Tag Archive | Đạo đức Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh với đạo đức người làm báo

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam, người khai sinh ra tờ báo cách mạng đầu tiên của nước nhà – báo Thanh niên, ngày 21-6-1925. Kể từ bài báo đầu tiên “Vấn đề dân bản xứ” đăng trên tờ Nhân đạo (L’Humanité) của Đảng Cộng sản Pháp ngày 2-8-1919, đến bài báo cuối cùng “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng trên báo Nhân Dân ngày 1-6-1969, Hồ Chí Minh đã để lại một di sản quý báu khoảng 2.000 bài báo với rất nhiều thể loại, bút danh khác nhau. Sử dụng báo chí như một công cụ đắc lực phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà báo kiệt xuất Hồ Chí Minh đã tạo dựng nên một phong cách, một tấm gương đạo đức sáng ngời cho những người chiến sĩ cầm bút đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, định hình nên những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho người làm báo Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Coi trọng, triển khai bài bản, nghiêm túc việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

(TCTG) – Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư về đẩy mạnh việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương rất coi trọng, triển khai bài bản, nghiêm túc và đạt được một số kết quả bước đầu rất thiết thực.

Với 60 đảng bộ trực thuộc, gần 6,5 vạn đảng viên, địa bàn công tác rộng, nhiệm vụ chính trị đa dạng, có tầm ảnh hưởng xã hội nhanh và lớn, nên công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư về đẩy mạnh việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương rất coi trọng, triển khai bài bản, nghiêm túc và đạt được một số kết quả bước đầu rất thiết thực.

Về công tác chỉ đạo, sau khi có Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã ban hành Kế hoạch, Hướng dẫn trong toàn đảng bộ để tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện; thành lập Bộ phận giúp việc, Bộ phận chuyên trách, Quy chế làm việc của Bộ phận giúp việc.

Sáu tháng cuối năm 2011, Đảng ủy đã tiến hành sơ kết đánh giá việc tổ chức quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị, triển khai Kế hoạch của Ban Bí thư, xác định phương hướng, nhiệm vụ năm 2012, tập trung vào hai nội dung đó là học tập chuyên đề và đưa nội dung học tập tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chi bộ hàng tháng.

Đến hết năm 2011, hầu hết các đảng ủy cấp trên cơ sở đã thành lập Bộ phận giúp việc, ban hành Quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ đối với từng thành viên.

Tính đến ngày 22/02/2012 đã có 55/60 đảng bộ xây dựng kế hoạch hoặc hướng dẫn triển khai Chỉ thị; 44/60 đảng bộ đã thành lập Bộ phận giúp việc; 39/60 đảng bộ đã xâu dựng Quy chế làm việc của Bộ phận giúp việc; các đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng ủy Khối không thành lập Bộ phận giúp việc cũng đã phân công đồng chí cấp ủy trực tiếp tham mưu cho Ban Thường vụ việc triển khai Chỉ thị.

Về công tác tổ chức thực hiện, sau Hội nghị triển khai của Đảng ủy Khối và các Đảng ủy trực thuộc (tháng 10/2011), dịp tổng kết năm 2011, các tổ chức cơ sở đảng đã gắn việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với việc đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và các cấp ủy, gắn với tổng kết công tác đảng năm 2011. Một số đảng ủy có cách làm hiệu quả như: Hội thảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ và việc vận dụng những tư tưởng đó ở Viện Khoa học Xã hội Việt Nam hiện nay” của Đảng ủy Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức; Hội thi “Quy tắc ứng xử Ngành Y tế theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ Y tế tổ chức; Đảng bộ Bộ Tài chính quan tâm tổ chức học ngoại khóa cho cán bộ, đảng viên tại các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa, tạo sức hấp dẫn, ấn tượng và thuyết phục; Đảng bộ Văn phòng Quốc Hội chọn nội dung “thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” để tập trung chỉ đạo, triển khai; Đảng bộ Ban Dân vận Trung ương phát động xây dựng “Tủ sách Bác Hồ”, thu hút cán bộ, đảng viên đọc, nghiên cứu, xác định nội dung học tập, làm theo phù hợp với công việc của cá nhân, cơ quan, đơn vị…

Việc xây dựng chuẩn mực đạo đức được các đảng ủy quan tâm chỉ đạo, rà soát, đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, thảo luận dân chủ, xác định những nội dung cụ thể.

Đến nay đã có 32/60 đảng bộ xây dựng xong chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, các chuẩn mực đó đều bám sát nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, đặc thù công tác của cơ quan, đơn vị, ngắn gọn, cụ thể. Ví dụ, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên Văn phòng Trung ương Đảng có 5 nội dung là: Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; Có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ vững nguyên tắc làm việc, giữ bí mật công tác. Tận tụy, chu đáo, chủ động, sáng tạo, tích cực học tập, tinh thông nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đoàn kết, tôn trọng, cầu thị, hợp tác tốt với đồng chí, đồng nghiệp. Trung thực, liêm khiết, tiết kiệm, gương mẫu trong công tác và sinh hoạt. Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên Đảng bộ Bộ Tài chính là: Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Đoàn kết, thân ái, gương mẫu, trung thực. Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên Đảng bộ Ban Đối ngoại Trung ương là: Tuyệt đối trung thành. Kiên định, sáng tạo. Tận tụy, cẩn trọng. vv.vv

Về công tác tuyên truyền, các cơ quan báo chí, truyền thông trong Khối thường xuyên duy trì các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết quả triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư trong phạm vi cả nước, trong đảng bộ nhất là các cách làm sáng tạo, hiệu quả, gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cách làm hình thức, chiếu lệ.

Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng thông qua kế hoạch cụ thể. Trong 9 tháng qua, Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã tiến hành kiểm tra 3 đảng bộ; giám sát 2 đảng bộ. Thông qua kiểm tra, giám sát, các đảng bộ đó đã có những chuyển biến tích cực, rõ, góp phần xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, rèn luyện đảng viên và tạo hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Trong những tháng đầu năm 2012, Bộ phận giúp việc của Đảng ủy Khối cũng đã tổ chức một số đoàn kiểm tra việc triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị tại 3 đảng bộ.

Cũng từ công tác kiểm tra, giám sát của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc được coi trọng, đã phát hiện những yếu kém, hạn chế, kịp thời chỉ đạo chấn chỉnh, đôn đốc việc tổ chức thực hiện. Ví dụ: tính chủ động của một số cấp ủy chưa cao, chỉ đạo chậm, thiếu cụ thể, do vậy, không ít chi bộ, tổ chức cơ sở đảng, đảng viên chưa thực sự hành động; cách làm mới, hiệu quả còn ít; phát hiện mô hình tốt, điển hình tiêu biểu chưa được quan tâm.

Từ những kết quả bước đầu, rút kinh nghiệm những hạn chế, khuyết điểm, bước vào năm 2012, ngay từ những ngày, tuần, tháng đầu, Đảng ủy Khối đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu để hiểu sâu tinh thần Chỉ thị của Bộ Chính trị, nhất là nhận thức của cán bộ, đảng viên về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm thường xuyên và rất quan trọng để thực hiện; là ý thức tự giác của từng người, ở mọi lúc, mọi nơi, cả trong sinh hoạt đảng và trong công việc hàng ngày, không phải chờ có tổ chức, có phát động.

Trên cơ sở tài liệu chuyên đề, từng đảng bộ, chi bộ tổ chức nghiên cứu, chọn nội dung phù hợp với nhiệm vụ chính trị, điều kiện công tác của cơ quan, đơn vị để đưa vào nội dung sinh hoạt chi bộ, đảng bộ hàng tháng; cuối năm 2012 Đảng ủy Khối sẽ tổ chức tổng kết, đánh giá hiệu quả thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị trong toàn đảng bộ.

Thực hiện những chuẩn mực đạo đức đã đề ra; tiếp tục hoàn thành việc xây dựng chuẩn mực dạo đức ở các đảng bộ chưa hoàn thành, của Đoàn Thanh niên Khối. Gắn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, theo đó tập trung vào việc xây dựng kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của từng cán bộ, đảng vên bằng những việc cụ thể; xác định trách nhiệm gương mẫu của của người chủ trì cơ quan, đơn vị, của đồng chí Bí thư cấp ủy, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Từng cấp ủy chọn vấn đề nổi cộm, bức xúc, vấn đề cần tập trung chỉ đạo khắc phục dứt điểm. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhất là tuyên truyền những cách làm sáng tạo, những tập thể, cá nhân tiêu biểu; chủ động bám sát đời sống xã hội, sáng tác những tác phẩm nghệ thuật, bài báo có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật, cổ vũ cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức các hoạt động như hội thảo, hội thi, giao lưu, thăm quan… làm tăng sức hấp dẫn và thuyết phục của các hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, biểu dương những gương tốt, phê phán những biểu hiện quan liêu, hình thức, nói mà không làm.

VŨ VIỆT HÙNG
Ban Tuyên giáo Trung ương

tuyengiao.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 1)

LTS: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Sinh thời, mỗi bài nói, bài viết, một lời căn dặn, một buổi gặp gỡ, công tác của Người đều chứa đựng những ý nghĩa tư tưởng, hành vi và quan hệ đạo đức cách mạng sáng ngời. Con người, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là tấm gương đạo đức cho toàn Đảng, toàn dân ta học tập suốt đời.

Để góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng tôi xin lần lượt giới thiệu đến bạn đọc những nội dung trong quyển sách Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sách do Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản.

I. QUAN ĐIỂM CHUNG CỦA CHỦ TỊCH HÔ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

1. a) Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà… không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã… không e, không sợ gì thì việc gì phải họ đều làm được.
b) Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

c) Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

d) Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

e) Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?

Sửa đổi lối làm việc,
Tháng 10-1947, Hồ Chí Minh toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 251-253.
(Nguồn: Báo Điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Rèn luyện, tu dưỡng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu việc chăm lo rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cấp uỷ các cấp đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng đảng, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đã bàn về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, quyết định mở cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn đảng. Tuy nhiên, đến nay, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng bên cạnh những thành tựu đã đạt được so với yêu cầu còn nhiều hạn chế, những yếu kém, tiêu cực, sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, quan liêu ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn nghiêm trọng. Lối sống cá nhân, thực dụng, cơ hội, chạy theo danh vị, chức quyền, quan liêu, xa dân diễn ra khá phổ biến. Thậm chí có cán bộ, đảng viên sống quay lưng lại với dân, ăn chơi hưởng lạc, sa đọa…

Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là cấp uỷ đảng và lãnh đạo, chỉ huy các cấp chưa thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, các quy định của pháp luật, các quy định về công tác kiểm tra, thanh tra và chưa phát huy tốt tinh thần dân chủ từ cơ sở. Chậm bổ sung, cụ thể hoá và hoàn thiện các quy định về thực hiện dân chủ, pháp lệnh cán bộ, công chức, về những điều đảng viên và cán bộ không được làm, buông lỏng công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Mặt khác, không ít cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cấp cao mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, tham vọng quyền lực, danh lợi, cục bộ, bản vị, chưa gương mẫu rèn luyện bản thân, chưa tự giác và nghiêm túc thực hiện Điều lệ và các nghị quyết của Đảng. Khắc phục tình trạng trên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 17-11-2006 về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để góp phần thực hiện tốt cuộc vận động có ý nghĩa quan trọng này, xin đề xuất một số giải pháp nhằm rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên như sau:

1. Cán bộ, đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình, không ngừng tự rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, giữ gìn thanh danh, uy tín của Đảng. Muốn có đạo đức cách mạng thì từng người phải tự giác, tự trọng, tự rèn luyện theo quy tắc, chuẩn mực. Phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữ gìn đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cấp dưới và quần chúng nhân dân.

2. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng đoàn kết thống nhất trong chi bộ, kịp thời uốn nắn những nhận thức lệch lạc, kiên quyết đấu tranh phê phán, bác bỏ những khuynh hướng, tư tưởng sai trái. Sức mạnh của Đảng ta là sự đoàn kết, thống nhất, trước hết là thống nhất về quan điểm, đường lối của Đảng. Đó là cội nguồn sức mạnh vô địch, là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, muốn xây dựng đạo đức cách mạng phải tạo được sự đoàn kết, thống nhất, trước hết phải kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc, khuynh hướng, quan điểm sai trái trong nội bộ Đảng. Mặt khác, phải nhạy bén phát hiện sự xâm nhập, chống phá của kẻ thù đối với cán bộ, đảng viên để có những biện pháp tích cực ngăn chặn tác hại của nó, nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá, biến chất, bất kể họ là ai, giữ cương vị công tác nào.

3. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, tạo môi trường lành mạnh để đảng viên phấn đấu, rèn luyện. Tăng cường công tác quản lý đảng viên, cải tiến việc đánh giá, phân tích chất lượng đảng viên, thực hiện chế độ đảng viên báo cáo thu nhập, quy định trách nhiệm của đảng viên.

Việc đánh giá đúng thực chất cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ rất khó khăn, cần phải nghiên cứu một cơ chế đánh giá cán bộ, đảng viên phù hợp với điều kiện cụ thể trong cơ chế thị trường. Mặt khác, phải nâng cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên, nhất là ở các tổ chức cơ sở đảng. Có làm tốt việc này mới giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhìn nhận lại mình và có biện pháp khắc phục hạn chế, khuyết điểm, kể cả những vấn đề dư luận quần chúng, cán bộ, đảng viên quan tâm góp ý.

4. Thường xuyên, định kỳ kiểm tra, giám sát có hiệu quả các hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ trực tiếp lãnh đạo, quản lý các hoạt động kinh tế-xã hội.

Đảng ta là Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng giữ những cương vị lãnh đạo của chính quyền và các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội… Muốn kiểm tra, giám sát các hoạt động của cán bộ, đảng viên, Đảng, Nhà nước phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, quy định trên tất cả các lĩnh vực công tác. Đồng thời chú trọng bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức toàn diện cho cán bộ, đảng viên, nhất là những kiến thức về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và pháp luật… Mặt khác, phải tích cực, quan tâm giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường để cán bộ chủ động, tự giác tu dưỡng, rèn luyện vượt qua được những cám dỗ.

5. Cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, là tấm gương sáng cho quần chúng học tập, noi theo. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Trước mặt quần chúng, không phải là cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước.

Trong điều kiện hiện nay, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên không chỉ thể hiện ở hiệu quả thực hiện chức trách nhiệm vụ, có lối sống trong sạch, không tham nhũng, không mắc vào các tệ nạn xã hội, mà phải gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện phản giá trị khác ở chính ngay cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác được giao làm tốt những nội dung trên, thực chất là tu dưỡng, rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đại tá, TS Đặng Nam Điền
Phó Chính uỷ
BTL Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh qua tác phẩm “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bước chân vào con đường hoạt động cách mạng, Bác Hồ quan tâm hàng đầu tới việc giáo dục đạo đức cho mọi người Việt Nam yêu nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

Theo Người, tư cách của người cách mạng là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp các thế hệ người Việt Nam vững tin đi vào con đường cách mạng và đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản đến thắng lợi cuối cùng. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng. Mọi việc thành hay bại, chủ yếu là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không. Ðạo đức cách mạng không chỉ tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người.

