Tag Archive | Hồ Chí Minh

Tri ân những người có công với cách mạng

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh, Liệt sỹ (27/7), Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trực tiếp là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trong cả nước để tổ chức đón tiếp các đoàn Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Người có công với cách mạng về Lăng viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan các di tích lịch sử, văn hoá ở Thủ đô Hà Nội.

Mới hơn 6 giờ sáng ngày 17/4/2012, nhưng các đại biểu trong Đoàn Người có công với cách mạng của thành phố Cần Thơ đã tề tựu đông đủ tại Nhà khách Quốc tế số 8 – Hùng Vương để chuẩn bị vào Lăng viếng Bác. Tranh thủ gặp Phó Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Trần Minh Đăng chúng tôi được biết: “Thành phố Cần Thơ hiện nay có 32.060 người có công với cách mạng. Trong đó có 95 cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa, 271 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 30 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến, 2.850 thương bệnh binh, 8.230 liệt sỹ… những còn rất nhiều người chưa một lần được ra thăm Lăng Bác. Lần này, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cấp, các ngành của Thành phố đã lựa chọn, ưu tiên 50 đại biểu, phần lớn là những Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và những đồng chí thương binh nặng được ra Thủ đô Hà Nội viếng Bác Hồ”.

Nhìn các má, các ba hầu hết tuổi đã ngoài 70, sức khỏe tuy đã giảm sút, lại đi suốt chặng đường dài hơn 1.500 km, nhưng trong khóe mắt ai nấy đều ánh lên niềm vui “sắp được gặp Bác rồi”. Quây quần trò chuyện tại khuôn viên Nhà khách, bác Nguyễn Văn Của, thương binh hạng 1/4 còn nhớ như in hình ảnh của 48 năm về trước: “Đúng vào ngày 19/5/1964, kỷ niệm 74 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại đội 1, Địa phương quân huyện Châu Thành của chúng tôi đã chiến đấu chống lại 7 đại đội nguỵ quân của địch đi càn quét. Trận chiến đấu vô cùng cam go, ác liệt suốt gần một ngày trời nhưng địch không chiếm được. Trước khi rút lui, địch còn gọi pháo binh vùi dập. Sau đó tôi thấy tim mình đau nhói và ngất lịm đi. Khi tỉnh dậy đã biết mình đang điều trị trong Quân y viện tiền phương được ba ngày. Sau nhiều năm điều trị, hiện giờ 2 mảnh đạn vẫn còn găm trong ngực. Nhưng đau thương nhất lại là những ngày nghe tin Bác Hồ mất. Không ai bảo ai, mà toàn thể cán bộ, y bác sĩ, đến các bệnh nhân trong Viện Quân y tiền phương của tỉnh tự tay may băng đen để tang Bác 7 ngày”.

Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp và gắn
Huy hiệu Bác Hồ cho các thành viên trong Đoàn

Giờ viếng Bác chưa bắt đầu, nhưng lượng người vào trong khuôn viên Nhà khách mỗi lúc một đông. Có điều đặc biệt là hầu như trên ngực áo ai cũng lấp lánh những Huân chương và nhiều Huy hiệu cao quý. Đoàn nào đến cũng được các nhân viên Ban Đón tiếp thuộc Cơ quan Văn phòng tiếp đón, hướng dẫn, mời vào phòng khách, phòng xem phim tài liệu tận tình chu đáo. Nhận ra chúng tôi, đồng chí Trung tá Lương Kỳ Hải, Trưởng Ban Đón tiếp chia sẻ: “Riêng ngày hôm nay chúng tôi đón tiếp 5 đoàn người có công với cách mạng thuộc thành phố Cần Thơ, các tỉnh Kon Tum, Bình Dương, Cao Bằng và Đoàn cán bộ Lão thành cách mạng đang nghỉ dưỡng tại Đại Lải. Và tới đây, sẽ tiếp tục đón hơn 80 đoàn Người có công ở khắp mọi miền về Lăng viếng Bác. Riêng những đoàn ở các tỉnh phía Nam, chúng tôi còn cử cán bộ, nhân viên đón từ bến tàu, sân bay và phục vụ đoàn khi đi tham quan các di tích ở Thủ đô Hà Nội. Dẫu công việc bận rộn, vất vả, nhưng chúng tôi đều tự nhủ: Đón tiếp tận tình, chu đáo cũng là thể hiện tình cảm tri ân những người có công với cách mạng”.

Từng đoàn Người có công với cách mạng trước khi đi viếng Bác đều được các hướng dẫn viên giới thiệu chi tiết về nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và quá trình xây dựng Công trình Lăng của Người; được xem phim tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và công tác đón tiếp, tuyên truyền tại Lăng Bác. Sau khi đi viếng Bác, tham quan Nhà sàn và Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng tôi gặp lại Đoàn Cần Thơ. Nhìn các má, các ba đều vui vẻ, phấn khởi chúng tôi cũng yên tâm. Trước khi chia tay để Đoàn trở về Nhà khách ở số 12 Ngô Quyền, bác Võ Bá Tường và bác Nguyễn Văn Tài đều bùi ngùi xúc động: “Chúng tôi đều tham gia kháng chiến từ năm 13 tuổi, đều là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chỉ cần duy nhất một lần này được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác Hồ là chúng tôi đã mãn nguyện lắm rồi. Chỉ thương nhiều đồng đội hiện nay tuổi cao, sức yếu, bệnh trọng, suốt ngày mong mỏi hoài mà vẫn chưa một lần được gặp Bác. Liệu các đồng chí đó có còn sống để chờ ngày được gặp Bác không? Rất mong các cháu hãy chăm sóc, giữ gìn thi hài Bác Hồ thật tốt, thật lâu dài, để nhiều đồng đội, con cháu của chúng tôi, cũng như nhiều thế hệ người Việt Nam được vào Lăng viếng Người”.

Lời mong mỏi của các má, các ba trong Đoàn Cần Thơ cũng là lời nhắn nhủ đến các cấp, các ngành, các địa phương hãy dành sự quan tâm đặc biệt, tổ chức cho những đồng chí Lão thành cách mạng, các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí thương binh nặng, các gia đình chính sách… được về Lăng viếng Bác Hồ, tham quan Thủ đô. Đó cũng là sự tri ân những người có công với cách mạng./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

“Thoả lòng Bác mong….”

1. Cho đến nay, hầu như tất cả người Việt Nam mình, từ già đến trẻ, cũng như rất đông đồng bào ở nước ngoài, đều thuộc và có thể hát say sưa bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” của nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Nhìn các em thơ trong lớp mẫu giáo vừa vỗ tay vừa hát –mà nếu cô giáo không ra hiệu dừng lại, thì các cháu có thể hát mãi, hát đi hát lại nhiều lần. Bài ca xúc tích, đã trải qua gần 40 năm, và chắc sẽ còn được hát trong nhiều năm nữa, bởi nó đã thể hiện đúng tình cảm, niềm vui và những suy nghĩ của người Việt Nam mình trong ngày đại thắng lịch sử đó. Theo lời tác giả kể lại, những thôi thúc, những cảm xúc hồ hởi của ngày 30 tháng 4 năm xưa đã khiến ông ngồi viết một mạch trong 2 tiếng đồng hồ, không sửa một chữ nào. Hai tiếng đồng hồ để toàn dân cùng ca hát trong 40 năm. Đối với một nhạc sĩ sáng tác, có hạnh phúc nào lớn hơn, và có giải thưởng nào lớn hơn ?

Không người dân nào không thuộc lời bài hát
“Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”
Ảnh: Hoàng Long

Lớp tuổi trên dưới 50 chắc chưa ai quên ngày tháng hào hùng đó. Bài hát được truyền trên loa phát thanh suốt ngày và cứ thế, già trẻ, lớn bé đều say sưa hát theo. (Ngày đó, đã làm gì có máy thu vô tuyến truyền hình, thậm chí mãi mấy năm sau mới có cái cột phát VTTH ở phố Quán Sứ và cái máy phát sóng thử nghiệm đầu tiên được anh chị em trong nghề gọi vui là khẩu “súng ngựa trời” !) Lương thời bao cấp nhỏ nhoi, gạo nước đều phải tem phiếu, nhưng các gia đình đều rủ nhau đi mua một bánh pháo Bình Đà để đốt ăn mừng (hồi đó còn được phép đốt pháo), nổ râm ran trong ngày 30 tháng 4 và cả ngày hôm sau.

Vậy mà đã là 37 năm rồi đấy ! Có những bé ra đời đúng ngày 30 tháng 4 lịch sử, được bố mẹ đặt tên là Huy Hoàng (theo lời ca “Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”) hôm nay cũng đã ngót 40, chắc đã có vợ con, chồng con đề huề và cả nhà vẫn thuộc lòng bài hát thân quen.

Ít lâu sau còn có một bài hát nữa – bài “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” thấm sâu vào lòng người với câu hát mở đầu “Từ thành phố này Người đã ra đi…” của nhạc sĩ Cao Việt Bách. Đã có nhiều ca sĩ nổi tiếng, nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú…trình bày bài ca này, với tình cảm da diết, xúc động khi nhắc đến Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước từ Bến Nhà Rồng, mà ngày chiến thắng Bác chưa kịp về với miền Nam. Các nghệ sĩ đã hát bằng cả trái tim mình, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn bồi hồi khi được nghe và xem trên đài VTTH tường thuật lại một buổi biểu diễn (hay hội diễn gì đó) : một linh mục cùng với dàn kèn đồng của một xứ đạo tỉnh Hà Nam Ninh (khi chưa tách tỉnh như bây giờ) bước lên sân khấu hát bài này. Mãi đến hôm nay, kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, lời ca từ bài hát vẫn nói với chúng ta những điều thiêng liêng: “Thoả lòng Bác mong : Nước non này nghìn năm vững bền!”

2. Vững và bền, đó là điều tâm niệm, là mục tiêu của toàn thể dân tộc ta, đất nước ta từ thuở ngàn xưa. Chẳng phải mỗi ngày, chúng ta đều nhắc lại, ghi nhớ lại chân lý này khi bài Quốc ca của chúng ta vang lên “Tiến lên ! Cùng tiến lên ! Nước non Việt Nam ta vững bền !” đó sao ?

Trong những ngày tháng này, khi những lực lượng thù địch -cả trong và ngoài nước- đang xúm nhau rắp tâm phá hoại sự nghiệp của dân tộc ta, lại càng thấm thía điều này : Phải quyết tâm giữ gìn nước non ta thật vững và thật bền. Một nhúm những kẻ thuộc những cái gọi là “Phục Quốc”, “Việt Tân”…đang lăm le lật đổ chính quyền mà toà án của ta vừa đưa ra xét xử gần đây, là những dẫn chứng rõ rệt. “Phục” gì lũ chúng, “Tân” gì lũ chúng, hay chỉ là những kẻ nhận những đồng tiền nhơ nhớp của nước ngoài như một bè lũ tay sai toan tính làm suy yếu sự vững bền của đất nước ta, của dân tộc ta ? Rồi những lực lượng thù địch ở nước ngoài phụ hoạ theo, rêu rao chiêu bài cũ rích như “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”…để dẫn đường cho những tên phản bội ở trong nước, mà báo chí của ta đã vạch trần bộ mặt thật của bè lũ chúng không chỉ một lần.

Chúng ta nói công khai với niềm kiêu hãnh và tự hào rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lực lượng lãnh đạo duy nhất, lãnh đạo toàn diện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ta. Chúng ta cũng đường hoàng và công khai nêu mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước thân yêu này, mà không có con đường nào khác. Ai đó còn mơ hồ về con đường của chủ nghĩa tư bản thì hãy nhìn vào cuộc khủng hoảng ghê gớm đang quét qua một loạt nước tư bản -từ nước phát triển nhất cho đến nước phát triển trung bình- để hiểu tại sao chúng ta quyết tâm chọn con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã vạch ra. Mặc cho các thế lực thù địch xuyên tạc, chống đối và phá hoại, nhân dân ta không hề nao núng. Câu trả lời đích đáng nhất cho bè lũ này, có lẽ thích hợp nhất là một câu ngạn ngữ ở phương tây “Chó cứ sủa, đoàn người cứ tiến!”.

