Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Cuộc tập kích Hà Nội bằng B52 bị “bắt bài” ra sao?

QĐND-Theo Nhật ký Han-đơ-man (Haldeman)[1] ngay trước chiến dịch Lai-nơ-bắc-cơ II (Linebacker II), bất chấp những hục hặc, Kít-xinh-giơ (Kissinger) đã tán thưởng Ních-xơn (Nixon) về quyết định ném bom hủy diệt Hà Nội là “thượng sách”. Kít-xinh-giơ cho rằng Ních-xơn sẽ công thành danh toại nhờ những “hành vi thú tính không thể đoán trước” (brutal unpredictability)…

Nhưng gần bốn thập kỷ sau, tác giả các bài báo nổi tiếng từ những năm 70 của thế kỷ 20, về Lai-nơ-bắc-cơ II (chiến dịch đánh phá Hà Nội, Hải Phòng bằng không quân chiến lược Mỹ 12 ngày đêm cuối năm 1972) là Đa-na Đren-kốp-xki (Dana Drenkowsky) và Lét-xtơ Grao (Lester Grau) đã công bố nghiên cứu của mình về chủ đề này, nhan đề “Rập khuôn và đoán trước được” (Patterns and predictability), phân tích các đánh giá của các phía về chiến dịch Lai-nơ-bắc-cơ II[2]. Công trình được xem như tổng hợp các góc nhìn từ ba phía rọi vào đoạn kết cuộc chiến trên bầu trời Hà Nội.

Các tác giả Đren-kốp-xki và Grao cho hay, Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ (SAC) “mắc những sai lầm nghiêm trọng, chịu những tổn thất nặng nề trong một chiến dịch được xem là thất bại”.

Đòn tập kích không gây bất ngờ

Hôm nay nhìn lại, các tác giả cựu phi công Mỹ như D. Đren-kốp-xki, E. Tin-phoóc (E. Tilford) và cả M. Mác-san (M. Marshall) về cơ bản nhất trí với các cựu chuyên gia Liên Xô, như Thượng tướng, Giáo sư, Tiến sĩ A. Hiu-pơ-nen (A. Hiupenen), rằng trong một quyết định chiến tranh dốc toàn lực (all out – ý nói sử dụng một quy mô lực lượng lớn) như Lai-nơ-bắc-cơ II, huy động toàn bộ sức mạnh không quân của Mỹ, nhưng lại sử dụng các sơ đồ ném bom và các đường tiếp cận vào đánh phá khu vực trung tâm đồng bằng Bắc Bộ đã biến thành “lối mòn”, bởi các máy bay ném bom chiến thuật của Mỹ (đội hình đi đánh phá, kể từ giữa năm 1972 đã xuất hiện cả B-52, thường thưa hơn, mỏng hơn so với Lai-nơ-bắc-cơ II) trong suốt 6 năm liền kể từ đầu chiến tranh phá hoại đường không chống miền Bắc. “Việc Mỹ vẫn sử dụng các thủ đoạn tác chiến, trình tự bay cố định, cho phép Việt Nam dân chủ cộng hòa có thể phòng thủ tốt hơn, thậm chí là thành công, chống lại cuộc đại không kích Lai-nơ-bắc-cơ II, tháng 12-1972”…

“Kế hoạch của Không lực Mỹ là tỉ mỉ, chu đáo, nhưng rất dễ bị đoán ra, buộc đội hình máy bay Mỹ tuân thủ biểu đồ chiến dịch mẫu… Cất cánh, hành trình bay, tác chiến điện tử, hoàn thành thời gian bay dự kiến đều đoán trước được. Các chiến thuật đánh phá là cố định nên đối phương dễ nắm bắt. Công nghệ của Mỹ tạo ra một mức độ khó khăn cho Bắc Việt, nhưng cách áp dụng lại vẫn là có thể dự đoán được. Chính công nghệ cao nhưng mang tính dự đoán được của Mỹ đã giúp cho Bắc Việt chống trả hữu hiệu”.

Chính Mỹ bị bất ngờ

Các chi tiết gây bất ngờ về chiến dịch, chiến thuật cho phía Mỹ gây tốn kém giấy mực. Chẳng hạn, các nguồn Mỹ cho rằng bộ đội phòng không Việt Nam đã bắn khoảng 1000 quả đạn tên lửa SAM-2 trong toàn Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, tuy nhiên, kết toán của Liên Xô về hạng mục này[3] khẳng định chỉ có 244 quả tên lửa đã được bắn. Để phát hiện những tốp F-4 phát nhiễu đóng giả đội hình B-52, các trắc thủ Việt Nam làm động tác phóng tên lửa giả và những “quả đạn giả” này hẳn đã làm thiết bị của Mỹ đếm lầm…

Loại B-52 được cải tiến nhằm che mắt các ra-đa hiện đại hơn của đối phương, theo Tin-phoóc, bất ngờ mất tác dụng, vì chúng (B-52G “đời mới”) bị phát hiện bởi những ra đa “cổ lỗ” thuộc thế hệ đầu nhưng vẫn được “giữ tốt dùng bền”, bên cạnh các trang bị tác chiến điện tử hiện đại khác, nhờ những “bàn tay vàng”, tinh thần vượt khó, tính cần kiệm và óc sáng tạo của bộ đội Việt Nam (nhận định của chuyên gia Liên Xô, một số tác giả phương Tây).

Còn cả những bất ngờ vượt xa cấp chiến thuật là Mỹ đã phát hiện những thông tin chiến dịch của Lai-nơ-bắc-cơ II đã bị đối phương biết được, hoặc giải mã… Theo tác giả Đren-kốp-xki, đó là do xu thế người dân Mỹ, tới năm 1972, xem cuộc chiến tranh Việt Nam là phi nghĩa (unjust war), tất dẫn đến chiến bại. Kết quả là nhiều rò rỉ đã xuất hiện trên báo chí ở Mỹ, thậm chí xảy ra trao bí mật cho phía đối phương (như vụ bắt một nhân viên của Cục cơ yếu Hải quân Mỹ)[4].

Nhưng bất ngờ lớn nhất với Mỹ, mà đến nay các nghiên cứu quốc tế chưa nêu bật được, là những cuộc vây bắt “hung thần” B-52 ngay từ năm 1966 khi “rồng lửa” đã mang cả đội hình chiến đấu cấp trung đoàn đã vào tận các tọa độ lửa ở Khu 4 và Trường Sơn để xây dựng cơ sở cho một chiến lược “đánh B – 52”, bất chấp những quan ngại của nhà sản xuất tên lửa SAM về bảo đảm kỹ thuật – hậu cần… Trí óc và sự quả cảm không tả xiết trong kỳ công “vào hang bắt cọp” (chữ dùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh) này sẽ chín muồi thành cuộc “nghênh tiếp dữ dội” (violent welcome) đầy bất ngờ trên bầu trời Hà Nội, dành cho cách kỷ niệm Noel 1972 của quỷ Xatăng.

Địa ngục trên khoảng trời hẹp

E. Tin-phoóc, sắc sảo cả về chiến thuật, chính trị – ngoại giao, lẫn về cuộc đấu trí giữa phe diều hâu và phe phản chiến ở Mỹ thời Ních-xơn, đã viết:

“Hàng năm trời B-52 đơn phương ném bom xuống các cánh rừng không được lực lượng phòng không đối phương bảo vệ ở miền Nam,… các chiến thuật thấp kém và một đô (dose – lượng) khá mạnh của sự quá tự tin đã làm cho vài đêm đầu tiên của Lai-nơ-bắc-cơ trở thành ác mộng cho các kíp bay B-52”[5].

Sự chủ quan của SAC, theo các nhà quan sát của các bên, là do Mỹ đã vận dụng các tiện ích mới nhất để gây nhiễu trên toàn giải đối với ra đa của Việt Nam, đưa đến kết quả là các đợt đánh phá Hải Phòng giữa năm 1972, bộ đội tên lửa đã không bắn hạ được B-52 Mỹ. Nói chung, như Prados đã chỉ ra, “các nguyên soái không quân Mỹ chắc mẩm vũ khí của họ sẽ làm việc như được quảng cáo”. Tới nửa cuối năm 1972 ấy, thần tượng B-52 vẫn sừng sững, còn SAM-2 “cổ lỗ” do Liên Xô sản xuất, về mặt tính năng được xem là khó có thể bắn hạ B-52.

Sự kiện chiếc B-52 bị Không quân Việt Nam bắn hỏng tháng 11-1971 càng làm tăng sự chú ý đối với MIG-21 được Liên Xô thiết kế chuyên để đánh B-52. Nhưng MIG-21 chỉ được trang bị hai quả tên lửa, khó mà chọc thủng hàng rào dày đặc các F-4 tháp tùng B-52.

Kẻ ném bom điên khùng. Tranh: Lính Mỹ phản chiến.

Cho đến tháng 11-1972, khi chiếc B-52 đầu tiên bị SAM bắn rơi trên bầu trời Nghệ An, vẫn nhiễu tin, rằng chiếc B-52 này bị MIG bắn rơi, hoặc thậm chí rơi vì trục trặc kỹ thuật…

Vì thế lực lượng không quân chiến thuật Mỹ được lệnh vây hãm các sân bay của miền Bắc, thậm chí “trực” trên không trung, để tập trung đánh các MIG vừa cất cánh, hoặc bay về sau khi tác chiến.

