Tag Archive | Học tập theo gương Bác

Khắc ghi lời Bac dạy về đoàn kết, thống nhất trong quân đội

Sức mạ̣nh quân đội nằm trong kỷ luật và đoàn kết thống nhất.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đội đã tuyên thệ Mười lời thề danh dự. Trong đó: “Xin thề: hết sức ái hộ các bạn chiến đấu, trong đội cũng như ái hộ bản thân, hết lòng giúp nhau trong lúc thường cũng như lúc ra trận”1.

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Đó là quân đội của dân, do dân, vì dân, mang bản chất giai cấp công nhân, có giác ngộ chính trị sâu sắc, có tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm minh. Đoàn kết thống nhất là một phẩm chất, đồng thời còn là một nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta. Tiếp tục đọc

Advertisements

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ

Cờ Đảng(ĐCSVN) – Ngày 30/8 tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Hà Nội, Liên đoàn Lao động Thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị chuyên đề năm 2013 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương, nâng cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

Tiếp tục đọc

Đây là cánh cửa hòa bình

Chuyện kể về NgườiNăm 1958, Bác đi thăm Ấn Độ, Người rời Thủ đô Niu Đêli bằng xe lửa đặc biệt để thăm thành phố Bombay. Đông đảo đại diện ngoại giao các nước và quần chúng Thủ đô Niu Đêli ra tiễn Bác. Các thành viên của Đoàn ta lên các toa tr­ước để khi Bác đến là tàu có thể chuyển bánh được ngay.

Bác đến, rồi đi chào các đại diện ngoại giao đang xếp hàng ngang trong phòng khách của nhà ga. Khi ra sân ga chỉ có Bác, Thủ t­ướng Ấn Độ Nêru và ông Vụ tr­ưởng Vụ Lễ tân của Ấn Độ. B­ước đến toa dành riêng cho Bác, Bác không vào ghế ngồi ngay mà đứng lại ở cửa, nói một vài câu chuyện với Thủ t­ướng Nêru. Khi còi tàu nổi lên báo hiệu tàu sắp chuyển bánh, Thủ tướng Nêru thân mật và ân cần nói với Bác:

– Chủ tịch hãy cẩn thận, tàu sắp chuyển bánh đó.

Tư­ơi cười và rất hiền hoà, Bác Hồ nói với Thủ t­ướng Nêru:

– Ông bạn thân mến cứ yên tâm, đây là cửa của hoà bình.

Nghe Bác nói, Thủ t­ướng Nêru cười vui vẻ, cảm kích và trả lời Bác:

– Thư­a Chủ tịch, cửa hoà bình luôn luôn rộng mở.

Câu chuyện rất thân mật này diễn ra giữa hai người đứng đầu hai quốc gia, đồng thời cũng là hai người bạn yêu chuộng hoà bình, luôn luôn đấu tranh cho hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc đã làm cho các nhà báo Ấn Độ và nước ngoài có mặt hôm ấy rất chú ý.

Sáng hôm sau các báo lớn của Ấn Độ đăng lại cuộc đối thoại lý thú này và đã tạo dư­ luận rất tốt trong quần chúng. Nhiều báo nhắc lại câu nói của Bác: Đây là cánh cửa hoà bình.

Trích những câu chuyện kể về Bác Hồ
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dạy phấn đấu không ngừng

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá ở phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia cách mạng từ thuở thiếu niên, chưa tròn 20 tuổi đã trở thành y tá trưởng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, tỉnh Quảng Nam và nổi bật bởi tinh thần chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ.

Có trận, ông ra vào cửa mở đến tám lần để cõng thương binh, tử sĩ về phía sau. Qua 65 trận đánh, ông tiêu diệt và bắt sống hơn 60 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm, được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 17-9-1967. Ông Bá kể:

…Tháng 3 năm 1968, tôi và đồng chí Trần Đình ở Sư đoàn 2 được cử ra Bắc học tập. Cuối tháng 4 năm ấy, chúng tôi đến Thủ đô Hà Nội và nghỉ tại Trạm khách Bộ Quốc phòng ở 83 Lý Nam Đế. Sáng sớm ngày 19-5-1968, Trạm trưởng thông báo: “Hai đồng chí Bá và Đình 9 giờ đi công tác, mặc quần áo quân giải phóng”. Chúng tôi phấp phỏng đoán là sự kiện quan trọng, vì theo quy định, tất cả cán bộ miền Nam ở đây đều mặc thường phục.

…Chiếc ô tô chở chúng tôi chạy được một lát, anh cán bộ phụ trách mới phổ biến ngắn gọn: “Bác Hồ muốn gặp một số anh hùng ở miền Nam. Trạm chọn hai đồng chí vào báo cáo với Bác”. Chao ôi! Hai chúng tôi ngập tràn niềm vui mừng, hạnh phúc, vì được gặp Bác là điều mơ ước của biết bao đồng bào, chiến sĩ miền Nam!

nhoAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá (người vuốt chòm râu Bác) và một số Anh hùng dũng sĩ miền Nam thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (3-1969)

Bác và đồng chí Vũ Kỳ đón chúng tôi tại vườn hoa bán nguyệt trong Phủ Chủ tịch. Không biết đã được báo trước nhân dạng, hay là do sự cảm nhận tài tình, mà vừa bắt tay tôi, Bác đã hỏi:

Chú là Huỳnh Thúc Bá?

– Dạ! – Tôi lễ phép thưa.

Bác tiếp tục bắt tay đồng chí Đình và bảo:

– Hai cháu là anh hùng của quê hương “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Bác ân cần hỏi chúng tôi về việc ăn, nghỉ, sinh hoạt. Tôi cảm nhận rất rõ tình thương yêu của Bác khi Người hỏi về bệnh sốt rét và các vết thương của tôi. Bác âu yếm cầm tay tôi, thấy tay tôi gầy, nổi lên những đường gân xanh, Bác xúc động, rơm rớm nước mắt. Ôi! Bác là lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà sao gần gũi, hiền từ như người ông, người cha của mình. Bác dặn chúng tôi phải cố gắng ăn uống, nghỉ ngơi, dưỡng bệnh để có đủ sức khỏe học tập và nhớ phải bền bỉ phấn đấu không ngừng. Bác đãi bánh ga-tô và còn bảo chúng tôi mang về cho anh em trong Trạm.

Lần thứ hai, tôi được gặp Bác vào dịp kỉ niệm ngày Quốc khánh 2-9-1968. Tại hội trường Ba Đình, tôi và 50 anh hùng, dũng sĩ, cán bộ miền Nam được nghe Bác dặn dò, động viên phấn đấu, học tập cho tốt và sẵn sàng nhận nhiệm vụ trở về chiến đấu giải phóng quê hương.

Tháng 3 năm 1969, tôi lại được vinh dự gặp Bác trước khi trở vào miền Nam. Lần này, tôi là thành viên trong Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Khi Đoàn đang nghỉ tại nhà 103 phố Quán Thánh thì được thông báo đi gặp Bác. Đồng chí phụ trách căn dặn: “Sức khỏe của Bác hiện nay rất yếu, nhưng Bác muốn gặp các đồng chí. Yêu cầu tất cả ngồi xa, kẻo Bác mệt”. Hôm ấy, Bác Hồ và Bác Tôn cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đón chúng tôi tại Phủ Chủ tịch. Nhớ lời dặn, chúng tôi ý tứ đứng xa, nhìn lên Bác. Vừa thấy tôi, Bác đã vẫy lại, trìu mến hỏi:

– Cháu Bá đã hết sốt chưa? Học tập có tốt không?

Quá xúc động, tôi không sao cầm được nước mắt. Bác bận biết bao công việc trọng đại mà vẫn nhớ đến bệnh sốt rét của tôi! Lần đó, cả Đoàn được chụp ảnh với Bác. Tôi hoàn toàn không ngờ đó là lần cuối cùng được nhìn thấy Bác!

Ba lần được gặp Bác Hồ là kỉ niệm sâu sắc, không thể nào phai mờ của Anh hùng Huỳnh Thúc Bá, là nguồn sức mạnh to lớn để ông tiếp tục chiến đấu, công tác, lập nhiều chiến công xuất sắc. Ông về hưu năm 2002, với quân hàm Đại tá. Nhớ lời Bác dạy “phải bền bỉ phấn đấu không ngừng”, ông hăng hái tham gia công tác địa phương và nhiều năm được bầu làm Bí thư Chi bộ. Ông đã dẫn dắt phong trào thi đua của khu phố đạt nhiều thành tích tiêu biểu.

