Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Bác Hồ – cha của chúng con

Thật hiếm đôi vợ chồng nào trong cả nước có vinh dự, hạnh phúc nhiều lần được trực tiếp gặp Bác, bảo vệ Bác, được báo cáo với Bác, được nghe Bác trò chuyện, khuyên bảo, được Bác chụp ảnh cùng, tặng kỷ vật, được ăn cơm với Bác, được túc trực bên linh cữu Bác như cựu chiến binh, đại tá Nguyễn Sáng, nguyên Tham mưu phó, Cục trưởng Cục Kinh tế Quân khu Ba cùng vợ là bà Lê Thị Định, nguyên đại biểu Quốc hội khoá II, Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình. Qua những câu chuyện kể của ông Sáng, bà Định, chúng ta càng hiểu thêm và học tập được nhiều bài học về tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Ngày 10-1-1946, tôi được đồng chí Nguyễn Văn Nam – Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Văn Bắc – Chi đội trưởng Chi đội 3 Giải phóng quân thị xã Thái Bình giao nhiệm vụ huy động lớp đào tạo tiểu đội trưởng cùng với bộ phận cảnh vệ Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Thái Bình bảo vệ Bác và Chính phủ về thăm đê Đìa Hưng Nhân bị vỡ.

Không hiểu thế nào từ trưa, nhân dân thị xã đã chờ sẵn ở cổng. Khoảng 15h, Bác và các thành viên Chính phủ về tới Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh. Đồng chí Bùi Đăng Chi – Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh “khẩn cấp” yêu cầu tôi chuẩn bị một chiếc bàn, chiếc ghế để Bác nói chuyện. Tôi cùng mấy đồng chí học viên lớp tiểu đội trưởng vào khênh chiếc bàn to cùng chiếc ghế đặt giữa cổng để Bác nói chuyện. Kê bàn xong thì Bác tới, tôi được đứng liền ngay sau Bác. Tất cả cán bộ, nhân dân trật tự lắng nghe từng lời Bác căn dặn. Nhìn Bác, vị Chủ tịch nước bộn bề công việc của người đứng đầu chính quyền cách mạng non trẻ, vẫn vượt đường xa về chia sẻ những thiệt hại do thiên tay gây ra với nhân dân Thái Bình, tình cảm tôi cứ trào dâng, nước mắt cứ tự nhiên chảy ra, “quên” cả nhiệm vụ bảo vệ. Một thanh niên mới trở thành anh bộ đội được một năm, tôi đã được gặp và bảo vệ Bác kính yêu.

Chỉ cần một lần được đứng cạnh Bác đủ để nhớ suốt đời, nhưng đâu ngờ ba tháng sau, tôi được bảo vệ Bác. Lần này gần hơn, lâu hơn!

Đó là ngày 28-4-1946, như đã hứa, Bác về thăm đê Đìa khi đê đắp xong. Tôi lại được đồng chí Nguyễn Văn Bắc giao cho khẩu súng ngắn Pạc-khoọc để làm nhiệm vụ bảo vệ Bác cùng với các đồng chí cận vệ. Tôi mặc quần soóc, đội mũ ca lô. Khoảng 9h Bác lên gác hai của Hội trí – thể dục (Sân vận động Thái Bình ngày nay) nói chuyện với hai cố đạo người Tây. Tôi đứng ngay sau ghế của Bác để bảo vệ Bác. Sau đó đồng chí Nguyễn Văn Ngọ – Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình mời Bác ra ban công nói chuyện với nhân dân. Lần này Bác về, sáng sớm dòng người đón Bác từ 12 phủ, huyện như trảy hội, kín cả sân bãi rộng. Cờ, băng, biển, biểu ngữ đủ màu sắc rợp trời. Tiếng hoan hô: “Cụ Hồ muôn năm!” vang như sấm dậy. Trời nắng và nóng, tôi được đồng chí Ngô Lãng – Phó ban Tuyên truyền tỉnh giao “thêm” nhiệm vụ cầm ô che cho Bác. Che cho Bác được mấy phút, đang nói, Bác quay lại nhắc tôi: “Chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi đáp: “Vâng ạ!”. Nhưng tôi vẫn chỉ che cho Bác. Một hai phút sau, Bác lại quay lại nhắc, lần này kiên quyết hơn: “Bác đã bảo chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi liền đứng vào giữa (ở phía sau) để che ô cho Bác và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Hôm đó, Bác nhắc nhở cán bộ, nhân dân Thái Bình phải cố gắng hơn nữa để chiến thắng “giặc đói, giặc dốt” và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Với tấm lòng biết ơn vô hạn, tỏ quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Bác, nhân dân Thái Bình biếu Bác một buồng chuối, quả bí đao, quả bí ngô và mười củ khoai lang to. Bác quay sang bảo tôi: “Chú bê quả bí lên cho đồng bào nhìn thấy quả bí ngô to”. Tôi liền bê quả bí lên ngang đầu mà không làm che Bác và cụ Huỳnh. Quả bí phải nặng tới chục cân. Tiếng hô: “Cụ Hồ muôn năm!” lại vang lên tưởng như không dừng nếu Bác không giơ tay lên cao vẫy chào tạm biệt.

