

Để giành và bảo vệ độc lập Tổ quốc, tự do dân tộc, nhân dân ta hết kháng Pháp lại kháng Mĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, ngày 17/7/1966, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện câu nói bất hủ, cũng là nguyên lý, nguyên tắc đầu tiên và trên hết trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” . Đó là đỉnh cao của lý luận, được đúc rút từ thực tế đất nước Việt Nam, trong suốt cuộc đời hoạt động của Người và đã trở thành chân lý vĩnh hằng…

Như vậy, bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại thật nhiều. Có những bài học đã trở thành giá trị văn hóa có ảnh hưởng không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Từ tư tưởng chủ đạo và hành động suốt cuộc đời của Người, có thể rút ra nhiều bài học, nhưng nổi bật hai bài học quan trọng cụ thể là:

Thứ nhất bài học mang tính thực tiễn không chỉ dành cho lớp trẻ mà cho mỗi người dân đất Việt đó là: luôn có một tình yêu đối với Tổ quốc, với dân tộc, với đồng bào, với gia đình. Tình yêu đó phải thường trực mới có thể trở thành con người không bị thất cước, không mất đi cái bản thể, cái gốc của mình.

Thứ hai là bài học mang tính lý luận. Chúng ta thấy Người đã thực hiện theo đúng quy luật của tự nhiên, của triết học về mối quan hệ của bản thể và hiện tượng, giữa cái bất biến và cái vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi. Bởi hoài bão, định hướng cứu nước, cứu dân trở thành bản thể cho tất cả những biểu hiện hành động của Người. Điều này cho mỗi người trẻ một bài học rằng cần có một lý tưởng, một mục đích tốt làm gốc cho sự phát triển cuộc đời.

Đành rằng mỗi người sẽ có một ý chí, một hướng đi khác nhau trong đời, nhưng điều quan trọng hàng đầu là sớm xác định cho mình một hướng đi đúng, một lý tưởng đẹp, một mục đích cao cả để từ đó làm cái đích hướng tới cho những hành động cụ thể trong cuộc đời của mình. Bởi chỉ có thể định hướng rõ kết hợp với tư duy thường trực và thường xuyên hành động thì mới sớm đạt được đích, gặt hái thành công.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn

——————————

Tài liệu tham khảo:

Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Trẻ, 2005 (Bản PDF 11/2/2007), tr. 44.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 198.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 12.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 379.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 568.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 1018.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 110.