Bác Hồ quan tâm đạo đức cách mạng một cách nhất quán, xuyên suốt từ những năm hai mươi đến tận cuối đời. Người đặc biệt chú trọng cả hai mặt lý luận và thật sự thực hành đạo đức của cán bộ, đảng viên từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền. Tại sao như vậy? Bởi vì trong điều kiện Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên dễ mắc bệnh quan liêu, nhũng lạm. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, hệ thống chính trị là tấm gương của xã hội. Gương sáng thì dân soi, gương mờ làm lòng dân không yên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo hai vấn đề lớn liên quan nguy cơ của Ðảng cầm quyền. Một là, sai lầm về đường lối của Ðảng, và hai là, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tóm lại, Ðảng cầm quyền liên quan vận nước. Ðảng và mỗi cán bộ, đảng viên vui với mỗi bước phát triển, đi lên của đất nước và phải chịu trách nhiệm trước những lời kêu ca, phàn nàn của dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nỗi quan tâm lớn từ khi Ðảng ta trở thành Ðảng cầm quyền, bởi sứ mệnh nặng nề của Ðảng là làm cho dân tự do, hạnh phúc sau khi giành được độc lập dân tộc. Người chú trọng giáo dục việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Nâng cao đạo đức cách mạng, trước hết là nâng cao nhận thức và thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân. Trong điều kiện Ðảng cầm quyền, Ðảng có quyền lực chính trị, lãnh đạo xã hội và hệ thống chính trị. Vì vậy, Ðảng phải nâng cao ý thức phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, thanh niên…, cùng với những đức tính cần cù, tiết kiệm, chính trực, thì phải trong sạch, không tham lam tiền của, đặc biệt không tham địa vị, quyền hành, vì địa vị quyền hành dẫn tới lợi ích vật chất. Là cán bộ, đảng viên thì phải đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước lợi ích cá nhân. Nêu cao ý thức phục vụ nhân dân là đạo đức đẹp đẽ nhất của mỗi cán bộ, đảng viên. Ðặc biệt, trên cơ sở nhận thức Ðảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, là gốc; Ðảng cầm quyền cho dân làm chủ, cán bộ đảng viên phải có ý thức chịu trách nhiệm trước nhân dân. Vì Ðảng, Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, như cách nói của Bác Hồ.

Chống suy thoái về đạo đức là chống lười biếng, xa xỉ, quan liêu và đặc biệt là chống sự nhũng lạm. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, là cán bộ, công chức Nhà nước thì dù ít, dù nhiều đều có quyền hành. Cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Có quyền mà thiếu lương tâm, không chịu tu dưỡng rèn luyện thì dễ trở nên hủ bại, dễ biến thành sâu mọt, dễ “dĩ công vi tư”. Vì vậy, tham nhũng theo tinh thần Hồ Chí Minh là bệnh của những người có quyền lực, lạm dụng quyền lực cộng với lòng tham để nhũng nhiễu dân. Muốn chống tham nhũng, phải chống cả xa xỉ, vì xa xỉ mà sinh ra tham nhũng. Mà chống tham nhũng trước hết là chống tham quyền. Chống tham nhũng phải bằng giáo dục, công tác tư tưởng. Nhưng chỉ có giáo dục đạo đức không thôi thì không thể xóa bỏ được tham nhũng, mà phải kết hợp chặt chẽ với pháp luật, mà quan trọng là tính khoa học và minh bạch của bộ máy; đồng thời phải dùng cả “pháp trị” với tính nghiêm minh của pháp luật, phép nước theo tấm gương Hồ Chí Minh.

Chống suy thoái về đạo đức, đặc biệt phải tập trung chống chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì chủ nghĩa cá nhân là một loại giặc, đồng minh với các loại giặc khác. Muốn chống các loại giặc khác, trước hết phải chống giặc trong lòng, tức chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh khác nhau. Nó không chỉ ảnh hưởng tới từng cá nhân, đối với dân tộc, mà còn làm mất niềm tin của nhân dân đối với Ðảng. Nói ngắn gọn, theo quan điểm Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một trở lực trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, là đối lập với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là chà đạp lên lợi ích cá nhân.

Giờ đây, trong bối cảnh tình hình mới, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trở thành một nhu cầu cấp bách và có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chứa đựng một ý nghĩa sâu xa về lý luận và thực tiễn, tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới đất nước.

PGS,TS Bùi Ðình Phong

dalat.gov.vn

Về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại lời di huấn dặn dò về Đảng, và vấn đề đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cả cuộc đời của mình, Người đã tự thực hiện một cách hoàn chỉnh, trọn vẹn những tư tưởng và khát vọng đạo đức cách mạng; Người vừa là nhà lý luận đạo đức cách mạng, vừa là một tấm gương đạo đức trong sáng gần gũi và độc đáo nhất.

Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới. Đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Và theo cách diễn đạt bình dị của Người: Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, sức có mạnh mới gánh được nặng, và đi được xa. Ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta tiến hành sự nghiệp vĩ đại giải phóng và thống nhất đất nước, Người đã khái quát và cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Người cũng thường xuyên nhấn mạnh: “Đảng phải là đạo đức, là văn minh”, cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng phải vừa hồng vừa chuyên, hội tụ đủ đức tài, đức là gốc; phải có sự trung với nước, và hiếu với dân. Trung với nước đó là sự trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, vì hòa bình hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Hiếu với dân đó không phải chỉ dừng lại ở chỗ thương dân, mà là phải chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng học tập dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc.

Về cần, kiệm, liêm chính, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là phẩm chất gắn liền với hoạt động thực tiễn, được thể hiện cụ thể hàng ngày của mỗi con người không thể che đậy được; gắn chặt giữa nói và làm, giữa suy nghĩ và hành động. Thể hiện cụ thể:

+ Cần, là sự lao động, làm việc cần cù sáng tạo, có tổ chức, có kỷ luật, có kỹ thuật, có kế hoạch, có năng suất, chất lượng cao. Những thói hư, tật xấu lười lao động, ăn bám, ăn cắp, làm láo báo cáo hay, vô tổ chức, vô kỷ luật là không phù hợp với đạo đức phẩm chất cách mạng. Bác Hồ rất ghét kẻ đạo đức giả, nói mà không làm, nói một đường làm một nẻo. Người cho rằng kẻ đó làm giảm đi lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

+ Kiệm, là tiết kiệm sức lao động, thời giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân từ cái nhỏ, đến cái lớn, không phô trương hình thức, xa xỉ, hoang phí. “Tiết kiệm là quốc sách”.