Ních-xơn cũng chắc mẩm đã cô lập được Hà Nội khỏi các đồng minh đứng đầu khối “Đỏ”. Xích gần Mát-xcơ-va (Moscow) và nhất là khai phá được quan hệ với Bắc Kinh vừa là điểm nhấn năm 1972 giúp ông ta tái đắc cử, có thể dùng làm đối trọng chống sự ủng hộ mạnh chưa từng có của nhân loại tiến bộ đang dành cho Việt Nam.

Sụp đổ thần tượng

Đòn phủ đầu với ba B-52 bị SAM bắn rơi tại chỗ, hai chiếc nữa bị bắn hỏng nặng ngay đêm đầu (số liệu của Mỹ) đã làm các nguyên soái Không quân Mỹ bị choáng váng. Tin này có vẻ đã bị giấu nhẹm, vì đến ngày 20-12 (sáu B-52 bị bắn rụng, một chiếc khác bị hỏng nặng, vẫn theo số liệu của Lầu Năm Góc mà nhiều học giả Mỹ cho là không đáng tin) mới xuất hiện các ghi chép của Chánh văn phòng Nhà Trắng về sự “đau lòng nhức óc” của P (President – tổng thống Ních-xơn) trong một Nhà Trắng như tối sầm dưới sức đè những tổn thất quá lớn về B-52. Đâm lao phải theo lao, Ních-xơn ra lệnh tiếp tục ném bom, nhưng ở quy mô nhỏ hơn và chuyển hướng không kích ra ngoài Hà Nội để tránh SAM-2. Đến đây đã có thể xem Lai-nơ-bắc-cơ II đã thất bại về chiến lược, tan ảo mộng chiến thắng, giúp làm nguội cái đầu nóng của ông chủ Nhà Trắng. Tác giả Đren-kốp-xki viết: “Đêm 22 rạng ngày 23-12, trên đà thắng của bộ đội phòng không Hà Nội, không một cuộc không kích nào nhằm vào mục tiêu chính là Thủ đô của Việt Nam. Thay vào đó, 30 chiếc B-52 tiến công Cảng Hải Phòng, nơi được bảo vệ về phòng không kém hơn”.

Không quân Mỹ sau ngày Noel tỏ ra biết thay đổi chiến thuật và kế hoạch không kích, thực ra là rút ngắn thời gian không kích và đánh phá các địa bàn xa Hà Nội, nhưng máy bay Mỹ vẫn tiếp tục bị bắn rụng như sung. Thậm chí, B-52 rơi không phải do một salvos (loạt đạn tên lửa) mà chỉ do một quả SAM-2 “đồ cổ” trên bầu trời Sơn La.

Sách báo thời chiến của Mỹ ghi nhận một sự suy sụp về tinh thần chưa từng có trong các đơn vị Không quân Mỹ. Một đỉnh điểm của nó là có tới 9 chuyến bay B-52 bị đình chỉ đêm 26 rạng ngày 27-12, do trục trặc “cơ khí”. Đây là những “vết thương” từ các cuộc “dạo chơi” những đêm trước trên bầu trời Hà Nội, hay còn cả những cảm nhận “mở nắp buồng lái như mở cửa nhà mồ” của các tay lái “Pháo đài bay”?

Bất ngờ vẫn tiếp tục sau khi Mỹ đã tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc vào đúng ngày cuối cùng của năm dương lịch 1972, vài B-52 sẽ còn bị SAM-2 bắn rụng tiếp trên chiến trường nam vĩ tuyến 20, cách xa các đầu mối tiếp tế – bảo dưỡng.

Chôn vùi mộng xâm lăng

Theo hồi ký Kít-xinh-giơ, ngày 6-1-1973 Ních-xơn đã chỉ thị cho Kít-xinh-giơ trở lại Pa-ri (Paris), phải đạt cho được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện nào (whatever temrs available), với bộ dạng hoàn toàn khác ngày thường (belying his image – makers; ý nói không còn tỏ ra hùng hổ được nữa). Tổng thống Mỹ nhấn mạnh sẵn sàng chấp nhận trở lại văn bản đã thỏa thuận tháng 10-1972[6]. Lai-nơ-bắc-cơ (người cứu bóng trước khung thành) II quả là một quyết định thú tính đầy bất trắc trong mắt nhân loại, nhưng chịu thất bại vì đã bị Việt Nam “bắt bài”.

——————-

[1] The Haldeman Diaries Inside the Nixon White House, băng CD.

[2] “Rập khuôn và đoán trước được: đánh giá của Liên Xô về chiến dịch Linebacker II”, của Dana Drenkowsky và Lester Grau (PATTERNS AND PREDICTABILITY: THE SOVIET EVALUATION OF OPERATION LINEBACKER II).

[3] Nguồn: chú thích 2, tr.33.

[4] Nguồn: chú thích 2, tr.36.

[5] Sách Triển khai lực lượng không quân Mỹ ở Việt Nam: đã làm được gì và tại sao? (Setup: What the Air Force Did in Vietnam and Why; NXB Air University Press, 1991, tr. 255 – 256).

[6] Những năm ở Nhà Trắng/ White House Years, Hồi ký Henry Kissinger, NXB Little, Brown and Company, 1979, trang 1.462.

LÊ THÀNH
qdnd.vn

Những kỷ vật vô giá làm từ vũ khí kẻ thù

Từ mảnh xác máy bay, pháo sáng của Mĩ, người lính Cụ Hồ đã chế tạo những vật dụng thiết thực, góp phần cải thiện đời sống nơi chiến trường.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, quân đội Mĩ đã sử dụng những khí cụ chiến tranh tối tân nhất của mình như máy bay ném bom hạng nặng, máy bay tiêm kích siêu âm cùng hàng chục loại bom, mìn sát thương nhằm tiêu diệt sinh lực và đè bẹp ý chí của quân Giải phóng. Biết bao xương máu của quân và dân Việt Nam đã thấm đẫm dải Trường Sơn bởi những thứ vũ khí hủy diệt này.

Tuy nhiên, cuộc chiến tranh diễn ra càng khốc liệt, tinh thần lạc quan và phẩm chất sáng tạo của người chiến sĩ Giải phóng lại càng phát huy mạnh mẽ. Tận dụng chính những mảnh xác máy bay, vỏ đạn bom, pháo sáng của Mĩ, người lính Cụ Hồ đã chế tạo ra những vật dụng thiết thực hàng ngày, góp phần cải thiện đời sống nơi chiến trường như ấm chén, bát đĩa, bếp, đèn dầu…

Sau nhiều thập niên, những vật dụng ấy vẫn còn được các chiến sĩ Giải phóng năm xưa lưu giữ và trở thành những kỷ vật vô giá, chứa đựng ký ức không thể mờ phai về một thời kỳ lửa khói đau thương nhưng vẫn chan chứa niềm tin và hi vọng.

Hàng chục kỷ vật  như vậy đã có dịp ra mắt công chúng tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự từ ngày 15/12. Đây là một phần kết quả của cuộc vận động sưu tầm những kỷ vật kháng chiến kéo dài 3 năm, với trên 11.000 hiện vật đã được quy tập.

Một số hình ảnh Đất Việt ghi nhận.

Chiếc chân giả này được đồng chí Nguyễn Bằng Phi, huyện đội Dĩ An, tỉnh Bình Dương (thương binh 1/4) làm từ mảnh xác máy bay và vỏ pháo sáng để vào chiến trường tiếp tục chiến đấu từ năm 1967 – 1971.

Tấm phù điêu Bảng vàng ghi công được làm bằng mảnh xác máy bay AD-6, Trung đội Dân quân gái xã Hoàng Trường và Hoàng Hải, tỉnh Thanh Hóa bắn rơi ngày 16/11/1967.

Một số phích nước tự tạo do bộ đội và thanh niên xung phong làm từ mảnh xác máy bay Mĩ bị bắn rơi và ống pháo sáng của địch thả xuống đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mĩ.

Chiếc bếp dầu tự tạo do đồng chí Nguyễn Ngọc Sinh, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 252 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không làm từ mảnh xác máy bay AC130 bị bắn rơi tại trọng điểm Tha Mé. Đồng chí Sinh đã sử dụng chiếc bếp ở Trường Sơn từ năm 1972 – 1975.

Một bộ ấm chén được xưởng cơ khí của các chiến sĩ giải phóng làm từ mảnh xác máy bay và ống pháo sáng của Mĩ.

Để làm chiếc lược này, người lính Trường Sơn phải tranh thủ từng phút nghỉ ngơi để tỉ mẩn mài giũa từng răng lược trên một mảnh xác máy bay.

Trên nắp của một ca cà phê vẫn còn có thể đọc được những dòng chữ  ghi trên vỏ của một chiếc máy bay Mĩ.

Những quả bom bi, bom dứa lính Mĩ thả xuống đường Trường Sơn đã được các chiến sĩ Giải phóng tận dụng làm những chiếc đèn dầu xinh xắn.

Chiếc cúp kỉ niệm do xưởng cơ khí 3-2 làm từ xác máy bay Mĩ, được ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Bình dành tặng Bác Hồ. Trên chiếc cúp có dòng chữ nổi “Quảng Bình chiến thắng”.