Đảng ta, người lãnh đạo tuyệt đối của nhân dân ta, đất nước ta, cũng không hề che giấu những tồn tại, những khiếm khuyết của mình. Chỉ có một đảng vững mạnh mới công khai nói rõ những điểm còn yếu kém của mình, nói để tìm cách khắc phục và tiến lên. Nghị quyết trung ương 4 vừa qua là một minh chứng rõ ràng. Những thường dân chúng tôi cứ hay liên hệ một cách nôm na dân dã thế này : giống như trên cơ thể mọc lên một cái nhọt bọc, mưng mủ và đau đớn. Phải là một người dũng cảm, có bản lĩnh thì mới dám nghiến răng để nặn ra, và bôi thuốc cho khỏi, chứ nếu cứ che dấu, xoa dịu để cho nhẹ cơn đau thì sẽ không bao giờ khỏi được.

Lâu nay, trên báo chí của chúng ta cũng không hề che dấu những vụ việc tham nhũng, quan liêu, thoái hoá. Nhờ sự phát hiện của báo chí, của dư luận mà đã có những quan chức bị lôi ra trước vành móng ngựa, chịu kỷ luật thích đáng. Phải cám ơn và biểu dương những nhà báo, những tờ báo dũng cảm, không quản hiểm nguy –thậm chí bị trả thù, bị đánh đập- mới loại trừ được những con sâu đó.

Tuy nhiên, lại cũng phải thẳng thắn nhận xét rằng có một số tờ báo hơi thiên về việc phanh phui những vụ việc tiêu cực (không kể một vài trang báo mạng cố tình đưa những tin giật gân, moi móc đời tư của nghệ sĩ, hoặc những tấm hình hở hang phản cảm…mà có thể xếp chung vào loại báo…lá cải), quên đi hoặc coi nhẹ mặt “xây” những điển hình tốt, những gương “người tốt việc tốt”, bởi đó chính là một chức năng quan trọng của báo chí cách mạng. Báo Đại Đoàn Kết -tờ báo của Mặt trận đã rất đúng và rất trúng khi mở những chuyên trang như “Cán bộ là công bộc của dân” hoặc cuộc thi viết “Gương sáng khu dân cư”, đề cao việc “xây” bên cạnh việc “chống”. Không biết dân “ngoại đạo” mà nói như vậy có gì sai sót không, nhưng vì mong muốn góp phần xây dựng nước non ta vững và bền, nên tôi cứ mạnh dạn phản ánh như vậy.

3. Vững và bền, đó là mục tiêu của việc xây dựng đất nước ta. “Nước non Việt Nam ta vững bền” là lời của bài Quốc ca mà ta hằng tâm niệm. “Nước non này nghìn năm vững bền” là nguyện vọng của hơn 80 triệu người dân Việt Nam -cả trong và ngoài nước , là điều Bác Hồ kính yêu của toàn dân hằng mong từ khi rời bến Nhà Rồng cách đây hơn 7 thập kỷ. Kỷ niệm ngày 30 tháng 4 và cũng chỉ còn ít ngày nữa là kỷ niệm ngày sinh của Người, hôm nay chúng ta đã có thể thưa với Bác: Chúng con đã “thoả lòng Bác mong” là xây dựng “nước non này nghìn năm vững bền”, sẽ quyết tâm để nước Việt Nam ta mãi mãi “vững” và “bền”.

Nguyễn Lê Bách
qdnd.vn

Lời giới thiệu Tập 10

Tập 10 của bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ hai, bao gồm những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 1 nǎm 1960 đến tháng 12 nǎm 1962.

Những tác phẩm, bài viết in trong Tập 10 thể hiện tập trung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tất cả các lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và các vấn đề quốc tế

Về nhiệm vụ của cách mạng cả nước, trước những biến chuyển mới của tình hình trong nước và quốc tế, trong bài Ba mươi nǎm hoạt động của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng Việt Nam hiện nay có hai nhiệm vụ phải đồng thời tiến hành: nhiệm vụ xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và nhiệm vụ tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Hai nhiệm vụ ấy đều nhằm một mục tiêu chung là: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên nền tảng độc lập và dân chủ” (tr. 12). Tư tưởng đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lại tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng: “Nhiệm vụ hiện nay của cách mạng Việt Nam là: đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”(tr.198). Người nói: “Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội” (tr. 13) để làm “cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà” (tr. 198).

Trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Người xác định mục đích xây dựng “chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc” (tr.97), đồng thời cũng cho thấy: “Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ. Nhưng đó là những khó khǎn trong sự trưởng thành. Toàn Đảng, toàn dân đồng sức đồng lòng thì khó khǎn gì cũng nhất định khắc phục được” (tr.545).

Xuất phát từ “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (tr.13), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có vǎn hoá và khoa học tiên tiến.

Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” (tr. 13).

Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp được thể hiện qua các bài nói của Người tại Hội nghị lần thứ nǎm và lần thứ bảy (1962) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) và một số bài nói, bài viết khác được công bố trên báo chí ở giai đoạn này.

Về vai trò của nông nghiệp trong nền kinh nước ta, Người nói: “nông nghiệp chiếm bộ phận lớn trong kinh tế, mà sản xuất nhỏ lại chiếm bộ phận lớn trong nông nghiệp…, nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay” (tr.14). Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác…, để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà” (tr. 14), Người khẳng định: phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát triển mạnh” (tr.14 – 15).

Khẳng định vị trí to lớn của nông nghiệp trong giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ vị trí quyết định của công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế ở nước ta: “Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mớiphát triển. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bướcsẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân” (tr. 545).

Đối với mục tiêu phát triển nông nghiệp, Người chỉ rõ: phát triển công nghiệp trước hết nhằm phục vụ nông nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng và cải thiện đời sống của nhân dân, tǎng cường tích luỹ để đẩy mạnh công nghiệp hoá. Trên tinh thần tự lực cánh sinh, đồng thời dựa vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần cố gắng cải tiến quản lý, đưa kỹ thuật mới vào công nghiệp để làm cho công nghiệp nước ta tiến kịp kỹ thuật tiên tiến của thế giới.

Đi đôi với việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chú ý tới việc xây dựng ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, làm sao cho thương nghiệp nước ta thực sự trở thành một đòn bẩy kinh tế, làm tốt vai trò giao lưu kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, sản xuất với tiêu dùng, giữa địa phương với trung ương, trong nước với ngoài nước.

Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở giai đoạn này cho thấy mối quan tâm của Người đối với việc phát triển vǎn hoá, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Những bài viết về xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa; những bài nói chuyện của Người tại Đại hội vǎn nghệ toàn quốc lần thứ ba, ở Hội nhà báo Việt Nam, ở Hội nghị tổng kết phong trào thi đua dạy tốt, học tốt của ngành giáo dục,… đã thể hiện các quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng tư tưởng – vǎn hoá, xoá bỏ những tàn dư tư tưởng và hủ tục của xã hội cũ, về xây dựng nền vǎn hoá mới với nội dung xã hội chủ nghĩa mang đậm đà bản sắc dân tộc, về xây dựng con người mới, đạo đức mới, lối sống mới xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí” (tr.159).

Cùng với việc xây dựng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng đến vấn đề xây dựng, củng cố Đảng và các tổ chức quần chúng. Người luôn luôn nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, vai trò của công đoàn, thanh niên, phụ nữ, của mặt trận dân tộc thống nhất… trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Người chỉ rõ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ, vì vậy cần ra sức phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của người lao động, phải kiên quyết chống lại bệnh quan liêu, mệnh lệnh, và chỉ thị cho các cơ quan nhà nước cần phải cải tiến công tác, giữ gìn kỷ luật, thực hành dân chủ… để góp phần củng cố Nhà nước.

Một nội dung quan trọng của Tập 10 là những bài nói, bài viết của Người về đường lối, phương hướng, bước đi của cách mạng miền Nam, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, phá thế kìm kẹp của địch, mở ra phong trào cách mạng rộng lớn, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam. Tập 10 cũng giới thiệu với bạn đọc những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm tiến tới hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta chống xâm lược.

Cũng trong Tập 10 này bạn đọc có thể thấy những tác phẩm thể hiện tư tưởng và hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm góp phần vào việc tǎng cường đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, lên án chính sách xâm lược và gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, ủng hộ các phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.

Trong nǎm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một loạt bài quan trọng, có giá trị tổng kết về lịch sử đấu tranh anh dũng, đầy hy sinh của Đảng sau 30 nǎm hoạt động và lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, chỉ ra những nhiệm vụ mới phải làm để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đi tới những thắng lợi to lớn và vẻ vang hơn nữa. Người đặc biệt nhấn mạnh tới công tác xây dựng đảng nhằm làm cho Đảng thống nhất về ý chí và hành động, có đường lối đúng, có tư tưởng cách mạng triệt để, có tổ chức vững mạnh và đội ngũ đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, giỏi chuyên môn, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, để hoàn thành vai trò của mình. Người chỉ rõ, trong việc xây dựng đảng cần phải chú ý tới xây dựng đảng ở cơ sở, nhất là các chi bộ phải nâng cao nǎng lực tổ chức thực tiễn vì chi bộ là nơi trực tiếp biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực. Người nói: “Đảng ta phải chuyển mạnh. Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hǎng hái và gương mẫu” (tr.270). Do vậy, Người yêu cầu mọi đảng viên của Đảng phải không ngừng nâng cao về chính trị, tư tưởng, vǎn hoá, đạo đức, giữ vững vai trò tiên phong gương mẫu, đảng viên phải thật sự là con người mới xã hội chủ nghĩa, mới hoàn thành được các nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới mẻ và khó khǎn. Trong công tác xây dựng đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các thế hệ trong đội ngũ cán bộ của Đảng, nhằm bảo đảm tính kế thừa, tính liên tục trong sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Đảng luôn luôn đổi mới và phát triển, ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử trong giai đoạn cách mạng mới.

*

*     *

Tập 10, Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần này, ngoài các bài đã công bố trong lần xuất bản trước, đã được bổ sung thêm 62 bài mới, tất cả đều đã được xác minh, đối chiếu, hiệu đính đầy đủ. Có thể còn thiếu những tài liệu của Người trong thời kỳ này do chúng tôi chưa sưu tầm được hoặc chưa có bản gốc để xác minh, đối chiếu… nên chưa có điều kiện đưa vào. Chúng tôi mong nhận được sự giúp đỡ của bạn đọc trong và ngoài nước để việc xuất bản các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được đầy đủ hơn.

VIỆN NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
hãy nhấn vào đây Down load

UB Dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

 – “Sự nghiệp cách mạng rộng lớn và khó thực hiện; nó không thể do môt người hay một nhà làm mà tốt được. Cách mạng của các nòi giống có mục đích là giải phóng các dân tộc yếu, sau tiến lên làm cách mạng thế giới, sẽ giải phóng toàn nhân loại khỏi ách đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Để hoàn thành vẻ vang vai trò này, người cách mạng kiểu mẫu phải: “1. Đêm ngày nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại, 2. Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức, tóm lại, phải vị tha, không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi, mọi lúc… làm việc không biết mệt mỏi”, “xem thường cái chết”, “thuận theo hoàn cảnh”, “suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động”, “dựa vào sức mạnh của dân”, “xem thường danh vị, ngôi thứ, tiền bạc”, “không cục bộ”, “không kiêu ngạo” và “Kiên trì và nhẫn nại”. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại thì những khó khăn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền”. Quan điểm Nguyễn Ái Quốc về phẩm chất “người cách mạng mẫu mực” viết trên báo “Thanh Niên” xuất bản tại Quảng Châu số ra ngày 18/9/1926.

dẢnh 1: 18/9/1945 Hồ Chí Minh tiếp các nhà tư sản có tiếng ở HN, tại Bắc Bộ phủ.