Năm 1952, lúc đó tôi là Tham mưu trưởng “Mặt trận 5” được giao phụ trách 7 đồng chí cùng lên chiến khu Việt Bắc dự một lớp chỉnh huấn. Sau 15 ngày đường giao liên, chúng tôi đã có mặt ở khu vực Quán Vuông, huyện Sơn Dương ATK. Hôm khai mạc, cả lớp được đón Bác. Sau hai tháng học tập, trước khi lớp bước vào đợt “tự kiểm điểm”, “tổng tiến công vào chủ nghĩa cá nhân”, Bác đến động viên, quán triệt. Bàn nói chuyện của Bác đặt ở đỉnh đồi, học viên các tỉnh đứng xung quanh, đoàn Thái Bình ở xa đến sau nên phải đứng ở chân đồi cạnh đường mòn. Bỗng tự nhiên Bác xuất hiện ngay trước mặt, sau này tôi đoán ra chắc Bác nhìn thấy đoàn chúng tôi đều mặc quần áo nâu (các đoàn khác mặc nhiều màu như xanh, tím, vàng… vải ka-ki chiến lợi phẩm) nên Bác dừng lại trước đoàn Thái Bình và hỏi: “Các chú ở đâu?”. Tôi báo cáo: “Thưa Bác chúng cháu ở Khu tả ngạn vùng hậu địch”. Bác còn hỏi ra lâu chưa, có khoẻ không? Rồi tự nhiên Bác bảo đồng chí Hiệu trưởng Hồng Cương là Bác không lên đỉnh đồi mà sẽ đứng tại đây nói chuyện, cho anh em quay lại. Thế là tôi cùng 6 anh em Thái Bình được gần Bác nhất. Sau này các đoàn khác đùa vui bảo: “Thái Bình trâu chậm lại uống nước trong”. Tôi không hiểu sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ đến thế!

Tôi không bao giờ nghĩ là mình sẽ được gặp Bác một lần nữa. Vậy mà hạnh phúc lại đến bất ngờ. Lúc đó tôi là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn pháo binh 374 đóng ở Thậm Thình cách Đền Hùng 3 cây số. 3 giờ sáng ngày 18-8-1962, tôi nhận được công văn của đồng chí Nguyễn Khai – Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương: “Đúng 7 giờ sáng nay (19-8) đồng chí Thủ trưởng Lữ đoàn lên đền Hùng làm việc và đón Bác vào thăm đơn vị”. Ngay lập tức, tôi triệu tập Đảng uỷ lữ đoàn, các ban chỉ huy tiểu đoàn họp khẩn cấp bàn kế hoạch đón Bác. Cả đơn vị vừa phấn khởi, vừa “cuống” cả lên! Đêm đó tôi viết đi viết lại báo cáo với Bác mà không biết báo cáo những nội dung gì. Đúng giờ, lên đền Thượng, tôi đã thấy phái đoàn ngồi quanh Bác trên chiếc chiếu hoa trước cửa đền. Đồng chí Nguyễn Khai giới thiệu và nhường tôi ngồi cạnh Bác. Bác nói luôn: “Có gói mứt chuối đặc sản Phú Thọ, Bác cho chú, chú ăn ngay đi, ngon lắm đấy!”. Rồi Bác hỏi vui: “Lữ đoàn là cái gì hở chú?”. Tôi bối rối đành trả lời Bác: “Thưa Bác, lữ đoàn bé hơn sư đoàn và lớn hơn trung đoàn ạ”. Bác cười rất vui và bảo: “Chú này láu cá, láu cá”. Bên tháp cổ tôi tranh thủ báo cáo kế hoạch đón Bác với đồng chí Nguyễn Khai. Tôi nhìn vào thấy Bác nằm nơi cửa Đền Hùng giản dị trong quần áo nâu nhạt màu, gối lên chiếc khăn bông, chiếc khăn mặt đặt trên trán. Tự nhiên nước mắt cứ trào ra.

Bác vào đơn vị, thăm doanh trại, nơi ăn ở, Bác hỏi tôi: “Bếp của đơn vị chú ngày nào cũng sạch bóng như thế này à?”. Tôi lúng túng, đồng chí Nguyễn Khai đỡ lời: “Thưa Bác chắc các chú có sự chuẩn bị chu đáo hơn để đón Bác”. Bác nhìn tôi đầy tình cảm vị tha. Trên đường đến “lễ đài” có một chiến sĩ báo cáo rất to: “Báo cáo thủ trưởng: C12 đang hành quân cấp tốc chưa về kịp”. Biết thế, Bác bảo tôi dừng lại chỗ cây si rất đẹp, cành lá sum xuê. Bác cầm tay tôi rồi nói: “Bác cháu ta ngồi xuống đây nghỉ một lát, chờ đơn vị đang về, nhân thể chú xem còn vấn đề gì lát nữa Bác nói chuyện với đơn vị”. Tất cả những điều tôi báo cáo, Bác đều nhắc nhở đồng chí Nguyễn Khai ghi lại. Nói chuyện với đơn vị xong, Bác đã ghi vào sổ vàng truyền thống những dòng chữ sáng rõ, nghĩa tình: “Luôn luôn cố gắng học tập, cố gắng lao động sản xuất, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cách mạng, bảo vệ Tổ quốc. Chúc các cháu vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ” – Bác Hồ 19-8-1962.