Theo baomoi.com
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững

Trong vài ba thập kỷ gần đây, do sức ép của dân số và sự phát triển kinh tế thiếu tính toán, các nguồn tài nguyên trên trái đất ngày càng vơi cạn, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, thậm chí ở một số vùng có nguy cơ bị phá huỷ hoàn toàn. Hàng loạt các vấn đề về môi truờng đã nảy sinh như biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái tầng ô zôn, hoang mạc hóa đất đai,… Các vấn đề nêu trên đang là những thách thức đối với sự sống còn của loài người. Trước tình hình đó, chính phủ và nhân dân các nước không thể thờ ơ trước lời kêu gọi của nhiều tổ chức quốc tế: Hãy cứu lấy trái đất! Một trong những giải pháp đang được nhiều quốc gia triển khai nhằm “cứu lấy trái đất” là chuyển chiến lược phát triển thiếu kiểm soát lâu nay sang chiến lược Phát triển bền vững “Phát triển bền vững là phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [6, tr. 9]. Như vậy, để phát triển bền vững, bên cạnh phát triển kinh tế – xã hội, cần phải quan tâm xây dựng một môi trường sống an toàn không chỉ ở hiện tại mà cho cả các thế hệ tương lai. Bảo vệ môi trường không còn là nhiệm vụ của một tổ chức hay cá nhân riêng lẻ nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác “giáo dục môi trường”, phải làm sao cho ý thức bảo vệ môi trường trở thành nếp sống thường nhật của mỗi người.

1Sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một tích cực bảo vệ môi trường

Lúc sinh thời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gắn cuộc sống của mình với thiên nhiên, môi trường. Thiên nhiên không những là nơi cung cấp những điều kiện sống và công tác mà với Người, thiên nhiên là người bạn, người cổ vũ, chia sẻ buồn vui. Ở thiên nhiên, Người tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn lúc thảnh thơi hay trong những giờ phút căng thẳng. Vì thế, thiên nhiên (sông, núi, trăng, sao, chim, hoa …) thường xuất hiện trong thơ của Người ngay cả khi “thân thể ở trong lao”, hay giữa núi rừng Việt Bắc, khi Người “chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”…

Thấy được vai trò to lớn đó của thiên nhiên nên Người chủ trương sống hòa hợp với thiên nhiên, môi trường. Theo Người, môi trường sống là yếu tố quan trọng đảm bảo sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và giúp cho họ công tác tốt. Chính vì vậy, Người luôn căn dặn cán bộ phải chọn những nơi ở đảm bảo các “Phương châm”, các “điều kiện” sau: “Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui .. Nhà thoáng, ráo, kín, mát.” [3, tr. 73]. Khi trở về Hà Nội, trong khu nhà đơn sơ của mình, Người đã tạo ra một môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp. Người trồng nhiều cây trong vườn, chăm chút như chăm người ốm. Người chăm sóc ao cá và không cho phép ai xua đuổi hoặc bắn chim trong vườn. Người nói: Chim là của quý của thiên nhiên, phải bảo vệ chúng. Nhà thơ Cu-ba P. Rodrighet sau khi đến thăm nhà sàn Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội đã nhận xét: “Chúng tôi được biết có hai điều Bác Hồ yêu thích, đó là hoa và tiếng chim ca. Hoa và chim luôn luôn ở bên Người. Ngôi nhà nhỏ của Bác nhìn ra phía nào cũng có một ô cửa sổ, một bức tranh bằng ánh sáng, trong đó hiện ra những cành cây, và khi gió nhẹ thổi qua, bức tranh như có sức sống” [3, tr. 67]; đồng thời, Người luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường sống trong lành từ những việc làm nhỏ hàng ngày đến những kế hoạch lớn của đất nước. Nếu chúng ta liên hệ đến thời điểm giữa thế kỷ XX, thời điểm mà vấn đề môi trường chưa đặt ra cấp bách như hiện nay và trong hoàn cảnh đất nước đang trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ để bảo vệ độc lập dân tộc thì chúng ta sẽ thấy được tầm nhìn sâu sắc, lâu dài của Người vì sự phát triển bền vững của đất nước.Trong sinh hoạt hàng ngày, thông qua những việc làm nhỏ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ mong muốn xây dựng một môi trường sống trong lành cho các thế hệ tương lai.

Họa sĩ Diệp Minh Châu, người đã từng có một thời gian được sống gần Chủ tịch Hồ chí Minh tại chiến khu Việt Bắc vẫn cón nhớ mãi một câu chuyện: Hôm đó “Chủ tịch Phủ” phải dời đi nơi khác, anh em lo xếp gọn mang dụng cụ, tài liệu và dỡ chòi. Châu thấy Cụ Hồ hì hục đào hố trồng một cây quýt. Lấy làm lạ, Châu hỏi: Dời nhà rồi Bác, Bác còn trồng gì? Cụ Hồ đáp: “Ít bữa nữa cây quýt lớn lên, có trái, người đi đường, đi rừng có thể đỡ khát được” [3, tr.73]. Như vậy, trong một hành động nhỏ của Người đã ẩn chứa mong muốn rất cao đẹp. Với Người, trồng cây không chỉ để có bóng mát, trái ngọt cho hôm nay mà còn góp phần để lại thành quả ngày mai.

Dù ở đâu, trong thời gian dài hay ngắn Người đều tự tay trồng những cây xanh làm tốt tươi những nơi mình đi qua. Nhân dân địa phương thường gọi bằng cái tên trìu mến “Cây đa Bác Hồ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn đi xa hơn nữa. Người không chỉ tạo cho mình môi trường sống trong lành, hòa hợp thiên nhiên mà còn muốn tạo ra điều đó cho nhân dân Việt Nam, để lại lợi ích cho muôn dời. Chính vì thế, Người đã phát động một phong trào trồng cây rộng lớn trong toàn thể nhân dân, từ các em thiếu nhi, thanh niên cho đến các cụ phụ lão. Người viết: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều.”, Theo Người, mỗi người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây, nếu tất cả nhân dân miền Bắc đều trồng từ một đến ba cây trong một năm, bắt đầu từ năm 1960 thì mỗi năm có thêm 15 triệu cây. Và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn”[4, tr. 566]. Người diễn đạt ý nghĩa của việc trồng cây bằng thơ để ai cũng hiểu, cũng nhớ: “Muốn làm nhà cửa tốt,/ Phải ra sức trồng cây./ Chúng ta chuẩn bị từ rày, /Dăm năm sau sẽ bắt tay dựng nhà”.

Mùa xuân năm 1960, phong trào “Tết trồng cây” bắt đầu được phát động trong nhân dân. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cố gắng đưa “Tết trồng cây” trở thành một phong tục tốt đẹp của nhân dân ta mỗi khi Xuân về, Tết đến. Mỗi khi đi thăm các địa phương, trường học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều chú ý nhắc nhở công tác vệ sinh môi trường và động viên mọi người tích cực trồng cây. Đến thăm thôn Lạc Trung (Vĩnh Phúc), Người nhấn mạnh: “Muốn làm nhà thì phải có gỗ, muốn có gỗ thì hãy hăng hái trồng cây” [5, tr. 258]. Nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô ngày 9-5-1961, Người động viên: “Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp” [5, tr. 354]. Khi về thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người nói: “Lần trước đến thăm trường, Bác có nói hai điểm: một là vệ sinh, hai là trồng cây. Vệ sinh ở đây còn kém! Về trồng cây, Bác bảo nên trồng nhiều cây” [5, tr. 330]….

Trong những dịp nói chuyện với thiếu nhi, thanh niên, Người không quên nhắc nhở, động viên các em trồng cây. Nói chuyện với thiếu niên, nhi đồng trong dịp Tết Trung thu năm 1960, Người căn dặn: “Các em tiếp tục trồng cây nhiều nữa. Ở thành thị cũng như ở nông thôn các em nên thành lập những đội nhi đồng chăm nom cây cối để giúp đồng bào trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó” [5, tr. 220]. Đồng thời, với những địa phương, đơn vị không thực hiện tốt nhiệm vụ trồng cây, Người thẳng thắn phê bình. Người phê bình nhân dân Thái Nguyên: “Việc trồng cây gây rừng chưa được coi trọng, trồng cây nhưng chưa chú ý chăm sóc để cây chết, cán bộ, công nhân khu gang thép đốt cháy mất hơn 2 vạn cây” và yêu cầu “phải ra sức bảo vệ rừng, không để gây ra cháy rừng” [5, tr. 98]. Đồng thời, với những địa phương đơn vị có thành tích về vệ sinh và trồng cây, Người có lời khen ngợi và nêu gương. Người khen thầy trò Trường Trung cấp Thể dục thể thao (tiền thân của Trường Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn ngày nay): “Ở đây các cháu có phong trào tăng gia sản xuất tốt, nhưng phải trồng thêm nhiều cây xanh…”. Người dặn thêm: “Nên cố gắng trồng nhiều cây có bóng mát để học sinh có nơi trú nắng” [1, tr. 98]. Người nêu tấm gương về thôn Lạc Trung (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc): “Thôn Lạc Trung hồi kháng chiến bị giặc Pháp đốt sạch, không còn một gốc cây nào. Nhờ trồng cây có kế hoạch nên từ một thôn trơ trọi chỉ sau vài năm Lạc Trung trở nên xanh tươi nhất trong cả huyện Vĩnh Tường…Bà con xem đó, do Tết trồng cây mà đất nước ta càng thêm xanh tươi, nhân dân ta càng thêm giàu có” [5, tr.263-264].