“Dòng sông lặng ngắt như tờ/ Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo/ Bốn bề phong cảnh vắng teo/ Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan/ Lòng riêng riêng những bàn hoàn/ Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng/ Thuyền về trời đã rạng đông/ Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”. Bài thơ “Đi thuyền trên Sông Đáy” Bác sáng tác trên thuyền đi từ Khâu Lâu xuôi theo Sông Đáy về huyện Sơn Dương.

“Nam Bộ kháng chiến trước nhất. Chịu đựng gian khổ lâu nhất. Lại cách xa Chính phủ Trung ương nhất. Hoàn cảnh rất khó khăn. Nhưng sức kháng chiến ngày càng mạnh mẽ và có nhiều thành tích rất oanh liệt, vẻ vang.  Đó là vì đồng bào và bộ đội có lòng yêu nước rất nồng nàn, chí căm hờn giặc rất sâu sắc, lòng tin tưởng vào thắng lợi rất vững bền. Cho nên càng gian khổ, lại càng hăng hái. Chính như câu tục ngữ nói: Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Dù ở xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ rất gần Nam Bộ”. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 6 năm Nam Bộ Kháng chiến, công bố ngày 18/9/1945.

Cùng ngày, trong bài báo “Chiến sĩ nấu bếp Hoàng Cầm”, đăng trên báo “Nhân Dân”, Bác động viên:“Dưới chế độ dân chủ của nước ta, bất kỳ ai làm việc gì mà cố gắng thi đua vượt mức thì tức là anh hùng… Nhiệm vụ của người nấu bếp cũng quan trọng như nhiệm vụ của người chỉ huy, vì “thực túc thì binh cường”, cơm no thì thắng giặc”.

dẢnh 2: Ngày 18/9/1946 trên tàu Dumont D; Urvilee trở về Tổ quốc.

Ngày 18/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp khoảng 30 nhà công thương có tiếng ở Hà Nội, động viên các nhà hằng sản đóng góp cho “Tuần lễ Vàng” để “tỏ rõ cho thế giới biết người Việt Nam đồng lòng yêu nước”. (ảnh 1)   Ngày 18/9/1946, từ quân cảng Tulon, chiến hạm Dumont D’ Urville nhổ neo đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước kết thúc chuyến thăm Pháp kéo dài 4 tháng. Trên tàu còn có một số trí thức Việt kiều theo Bác về phục vụ đất nước như: Bác sĩ Trần  Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa”  (ảnh 2)…

X&N
bee.net.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Singapore đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 23/4/2012, Tổng thống nước Cộng hòa Singapore Tong Tan Keng Yam và đoàn đại biểu cấp cao Singapore bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước đã tới Việt Nam.

TT Singgapo.langTổng thống nước  Cộng hòa Singapore và đoàn đại biểu
vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong khuôn khổ chuyến thăm này, sáng ngày 24/4/2012, Tổng thống nước Cộng hòa Singapore Tong Tan Keng Yam và đoàn đại biểu đã đến đặt hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Chính phủ và nhân dân nước Cộng hòa Singapore kính viếng”.

Chuyến thăm này là dịp tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển lên tầm cao mới, hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Viêt Nam – Singapore, đưa quan hệ hợp tác lên những bước cao hơn về hợp tác kinh tế, thương mại đầu tư; giáo dục đào tạo; an ninh quốc phòng; ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn khu vực và quốc tế vì sự phát triển chung và lợi ích chính đáng của nhân dân hai nước.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Chuyện ít biết về đá hình lá cờ trong Lăng Bác

(Kienthuc.net.vn) – Với những ai đã từng vào Lăng viếng Bác hẳn sẽ không quên hình ảnh hai lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc ghép liền nhau trong phòng Bác nằm. Tuy nhiên, việc hai lá cờ được ghép lại từ những tấm đá không phải ai cũng biết.

Ngót bốn mươi năm đã qua, kể từ những ngày miệt mài với công việc dán ghép các mặt đá tạo hình lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc trong Lăng Bác, song với GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu, ký ức ấy vẫn chưa hề phai nhòa.

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu (ngoài cùng bên phải) bên công trình Lăng đang xây dựng (ảnh tư liệu).GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu (ngoài cùng bên phải) bên công trình Lăng đang xây dựng (ảnh tư liệu).

Tìm đá quý

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu mở đầu câu chuyện từ lý do ông được chọn là người dán các mặt đá ghép thành hình lá cờ trong Lăng Bác. Ông nhớ lại: “Năm 1969, tôi bảo vệ thành công luận án PTS ở Mát-xcơ-va. Về nước, tôi làm cán bộ giảng dạy ở Trường Đại học Bách khoa.

Sau đó, tôi cũng đã có vài công trình ứng dụng về nhựa epoxy – là loại nhựa có nhiều tính năng kỹ thuật tốt, dùng để dán kim loại và phi kim loại như sắt với sắt, đá với đá… Chính vì thế mà tôi được chọn thực hiện công việc này”.

Ấy là hồi năm 1974, ông Nguyễn Phúc Ứng, Trưởng phòng Kỹ thuật của Xí nghiệp đá hoa An Dương xuống trường đặt vấn đề, mời cùng thực hiện công việc. “Đây là Xí nghiệp duy nhất được Bộ Xây dựng lựa chọn để giao cho việc cắt, mài, dán đá tạo hình lá cờ ở phòng nghỉ của Bác trong Lăng. Khi được mời cộng tác, khỏi phải nói tôi vui sướng và vinh dự biết dường nào”, ông không giấu được xúc động.

Việc tìm đá có màu sắc tương ứng với hai màu đỏ và vàng được gấp rút thực hiện. “Bình Định nổi tiếng là nơi có nhiều đá granit và đá rất đẹp. Tuy nhiên, do điều kiện đất nước đang có chiến tranh nên việc lấy đá ở trong đó chuyển ra rất khó khăn. Cũng có một số người phát hiện thấy đá có màu đỏ, đem trình Bộ Chính trị nhưng đá này có màu xỉn kiểu tiết gà để lâu, không có thần nên đã không được chọn.

Cũng trong thời gian đó, hai cán bộ địa chất băng từ Sơn La sang Lào, có qua miền Tây Thanh Hóa. Khi đến huyện Bá Thước, họ thấy có những hòn đá chỉ to bằng quả bưởi nằm lăn lóc bên đồi, dùng búa chuyên dụng gõ vào thì thấy đá bật ra màu đỏ rất đẹp. Loại đá này đã được Bộ Chính trị duyệt”, ông Diệu nhớ lại.

Đá được vận chuyển từ Thanh Hóa ra Hà Nội, tập kết tại Xí nghiệp đá hoa An Dương. Đầu tiên, những hòn đá phải được cắt ra thành từng miếng. Việc cắt đá cũng khá công phu.

Dù phía Liên Xô có hỗ trợ máy cắt nhưng chủ yếu vẫn phải làm thủ công. Theo đó, người thợ sẽ rắc cát rải lên thanh thép rồi cắt dần. Làm như thế nên khá mất công và tốn thời gian. Đá được cắt xong sẽ được mài cho nhẵn.

“Theo thiết kế, hai lá cờ có tổng kích thước chung là 6m x 6m với 96 tấm đá. Trước khi đem dán, chúng tôi phải tiến hành ráp sơ bộ để đảm bảo khi dán ghép không xảy ra sai sót. Sau đó, chúng tôi phải dùng aceton lau sạch mặt đá cần dán vì aceton sẽ tẩy sạch những chất hữu cơ bám trên bề mặt và quan trọng là nhanh bay hơi hơn cồn. Đá được lau xong sẽ đặt lên bàn sấy. Đây là khâu rất quan trọng vì nếu không sấy, khi gặp trời nồm ẩm, dán đá sẽ rất khó bám”, ông kể.

Cũng theo ông Diệu, bàn sấy được trang bị hệ thống đèn hồng ngoại vì tia hồng ngoại sẽ cấp nhiệt tốt hơn. Thời điểm đó, tìm được loại đèn này rất khó vì đèn rất hiếm. Tuy nhiên, do tính chất cấp bách của việc xây Lăng nên việc trang bị mấy chục bóng đèn hồng ngoại nhanh chóng được đáp ứng.

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu và bản thiết kế hai lá cờ trong Lăng Bác.GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu và bản thiết kế hai lá cờ trong Lăng Bác.

Bị bảo vệ gọi sang vì “trong đá có kim loại”

Một kỷ niệm trong quá trình dán đá mà GS Diệu nhớ mãi và theo lời ông thì “mỗi lần nhắc lại cũng đủ khiến mình… thót tim”. Chuyện là khi 96 tấm đá hoàn thành, chuẩn bị chuyển vào Lăng thì đồng chí an ninh ở phòng bảo vệ gọi vào gặp.

“Ngày thường, tôi cùng kỹ sư Vĩnh (Xí nghiệp Đá hoa An Dương) làm việc ở cạnh phòng bảo vệ. Thú thực là tôi cũng không thấy đó là áp lực, vì nghĩ việc ai người nấy làm. Tuy nhiên, sớm hôm ấy tôi bị họ gọi vào. Tôi cũng khá hồi hộp và lo lắng. Họ nói khi kiểm tra đã phát hiện trong hầu hết các tấm đá đều có kim loại. Họ cần tôi phải giải trình.

Tôi liền đưa tấm bản đồ ra. Theo đó, trong quá trình cắt, mài đá, độ dày mỏng của từng viên rất khác nhau. Nếu cứ mài mãi cho đến khi bằng nhau sẽ rất tốn công sức và mất thời gian. Tôi cùng kỹ sư Vĩnh đã nghĩ ra cách phải lót tấm thép phía mặt sau của những tấm đá mỏng để tôn lên, đảm bảo khi dán các mặt đá sẽ nằm trên cùng một mặt phẳng, không bị tụt xuống.

Đó là chuyện nhớ đời của tôi vì có ai vẽ ra cho mình vị trí kê đâu, toàn tự mình mày mò đấy chứ”, ông kể. Sau đó, bộ phận an ninh đã kiểm tra lại và quyết định chuyển những tấm đá vào Lăng.

Mời lái xe của Bác chở đá vào Lăng

Việc vận chuyển đá cũng phải vô cùng thận trọng. “Chính đồng chí lái xe cho Bác Hồ được giao việc chở đá vào Lăng bằng xe Gas 69”, ông xác nhận.

Theo thiết kế, xe Gas 69 có thùng phía sau. “Họ đóng kệ gỗ hình chữ A ở trên thùng, mỗi bên chỉ để một tấm, mỗi lần chở hai tấm. Mỗi tấm đá được dùng chăn dạ bọc lại, cẩn thận như thế vì thời gian hết rồi, nếu bị vỡ sẽ không còn đá mà làm tiếp mà phải đợi đi tìm thêm”, ông Diệu cho hay.

Thời gian từ lúc cắt đá đến lúc dán thành hai lá cờ trong Lăng mất chừng 3 – 4 tháng, kết thúc trước ngày 30/4/1975. “Thời gian làm việc khá căng thẳng và có nhiều áp lực vì đây là công trình đầu tiên của tôi về khâu dán đá. Tôi lại chưa có kinh nghiệm mà chỉ có kiến thức được học. Sau này, có một số tấm phải dán lại. Từ đó đến giờ không bao giờ phải dán lại nữa”, GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu kết thúc câu chuyện bằng một nụ cười mãn nguyện.

