Tag Archive | Hồ Chí Minh

Lời phát biểu ở sân bay Gia Lâm khi đi dự lễ kỷ niệm 40 nǎm Cách mạng Tháng Mười về (21-12-1957)

Tôi xin cảm ơn các vị đã đón tôi thân mật và nồng nhiệt.

Tôi và Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ sang Liên Xô dự lễ kỷ niệm 40 nǎm Cách mạng Tháng Mười. Đây là một cuộc kỷ niệm rất to lớn chưa từng có và không đâu có. Giai cấp công nhân tất cả các nước trên thế giới rất vui mừng, các nước trên thế giới đều có đại biểu tham gia lễ kỷ niệm này.

Tất cả đều rất vui mừng thấy những thành công của Liên Xô và biết ơn Liên Xô đã mở kỷ nguyên mới cho loài người, kỷ nguyên tiến lên chủ nghĩa xã hội; và biết ơn Liên Xô đã bảo vệ hoà bình thế giới.

Sau lễ kỷ niệm đã có hai cuộc Hội nghị của 12 đảng cộng sản và công nhân và 64 đảng cộng sản và công nhân và lao động. Hai cuộc Hội nghị đó đã có hai bản tuyên bố và tuyên ngôn có ý nghĩa lịch sử vạch cho ta thấy:

– Sự đoàn kết của giai cấp công nhân;

– Lực lượng hoà bình rất to lớn.

Sau đó, các lãnh tụ Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa có mời tôi ở lại nghỉ ở các nước đó, nhưng vì Liên Xô và Đông Âu khí hậu đang lạnh nên tôi nghỉ ở Trung Quốc. Hiện giờ tôi rất mạnh khoẻ.

Ít hôm nữa sẽ bước sang nǎm mới, sẽ có nhiều công tác mới, phải có cố gắng mới. Tất cả chúng ta, toàn dân, toàn Đảng, Chính phủ sẽ đẩy mạnh công việc mới, thu thắng lợi mới để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Phát biểu ngày 24-12-1957.

—————————–

Báo Nhân dân, số 1386, ngày 25-12-1957.
cpv.org.vn

Điện mừng Đại hội nhân dân Á -Phi (27-12-1957)

Thay mặt nhân dân Việt Nam là một thành viên trong đại gia đình nhân dân các nước Á – Phi, tôi xin trân trọng gửi lời chào mừng nhiệt liệt tới Đại hội nhân dân Á – Phi họp giữa lúc các lực lượng đế quốc xâm lược đương theo đuổi một chính sách chiến tranh lạnh để đẩy mạnh cuộc chạy đua vũ trang, làm tǎng thêm tình hình cǎng thẳng và nguy cơ chiến tranh, đặc biệt là ở khu vực Trung, Cận Đông, đe doạ chủ quyền và nền độc lập của nhiều nước Á – Phi. Tôi tin rằng những người đại biểu của 1.500 triệu nhân dân Á – Phi đoàn kết trong cuộc đấu tranh cho hoà bình, chống đế quốc xâm lược, sẽ ngǎn chặn được những kẻ phiêu lưu gây một cuộc chiến tranh nguyên tử tàn khốc cho nhân loại, làm cho những nguyên tắc về chung sống hoà bình nêu lên trong Hội nghị Bǎngđung được thắng lợi, để củng cố tình hữu nghị và sự hợp tác giữa nhân dân Á – Phi và nhân dân toàn thế giới. Tôi xin chúc Đại hội thành công rực rỡ.

Ngày 27 tháng 12 nǎm 1957

——————————

Báo Nhân dân, số 1391, ngày 30-12-1957.
cpv.org.vn

Lời giới thiệu Tập 9

Tập 9 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, bao gồm những tác phẩm, bài nói, bài viết, những điện vǎn, thư từ, … của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ đầu nǎm 1958 đến hết nǎm 1959. Các vǎn kiện in trong tập sách này thể hiện sâu sắc những quan điểm, đường lối và chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo nhân dân ta thực hiện những nhiệm vụ trước mắt của thời kỳ lịch sử mới “là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (tr.156).

Bước sang nǎm 1958, miền Bắc đã kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Chúng ta bắt đầu thực hiện kế hoạch 3 nǎm (1958-1960) mà trọng tâm là cải tạo nền kinh tế quốc dân và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, là hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam đòi hoà bình thống nhất Tổ quốc. Đó cũng là nội dung chủ yếu được đề cập đến trong các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tập sách này.

Về nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là phải “đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, đồng thời ra sức củng cố và phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, lực lượng lãnh đạo của nền kinh tế quốc dân (tr.319), trong đó “Hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (tr. 589).

Để nông dân phát huy được vai trò tích cực và to lớn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương từng bước đưa nông dân vào con đường hợp tác hoá nông nghiệp bằng những hình thức, bước đi thích hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của cán bộ cũng như sự nhận thức và giác ngộ của nông dân.

Trong nhiều bài nói của Người với cán bộ và xã viên hợp tác xã nông nghiệp ở các địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh mục đích của việc hợp tác hoá “Là để cải thiện đời sống nông dân, làm cho nông dân được no ấm, mạnh khoẻ, được học tập, làm cho dân giàu, nước mạnh” (tr.537), muốn vậy, việc xây dựng hợp tác xã phải làm từ nhỏ đến lớn, “phải theo nguyên tắc tự nguyện tự giác, không gò ép” (tr.245), “phải tổ chức, quản lý hợp tác xã cho tốt” (tr.537), “Phải làm thế nào cho xã viên trong hợp tác xã thu nhập nhiều hơn thu nhập của nông dân trong tổ đổi công và tổ viên trong tổ đổi công thu nhập nhiều hơn thu nhập của nông dân còn làm ǎn riêng lẻ” (tr.410), “phải chú ý phân phối cho công bằng… cán bộ phải chí công vô tư,… phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh,… cần chú trọng đến chất lượng, không nên chạy theo số lượng” (tr.537, 538), phải “ra sức thực hiện khẩu hiệu cần kiệm xây dựng hợp tác xã” (tr.539).

Nhấn mạnh quan điểm hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời rất chú trọng vấn đề cải tạo các thành phần kinh tế khác theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đối với thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và những người lao động riêng lẻ khác, Người chủ trương “bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ǎn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện”

(tr. 589). Với các thành phần kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh và đối với tư sản dân tộc, cǎn cứ vào sự phân tích khoa học những đặc điểm kinh tế tư bản chủ nghĩa và thái độ chính trị của giai cấp tư sản dân tộc ở miền Bắc nước ta trong điều kiện chính quyền dân chủ nhân dân ngày một củng cố và không ngừng lớn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương dùng phương pháp hoà bình cải tạo: “không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác.” (tr.589).

Những chủ trương thấu tình đạt lý đó vừa thể hiện tư tưởng nhân vǎn Hồ Chí Minh, vừa củng cố được Mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy tinh thần yêu nước của tất cả các tầng lớp, các giai cấp trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong nhiều bài viết và bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: cải tạo và xây dựng là hai mặt có quan hệ chặt chẽ và phải được tiến hành đồng thời, trong đó xây dựng “là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài“. Người chỉ rõ, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta phải tiến hành đồng thời việc cải tạo và xây dựng trên tất cả các mặt: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, khoa học – kỹ thuật và tư tưởng – vǎn hoá nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới; phải đặc biệt coi trọng việc “phát triển thành phần kinh tế quốc doanh“, bảo đảm vai trò lãnh đạo của nó trong nền kinh tế quốc dân; phải gắn chặt nhiệm vụ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp;

Trong quá trình từng bước xây dựng một nền công nghiệp hiện đại, Người chủ trương phải chú trọng cả công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, cả công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương theo phương châm “tự lực cánh sinh”, “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Người còn chỉ rõ rằng khâu then chốt để đẩy mạnh phát triển công nghiệp là phải gắn chặt việc cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và cải tiến tổ chức. Theo Người, để quản lý tốt xí nghiệp, “Tất cả cán bộ lãnh đạo phải thật sự tham gia lao động chân tay. Tất cả công nhân phải tham gia công việc quản lý các tổ sản xuất, dưới sự lãnh đạo của cán bộ các phân xưởng. Sửa đổi những chế độ và quy tắc không hợp lý.” (tr.230).