Ngày nay, chúng ta có những rừng thông, rừng phi lao bát ngát, xanh rờn dọc chiều dài bờ biển, những con đường lớn, đường nhỏ được viền cây xinh xắn, những ngọn đồi được phủ xanh bóng mát,… Tất cả những khung cảnh này đã được Người sớm hình dung và cố gắng gây dựng bằng những “Tết trồng cây” đầy ý nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng trồng cây ở nước ta, mà Người còn mong muốn việc làm đó phát triển ở nước khác. Trong những lần đi thăm các nước bạn, gặp gỡ nhân dân các nước đó hoặc khi đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia ở nước mình, Người đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trồng cây đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở nước Nga và Người gọi đó là “những cây hữu nghị” và nhân dân địa phương gọi là những “Cây Bác Hồ”. Các cây ấy lớn theo thời gian, không chỉ biểu hiện của tình hữu nghị tươi thắm giữa nhân dân Việt Nam và bầu bạn thế giới mà còn thể hiện ý thức làm đẹp môi trường sống.

Như vậy, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những dành trọn cuộc đời mình đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, mà với mong ước non sông, đất nước đời đời tươi đẹp, nhân dân Việt Nam mãi mãi được hạnh phúc vẹn tròn, Người sớm hình dung và chỉ ra những định hướng phát triển lâu dài cho đất nước. Định hướng đó không chỉ là những tư tưởng về xây dựng con người và môi trường xã hội mà còn nhằm xây dựng môi trường tự nhiên. Nhiều tư tưởng của Người về phát triển bền vững đã trở thành hiện thực. Ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, trong đó đã thể hiện và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển bền vững. Đồng thời, đối với toàn thể nhân loại, chiến lược phát triển bền vững cũng đang là định hướng phát triển lâu dài với sự ra đời của Chương trình Chăm lo cho trái đất và Chương trình trồng rừng, bảo vệ rừng.

Hiện nay, nhiều vấn đề bức xúc về môi trường đang đặt ra ở nước ta, trong đó nổi bật là việc khai thác rừng quá mức gây hậu quả hết sức nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Do đó, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải thấy được tầm quan trọng của việc trồng cây, gây rừng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ nửa thế kỷ trước. Học tập tấm gương của Người, chúng ta cần đẩy mạnh phong trào trồng cây trong mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thực hiện đúng tư tưởng của Người: Trồng cây phải có kế hoạch dài hạn, tiến hành thường xuyên, đồng bộ chứ không chỉ một năm và ở một số địa phương nhất định; phải chú trọng trồng cây và chăm sóc cây, bảo đảm “trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó”, tránh việc tiến hành hình thức, chạy theo diện tích, số lượng. Mặt khác, cần tạo điều kiện cho lực lượng học sinh, sinh viên trong các trường học tham gia phong trào Tết trồng cây vì đây là hoạt động vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa mang ý nghĩa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sâu sắc.

Tài liệu tham khảo

1. Bác Hồ với thể dục thể thao Việt Nam (1995), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội.

2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2007), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Trần Văn Giàu (2008) Vĩ đại một con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9 (1958-1959) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 10 (1961-1962) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

6. Luật bảo vệ môi trường (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

ThS. Phan Thị Lý – ThS. Trần Thanh Hùng
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn
Theo http://www.tdmu.edu.vn
Đỗ Long Văn (st)

bqllang.gov.vn

Làm gương và nêu gương – cốt lõi trong tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không bàn nhiều về đạo đức dưới dạng lý thuyết, mà chủ yếu nói về thực hành đạo đức bằng cách làm gương và nêu gương. Bài học đó có ý nghĩa thực tiễn lớn lao và vẫn còn nguyên giá trị đối với chúng ta hôm nay.

Thực hành đạo đức là vấn đề quan trọng trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã phát động từ nhiều năm nay. Hồ Chí Minh từng dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần tiết kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, trí tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”(1). Hồ Chí Minh cho rằng, con người nói chung, đặc biệt là người phương Đông, coi trọng thực tiễn hơn lý thuyết. Chính vì thế, Người nhắc nhở đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(2).

Sau Cách mạng Tháng Tám, để khắc phục hậu quả nạn đói, một loạt giải pháp đã được đưa ra, trong đó có giải pháp tiết kiệm và Hồ Chí Minh là người đi tiên phong trong phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”. Người đã nói những lời chân tình và cảm động: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”(3)Người đứng đầu đất nước, đứng ra phát động phong trào, rồi đi đầu làm gương, bởi vậy được cả nước hưởng ứng và phong trào thành công: Nạn đói đã được chặn lại. Thực hành nói đi đôi với làm là điều nói dễ, làm khó. Người đã chỉ ra một thực tế là có những kẻ miệng thì nói phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng lại bị vật chất cám dỗ mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân. Bởi vậy, mọi cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ cương vị lãnh đạo, phải bằng hành động của mình làm gương cho quần chúng noi theo. Nếu họ lợi dụng chức, quyền để làm lợi cho cá nhân, làm hại đến Tổ quốc và sự nghiệp cách mạng, thì phải có hình thức kỷ luật thích đáng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, vụ án Đại tá Trần Dụ Châu là điển hình cho sự nghiêm minh về kỷ luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là một cán bộ Quân đội, trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, nhưng Trần Dụ Châu đã tha hóa, biến chất, làm tổn hại đến thanh danh của Đảng, của Quân đội, bởi vậy, Người đã chuẩn y mức án tử hình đối với bị cáo. Tại thời điểm đó, Báo Cứu Quốc của Mặt trận Việt Minh, số ra ngày 27-9-1950, đã viết Xã luận: “Nó (vụ án) cho chính quyền, đoàn thể ta nhiều kinh nghiệm trong việc dùng cán bộ, giáo dục và kiểm soát cán bộ. Trong khi đó, có người còn e ngại: Chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ những tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ, có thể làm một số dân chúng chê trách, hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu chính quyền, đoàn thể ta. Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó… Đấy là một sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn, phê bình những sai lầm của cán bộ, của chính quyền, của đoàn thể vì họ đã hiểu chính quyền, đoàn thể ta là chính quyền, đoàn thể của họ và họ nhất định không chịu tha thứ những kẻ nào đi ngược quyền lợi của họ… Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những bọn ấy, những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của người khác, để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc tự mình làm gương, mà luôn quan tâm đến việc nêu nhiều tấm gương người tốt, việc tốt để đảng viên và quần chúng noi theo. Người luôn theo dõi những điển hình tiên tiến được phản ánh trên các báo, cả Báo Trung ương, địa phương, các ngành, Bản tin Việt Nam Thông tấn xã để tổng hợp và tìm cách nhân rộng. Theo thống kê, từ tháng 02 năm 1956 đến tháng 12 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xem và đánh dấu hơn hai nghìn bài viết về người tốt, việc tốt trên các báo và có bút tích thưởng Huy hiệu; được cắt ra và đóng lại thành 20 tập. Trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với đồng chí Hà Huy Giáp, Thứ trưởng Bộ Văn hóa tuyển chọn những gương tiêu biểu để xuất bản thành sách Người tốt, việc tốt. Trong Lời giới thiệu cuốn sách, Người viết: Nêu gương “những người bình thường hằng ngày có những hành động bình thường mà anh hùng, xứng đáng được học tập, ai ai cũng có thể làm theo”.

Sau khi Bác mất, các nhà xuất bản trên cả nước, tùy theo đối tượng và mục đích của mình tiếp tục cho ra loại sách đó với những tên gọi khác nhau. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản loại sách “Vì nước, vì dân”, nhằm tiếp tục tôn vinh những người tốt, việc tốt; qua đó, thực hiện một nguyên tắc quan trọng trong thực hành đạo đức là xây đi đôi với chống. Nghĩa là, phải tạo dựng một mẫu hình con người mới: Vừa hồng, vừa chuyên, để đối lập và đi đến triệt tiêu những con người lấy chủ nghĩa cá nhân làm phương tiện và cứu cánh của cuộc sống.

Xây – chống trong ứng xử đạo đức lấy cái thiện làm trung tâm, là một quá trình phấn đấu bền bỉ không có điểm kết thúc trong đời sống của mỗi con người, của một xã hội. Ở đâu và lúc nào không quan tâm đến thực hành đạo đức, thì ở đó, lúc đó, cái ác sẽ lấn át cái thiện và muốn trở về cái thiện đòi hỏi một quá trình lâu dài, phức tạp. Hiểu rõ tầm quan trọng của đạo đức trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, Đảng ta đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Cuộc vận động đã đi vào cuộc sống, làm chuyển biến một bước về nhận thức và thực hành đạo đức trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, Cuộc vận động chưa đủ sức ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận đảng viên, đặc biệt, những đảng viên có chức, có quyền. Vì thế, mới đây Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết đề ra 4 nhóm giải pháp, để “tạo bước chuyển mới trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh”(4) ; trong đó, yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu từng cơ quan, đơn vị, địa phương phải tự giác trong tự phê bình và phê bình, thực sự gương mẫu trong lời nói và việc làm, tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh hơn… Hy vọng rằng, với quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, và mới đây là kết luận của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất định chúng ta sẽ tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ trong xã hội; mọi cán bộ, đảng viên đều làm gương và nêu gương, làm cho cái thiện sẽ lấn át cái ác, tham nhũng và lãng phí sẽ bị đẩy lùi…, xã hội ta ngày càng tiến bộ, văn minh, đất nước giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn./.

__________

1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 150.

2 – Sđd, Tập 5, tr. 552, 644.

3 – Sđd, Tập 4, tr. 31.