Hồng Quân
baodatviet.vn

Phục kích tiêu diệt “Pháo đài bay”

QĐND – Thực hiện chỉ thị của Quân chủng Phòng không – Không quân, từ cuối năm 1968, Binh chủng Không quân tiếp tục tổ chức một bộ phận lực lượng ở Quân khu 4, phối hợp cùng các lực lượng phòng không đánh máy bay địch, bảo vệ tuyến đường vận tải giao thông chiến lược. Đặc biệt là nghiên cứu quy luật, thủ đoạn hoạt động của máy bay B-52 và tìm cách đánh máy bay B-52 của Không quân Mỹ.

Cơ quan tham mưu binh chủng và các trung đoàn không quân xây dựng kế hoạch, tổ chức cho một số phi công có kinh nghiệm chiến đấu huấn luyện phương án đánh máy bay B-52 và máy bay AC-130 của địch. Bộ tư lệnh Binh chủng đã chọn lựa, tổ chức huấn luyện một số phi công Mig-17 và Mig-21 đánh địch ban đêm ở tầm cao trong điều kiện thời tiết phức tạp; tổ chức cho một số biên đội bí mật vào các sân bay Quân khu 4 làm nhiệm vụ phục kích máy bay B-52.

Phi công Đinh Tôn, người phát hiện máy bay B-52 đầu tiên của lực lượng không quân. Ảnh tư liệu

Binh chủng Không quân cử một số cán bộ tham mưu, phi công lên đỉnh đèo Mụ Giạ (Quảng Bình) trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của máy bay B-52 địch cả ban ngày và ban đêm.

Ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn từ Đa Phúc bay vào Sân bay Đồng Hới, đến 19 giờ 13 phút cùng ngày, Đinh Tôn nhận lệnh xuất kích. Với quyết tâm cao không để lỡ thời cơ tiêu diệt địch, anh cho Mig-21 cất cánh, phát hiện được hai chiếc máy bay B-52, nhưng ở thế đối đầu không đánh được nên phải quay về hạ cánh ở Sân bay Thọ Xuân (Thanh Hóa).

Ngày 20-10-1971, Binh chủng tiếp tục đưa một biên đội 2 chiếc Mig-21 vào trực chiến ở Sân bay Vinh và một biên đội Mig-21 vào trực chiến ở Sân bay Anh Sơn. Đến 20 giờ cùng ngày, phát hiện máy bay B-52 địch hoạt động ở vùng trời Sầm Nưa, phi công Vũ Đình Rạng trực bay ở Sân bay Anh Sơn nhận lệnh xuất kích. Vào 20 giờ 46 phút cùng ngày, Mig-21 còn cách tốp B-52 khoảng 100km, theo lệnh chỉ huy anh thả thùng dầu phụ, kéo máy bay lên cao 10.000m. Còn cách địch 15km, Vũ Đình Rạng bật ra-đa và phát hiện B-52 cách 11km ở phía trước, anh tăng tốc độ cho máy bay tiếp cận gần mục tiêu, đến cự ly 8km anh bắn một quả tên lửa. Khi vòng máy bay lại, nhìn thấy một chiếc B-52 khác, anh bắn tiếp quả tên lửa thứ hai rồi nhanh chóng thoát ly, hạ cánh an toàn lúc 21 giờ 15 phút xuống Sân bay Anh Sơn.

Theo xác nhận của Không quân Mỹ, trận này một chiếc B-52 bị hỏng động cơ do trúng tên lửa, buộc phải hạ cánh ở Sân bay U-Đôn, Thái Lan. Đây là trận đánh đầu tiên của không quân ta với máy bay B-52, một trận đánh được chuẩn bị công phu, chỉ huy và dẫn đường tốt, giữ được bí mật bất ngờ cho đến khi nổ súng. Tuy chưa bắn rơi tại chỗ máy bay địch, song đây là thực tế đã chứng minh, máy bay Mig-21 của ta có thể bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của địch.

HOÀNG NAM
qdnd.vn

Bộ đồ bay của Trung tướng Phạm Tuân

Đã 40 năm, nhưng Trung tướng Phạm Tuân vẫn nhớ như in trận đánh B-52 đêm 27/12/1972.

Sau khi cất cánh trong đêm tối, ông bay giữa các lớp mây ở độ cao 500m, khoảng cách đến mục tiêu là 10km. Đúng lúc đó ông nhận được lệnh tấn công. Vì muốn tiếp cận mục tiêu gần hơn nữa để ăn chắc, ông đã thực hiện mệnh lệnh đó chậm lại. Sau khi phóng 2 quả tên lửa, cho máy bay bổ nhào xuống, ông đưa máy bay xuống độ cao an toàn và hạ cánh. Mấy giờ sau có tin thông báo chính thức Không quân Việt Nam đã bắn rơi B52 của Mỹ. Cái tên Phạm Tuân luôn được nhắc tới với thành tích là phi công đầu tiên của Việt Nam bắn rơi B52, phi công đầu tiên của Việt Nam bay vào vũ trụ…

Nhưng ít ai biết, để có những chiến công vang dội ấy, ông đã phải trải qua bao gian khổ hiểm nguy. Một trong những tình huống hiểm nghèo đối với Anh hùng phạm Tuân là ngày 18/12/1972, máy bay Mỹ bất ngờ tấn công sân bay của ta. Đường băng cất cánh, đài chỉ huy phá hủy, liên lạc bị cắt. Phạm Tuân là phi công đầu tiên cất cánh lên bầu trời sau khi có báo động.

Bộ đồ bay của Trung tướng Phạm Tuân.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nhiên liệu trên máy bay sắp cạn, cần hạ cánh khẩn cấp, Phạm Tuân đã quyết định hạ cánh ở sân bay vừa bị đánh bom. Đêm tối, không hề có đèn pha trên sân bay, máy bay hạ cánh chỉ nhờ ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pha. Khi máy bay vừa chạm đất thì lập tức bị tụt xuống hố bom. Tốc độ hạ cánh của MIG – 21 khá cao và chiếc máy bay đã lộn nhào rồi trượt đi khoảng 300m, bụng hướng lên trời và quay trở lại 180 độ. Chiếc máy bay gần như đã bị phá hủy, may mắn là nó nhanh chóng dừng lại và không bốc cháy. Phạm Tuân bị va đập rất mạnh trong buồng lái, nhưng nhờ bộ đồ bay ông đã thoát chết.

Nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, Trung tướng Phạm Tuân vẫn cất giữ bộ đồ bay và chiếc mũ phi công ở nơi trang trọng nhất trong nhà mình, như một lời nhắc nhở về một thời gian khổ và hào hùng. Hiện nay chiếc mũ đã cũ đi rất nhiều, những móc khóa không còn nguyên vẹn, ngay cả tấm kính chắn trước mặt cũng ố mờ với vài vệt xước, bộ quần áo sờn bạc, dù được sản xuất tại Liên xô bằng thứ vải khá đặc biệt… Ông nâng niu kỉ vật này không chỉ vì những chiến công lừng lẫy mà một phần bởi nó gắn với những kỷ niệm sinh tử.

Phạm Cường
baodatviet.vn

Đánh máy bay địch bằng mọi quy mô, từ mọi hướng

QĐND – “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của thế trận phòng không nhân dân (PKND) và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam, được phát huy và kế thừa từ truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đỉnh cao của PKND là chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, cuối tháng 12-1972, đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B -52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương lân cận.

Nội dung cơ bản nhất của PKND là tổ chức phòng tránh, thông báo, báo động và đánh trả không quân địch. Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng lực lượng không quân chiến lược và phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất để tiến công ta, với tham vọng “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”. Biện pháp và thủ đoạn phổ biến là đi đôi với đánh phá ác liệt bằng không quân, hải quân, từ leo thang từng bước đến tiến công ồ ạt các thành phố, thị xã lớn, các huyết mạch giao thông thủy, bộ, các cơ sở kinh tế, văn hóa, các vùng đông dân, hệ thống đê điều, đập nước… hòng cứu vãn sự bị động về chiến lược trên chiến trường miền Nam.

Xác máy bay F -111 bị quân dân miền Bắc bắn rơi trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972. Ảnh tư liệu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã thực hiện một cuộc chiến tranh nhân dân trên mặt trận đối không từ Trung ương đến các địa phương, nhất là các thành phố lớn đều có sự chuẩn bị chủ động về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tổ chức PKND. Các hoạt động SSCĐ, sơ tán, bảo đảm giao thông, vận tải, y tế, đánh trả được triển khai nhanh chóng. Các hoạt động xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… cũng được chuyển hướng phù hợp với tình hình. Trên cơ sở một cuộc chiến tranh nhân dân, PKND đã nhanh chóng hình thành với đầy đủ yêu cầu và nội dung, đó là toàn dân vừa đánh máy bay, vây bắt giặc lái, vừa làm công tác phòng tránh, thông báo, báo động; toàn dân khắc phục hậu quả, cứu hỏa, cứu sập, cứu thương; toàn dân làm công tác giao thông vận tải, toàn dân vừa chiến đấu vừa sản xuất, vừa bảo vệ hậu phương, vừa phục vụ tiền tuyến.