Đồng thời với việc lãnh đạo cải tạo xây dựng nền kinh tế nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm chǎm lo củng cố bộ máy nhà nước khi cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới. Những tư tưởng của Người về tính chất và tổ chức của một Nhà nước kiểu mới “của dân, do dân và vì dân” và sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, đã được khẳng định trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi…: “Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.” (tr.586). “Để xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, chúng ta cần phải tǎng cường không ngừng sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với Nhà nước dân chủ nhân dân.” (tr.586).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân. Người xác định nhiệm vụ quan trọng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là “phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.”(tr.140). Người giao cho quân đội ta một nhiệm vụ hết sức nặng nề và mới mẻ là phải vừa sản xuất, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa từng bước xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại.

Trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiều quan điểm sâu sắc, thể hiện đường lối đúng đắn và lập trường của nhân dân ta kiên quyết đấu tranh đến cùng cho sự nghiệp hoà bình thống nhất đất nước. Người khẳng định: “Nước Việt Nam là một, từ Nam chí Bắc chung một tiếng nói, một lịch sử, một nền vǎn hoá và một nền kinh tế. Nhân dân Việt Nam đã hy sinh nhiều xương máu đấu tranh cho tự do độc lập, quyết không một lực lượng nào ngǎn cản được sự nghiệp thống nhất Tổ quốc của mình. “ (tr.40). “Nguyện vọng tha thiết và ý chí sắt đá của toàn dân Việt Nam là thực hiện thống nhất đất nước bằng phương pháp hoà bình. Đấu tranh cho thống nhất là con đường sống của nhân dân Việt Nam”. (tr.53). Người còn chỉ rõ phương châm và phương pháp của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ này là phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở pháp lý được quốc tế thừa nhận, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất Tổ quốc như Hiệp định Giơnevơ quy định, và để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh đó thì mỗi người phải “ra sức xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”…, phải “làm cho chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội ở miền Bắc đều hơn hẳn miền Nam, làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam và của cả toàn dân.” (tr.25).

Một nội dung hết sức quan trọng của tập sách này là những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, về xây dựng con người mới, về rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên. Người dạy: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa” (tr. 303).

Trong bài Đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện đạo đức cách mạng: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải cóđạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang“. (tr.283). Người nói: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.” (tr.293).

Ngoài ra, trong tập này còn có những bài nói, bài viết, trả lời phỏng vấn … của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những chuyến đi thǎm hữu nghị các nước hoặc đón tiếp các nguyên thủ, chính khách nước ngoài đến thǎm nước ta. Những bài đó thể hiện rõ những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về những vấn đề quốc tế, về đường lối đối ngoại hoà bình, hữu nghị và hợp tác trên cơ sở tôn trọng độc lập, bình đẳng và cùng có lợi.

*

*      *

So với lần xuất bản thứ nhất, Tập 9 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ hai đã bổ sung thêm được trên 50 đầu tài liệu.

Tập ký Tình nghĩa anh em Việt – Ấn – Miến do Người viết dưới bút danh L.T., đǎng trên báo Nhân dân từ số 1447 (26-2-1958) đến số 1474 (25-3-1958), sau khi xác minh, đã được chính thức đưa vào tập sách này.

Trong phần Phụ lục, ngoài những Sắc lệnh và Quyết định do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, chúng tôi còn đưa vào một số vǎn kiện như Tuyên bố chung, Thông cáo chung… của Người với nguyên thủ một số nước để bạn đọc tiện tham khảo và tra cứu.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do hạn chế về thời gian và nǎng lực, chắc chắn tập sách này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc gần xa.

VIỆN NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
hãy nhấn vào đây Down load

Lời chúc nǎm mới (1-1-1958 )

Thưa đồng bào yêu quý,

Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái chúc đồng bào nǎm mới vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết và tiến bộ.

Đồng thời tôi xin thay mặt đồng bào gửi lời nhiệt liệt chúc mừng nhân dân các nước bạn.

Thưa đồng bào, nhân dịp này, tôi xin tóm tắt nhắc lại mấy việc rất quan trọng trên thế giới và trong nước trong nǎm vừa qua để đồng bào rõ thêm.

Nói chung thì tình hình thế giới nǎm ngoái phát triển theo hướng có lợi cho lực lượng hoà bình và chủ nghĩa xã hội.

Việc rất quan trọng là sau ngày kỷ niệm 40 nǎm Cách mạng Tháng Mười (1) vĩ đại, đã có cuộc Hội nghị của các đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa (2) . Tiếp theo đó thì có cuộc Hội nghị của 64 đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động trên thế giới (3) . Hai cuộc hội nghị ấy đã tỏ rõ sự đoàn kết chặt chẽ không gì lay chuyển được giữa các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô. Nó đã tỏ rõ quyết tâm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh cho hoà bình thế giới, cho độc lập dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay đang có cuộc Đại hội nhân dân Á – Phi họp ở Thủ đô nước Ai Cập (4) , có đại biểu hơn 40 nước tham gia, thay mặt cho 2 phần 3 nhân dân trên thế giới. Tiếp tục và phát triển tinh thần của Hội nghị Bǎngđung (5) , cuộc Đại hội này nhằm mục đích thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa nhân dân các nước Á – Phi, chống chủ nghĩa thực dân, chống chiến tranh và ủng hộ phong trào độc lập của các dân tộc.

Kết quả tốt đẹp của những hội nghị ấy có ảnh hưởng cực kỳ rộng lớn đến vận mạng của nhân dân toàn thế giới: Phong trào đấu tranh cho hoà bình, cho độc lập dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn mạnh, bọn đế quốc hiếu chiến do Mỹ cầm đầu ngày càng bị cô lập, chủ nghĩa thực dân đã đến ngày tan rã.

Trong nước ta từ khi hoà bình lập lại đến nay, toàn dân ta từ Bắc đến Nam ra sức phấn đấu để hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Nhân dân miền Bắc đã vượt nhiều khó khǎn gian khổ, cǎn bản đã hoàn thành cải cách ruộng đất (6), đã thu được nhiều thành tích trong công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển vǎn hoá, làm cho miền Bắc càng thêm vững vàng. Đồng bào miền Nam đã bền bỉ và anh dũng đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm, đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ, đòi thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình.

Sang nǎm mới, thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch.

Đó là một tiến bộ mới trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Chúng ta phải lợi dụng những kinh nghiệm trong mấy nǎm qua, đồng thời xuất phát từ tình hình và đặc điểm của miền Bắc, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải làm cho tốt công tác kế hoạch hoá kinh tế của ta và thực hiện đầy đủ kế hoạch Nhà nước nhằm phát triển kinh tế và vǎn hoá, nâng cao dần đời sống của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động. Phát triển kinh tế và vǎn hoá tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài. Nhân dân ta hãy đoàn kết chặt chẽ dựa trên nền tảng liên minh công nông, bền bỉ phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Xây dựng miền Bắc vững mạnh và tốt đẹp, đồng thời giữ vững và phát triển phong trào yêu nước ở miền Nam là tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thống nhất nước nhà, chúng ta có nhiều thuận lợi ở trong nước và trên thế giới. Cũng như phong trào cách mạng trên thế giới, như công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, ở Trung Quốc và ở các nước anh em khác, phong trào cách mạng ở nước ta đã liên tiếp thắng lợi trong công cuộc chống đế quốc và phong kiến. Dựa vào thuận lợi ấy, phát huy truyền thống cần kiệm và anh dũng của nhân dân ta, chúng ta sẽ vượt được mọi khó khǎn và giành được thắng lợi mới.

Đồng bào cả nước hãy đoàn kết và đấu tranh đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ (8) , đòi lập quan hệ bình thường giữa hai miền, ra sức phấn đấu cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc và cho hoà bình thế giới.

Đồng bào miền Bắc, nhất là anh chị em công nhân, nông dân, thợ thủ công, mỗi người hãy ra sức thi đua sản xuất và tiết kiệm, ra sức sản xuất nhiều, nhanh, tốt và rẻ; do tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm mà xây dựng nước nhà và dần dần cải thiện đời sống.

Cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ở Bắc hãy đoàn kết chặt chẽ với nhau và đoàn kết với đồng bào miền Bắc, ra sức làm việc góp phần vẻ vang vào việc xây dựng và củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội làm nền tảng vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Quân đội và công an ta hãy cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật, ra sức bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự, an ninh, ra sức tham gia phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Anh chị em lao động trí óc hãy cố gắng học tập chủ nghĩa Mác- Lênin, tuỳ theo khả nǎng mà tham gia lao động chân tay, để tự rèn luyện mình và để góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Các cụ phụ lão hãy làm gương mẫu “lão đương ích tráng”, đôn đốc con cháu thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm.

Để xứng đáng là người chủ của nước nhà mai sau, các cháu thanh niên hãy xung phong trong mọi việc: đoàn kết, học tập, lao động.