“Ngoài việc dán hai lá cờ, tôi còn tham gia dán dòng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh phía trên Lăng. Đây là công việc khó nhất vì đá sẽ được khoét lõm, sau đó mới đặt đá xếp thành chữ vào. Khi ấy khoét bằng máy siêu âm, chậm vô cùng, có khi khoét chữ H lên tới cả tuần. Do không kịp tiến độ nên chúng ta phải nhờ cả thợ đá của Liên Xô có búa chuyên dụng để đục”.

“Những ngày tham gia dán đá, tôi được nhà trường cho nghỉ để toàn tâm toàn ý cho công việc. Vợ tôi cũng tạo điều kiện rất nhiều. Thế nhưng, có một lần bà ấy đùa tôi. Hôm đó, khoảng 2, 3 giờ sáng, khi tôi vừa chợp mắt được vài tiếng thì nghe bà ấy báo thức, bảo “Anh dậy mau, người trong Lăng gọi”. Tôi vội vàng bò dậy thay quần áo, định chạy xuống tầng một lấy xe thì bà ấy cười “Em đùa đấy”. Thực sự, lúc đó cũng chẳng giận vợ đâu. Đó cũng là kỷ niệm khó quên của tôi”.

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu

Thanh Thủy
bee.net.vn

Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh – giá trị nhân văn giữa học và hành đối với mọi cán bộ, đảng viên

Tự học là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động có mục đích của con người. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của Người. Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Bác viết: “Lấy tự học làm cốt”. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(1).

Hai mươi mốt tuổi, ra đi với hai bàn tay trắng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành chỉ có một khát vọng cháy bỏng là tìm đường giải phóng dân tộc. Chính khát vọng đó đã hun đúc cho người thanh niên mảnh khảnh một sức mạnh phi thường, bền bỉ tự học, tự đào tạo để có đủ khả năng cứu nước, cứu dân. Đến đâu, Người cũng học, tìm mọi cách để học. Người tìm hiểu phong tục tập quán ở những nơi mình đi qua để nâng cao tri thức; học nghề để kiếm sống, kiếm sống để hoạt động cách mạng. Bác đã học và làm rất nhiều nghề khác nhau, bắt đầu từ việc làm thợ đốt lò trên tàu viễn dương, làm đầu bếp ở Mỹ, quét tuyết ở Anh, bốc thuốc ở Thái Lan, viết báo, viết truyện, viết kịch, làm thợ chụp ảnh, thợ sửa đồng hồ… Làm rất nhiều việc, nhưng nhờ tự học mà Bác làm việc gì cũng giỏi. Khi tới thăm Việt Nam, danh họa người Pháp Picaso đã trao cho chúng ta những bản ký họa của Nguyễn Ái Quốc hồi còn ở Pa-ri và nhận xét: “Chỉ mấy nét vẽ này thôi, ta đã thấy một tư tưởng lớn, một tâm hồn lớn tiềm ẩn bên trong. Nếu tác giả tiếp tục con đường hội họa thì ắt sẽ trở thành một đại danh họa!”. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương phong phú và vô giá, tiêu biểu là tập thơ Nhật ký trong tù. Nhà Việt Nam học người Nga N.Phêđôrencô nhận xét: “Học chữ Hán cực khó, nắm vững nó, làm được thơ là một hiện tượng lạ, hiếm thấy… Nhật ký trong tù – một thi phẩm bằng chữ Hán có nội dung sâu sắc, ngôn từ, nhịp điệu phong cách rất riêng…”. Chắc chắn, nếu Bác không có quá trình nỗ lực tự học thì sẽ không làm được điều đó.

Trước khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), Bác đã học lớp Trung đẳng (lớp Nhì) tại Trường Quốc học Huế và lớp Cao đẳng (lớp Nhất) ở Trường Tiểu học Quy Nhơn với thầy Phạm Ngọc Thọ. Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, Người có học ở Trường Đại học Phương Đông (năm 1923), Đại học Quốc tế Lênin (năm 1934), nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các vấn đề thuộc địa (năm 1937) với luận án về cách mạng ruộng đất ở Đông nam Châu Á. Nhưng Bác chỉ nhận mình tự học và trên thực tế cả cuộc đời Bác vẫn tự học là chính. Năm 1935, dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Người ghi vào phiếu lý lịch của mình như sau: Trình độ học vấn: Tự học. Bác học ngoại ngữ, học viết báo, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Người biết và sử dụng thông thạo trên mười ngoại ngữ nhờ tự học chứ không qua một trường đào tạo chính quy nào. Người học ở sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân. Người học từ thực tiễn sinh động ở các nước đế quốc, nước thuộc địa, ở phong trào cách mạng trên thế giới. Phát biểu với sinh viên Trường Đại học Băng Đung trong chuyến thăm In-đô-nê-xi-a năm 1959, Người nói đại ý: Khi còn trẻ, tôi không có dịp đến trường học. Cuộc sống, du lịch và làm việc là trường đại học của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội, khoa học quân sự, lịch sử và chính trị. Nó dạy cho tôi yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình; căm ghét áp bức, ích kỷ… Đại tướng Hoàng Văn Thái kể rằng, năm 1969, mỗi lần đến làm việc, ông thường thấy trên chiếc bàn con bên giường của Bác để đầy sách báo đang xem. Ông lo lắng đến sức khỏe của Bác, nên đề nghị: “Thưa Bác, Bác mệt, Bác nên đọc ít, để nhiều thời gian nghỉ ngơi thư thả cho lại sức”. Bác trả lời, giọng như tâm sự mà rành rẽ, dứt khoát từng lời: “Chú bảo Bác không đọc sách báo ư? Dù già yếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là để nắm vững tình hình chứ!”. Những cuốn sách Người đọc ở thời gian cuối đời là các cuốn: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông, Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, The truth about Vietnam (Sự thật về vấn đề Việt Nam, NXB. Green Leaf Classic, 1966).

Cuộc đời của Bác là một quá trình: Vừa học tập vừa hoạt động cách mạng; học tập để hoạt động cách mạng, đạt được mục đích, lý tưởng của mình; qua hoạt động cách mạng, không ngừng học tập, hoàn thiện tri thức và nhân cách của bản thân. Người là nơi hội tụ với tầm cao nhất tinh hoa văn hóa nhân loại, xứng đáng với sự tôn vinh của tổ chức UNESCO: Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Quá trình ấy đã tạo nên Hồ Chí Minh, một thầy giáo mẫu mực, một nhà giáo dục vĩ đại. Người đã để lại tấm gương cao đẹp về tinh thần tự học và học tập suốt đời mà chúng ta phải noi theo. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Bác đã ghi: “Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga”. Trên thực tế, dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, chúng ta còn được biết vốn ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở đó, Người còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam… vốn ngoại ngữ đó của Bác không phải do “thiên bẩm” mà có, tất cả đều xuất phát từ sự khổ công luyện tập.

Việc tự học của Bác Hồ có mục đích cuối cùng là làm cách mạng, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chính là quá trình tự thích nghi, tự tìm tòi thâm nhập thực tiễn, đúc rúc kinh nghiệm, phát huy nội lực. Sâu xa hơn, đó là quá trình tự học, tự giáo dục để làm cho nhân cách và năng lực của mình phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, công việc. Khi tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Mát-xcơ-va vào tháng 8 năm 1935, Bác đã khai rõ trong lý lịch: “Họ và tên: Lin. Trình độ học vấn: Tự học”. Còn trong tập Nhật ký trong tù của Bác có bài Nghe tiếng giã gạo hết sức độc đáo: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”. Đó chính là ý chí tự học, tự rèn, tự phấn đấu không mệt mỏi. Người dạy: “Không chỉ có ở nhà trường, có lên lớp mới học tập… Trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều phải học tập!”. Người nói với cán bộ, chiến sĩ: “Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội cách mạng thì từ trên đến dưới, các cấp đều phải nghiên cứu học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”. Bác nói về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc rút kiến thức từ thực tiễn. Bác Hồ nhấn mạnh: “Phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Đặc biệt, Người tự học với một động cơ trong sáng với ý nghuyện cao cả là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, soi xét trong thực tiễn đã qua, hiện nay và cả mai sau, vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc; đó mãi là một tấm gương sáng ngời, một di sản vô giá đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục của Đảng và nhân dân ta. Từng cán bộ, đảng viên cần ghi sâu những lời dạy của Bác về nghị lực học tập, rèn luyện để có đủ đức, đủ tài phục vụ nhân dân. Tấm gương tự học và những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tự giáo dục mãi mãi tỏa sáng, soi rọi cho mỗi chúng ta phấn đấu, rèn luyện, tự vươn lên trong tu dưỡng và rèn luyện bản thân để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó.

Tháng 4, năm 2012
Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh


(1) – Hồ Chí Minh T.T, T.8, Trang 215, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2000.
(2) – Sdd, T.5, Trang 684.
(3) – Sdd, T.8, Trang 499.
(4) – Sdd, T.9, Trang 290.

bqllang.gov.vn

Tấm lòng của Bác Hồ với đồng bào công giáo

Bác Hồ luôn quan tâm đến mọi người và thường xuyên vun đắp cho khối đại đòan kết tòan dân tộc. Đồng bào công giáo là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đã được Bác Hồ dành cho những tình cảm, sự quan tâm sâu sắc và sự động viên kịp thời, cụ thể.

Bác Hồ nói chuyện với đồng bào Công giáo Thạch Bích

Ngay từ những ngày sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong hòan cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, với bao công việc bộn bề phải giải quyết, nhưng mỗi dịp Nô-en, Bác đều dành thời gian viết thư gửi cho đồng bào công giáo cả nước.

Trong thư gửi các linh mục và đồng bào công giáo ngày Nô-en đầu tiên sau cách mạng thành công (1946) Bác Hồ viết: “Trong lịch sử Việt Nam lần này là lần đầu tiên đồng bào công giáo ta làm lễ Thiên chúa giáng sinh một cách hoàn toàn vui vẻ trong một nước Việt Nam độc lập.

Tôi chắc chắn rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị giáo mục Việt Nam , đồng bào công giáo sẽ cùng tòan thể đồng bào trong nước cương quyết chiến đấu để giữ vững quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc”.