Cây bút Pác-ke mà đại tá Sáng đưa Bác ghi những dòng lưu niệm trên, đại tá đã giữ suốt 2 cuộc kháng chiến và suốt 30 năm. Đầu năm 1999, Bộ Tư lệnh pháo binh đã cử người về xin nhận chiếc bút đưa vào Bảo tàng lịch sử Binh chủng Pháo binh.

“Bác cho cô Định cái gậy này…”
Đồng chí Lê Thị Định kể

Cuộc đời phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân của tôi đã hai lần vinh dự trực tiếp được gặp Bác, lần nào cũng ghi tạc trong lòng.

Một ngày cuối tháng 2-1967, đang ở khu sơ tán xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, Thái Bình, tôi được điện về ngay Tân Hoà, Vũ Thư họp Thường vụ Tỉnh uỷ bất thường. Đang có chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, không hiểu họp gì, nhưng sao tôi cảm thấy rất vui. Sau khi thông báo việc chuẩn bị đón Bác về thăm Thái Bình, đồng chí Ngô Duy Đông – Bí thư Tỉnh uỷ và tôi lúc đó là Phó chủ tịch tỉnh được giao nhiệm vụ đón Bác tại bến phà Triều Dương. Xe của chúng tôi sang được bến Hưng Yên thì đồng chí Vũ Kỳ cho biết xe của Bác đã xuống phà và đồng chí dẫn chúng tôi xuống chào Bác. Bác bắt tay chúng tôi thân mật. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ mời Bác về cơ quan Tỉnh uỷ sơ tán tại xã Tân Hoà, Vũ Thư (nay trở thành khu lưu niệm về Bác). Xe đến bến đò Cống Vực, chúng tôi mời Bác xuống ca-nô. Nhìn thấy Bác, đồng chí lái ca-nô ngồi thụp xuống. Bác biết đồng chí cảm động liền hỏi: “Chú lái ca-nô này à?”. Chúng tôi đáp lời vì đồng chí ấy không dám đứng trước Bác. Bác nói ngay: “Bác cho phép, chú lái ca-nô đi”. Tới gần bờ, ca-nô không vào được, chúng tôi chuẩn bị ca-nô lúc nước lớn, khi Bác qua là ban đêm, nước xuống. Mọi người rất lo, nhất là đang thời kỳ “chiến tranh phá hoại của Mỹ”. Đồng chí Ngô Duy Đông đành mời Bác xuống thuyền. Thuyền đến bờ, tôi cùng đồng chí Tố Hữu đi hai bên đưa Bác lên đê. Bác hỏi tôi: “Cô Định cho Bác biết còn lối nào đi lý thú hơn”. Đồng chí Tố Hữu nhắc tôi: “Bác phê bình đấy!”. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa hết suy nghĩ về việc chuẩn bị chưa kỹ lưỡng.

Về đến xã Tân Hoà, trong bữa cơm, Bác ăn cơm nắm mang theo từ Hà Nội. Tôi cứ nài nỉ Bác ăn bát cơm nóng và xin Bác miếng cơm nắm. Bác nói: “Bác ăn cơm nắm quen rồi”. Biết tình cảm của chúng tôi, Bác cho một miếng cơm nắm. Tôi bẻ đôi đưa cho đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ một nửa. Bác thấy tôi thích món dưa chua, Bác hỏi: “Cô Định ăn dưa chua có ngon không?”. Tôi đáp: “Thưa Bác ngon ạ!”. Bác cười trìu mến và nói: “Dưa Bác đưa từ Hà Nội về đấy!”. Bữa cơm giản dị nhưng ấm áp tình cha con thân thiết vô cùng. Sau bữa ăn, Bác kể chuyện đi Pháp, Anh, Ấn Độ. Bác hỏi tình hình tỉnh, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo với Bác. Nghe xong Bác lần lượt hỏi chuyện từng đồng chí cán bộ tỉnh. Bác hỏi tôi: “Cô Định làm việc gì?”. “Dạ thưa Bác, cháu phụ trách tài chính, thương nghiệp ạ!”. “Cô có sợ thiếu hàng không?”. “Thưa Bác cháu thấy khó khăn lắm!”. Bác dặn dò ngay: “Hàng ít nhưng cốt sao phân phối cho công bằng hợp lý”. Bác còn hỏi toàn tỉnh có bao nhiêu phụ nữ tham gia chính quyền. Nghe tôi báo cáo xong, Bác gợi ý: “Cô có báo cáo gì với Bác không?”. Tôi suy nghĩ và mạnh dạn thưa: “Chị em phụ nữ còn vất vả lắm mà vẫn bị chồng đánh ạ!”. Tôi vừa nói xong, nét mặt Bác buồn hẳn, nghiêm lại, rồi Bác nhắc nhở: “Bác giao cho các đồng chí là phải giáo dục toàn Đảng, toàn dân tuân theo pháp luật, đánh vợ là phạm pháp, là dã man. Trên thế giới người ta tôn trọng phụ nữ lắm. Đồng chí Lê-nin cũng nói: “Phụ nữ là nửa dân số của xã hội, nếu phụ nữ không được giải phóng thì nửa dân số chưa được giải phóng…”. Đêm đó Bác làm việc tới tận 1 giờ sáng, các đồng chí lãnh đạo tỉnh phải mời Bác đi ngủ. Sáng hôm sau, Bác dậy rất sớm, tay xách đèn bão bước ra nhà ngoài. Bác nói: “Năm mới Bác chúc Tết các đồng chí”. Chúng tôi rất cảm động, lẽ ra chúng tôi đến chúc Tết Bác trước mới phải. Đúng là sự bao dung của một lãnh tụ, của một người cha.