4 – ĐCSVN – Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ­ương khoá XI, Nxb CTQG, H. 2012, tr. 40.

Theo PGS, TS. PHẠM XANH/ Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Nhận thức rõ để hành động tốt hơn theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Tổng kết 4 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” không chỉ là dịp để chúng ta thống nhất đánh giá kết quả bước đầu sau gần 4 năm thực hiện Cuộc vận động, mà còn khẳng định thành tích, ưu điểm, chỉ rõ các hạn chế, thiếu sót và rút ra nhiều kinh nghiệm thiết thực cho những năm tiếp theo.

Bacho-GD-v11-1_53634074467037146059.jpgBác Hồ người Việt Nam đẹp nhất. Ảnh: Tuấn Anh

Triển khai Cuộc vận động là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân

Cách đây hơn 4 năm, tại Lễ kỷ niệm trọng thể 77 năm Ngày thành lập Đảng, Đảng ta đã phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hôm nay, nhìn lại, chúng ta đã có thể khẳng định: đó là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân; thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu; nguyện kế thừa, phát huy di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức vô giá mà Người để lại.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà chúng ta tiến hành trong 4 năm qua đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể từ Trung ương đến các địa phương và toàn xã hội. Qua mỗi năm, Cuộc vận động có một chủ đề thiết thực, nội dung phong phú, bổ ích. Chúng ta đã thành lập và từng bước kiện toàn Ban chỉ đạo Cuộc vận động ở các cấp; xây dựng quy chế, chương trình, kế hoạch thực hiện cho toàn khóa và từng năm; hướng dẫn và cụ thể hóa các chuẩn mực hành động theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với 5 nội dung chủ yếu.

Ban chỉ đạo các cấp ngay từ đầu đã coi trọng công tác tuyên truyền, vận động việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua các hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Người, qua các tác phẩm, các lời dạy, đặc biệt là qua rất nhiều việc làm bình dị mà cao đẹp của Người, làm nổi bật tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”; “sửa đổi lối làm việc”; “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Chúng ta đã tiến hành kiểm điểm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, đẩy mạnh phong trào thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức và tiêu cực xã hội. Trong chỉ đạo, chúng ta đã gắn nội dung Cuộc vận động với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, của mỗi ban, bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường hoạt động đối ngoại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

BacHo.jpgTư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh muôn đời tỏa sáng. Ảnh: Tuấn Anh

Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Ban Chỉ đạo Trung ương và các tỉnh, thành phố phát động đã nhận được sự hưởng ứng tự giác và sâu rộng của hàng vạn nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ và những cây bút không chuyên. Chúng ta đã chú ý đúng mức tính đặc thù của các vùng, miền, các tôn giáo, dân tộc, các lứa tuổi; quan tâm đến nội dung “làm theo”; coi trọng việc phát hiện, biểu dương, cổ vũ, nhân rộng các tập thể, cá nhân gương mẫu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện Cuộc vận động; tổ chức tốt các cuộc gặp mặt, giao lưu, tọa đàm, khen thưởng các điển hình tiên tiến; đưa nội dung “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào chương trình giáo dục trong các nhà trường; đưa Cuộc vận động lan tỏa trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên đang công tác, học tập ở nước ngoài và trong cộng đồng người Việt Nam sống xa Tổ quốc.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; nhận rõ đạo đức là “gốc” mỗi con người, nhất là người cách mạng, từ đó nâng cao ý thức thường xuyên trau dồi, rèn luyện bản thân để cái gốc đó ngày một tươi tốt, vững bền. Cuộc vận động đã góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; ý thức và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Nội dung “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, chống lãng phí, tham ô, chống thói quan liêu, vô trách nhiệm được nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện có hiệu quả. Qua thực hiện Cuộc vận động, công tác kiểm tra đảng, thanh tra nhà nước, bảo vệ pháp luật được đẩy mạnh, chúng ta đã phát hiện và xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tập thể, cá nhân sai phạm.

Cuộc vận động lớn này đã gắn kết chặt chẽ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phong trào chăm sóc, giúp đỡ gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình chính sách; xây dựng nhà tình nghĩa, Quỹ “Vì người nghèo”; các đợt quyên góp, giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; ủng hộ nạn nhân chất độc da cam; xây dựng Quỹ “Trái tim cho em”, Quỹ “Tấm lòng vàng”, Quỹ “Tấm lòng Việt”; hỗ trợ những người mắc bệnh hiểm nghèo… và nhiều phong trào, việc làm bổ ích khác.

Trong 4 năm qua, từ tác động tích cực của Cuộc vận động, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được đẩy mạnh. Cải cách thủ tục hành chính có tiến bộ. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có một số chuyển biến. Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy chế Dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm túc hơn.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới tác động không thuận đến nước ta; ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, gây hậu quả nặng nề…, việc triển khai nghiêm túc chủ đề, nội dung của Cuộc vận động đã giúp các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị có thêm động lực để thực hiện chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của Quốc hội và Chính phủ về triển khai các nhóm giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, phòng ngừa lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Những thành tựu đạt được của đất nước, của mỗi ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong 4 năm qua, có sự đóng góp quan trọng của Cuộc vận động. Đây là một thực tế, một điều cần được khẳng định. Tuy không thể thống kê, lượng hóa đầy đủ kết quả của Cuộc vận động, song xét trên tổng thể, những chuyển biến tiến bộ từ mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị đến sự phát triển chung của các ngành, các lĩnh vực và cả nước đã nói lên giá trị to lớn và hiệu quả thiết thực của Cuộc vận động trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Cần có sự vào cuộc hơn nữa của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn xã hội

Bên cạnh nỗ lực và thành tích quan trọng ban đầu, quá trình thực hiện Cuộc vận động trong 4 năm qua cũng bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót cần khắc phục. Một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến việc quán triệt mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, nội dung và tầm quan trọng của Cuộc vận động, chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động của ban chỉ đạo các cấp có lúc, có nơi, có việc còn lúng túng, bị động. Sự phối hợp giữa một số ban, ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị chưa nhịp nhàng, hiệu quả chưa cao. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên một số việc chưa sát hợp và kịp thời. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức kể cả cán bộ chủ chốt, còn thiếu tự giác, chưa gương mẫu trong việc thực hiện Cuộc vận động. Sự gắn kết, lồng ghép nội dung Cuộc vận động với thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương, đơn vị ở một số nơi chưa tốt, chưa huy động được sức mạnh cả hệ thống chính trị hăng hái tham gia. Sự phối hợp giữa công tác tuyên giáo, công tác tổ chức – cán bộ, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, thi đua, khen thưởng… chưa chặt chẽ, liên tục. Công tác tuyên truyền về Cuộc vận động còn có những hạn chế; nội dung, hình thức chưa thật phong phú, lôi cuốn.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm thiết thực:

Trước hết, phải tạo được sự thống nhất cao về nhận thức tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng to lớn, nhiều mặt của Cuộc vận động. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị là yếu tố vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc huy động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tham gia.

Sự vào cuộc tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với quá trình thực hiện Cuộc vận động. Đội ngũ cốt cán, trước hết là người đứng đầu cơ quan đảng, nhà nước, thủ trưởng mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần nêu cao trách nhiệm, tâm huyết với sự nghiệp chung, gương mẫu đi đầu trong công tác tuyên truyền, chỉ đạo và thực hiện Cuộc vận động.

Phải làm cho Cuộc vận động lan tỏa, thấm dần, bám rễ vững chắc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mỗi gia đình, mỗi người dân, trở thành lối sống đẹp, nếp sống đẹp, lẽ sống cao quý.

Thứ hai, phải xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động một cách khoa học, thiết thực, sát hợp với tình hình, với nhiệm vụ của ngành, địa phương, đơn vị trong từng giai đoạn và suốt cả nhiệm kỳ; quá trình thực hiện, cần tìm tòi và bổ sung các giải pháp, bước đi phù hợp. Gắn kết một cách khéo léo, nhuần nhuyễn việc thực hiện Cuộc vận động với các phong trào thi đua yêu nước, với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị của các ngành, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp. Sự lồng ghép này vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, vừa tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí.

Thứ ba, phải xây dựng chuẩn mực đạo đức, lối sống phù hợp với từng loại hình công việc, từng loại đối tượng; các chuẩn mực này dễ nhớ, dễ thực hiện; tránh ôm đồm, chung chung, kiên quyết loại bỏ bệnh hình thức, phô trương. Phải coi việc thực hiện Cuộc vận động trước hết là vì nhu cầu, quyền lợi tự thân của mỗi người, mỗi gia đình, cộng đồng, đoàn thể; không chỉ thuần túy về đạo đức, lối sống mà cao hơn, là phục vụ trực tiếp cho sản xuất, công tác học tập, rèn luyện, cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi người, mỗi đơn vị.

Cần phát huy dân chủ thực sự, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp lấy ý kiến của quần chúng góp ý cho cán bộ, đảng viên, tạo điều kiện để quần chúng góp ý nhiều hơn, thẳng thắn, trách nhiệm hơn cho tổ chức, cho cán bộ và đảng viên.