Niềm tin đó của Bác Hồ đã được các giáo dân, các vị linh mục, giám mục trên khắp mọi niềm từ Bắc đến Nam đáp lại với những việc làm cụ thể, thiết thực bằng tấm lòng “kính chúa, yêu nước” của mình. Nhiều linh mục đã hăng hái tham gia đóng góp sức mình vào cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi năm 1954. Trong đó, có những người đã được Bác Hồ nêu gương, khen thưởng. Chẳng hạn như anh Vũ Hạnh, một thanh niên công giáo ở Hải Phòng đã mưu trí, dũng cảm lập được thành tích trong kháng chiến và sau đó được cử làm tỉnh đội Hải Kiến (Hải Phòng – Kiến An). Hay như Linh mục Lê Văn Yên ở tỉnh Bắc Ninh đã nêu cao tinh thần gương mẫu, chăm lo xây dựng khối đại đòan kết dân tộc đã được Bác viết thư khen ngợi. Trong thư có đoạn: “Tôi rất vui là được Ủy ban kháng chiến khu III báo cáo rằng ngòai sự làm tròn nhiệm vụ một ủy viên trong Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bắc Ninh, ngài đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đòan kết giữa đồng bào lương và giáo. Ngài luôn luôn tận tâm săn sóc anh em thương binh. Ngài lại không nhận lương phụ cấp. Như thế là ngài đã nêu cao cái gương cần, kiệm, liêm, chính cho mọi người…

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ khen ngợi ngài. Tôi chắc rằng với những người đại biểu hy sinh kiên nhẫn như ngài thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Sau kháng chiến thắng lợi, miền Bắc hòan toàn giải phóng, Bác Hồ và Trung ương Đảng, Chính phủ về làm việc ở Hà Nội. Mỗi lần có đòan đại biểu các đòan thể, tôn giáo, các địa phương về Hà Nội họp, Bác Hồ đều giành thời gian gặp gỡ, hỏi thăm tình hình mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần, tín ngưỡng của đồng bào các tôn giáo. Bác còn giành thời gian đến thăm hỏi các linh mục, giáo dân ở nhiều nơi như Ninh Bình , Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tây…

Bác rất vui khi thấy đồng bào lương giáo đoàn kết cùng nhau lao động, sản xuất chăm lo xây dựng cuộc sống mới, thấy con em giáo dân được cắp sách đến trường, bà con giáo dân được chính quyền tạo điều kiện để cải thiện đời sống và bảo đảm tự do tín ngưỡng. Năm 1964, Bác Hồ trong thư gửi hội nghị đại biểu công giáo yêu nước đã viết: “Tôi rất vui lòng thấy đồng bào công giáo các giới hăng hái tham gia mọi công việc xây dựng Tổ quốc. Các cháu công giáo đi học ngày càng đông và tiến bộ. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hòan toàn đúng. Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục, các linh mục khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước lợi dân”.

Bác Hồ rất đau lòng khi được biết có những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng của Nhà nước ta để chống phá cách mạng, chia rẽ khối đoàn kết lương giáo, làm ảnh hưởng đến lòng yêu nước, kính chúa của giáo dân nước ta. Bác rất căm giận khi được tin kẻ thù xâm phạm tự do tín ngưỡng của đồng bào công giáo, bắn phá nhà thờ ở các nơi như: Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh , Nam Định… và giết hại bà con giáo dân.

Trong một bức thư gửi đồng bào công giáo dịp Nô-en Bác Hồ viết: “Chúng ta ăn tết Nô-en trong sự đau thương vì giặc Pháp tấn công Phát Diệm đã xâm phạm đến đất thánh ta, vì đồng bào công giáo Phát Diệm, Bùi Chu và nhiều nơi khác đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp dã man.

Vậy trong tết Nô-en này, chúng ta phải nhớ đến đồng bào trong những nơi ấy. Chúng ta phải đòan kết hơn nữa, kiên quyết hơn nữa để giải phóng đất Thánh của chúng ta và giải phóng tất cả đất nước của chúng ta”.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam , được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta, đồng bào công giáo đã tích cực tham gia cùng đồng bào cả nước làm nên những thành tựu to lớn và những thắng lợi vẻ vang. Nhiều tấm gương của các cá nhân, tập thể địa phương, thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi khác nhau trong đồng bào giáo dân đã xuất hiện và được giới thiệu tên các sách, báo. Bác Hồ luôn theo dõi sát sao những thành tích của mỗi người và Bác đã kịp thời biểu dương, khen thưởng tặng huy hiệu cho bà con. Chẳng hạn như cụ Nguyễn Hữu Tiến, 61 tuổi, giáo dân ở xã Ngọc Liễu, huyện Hiệp Hòa, Hà Bắc, hay như mẹ Hoạch – người công giáo ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, chị Thường, giáo dân ở Hợp tác xã Minh Khai, tỉnh Thanh Hóa, ông Vinh – giáo dân ở xã Quảng Phú, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Kể cả tấm gương của cụ Hộ ở vùng họ đạo sông Cấm (Nghệ An) thay chồng chở bộ đội qua sông giữa lúc máy bay Mỹ đánh phá; chị Vũ Thị Mến, 19 tuổi giáo dân ở Yên Văn, Ninh Bình cõng học sinh đến lớp học trong hòan cảnh chiến tranh ác liệt cũng đã được Bác Hồ quan tâm và gửi tặng huy hiệu của Người.

Những ngày tháng trước lúc “đi xa”, Bác Hồ vẫn dành thời gian đọc báo “Chính nghĩa” – một tờ báo của đồng bào công giáo để biết những việc làm và thành tích cũng như đời sống của giáo dân ở khắp mọi miền. Những bài viết về thành tích như chị Trần Thị Khoa ở Hưng Nhân (Thái Bình), gia đình cụ Vũ Thế Kỷ ở Hải Thịnh, Hà Nam, hay vợ chồng giáo dân Trần Văn Đức làm việc ở bệnh viện Phát Diệm (Ninh Bình)… đều đã được Bác Hồ đánh dấu đề nghị thưởng huy hiệu của Người.

Có thể nói tình cảm và sự quan tâm của Bác Hồ đối với những người có đạo nói chung, đồng bào công giáo nói riêng rất to lớn. Đó cũng là sự thể hiện cụ thể, nhất quán chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay./.

Quảng Thành Danh
danang.gov.vn

Những đoàn viên cộng sản đầu tiên

Tìm về nguồn cội

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Mát-xcơ-va (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”. Và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội…

Mùa hè năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Nga dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V.

Những người lãnh đạo Quốc tế Thanh niên cộng sản (tổ chức này do V.I.Lênin trực tiếp sáng lập từ năm 1919) tha thiết mời Nguyễn Ái Quốc tham gia ban trù bị Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV. Giữa bộn bề công việc đang đến với mình nhưng Nguyễn không thể từ chối.

Người yêu cầu lập ngay một nhóm làm việc trong đó có các đồng chí như Đa Lin, Phó Trưởng Ban quốc tế của Quốc tế Thanh niên cộng sản; Trương Thái Lôi, người anh hùng của Công xã Quảng Châu (Trung Quốc) sau này v.v…

Điều làm cho Nguyễn Ái Quốc hết sức trăn trở nhiều năm nay là tình trạng “Thiếu tổ chức và người tổ chức” ở các thuộc địa tuy “luồng gió mới” của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã làm dấy lên tinh thần đấu tranh ở những nơi còn phải chìm đắm trong đêm đen nô lệ; nhưng chỉ với tinh thần thôi mà “thiếu tổ chức, thiếu người tổ chức” thì liệu những người đang bị đọa đày ấy sẽ làm được điều gì ?

Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ IV diễn ra trọng thể tại hội trường Công đoàn ở Mát-xcơ-va.

Nguyễn Ái Quốc với tư cách là Ủy viên Đoàn Chủ tịch lãnh đạo Đại hội mang thẻ đại biểu số 94, đại biểu duy nhất của thanh niên Đông Dương và cũng là đại biểu duy nhất của toàn thể thanh niên các nước thuộc địa từ Á sang Phi đã phát biểu nhiều lần tại các phiên họp chung ở hội trường.

Song, giờ phút đáng nhớ và gây xúc động nhất chính là lúc Nguyễn Ái Quốc trình bày bản dự thảo “Luận cương về thanh niên thuộc địa” do chính Người chủ trì soạn thảo(1).

Chỉ một năm sau, tác giả chính của “Luận cương về thanh niên thuộc địa”(2) nổi tiếng ấy có mặt ở Quảng Châu. Tại “Thủ đô cách mạng của Châu Á” này, Nguyễn Ái Quốc đã mở trường, cho xuất bản báo để bồi dưỡng, đào tạo các lớp thanh niên yêu nước Việt Nam từ tổ quốc mình dũng cảm vượt qua vòng vây của kẻ thù đi tìm chân lý cứu nước.

Từ giờ phút này (giữa năm 1925), Nguyễn Ái Quốc bắt đầu quá trình chuẩn bị sáng lập một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam cùng một tổ chức thanh niên cộng sản Việt Nam làm đội hậu bị cho Đảng, làm lực lượng nòng cột cho phong trào thanh niên yêu nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chính vì vậy Bác Hồ đã dạy: “Khi nói đến lịch sử Đoàn chúng ta nên đi ngược lên đến năm 1925”(3) và cũng chính vì vậy khi nói đến những đoàn viên đầu tiên do Bác trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo chúng ta phải tìm về nguồn cội.

—————————-

(1) (2) “Nguyễn Ái Quốc là tác giả chính bản luận cương về thanh niên thuộc địa” – trích luận án phó tiến sĩ sử học mã số 50304 của Văn Tùng công bố trên báo Nhân dân số ra ngày 8/4/1990 nhân tiến tới kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5/1990.

(3)“Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam”, NXBTN-2004-tr.5.


Từ 8 thiếu niên ngày ấy

Đồng chí Hồ Tùng Mậu (thứ 4 hàng 2 từ phải sang) người thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Thái Lan (năm 1926) chọn một số thiếu niên sang Quảng Châu đào tạo. Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp.

Từ những năm 1924 đến 1926, phong trào yêu nước của nhân dân ta, đặc biệt là của tuổi trẻ có sự phát triển gây cho bọn thực dân và phong kiến không ít hoang mang, lo sợ. Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc Lanh (Merlin) của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành nhưng như Trần Dân Tiên nhận định: “Nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”.

Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra Hội Cách mạng thanh niên Việt Nam (trước đây gọi là “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”), tổ chức tiền thân của Đảng ta. Đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử của Đảng và dân tộc. Trường Huấn luyện chính trị do chính Người chủ trì cùng các đồng chí cộng sự Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn… ra đời thu hút nhiều lớp thanh niên yêu nước vượt biên giới đến học rồi trở về nước hoạt động, xây dựng tổ chức.

Với cương vị là người theo dõi phong trào cách mạng các nước châu Á, Nguyễn Ái Quốc biết được lúc này ở vùng Đông Bắc Thái Lan đang có nhiều đồng bào ta do bị thực dân Pháp khủng bố phải lánh sang nước bạn. Họ là những người yêu nước từng tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp do các sĩ phu lãnh đạo. Họ luôn canh cánh trong lòng tinh thần phục quốc, họ mở trường học cho con em, mời các thanh niên từng “Đông Du” ở Nhật về dạy.

Mùa hè năm 1926, Nguyễn Ái Quốc, lúc này mang bí danh là Lý Thụy cử Hồ Tùng Mậu, người đồng chí thân thiết của mình trở lại Thái Lan chọn một số thiếu niên con em các gia đình yêu nước đưa sang Quảng Châu đào tạo nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Thanh niên Cộng sản Đoàn. Đến Thái Lan, Hồ Tùng Mậu liên lạc được với cụ Tú Đặng tức Đặng Thúc Hứa, một sĩ phu chủ chốt trong “Quang phục Hội” truyền đạt ý kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Việc lựa chọn được thực hiện rất thận trọng, duy có một học sinh làm mọi người băn khoăn vì còn nhỏ tuổi quá (mới 12). Song cuối cùng, xét về cả tư chất và thân nhân, Hồ Tùng Mậu quyết định đưa vào danh sách. Đó chính là Lê Hữu Trọng.

Nhóm thiếu niên học sinh đầu tiên người Việt từ Đông Bắc Thái Lan đến Quảng Châu rất sung sướng, vui mừng được gặp ngay đồng chí Lý Thụy. Đúng hơn, đây có thể coi là một cuộc “đoàn tụ” giữa những người thân trong gia đình. Để bảo đảm tính hợp pháp và nguyên tắc bí mật, cả nhóm có bí danh và đều mang họ Lý.

Đó là: Lê Hữu Trọng mang bí danh Lý Tự Trọng; Đinh Chương Long mang bí danh Lý Văn Minh; Vương Thúc Thoại mang bí danh Lý Thúc Chất; Hoàng Tự mang bí danh Lý Anh Tự (có lúc đọc lệch là Tợ); Ngô Trí Thông mang bí danh Lý Trí Thông; Ngô Hậu Đức mang bí danh Lý Phương Đức (nữ); Nguyễn Thị Tích mang bí danh Lý Phương Thuận (nữ); Nguyễn Sinh Thản mang bí danh Lý Nam Thanh./.