Các cháu nhi đồng hãy chǎm lo học tập và tuỳ sức mình mà tham gia lao động cho quen.

Đảng viên, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng hãy cố gắng công tác và học tập để tiến bộ không ngừng. Tǎng cường đoàn kết nhất trí trên cơ sở tư tưởng Mác – Lênin, nhận thức đúng đắn về tình hình và nhiệm vụ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật, ý thức đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội.

Kiều bào ở nước ngoài giàu lòng yêu nước, luôn luôn hướng về Tổ quốc, hãy đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, hãy tôn trọng pháp luật của Chính phủ và tǎng cường cảm tình với nhân dân nước mình ở.

Chúng ta đoàn kết nhất trí, cả nước một lòng, ra sức phấn đấu thì chúng ta nhất định thắng lợi!

Nǎm mới, cố gắng mới, thắng lợi mới!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn nǎm!

——————————–

(1) Cách mạng Tháng Mười Nga: Cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I. Lênin, ngày 7-11 (tức ngày 25-10, theo lịch Nga) nǎm 1917, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã vùng dậy lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, thành lập Chính phủ xôviết do V.I. Lênin đứng đầu. Trong cuộc cách mạng này, giai cấp công nhân Nga đã đập tan bộ máy thống trị của giai cấp bóc lột, thiết lập Nhà nước kiểu mới – Chính quyền xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản.

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi đã mở ra một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

(2) Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa: Họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến ngày 16-11-1957. Tham gia Hội nghị có các đoàn đại biểu của 12 nước xã hội chủ nghĩa. Hội nghị đã thảo luận những vấn đề khẩn cấp về tình hình quốc tế, về cuộc đấu tranh cho hoà bình và chủ nghĩa xã hội và những vấn đề quan hệ giữa các đảng mácxít – lêninnít ở các nước xã hội chủ nghĩa. Hội nghị đã nhất trí thông qua một bản Tuyên bố quan trọng. Những vấn đề nêu lên trong bản Tuyên bố có tác dụng đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều và tư tưởng bè phái, củng cố về mặt tư tưởng, tổ chức và tǎng cường sự đoàn kết giữa các đảng cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở những nguyên tắc chung. Bản Tuyên bố cũng nêu lên những nguyên tắc chung về những hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước khác nhau, về ý nghĩa lịch sử của hệ thống xã hội chủ nghĩa và sự cần thiết phải tǎng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Tr. 1.

(3) Hội nghị 64 đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động trên thế giới: Nhân dịp đến Liên Xô dự Lễ kỷ niệm 40 nǎm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước đã tổ chức một cuộc Hội nghị từ ngày 16 đến ngày 19-11-1957 tại Mátxcơva. Tham dự Hội nghị gồm 64 đoàn đại biểu của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế. Tại Hội nghị, các đại biểu đã trao đổi ý kiến về những vấn đề cấp bách của tình hình thế giới và ra bản Tuyên ngôn hoà bình, kêu gọi nhân dân toàn thế giới, những người có thiện chí hãy làm cho nhân loại thoát khỏi sự đe doạ của chiến tranh. Tr.1.

(4) Đại hội Á – Phi họp ở Thủ đô Ai Cập: Tức Hội nghị đoàn kết các nước Á – Phi họp ở Cairô (Ai Cập) từ ngày 26-12-1957 đến ngày 1-1-1958.

Dự Hội nghị gồm có các đoàn đại biểu của 45 nước ở châu á và châu Phi. Tuy có sự khác nhau về chế độ chính trị, nhưng các nước đến Hội nghị đã thống nhất mục đích chung là đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo đảm hoà bình và an ninh giữa các dân tộc.

Trong Tuyên ngôn, Hội nghị tuyên bố hoàn toàn ủng hộ “Những nguyên tắc của Hội nghị Bǎngđung”, kêu gọi nhân dân thế giới áp dụng mọi biện pháp có thể để đi đến những thoả thuận và tǎng cường sự hiểu biết lẫn nhau.

Hội nghị cũng đã kêu gọi chính phủ các nước có vũ khí hạt nhân hãy chấm dứt việc thử và sản xuất vũ khí hạt nhân – bước đầu để đi tới tổng giải trừ quân bị. Sau khi lên án mọi biểu hiện của chủ nghĩa thực dân, Hội nghị đã tuyên bố hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc vì tự do và độc lập, trong đó có Việt Nam; lên án chính sách phân biệt chủng tộc. Hội nghị kêu gọi mở rộng việc buôn bán với tất cả các nước, không có sự phân biệt đối xử; cộng tác chặt chẽ giữa các nước Á – Phi trong việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Hội nghị đã thành lập Hội đồng đoàn kết nhân dân Á – Phi và Ban thư ký của Hội đồng. Tr.1.

(5) Hội nghị Bǎngđung: Họp từ ngày 18 đến ngày 24-4-1955 tại Bǎngđung (Inđônêxia).

Dự Hội nghị, ngoài 5 nước khởi xướng là Inđônêxia, Ấn Độ, Mianma, Xri Lanca và Pakíxtan, còn có 24 đoàn đại biểu các nước thuộc châu á và châu Phi, trong đó có Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thông cáo chung của Hội nghị nêu rõ: chủ nghĩa thực dân, dưới mọi biểu hiện của nó, là một tai hoạ cần phải nhanh chóng tiêu diệt. Hội nghị hoàn toàn ủng hộ quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, lên

án chính sách phân biệt chủng tộc và yêu cầu Hội đồng bảo an Liên hợp quốc kết nạp một số nước, trong đó có nước Việt Nam, làm thành viên của Liên hợp quốc. Thông cáo chung kêu gọi các nước hãy tiến hành ngay việc giải trừ quân bị, nghiêm cấm việc sản xuất vũ khí hạt nhân, thực hiện hoà bình, hợp tác thân thiện và giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng thương lượng.

Hội nghị Bǎngđung thể hiện bước tiến mới của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội ở các nước Á – Phi. Tr. 1.

(6) Cải cách ruộng đất: Cuộc vận động chống phong kiến được thực hiện từ tháng 11-1953 và kết thúc vào tháng 7-1956.

Sau gần 3 nǎm tiến hành, cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc nước ta đã giành được những thắng lợi có tính chất chiến lược: đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến; xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến; thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, đưa nông dân lên địa vị người làm chủ ở nông thôn; tǎng cường và củng cố khối liên minh công nông, cơ sở vững chắc của Mặt trận dân tộc thống nhất và của chính quyền dân chủ nhân dân.

Cải cách ruộng đất là một chủ trương đúng của Đảng. Song trong quá trình thực hiện, có những nơi, những lúc do không quán triệt đúng đường lối của Đảng ở nông thôn, không cǎn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương nên đã phạm những sai lầm nghiêm trọng. Những sai lầm đó đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện và kịp thời chỉ đạo việc thực hiện sửa sai. Tr. 2.

(8) Hiệp định Giơnevơ: Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được thảo luận ở Hội nghị Giơnevơ (Thụy Sĩ).

Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do đồng chí Phạm Vǎn Đồng dẫn đầu.

Tham gia thảo luận về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương có Bộ trưởng Ngoại giao các nước: Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và đại diện của Lào, Campuchia và của chính quyền Bảo Đại.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia, quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956.

Nhưng ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ đã ra sức chống phá việc thi hành Hiệp định. Chúng nhanh chóng hất cẳng Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và cǎn cứ quân sự của chúng hòng xâm lược cả nước ta và toàn bán đảo Đông Dương. Tr.3.

cpv.org.vn

Lời kêu gọi nông dân và cán bộ quyết tâm chống hạn, đẩy mạnh sản xuất vụ Đông-Xuân (5-1-1958)

Cùng đồng bào và cán bộ các cấp,

Sản xuất nông nghiệp trước hết là sản xuất lương thực là việc cần thiết nhất cho đời sống của nhân dân, là bộ phận cực kỳ quan trọng trong kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Cho đến nay, đồng bào nông dân và cán bộ đã cố gắng nhiều để chuẩn bị vụ chiêm này cho tốt.

Nhưng hiện nay hạn hán nghiêm trọng, mà thời vụ đã đến rồi. Hạn lại có thể kéo dài nữa. Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào nông dân và cán bộ hãy quyết tâm chống hạn, đẩy mạnh sản xuất, để thực hiện tốt kế hoạch nǎm mới.

Đồng bào nông dân không nên vì khó khǎn mà nản lòng, không kiên tâm sản xuất và không hiểu rằng sản xuất là cǎn bản để lợi nhà, ích nước.