Thứ tư, trong chỉ đạo và thực hiện, cần xác định quan điểm: đây là cuộc vận động lâu dài, tiến hành trong nhiều năm, cho nhiều thế hệ. Do đó, tránh tâm lý nôn nóng, chủ quan, kỳ vọng quá nhiều, quá sớm vào kết quả cuộc vận động trong khi cần phải có một thời gian và nỗ lực cần thiết. Mặt khác, khắc phục tư tưởng cầm chừng, hoài nghi, bàng quan, chưa thực sự quan tâm tới Cuộc vận động; cần điều chỉnh, bổ sung một số nội dung, giải pháp của công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Hệ thống các văn bản hướng dẫn, đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương và của ban chỉ đạo các cấp cần ngắn gọn, thống nhất, kịp thời, sát đúng với tình hình. Tiếp tục huy động các ban, ngành của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị chủ động, tích cực tham gia Cuộc vận động. Tổ chức đảng các cấp cần đưa việc thực hiện Cuộc vận động vào nội dung sinh hoạt đảng hằng tháng, vào kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên. Các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị – xã hội cũng cần quy định việc thực hiện Cuộc vận động là một tiêu chí bắt buộc với công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên; coi đó là một trong những tiêu chuẩn bình xét thi đua, khen thưởng hằng tháng, hằng năm.

Thứ năm, về công tác chỉ đạo điểm: Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện Cuộc vận động, cần chọn đúng, trúng điểm chỉ đạo; tập trung xây dựng, phát huy vai trò, tác dụng của các đơn vị làm điểm; tăng cường kiểm tra, đôn đốc; đúc rút kinh nghiệm sâu sắc để nhân ra diện rộng. Quan tâm xây dựng các điển hình là cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người thường xuyên tiếp xúc, phục vụ nhân dân, quản lý về tài chính, đất đai, công sản…

Qua việc tổng kết 4 năm triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có đủ cơ sở thực tiễn, lý luận để báo cáo với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xin ý kiến và quyết tâm chính trị của Đại hội XI của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động, đưa hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành công việc thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống, cấp trên phải gương mẫu trước cấp dưới, đảng viên và nhân dân, từ đó mà lan tỏa, tác động đến toàn dân, toàn xã hội.

Nông Đức Mạnh
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – giải pháp quan trọng thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng

Xét theo nội dung, cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện các giải pháp được đề ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 4, việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ Chính trị có tác động trực tiếp và giúp thực hiện tốt tất cả các nhóm giải pháp nêu trên. Điều ấy được khẳng định bởi chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa XI đã thảo luận và ra Nghị quyết về công tác xây dựng Đảng. Ngày 16/1/2012, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TƯ: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về công tác xây dựng Đảng, một nhiệm vụ được xác định là “then chốt” trong công cuộc đổi mới đất nước. Nghị quyết đã chỉ rõ, đây là nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài, phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đồng thời chỉ ra ba vấn đề có tính cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, cần tập trung giải quyết: Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nghị quyết đã nêu 4 nhóm giải pháp chủ yếu để giải quyết những vấn đề cấp bách nêu trên: 1- Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên; 2- Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; 3- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; 4- Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TƯ của Bộ Chính trị được xác định là giải pháp đầu tiên trong nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị tư tưởng.

1- Xét theo nội dung, cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện các giải pháp được đề ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 4, việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ Chính trị có tác động trực tiếp và giúp thực hiện tốt tất cả các nhóm giải pháp nêu trên. Điều ấy được khẳng định bởi chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Quán triệt tư tưởng và những lời dạy của Người về xây dựng Đảng, trong đó có nội dung chuyên đề học tập năm 2010 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”, các tác phẩm “Đường Kách mệnh”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Di chúc” của Bác giúp thực hiện tốt các giải pháp nêu ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4.

Thực hiện giải pháp đẩy mạnh tự phê bình, phê bình trong Đảng, quán triệt tư tưởng và lời dạy của Hồ Chí Minh giúp chúng ta thấy rõ hơn vai trò của tự phê bình, phê bình. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc xây dựng Đảng; là quy luật phát triển của Đảng; là công việc thường xuyên, “như người ta rửa mặt hằng ngày”. Người chỉ rõ, mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; làm cho các tổ chức Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh… Phê bình và tự phê bình để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng; để các tổ chức Đảng và đảng viên luôn luôn hoàn thiện mình, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao cho. Về phương pháp, Người yêu cầu tự phê bình phải thành khẩn, thành tâm, không “giấu bệnh, sợ thuốc”. Phê bình phải trung thực, “không đặt điều”, “không thêm bớt”; ”không nể nang”, kiên quyết, “ráo riết”; nhưng phải có tính xây dựng, “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(1). Quán triệt tư tưởng và những lời dạy trên đây của Bác trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Kế hoạch của Bộ Chính trị để đánh giá, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, các mặt còn yếu kém, phức tạp; làm rõ nguyên nhân trở ngại trong việc lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng Đảng, trách nhiệm của các tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên, từ các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương đến cơ sở, sẽ góp phần làm cho việc tự phê bình, phê bình có kết quả tích cực và hiệu quả cao hơn.

Quán triệt nguyên tắc nêu gương trong thực hành đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh giúp thực hiện tốt hơn yêu cầu nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên được đề ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 4. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nêu gương là một nguyên tắc trong thực hành đạo đức, một phương pháp lãnh đạo của Đảng. Người viết: “Muốn người ta theo mình thì mình phải làm gương trước”. Theo Người, ai cũng phải nêu gương, nhưng nhấn mạnh người có vị trí cao hơn về chức vụ, nhiều hơn về vị thế, tuổi tác thì phải nêu gương trước, nói đi đôi với làm. Người yêu cầu, đảng viên nêu gương cho quần chúng, lãnh đạo nêu gương cho nhân viên… Phát huy tính tự giác, gương mẫu và thực hiện quy định về sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TƯ để thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 có hiệu quả hơn.

Về giải pháp xây dựng tổ chức và cán bộ nêu trong Nghị quyết Trung ương lần thứ tư, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nêu trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, một tác phẩm nổi tiếng về xây dựng Đảng của Người đã được giới thiệu và tổ chức học tập trong những năm qua, có ý nghĩa rất tích cực. Trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh chỉ rất rõ vai trò và vị trí của cán bộ và công tác cán bộ. Người viết: “Cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân”; “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Người yêu cầu, cán bộ cách mạng phải hội đủ các tiêu chuẩn đức và tài, phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt, trong đó phẩm chất đạo đức phải là yếu tố hàng đầu, là gốc, là nền tảng. Người coi công tác cán bộ là công tác gốc của Đảng; là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp. Thực chất công tác cán bộ là “nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Để thực hiện tốt công tác cán bộ, cần quan tâm đầy đủ đến các mặt: huấn luyện cán bộ; dạy cán bộ và dùng cán bộ; lựa chọn cán bộ; bồi dưỡng cán bộ; thực hiện chính sách đối với cán bộ…

Về phát huy dân chủ trong Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do”; “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”… Người chỉ ra cho chúng ta mục đích và yêu cầu thực hành dân chủ trong Đảng, mở rộng dân chủ “để tất cả mọi đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. “Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân… Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý”(2). Quán triệt tư tưởng trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ tư giúp chúng ta phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện tốt các giải pháp cụ thể được đề ra, như Quy chế chất vấn trong Đảng; lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá, nhận xét cán bộ; thí điểm bố trí cán bộ chủ chốt ở cấp tỉnh, cấp huyện không phải người địa phương; kê khai tài sản; định kỳ tổ chức để nhân dân góp ý kiến xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội…

Về các giải pháp xây dựng cơ chế, chính sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ trách nhiệm của Đảng và Chính phủ, khi coi “dân đói”, “dân rét”, “dân ốm” là Đảng, Chính phủ có lỗi để đặt ra yêu cầu phải không ngừng xây dựng, hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. Trong bản “Di chúc” bất hủ, Người yêu cầu: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân”. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để rà soát, loại bỏ các cơ chế, chính sách đã lạc hậu, xây dựng, ban hành đồng bộ các chính sách để đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; rà soát cơ chế, chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý, kiểm soát chặt chẽ vốn và tài sản nhà nước; thực hiện cải cách hành chính nhà nước và cải cách hành chính trong Đảng; đẩy nhanh việc cải cách, thực hiện sớm chế độ tiền lương, nhà ở, chống bình quân, cào bằng; đồng thời chống đặc quyền, đặc lợi; gắn với tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức…, tạo nên sự “không cần”, “không dám”, “không thể” tham ô, tham nhũng, qua đó mà xây dựng đội ngũ cán bộ, để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Trong nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho chúng ta ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung và phương pháp học tập lý luận chính trị. Từ cuốn “Đường Kách mệnh” năm 1927 đến “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947, Hồ Chí Minh đã luôn luôn nhấn mạnh vai trò của lý luận, của thực tiễn và quan hệ giữa lý luận với thực tiễn. Người khẳng định, lý luận có vai trò rất to lớn, nó như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế; không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, phải nâng cao hiểu biết cả về lý luận; “có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”… Theo Hồ Chí Minh, hiểu lý luận là “đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”.

Về phương pháp học tập lý luận, Người yêu cầu lý luận phải liên hệ chặt chẽ với thực tiễn. Người nói, “lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”. Lý luận và thực hành có quan hệ qua lại; lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhìn theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. “Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung cũng như không có tên”.