Kế hoạch đào tạo lâu dài

Ngôi nhà 13A đường Văn Minh, Quảng Châu, Trung Quốc, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của Người đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên và 8 thiếu niên (từ năm 1925 - 1927). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại tầng hai ngôi nhà 13A phố Văn Minh (Quảng Châu, Trung Quốc), đồng chí Lý Thụy yêu cầu Tổng bộ Hội Cách mạng thanh niên mà cụ thể là đồng chí Lê Hồng Sơn tổ chức một lớp học chính trị ngắn ngày…

Sau khi thành lập, hầu như tuần nào đồng chí Lý Thụy cũng đến thăm lớp. Người thường kể về các tấm gương anh hùng của dân tộc như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung và cả Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám cho học sinh nghe. Người còn yêu cầu tổ chức cho học sinh tham quan cảnh đẹp, thăm mộ Phạm Hồng Thái… và sinh hoạt văn nghệ.

Những tháng hè và thời gian học chính trị qua nhanh. Thực hiện chủ trương đào tạo có hệ thống của đồng chí Lý Thụy, các đồng chí trong Tổng bộ đã liên hệ đưa 8 học sinh vào học tại trường Trung học Trung Sơn (Quảng Châu) trong lúc chờ đợi việc tiếp tục học tập tại Liên Xô.

Ngày 22/7/1926, đồng chí Lý Thụy gửi một bức thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên tiền phong thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam… các em còn nhỏ nhưng đã đau khổ nhiều, các em đã để cha mẹ ở nhà hàng ngàn cây số để bí mật đến Trung Quốc…”.

Thư đề nghị bạn nhận đào tạo những “Thiếu niên cộng sản đầu tiên của Việt Nam” này thành những “chiến sỹ Lêninnít trẻ tuổi” và đề xuất kế hoạch tiếp nhận rất cụ thể, chi tiết. Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc và ghi địa chỉ của Người: “Nilốpxki – Hãng thông tấn Rôxta Quảng Châu, Trung Quốc”.

Cùng ngày, đồng chí Lý Thụy còn gửi cho đồng chí đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên Cộng sản về việc Người đã gửi thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị tiếp nhận một số thiếu niên Việt Nam để đào tạo cùng lời yêu cầu đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Pháp liên hệ với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin ủng hộ chủ trương của Người.

Dưới thư ký tên: Nguyễn Ái Quốc, nhưng ghi địa chỉ với tên là Lưu (không phải là Nilốpxki) cùng cơ quan là Thông tấn xã Rôxta- Quảng Châu, Trung Quốc.
Qua hai bức thư này chúng ta càng thấy rõ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm và kiên trì chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, lớp thiếu niên học sinh Việt Nam đầu tiên nhằm chuẩn bị tiến tới xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta đến mức nào.

Lời đề nghị của Người đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đáp ứng thuận lợi. Tuy nhiên, khi kế hoạch đưa các học sinh Việt Nam sang Liên Xô đang được chuẩn bị triển khai thì ngày 15/4/1927, sau khi Tôn Trung Sơn mất, phái hữu (phản động) trong Quốc dân đảng Trung Quốc phá vỡ sự hợp tác Quốc – Cộng, làm đảo chính ở Quảng Châu.


Vượt qua thử thách trở thành đoàn viên

Lý Tự Trọng (dấu +) cùng các học viên Trường Võ bị Hoàng Phố viếng mộ liệt sỹ Phạm Hồng Thái tại Hoàng Hoa Cương (Trung Quốc)

Không chịu khuất phục trước sự phản bội hèn hạ của bọn phản động Quốc dân đảng, ngày 11/12/1927, một cuộc khởi nghĩa làm chấn động thế giới đã nổ ra ở Quảng Châu.

Theo lời kêu gọi của Ban Chấp hành Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Trung Quốc tỉnh Quảng Đông và chủ trương của Tổng bộ Hội Cách mạng Thanh niên, 8 học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn cùng với hầu hết học viên Việt Nam Trường Võ bị Hoàng Phố đã sát cánh với các chiến sỹ cộng sản Trung Quốc cùng đội ngũ công nhân và quần chúng cách mạng chiến đấu quyết liệt với quân đội của bọn phản động.

8 học sinh Việt Nam Trường Trung Sơn chia thành từng nhóm gia nhập các đội tuyên truyền, liên lạc, tiếp vận … phục vụ quân khởi nghĩa. Đây là cuộc thử thách quyết liệt đầu tiên đối với họ. Lúc đầu Lý Phương Đức và Lý Tự Trọng tham gia vào Đội Liên lạc, nhưng sau đó Trọng xin cấp vũ khí và tham gia Đội Tự vệ công nhân trực tiếp chiến đấu trên các chiến lũy dựng lên khắp các đường phố.

Song, khởi nghĩa Quảng Châu sớm bị dìm trong bể máu do lực lượng và trang bị chênh lệch. Quân khởi nghĩa rút ra khỏi thành phố. Rất nhiều chiến sỹ cách mạng Trung Quốc và Việt Nam có mặt ở Quảng Châu, trong đó có các học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn bị bọn phản động bắt giam, tra tấn… Lý Tự Trọng, Lý Phương Đức và các anh chị khác đều khảng khái hỏi lại chúng: “Chúng tôi chỉ là học sinh, các ông bắt chúng tôi về tội gì?”. Không một ai hé ra nửa lời, kiên cường chịu đựng đòn roi.

Các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bị lộ đã lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống khủng bố đòi trả tự do cho những người bị bắt. Với tinh thần quốc tế, các đồng chí đã tìm các luật sư có tiếng lúc ấy bảo vệ cho các đồng chí Trung Quốc và Việt Nam.

Không có bằng chứng nên cuối cùng bọn phản động phải trả tự do cho các đồng chí ta trong đó có hầu hết học viên Trường Võ bị Hoàng Phố và học sinh Việt Nam tại Trường Trung Sơn do trong hồ sơ đều ghi rõ là quê ở Quảng Đông. Một bộ phận các đồng chí cách mạng Việt Nam đã học ở Hoàng Phố chuyển về căn cứ địa Đông Giang tham gia xây dựng Hồng quân công nông Trung Quốc như Phùng Chí Kiên, Nguyễn Sơn …

Bộ phận khác phân tán đi vào quần chúng làm công tác vận động cách mạng. 8 học sinh Trường Trung Sơn buộc phải thôi học và cũng thực hiện việc phân tán theo các chiến sỹ cách mạng Việt Nam.

Qua thử thách trong đấu tranh thực tiễn, 8 học sinh Việt Nam đều lần lượt được kết nạp vào Đoàn. Lý Tự Trọng là người đoàn viên thứ tám do đến năm 1929, Trọng mới đủ 15 tuổi.

Trước yêu cầu mới, Trọng rời Quảng Châu sang Hương Cảng làm công nhân ở bến tàu giúp các đồng chí ta nối đường dây liên lạc về trong nước và đi các nước. Một số đoàn viên khác trong lớp 8 đồng chí đầu tiên về sau tìm được cách sang Liên Xô tiếp tục học tập theo chủ trương của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trước đây.


Họ đã sống và chiến đấu như thế

Ban Bí thư Trung ương Đoàn gặp mặt thân mật 2 nữ đoàn viên trong số 8 đoàn viên thuộc lớp đầu tiên nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Đoàn: Lý Phương Thuận (thứ 2 hàng 2 từ phải sang), Lý Phương Đức (thứ 2 hàng 3 từ phải sang). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”…

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở lại Hương Cảng để chuẩn bị chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Lý Tự Trọng được đồng chí Ung Văn Khiêm đưa về Sài Gòn hoạt động. Số đoàn viên còn lại (trong 8 đồng chí nêu trên) tiếp tục công tác ở Quảng Châu và tại tỉnh Quảng Đông cùng các đồng chí cách mạng Việt Nam trong số đó có nữ đoàn viên Lý Phương Thuận lúc này lấy tên là Lý Tam hay còn gọi là cô Ba.

Sau Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thành công tốt đẹp, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, rèn luyện với chính cương, sách lược, điều lệ … mở ra thời kỳ mới cho cách mạng nước ta.

Do một sơ suất từ bên ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lúc này lấy tên là Tống Văn Sơ bị mật thám Anh bắt giữ và đứng trước nguy cơ bị chúng trao cho mật thám Pháp theo sự dàn xếp, đeo bám của thực dân Pháp.

Cùng bị bắt với Tống Văn Sơ có đoàn viên Lý Phương Thuận (Lý Tam). Mặc dù bị tra hỏi và đe doạ gắt gao kể cả đòn roi, Lý Phương Thuận nhất mực không khai báo nửa lời, giữ tròn khí tiết của người đoàn viên thanh niên cộng sản.

Luật sư Lô-dơ-bai nổi tiếng đã vượt qua nhiều khó khăn cứu thoát Tống Văn Sơ ra khỏi nhà tù với lòng cảm phục nhà lãnh đạo cách mạng lớn của Việt Nam.

Ông bà Lô-dơ-bai đã hết lòng giúp Nguyễn Ái Quốc – Tống Văn Sơ trở lại Liên Xô … Lý Tam vô tội trở lại với đội ngũ chiến đấu của mình và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về nước công tác.

Ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng bị thực dân Pháp kết án tử hình do trước đó (ngày 8/2/1931), anh đã bắn chết tên mật thám Pháp cáo già khét tiếng tàn bạo Lơ-gơ-răng trên đường phố Sài Gòn nơi có sân bóng đá La-ray-nie.

Trước bọn quan toà thực dân, Lý Tự Trọng ngẩng cao đầu dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác”.

Các thế hệ trẻ Việt Nam tiếp bước theo anh và các đồng chí của anh coi đó là bản Tuyên ngôn bất diệt trên con đường đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

10 năm sau, kể từ ngày 17/4/1931, quân đội của phát xít Đức tiến sát Thủ đô Mát-xcơ-va trong đại chiến thế giới lần thứ 2.

Lý Nam Thanh, Lý Thúc Chất, Lý Anh Tự (tức Tợ), ba trong số 8 đoàn viên đầu tiên cùng các đồng chí Việt Nam khác đang học tập và làm việc tại Liên Xô tình nguyện tham gia sư đoàn quốc tế bảo vệ Liên Xô.

Cả ba đồng chí đã hy sinh anh dũng tại mặt trận phía Nam Mát-xcơ-va và đều được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương Vệ quốc cao quý.

Trong các cuốn biên niên sử của Đoàn ta, Đội ta, 8 đoàn viên ấy – “tám cháu hiếm hoi từ bước đầu” do Bác Hồ kính yêu bồi dưỡng, đào tạo mãi mãi là 8 đoá hoa ngát hương trong rừng hoa rực rỡ của triệu, triệu chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân vì lý tưởng của Đảng, của Bác. Hãy nhận lấy và nhân lên niềm tự hào và sự vinh quang không dễ gì có được này.


Đoàn ta ra đời

Thẻ đại biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV (15/7/1924) tại Matxcơva (Liên Xô). Ảnh do Bảo tàng các thế hệ trẻ cung cấp

Tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Người và các đại biểu đặc biệt quan tâm đến công tác vận động thanh niên. Cùng với việc thông qua Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, Hội nghị đã thông qua Điều lệ Thanh niên Cộng sản Đoàn.

Trong Điều lệ của Đảng ghi một điều quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên Cộng sản Đoàn”. Hội nghị còn nêu rõ trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với công tác xây dựng Đoàn.

Quán triệt tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, tháng 10/1930, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất đã thảo luận và thông qua một văn kiện mang ý nghĩa lịch sử mở ra thời kỳ mới trong quá trình xây dựng tổ chức Đoàn.