Cán bộ không được vì khó khǎn mà bi quan ngại khó, thiếu quyết tâm lãnh đạo chống hạn và sản xuất.

Kinh nghiệm trong kháng chiến và trong ba nǎm khôi phục kinh tế vừa qua đã chứng tỏ rằng không khó khǎn nào mà nhân dân ta đoàn kết nhất trí dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ mà không khắc phục được.

Cho nên toàn thể đồng bào nông dân và cán bộ phải:

– Ra sức tập trung lực lượng vào việc chống hạn: khơi giếng, đào ao, sửa cống, đắp đập, khai mương, v.v. để lấy nước mà tát vào ruộng, để cấy cho kịp thời vụ.

– Nhất định không bỏ ruộng hoá, ra sức chǎm bón, vun xới, v.v. cho vụ chiêm này được tốt.

– Các cụ phụ lão hãy đem những kinh nghiệm quý báu của mình ra góp phần giải quyết các khó khǎn về thuỷ lợi và canh tác. Các cụ hãy đôn đốc và khuyến khích con cháu quyết tâm chống hạn và sản xuất.

– Các cháu thanh niên phải xứng đáng là lực lượng chủ chốt và xung phong trong công cuộc đấu tranh chống hạn và sản xuất.

– Cán bộ các ngành, các cấp phải thi đua làm tròn mọi nhiệm vụ chống hạn và chỉ đạo sản xuất, hướng dẫn kế hoạch chống hạn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, với tinh thần trách nhiệm và tinh thần đấu tranh khắc phục khó khǎn.

Thay mặt Đảng và Chính phủ, tôi chờ tin thắng lợi để khen thưởng những thành tích của đồng bào và cán bộ trong cuộc thi đua này.

cpv.org.vn

Nói chuyện với đồng bào tỉnh Hưng Yên (5-1-1958)

Tỉnh ta đã cố gắng chống hạn. Ví dụ như việc vét cống Vǎn Giang, ngòi Triều Dương, đắp đập Đông Hoa, v.v.. Cống Vǎn Giang đã vét xong rồi, bây giờ đồng bào ta phải cố gắng tát, tát cho đủ cấy, đủ nước chứ không phải tát hời hợt.

Những nơi không có cống thì phải ra sức đào mương, đào giếng.

Cán bộ và đồng bào vét cống Vǎn Giang rất đáng khen.

Những chỗ chịu khó tát và gánh nước để chống hạn cũng đáng khen, như xã Minh Phượng, xã Phan Chu Trinh, xã Phan Sào Nam, xã Phạm Hồng Thái. Chúng ta phải học tập những xã nói trên. Đồng bào những xã ấy đã biết lo xa và ra sức chống hạn.

Trong việc chống hạn, phải tự lực cánh sinh, chớ hoàn toàn ỷ lại vào Chính phủ, chớ ỷ lại vào máy bơm nước, chớ ngồi không mà chờ trời. Tục ngữ ta có câu: “Nhân định thắng thiên”. Cách mạng Tháng Tám 9 thắng lợi, kháng chiến thành công, kết quả to lớn đó là do quân và dân ta đoàn kết nhất trí mà thu được. Chống hạn cũng thế.

Đồng bào tỉnh Hưng Yên vốn đã có truyền thống anh dũng trong kháng chiến và chống hạn trước đây, nay phải cố gắng giữ truyền thống tốt đẹp đó.

Chúng ta quyết tâm thì nhất định làm được. Toàn tỉnh ta có 56 vạn người, thì ít nhất cũng có 36 vạn có thể tham gia chống hạn. Tỉnh Hưng Yên có chín vạn mẫu chiêm. Tính đổ đồng bốn người chống hạn một mẫu. Nhất định làm được.

Cán bộ và đồng bào nên nhớ, trước ngày Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta chỉ có độ 5.000 đảng viên. Thế mà đã tổ chức lãnh đạo đồng bào làm Cách mạng Tháng Tám thành công. Nay riêng tỉnh Hưng Yên có hơn 6.000 đảng viên, 24.000 đoàn viên thanh niên, 20 vạn hội viên nông hội, lại có bộ đội, Mặt trận, v.v.. Với lực lượng to lớn ấy chống hạn nhất định thắng lợi.

Chính phủ sẵn sàng khen thưởng cho những huyện, xã và cá nhân nào xuất sắc nhất trong việc chống hạn.

Việc chống hạn là một chiến dịch, cho nên phải có thưởng, có phạt. Cá nhân cán bộ, đồng bào nào xuất sắc nhất sẽ được khen thưởng. Những người nào lười biếng, trốn tránh trách nhiệm là phải phạt.

Tôi tin chắc đồng bào tỉnh Hưng Yên sẽ giữ được truyền thống anh dũng trong kháng chiến và chống hạn mấy nǎm trước.

Cán bộ, đồng bào phải quyết tâm làm được những điều đã hứa hôm nay là chống hạn thành công.

—————————–

Nói ngày 5-1-1958.
Báo Nhân dân, số 1399, ngày 7-1-1958.
cpv.org.vn

Nông dân Trung Quốc chống hạn (11-1-1958)

Nǎm ngoái, ở Trung Quốc nhiều nơi mấy tháng liền không mưa. Nông dân đã dốc hết lực lượng ra chống hạn, không chịu bỏ một sào ruộng hoá.

Kết quả là “người đã thắng trời”. Cả nǎm đã thu hoạch được 285 triệu tấn lương thực. So với nǎm 1949 thì số lương thực đó đã tǎng hơn 70%, so với nǎm 1952 thì tǎng 20%.

Trong việc chống hạn, bà con nông dân Trung Quốc cũng làm như đồng bào nông dân ta, nghĩa là dùng sức người. Ngoài những người già yếu tàn tật, phụ nữ có nghén và các trẻ em, còn tất cả mọi người đều tham gia chống hạn. Chỉ trong vòng ba tháng nǎm ngoái, họ đã đào giếng và khơi mương, lấy nước tưới cho hơn 310 vạn mẫu tây.

Họ cũng gặp nhiều khó khǎn, như ở những miền núi và cao nguyên cao hơn mặt biển 2.000 thước. Song nhờ sức đoàn kết và sự quyết tâm, họ đã vượt mọi khó khǎn và chống hạn đã thắng lợi. Thí dụ: tỉnh Thiểm Tây là một vùng đất khô, lại ít mưa, thế mà họ đã đào mương và giếng vượt mức kế hoạch 28%.

Vừa rồi, hơn 15.000 nông dân ngoại ô Bắc Kinh đã đào xong một con mương dài bảy cây số, rộng hơn sáu thước, sâu hơn ba thước, tưới cho 4.000 mẫu tây. Những ngày Tết dương lịch, chẳng những nông dân không nghỉ mà còn có hơn ba vạn cán bộ, công nhân, học sinh và bộ đội ở Bắc Kinh cũng lợi dụng ngày nghỉ đó, đi tham gia đào mương với nông dân. Mặc dù trời rét như cắt, họ vẫn ra sức đào cả ngày cả đêm, cho nên chỉ trong 20 ngày đã đào xong mương.

Hiện nay, chúng ta cũng đang chống hạn, kinh nghiệm của anh em nông dân Trung Quốc rất quý cho ta. Chúng ta đoàn kết nhất trí và quyết tâm, thì công việc chống hạn của ta nhất định cũng thắng lợi như anh em Trung Quốc.

TRẦN LỰC

—————————

Báo Nhân dân, số 1403, ngày 11-1-1958.
cpv.org.vn

Hồ Chí Minh với sự vận dụng sáng tạo nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của V.I.Lênin vào thực tiễn của Việt Nam

Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã gây cho Nguyễn Ái Quốc một ấn tượng đặc biệt sâu sắc, làm chuyển biến lập trường cách mạng của Người, từ một người yêu nước đến chỗ tin tưởng và đi theo chủ nghĩa cộng sản.

Tiếp tục đọc →

Bản di chúc có chữ “Tuyệt đối bí mật” của Bác Hồ

Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của Người vào ngày 10/5/1965 và sửa lại trong dịp sinh tiếp theo. Người mang di chúc ra viết và dặn lại Vũ Kỳ: “Chú cất giữ cẩn thận, sang năm, mồng 10 tháng 5 nhớ đưa lại cho Bác”. Mở đầu Bản Di chúc năm 1965 có đoạn: “Nhân dịp mừng 75 tuổi… Năm nay tôi 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người “xưa nay hiếm”…”.