+ Liêm, là “luôn luôn tôn trọng của công, của dân”, “liêm khiết trong mọi hoàn cảnh” không tham địa vị, không tham tiền tài; không ham người tâng bốc mình. Lợi dụng chức vụ quyền hạn đục khoét của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc làm những việc trái đạo đức, trái pháp luật, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân là người không liêm.

+ Chính, là “người không tà, thẳng thắn, đứng đắn” đối với mình, đối với người và đối với việc. “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc sai thì dù nhỏ mấy cũng tránh”. Người còn dạy: “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính; đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ; đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành; đối với nhân dân phải tôn trọng lễ phép; đối với công việc phải tận tụy; đối với địch phải cương quyết khôn khéo”.

Về chí công vô tư, theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước cho thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người còn chỉ ra mối quan hệ: cần, kiệm, liêm chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư, và chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính. Người đặc biệt lưu ý: “Trước nhất là cán bộ cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Người cũng còn chỉ ra một luận điểm rất quan trọng, có giá trị vô cùng thiết thực: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm việc trước cho người ta bắt chước”. Luận điểm này thể hiện rõ một phương châm xây dựng đạo đức là nêu gương. Không gì thiết thực hơn, có sức cảm hóa và lôi cuốn hơn trong lĩnh vực đạo đức bằng việc nêu gương tốt. Quần chúng nhân dân đã và đang phàn nàn về một số cán bộ, đảng viên không thường xuyên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, không tự phê bình và phê bình để góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Ở một số Chi, Đảng bộ thực hiện việc tự phê bình và phê bình có lúc, có nơi chỉ làm qua loa, lấy lệ. Mấy ai “dũng cảm” tự bộc bạch những hành vi tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính của mình; còn việc phê bình góp ý cho nhau thì xuê xoa “dĩ hòa vi quý” chính vì vậy một số cán bộ, đảng viên đã tự đánh mất mình không còn “cái tâm” trong sáng của người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của dân. Đó chính là do lãng quên việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mà Bác Hồ đã dạy và do không thực thi nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình.

Nguyễn Hoàng Long

baobinhdinh.com.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Cán bộ Đảng viên

Tư cách một người cách mệnh

Tự mình phải:

Cần kiệm.

Hòa mà không tư.

Cả quyết sửa lỗi mình.

Cẩn thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).

Hay nghiên cứu, xem xét.

Vị công vong tư.

Không hiếu danh, không kiêu ngạo.

Nói thì phải làm.

Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng tham muốn về vật chất

Bí mật.

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ.

Với đoàn thể thì nghiêm.

Có lòng bày vẽ cho người.

Trực mà không táo bạo.

Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.

Quyết đoán.

Dũng cảm.

Phục tùng đoàn thể.

Đường Kách mệnh,
Năm 1927, sđd, t.2, tr. 260.

Cán bộ là gì?

Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được.

Vậy cán bộ phải có đức tính như thế nào?

1. Mình đối với mình: Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Phải tìm học hỏi cầu tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm.

2. Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…

3. Đối với công việc phải thế nào? Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh… Phải có kế hoạch bước đầu làm thế nào? Bước thứ hai làm thế nào? Bước thứ ba làm thế nào? Thành công thì thế nào? Nếu thất bại thì thế nào? Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay phải làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì? Phải cẩn thận, cẩn thận không phải là nhút nhát, do dự.

4. Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng có những việc dân không muốn mà phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết.

5. Đối với Đoàn thể: Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Mỗi Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành. Khi bình thời phải hết sức làm việc. Khi nguy hiểm phải hy sinh vì Đoàn thể. Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như: làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa
Ngày 20-2-1947, sđd, t.5, tr. 54-55.

Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

1. Cần – Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai. Phải nhớ rằng: dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân.

2. Kiệm – Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ, tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm. Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to. Một cái phong bì có thể dùng hai ba lần. Mỗi ngày, công sở cả nước dùng hàng mấy vạn tờ giấy và phong bì. Nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc. Các vật liệu cũng vậy. Nhờ các công sở tiết kiệm, mà lợi cho dân rất nhiều.

3. Liêm – Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu.

4. Chính – Mình và người làm việc công, phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mệnh.

Đời sống mới,
Ngày 20-3-1947, sđd, t.5, tr.104-105.

15. …Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sư giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công. Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây:

Trí – Tín – Nhân – Dũng – Liêm.

Nói rõ nghĩa:

– Trí – Là sáng suốt, biết địch biết mình, biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng, biết cái tốt của mình mà phát triển lên, biết cái xấu của mình để mà tránh.

– Tín – Nói cái gì phải cho tin – nói và làm cho nhất trí – làm thế nào cho dân tin – cho bộ đội tin ở mình.

– Nhân – Là phải có lòng bác ái – yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình.

– Dũng – Là phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều. Phải có kế hoạch, rồi kiên quyết làm ngay. Nguy hiểm cũng phải làm. Nghĩa là phải có lòng dũng cảm trong công việc.

– Liêm – Là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc. Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa, thì không tham gì hết.