Sáng hôm sau, trên đường đến đình Phương Cáp nói chuyện với nhân dân, qua chiếc cầu tre, Bác nhắc nhở chúng tôi phải lưu ý cầu cống, đường sá cho dân đi lại an toàn. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ giới thiệu Bác với nhân dân, Bác nói ngay: “Bác mà chú còn phải giới thiệu cơ à?”. Hôm đó Bác nói chuyện về sản xuất nông nghiệp, về trồng cây, nuôi cá. Bác hỏi đồng chí Chủ tịch tỉnh: “Thái Bình đã trồng được bao nhiêu cây?” Đồng chí Chủ tịch báo cáo mỗi người trồng đựơc 12 cây, Bác lại hỏi: “Cây thì chú tính thế nào, vì có nơi tính cả cây muồng muồng cho nhiều!”. Cả hội trường cười vang. Bác lại hỏi Thái Bình nuôi cá thế nào. Đồng chí Bí thư trả lời: “Chúng cháu đã làm…” Bác nhắc nhở ngay: “Chú nói cụ thể chứ nói đã và đang thì dễ thôi”. Rồi Bác động viên khen ngợi các cụ phụ lão, khen xã Hợp Hoà, HTX Tân Phong xã Việt Hùng sản xuất giỏi. Cuối cùng Bác hỏi vui: “Nghe nói Thái Bình vẫn còn tệ đánh vợ. Ngồi ở đây có chú nào đánh vợ thì dũng cảm giơ tay lên”. Cả hội trường im lặng. Thấy thế đồng chí Đào Ngọc Chế – Phó chủ tịch tỉnh liền đáp: “Thưa Bác, không dám đánh mà chỉ kỳ kèo thôi ạ!”. Bác nghiêm lại rồi nói thêm: “Kỳ kèo rồi đi đến chỗ bạt tai chứ gì?”. Cả hội trường vỗ tay vang dội.

Lần thứ hai tôi được gặp Bác là vào đầu năm 1969, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình lại được Ban Bí thư cho lên báo cáo với Bác kế hoạch chuẩn bị đại hội đảng bộ. Nghe báo cáo xong, Bác hỏi về tình hình mọi mặt, rồi đột ngột Bác hỏi tôi: “Riêng tệ đánh vợ Bác hỏi cô Định, Thái Bình đã giảm chưa”. Tôi không ngờ bận trăm công ngàn việc của đất nước đang trong thời chiến mà Bác vẫn nhớ câu chuyện Bác về Thái Bình mấy năm trước. Tôi liền thưa với Bác là Thái Bình có sự chuyển biến, tiến bộ hơn. Nghe xong, Bác liền chỉ vào cây gậy và nói: “Bác cho cô Định cái gậy này để trừng trị những ai đánh vợ”. Và thật không ngờ, đây là lần cuối cùng tôi được ngồi bên Bác. Mấy tháng sau Người đã đi xa…
Sau này, chiếc gậy mà Bác cho đã được chuyển về và đặt vào bảo tàng tỉnh Thái Bình.

Những giây phút được túc trực bên linh cữu Người
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Theo Chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, Quân khu Đông Bắc được cử các cán bộ cao cấp về Hà Nội chịu tang Bác. Chúng tôi được Ban tang lễ phân công mỗi người 2 ca trực, mỗi ca 15 phút bên linh cữu Bác. Ban tang lễ quy định khi “làm nhiệm vụ” không được khóc thành tiếng. Bên ngoài Hội trường Ba Đình, các đoàn đại biểu xếp hàng kín cả sân trước, còn nhân dân cứ nối hàng suốt đêm ngày qua lễ đài viếng Bác. Mưa gió tầm tã mà không một ai mặc áo mưa. Vào ca trực 22h đêm, một bên là cụ Phan Văn Bạch – Chánh toà án tối cao, một bên là tôi. Cụ Bạch xúc động quá, chỉ đứng được mấy phút. Còn tôi cứ phải cắn chặt răng lại nhất là khi thấy các cháu thiếu nhi khóc lóc thảm thiết, nước mắt tôi tuôn trào suốt ca trực, ướt cả vạt áo trước ngực. Đến phiên trực lần thứ hai, 2h sáng tôi và đồng chí Tư lệnh hải quân Nguyễn Bá Phát trực. Đồng chí Phát trực được 5 phút, khẩu súng trường vẫn trong tay và người cứ khuỵ dần xuống. Còn tôi lúc đó cảm thấy “như là không trọng lượng”. Tuy vẫn tỉnh nhưng mắt tôi không còn trông rõ gì nữa. Nước mắt vẫn tuôn chảy ướt đẫm áo ngực. Xong 15 phút trực, tôi không chủ động xách khẩu súng trường được nữa. Một đồng chí trong ban tổ chức tang lễ đã đến xách giúp tôi. Đó là lần thứ 5 tôi may mắn được bên Người và cũng là lần đưa tiễn Bác – Người cha của toàn thể dân tộc đi xa…

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng online

hcmpc.com.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 2)

Cần

Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai…

Tục ngữ ta có câu: nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khỏe.

Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần.

Người siêng năng thì mau tiến bộ.
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng…

Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là Cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ Cần.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác…

… Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội lỗi với đồng bào, với Tổ quốc…

Kiệm

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau như hai chân của con người.

Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy hết ra chừng ấy, không lại hoàn không.

Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

… Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong 1 giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ…
Vì vậy xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Liêm

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc; hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam…

Chính

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Ác.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính, là người Thiện.

Làm việc Tà, là người Ác.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), Chính là Thiện.
Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác…

Cần kiệm liêm chính,
tháng 6-1949, sđd, t.5,tr.632-643
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 1)

LTS: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Sinh thời, mỗi bài nói, bài viết, một lời căn dặn, một buổi gặp gỡ, công tác của Người đều chứa đựng những ý nghĩa tư tưởng, hành vi và quan hệ đạo đức cách mạng sáng ngời. Con người, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là tấm gương đạo đức cho toàn Đảng, toàn dân ta học tập suốt đời.

Để góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng tôi xin lần lượt giới thiệu đến bạn đọc những nội dung trong quyển sách Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sách do Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản.

I. QUAN ĐIỂM CHUNG CỦA CHỦ TỊCH HÔ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

1. a) Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà… không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã… không e, không sợ gì thì việc gì phải họ đều làm được.
b) Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

c) Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

d) Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

e) Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.

Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?

Sửa đổi lối làm việc,
Tháng 10-1947, Hồ Chí Minh toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.5, tr. 251-253.
(Nguồn: Báo Điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Sáng mãi đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-2007), Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Người kiến trúc nên Nhà nước Cách mạng Việt Nam. Nói đến Bác, là chúng ta nhớ ngay đến tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Người. Một nhà lãnh đạo đã nói: Để hiểu sự nghiệp Hồ Chí Minh, chúng ta hãy đến với con người Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch là một thiên tài kiệt xuất. Cái cốt tử trong thiên tài của Bác là đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh vui Xuân Mậu Thân cùng với các cháu nhi đồng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi nhất của Bác Hồ đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam, hình thành con người Việt Nam mới với những giá trị tư tưởng và tinh thần cao quý. Xã hội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là xã hội đề cao các giá trị tinh thần, những quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Trong xã hội ấy, tiêu biểu là những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, những con người lao động nhiệt tình xây dựng đất nước, những con người quên mình chăm lo cho lợi ích chung của nhân dân.

Những lần gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ và nhân dân, Bác đã nói: “Cũng như sông, có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Ngày 19-5-1946, một đoàn cán bộ của Ban vận động Đời sống mới vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, một nhà văn lão thành thưa với Bác:

– Thưa cụ, hôm nay đến chúc thọ cụ Chủ tịch, xin cụ cho Ban đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu, để Ban chúng tôi vận động nhân dân thực hiện.
Bác Hồ vui vẻ, Người nói:

– Khẩu hiệu ư ? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành nói:

– Thưa cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay, sao lại cổ ? Các cụ ta xưa nay ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn vẫn ngon. Cái hay của tổ tiên thì chúng ta phải học.

Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư là những phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của con người. Vì vậy, Bác Hồ đã đề cập đến phẩm chất này nhiều nhất, từ tác phẩm Đường Kách Mệnh đến Bản Di chúc cuối cùng của Người.

Trong bài báo “Cần kiệm liêm chính” in trên 4 số Báo Cứu Quốc tháng 5 và tháng 6 năm 1949, Bác Hồ viết: “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới Liêm được”. Bác dẫn lời: “Cụ Khổng Tử nói: Người mà không liêm, không bằng súc vật. Cụ Mạnh Tử nói: Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy ! Vì thế cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

*

Một điểm nổi bật trong đạo đức cách mạng của Bác Hồ, đấy là lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân. Có thể nói, mọi suy nghĩ, mọi hành động của Bác đều vì lợi ích của nhân dân. Người luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân và suốt đời gắn bó với nhân dân. Theo số liệu của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh thì trong 10 năm (1955 – 1965) Bác Hồ đã đi xuống cơ sở hơn 700 lần.

Một nhà văn đã viết: “Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có một vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ, bên cạnh cái ao nuôi cá làm “cung điện” của mình. Lại nhớ khi ngôi nhà sàn làm xong, Bác tổ chức liên hoan, mời anh em công nhân ăn kẹo, uống nước. Bác nói:

– Cái nhà Toàn quyền kia hàng trăm người phải làm trong 6 năm mới xong, còn nhà của Bác các chú chỉ làm trong 1 tháng là xong. Thế là nhanh và tốt. Nhưng còn một khuyết điểm, các chú có biết là khuyết điểm gì không?
Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh thưa với Bác:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì ngôi nhà có to hơn ạ.

Bác bảo:

– Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn nghèo, chưa đủ nhà ở. Bác ở thế này là tốt lắm rồi. Các chú không phải lo cho Bác. Rồi Bác nói nhỏ với kiến trúc sư:

– Chủ tịch nước ở cái nhà bé thế này, để Chủ tịch tỉnh ở cái nhà to hơn một chút là vừa!