Bản Di chúc của Bác mang nét độc đáo rất riêng, dù bút tích Người ghi rõ “Tuyệt đối bí mật” nhưng đây lại là tài liệu được công bố rộng rãi nhất, được nhiều thế hệ học tập, noi theo. Di chúc của Hồ Chủ tịch đã được Bộ Chính trị cho xuất bản và công bố cùng ngày tổ chức lễ quốc tang 9/9/1969.

Những bút tích của Người còn lại trong các Bản Di chúc đã cho thấy, đây là văn bản được Người tập trung thời gian suy nghĩ, chỉnh sửa nhiều nhất so với các văn bản bút tích Người để lại. Điều đó, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Người trước sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhưng đó còn là tấm lòng của vị lãnh tụ với tương lai đất nước.

Hồ Chí Minh bắt đầu viết chúc thư mà Người gọi là tài liệu “Tuyệt đối bí mật” vào 9h sáng ngày 10/5/1965, dịp Người tròn 75 tuổi. “Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp sinh nhật mình; chọn đúng vào lúc 9h, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khỏe tốt nhất trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình…” (Bác Hồ viết di chúc như thế nào – Hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ). Rồi từ đó, mỗi năm, từ mồng 10 đến 20 tháng 5, mỗi hôm, Người dành trọn 1 tiếng, từ 9h đến 10h để chỉnh sửa Di chúc.

Ngoài những nội dung mang tính độc đáo, Di chúc của Hồ Chủ tịch còn có một quá trình lưu giữ, bảo quản cũng độc đáo không kém. Vì những lý do khách quan, vào năm 1989, toàn văn Di chúc của Hồ Chủ tịch cũng như ngày mất của Người mới được công bố bằng Thông báo của Bộ Chính trị khóa VI.

Thường lúc chuẩn bị về trời, tâm lý con người thể hiện qua di chúc là nghĩ và viết về quá khứ, về cuộc đời đã trải qua, đặc biệt là phải quan tâm đến sự việc quan trọng nhất của đời mình đang xảy ra ở thời điểm viết di chúc. Ấy vậy mà di chúc của Bác, chỉ nói đến tương lai của đất nước, dân tộc. Và nhất là những việc của tương lai cần phải làm.

Bác chỉ viết một câu vừa dự báo, vừa khẳng định: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người nhưng nhất định thắng lợi” (Bản Di chúc ngày 15/5/1965).

Và điều lạ nữa là Bác, trong toàn bộ Di chúc và các bản bổ sung, cụm từ “xã hội chủ nghĩa” chỉ được Bác viết một lần khi nói về thanh niên – “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế, xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”.

Từ “cộng sản” được Bác viết một lần trong phần “về phong trào cộng sản thế giới” nhưng là để nói đến sự “bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em”. Như vậy Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản cũng là điều tất yếu như cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhất định thắng lợi như Bác đã dự báo.

Ngày Bác mất cũng trùng với ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Bác khai sinh, ngày 2/9/1945. Di chúc của Bác với những giá trị độc đáo đã trở thành tài sản vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam.

Không chỉ hiện nay mà Di chúc của Bác Hồ mãi mãi về sau vẫn là ngọn đuốc soi đường, là kim chỉ nam cho mọi người, mọi thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo Hoàng Lâm
Báo Giáo dục Việt Nam
Huyền Trang (St)
cpv.org.vn

Vị lãnh tụ bình dị

Sau chặng đường dài, hơn ba mươi nǎm, dấu chân Người in trên 25 quốc gia của thế giới đầy biến động trong những nǎm đầu của thế kỷ 20.

Ngày 28/01/1941, Bác Hồ dừng chân bên cột mốc 108, lòng bồi hồi xúc động, nhìn về phía trước, nơi đó là Tổ quốc, là đất mẹ. Từ giờ phút lịch sử dó, Người sẽ cùng cả dân tộc Việt Nam hướng về tương lai, sắp xếp lại trật tự xã hội với một ý chí mãnh liệt: Dân tộc Việt Nam phải được hồi sinh, phải trở về chính mình như ông cha đã từng gìn giữ trong suốt 4000 nǎm lịch sử.

Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nơi Bác chọn dừng chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc là nơi đầu nguồn, tiếng Tày là Cốc Bó, từ đây như dòng nước mát tuôn chảy mãi về xuôi, đem về sự sống trường tồn.

Những ngày đầu vất vả gian truân với cảnh tĩnh mịch ẩm ướt của núi rừng, Bác vận động anh em, dọn dẹp sửa sang nơi ở cho thoáng mát. Nơi hoang sơ của núi rừng mà Bác như thấy một giang sơn hùng vĩ nên thơ.

“Đại bản doanh” đầu tiên được bố trí thật giản dị, phía trong hang là chỗ ngủ kê mấy thanh gỗ ghép lại, đêm nằm vừa đau lưng, vừa lạnh, phải đốt lửa để bớt đi giá lạnh và ẩm ướt. Những ngày đầu Bác làm việc trong hang nhờ ánh sáng yếu ớt chiếu từ khoang trống nhỏ trên đỉnh hang. Đêm đêm để xua đi nỗi vất vả, thiếu thốn, Bác thường kể chuyện cho anh em nghe về lịch sử các thời kỳ ông cha dựng nước và giữ nước, cũng nếm mật nằm gai mưu cầu nghiệp lớn. Bác kể chuyện thế giới, chuyện chiến tranh, chuyện cổ tích và cả chuyện tiếu lâm, để trong hang có tiếng cười vui. Ǎn uống kham khổ, rau rừng nấu cháo ngô, bắp chuối chấm với muối trắng. Những bữa “cải thiện” là khi bắt được con cá, sǎn được con thú về kho muối mặn ǎn dần.

Khi phía ngoài hang được dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng, ban ngày Bác thường ra phiến đá phía ngoài làm việc, sau giờ làm việc Bác ra ngồi câu cá cạnh gốc cây si bên bờ suối. Để bảo đảm tuyệt đối bí mật chỗ ở, Bác cho làm thêm một cơ sở khác cách đó không xa, nơi có mái núi đá. Bác thường nói vui là một vườn Bách thú, vì ở đây có nhiều rắn rết, bọ rừng. Rồi sau đó Bác còn cho làm tiếp mấy lán nhỏ nữa ở Khuổi Nậm, để đề phòng khi có động. Dẫu ở hang, ở mái đá hay ở lán, Bác cũng luôn sắp xếp nơi ở gọn gàng, sạch sẽ và bí mật. Khi rời đi không để lại dấu vết. Bác tự bố trí nơi nghỉ, nơi làm việc, Bác nhặt từng phiến đá nhỏ xếp thành từng bậc cạnh chỗ nằm, trên các bậc đó Bác để sách, tài liệu, giấy viết, bút mực, máy chữ… mỗi loại quy định chỗ để riêng, ngǎn nắp, gọn gàng, khi cần với tay có thể lấy được, lúc đầu anh em ở với Bác chưa có thói quen gọn gàng nên khi có việc là lúng túng, lộn xộn. Bác luyện dần thành thói quen cho anh em.

Buổi sáng Bác thường dậy sớm hơn tập thể dục, trước cửa hang Bác chọn một nền phẳng nhỏ vừa chỗ đứng tập thể dục, dụng cụ tập đơn giản với hai hòn cuội trắng Bác thường bóp để luyện gân bàn tay (sau này khi đọc sách Bác cũng thường bóp hai hòn cuội). Bác dùng hai hòn “tạ” to nhỏ bằng đá, thay đổi khi tập. Sau mấy phút tập cho ấm người, Bác tắm suối hoặc leo núi. Bác tập leo núi nhiều nên Bác có một sức chịu đựng dẻo dai, khi leo núi anh em trẻ cũng khó mà theo kịp Bác. Buổi sáng Bác vận động anh em tập thể dục để có sức khoẻ chống lại bệnh tật nơi rừng núi hang động ẩm ướt.

Trong bộ quần áo Chàm, quần xắn cao, Bác cùng anh em kiếm củi, hái rau rừng, tǎng gia trồng rau trồng hoa bên bờ suối. Cạnh hang có dòng suối nước chảy trong mát Bác cùng anh em tạo cảnh hòn non bộ, có đá tai bèo, có cây có nước, Bác lấy cây lau làm một chiếc cầu nhỏ, bên cầu có con thuyền gọt bằng thân gỗ trắng, đang cắm sào đứng đợi trông thật sinh động. Có đồng chí khéo tay lấy hòn đá gan gà đẽo con cò đặt cạnh hồ nước như đang mò tép, in bóng xuống mặt nước trông thật nên thơ. Một thế giới sinh vật cảnh nơi núi rừng hoang vu, thiếu thốn, tạo nên cảm giác thanh tao, mãn nguyện, như để quên đi cái đói cái rét của thực tại mà hướng về công việc cho tương lai, bình sinh của cuộc đời mới.