Lời nói chuyện trong buổi lễ bế mạc lớp bổ túc trung cấp,
ngày 10-10-1947, sđd, t.5, tr. 223-224.

16. …Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình. Họ quên hẳn cái chế độ dân chủ tập trung. Họ quên rằng thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp, bộ phận phải phục tùng toàn thể.

…Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng.

…Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên là không nổi.

Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ,…)

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.236, 238.

17. … Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài.

Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”.

Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr.250-251.

18. … Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên.

Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu,
ngày 18-1-1949, sđd, t.5, tr. 552.

19. … Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng.

Vì vậy, đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây
ngày 10-2-1967, sđd, t.12, tr. 221-222.

20. … Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân.

Đạo đức cách mạng
tháng 12-1958, sđd, t.9, tr. 290.

quangbinh.gov.vn

Ngôi nhà nhỏ và nhân cách lớn

Không một ai đến thăm nơi ở khiêm nhường của Bác mà không trào dâng niềm xúc cảm trước sự vĩ đại của một nhân cách văn hóa lớn đã trở thành huyền thoại ngay trong cuộc sống đời thường của mình. Với nếp sống thanh cao, giản dị trong một tầm suy nghĩ sâu sắc mãi mãi là bài học lớn cho mỗi người chúng ta.

Năm 1954 từ Việt Bắc trở về Hà Nội, từ chối không ở ngôi nhà của toàn quyền Đông Dương để dành làm nhà tiếp khách cho Đảng và Nhà nước, Bác Hồ chọn cho mình gian nhà cấp bốn của người thợ điện. Ngôi nhà 1 tầng khoảng 50m2, ẩm thấp, ở bên góc bờ ao trong Phủ Chủ tịch (cách ngôi nhà sàn hiện nay khoảng 100m). Nhà đổ mái bằng nên mùa hè rất nóng, còn mùa đông thì lạnh.

Mùa hè năm 1958, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, Cục trưởng Cục thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Công ty TVXD dân dụng Việt Nam, Bộ Xây dựng) được giao thiết kế ngôi nhà ở cho Bác.

KTS Nguyễn Văn Ninh kể lại: lúc đó được giao thiết kế nhà ở cho Bác là điều mơ ước của một kiến trúc sư. Bác đã chịu nhiều gian khổ, nay hòa bình rồi, Bác cần phải sống trong một biệt thự sang trọng là điều đương nhiên, hình như Bác biết ý định đó Bác nói: “Bác không phải vua quan nên không thể ở trong những ngôi nhà sang trọng như chú vẽ đây. Chú thiết kế cho Bác ngôi nhà ở phía bên kia bờ ao, giống như nhà sàn Việt Bắc trước kia Bác đã ở. Chú xem nên làm thế nào thật đơn giản, chỉ cần một phòng ngủ và một phòng làm việc nhỏ thôi, không cao lắm, không cầu kỳ”.

Bác căn dặn kiến trúc sư rất cụ thể: Cần làm hành lang xung quanh để khi có các đồng chí lãnh đạo đến làm việc với Bác có lối đi và khi Bác làm việc, các đồng chí phục vụ đi lại không ảnh hưởng đến Người. Bác nói: Lợi dụng vách ngăn hai phòng làm một giá sách cho gọn, tiết kiệm và tiện sử dụng. Người nhắc nhở: Nhà làm bằng gỗ bình thường, gỗ loại một để dành làm tà vẹt đường sắt và trường học. Dưới tầng trệt, Bác bảo làm bệ xi măng thấp ở chung quanh, trên có lát ván tạo thành hàng ghế băng dài cho các cháu thiếu niên vào chơi có đủ chỗ ngồi.

Khi đó, Bác đã gần 70 tuổi, KTS Nguyễn Văn Ninh đề nghị đặt thêm khu vệ sinh trong nhà để sử dụng thuận tiện, nhưng Bác không đồng ý. Bác bảo: “Khu vệ sinh ở nhà cũ còn tốt, cứ để Bác dùng cho đỡ lãng phí, và tạo điều kiện để Bác đi lại cho khỏe mạnh”.

Sau khi được Bác góp ý, bản vẽ thiết kế đã nhanh chóng hoàn thành và đi vào thi công. Trong thời gian Bác đi công tác, đội thi công 30 chiến sỹ công binh đã khẩn trương xây dựng và hoàn thành ngôi nhà vào ngày 1-5-1958, sau khoảng một tháng. Khi công trình cơ bản đã xong, KTS Nguyễn Văn Ninh mời Bác đi thăm nhà, một lúc sau dừng lại Bác cười nói: “Chú Kiến (Bác vẫn gọi thân mật Kiến trúc sư là chú Kiến-kiến trúc, kiến thiết) làm nhà cho Bác sang quá, còn hơn cả nhà quan tể tướng ngày xưa”. Vào dịp sinh nhật năm 1958, Bác Hồ đã chuyển sang ở ngôi nhà này cho tới ngày 17-8-1969.

Buổi khánh thành ngôi nhà sàn, Bác Hồ mặc bộ quần áo nâu, đi đôi guốc mộc. Bác chiêu đãi kiến trúc sư và thợ thi công bằng bữa “tiệc ngọt” tân gia, Bác nói vui: “Kẹo thuốc hôm nay là tiền nhuận bút của Bác bỏ ra mua, không phải của công đâu, Bác khao đấy, các chú cứ thoải mái, không hết thì mang về”. Trước khi về, Bác chờ bằng được “chú Kiến” ra ngồi ở giữa rồi mới chụp ảnh chung kỷ niệm.