Về đẩy mạnh học tập lý luận, Người dạy, “phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”…

Quán triệt tư tưởng và những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, những nội dung đã được thể hiện rõ trong 7 chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh những năm qua và hiện đang là những tài liệu quan trọng để tổ chức thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ, giúp thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn các giải pháp về xây dựng Đảng nêu ra trong Nghị quyết Trung ương 4.

2- Về các giải pháp đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TƯ của Bộ Chính trị, đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành công việc thường xuyên quan trọng, gắn với các nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị hiện nay để thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, cần thực hiện tốt các hướng dẫn của Trung ương.

Trong năm 2012, thực hiện Hướng dẫn 32-HD/BTGTƯ của Ban Tuyên giáo Trung ương, cần chú ý làm tốt các công việc sau:

Một là, cần tiếp tục quán triệt các chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong 4 năm triển khai cuộc vận động, các tài liệu học tập theo chủ đề hằng năm để tổ chức nghiên cứu, trao đổi, thảo luận tại các chi bộ trong từng tháng, từng quý, gắn với kế hoạch nghiên cứu quán triệt nghị quyết và tổ chức kiểm điểm, liên hệ theo kế hoạch của Bộ Chính trị.

Hai là, xây dựng các chuẩn mực đạo đức cụ thể, sát hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, với tổ chức thực hiện Điều lệ Đảng, quy định các điều đảng viên không được làm, các quy định chung của cơ quan, đơn vị. Các chuẩn mực đạo đức được xây dựng theo tư tưởng, tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trở thành một trong những cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên đăng ký thực hiện, để liên hệ, kiểm điểm theo Kế hoạch thực hiện nghị quyết Trung ương 4 của Bộ Chính trị và trong sinh hoạt chi bộ, kiểm điểm cuối năm theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

Ba là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống. Ở các ngành, địa phương, Ban Thường vụ cấp ủy, trực tiếp là Bí thư cấp ủy có trách nhiệm tổ chức việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cơ quan, đơn vị mình và gương mẫu thực hiện các giải pháp đề ra để làm gương cho mọi người noi theo. Căn cứ quy định chung về trách nhiệm nêu gương, các ngành, địa phương cần cụ thể hóa thêm để giúp cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo theo đó tự giác và gương mẫu thực hiện.

Bốn là, để việc triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ trở nên thiết thực hơn, tạo niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, cấp ủy chỉ đạo và lựa chọn một số vấn đề nổi lên, được dư luận quan tâm, đưa ra trao đổi, thảo luận trong đơn vị, bàn giải pháp và tập trung sức giải quyết với những kết quả cụ thể. Điều đó giúp giải quyết các vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng và trong quan hệ với nhân dân ở cơ sở, làm cho việc thực hiện Nghị quyết mang tính thiết thực hơn.

Năm là, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng Đảng. Ban Thường vụ cấp ủy tổ chức để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt Quy định về đảng viên các cơ quan sinh hoạt hai chiều với nơi cư trú…

Sáu là, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phát hiện, phổ biến, nhân rộng những cách làm hay, những sáng kiến tốt ở cơ sở. Chỉ đạo báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng tăng cường các hoạt động tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết, biểu dương những điển hình người tốt, việc tốt, nhân rộng các điển hình tiên tiến, động viên cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quản lý tốt các hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, góp phần động viên thực hiện Nghị quyết và hạn chế những mặt tiêu cực trong các lĩnh vực hoạt động này./.

PGS.TS Ngô Văn Thạo
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

———————

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.2, tr.510
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 1996, t.8, tr. 216.

bqllang.gov.vn

Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(TCTG) – Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng, đất nước và nhân dân ta không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hóa mà còn là nhà ngoại giao kiệt xuất. Tư tưởng đối ngoại và phong cách ngoại giao của Người là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, trong đó ngoại giao nhân dân là một “binh chủng” đa kênh và đa năng quan trọng, cùng với ngoại giao Đảng và Nhà nước hợp thành nền ngoại giao tổng hợp của quốc gia.

Sự hình thành và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong đó có ngoại giao nhân dân gắn liền với cuộc đời hoạt động của Người qua những giai đoạn lịch sử đầy biến cố của tình hình thế giới và trong nước. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với những nội dung chủ yếu như: Các quyền dân tộc cơ bản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với đoàn kết và mở rộng hợp tác quốc tế, v.v… trong đó ngoại giao là một mặt trận là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh”, và cũng theo quan điểm của Người “ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” (1), nhất là “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập” (2). Vì vậy, Người khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”, nên “muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”.

Thực hiện theo quan điểm, tư tưởng của Người, sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, và đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, việc phối hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh chính trị, quân sự của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã góp phần to lớn vào thắng lợi của toàn dân tộc.

Kiên định mục tiêu nhất quán là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời với việc đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế, để kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn. Trong mọi “nguồn lực” đó, ngoại giao, đặc biệt là ngoại giao nhân dân được chú trọng và đã phát huy vai trò to lớn, vì đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cục diện cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà còn luôn giữ vai trò quan trọng tích cực và chủ động, để biểu dương và nhân nguồn sức mạnh của thực lực.

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, các nước tiến hành các hoạt động ngoại giao dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng quy tụ lại thành hai loại chính là ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhà nước là mối quan hệ giữa chính phủ với chính phủ của các nước có chủ quyền, giữa các nhà lãnh đạo của các nước. Các quan chức làm việc trong các đại sứ quán hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của một nước ở nước ngoài là những người đại diện cho chính phủ ở nước sở tại. Ngoại giao nhân dân là một hình thức hoạt động quan hệ đối ngoại do các tổ chức, các đoàn thể, hoặc cá nhân thuộc nhiều lĩnh vực tiến hành, không mang tính chất chính thức của Chính phủ. Có nhiều hình thức phong phú: gặp gỡ, các cuộc đi thăm, hội đàm, trao đổi ý kiến, festival…

Hoạt động của ngoại giao nhân dân là phát huy “sức mạnh mềm” (3) của một nước, hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước để thực hiện chính sách đối ngoại mà chính phủ nước đó đề ra. Ngoại giao nhân dân là lực lượng quan trọng của mặt trận ngoại giao và ưu thế của ngoại giao nhân dân là có thể đi đầu, có thể đi trước tại những nước, những khu vực và về một số vấn đề mà ngoại giao chính thức của nhà nước chưa có điều kiện triển khai.

Tham gia làm ngoại giao nhân dân gồm các đoàn thể, quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội, các hội nghề nghiệp, toàn thể nhân dân và nhiều khi cả tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm và mang dấu ấn riêng của Người, ngoại giao nhân dân là một nội dung quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, Chính phủ Việt Nam, thể hiện rõ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất và XHCN.

Ngoại giao nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là một lực lượng quan trọng của mặt trận đối ngoại. Bởi vì theo Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là việc riêng của “các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán là những cơ quan chuyên môn phụ trách, mà còn là các tổ chức khác như ngoại thương, văn hóa, thanh niên, phụ nữ, công đoàn cũng đều làm ngoại giao cả” (4). Đây là quan điểm xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của cha ông ta, được Người kế thừa và nâng lên một bước: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Vậy ngoại giao cũng là mặt trận không thể thiếu sự tham gia của nhân dân.

Hồ Chí Minh chủ trương đối ngoại rộng mở, mở rộng lực lượng theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu “không gây thù oán với một ai”, tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể nhằm tập hợp lực lượng, hình thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc. Người từng nói: “Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa”. Như vậy, với Hồ Chí Minh, ngoại giao không chỉ là sự nghiệp của toàn dân, mà còn phải lôi kéo, thuyết phục bằng chính nghĩa để nhân dân và bạn bè thế giới ủng hộ, giúp đỡ mình.

Để thực hiện chính sách ngoại giao nhân dân rộng mở, tập hợp các lực lượng đoàn kết với Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Và muốn tăng cường đoàn kết, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải thông qua đấu tranh và “mục đích của ta là vì đoàn kết, vì đoàn kết mà phải tranh đấu. Tranh đấu để đến đoàn kết chứ không nói xấu ai” (5). Đoàn kết hợp tác với bên ngoài để tăng cường sức mạnh bên trong, nhân nguồn sức mạnh của bên trong, vì vậy, phải xây dựng thực lực sức mạnh đất nước, chính nghĩa của dân tộc làm nền tảng, để thu hút sự ủng hộ của quốc tế.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nhận thức được tầm quan trọng và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Từ đó Người đặt cách mạng Việt Nam trong tiến trình chung của cách mạng thời đại. Trong tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Nguyễn Ái Quốc đã xác định: “Cách mạng An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả” (6). Và khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ngay từ những ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành lập các tổ chức ngoại giao nhân dân đầu tiên ở trong nước để tiếp cận với phong trào hòa bình và đoàn kết của cách mạng thế giới.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng vô sản, với phong trào giải phóng dân tộc, với phong trào hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Năm 1948, khi ta giành được thắng lợi trên chiến trường, nhưng về ngoại giao, thế giới chưa biết nhiều về cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta. Khi ấy, chính Người đã chỉ đạo việc tổ chức một đoàn cán bộ được tuyển chọn từ các ngành dân, chính, Đảng ra nước ngoài để tuyên truyền về cuộc kháng chiến, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng, tháng 2-1951, khi nêu khái niệm về ngoại giao nhân dân và tầm quan trọng của nó, Đảng ta đã tự kiểm điểm: “Do chưa nhận thức đầy đủ về tác dụng của ngoại giao nhân dân, ta chưa có kế hoạch tích cực, kiên quyết vượt qua mọi trở lực, để xúc tiến ngoại giao nhân dân”, đồng thời nêu nhiệm vụ phải “phát triển ngoại giao nhân dân rộng rãi”, “củng cố ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, tăng cường việc ngoại giao giữa đoàn thể nhân dân nước ta và các đoàn thể nhân dân thế giới” (7). Đây là một sự phát triển sáng tạo trong nhận thức của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò và vị trí của ngoại giao nhân dân, phù hợp với tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đặt cơ sở cho hoạt động ngoại giao nhân dân thời kỳ tiếp theo.