Trong hang có khối thạch nhũ cao quá đầu người Bác dùng dao đẽo, gọt, tạo dáng hình người rồi lấy mực nho vẽ mắt và miệng, ai cũng bảo trông giống ông Tây, Bác bảo đấy là tượng Các Mác. Bác hỏi anh em địa phương tên dòng suối, được biết là suối Giàng, còn ngọn núi cao có tên là núi Khỉ, vì ở đây khỉ rất nhiều, hay còn gọi là núi Đào vì có tích là Tiên Cô đã xuống đây.
Bác cười vui và nói:

– Xưa có tiên cô xuống, nay có tiên cậu, tiên ông đến thật là hay. Rồi Bác nói tiếp – Cụ Các Mác là người muốn tất cả loài người thành tiên, nay ta đặt tên cho núi là núi Các Mác. Cụ Lênin là người thực hiện chủ trương của Cụ Các Mác nên ta đổi tên suối Giàng thành suối Lênin. Từ đó hai địa danh đã đi vào lịch sử của dân tộc.

Từ hang Cốc Bò, mái đá Lũng Lãn hay dưới những mái lán dọc dòng Khuổi Nậm, từ khu Lam Sơn (Nguyên Bình) về Lũng Cát hay chuyển về hang Pác Tẻng, nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm mang nặng tình đồng chí để vượt qua thử thách, gian nan thiếu thốn của buổi đầu dựng nước. Từ nǎm tháng đời thường toát lên một sức mạnh tiềm ẩn mãnh liệt, nơi đây Bác đã triệu tập Hội nghị Trung ương Tám, thành lập Mặt trận Việt minh, ra báo “Việt Nam Độc lập”, huấn luyện cán bộ toả ra trǎm ngả đường của đất nước để chỉ đạo cách mạng… Bác dịch sách, viết báo, làm thơ, ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, lúc ở hang động hay dưới tán lá cây rừng, ánh sáng bắt nguồn từ Bác – từ Pắc Bó nơi thánh địa của cách mạng, nơi xuất phát cuộc hành trình cách mạng của cả dân tộc trên đường Thiên lý hướng về tương lai.

Cách mạng phát triển nhanh chóng, thời cơ đã đến, Bác chuyển về lán Nà Lừa, lấy Tân Trào triệu tập Quốc dân đại hội, phát lệnh Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền trong cả nước. Trên đường về Hà Nội, Bác ghé làng Gạ rồi về 48 Hàng Ngang viết bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cách mạng thành công nhưng khó khăn trǎm bề, thù trong giặc ngoài, thế nước “nghìn cân treo sợi tóc”, Bác phải chuyển chỗ ở nhiều nơi để tránh nguy hiểm, luôn luôn cải trang, lúc đi sớm khi về tối lúc ở số 8 Lê Thái Tổ, khi ở Bắc Bộ Phủ, lúc ngủ ở Quần Ngựa khi về Bưởi… Nhiều nơi đã để lại những kỷ niệm không quên về Bác, trong buổi đầu cách mạng gian nan, vất vả, hiểm nguy. Kháng chiến bùng nổ, Bác lại lên đường mở cuộc trường chinh. Bác về Vạn Phúc viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, về Chùa Trầm chúc Tết Quý Hợi 1947, vai đeo balô lên núi rừng Việt Bắc đi kháng chiến, dưới mái lán lá rừng vách nứa bên Làng Sảo, Bác triệu tập Hội nghị Trung ương chỉ đạo đường lối trường kỳ kháng chiến, rồi đến Khuổi Tấu viết “Việt Bắc anh dũng” về trận thắng Pháp đầu tiên trong cuộc kháng chiến; có phút thư giãn về huyện lỵ Sơn Dương “Đi thuyền sông Đáy” làm thơ; hay về hang Bòng chỉ đạo chiến dịch Biên giới; trở lại Kim Bình dự Đại hội Đảng lần thứ 2; đến Khuôn Điền cùng Trung ương chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử – trận quyết chiến cuối cùng chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới. Hơn 3000 ngày hành quân đi kháng chiến, vượt qua bao gian khổ khó khǎn, lãnh đạo toàn Đảng toàn dân làm nên trận thắng oanh liệt ghi mãi nghìn nǎm và chứng minh cho thế giới một chân lý: một dân tộc dù nhỏ bé nếu biết đoàn kết có thể chiến thắng một đế quốc to, mạnh hơn nhiều lần về vũ khí.

Cuộc sống đời thường đạm bạc nơi chiến khu Việt Bắc, theo Bác suốt ngàn ngày kháng chiến là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Đồng chí Lê Vǎn Nhương (Bác đặt tên cho là Cần) tham gia trong đội dân công hoả tuyến Nghệ An, khéo tay, biết nghề mộc, được cùng một đồng chí nữa chuyên làm lán cho Bác ở, kể lại rằng: Bác yêu cầu tìm chỗ ở cho Bác, nơi yên tĩnh, bí mật, nơi có bóng cây thoáng mát và có đất để tǎng gia, gần nguồn nước, phía sau có núi để dễ làm hầm trú ẩn, thuận lợi cho liên lạc dễ dàng di chuyển khi có động. Làm lán cho Bác không to quá, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc và nơi nghỉ. Lán cao vừa tầm Bác, không cao quá 2m. Làm không cầu kỳ mà giản di, vật liệu sẵn có xung quanh, 3 phía có vách nứa, lán đặt trên 4 cọc tre, lối lên lán làm một cái thang bằng tre khoảng 3 bậc, mặt lán không cao quá, cách mặt đất khoảng nửa mét, tuỳ theo địa hình. Phên vách, sàn làm bằng tre, luồng hoặc nứa. Đồ dùng bày biện phía trong lán lại càng đơn giản hơn. Bố trí một bàn, một ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ nhỏ, một ít sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hai hòn sỏi bóp luyện tay… để cạnh. Một hòm nhỏ đựng tư trang để phía dưới. Chân giường đóng thẳng xuống đất cho chắc chắn, trên vách treo cái quạt bằng lá cây rừng. Cái tẩu thuốc, Bác thường nói vui đấy là điện thoại của Bác, khi cần Bác gõ vào cột tre theo tín hiệu quy định là người giúp việc có mặt. Thời gian rỗi Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tǎng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục. Bác bày cho cách, đếm xong quả nào cắm một que tre khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tǎng gia được và giao cho người quản lý.

Kháng chiến thắng lợi, Bác về Thủ đô Hà Nội, lúc đầu Trung ương có ý định mời Bác về ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ, vì ở đấy có đủ tiện nghi sinh hoạt, bảo đảm tốt cho sức khoẻ của Bác, tiện việc tiếp khách và mọi công việc của một vị lãnh tụ, nhưng Bác không chịu. Bác bảo, Bác chứ không phải viên Toàn quyền, không phải vua, Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân, nên Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của người thợ điện ngày trước, một ngôi nhà bình dị như bao ngôi nhà khác, mái ngói, nền đất, nơi mà mùa nóng thì nhiệt độ cao hơn hẳn xung quanh, ngày thiếu ánh sáng phải thắp đèn. Chỉ có điều tiện duy nhất là gần với anh em phục vụ trong không khí ấm cúng gia đình.

Nǎm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác chỉ nhất trí khi làm theo ý Bác. Bác cho gọi kiến trúc sư Nguyễn Vǎn Ninh để trao đổi việc làm nhà. Bác dặn kiến trúc sư làm theo kiểu nhà sàn của đồng bào Việt Bắc, nơi Bác đã từng sống trong sự đùm bọc, bảo vệ của đồng bào các dân tộc trong những ngày đầu kháng chiến. Ngôi nhà sàn dưới bóng cây cạnh hồ nước, xung quanh có vườn hoa cây cảnh vừa đẹp lại vừa mát là môi trường tốt cho sức khoẻ, lại thuận lợi cho công việc, vừa không tốn nhiều tiền của nhân dân. Bác dặn gỗ dùng làm nhà cho Bác, chỉ dùng loại gỗ như đồng bào thường dùng. Tầng dưới bố trí một chiếc bàn lớn và mười một chiếc ghế (số ghế đủ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị lúc bấy giờ) xung quanh nhà xây một bờ tường thấp, trên lát gỗ làm ghế cho các cháu thiếu nhi ngồi khi các cháu vào với Bác. Xung quanh nhà làm một dãy hành lang vừa phải để khi Bác ngồi đọc sách có ai qua lại không bị ảnh hưởng, vừa nói Bác vừa bê chiếc ghế mây ra, Bác ngồi giơ tay làm cữ, áng chừng độ rộng của hành lang cho đồng chí kiến trúc sư biết. Bác dặn đi dặn lại là phải hết sức tiết kiệm. Khi Bác đi thǎm một số nước về thì nhà sàn đã làm xong Bác lấy tiền riêng của mình tổ chức bữa liên hoan ngọt, Bác gọi là “tiệc liên hoan khánh thành công trình”. Bác mời đồng chí Ninh và những anh em công nhân tham gia làm nhà sàn cho Bác, đến dự liên hoan. Buổi liên hoan vui vẻ, Bác đi đến chỗ đồng chí Ninh và khen công trình làm nhanh, tốt, rồi ân cần phê bình nhẹ. Bác nói chân tình, nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa có đủ nhà ở cần phải tiết kiệm. Khi chụp ảnh lưu niệm, Bác vẫy tay gọi đồng chí Ninh:
– Ông “Kiến…” đến đứng gần đây.