Một yếu tố làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là lực lượng phòng không quốc gia và PKND đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ. Bằng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không quốc gia, PKND, quân và dân ta đã tạo nên hệ thống hỏa lực phòng không rộng khắp, hiểm hóc, nhiều tầng, nhiều lớp; sử dụng cả lối đánh phân tán và tập trung; đánh máy bay địch bằng mọi quy mô; đánh địch từ xa đến gần; đánh bằng cả lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động; đánh địch từ tầm thấp, đến tầm trung và tầm cao; đánh địch đến từ mọi hướng, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến đấu và chiến thắng không quân Mỹ. Chúng ta đã xây dựng, tổ chức lực lượng với khẩu hiệu: “Toàn dân bắn máy bay Mỹ, toàn dân tham gia vây bắt giặc lái; già trẻ, trai, gái bằng súng bộ binh đều tham gia bắn máy bay Mỹ, mỗi người dân là một chiến sĩ”. Nét phát triển sáng tạo của nghệ thuật tổ chức lực lượng tác chiến PKND chống không quân hiện đại của Mỹ là cách đánh độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không ”, lực lượng bắn máy bay của dân quân, tự vệ đã tổ chức và kiện toàn các đơn vị dân quân “tay cày, tay súng” và tự vệ “tay búa, tay súng”. Đến tháng 12-1972, ta có 54.000 chiến sĩ dân quân, tự vệ với hàng trăm súng, pháo phòng không các loại. Các đơn vị tự vệ vừa bám chắc nhiệm vụ sản xuất, vừa sẵn sàng tham gia chiến đấu, khắc phục địa hình chật hẹp và tầm bắn hạn chế, hầu hết tận dụng nóc nhà cao tầng trong nội thành để bố trí các trận địa súng máy cao xạ (12,7mm, 14,5mm…). ở các khu phố của Ba Đình, Hoàn Kiếm, ta bố trí hỏa lực tự vệ khá tập trung. Như vậy, với lực lượng dân quân, tự vệ có nhiệm vụ đánh máy bay địch ở tầm thấp, xen kẽ với các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa đánh địch ở tầm trung và tầm cao, chúng ta có lưới lửa phòng không dày đặc của ba thứ quân được tổ chức chặt chẽ theo mệnh lệnh chỉ huy thống nhất, tổ chức đánh trả máy bay Mỹ đạt hiệu quả cao. Lực lượng PKND mà nòng cốt là dân quân, tự vệ trong 12 ngày đêm đã bắn rơi 11 máy bay địch, chiếm tỷ lệ 13,5% tổng số máy bay bị bắn rơi trong chiến dịch. Có những trận đánh xuất sắc như cụm súng máy phòng không 14, 5mm của tự vệ Hà Nội bố trí ở Vân Đồn, đã bắn rơi 1 máy bay F -111…

Lưới lửa PKND trong 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch, đánh bại không quân của đế quốc Mỹ, giành chiến thắng vĩ đại trong thời đại Hồ Chí Minh…

Thiếu tướng Ngô Mạnh Hà, Cục trưởng Cục PKLQ
qdnd.vn

Vẫn còn nhiều bài học từ chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

(ĐVO) Do Viện Lịch sử quân sự tổ chức, nằm trong các hoạt động kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, hội thảo đã tập hợp được các gần 70 tham luận quý giá từ các nhà khoa học trong và ngoài quân đội. Đặc biệt, hội thảo còn có sự tham gia của các nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia sự kiện trên nhiều lĩnh vực.

Các tham luận tại hội thảo đã tập trung khẳng định, làm sáng tỏ sâu sắc những vấn đề về tầm nhìn chiến lược của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; Mối quan hệ biện chứng giữa thắng lợi trên chiến trường và đàm phán ngoại giao;…

Thiếu tướng PGS, TS  Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam báo cáo tổng thuật hội thảo.

Trong đó, các ý kiến đánh giá Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là một trong 10 trận đánh lịch sử, một trong ba trận quyết chiến chiến lược diễn ra tại Thăng Long – Hà Nội trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Bên cạnh những bài học đã tổng kết từ chiến thắng này còn có rất nhiều bài học khác cần được đúc rút, tổng kết để làm phong phú thêm kho tri thức lịch sử, chính trị, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo và đại diện của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân chủng Phòng không – Không quân, thành ủy Hà Nội, các vị lão thành cách mạng.

>> Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến
>> Điện Biên Phủ trên không: Phục dựng hình ảnh B-52, SAM-2, MiG-21
>> Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2

>> Triển lãm sách báo ‘Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không’
>> 70 tham luận mới về chiến thắng B-52

baodatviet.vn

Triển lãm sách báo ‘Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không’

(ĐVO) Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012), thực hiện kế hoạch số 232/KH-TH của Tổng cục Chính trị về tổ chức các hoạt động kỷ niệm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Thư viện Quân đội tổ chức triển lãm sách báo chuyên đề “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không bản hùng ca của thế kỷ XX”.

Tại triển lãm, thư viện sẽ giới thiệu hơn 800 cuốn sách và tư liệu xuất bản ở trong và ngoài nước viết về Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không được lựa chọn trong kho sách phong phú và đa dạng của thư viện.

Các cuốn sách tập trung chủ yếu vào các nội dung như: sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Quân đội Nhân dân anh hùng – Truyền thống vẻ vang; Chiến tranh phá hoại của Đế Quốc Mỹ; Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không; Ý nghĩa bài học chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”; Thế giới viết về chiến thắng của nhân dân ta; hình ảnh…

Cùng với sách báo, tư liệu giấy, tại cuộc triển lãm này Thư viện Quân đội còn giới thiệu các hình ảnh, thư mục, cơ sở dữ liệu điện tử, tài liệu viết về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Thông qua triển lãm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” giúp đông đảo bạn đọc trong và ngoài quân đội có thêm tư liệu để hiểu sâu sức và toàn diện hơn về chiến công vĩ đại này của dân tộc ta, về ý nghĩa to lớn của thắng lợi mà nhân dân ta và quân đội ta đã phải trải qua bao gian khổ, hy sinh mới giành được.

Triển lãm sẽ mở cửa từ ngày 21/11-31/12/2012 phục vụ rộng rãi mọi đối tượng có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

>> 70 tham luận mới về chiến thắng B-52

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)
>> Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52′ trong bảo tàng Hà Nội

>> Phòng không Việt Nam và xu hướng thế giới
>> Chùm ảnh về ‘rồng lửa’ của Quân đội nhân dân Việt Nam

Chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam:

>> ‘Chúng tôi từng chiến đấu ở Việt Nam’
>> Quật đổ siêu pháo đài bay
>> Ký ức một vị tướng

baodatviet.vn

S-300 sẵn sàng bảo vệ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

Về Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng không – Không quân), đơn vị chủ công đánh B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vào những ngày tháng 11, chúng tôi được chứng kiến khí thế luyện tập sôi nổi của các chiến sĩ tên lửa hôm nay.

Tại Đoàn Tên lửa phòng không 64, ngay sau khi Sở chỉ huy Đoàn chuyển đơn vị vào cấp 1, tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng máy các loại xe tác chiến gầm vang, báo hiệu “trận đánh” của tên lửa S-300 sắp bắt đầu…

“Khắc tinh” của “giặc trời”

Ngay sau khi nhận lệnh từ Sở chỉ huy cấp trên, Sở chỉ huy Đoàn Tên lửa phòng không 64 (Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không – Không quân) nhanh chóng chuyển toàn đoàn vào cấp 1. Các xe tác chiến nhanh chóng cơ động triển khai chiếm lĩnh các công sự chiến đấu. Công tác triển khai hoàn thành trước chỉ tiêu thời gian cho phép. Các kíp chiến đấu nhanh chóng vận hành triển khai vũ khí trang bị về trạng thái chiến đấu.

Tại vị trí xe điều khiển, theo lệnh của chỉ huy bắn, Thiếu tá Nguyễn Trần Luyện, Phó đoàn trưởng Tham mưu trưởng Đoàn 64, các thành phần khẩn trương kiểm tra chức năng, đánh giá khả năng sẵn sàng chiến đấu của khí tài.

Sau khoảng một phút 30 giây, tham số trên các màn hiện sóng và tín hiệu đèn báo khí tài tốt, sẵn sàng chiến đấu. Giải quạt chiến đấu quay về hướng X; đài radar phát hiện mục tiêu mọi độ cao tiến hành sục sạo phát hiện mục tiêu trong 360 độ; kíp đài điều khiển sục sạo ở hướng được chỉ định.

Trên màn hiện sóng, mục tiêu được xác định là máy bay ném bom chiến lược, đang bay ở cự ly 200km, độ cao 10km, tốc độ 250m/s. Trung úy Nguyễn Văn Đạt, Sĩ quan bắt bám sát, cùng các trắc thủ căng mắt quản lý chặt mục tiêu.

Khi mục tiêu vào đến cự ly 160km, Thiếu tá Nguyễn Trần Luyện hạ lệnh phóng! “Quả đạn” bay vút vào không trung. Tại cự ly 148km, đạn gặp mục tiêu. Tín hiệu mục tiêu ngay lập tức bị xóa trên màn hình, khẳng định mục tiêu đã bị tiêu diệt gọn.

Lúc này, gương mặt đẫm mồ hôi của các sĩ quan trên xe điều khiển mới giãn ra. Đây là một trong nhiều tình huống đánh địch tiến công đường không, bảo vệ mục tiêu của Đoàn 64.