Đó là “Án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động”. “Án nghị quyết” đã chỉ rõ nhiệm vụ cần kíp của tất cả các đảng viên cộng sản bằng một câu khẳng định như sau: “… Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc thanh niên cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như việc Đảng vậy…”.

Ngày 20/4/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta nhận được một bức thư quan trọng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài gửi về trong đó Người nhắc nhở Trung ương về việc phải khẩn trương xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn.

Đặc biệt, trong thư Người đã thông báo cho Trung ương biết số lượng đoàn viên trong cả nước đến lúc ấy là 942 đồng chí (trừ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đang bị địch khủng bố ác liệt sau khi bùng nổ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh – chú thích của người viết).

Cuối thư Người chỉ thị: “Tôi đề nghị cần kíp nhất là thống nhất Thanh niên Cộng sản Đoàn… làm cho họ có sinh hoạt độc lập”. Ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ rất phù hợp và thống nhất với chủ trương của Trung ương về quá trình xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, làm tăng thêm tầm quan trọng, tính khẩn trương của vấn đề.

Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta tiến hành Hội nghị lần thứ 2. Tại Hội nghị này Trung ương đã dành nhiều thời gian trong những ngày cuối để thảo luận và tiếp tục có những quyết định quan trọng về công tác thanh vận như chính thức chỉ định một đồng chí trong Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách công tác vận động thanh niên.

Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ hai vạch rõ: “…lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức ra Đoàn, đốc xuất chi bộ tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn…”.

Trước đây, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất (2/1950) quyết định lấy ngày 20/4 hàng năm làm ngày kỷ niệm Ngày thành lập Đoàn. Đó là ngày ra đời của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba (1961), Ban Bí thư Trung ương Đoàn (khóa II) quyết định thành lập Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn nhằm từng bước làm sáng rõ những vấn đề quan trọng trong lịch sử Đoàn và phong trào thanh niên nước ta trong đó có việc xác định một cách khách quan, khoa học thời điểm ra đời của Đoàn phù hợp với thực tiễn lịch sử.

Được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 đã thảo luận và biểu quyết lấy ngày 26/3/1931, một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn hàng năm đúng với thực tiễn lịch sử đã diễn ra.

Theo Văn Tùng (Nhà sử học)
Phương Thúy (st)

cpv.org.vn

Bác Hồ kể chuyện Tây du ký

 – Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đánh lớn, đánh tập trung. Thấy cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tình hình, nhiệm vụ. Bộ Chính trị quyết định triệu tập cán bộ, mở lớp học ngắn ngày. Nội dung lớp học là “Quán triệt tình hình, nhiệm vụ, chống tham ô lãng phí, quan liêu, quân phiệt”.

Học viên là cán bộ cao cấp các ngành quân, dân, chính, đảng trên mọi chiến trường trong cả nước. Lớp học được tổ chức giữa khu rừng đại ngàn khá đẹp, cạnh cơ quan Trung ương, gần nơi Bác ở và làm việc.

Ông Lê Văn Lương, Chánh văn phòng Trung ương Đảng được Bác chỉ định phụ trách lớp. Bác trực tiếp biên soạn giáo án, làm giáo viên hướng dẫn học tập, kiểm điểm. Công việc dạy và học được tiến hành rất thuận lợi, kết quả khả quan, Bác rất vui. Hôm làm kiểm thảo Bác nói:

– Các chú học đã thông lý thuyết, tranh luận cũng đã nhiều. Vận dụng lý luận đã học vào kiểm thảo là rất cần thiết. Bác bận không có thời gian xem hết lý luận của các chú. Tình hình, nhiệm vụ, các chú đã quán triệt, không cần thiết phải trình bày. Các chú đi vào kiểm điểm cá nhân, viết cụ thể xem mình tham ô, lãng phí bao nhiêu? Tất cả quy thành tiền. Quan liêu, quân phiệt bao nhiêu lần? Hành động thô bạo với nhân dân, với chiến sĩ bao nhiêu lần? Bao nhiêu người? Vậy thôi, không cần dài dòng.

Hôm trả bài, mọi người vừa có mặt đông đủ ở hội trường thì Bác bước vào. Nét mặt của Bác hôm đó không được vui. Cán bộ trực ban hô “Nghiêm!” rồi báo cáo Bác. Bác vừa ra hiệu cho mọi người ngồi xuống thì một đồng chí đứng lên hô to:

– Đả đảo tham ô, lãng phí, quan liêu, quân phiệt!

Bác giơ cao tập kiểm thảo của học viên lên nói:

– Lý thuyết! Lý thuyết! Thực tế đây này. Nhiều đồng chí sợ địch, ngại gian khổ, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài. Nhiều đồng chí thiếu trách nhiệm để kẻ địch đốt hàng trăm tấn gạo, đổ xuống sông hàng trăm tấn muối, phá hủy hàng chục tấn súng đạn. Có đồng chí tham ô hàng vạn, hàng triệu đồng…, đánh đập, chửi mắng chiến sĩ, nhân dân.

Bác phân tích tác hại của hành động, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách đại đoàn kết dân tộc, tới chính sách mặt trận, tới tài sản của nhân dân, ảnh hưởng tới thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Cả hội trường im phăng phắc nghe Bác nói.

Trưa hôm đó, một trưa hè oi nồng, vì không ngủ được nên một số anh em rủ nhau ra suối tắm. Giữa rừng sâu nên anh em tha hồ vừa thoải mái ngâm mình dưới dòng nước, vừa trao đổi về bài tổng kết của Bác. Ngay lúc đó, Bác từ trên nhà sàn bước xuống. Ai cũng đoán Bác đi sang khu Trung ương.

Người thoăn thoắt đi về phía anh em đang tắm. Mọi người hoảng, chưa biết xử trí ra sao, thì một cán bộ nhanh nhẹn mặc quần áo lên hướng dẫn Bác đi lối khác. Bác gạt đi:

– Bác cùng tắm với các chú cho vui!

Thế là Bác cháu cùng ngâm mình xuống dòng nước trong mát. Đàn cá con luồn lách trong khe đá, lượn lờ chung quanh mọi người. Cán bộ Lương Tuấn Khang cọ lưng cho Bác, xúc động thưa với Bác:

– Thưa Bác, Bác gầy quá!

Bác im lặng một chút, rồi hỏi đồng chí Khang:

– Kiểm thảo vừa rồi, chú có khuyết điểm gì không?

– Thưa Bác có chứ ạ! Cháu tham ô một vạn tư.

– Chú một vạn tư, chú kia một vạn tư, chú này một vạn tư thì Bác làm sao béo được!

Anh em tắm quanh đó lặng người, chú ý theo dõi câu chuyện của hai Bác cháu.

Cán bộ Khang lại hỏi Bác:

– Thưa Bác, không phải cháu tham ô, mà vì cháu đã có áo mưa, quân nhu không biết lại phát cho cháu một chiếc nữa. Cháu lãnh, rồi đem cho đồng chí khác chưa có (chiếc áo mưa hồi đó trị giá một vạn tư). Thưa Bác, như vậy có phải khuyết điểm không ạ?

Bác quay lại:

– Thôi chú cọ lưng cho Bác sạch rồi. Ta đổi công cho nhau.

Bác cọ lưng cho  Khang, rồi nói:

– Phải xem xét động cơ. Chú cho anh em không có sự đòi hỏi gì, cho với tinh thần vô tư thì việc cho của chú là tốt. Còn, chú cho bạn với động cơ có đi, có lại hoặc có điều kiện nào đó, thì việc cho áo mưa của chú cần phải xem xét.

Thời hạn lớp học sắp kết thúc. Hôm đó, Bác giải đáp để hôm sau các học viên trở về đơn vị. Bác yêu cầu anh em kể Tây du ký cho mọi người nghe… Câu chuyện cần phù hợp với nội dung bài học.

eBác Hồ với các chiến sĩ tại khu di tích Đền Hùng năm 1954. Ảnh TL.

Ông Tôn Quang Phiệt được Bác chỉ định kể đầu tiên. Suy nghĩ một hồi, ông Phiệt kể cho anh em nghe đoạn Tôn Hành Giả ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Một lần Tôn đánh chết ông cụ, một lần đánh chết bà cụ, một lần đánh chết cô gái, nên bị Tam Tạng đuổi về Hoa Quả Sơn.

Ông Tôn Quang Phiệt tóm tắt:

– Tôn Hành Giả biết phân biệt kẻ thù. Đã phân biệt chính xác kẻ thù thì tấn công quyết liệt, gặp bất cứ trở ngại gì cũng vượt qua.

Bác chỉ định một người khác kể. Cán bộ đó kể đoạn Bát Giới xin ở lại làm con rể phú ông. Cán bộ đó kết luận:

– Làm cách mạng là phải triệt để đừng như Bát Giới ham phú quý, giàu sang giữa đường định bỏ dở sự nghiệp.

Một cán bộ nữa xin Bác cho phép kể đoạn Đại Thánh đại náo thiên cung. Cán bộ kết luận:

– Đã là người anh hùng nắm chắc chân lý, thì ông trời cũng không sợ.

Bác cười khen:

– Các chú nhớ cả đấy. Chuyện nào cũng vậy, đều có thiện, có ác, có chính, có tà. Chuyện nào cũng dạy người ta ăn ở nhân nghĩa, bỏ điều ác, làm điều thiện. Có gian khổ mới có vinh quang thắng lợi. Thầy trò Đường Tam Tạng từ Đại Đường sang tận Tây Trúc lấy kinh, trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, thử thách, gặp bao nhiêu yêu quái mới thỉnh được kinh đem về cho vua Đường. Thầy trò Đường Tăng đã vượt qua ba điều cấm: Một là không ham tiền tài, hai là không ham địa vị, ba là không ham gái đẹp.

Khi gặp Phật tổ Như Lai, lấy được kinh, Đại Thánh thưa với sư phụ: “Thưa thầy, chúng ta đã thành chính quả”. Tam Tạng nói với Đại Thánh: “Chưa đâu, đây mới là thành công bước đầu của thầy trò ta, đạt đến chính quả còn gian khổ lắm”.

Cuộc kháng chiến của chúng ta mới chỉ là những bước giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh mà thôi. Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập cũng mới chỉ là bước đầu. Bác cháu ta còn phải kiến quốc làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Điều đó mới thực vất vả, khó khăn.

Bác cháu ta hiện nay mới chỉ bước những bước đầu tiên trên con đường kháng chiến, mà đã có nhiều đồng chí ham tiền tài, địa vị, gái đẹp thì kháng chiến ta làm sao thành công được. Xưa cũng như nay, muốn thành chính quả thì phải tránh ba điều răn. Muốn kháng chiến thắng lợi phải tránh ba điều cấm. Vì cuộc kháng chiến của Bác cháu ta còn phải trải qua muôn vàn gian khổ, có nỗ lực vượt qua được thì mới thành công, thắng lợi. Kết luận của Bác có thế thôi.

Sau đó, Bác cho phép mọi người nêu thắc mắc để Bác giải đáp. Đồng chí Nam Long đứng lên xin phép Bác được nêu thắc mắc:

– Thưa Bác, Bác nói trong con người ta có ông Thiện, ông Ác. Ông Thiện bảo ta làm những điều tốt lành. Ông Ác xúi ta làm những việc độc ác. Thưa Bác, trong Bác có ông Thiện, ông Ác không ạ?

Bác cười tủm tỉm:

– Có chứ! Bác cũng như mọi người đều có ông Thiện ông Ác. Từ nơi Bác ở tới lớp học phải qua một cái đèo cao. Leo tới đỉnh đèo thì Bác đã mệt. Phong cảnh tuyệt đẹp, trời trong xanh, mây bay vượn hót, chim kêu, nước chảy.