Tất cả cười vui vẻ, Bác gọi “ông Kiến” bớt đi hai chữ “trúc sư” vừa vui lại vừa nhắc nhở kiến trúc sư phải tiết kiệm, mà nghĩa đen “kiến” là con vật hay leo, như đồng chí Ninh đã leo thang trong việc làm nhà sàn cho Bác.

Bác ở nhà sàn với thời gian dài nhất trong quãng đời còn lại của Bác. Trong nhà sàn bố trí đơn giản, chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác. Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, cái máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày. Chiếc bàn nhỏ và chiếc ghế mây ở cuối hành lang là nơi Bác ngồi làm việc những buổi chiều hè. Bác thường ngồi đọc báo ở đây, dưới tán lá cây vú sữa rì rào trước gió như tiếng nói của đồng bào miền Nam bên Bác. Những vật bình thường đã ở bên Bác đến suốt cuộc đời và sẽ ở mãi với nhà sàn cùng non sông đất nước như một huyền thoại về một con người.

Cuộc đời Bác gắn liền với những nơi ở thật bình dị bình dị như con người Bác. Từ ngày dựng nước gian lao vất vả đến khi làm Chủ tịch nước Bác vẫn giữ lối sống bình dị, không đòi hỏi một sự ưu tiên, một vinh hoa cho riêng mình. Bác là vậy tư tưởng tác phong của Bác là gần dân, luôn luôn giữ mức sống như của người dân. Gần dân là cuộc sống đời thường hàng ngày của Bác, là ý tưởng vĩnh cửu của tư tưởng Bác.

Theo camau.gov.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Về viếng Bác Hồ để tiếp thêm nghị lực cho ngày mai

Chiến sỹ Đoàn H75 giúp đỡ những người khuyết tật vào Lăng viếng Bác

Vào những ngày cuối tháng tư này, lượng khách về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một đông. Mỗi ngày trung bình có từ 10 ngàn đến 12 ngàn lượt người, vào ngày Thứ Bảy, Chủ nhật lượng người về Lăng viếng Bác tăng lên từ 13 ngàn đến 15 ngàn lượt người. Trong dòng người về viếng Bác ngày Chủ Nhật (22/4/2012), có 9 người con khuyết tật ở thành phố Hải Phòng lần đầu tiên được về viếng Bác.

Cảm thông, chia sẻ với những người khi sinh ra đã bị thiệt thòi, khuyết tật, những cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho họ những tình cảm đặc biệt. Đồng chí Thiếu tá Trần Tiên Long, cán bộ Ban Đón tiếp, Cơ quan Văn phòng Ban Quản lý Lăng cho biết: Các đoàn đến đặt hoa, sinh hoạt chính trị, văn hóa tại Lăng Bác đều đăng ký trước với Ban Tổ chức. Đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Bác đều xếp hàng thứ tự từ cổng Số 17 phố Ngọc Hà, quận Ba Đình. Riêng những đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đi lại khó khăn được ưu tiên viếng Bác trước, được Ban Tổ chức bố trí ngồi trên xe lăn, có nhân viên, chiến sỹ giúp đỡ trong suốt quá trình vào Lăng viếng Bác, tham quan Nhà sàn Bác Hồ và Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cả dòng người đang xếp hàng chuẩn bị vào viếng Bác trên suốt dọc đường Hùng Vương hôm đó ngỡ ngàng khi thấy hai hàng chiến sỹ danh dự, lễ phục chỉnh tề, xếp thẳng tắp, xen giữa là rất nhiều người khuyết tật, ngồi trên những chiếc xe lăn. Nhìn thấy cử chỉ nâng xe, hạ xe qua các bậc tam cấp, cầu thang lên, cầu thang xuống suốt dọc đường vào Lăng giúp đỡ người khuyết tật của các chiến sỹ danh dự thật nhẹ nhàng, tình cảm. Trao đổi với Trung tá Lê Văn Bảy, Phó Tham mưu trưởng Đoàn H75, tôi được biết: Trung bình mỗi ngày có từ 3 đến 5 đồng chí thương binh nặng hoặc người khuyết tật cả trong nước và người nước ngoài đến viếng Bác. Dù bất kỳ ai chúng tôi đều cảm phục họ và phục vụ tận tình, chu đáo. Riêng hôm nay có tới 9 vị khách đặc biệt, đơn vị đã bố trí 36 đồng chí chiến sỹ danh dự để phục vụ. Sau mỗi lần phục vụ, chúng tôi đều cảm nhận được tình cảm mà các đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật đã dành cho Bác thật đặc biệt. Có những thương binh nặng dẫu hỏng cả hai mắt, nhưng sau khi viếng xong đã trả lời: “Mắt tôi không nhìn thấy Bác, nhưng Bác Hồ luôn ở trong trái tim tôi”.

Cảm động trước những tình cảm mà những chiến sỹ danh dự đã dành cho Đoàn, cụ Bùi Thị Thọ đã xúc động nói: “Tôi năm nay đã 84 tuổi đời, 62 năm tuổi Đảng. Hiện nay mắt mờ, chân chậm, đi lại rất khó khăn, chẳng còn hy vọng gì nữa. Nhưng hôm nay là ngày thật đặc biệt: Lần đầu tiên được về Lăng viếng Bác Hồ. Đúng là cả đời mong ước, đến cuối đời tôi mới được toại nguyện”.

Sinh ra không được may mắn, nhưng bà Lê Thị Phượng, 61 tuổi ở phường An Biên, quận Lê Chân đã chia sẻ: “Chúng tôi cũng coi lời Bác căn dặn thương binh “tàn nhưng không phế” như là phương châm sống của những người khuyết tật. Mặc dù đôi chân từ thuở lọt lòng đã không lành lặn, không đi lại được. Nhưng tôi luôn cố gắng vươn lên bằng chính nghị lực của chính mình. Hiện nay tôi đang làm ở Hợp tác xã Đan len Hoa phượng đỏ của thành phố Hải Phòng. Thu nhập tuy không cao, nhưng cũng đủ để phục vụ trang trải cho cuộc sống, đủ để tự lập cho chính bản thân mình. Về viếng Bác hôm nay, là để chúng tôi thêm nghị lực sống cho ngày mai”.

Mặc dù đã có sự chia sẻ, giúp đỡ của các cấp, các ngành, sự chia sẻ, cảm thông của mọi người, nhưng những người khuyết tật còn biết bao điều khó khăn vất vả. Chị Nguyễn Tạ Thị Hồng Hạnh, Phó Trưởng ban vận động Hội người khuyết tật thành phố Hải Phòng cho biết: “Những người khuyết tật như chúng tôi thiệt thòi lắm. Công ăn, việc làm, đi lại, sinh hoạt đều gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng hôm nay về viếng Bác, được cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp đỡ thật tận tình, chu đáo, nâng giấc mỗi chúng tôi như những người thân ruột thịt của mình. Để cảm nhận được rằng cuộc sống quanh chúng tôi còn biết bao điều tốt đẹp”.

Theo thống kê tại Ban Quản lý Lăng, trong tổng số hơn 45 triệu lượt đồng bào, khách quốc tế về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh 37 năm qua, có rất nhiều các đồng chí thương binh nặng và người khuyết tật. Vào những dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác 19/5, Ngày Thương binh, Liệt sỹ 27/7 và Quốc khánh 2/9 hàng năm, số lượng đoàn thương binh nặng, người khuyết tật tăng lên nhiều. Đặc biệt, Đoàn đại biểu những người khuyết tật thuộc “Trung tâm Sống độc lập Hà Nội” đã nhiều lần vào Lăng viếng Bác Hồ. Những đồng chí thương binh nặng, người khuyết tật mỗi khi về Lăng viếng Bác, tham dự các sinh hoạt chính trị, văn hóa ở khu vực Lăng đều được giúp đỡ, được chăm sóc tận tình, chu đáo. Đó cũng là những việc làm thiết thực, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giúp đỡ người khuyết tật cùng “hòa nhập” với cộng đồng./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Chuyện kể của người phi công 3 lần gặp Bác

(Chinhphu.vn) – Có lẽ trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Thiếu tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Lan không ngờ rằng có ngày ông sẽ trở thành phi công lái máy bay Mig và 3 lần được gặp Bác Hồ.