Xe điều khiển cơ động chiếm lĩnh trận địa.

Theo Trung tá Nguyễn Quốc Văn, Đoàn trưởng Đoàn 64, các tình huống luyện tập được đưa ra đều sát thực tế chiến đấu, sát đặc thù nhiệm vụ của đơn vị nên trình độ cá nhân, khả năng hiệp đồng của các thành phần kíp chiến đấu được nâng lên qua từng bài tập…

“Với vũ khí trang bị hiện có và với trình độ của các kíp chiến đấu, chúng tôi khẳng định có thể đánh thắng vũ khí công nghệ cao của địch trong tác chiến đường không, khi có tình huống xảy ra”, Trung tá Văn khẳng định chắc nịch.

Coi trọng tự đào tạo chuyển loại

Đoàn 64 là một trong những đơn vị của Quân chủng Phòng không – Không quân được đầu tư các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đơn cử như tổ hợp tên lửa phòng không S-300. Đây là loại vũ khí có hỏa lực mạnh, độ chính xác và tính chống nhiễu cao, có thể đối chọi có hiệu quả với các loại tên lửa và máy bay hiện đại của đối phương trong chiến tranh công nghệ cao.

Để có thể tiếp thu và làm chủ số khí tài nói trên, các cán bộ của Đoàn có nền tảng kiến thức về khoa học kỹ thuật, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú đã được tuyển chọn và đưa đi đào tạo chuyển loại vũ khí, khí tài mới ở nước bạn và được bắn đạn thật nghiệm thu khí tài. Khi về đơn vị, số cán bộ này đã tiến hành tự đào tạo chuyển loại cho sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của đơn vị.

Thượng tá Bùi Văn Khỏa, Chính trị viên Đoàn 64 khẳng định: “Bằng nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, nên công tác tự đào tạo chuyển loại khí tài mới là nhiệm vụ đạt kết quả nổi bật của Đoàn trong những năm qua. Đối với sĩ quan mới về đơn vị, sau 3 tháng huấn luyện, đơn vị sẽ tiến hành đánh giá bước đầu; sau 6 tháng phải đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sau một năm phải đạt khá trở lên trên cương vị được giao”.

Nhân viên tiêu đồ quản lý chắc các mục tiêu trên không.

Bám sát phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, các kíp chiến đấu của Đoàn 64 đã được huấn luyện từ đơn giản đến phức tạp, từ cá nhân đến hiệp đồng, từ lý thuyết đến thực hành; huấn luyện “khan” kết hợp nhuần nhuyễn với huấn luyện điện; tập trung huấn luyện các bài bắn cơ bản, đánh mục tiêu trên không, đặc biệt mục tiêu là các loại vũ khí công nghệ cao. Trong huấn luyện thực hiện tốt quan điểm cấp trên dạy cấp dưới, người đã được chuyển loại truyền đạt cho người chưa được chuyển loại.

Cùng với huấn luyện tại chỗ, Đoàn 64 còn tích cực tham gia huấn luyện diễn tập vòng tổng hợp, huấn luyện đêm…nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện thời gian. Tính đến nay, 100% kíp chiến đấu của Đoàn 64 đều đảm nhiệm tốt nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu.

“Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng bộ Đoàn 64 luôn đạt đơn vị vững mạnh toàn diện và là đơn vị huấn luyện giỏi nhiều năm liên tục. Đặc biệt, năm 2012, tham gia diễn tập vòng tổng hợp của Sư đoàn 361, đơn vị được Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân tặng bằng khen; các lần trực sẵn sàng chiến đấu tăng cường đều hoàn thành tốt nhiệm vụ”, Đoàn trưởng Nguyễn Quốc Văn cho biết.

Giữa những ngày cả nước đang hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, được hòa mình vào không khí luyện tập của các chiến sĩ tên lửa S-300, chúng tôi thêm tin, thế hệ các chiến sĩ phòng không – không quân hôm nay, trong đó có bộ đội tên lửa S-300 sẽ tiếp nối xứng đáng truyền thống của lớp cha anh đi trước, luôn cảnh giác cao độ, sẵn sàng chiến đấu thắng lợi, vì sự bình yên của bầu trời Tổ quốc…

baodatviet.vn

Điện Biên Phủ trên không: SAM-3 chưa kịp tham chiến

Trong năm 1972, Việt Nam nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc hai tổ hợp tên lửa phòng không mới, SAM-3 và Hồng Kỳ 2 (HQ-2).

(ĐVO) Câu hỏi đặt ra là liệu 2 loại tên lửa phòng không mới này có tham gia chiến dịch bảo vệ thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc trong 12 ngày đêm cuối năm 1972?

“Nuối tiếc” SAM-3

SAM-3 là hệ thống tên lửa đất đối không (Liên Xô gọi là S-125 Pechora) do Cục Thiết kế Trung ương Almaz nghiên cứu phát triển và đưa vào sử dụng từ năm 1961.

SAM-3 có tầm bắn hiệu quả ngắn hơn và độ cao diệt mục tiêu thấp hơn so với SA-2. Nhưng tên lửa rất hiệu quả khi tấn công mục tiêu bay thấp, cơ động cao và có khả năng kháng nhiễu điện tử mạnh hơn so với SA-2.

Một hệ thống SAM-3 gồm: 3 bệ phóng (mỗi bệ 4 đạn) và đài điều khiển hỏa lực SNR-125.

Đạn tên lửa dùng cho SAM-3 thiết kế 2 tầng động cơ: động cơ khởi tốc nhiên liệu rắn (thời gian đốt 2,6 giây) và động cơ hành trình nhiên liệu rắn (thời gian đốt 18,7 giây).

Trên tầng động cơ khởi tốc có gắn 4 cánh vây hình chữ nhật, ở phần thân trên có 4 cánh vây cố định và 4 vây chuyển động nhỏ hơn ở đầu tên lửa. Tên lửa được điều khiển bằng sóng vô tuyến.

Hai biến thể đạn chính dùng cho SAM-3 gồm: đạn V-600 có đầu đạn nổ tạo mảnh (nặng 60kg) và tầm bắn 15.000m; đạn V-601 lắp đầu đạn nổ tạo mảnh (nặng 70kg, số mảnh tạo 4.500), vùng sát thương tới 35.000m, độ cao bay 18.000m.

Được đưa vào phục vụ trong lực lượng phòng không Liên Xô từ những năm 1960 nhưng mãi tới năm 1972, Liên Xô bắt đầu viện trợ tên lửa SAM-3 cho Việt Nam.

Nếu các trung đoàn SAM-3 kịp thời triển khai chiến đấu thì có thể chúng ta đã bắn rơi nhiều B-52 hơn.

Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, từ tháng 6/1972, cán bộ chiến sĩ của ta mới sang Liên Xô học tập sử dụng SAM-3. “SAM-3 có tốc độ bắn rất nhanh, độ cao tuy không lớn hơn so với SA-2 nhưng ở trong tầm với tới B-52. SAM-3 có xác suất trúng mục tiêu cao hơn”, ông nói.

Ngày 5/12/1972, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 277 (trang bị SAM-3) về tới Hà Nội, đóng quân tại Vân Nội, Vân Trì, Đông Anh, Hà Nội. Tại đây, trung đoàn đã củng cố lại tổ chức, sắp xếp lại cán bộ, quán triệt, nhiệm vụ, chuẩn bị trận địa, chờ vũ khí – khí tài về là triển khai chiến đấu ngay.

Tới đêm 18/12, Trung đoàn 276 – đơn vị SAM-3 thứ hai về đến ga Kép (Bắc Giang) được lệnh dừng lại. Trung đoàn cho bộ đội xuống tàu, kịp thời sơ tán về làng Kép Hạ để chờ các đoàn tàu chở vũ khí khí tài về triển khai chiến đấu.

Với quyết tâm cao, mặc mưa bom bão đạn, địch đánh phá suốt ngày đêm, ban chỉ huy trung đoàn 276 tập trung mọi khả năng cho tiểu đoàn hỏa lực 169 hoàn chỉnh đồng bộ bước vào chiến dịch trước. Tiểu đoàn 169 đã chiếm lĩnh và triển khai trận địa ở Bắc Hồng (Đông Anh, Hà Nội), các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật làm việc hết sức mình triển khai nhanh dây chuyền lắp ráp được 4 quả đạn SAM-3 chuyển cho tiểu đoàn 169.

Rất tiếc, khi công tác chuẩn bị chiến đấu hoàn tất, tên lửa đã nằm trên bệ sẵn sàng diệt B-52 thì chiến dịch phòng không đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của Đế Quốc Mỹ vào Hà Nội kết thúc.

“Trong niềm hân hoan đón mừng chiến thắng của dân tộc, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 276 ai cũng nuối tiếc đã không kịp phóng đạn đánh vào những chiếc máy bay cuối cùng của địch trên bầu trời Hà Nội. Nhiều người đã thốt lên: Nếu như đạn về đồng bộ với vũ khí khí tài thì trung đoàn đã phát huy được hỏa lực tham gia những trận đánh cuối cùng bảo vệ Hà Nội”, tài liệu Lịch sử Trung đoàn 276 viết.