Mùa rét, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác mặc đã nhiều năm, bông đã xẹp không ấm nữa, cái vỏ bọc ngoài đã phai màu, lại rách ở vai. Bác bảo vá lại cho Bác. Nhân dịp này, anh em không dám nói thay áo khác, chỉ xin Bác cho thay cái vỏ bọc ngoài cho mới. Bác bảo:

– Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá thế này là cái phúc của dân đấy. Sao chú lại dám bỏ cái phúc ấy đi?

Bác còn nói thêm: “Bây giờ nhiều cụ già ở nông thôn có được cái áo bông này là quý lắm đấy chú ạ”. Hiện nay cái áo bông vá vai ấy vẫn còn trong bảo tàng Hồ Chí Minh.

Bác cũng thường nói với anh em cấp dưỡng:

– Các chú làm thức ăn cho Bác ít thôi. Bác ăn không hết, để người khác ăn thì không nỡ, mà đổ đi thì phí.

Hồi Bác còn ở ngôi nhà cũ của người thợ điện, thấy nóng bức, anh em ngoại giao ở nước ngoài mua gửi về biếu Bác một chiếc điều hòa nhiệt độ. Bác gọi đồng chí Vũ Kỳ lên bảo:

– Chiếc máy này tốt đấy chú ạ, các chú nên đem đến cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước, Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là tốt rồi.

Điều làm chúng ta cảm động là khi nói đến nhà ở, đến áo mặc, Bác đều nghĩ đến nhân dân. Một lần, một nhà văn nữ nước ngoài vào thăm khu nhà Bác ở. Lúc ấy Bác đã mất, thấy ngôi nhà giản dị quá, nhà văn xin phép được mở cái tủ áo của Bác. Và khi nhìn thấy trong chiếc tủ gỗ đơn sơ chỉ treo vẻn vẹn có vài ba bộ quần áo ka ki đã bạc màu, bên dưới là một đôi dép cao su đen… Thế là bà ta lấy khăn lau nước mắt.

Trong bài thơ “Người chẳng có gì riêng” nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Giấu mình đi, Người không làm phiền ai tất cả
Dép một đôi, áo quần vài bộ
Chỉ có trái tim bao la là tất cả gia tài
Người không một mảnh vườn riêng
Một đứa con riêng – Người chẳng có
Chỉ có vầng trăng chia đều cho cháu nhỏ
Và hát chung cùng nhân dân bài hát
Kết Đoàn!”

***

Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh còn được thể hiện bằng tấm lòng nhân ái, yêu thương con người. Nhận được quà biếu của đồng bào, dù là chiếc áo len hay chai mật ong… Bác đều gửi biếu lại các cán bộ ở gần Bác, hoặc gửi biếu các chú thương binh. Nhận được điện thoại gọi đến, biết người quen Bác đều hỏi thăm sức khỏe rồi mới bàn công việc. Bác không bao giờ dùng chữ cho, chỉ nói tôi biếu các cụ hoặc tặng các cháu nhỏ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc tết đồng bào, bộ đội. Tết Đinh Mùi. Tháng 2-1967.

Trong Di chúc của Người, ngoài việc dặn dò mọi người phải đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết nhất trí, đoàn kết và thống nhất, Bác căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Song điều làm ta phải suy nghĩ và xúc động là Bác đã dặn dò cả việc đối với những nạn nhân của xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì Nhà nước ta vừa phải giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên người lương thiện. Có thể nói trong muôn vàn tình thương yêu của Người, Bác Hồ không để sót một ai, không quên một ai, có quên chăng là chỉ quên mình!

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực hiện từ ngày Kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (3-2-2007) cho tới hết nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng. Cuộc vận động lớn này, sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các tệ nạn xã hội… Đây chính là những hành động thiết thực nhất để kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta.

(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Trọng dân và phát huy quyền làm chủ của dân

Bác Hồ với các anh hùng, chiến sĩ thi đua quân giải phóng miền Nam

Trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội hiện nay, thật hiếm có con người nào được tôn vinh như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác được toàn dân yêu mến bởi Người luôn luôn tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, hòa với dân thành một khối thống nhất, chăm lo lợi ích cho dân, thương yêu và giáo dục đạo đức mới cho nhân dân.

Khi có chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng mối quan hệ giữa Ðảng với nhân dân. Năm 1947, Bác đã viết tác phẩm “Dân vận”, nêu bật vai trò quyết định của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và Người đã chỉ ra rằng, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Theo đó, công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác. Từ lòng yêu nước, thương dân mà Bác bất chấp mọi nguy nan, gian khổ tìm đường cứu nước, cứu dân. Tình yêu thương quý trọng con người của Bác dành cho giai cấp cần lao, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc bị áp bức, bóc lột dưới chế độ thực dân, phong kiến.

Yêu nước, thương dân là phẩm chất cao đẹp nhất của người cách mạng và Người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân, đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Yêu nước thương dân, thương nhân loại bị áp bức, bóc lột thì đạo đức lớn nhất là làm cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.

Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và khéo dùng khái niệm “trung với nước, hiếu với dân” thể hiện một tư tưởng đạo đức cơ bản: yêu nước thương dân của người cách mạng.