Được một thời gian, nghe anh em cảnh vệ kể lại, những đêm làm việc khuya nghe tiếng phất muỗi của Bác, trong lòng thương Bác vô cùng, bởi đèn sáng giữa một khu vực nhiều cây cối và gần hồ nước nên nhiều muỗi. Đây cũng là điều mà KTS Nguyễn Văn Ninh chưa thể lường hết được, ông vô cùng xúc động và ân hận. Sau nhiều lần bàn tính cuối cùng ông đã đưa ra phương án tối ưu là dùng lưới đồng nhỏ căng lên các ô cửa sổ, vừa ngăn muỗi mà vẫn có gió mát. Công việc trên làm khi Bác vắng nhà, vẫn sợ khi Bác về lại phê bình là tốn kém.

Ngôi nhà được thiết kế theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc với kích thước đã ở mức tối thiểu: dài 10,15m rộng 6,82m, có hai tầng, tầng trên cao 2,62m có hai phòng: mỗi phòng rộng 13,50m2 dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc về mùa đông. Tầng dưới cao thông thủy 2,20m là nơi Bác Hồ thường làm việc về mùa hè, nơi họp Bộ Chính trị quyết định nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam, nơi tiếp khách thân mật. Cầu thang một nhịp 14 bậc đặt ở hướng tây nam, che được ánh nắng ban chiều dọi vào phòng ngủ.

Ngôi nhà sàn này Bác đã sống và làm việc trong 11 năm cuối đời, chỉ có những vật dụng rất đơn sơ: một chiếc bàn, giá sách, tủ quần áo, giường gỗ cá nhân, tấm chăn đơn, chiếc chiếu cói, cây quạt cọ, chai nước lọc. Điều này đã được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong trường ca “Theo chân Bác”:

Nhà gác đơn sơ một góc vườn

Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn

Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối

Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn…

Ngôi nhà sàn Bác Hồ không những có ý nghĩa về lịch sử mà còn là một công trình kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Ngày 15-5-1975, ngôi nhà sàn Bác Hồ được xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa đặc biệt của Quốc gia. Năm 2001, KTS Nguyễn Văn Ninh (1908-1975) đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học-Nghệ thuật, đợt 1 về cụm công trình kiến trúc: Lễ đài Ba Đình (1955), nhà sàn Bác Hồ (1958), Lễ đài Ba Đình (1960).

Nhiều năm đã trôi qua, những ngôi nhà ở của Bác Hồ mãi trở thành biểu tượng cho lối sống giản dị, trong sáng của đạo đức một con người Việt Nam chân chính-Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

Bắc Ninh 9-2011

KTS. Nguyễn Huy Phách

baobacninh.com.vn

Học Bác về thái độ trước cái xấu

Không chỉ kiên quyết trước cái xấu, Bác Hồ còn căn dặn “không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên cho mình”.

1. “Diệt sâu mới cứu được cây”

Một buổi chiều giữa tháng 6 ba năm trước, tại Hội trường Ba Đình, bộ trưởng Bộ Công an đã phải lúng túng trước những câu hỏi của Quốc hội về lý do tại sao không điều tra vụ Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Lâm quên va ly chứa nhiều phong bì tiền ở sân bay, tại sao “tha” một số quan chức Tổng Công ty Dầu khí vì lý do tuổi tác trong vụ cảng Thị Vải,… Chủ tịch Quốc hội (khi đó là ông Nguyễn Văn An) nói thẳng: “Bộ Công an thì có quyền đề nghị viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan (không xử lý quan chức dầu khí vì tuổi cao – PV) nhưng quyền ấy phải theo pháp luật. Nếu quyền mà không đúng pháp luật thì sẽ mất lòng tin. Không phải có quyền thì ta muốn làm gì cũng được. Cho nên nếu theo luật hình sự… “tuổi cao, về hưu, có sự cống hiến cho ngành” đấy là yếu tố giảm nhẹ chứ không (là yếu tố – PV) loại trừ”.

Hơn 60 năm trước, Bác Hồ đã dự liệu về những chuyện như thế. Trong thư gửi những người dự Hội nghị Tư pháp toàn quốc (tháng 2-1948), Bác căn dặn: “Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương phụng công, thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”.

Hai năm sau (1950), đại tá Trần Dụ Châu – Cục trưởng Cục Quân nhu bị phát hiện lợi dụng chức quyền tham ô ăn chơi, bị kết án tử hình. Trước ngày thi hành án, Trần Dụ Châu gửi đơn lên Bác xin được khoan hồng. Phút cuối, ông Trần Đăng Ninh đến gặp Bác Hồ xin ý kiến, Bác chỉ cho xem một cây xoan héo lá, úa ngọn và hỏi lý do tại sao cây sắp chết. Ông Ninh trả lời: “Dạ, vì thân cây bị sâu đục một lỗ rất to, chảy hết nhựa!”. “Thế theo chú muốn cứu cây thì phải làm gì?”. “Dạ, phải bắt và giết hết những con sâu ấy đi ạ”. Bác gật đầu: “Chú nói đúng đấy, với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng vậy. Nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”.

Sau một đêm trắng, Hồ Chủ tịch ký bác đơn của Trần Dụ Châu và bản án được thi hành.