Thất vọng Hồng Kỳ 2

Hệ thống tên lửa phòng không tầm trung – cao Hồng Kỳ 2 (HQ-2) do Trung Quốc thiết kế cải tiến từ thế hệ Hồng Kỳ 1 (HQ-1) được nước này sao chép từ hệ thống S-75 Dvina của Liên Xô.

Trang bị của một hệ thống tên lửa HQ-2 tương tự hệ thống S-75 Dvina của Liên Xô với 6 bệ phóng và đài điều khiển hỏa lực cùng các xe hỗ trợ khác.

Đạn tên lửa HQ-2 thiết kế 2 tầng gồm tầng khởi tốc dùng nhiên liệu rắn và động cơ hành trình dùng nhiên liệu lỏng. Tên lửa lắp đầu đạn nổ tạo mảnh nặng 190kg, vùng sát thương 12-32km, độ cao diệt mục tiêu 12-32km, tốc độ hành trình 1.150m/s. Đạn HQ-2 có độ chính xác trong phát bắn đầu tiên là 68%.

So với HQ-1, HQ-2 được giới thiệu là cải tiến mạnh về khả năng kháng nhiễu điện tử đối phó với các loại máy bay Mỹ. Nhưng thực tế, trên chiến trường Việt Nam, HQ-2 không thể hiện được nhiều.

Dù đã được cải tiến nhưng HQ-2 không thể đối phó với nhiễu điện tử của Mỹ.

Đầu những năm 1970, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam một Trung đoàn tên lửa HQ-2.

Ngày 6/5/1972, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 73/QĐ-QP giao cho Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức thêm Trung đoàn tên lửa 268 do đồng chí Trịnh Đình Xuyến làm trung đoàn trưởng và đồng chí Yến làm chính ủy.

Trung đoàn 268 biên chế 3 tiểu đoàn hỏa lực 38-39-49 và tiểu đoàn kỹ thuật 50. Đoàn 268 trang bị hệ thống tên lửa đất đối không HQ-2.

Toàn thể cán bộ và chiến sĩ trung đoàn do chuyên gia Trung Quốc trực tiếp huấn luyện. Ngay sau khi huấn luyện xong, hệ thống HQ-2 được đưa vào chiến đấu thử nghiệm nhưng không phát huy hiệu quả trong điều kiện nhiễu điện tử phức tạp.

“Hồng Kỳ 2 là loại tên lửa cải tiến từ S-75 Dvina nhưng cải tiến không triệt để. Trong quá trình chiến đấu, Hồng Kỳ 2 rất khó bắt mục tiêu trong điều kiện bị đối phương gây nhiễu điện tử mạnh, đạn phóng lên rơi xuống đất”, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết.

Như vậy, cả hai hệ thống tên lửa mới của phòng không Việt Nam trong năm 1972 là SAM-3 và HQ-2 đều không tham chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Trong khi việc không thể triển khai kịp SAM-3 là điều đáng tiếc thì HQ-2 là sự thất vọng khi không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật chiến đấu.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 tại Hưng yên. Ông nhập ngũ tháng 2/1960, năm 1972 ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) cấp bậc Thượng úy. Năm 1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Năm 1999, ông được phong hàm Trung tướng – Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 2003, ông chính thức nghỉ hưu.

baodatviet.vn

Điện Biên phủ trên không: Không thiếu đạn, không ‘nối tầng’ SAM-2

(ĐVO) Vậy thực hư chuyện này là như thế nào?

SAM-2 thừa sức với tới B-52

Máy bay ném bom chiến lược B-52 là thiết kế đồ sộ của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ. Chiếc máy bay có chiều dài lên tới 48,5m, sải cánh 56,4m, cao tới 12,4m, trọng lượng cất cánh tối đa tới 220 tấn.

B-52 trang bị 4 cặp (8 chiếc) động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy cho phép đưa “con quái vật 220 tấn” lên trời cao, đạt tốc độ tối đa hơn 1.000km/h, bán kính tác chiến hơn 7.000km. B-52 có khả năng mang gần 30 tấn bom trong khoang.

Đặc biệt, trong khi bay ném bom, B-52 thường bay ở độ cao ném bom hiệu quả 11-12.000m, trần bay khi ném bom tối đa là 17.000m.

Trong khi đó, về phần mình, SAM-2 trang bị cho bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam có vùng sát thương xa đến 34km, độ cao đạt 27km, hoàn toàn thừa sức vượt qua trần bay của B-52 để bắn hạ “siêu pháo đài bay” này.

SAM-2 là cái tên mà phương Tây định danh Hệ thống tên lửa đất đối không tầm cao S-75 Dvina.

S-75 Dvina thừa sức tiêu diệt B-52 mà không cần “nối tầng”.

Trong quá trình sử dụng ở Liên Xô và Việt Nam, SAM-2 nhiều lần bắn hạ mục tiêu ở độ cao 19-20km.

Ngày 1/5/1960, phòng không Liên Xô đã sử dụng tên lửa SAM-2 để bắn hạ một máy bay trinh thám tầng cao U-2 của Mỹ ở độ cao 20km.

Còn ở Việt Nam, ngày 26/7/1965, Tiểu đoàn 64 (Trung đoàn 263) đã dùng SAM-2 bắn rơi tại chỗ một máy bay không người lái tầng cao BQM-34A ở độ cao tới 19km.

Ngày 7/2/1966, Tiểu đoàn 84 (Trung đoàn 238) bắn rơi tại chỗ một BQM-34A ở độ cao 20km.

Như vậy, qua những thí dụ kể trên và so sánh thông số kỹ thuật cơ bản của SAM-2 và B-52 có thể khẳng định không cần thiết phải “nối tầng” SAM-2.

Cũng nhận xét về vấn đề này, trong cuốn “Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam” tác giả Lưu Trọng Lân viết: “Chúng ta thấy rõ việc cải tiến nâng cao tầm bắn cho tên lửa SAM-2 là không cần thiết, mà trong thực tế là không hề diễn ra. Đây là sự hiểu lầm đáng tiếc của một vài nhà báo”.

Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, trong quá trình triển khai chiến đấu trong nhiều năm, bộ đội Việt Nam cùng chuyên gia Liên Xô thực hiện một số cải tiến bộ khí tài nhưng là ở những mặt khác, không phải là “nối tầng”.

Thiếu đạn tên lửa đánh B-52?

Bên cạnh thông tin sai lệch về “nối tầng tên lửa đánh B-52”, một thông tin khác cũng gây tranh cãi trong nhiều năm là vấn đề thiếu đạn để đánh B-52. Thực tế việc thiếu đạn trong chiến dịch 12 ngày đêm không hoàn toàn chính xác.

Trao đổi với Đất Việt về vấn đề này Trung tướng Nguyễn văn Phiệt cho biết: “Trong cả chiến dịch 12 ngày đêm, chúng ta bắn chưa đến 350 quả đạn, nếu so với kho đạn ở Hà Nội thì còn hơn 300 quả. Như vậy, chúng ta vẫn còn thừa đạn đánh B-52. Đó là chưa kể việc chúng ta “hồi sinh” hàng trăm quả đạn hỏng, hết thời gian phục vụ kịp thời đánh B-52”.

Cũng theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, việc thiếu đạn ở các tiểu đoàn hỏa lực chủ yếu là do lắp ráp đạn không kịp. Đạn tên lửa SAM-2 khi chuyển từ Liên Xô sang đều ở trong tình trạng tháo rời. Từng bộ phận tên lửa được sếp gọn trong các thùng bảo quản. Chúng sẽ được các đơn vị kỹ thuật (thường gọi là Tiểu đoàn 5) lắp ráp lại, kiểm tra hệ thống điện, nạp nhiên liệu và chuyển đến tiểu đoàn hỏa lực.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ bầu trời Hà Nội, dù rất nỗ lực, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 5 làm việc với cường độ cao hết mức nhưng vẫn không thể nào đáp ứng được yêu cầu của các tiểu đoàn hỏa lực nên mới xảy ra tình trạng “trắng đạn” trên bệ phóng tại một số khẩu đội tên lửa.

“Một vấn đề nữa cũng làm chậm việc chuyển đạn cho các đơn vị hỏa lực, các xe chở đạn không thể vào trận địa do các tuyến đường giao thông bị đánh phá dữ dội. Ví dụ, trong trận đánh rạng ngày 21/12, Trung đoàn chúng tôi có 4 tiểu đoàn thì 2 tiểu đoàn hết đạn, tiểu đoàn 57 còn 4 đạn, tiểu đoàn 93 còn 5 đạn. Nhưng xe tiếp đạn không về được do đường bị đánh phá nên không thể vào chuyển đạn mặc dù chỉ cách trận địa vài kilomet”, Trung tướng Phiệt cho biết.

Bộ đội tên lửa đưa đạn vào bệ phóng.

Ngoài ra, còn có một số sự hiểu lầm khác do phim ảnh chưa truyền tải đúng thực tế. Trong bộ phim “Hà Nội 12 ngày đêm” của đạo diễn Bùi Đình Hạc, có cảnh cán bộ lắp ráp đạn nói với người chiến sĩ lái xe rằng “đơn vị nào đánh giỏi thì cho nhiều đạn”. Đây là một câu nói hoàn toàn sai!