Ngoại giao nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính nhân dân sâu sắc, phù hợp với khát vọng hòa bình, tự do, công lý của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đó còn là cơ sở để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới và thực hiện phương pháp ngoại giao “tâm công”, nhằm “tuyên truyền cái chính nghĩa của ta trong nhân dân các nước đối phương, trong nhân dân thế giới”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, mặt trận ngoại giao, trong đó có ngoại giao nhân dân đã phát huy sức mạnh một cách hữu hiệu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhân dân Mỹ đánh từ trong đánh ra, nhân dân ta đánh từ ngoài đánh vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt – Mỹ nhất định sẽ thắng. Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của mặt trận thống nhất nhân dân hai nước; mà cũng là thắng lợi chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa” (8). Phối hợp cùng với hoạt động ngoại giao của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, những hoạt động ngoại giao của nhân dân ta ở miền Bắc, ở miền Nam đã góp phần hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập, tự do, thống nhất và hòa bình, công lý của nhân dân Việt Nam.

Theo lời Người, đối ngoại là công việc chung của toàn Đảng, toàn dân, nên mỗi người dân Việt Nam đều có vinh dự và trách nhiệm là đại diện cho dân tộc mình trước bạn bè thế giới. Chính Người là nhà ngoại giao nhân dân tiêu biểu với phong cách ngoại giao “tâm công”, độc đáo và là tấm gương mẫu mực vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã dùng triết lý phương Đông, kết hợp hài hòa với văn hóa phương Tây trong ứng xử của mình, để vừa giữ được sự mềm dẻo, tinh tế, lại vừa đảm bảo được nguyên tắc, mục tiêu cách mạng, phân hóa được kẻ thù, tấn công vào lòng địch. Song hơn hết, tư tưởng ngoại giao nhân dân của Người đề cao lòng nhân ái, thái độ chân thành, biết thông cảm, chia sẻ đã xóa bỏ ranh giới và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tại các nước đế quốc đang tiến hành chiến tranh ở Việt Nam.

Trong bối cảnh thực dân Pháp đã cố tình gây chiến và buộc dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy. Những dòng máu đỏ chúng tôi đều quý như nhau”. Và với nhân dân Mỹ, phối hợp với chính sách ngoại giao của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi phân biệt rõ ràng đế quốc Mỹ là kẻ thù và nhân dân Mỹ là người bạn của nhân dân Việt Nam”, để có thêm “những người bạn quý ở trong lòng nước Mỹ”.

Ít có vị lãnh tụ nào trên thế giới trong khi đang lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc mình, lại vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông với nhân dân các nước ở phía bên kia chiến tuyến. Trong các bức thư gửi nhân dân Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bày tỏ rằng: Người không lên án bản thân những người lính Mỹ bị đưa sang Việt Nam, bởi họ, cũng như các binh lính thuộc địa trước đây chẳng qua là công cụ của nhà cầm quyền. Vì vậy, Người bày tỏ: “Chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ, hy sinh, mà chúng tôi cũng thương xót cho các bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở miền Nam Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành” (9).

Lịch sử dựng nước và giữ nước của các dân tộc trên thế giới đều có điểm chung là được lòng dân thì làm việc gì cũng dễ. Ngọn cờ độc lập, tự do mà Hồ Chí Minh giương cao, không chỉ phù hợp và được lòng dân Việt Nam, mà còn phù hợp tâm tư, khao khát của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Ngoại giao nhân dân của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người là sự phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới trong công cuộc chung chống lại kẻ thù chung của hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, vì vậy hấp dẫn và quy tụ được sự đồng cảm và ủng hộ của “mặt trận nhân dân thế giới”.

Kết hợp đấu tranh ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã rất thành công khi phát huy sức mạnh của ngoại giao nhân dân, biểu dương sức mạnh của quần chúng nhân dân trong những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa (1945-1946). Cũng kết hợp thành công ngoại giao nhân dân với ngoại giao Nhà nước, Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân loại tiến bộ trên thế giới hiểu sâu sắc hơn về khát vọng độc lập, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Chính phủ và nhân dân Việt Nam khi kiên trì thực hiện Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hiệp định Pari năm 1973, và bền bỉ tiến hành cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất.

Cùng với thời gian, những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nhân dân được hình thành trên cơ sở những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, trong đó đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân văn trong ngoại giao của cha ông ta và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một phương pháp ứng xử khéo léo để không những đoàn kết nhân dân trong nước, mà còn có thể tập hợp các lực lượng bên ngoài hỗ trợ tích cực cho thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Trên tinh thần đó, Đảng ta chủ trương: “Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức và nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới… Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân,… làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước ta” (10).

Đất nước đang đổi mới và hội nhập toàn diện, hoạt động ngoại giao nhân dân cũng khoác thêm lên mình “chiếc áo” mới. Cũng giống như đối ngoại của Nhà nước, ngoại giao nhân dân triển khai đều cả bốn mặt trận: ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và công tác người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần quảng bá hình ảnh, bảo vệ lợi ích của Việt Nam tại các diễn đàn nhân dân khu vực và trên thế giới; vận động nhân dân thế giới ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam; vận động viện trợ phi chính phủ của nước ngoài tăng đáng kể,v.v…

Ngoại giao nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là phải biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Có thể nói, ngoại giao nhân dân và sự kết hợp giữa ngoại giao nhân dân và ngoại giao Nhà nước là sự sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Người về đối ngoại nói chung và ngoại giao nhân dân nói riêng đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc, thành kim chỉ nam cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.

Những thành tựu đối ngoại trong thời kỳ đổi mới trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt tư tưởng của Người về nền ngoại giao nhân dân đã góp phần đưa đất nước “ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hẫng hụt về thị trường do những biến động ở Liên Xô và Đông Âu gây ra; phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” (11). Ngày nay, khi giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, thì ngoại giao nhân dân “tiếp tục được mở rộng” (12) càng phát huy được sức mạnh tối ưu của nó. Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác ngoại giao nhân dân, để mỗi người dân đều có vai trò là một “đại sứ” của đất nước là góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đổi mới và hội nhập trong lòng bạn bè thế giới./.

ThS. NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
Bảo tàng Hồ Chí Minh

_____________________________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.3, tr.514.
(2) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, t.8, tr.290.
(3) – Theo định nghĩa của Joseph Nye, giáo sư của Đại học Harvart- nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, một trong những người sáng lập nên chủ nghĩa tân tự do về quan hệ quốc tế thì “sức mạnh mềm ” hay còn gọi là “quyền lực mềm” là “khả năng đoạt lấy thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia”. Trong khi đó “sức mạnh cứng” của một nước là sức mạnh về kinh tế, quân sự của nước đó.
(4), (5) – Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, H, 2002, tr. 168, 156.
(6) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t.2, tr.301.
(7) – ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.12, tr.117.
(8) (9) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, t. 12, tr.524, 271.
(10), (11) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, H, 2001, tr. 122-123, 19.
(12) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.157.

tuyengiao.vn

Nhớ lời Bác Hồ dạy: “Nói thì phải làm”

Bác Hồ nói chuyện với đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II năm 1956, tại Nhà hát Lớn Hà Nội - Ảnh tư liệu do Bảo tàng Tuổi trẻ cung cấp

Trong cuộc sống hàng ngày, có nhiều việc nói thì dễ nhưng làm thì khó. Vì vậy nếu nói được, phải làm được. Sinh thời, Bác Hồ đã từng dạy “nói thì phải làm”. Ban Biên tập xin giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Xuyến đăng trên Bản tin Y tế Thừa Thiên Huế đề cập đến vấn đề này.

Tác phẩm “Đường kách mệnh”, di sản lý luận Bác Hồ để lại cho cách mạng Việt Nam. Đây là tập tài liệu gồm những bài viết của Người dùng để giảng dạy cho thanh niên yêu nước Việt Nam tham gia lớp huấn luyện chính trị từ những năm 1925 đến 1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc) và được xuất bản lần đầu tiên năm 1927.

Trên trang 2 cuốn “Đường kách mệnh” có mục: Tư cách một người cách mệnh. Trong 23 điều của tư cách người cách mạng thì điều thứ 10 ghi rõ” “Nói thì phải làm”.