2. Tôn trọng lợi ích của dân

Dư luận TP Hải Phòng những ngày này đang hết sức nóng bỏng vì phiên tòa phúc thẩm vụ “ăn” đất ở Quán Nam sắp diễn ra. Nóng bỏng vì có đến ngót 1.000 lô đất công được chia chác trái phép cho ít nhất 420 cán bộ các ngành của TP, bất chấp nhiều đối tượng chính sách xã hội đang thiếu chỗ ở, bất chấp việc nhiều cán bộ được đất đã có nhà cao cửa rộng. Trước đó, vụ chia chác đất công ở Đồ Sơn (cũng ở Hải Phòng) đã gây phẫn nộ trong dư luận. Cả nước quan tâm chỉ vì sự chia chác đặc quyền, đặc lợi này diễn ra công khai, bằng giấy trắng mực đen và văn bản nghị quyết… Trong những vụ này, quyền lợi chính đáng của người dân đã bị một số cán bộ công quyền bỏ qua.

Còn nhớ khi điều hành nhà nước cách mạng non trẻ, Bác đã rất quan tâm giáo dục cán bộ về chuyện này. Cuối năm 1954, Chính phủ có chủ trương thu hồi tiền của cách mạng phát hành trước đây để đổi lại cho nhân dân tiền Đông Dương ngân hàng. Tháng 2-1955, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh từ miền Nam ra gặp Bác báo cáo kết quả, trong đó có chuyện (so với số tiền đã phát hành thì) thu về còn thiếu khoảng 600 ngàn đồng. Bác nghiêm giọng: “Vậy là chú đã “quỵt” của bà con Nam bộ 600 ngàn đồng. Chú đã phạm đến quyền lợi của nhân dân”. Luật sư vội giải thích: Đồng bào Nam bộ không chịu đổi lại vì trên giấy bạc Việt Nam có in ảnh Bác. Bà con giữ lại để biểu thị quyết tâm theo Bác đến cùng”.

Nghe vậy, Bác rất xúc động nhưng vẫn dặn dò: “Mỗi việc làm của các chú, bất cứ việc gì đều phải quan tâm đến quyền lợi chính đáng của nhân dân chứ không được hứa suông. Bất luận việc gì đã hứa với dân là phải tìm cách làm cho được, không làm được phải xin lỗi dân. Chính quyền ta của dân, vì dân thì phải như vậy”.

3. Không bắt luật pháp phải ưu tiên

Ba năm trước, người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng của Chính phủ là ông Quách Lê Thanh cũng đã hết sức lúng túng khi phải trả lời tại sao không giao nộp và báo cơ quan điều tra khi cấp dưới (vụ phó Vụ II Thanh tra Chính phủ Lương Cao Khải) ba lần đến nhà đưa hàng trăm triệu đồng tiền hối lộ. Tổng Thanh tra Quách Lê Thanh trả lời đã báo cáo Đảng nhưng đại biểu Quốc hội tỏ thái độ không đồng ý. Chủ tịch Quốc hội đã “phải nói thêm” là “Đảng lãnh đạo, nên có yêu cầu báo cáo trong nội bộ Đảng. Nhưng báo cáo với Đảng không có nghĩa là không báo cáo với Chính phủ, với Quốc hội. Thủ trưởng cơ quan hành chính phải làm đúng theo luật pháp, tuân thủ các quy định của nhà nước”.

Còn với Bác, tuân thủ luật pháp là đức tính nổi bật ngay từ ngày đầu quản lý đất nước. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên năm 1946, tại Hà Nội nơi Bác ứng cử có 118 chủ tịch UBND và đại biểu các giới, làng xã ra một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ra ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Nhiều nơi trong cả nước cũng đề nghị Bác không cần ra ứng cử và đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội. Thế nhưng Bác đã viết một bức thư ngắn: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nên tôi không thể vượt qua khỏi thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa…”.

Trong đời sống, sự tôn trọng kỷ cương được Bác thực hành hàng ngày. Có lần Bác đến một ngôi chùa cổ, vị sư trụ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường về thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn tín hiệu đỏ bật sáng. Sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại: “Các chú không được làm như thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình”.

***

Tháng 7-1969, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức bốn ngày lễ lớn của năm sau: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Báo Nhân Dân đăng nghị quyết này, Bác đọc liền cho mời mọi người đến: “Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu học sinh đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”. Và tại kỳ họp 6 Quốc hội khóa II, khi chuẩn bị sinh nhật Bác, các đại biểu nhất trí đề nghị Quốc hội trao tặng Bác Huân chương Sao Vàng. Bác rất cảm động nhưng nhất quyết từ chối vì tự xét mình chưa có công huân xứng đáng.

Hiện nay toàn Đảng đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. GS-TS Hoàng Chí Bảo, thường trực Hội đồng lý luận Trung ương, tâm sự với người viết: “Cuộc vận động lần này phải gắn với những điều cuộc sống hôm nay đang đòi hỏi. Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang thoái hóa, biến chất, thậm chí phạm tội. Chuyện tham nhũng nhà đất, trù úm dân chúng, lợi dụng chức quyền mưu lợi cá nhân… là rất xa lạ với đạo đức Hồ Chí Minh. Cho nên muốn gây dựng được niềm tin trong dân chúng thì trước hết phải kiên quyết xử lý những hành vi tiêu cực, hư hỏng thoái hóa ngay từ trong Đảng”.

Theo GS Bảo, cách hành động thiết thực là yêu cầu cán bộ, đảng viên “lời nói đi đôi với việc làm” như tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

PHAN LỢI – Báo Pháp Luật TP.HCM
(Theo TTO)

doanthanhnienluat.com