Nội dung và yêu cầu của “trung với nước, hiếu với dân” trong điều kiện Ðảng cầm quyền có nhiều vấn đề mới do Ðảng và nhân dân có chính quyền làm công cụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, nâng cao đời sống nhân dân. Song, như Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo, ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập năm 1945, Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên dễ mắc vào quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, nhân dân; thoái hóa, biến chất, độc đoán, chuyên quyền, tham ô, lãng phí… vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Và để chống các bệnh ấy, Bác đã chỉ rõ rằng: Ðảng cầm quyền thì cán bộ, đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Ðảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai.

Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm.

Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan; phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Ðó là đạo đức của người Cộng sản. (Xem Hồ Chí Minh: Về Ðảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 1993, tr.144)
Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân hiện nay không chỉ là bảo đảm quyền làm chủ về chính trị mà cần tạo điều kiện để mọi người dân làm chủ về kinh tế, không chỉ đáp ứng nhu cầu giải phóng tư tưởng mà còn là nhu cầu giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng tiềm năng của mọi người.

Sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước mở ra những cơ hội mới, cơ hội lớn cho mọi người dân vươn lên làm chủ về kinh tế, làm giàu, sớm thoát khỏi tình trạng nước nghèo, trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại đến 2020 và thực hiện những quyền, khát vọng của dân tộc, “sánh vai với các cường quốc năm châu” trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập với thế giới.

Sự nghiệp đó đòi hỏi người cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị phải sâu sát với cuộc sống của nhân dân, thật sự phát huy quyền làm chủ của dân, tôn trọng ý kiến và quyền lợi chính đáng của nhân dân. Nói thì phải làm và làm nhiều việc ích nước, lợi dân. Ðặc biệt là đối với bộ máy Nhà nước, các cơ quan dân cử cần thấm nhuần lời dạy của Bác mà đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt bỏ những thủ tục phiền hà đối với nhân dân, thật sự phát huy vai trò người đại biểu của dân trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Vì dân, tận tụy phục vụ nhân dân là mục đích cao đẹp của đạo đức cách mạng mà Bác Hồ nhiều lần căn dặn cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu nhất về đạo đức cách mạng, suốt đời tận tụy lo cho dân, “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.

Trong Di chúc, Người viết: “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cốt lõi trong đạo đức mà người cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần và thực hành, rèn luyện suốt đời, không ngừng, không nghỉ là cần, kiệm, liêm, chính. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví bốn đức đó của con người như bốn phương của đất, bốn mùa của trời để khẳng định, thiếu một đức thì không thành người để nói lên ý nghĩa và quan hệ của cần, kiệm, liêm, chính trong đạo đức cách mạng.

Và, cùng với cần, kiệm, liêm, chính, đạo đức của người cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện Ðảng cầm quyền thì chí công vô tư là yêu cầu, phẩm chất hàng đầu. Người đã từng chỉ rõ, giặc nội xâm, kẻ thù bên trong của Ðảng, Nhà nước, ở trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chính là quan liêu, tham ô, lãng phí. Nguyên nhân của tệ quan liêu, nạn tham ô, lãng phí, cái làm cho cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân.

Do đó, người cán bộ, đảng viên thật sự chí công vô tư thì phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải rèn luyện để trở thành tấm gương về đạo đức cách mạng. Song, Bác Hồ cũng nói rõ, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân” mà phải chăm lo những lợi ích cá nhân chính đáng, chăm lo cho cuộc sống của cán bộ, đảng viên và gia đình họ.

Ðiều có ý nghĩa sâu sắc đối với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là thực hiện những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng. Ðó là xây đi đôi với chống; tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời; nói đi đôi với làm, nêu gương sáng về đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta noi theo, cho nên Người tự nêu gương về đạo đức cách mạng và lấy gương đảng viên, cán bộ dám xả thân vì Ðảng, vì dân, vì cách mạng mà hy sinh, chịu đựng gian khổ, dũng cảm chiến đấu, hăng say lao động, công tác, “người tốt, việc tốt” để giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu gương về đạo đức là phẩm chất rất cơ bản của người đảng viên, cán bộ. Ðó cũng là yêu cầu hàng đầu đối với cán bộ, đảng viên hiện nay. Nêu gương đạo đức của đảng viên phải được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và lời dạy của Người thì người đảng viên đối với mình tuyệt nhiên không tự cao, tự đại mà luôn học hỏi cầu tiến bộ, thật thà tự phê bình để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, cái hay, cái tốt của bản thân.

Ðối với người thì chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thân ái, không a dua, nịnh trên, nạt dưới, dối trá, lọc lừa. Ðối với việc công, việc nước, việc của dân thì có quyết tâm làm cho tốt, không sợ khó khăn, không nề gian khổ, ham làm việc thiện, tránh việc ác, mỗi ngày đều cố gắng làm việc lợi nước, ích dân “việc gì hại cho dân thì phải tránh, việc có ích cho dân thì gắng sức làm”.