“Nói đi đôi với làm” là một nội dung đạo đức truyền thống của dân tộc. Kế thừa truyền thống đạo đức của dân tộc, Bác Hồ đã nêu thành một nội dung của tư cách người cách mạng.

“Nói đi đôi với làm” đối lập với nói mà không làm của những ngưới hứa suông, hoặc “nói một đàng làm một nẻo” của những kẻ cơ hội.

Trong bài Dân vận, ngày 15-10-1949, Bác viết: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”.

“Nói đi đôi với làm” là một trong những nội dung của phong trào Hồ Chí Minh, là sự thể hiện của đạo đức cách mạng.

Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đi trước ở đây được hiểu là sự tiên phong, gương mẫu trong cả lời nói và việc làm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên bằng lới nói mà còn bằng chính tấm gương sống của bản thân mình. Người suốt đời tự rèn luyện, tu dưỡng và lúc nào cũng nghiêm cẩn khép mình vào đạo đức. Tấm gương đạo dức của Người là tuyệt vời trong sáng và toàn vẹn.

Ở Bác, lời nói đi đôi với việc làm.

Năm 1945, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nạn đói đang đe dọa đồng bào miền Bắc nước ta. Cùng với các biện pháp khuyến khích tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm, Bác Hồ kêu gọi nhân dân cả nước” “Mười ngày, nhịn ăn một bữa, một bữa một bơ” và dùng số gạo tiết kiệm đó cứu giúp những người thiếu đói. Chính Bác cũng thực hiện như vậy. Một hôm, Bác phải đi dự tiệc của tướng Tiêu Văn (Trung Quốc), thế là suất gạo bữa đó đã được bỏ vào quỹ cứu đói. Tuy vậy, Bác vẫn đề nghị “nhịn bù” vào bữa tới. Bác nói: “Mình khuyên dân mười ngày, nhịn ăn một bữa, mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén thì nghe sao được?”.

Bác kêu gọi đồng bào tham gia đóng góp quỹ “Mùa đông binh sĩ” và chính Bác cũng góp quỹ một chiếc áo ấm của mình.

Bác khuyên mọi người sống giản dị và khiêm tốn. Đôi dép cao su, chiếc áo ka-ki sờn vai cùng những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đơn sơ, ít ỏi đã trở thành huyền thoại về đức tính giản dị của Người.

Tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp, Bác kêu gọi các cơ quan tận dụng đất hoang quanh nơi làm việc và thời gian nhàn rỗi để tăng gia sản xuất. Cứ sáng sớm và cuối giờ chiều, Bác cuốc đất trồng rau, nuôi gà để góp phần cùng cơ quan tự cải thiện đời sống.

Bác kêu gọi nhân dân thực hiện “Tết trồng cây” để lấy gỗ làm nhà và cải thiện môi trường. Hàng năm, cho đến Tết cuối cùng trước khi vĩnh biệt chúng ta, Người đã tham gia đều đặn 10 Tết trồng cây.

Bác vận động nhân dân chống hạn, úng, thì chính Bác trực tiếp tham gia cùng nhân dân tát nước chống hạn.

Bác khuyên cán bộ Đảng và Nhà nước phải gần gũi với nhân dân. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, tuy Bác bộn bề công việc, nhưng Bác luôn tìm cách đến với nhân dân, hỏi dân những chuyện Bác muốn biết và lắng nghe những chuyện dân muốn nói.

Đã có lần Bác dạy: Hô hào người ta tiết kiệm thì trước hết mình phải tiết kiệm trước đã. Một chiếc phong bì, Bác sử dụng được hai lần. Việc đáng tiêu thì hàng nghìn, hàng vạn cũng tiêu, việc không đáng tiêu thì một xu, một cắc cũng không tiêu, bởi vì, đồng tiền ấy ở đâu ra, đều do nhân dân đóng góp mà có. Cho nên, tiết kiệm trong chi tiêu, trong sử dụng công quỹ chính là sự góp phần làm cho mọi người đều có cơm no, áo ấm và được học hành.

Bác luôn căn dặn cán bộ các cấp: Làm cán bộ để phục vụ cho dân cho nước, chứ không phải để làm quan. Phải gương mẫu chấp hành luật lệ của Nhà nước, quy định của tổ chức để làm gương cho mọi người. Không được thu vén cá nhân, tự tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho riêng mình.

Lời nói đi đôi với việc làm, tư tưởng gắn liền với hành động, đường lối, chủ trương, chính sách gắn liền với thực hiện là điều rất quan trọng đối với nhà chính trị để tạo lập được niềm tin trong nhân dân.

Một trong những phẩm chất lớn về nhân cách của Bác Hồ là Bác nói như thế nào thì Bác làm đúng như vậy.

Tấm gương nói đi đôi với làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cho lời khuyên bảo, dặn dò của Người có sức mạnh to lớn trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên. Đó cũng là một đặc điểm nổi bậc trong đạo đức Hồ Chí Minh.

“Nói đi đôi với làm”, nhưng là làm có hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân. Đó là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chính vì lẽ đó, Bác khuyên cán bộ, đảng viên ra sức học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật, nghề nghiệp và học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người, học suốt đời, “học để làm việc, làm người, làm cán bộ…”,

Có lần, Bác Hồ nói: “Trước mặt quần chúng không phải ta viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” (Hồ Chí Minh Toàn tập-NXBCTQG-HN-1995-T 5-Tr 552).

Hiện nay, vẫn có những người nói nhiều làm ít. Có người nói một đàng, làm một nẻo, làm ngược lại điều mình nói. Có người nói cho người khác làm, còn bản thân mình thì “đánh trống, bỏ dùi”, hứa hươu, hứa vượn, vô cảm trước những bức xúc của người khác.

Trong Lễ kỷ niệm 113 năm ngày sinh Bác Hồ và phát động đợt nghiên cứu, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhắc nhở: “Là những người tiên phong, những người giữ vai trò lãnh đạo, cho nên lời nói, đặc biệt là việc làm của cán bộ, đảng viên và gia đình phải thật sự là tấm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức kêu gọi nhân dân cần, kiệm mà mình lười biếng, sống xa xỉ, lãng phí thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”.

Ngày 29/09/2010
Nguyễn Võ Hinh (st)

impe-qn.org.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 14)

74. Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã bao đau đớn;
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.

 

Nhật ký trong tù,
Sđd, t.3, tr.350.

 

75. … Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư, thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt như sau ngày càng thêm.

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm…

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

 

Sửa đổi lối làm việc
tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 251-252.

 

76. … Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình.

Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình.

Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm.

 

Sửa đổi lối làm việc
tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 261, 267.

 

77. Đối với người

… Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người…

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

Đối với việc

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết tâm làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết tâm làm cho thành công.

Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh.
Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

 

Cần, kiệm, liêm, chính,
tháng 6-1949, sđd, t.5, tr. 644-645.

 

78. … Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

… Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân.

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó.

… Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người.

 

Đạo đức cách mạng,
tháng 12-1958, sđd, t. 9, tr. 291, 292, 293.

 

79. … Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên càng phải giữ vững lập trường giai cấp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, trau dồi đạo đức cách mạng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho.

Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng.

 

Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới,
ngày 3-2-1963, sđd, t. 11, tr. 23

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 13)

đ) Bệnh lười biếng – Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và Nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó.

Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng.

Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng. Không đến nơi đến chốn.

Kết quả nhỏ là: Nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần.

Kết quả nặng là: Phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi.

Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp…

e) Bệnh tị nạnh – Cái gì cũng muốn “bình đẳng”.

Thí dụ: Cấp trên vì công việc, phải cưỡi ngựa, đi xe. Cấp dưới cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe.

Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng, người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng.

Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất loạt, không kể thương nặng hay nhẹ.

Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau.

Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ cho đủ mọi người mới chịu làm.

Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng…

g) Bệnh xu nịnh, a dua – Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái…

Sửa đổi lối làm việc,
tháng 10-1947, sđd, t. 5, tr. 255-261.

72. … Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra?

Nguyên nhân bệnh ấy là:

Xa nhân dân: do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…

Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, dọa nạt dân!

Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là: hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.

Cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là:

Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;

Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ;

Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình;

Sẵn sàng học hỏi nhân dân;

Tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính, để nhân dân noi theo.

Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh
ngày 2-9-1951, sđd, t. 6, tr. 292-293.

73. … Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công – của Nhà nước và của tập thể.

Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta.

Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng.

… Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội. Ví dụ: Tên A tham ô 1.000 đồng, tên B lãng phí 1.000 đồng. Kết quả tai hại đến của công thì B cũng chẳng khác gì A.

Lãng phí có nhiều hình thức: hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, ví dụ làm một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại. Hoặc vì tính toán không cẩn thận, điều động hàng trăm hàng nghìn con người đến công trường, nhưng chưa có việc gì làm hay là người nhiều việc ít, phải để họ trở về. Hoặc vì xa xỉ, phô trương hình thức, nào liên hoan, nào “báo chí”, nào kỷ niệm, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước, v.v…

Nói tóm lại, lãng phí là vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân.

… Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung.

Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô…

Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên. Nó có hai ý nghĩa quan trọng:

– Nó làm cho mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân.

– Nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm…

Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước,
ngày 24-7-1962, sđd, t. 10, tr. 573-574, 575

dalat.gov.vn