Thực tế, việc chuyển đạn từ Tiểu đoàn này sang Tiểu đoàn khác là điều bất khả thi. Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, đạn tên lửa của mỗi Tiểu đoàn – Trung đoàn tên lửa được chuyển sang có “cốt, phách” (khác nhau. Việc thay đạn tên lửa từ đơn vị này sang đơn vị khác phải thay đúng “cốt, phách” mới điều khiển được. Việc thay thế này sẽ mất rất nhiều thời gian.

“Cốt” ở đây có thể được hiểu là tần số các rãnh đạn (của đài điểu khiển), để đạn tên lửa khi phóng đi (nhiều quả cùng lúc) sẽ không bị lẫn với cánh sóng điều khiển mỗi đài điều khiển hỏa lực hay trong cùng một đài điểu khiển.

Mỗi tiểu đoàn được phân 3 “cốt” (6 đạn trên bệ, 2 đạn/cốt) đài điểu khiển có 3 rãnh  để điều khiển các quả tên lửa. Trong một trung đoàn, mỗi tiểu đoàn có một “phách” riêng để khi phóng đạn không lẫn sóng điều khiển mỗi đài giữa các tiểu đoàn.

Mỗi tiểu đoàn SAM-2 trang bị 24 quả đạn, trong đó 6 quả nằm trên bệ phóng, 12 quả nằm ở tiểu đoàn kỹ thuật (trong đó có 6 quả đã lắp ráp nhưng chưa kiểm tra và 6 quả chưa lắp ráp).

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 tại Hưng yên. Ông nhập ngũ tháng 2/1960, năm 1972 ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) cấp bậc Thượng úy. Năm 1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Năm 1999, ông được phong hàm Trung tướng – Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 2003, ông chính thức nghỉ hưu.

baodatviet.vn

Nguyễn Biểu, sứ giả trung dũng

Nguyễn Biểu người làng Bình Hồ, huyện Chi La, nay là Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông đỗ Thái học sinh vào cuối đời nhà Trần, đầu đời nhà và mất trong một lần đi sứ phương Bắc.

>> Lăng Mạc Cửu đẹp nhất Hà Tiên
>> Chuyện khó tin: không ai biết có đền Trung Liệt?

Khi Trần Trùng Quang lên ngôi, Nguyễn Biểu được phong chức Điện tiền ngự sử. Ông là người cương trực, gặp việc sai trái dám can ngăn, nói thẳng. Khi Trương Phụ nhà Minh đóng quân ở núi Nghĩa Liệt thuộc đất Nghệ An, Trùng Quang đế đắp thành phía nam Chi La đối lũy với nhau.

Sau Trùng Quang đế chuyển vào Hóa Châu – nhà Minh có chiếu tìm con cháu nhà Trần để lập ngôi. Trùng Quang đế sai Nguyễn Biểu đi sứ cầu phong. Nguyễn Biểu đến dinh giặc, Trương Phụ bắt Nguyễn Biểu quỳ lạy, Nguyễn Biểu không theo. Trương Phụ lại muốn uy hiếp tinh thần của Nguyễn Biểu, sai quân soạn một bữa tiệc đặc biệt.

Thức ăn, đồ uống bày trong một cái quả màu sơn nâu, khảm xà cừ, đậy nắp nghiêm trang. Nguyễn Biểu vào tiệc. Lính hầu của Trương Phụ mở nắp quả thì có một cái đầu người luộc chín để trong một cái đĩa bạc sang trọng.

Phố Nguyễn Biểu, Ba Đình, Hà Nội.

Nguyễn Biểu hơi sửng sốt nhưng sắc mặt vẫn không thay đổi, ông ung dung rót rượu, cầm đôi đũa ngà và dao khoét mắt chấm muối nhắm với rượu một cách ngon lành.Sau khi nuốt xong con mắt, uống xong chén rượu, Nguyễn Biểu tiếp tục khoét con mắt thứ hai để vào bát, rồi rót tiếp một chén rượu đầy, cười và nói một mình nhưng cốt để cho Trương Phụ nghe được: “Không mấy khi người Nam được nhắm rượu với đầu luộc người Bắc”.

Ông còn kiêu hãnh ngâm một bài thơ: “Ngọc thiệt trân tu đã đủ mùi/Gia hào thêm có cỗ đầu người/Nem công chả phượng còn chưa béo…“. Đọc xong bài thơ, Nguyễn Biểu tươi cười khoan thai đứng dậy. Trương Phụ tròn xoe mắt kinh ngạc.

Để tỏ ra mình cũng biết trọng người tài, có khí phách, Trương Phụ lấy lễ tiếp đãi Nguyễn Biểu rồi tiễn chân sứ giả ra về.

Khi Nguyễn Biểu về rồi, tên Việt gian Phan Liêu ton hót với Trương Phụ: “Người đó là một hào kiệt nước Nam, ngài muốn lấy nước Nam mà thả người ấy ra thì xong sao được”. Trương Phụ hạ lệnh cho quân đuổi theo gọi Nguyễn Biểu trở lại. Nguyễn Biểu biết trở lại là chết, bèn dừng chân, xuống ngựa đề vào cột Cầu Lam “Thất nguyệt sơ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử”.

Xong rồi, lên ngựa thong dong trở lại dinh Trương Phụ. Trương Phụ trách Nguyễn Biểu ra về không quay đầu ngựa lại chào là vô lễ. Nguyễn Biểu giận, chỉ tay mắng vào mặt Trương Phụ rằng: “Trong bụng toan tính cướp nước người ta, ngoài mặt lại nói láo phô trương là danh nghĩa, trước đã hứa lập con cháu họ Trần mà bây giờ lại chia lập quận, huyện, không những cướp bóc của báu, mà còn tàn hại sinh dân. Mày là thằng giặc tàn ác, bạo ngược”. Trương Phụ giận tím gan ra lệnh trói Nguyễn Biểu vào cột cầu gần chùa Yên Quốc rồi giết đi.

Không chỉ người dân Việt Nam tôn vinh Nguyễn Biểu mà chính kẻ thù, sau khi giết hại Nguyễn Biểu cũng đem lòng thán phục. Trương Phụ đã nói với quân lính: “Thật là một bậc tráng sĩ, là một hào kiệt nước Nam”.

Theo Kienthuc.net
baodatviet.vn

17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 4)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bộ đội Không quân Nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công xuất sắc bắn hạ các máy bay hiện đại của địch.

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa
>> Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời
>> Kỳ 3: Rồng lửa SA-2 – Nỗi kinh hoàng của giặc trời

(ĐVO) Kỳ 3: “Én bạc” tiêu diệt “Con ma, Thần Sấm”

Sao Đỏ – Yên Thế cùng ghi công

Ngày 23/8/1967, trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923 lần đầu chiến đấu phối hợp giữa loại máy bay khác nhau, MiG-17 và MiG-21 giành thắng lợi bắn rơi 5 máy bay địch.

Nhận lệnh từ sở chỉ huy, lúc 14h58 phi công Nguyễn Nhật Chiêu (số 1) và Nguyễn Văn Cốc (số 2) thuộc trung đoàn 921 (Sao Đỏ) cất cánh từ Nội Bài bay về hướng Tuyên Quang.

Phát hiện địch số lượng 20 chiếc, cự ly 10-15km, ở tầm thích hợp phi công Nguyễn Nhật Chiêu ấn nút phóng tên lửa bắn hạ một F-4. Khi chuẩn bị thoát ly, ông tiếp tục thấy  8 máy bay địch. Cách 1.500m, âm lượng bắt mục tiêu của đầu tự dẫn tên lửa đạt lớn nhất, ông ấn nút phóng quả thứ hai đánh trúng chiếc số 2 của địch. Về gần tới sân bay, Nguyễn Nhật Chiêu lại thấy thêm 4 F-105 nhưng không có điều kiện công kích tiếp.

Bay số 2 – phi công Nguyễn Văn Cốc tăng tốc lên ngang số 1, cách địch 1.000m, ông ấn nút phóng tên lửa diệt thêm một F-4. Có thể nói, đây là lần đầu tiên biên đội MiG-21 vận dụng thành công chiến thuật “số 2 đồng thời công kích” đạt hiệu quả cao.

Phi công Nguyễn Nhật Chiêu (trái) và Nguyễn Văn Cốc (phải).

Cùng thời gian trong ngày 23/8, tại sân bay Sao Vàng – căn cứ trung đoàn tiêm kích 923 Yên Thế, biên đội 4 máy bay MiG-17 do các phi công Cao Thanh Tịnh (số 1) – Lê Văn Phong (số 2) – Nguyễn Văn Thọ (số 3) – Lê Hồng Điệp (số 4) cất cánh đánh địch.

Dưới sự dẫn đường của Sở chỉ huy, khi đang giảm độ cao, số 1 phát hiện tốp F-105, cự ly còn cách 300m ông xiết cò bắn hạ một F-105. Số 2 làm nhiệm vụ yểm hộ, bảo vệ cho số 1 công kích. Khi thấy 4 chiếc F-4 lao về phía mình, ở cự ly cho phép ông bắn hạ một F-4. Tuy nhiên, trên đường trở về sân bay, máy bay anh bị trúng đạn địch, anh đã anh dũng hi sinh.

Số 3 phát hiện địch ở khu vực đỉnh núi Tam Đảo, nhiều lần công kích nhưng không trúng mục tiêu. Số 4 làm nhiệm vụ yểm họ cho số 3 cho tới khi trận đánh kết thúc. Cả hai đã về hạ cánh an toàn.