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan thời trẻ

 

Sinh năm 1934, tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, một địa phương có truyền thống cách mạng lâu đời, cậu bé Phạm Ngọc Lan sớm phải rời bỏ mái trường và đi theo cách mạng khi mới ở cái tuổi 14.

Năm 1948, Phạm Ngọc Lan được làm Liên lạc viên cho Ty Công an tỉnh Đắc Lắc. Tới năm 1952, ông nhập ngũ và được biên chế vào đại đội 602, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 96, Sư đoàn 305, chiến đấu ở các tỉnh miền Trung.

Sau hiệp định Giơnevơ, Phạm Ngọc Lan và nhiều đồng chí khác tập kết ra Bắc. Tới năm 1956, nhờ những thành tích chiến đấu của mình (bắt được 6 lính ngụy và 1 lính Pháp) ông đã được cấp trên chọn đi học quân sự ở nước ngoài.

Người cựu phi công nhớ lại: “Lúc đầu, giấy nguyện vọng của tôi là được đi học lái xe tăng, nhưng rồi bạn bè đi hết chỉ còn tôi và vài đồng chí là vẫn còn ở lại. Cứ tưởng mình đã trượt nhưng không ngờ, một ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho người đến và đọc danh sách những người đi học lái máy bay, trong đó có tôi. Ấy là điều bất ngờ thứ nhất làm thay đổi cuộc đời tôi”.

Sau 8 năm rèn luyện, ông và nhiều đồng đội khác đã hoàn thành chương trình học, có thể lái được nhiều loại máy bay khác như Mig 15, Mig 17, Mig 21… Tới 5/8/1964, xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, ngày 6/8 ông cùng những đồng đội đã lái chiếc Mig 17 về nước để chuẩn bị vào cuộc chiến đấu đầu tiên.

Phi công Phạm Ngọc Lan cùng với đồng đội bước vào hàng trăm trận chiến đấu lập được nhiều thành tích và nhiều lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Tới tận bây giờ khi đã ở cái tuổi tóc bạc da mồi nhưng ông vẫn nhớ như in cảm xúc khi được gặp Bác.

Lần thứ nhất gặp Bác, là sau hai tháng ông và các đồng đội trở về nước, khi nghe tin Bác đã tới thăm, tất cả đều tập trung từ cổng để đón Bác. Thế nhưng, thay vì đi cổng chính thì Bác lại đi từ cổng sau vào nhà ăn để xem xét công tác hậu cần cho anh em phi công, khiến cho ai cũng bất ngờ và cảm động.

Khi ấy, Phạm Ngọc Lan may mắn được đi cạnh Bác, ông được bác gọi là “hạt giống đỏ” của miền Nam. Lời nói của Bác như một sức mạnh trực tiếp để cho ông và những người đồng đội của mình làm nên chiến thắng giòn giã trong trận chiến đấu đầu tiên của mình cũng là của không quân Việt Nam.

Đó là vào ngày 3/4/1965, Đế quốc Mỹ chính thức sử dụng máy bay ném bom bắn phá miền Bắc, ông được lệnh dẫn đầu cùng với 3 người đồng đội khác là Phan Văn Túc, Hồ Văn Quỳ và Trần Minh Phương được lệnh bay vào bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa).

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan tại nhà riêng – Ảnh VGP/Sao Chi

 

Bằng tinh thần quyết tâm cao trận đầu tiên, 4 người lính đã phối hợp ăn ý sáng tạo với dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng đã bắn rơi được hai chiếc F8U.

Với thành tích của mình, tháng 3/1966, Phạm Ngọc Lan, Phi công Trần Hanh và cô dân quân Nguyễn Thị Hằng (Thanh Hóa) sau này là Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội được lên gặp Bác Hồ để báo cáo chiến công.

Lúc bấy giờ ông và hai người đồng đội đều đã chuẩn bị đầy đủ hết tinh thần khi gặp Bác, thậm chí đã vài lần tổng duyệt trước gương từ cách ăn nói, đi đứng và báo cáo với Bác. Ấy nhưng mọi thứ lại không như những gì mà họ sắp sẵn trước.

Khi tất cả đã ngồi xung quanh, Bác mới hỏi:

– Chú Lan đâu?

– Thưa Bác, cháu là Lan!

– Cháu là phi công đánh thắng trận đầu phải không?

– Dạ vâng!

– Thế không quân ta có đánh thắng tàu bay Mỹ được không?

– Có thể chiến thắng tàu bay Mỹ nhưng rất khó khăn.

– Trận đầu đánh thắng, Bác khen các cháu dũng cảm, sáng tạo. Bác biết rồi, nhưng không được chủ quan, chúng ta phải chuẩn bị tốt hơn nữa để đánh lâu dài vì Mỹ có tiềm lực lại xảo quyệt.

Ngay sau đó Bác quay sang hỏi cô Nguyễn Thị Hằng: Dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng rất dũng cảm phối hợp trên trời, dưới đất rất đẹp. Mọi người đều phải giữ sức khỏe, bay giỏi, chiến đấu giỏi để có nhiều lần gặp Bác hơn nữa…

Trong những cuộc gặp, Bác đã biết trước từng hoàn cảnh, chiến công của mỗi người. Bác thường quan tâm tới cuộc sống đời thường, hoàn cảnh gia đình và tâm nguyện của mỗi người muốn đề đạt lên Bác. Điều ấy làm ông Lan và những người đồng chí của ông nhớ mãi.

Đầu tháng 7/1968, Bác lại về thăm đơn vị của ông. Bác đã đi thăm và động viên tất cả các cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là các trắc thủ thông tin, lực lượng thợ máy và phi công cố gắng chiến đấu giỏi, tiết kiệm đạn duợc, khí tài hơn nữa… Bác đã nói một câu hóm hỉnh: “Chúc cho bộ đội không quân ta ngày càng có nhiều “Cốc” hơn nữa (Câu nói hóm hỉnh ám chỉ tên anh hùng Phi công Nguyễn Văn Cốc và “cốc” cũng có nghĩa là cụng ly chiến thắng).

Nhưng có lẽ điều mà Thiếu tướng Lan tiếc mãi là trong lần gặp thứ 4 ông không thể gặp Bác trước khi Bác mãi đi xa. Khi ấy, ông đang chiến đấu ở khu 4 và bị sốt rét và phải ở lại chữa bệnh. Khi có tin Bác muốn gặp một số anh em phi công trong đó có Phạm Ngọc Lan. Ông đã bay trở về đơn vị sau trận chiến đấu nhưng cũng không kịp gặp Bác.

Dù vậy, trong cuộc gặp ấy, Bác có động viên vắng mặt và gửi hỏi thăm tới ông: “Vì chiến đấu không ra được, cháu Lan giữ gìn sức khỏe, chiến đấu lâu dài”.

Để đáp lại niềm tin yêu và những lời động viên của Bác, Phạm Ngọc Lan đã trở thành người Biên đội trưởng dũng cảm, sáng tạo chỉ huy các biên đội bay chiến đấu lập nên những chiến công tập thể.

Phi công Phạm Ngọc Lan đã được phong tặng Anh hùng LLVTND năm 2000, được trao tặng huy hiệu Bác Hồ năm 1966 và gần 20 huân huy chương chiến công các loại.

Là một người đánh trận mở màn cho không quân Việt Nam năm 1965, Phạm Ngọc Lan còn là một trong những người tổ chức cho Phi đội Quyết Thắng dùng máy bay A37 của địch ném bom vào Sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975.

Cả cuộc đời đi theo cách mạng, Thiếu tướng, Phi công Phạm Ngọc Lan luôn nhớ tới những lời động viên và căn dặn của Bác Hồ. Cũng có lẽ, điều quý giá nhất trong cuộc đời người cựu phi công ấy chính là kí ức về những năm tháng hào hùng của tuổi trẻ. Phạm Ngọc Lan nhớ mãi những dịp gặp Bác và huy hiệu Bác Hồ trao tặng mà ông vẫn nâng niu trân trọng cho tới tận bây giờ.

Sao Chi
chinhphu.vn