Ông Ác nói với Bác: “Dừng chân nghỉ một chút cho đỡ mệt, ngắm mây trôi, nước chảy, nghe vượn hót chim kêu, hút một điếu thuốc cho sảng khoái rồi lại lên đường. Kháng chiến còn lâu dài gian khổ, nghỉ một chút có sao đâu”.

Ông Thiện lại nói với Bác: “Không được! Hàng trăm người đang chờ đợi Bác. Chỉ cần chậm một phút là lãng phí hàng trăm phút. Mình là giảng viên, lại càng cần phải gương mẫu”.

Ông Ác nói cũng phải – mệt ngồi nghỉ một chút là lẽ thường tình, có chi phương hại. Ông Thiện nói cũng đúng – bắt hàng trăm con người chờ đợi, hao phí thời gian, đành tâm sao được.

Biết nghe ai bây giờ? Nghe ai và không nghe ai? Khó thật đấy! Song, cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình. Suy nghĩ một hồi, Bác quyết định nghe theo ông Thiện. Bác nhét điếu thuốc lá vào bao, cất bật lửa vào túi. Bác đi tới lớp học.

Đó, ai dạy mình điều phải. Ai xui mình làm điều sai. Cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình.

Mỗi khi gặp khó khăn, các học viên lớp học ngày ấy lại nhớ tới lời dạy của Bác qua các câu chuyện trong Tây du ký.

Trần Kỳ – Tap chí Hồn Việt
bee.net.vn

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời

 – Ngay sau khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trên cả nước, mọi công việc được gấp rút chuẩn bị để Chính phủ mới ra mắt nhân dân. Trước ngày 27/8/1945, Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam – đã được Quốc dân đại hội Tân Trào giao cho nhiệm vụ lãnh đạo toàn thể nhân dân như một Chính phủ lâm thời – đã ra tuyên cáo khẳng định đây là Chính phủ của toàn dân, kêu gọi nhân dân ủng hộ Chính phủ, xây dựng Tổ quốc.

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời (1)

Hỡi quốc dân đồng bào !

Toàn quốc đại biểu đại hội họp ngày 16 – 17/8/1945 đã cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam để lĩnh đạo nhân dân tranh đấu giành quyền độc lập.

Sau ngày lịch sử 19/8/1945, chính quyền toàn quốc đã vào trong tay Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Toàn dân tộc đúc thành một khối, ủng hộ chính quyền mới. Thể lòng dân, nhà vua cũng vui lòng thoái vị, nhường quyền cho Chính phủ nhân dân lâm thời.

Phong trào cứu quốc cao vọt. Các tầng lớp nhân dân sôi nổi một bầu nhiệt huyết. Ai nấy đều sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi của Chính phủ nhân dân lâm thời, sẵn sàng đứng dậy chống ngoại xâm, phá âm mưu khôi phục nền thống trị của Pháp.

Chính phủ lâm thời VNDCCHChính phủ lâm thời nước VNDCCH

Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề. Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ. Bởi vậy, tuân theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho.

Chính phủ lâm thời không phải là Chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Nó thật là một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ dân chủ cộng hòa chính thức.

Hỡi quốc dân đồng bào !

Vận mệnh ngàn năm của dân tộc ta đang quyết định trong lúc này đây. Toàn thể quốc dân hãy khép chặt hàng ngũ, đứng dưới lá quốc kỳ, làm hậu thuẫn cho Chính phủ lâm thời, đặng nắm chắc tự do, độc lập, cải tạo Tổ quốc bấy nhiêu lâu đã bị bọn giặc nước tàn phá.

Cuộc tranh đấu cho “độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc đang tiếp tục, bước đường giải phóng dân tộc còn nhiều chông gai, hiểm trở. Quốc dân hãy sẵn sàng nghe hiệu lệnh của Chính phủ, hy sinh phấn đấu để bảo vệ nền độc lập hoàn toàn.

Khẩu hiệu của chúng ta lúc này là:

Toàn dân đoàn kết !
Tranh thủ hoàn toàn độc lập !

Một dân tộc có những trang lịch sử oanh liệt phải được quyền sống chính đáng. Một dân tộc đã góp một phần xương máu vào cuộc chiến tranh chống phát-xít xâm lược trong mấy năm nay, phải được độc lập tự do.

Đoàn kết phấn đấu, nhất định chúng ta sẽ thành công.

Ngày 27/8/1945
CHÍNH PHỦ LÂM THỜI
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

1. Sau khi giành được chính quyền, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt nam tự cải tổ, thâu nạp thêm một số nhân sĩ vô đảng phái vào và rút bớt người của Việt minh ra để thành lập Chính phủ lâm thời có tính chất toàn dân đoàn kết.

Bản tuyên cáo này phát ra khi Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam vừa cải tổ. Một tang chứng tỏ rõ Việt minh không giành chính quyền cho riêng mình. Việt minh lãnh đạo nhân dân giành chính quyền cho nhân dân. Sau khi chính quyền vào tay nhân dân rồi, Việt minh vui vẻ mời những bậc ái quốc, những người thật tâm yêu nước cùng mình gánh việc nước. Thái độ chân chính của Việt minh đã được đồng bào nhiệt liệt tán thưởng. Nó đã giúp một phần lớn cho mặt trận dân tộc thống nhất giành quyền độc lập ngày một rộng rãi và vững vàng thêm.

(Theo Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006).
bee.net.vn

Nhìn lại Chính phủ Liên hiệp kháng chiến VNDCCH 2/3/1946

 – Nhiệm vụ của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến vô cùng nặng nề: ứng phó với kẻ thù, thống nhất quốc dân, động viên nhân lực, tài sản quốc dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 6/1/1946, lần đầu tiên cuộc tổng tuyển cử tự do được tổ chức trên toàn quốc trong không khí náo nức phấn khởi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời. Ngày 2/3/1946, Quốc hội khoá I đã tiến hành  kỳ họp thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội, bầu ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắtChính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắt 2/3/1946

Quốc hội trao cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nhiệm vụ “thực hiện triệt để sự thống nhất các lực lượng của quốc dân về phương diện quân sự, tuyên truyền, hành chính, tư pháp”, tổng động viên nhân lực và tài  sản của quốc gia theo nhu cầu của tình thế để đưa kháng chiến đến thắng lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.

Trong thời gian hoạt động của mình, ở tình thế thù trong giặc ngoài, Chính phủ đã có những quyết sách và hành động đúng đắn, sáng tạo. Để đối phó với quân Tưởng, Chính phủ đã cử phái đoàn Việt Nam gồm 5 thành viên là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp và Phó chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội Vũ Hồng Khanh ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đồng ý cho 15.000 quân Pháp thay thế cho 20 vạn quân Tưởng ở miền Bắc.

Sau đó, Chính phủ thay mặt quốc dân đàm phán với Pháp tại Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Fontainebleau và ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946, tạo sự hòa hoãn tạm thời để kiện toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Ngày 9/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố bản Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH.

Danh sách thành viên

Chủ tịch: Hồ Chí Minh
Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng
Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh
Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri
Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai
Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè
Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa
Bộ trưởng Bộ Canh nông: Bồ Xuân Luật (đến 4-1946)
Huỳnh Thiện Lộc  (từ 4-1946)
Đoàn Cố vấn tối cao:  Vĩnh Thụy
Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội: Võ Nguyên Giáp

(Theo Chinhphu.vn)

1. Chủ tịch: Hồ Chí Minh (xem kỳ trước)

2. Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (xem kỳ trước)

3. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam

Nguyễn Trường Tam

Nguyễn Trường Tam (1905-1963)

Nguyễn Tường Tam (1905-1963), quê ở làng Cẩm Phổ, Hội An, Quảng Nam. Ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ 02/03/1946 đến 03/11/1946 trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Ông cũng tham gia Quốc hội khóa I đặc cách không qua bầu cử.

Ngoài ra, ông từng là chủ bút những tờ báo lớn như Phong Hóa, Ngày Nay… Ông là người thành lập nhóm văn chương Tự Lực Văn Đoàn và là cây bút chính của nhóm với bút danh Nhất Linh.

4. Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) là người làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kì. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia nội các Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm quyền Chủ tịch nước. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt). Cuối năm 1946, ông là đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng

Chu Bá Phượng là đại biểu Việt Nam Quốc dân đảng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, thay Nguyễn Tường Long trong Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ngày 4/6/1946, ông được Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa cử làm phái viên trong phái đoàn Việt Nam sang Paris.

6. Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến (xem kỳ trước)

Ông Lê Văn Hiến trong hai Chính phủ Lâm thời 2/9/1945 và Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động, nay chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Tài chính.

7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh

Phan Anh

Phan Anh (1912-1990)

Phan Anh (1912-1990) quê làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là luật sư nổi tiếng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngoài ra, ông được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (1946), Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954) và là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève (1954).

Sau năm 1954, ông liên tục giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương trong Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Từ năm 1988, ông giữ cương vị phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

8. Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri

Bác sĩ Trương Đình Tri làm Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động tròng Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 và Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến 2/3/1946.

9. Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai (1902-1984)

Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy viên Ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Đặng Thai Mai cũng là nhà nghiên cứu phê bình văn học. Ông là Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trường dự bị đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

10. Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè (xem kỳ trước)

Ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục từ tháng 2/9/1945 đến tháng 1/1/1946, rồi làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ 2/3/1946 đến 15 năm sau.

11. Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa (1907-1989)  quê ở ngoại ô thành phố Huế. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Giám đốc Công chính Trung bộ, Bộ trưởng Bộ Giao thông – Công chính (từ tháng 3/1946  đến tháng 9/1955), Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi và Kiến trúc, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi.

Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khóa VII, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI, là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Xô trong nhiều năm.

12. Bộ trưởng Bộ Canh nông:

– Bồ Xuân Luật (2/3/1946 đến 4/1946)

Bồ Xuân Luật

Bồ Xuân Luật (1907-1994)

Bồ Xuân Luật (1907-1994) quê ở xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Sau khi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến thành lập, Bồ Xuân Luật được Hồ Chủ Tịch giao cho giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông, sau này là Bộ trưởng không Bộ, Ủy viên Thường vụ Quốc hội từ khóa I đến khóa IV, Ủy viên Ủy ban Trung ương và Ủy viên Ban thư ký Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (I, II, III).

– Huỳnh Thiện Lộc (từ 4/1946)

Huỳnh Thiện Lộc (1910-1952) sinh ra tại Rạch Giá, miền Tây Nam Bộ. Tháng 1/1946, là một trí thức, ông được Chính phủ Cách mạng chọn vào đoàn đại biểu Quốc hội. Tháng 4/1946, ông được Chính phủ bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Canh nông trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến và được chọn vào phái đoàn đi dự Hội nghị Fontainebleau ở Pháp. Năm 1947, ông được bổ nhiệm chức vụ Ủy viên Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Bộ, kiêm Phó Chủ tịch Hội Liên Việt Nam Bộ. Năm 1952, ông ngã bệnh và một thời gian sau ông qua đời.

13. Cố vấn Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy (1913-1997)

Vĩnh Thụy (1913-1997) là tên húy của vua Bảo Đại – vị Hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn. Tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức “Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam”, ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại diện đoàn cố vấn tối cao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

15. Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp (xem kỳ trước)

LỜI TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC
CỦA CHÍNH PHỦ DO HỒ CHỦ TỊCH ĐỌC NGÀY 2-3-1946
Chúng tôi, Chính phủ Kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Tối cao cố vấn đoàn và Uỷ viên Kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2002, t. 4, xuất bản lần thứ hai, tr. 195.

Ngọc Ánh (Tổng hợp từ chinhphu.vn/quochoi.vn/ các báo, tạp chí và website Việt Nam)
bee.net.vn