1 chọi 36

Sáng ngày 3/1/1968, phát hiện máy bay địch vào đánh Hà Nội, cả hai trung đoàn 921 và 923 đồng loạt xuất kích tiêu diệt địch. Trong trận này, ta đã diệt hai chiếc F-105. Tuy nhiên, khi trở về sân bay một MiG-21 của trung đoàn 921 bị hỏng do hạ cánh ngoài đường băng. Vì thế lực lượng trực chiến chỉ còn đúng một chiếc.

15h chiều ngày 3/1/1968, địch tiếp tục huy động 36 chiếc máy bay gồm cường kích F-105 và tiêm kích F-4 hộ tống từ phía Yên Châu, Sơn La về hướng Hà Nội. Được phép của Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân và Bộ tư lệnh Không quân, trung đoàn quyết định cho chiếc MiG-21 duy nhất do phi công Hà Văn Chúc điều khiển xuất kích đánh địch.

Bay tới vùng trời Yên Châu, Sơn La, đồng chí phát hiện ba tốp địch bay phía trước, một tốp F-4 lướt qua trên đầu. Một tốp F-4 từ phía khác phát hiện ra máy bay ta liền lao tới đón đầu.

Sau nhiều lần được sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên dẫn vào công kích địch, máy bay của Hà Văn Chúc và quân địch đã vượt qua quãng đường dài quần lượn, bám đuổi nhau về tới vùng trời Tam Đảo, phát hiện phía trước  8 chiếc F-105 đang dần khép vào đội hình, đồng chí lao xuống.

Đến cự ly có lợi, anh giữ máy bay ổn định và ấn nút phóng tên lửa vào một máy bay địch, F-105 bùng cháy. Đội hình địch rối loạn, tan vỡ ngay lập tức. Đặc biệt, tên giặc lái nhảy dù là Đại tá liên đội phó Không quân Mỹ tại Korat (Thái Lan) đồng thời cũng chỉ huy 35 chiếc còn lại.

Chiều hôm đó, bộ đội tên lửa còn bắn rơi thêm 2 máy bay địch nữa. Phi công Hà Văn Chúc đã ứng dụng có hiệu quả chiến thuật đánh nhanh, thọc sâu, bằng lực lượng rất nhỏ đánh vào đội hình lớn của địch. Điều này góp phần phát triển lên một bước mới về nghệ thuật tác chiến của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Sao Đỏ – Lam Sơn sát cánh

Ngày 27/6/1972, lực lượng không quân ta lần đầu tiên đánh thử nghiệm thành công phương pháp chiến đấu hiệp đồng giữa các trung đoàn không quân tiêm kích khác nhau trên cùng một mặt trận, một hướng đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Nhận báo cáo phát hiện có hai phi công Mỹ nhảy dù tại khu vực Mộc Châu, đồng thời theo dõi trên bản tiêu đồ thấy xuất hiện máy bay địch bay về hướng Mộc Châu. Sở chỉ huy binh chủng không quân nhận định: lực lượng vào tìm cứu phi công Mỹ nhảy dù và ra lệnh đánh theo phương án đã định.

11h49 từ sân bay Nội Bài (trung đoàn 921 Sao Đỏ), biên đội Phạm Phú Thái – Bùi Thanh Liêm cất cánh. Tới 11h53, từ sân bay Kép (trung đoàn 927 Lam Sơn), biên đội Nguyễn Đức Soát – Ngô Duy Thư cất cánh.

Cả hai biên đội được dẫn vào Mộc Châu tạo thành hai mũi phát hiện và công kích tiêu diệt địch. Biên đội Soát – Thư liên tục được sở chỉ huy thông báo địch, thực hiện phương pháp đồng thời công kích. Nguyễn Đức Soát (số 1) tiếp cận mục tiêu, đường ngắm ổn định, ấn nút phóng liên tiếp 2 quả tên lửa đánh trúng chiếc F-4. Đồng thời, khi số 1 công kích, Ngô Duy Thư (số 2) tiếp cận và bắn tên lửa diệt thêm một F-4.

Cùng thời gian, Phạm Phú Thái (số 1) – Bùi Thanh Liêm (số 2) được mặt đất dẫn tới khu vực Nghĩa Lộ – Vạn yên. Ở độ cao 3.000m, điểm ngắm ổn định, số 1 phóng tên lửa diệt một F-4, tiếp đến số 2 phóng một quả  tên lửa diệt chiếc F-4 còn lại.

Trận đánh kết thúc thắng lợi, công tác tổ chức chỉ huy cũng như phi công đầy sáng tạo, mưu trí. Cả 4 phi công bắn rơi 4 máy bay F-4 của địch và về hạ cánh an toàn.

Chui vào “điểm chết”

Ngày 5/7/1972, nhận lệnh từ cấp trên, biên đội MiG-21 do Nguyễn Tiến Sâm – Hạ Vĩnh Thành trực tại sân bay Nội Bài cất cánh đánh địch bảo vệ đường số 1, tuyến giao thông huyết mạch đưa hàng viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa vào nước ta.

Sau 22 phút, từ lúc cất cánh tới lúc trở về sân bay hạ cánh an toàn, biên đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cản phá thành công, phá vỡ đội hình địch, bắn rơi 2 chiếc F-4 ở khu vực Thái Nguyên.

Biên đội tiêm kích MiG-21 xuất kích.

Đặc biệt, trong trận đánh phi công Nguyễn Tiến Sâm sau khi bắn trúng một chiếc F-4, do anh bay quá gần nên cả chiếc MiG-21 đã lao vào điểm nổ của máy bay địch. Thiếu oxy làm động cơ tắt máy, anh bình tĩnh xử lý mở máy trên không và trở về sân bay an toàn trong niềm vui sướng của đồng đội. Chiếc MiG-21 bị ám khói đen toàn bộ do chui qua điểm nổ máy bay địch.

Lấy máy bay địch đánh địch

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, bộ đội không quân cũng tham gia chiến đấu với trận đánh ngày 28/4 oanh tạc sân bay Tân Sơn Nhất phá hủy nhiều máy bay ngụy quân.

Điểm đặc biệt trong chiến công này, không quân ta đã dùng máy bay chiến lợi phẩm A-37 thu giữ được từ những sân bay ở các tỉnh đã giải phóng để đánh địch. Phi đội đặc biệt này lấy tên “phi đội quyết thắng” với 6 phi công: Nguyễn Thành Trung, Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hoàng Mai Vương, Trần Văn On, Hán Văn Quảng cùng 5 máy bay cường kích A-37.

Các phi công ta từ ngoài bắc được khẩn trương huấn luyện chuyển loại từ MiG-17 sang A-37. Chỉ sau 5 ngày bay chuyển loại, 16h17 phút cả phi đội  đã cất cánh. Mặc dù thời tiết phức tạp, Nguyễn Thành Trung (số 1) vẫn bình tĩnh dẫn đội hình bay đến sân bay Tân Sơn Nhất.

Từ độ cao khoảng 1.600m, Nguyễn Thành Trung bổ nhào cắt bom nhưng bom không ra. Từ Đễ (số 2) cắt bom 2 quả/lượt, cả 4 quả bom rơi trúng mục tiêu, những cột khói bốc lên giữa khu vực để máy bay. Trong ống nghe của các phi công vang lên tiếng quát hỏi hoảng hốt: “A-37 của phi đoàn nào?” không ai trả lời.

Tiếp đó, Nguyễn Văn Lục (số 3), Hoàng Mai Vương và Trần Văn On (số 4),  Hán Văn Quảng (số 5) bổ nhào cắt bom. Những trái bom đều rơi trúng mục tiêu. Không quân ngụy hoàn toàn bị bất ngờ, tới lúc số 5 vào cắt bom chúng mới biết. Qua vô tuyến, phi công ta nghe được những tiếng kêu: “Tân Sơn Nhất bị oanh kích”.

Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng đồng chí Lê Văn Tri, Đào Đình Luyện chụp ảnh kỷ niệm với Phi đội Quyết Thắng.

Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Văn Lục nhanh chóng vào cắt bom lần thứ hai, nhưng đến lần thứ ba Nguyễn Thành Trung phải cắt bom bằng hệ thống “khẩn cấp”, 4 quả bom mới rời khỏi máy bay, một khối lửa lớn bùng lên từ bãi đỗ những máy bay F-5 đang đậu.

Các phi công thoát ly trở về trong điều kiện mây dày đặc, đạn pháo phòng không của địch ở dinh Độc Lập bắn lên. Tất cả lần lượt hạ cánh an toàn lúc 18h5 phút.

Trận tập kích đã phá hủy và làm hỏng nặng cụm máy bay tập trung ở khu vực sân đỗ gồm 24 chiếc A-37 và F-5E, 4 chiếc máy bay vận tải, tiêu diệt hàng trăm tên địch.

Những tiếng bom của Không quân Nhân dân Việt Nam được xem như hiệu lệnh tổng công kích cho đại quân ta đồng loạt nổ súng, tiến công giải phóng Sài Gòn, cắt cầu hàng không di tản của địch.

Bằng những máy bay và bom đạn vừa thủ được của địch, không quân ta đã đánh vào một trong những sào huyệt cuối cùng của Mỹ – Ngụy, góp phần giành thắng lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất Tổ quốc.

Lê Nam
baodatviet.vn