Nêu gương đạo đức của người đảng viên hiện nay còn là gương mẫu từ lời nói đến việc làm. Ðáng kể nhất là gương mẫu chấp hành Nghị quyết của Ðảng và pháp luật của Nhà nước, chăm lo xây dựng gia đình văn hóa. Vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng của việc nêu gương đạo đức của người đảng viên là tính tự giác, tính chủ động. Muốn làm tốt điều đó người đảng viên cần chú ý tự tu dưỡng, tự mình học tập nâng cao kiến thức, năng lực làm việc, tự mình rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức của người đảng viên.

Nêu gương đạo đức của người đảng viên hiện nay còn là lấy chất lượng cuộc sống của nhân dân, tinh thần và thái độ của dân đối với Ðảng, đối với nhà nước và cán bộ, đảng viên, công chức để đánh giá vai trò, hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Nêu gương tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức ngăn ngừa suy thoái về đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, lãng phí.

Người đảng viên không chỉ nói không với tiêu cực, tham nhũng mà từ trong suy nghĩ, việc làm phải kiên quyết, chống lại những tệ nạn này từ ngay bản thân mình và đồng chí, những người trong cơ quan, đơn vị mình có biểu hiện, dấu hiệu vi phạm.

Theo đó, tự phê bình và phê bình của người cán bộ, đảng viên, của cấp ủy và chính quyền các cấp cần được tiến hành thường xuyên như “rửa mặt hằng ngày” với tinh thần xây dựng, có tình thương yêu đồng chí, đoàn kết thật sự, nghiêm khắc sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, nâng cao được năng lực và sức chiến đấu, làm cho Ðảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Báo Nhân Dân

dalat.gov.vn

Nhân cách Hồ Chí Minh và cái nhìn thời đại về văn hóa trong Đảng

Văn hóa Đảng:

Văn hóa Đảng là một phạm trù của văn hóa chính trị, hơn nữa đó là một bộ phận quan trọng chi phối khuynh hướng, tính chất của văn hóa chính trị. Theo nghĩa rộng, “Văn hoá Đảng là toàn bộ tình cảm, ý chí và hành động chính trị tích cực nhằm hình thành một Đảng có đủ sức lãnh đạo, xây dựng một xã hội mới phù hợp với mục đích nhân văn cao cả của văn hoá và khát vọng dân chủ cao đẹp của thời đại”(1). Khi đề cập đến văn hoá Đảng thì phải nói đến cả những phạm trù chính trị, tư tưởng, tổ chức và cả phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng văn hoá Đảng là đổi mới, chỉnh đốn Đảng theo nguyên tắc khoa học. Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(2), do đó cũng cần phải khẳng định Đảng ta là một Đảng có văn hóa cao ngay từ khi mới ra đời. Trải qua các thời kỳ cách mạng, các giá trị văn hóa của Đảng ta như một ánh hào quang sáng ngời, dẫn dắt xã hội Việt Nam đi đến con đường tiến bộ, văn minh của chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, tính văn hóa của Đảng không chỉ biểu hiện ở sự đúng đắn, sáng suốt của những đường lối, chủ trương, mà còn biểu hiện ở sự gương mẫu, tiên phong, lối sống, phẩm chất trong sáng, đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên cụ thể. Thực tế, trong chất nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì văn hóa với tư cách là một khái niệm tổng thể nhằm chỉ những giá trị tốt đẹp toát ra từ toàn bộ cuộc đời và nhân cách vĩ đại của Người, đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều người, đồng thời đó là những giá trị quý báu để nhân loại noi theo. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là bộ phận quan trọng hình thành nên nền tảng tinh thần của xã hội. Chính tài sản tinh thần vô giá đó là bộ phận cấu thành của văn hóa Đảng. Vì vậy, văn hóa Đảng có những giá trị bền vững và cao qúy, đó là “sự cộng sinh của bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc và văn hóa Hồ Chí Minh, cùng với những giá trị mới được xây đắp và phát triển trong thời kỳ hiện đại của cách mạng Việt Nam”(3). Có thể nói rằng, nhân cách và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đóng vai trò to lớn vào việc củng cố, bồi đắp nền tảng tinh thần xã hội và là động lực của cách mạng… Trong mối quan hệ biện chứng, văn hóa Đảng là một bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa Đảng trước hết xuất phát từ nền văn hóa dân tộc, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với tiếp thu kịp thời tinh hoa văn hóa nhân loại và xu hướng phát triển mới, tiến bộ của thời đại.

* Để nâng cao văn hóa trong Đảng:

Về lý luận, đạo đức là cốt lõi của văn hóa, mỗi thành viên trong xã hội phải rèn luyện đạo đức và lối sống. Đối với cán bộ, đảng viên phải biết phát triển và hoàn thiện văn hóa của Đảng để làm nòng cốt cho việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa trong xã hội. Muốn hệ thống chuẩn mực đạo đức mới trở thành ý thức, thành tình cảm, thói quen của mỗi thành viên xã hội, phải thông qua hoạt động giáo dục đạo đức. Chỉ có thông qua hoạt động giáo dục mới có thể xác lập được quan điểm nhận thức đạo đức, hình thành năng lực ứng xử đạo đức và tính cách đạo đức theo hệ thống chuẩn mực đạo đức mới. Và cũng chỉ có thông qua hoạt động giáo dục đạo đức thường xuyên, sâu rộng mới có thể xác lập được văn hóa đạo đức xã hội chủ nghĩa cho mỗi thành viên cũng như trong toàn xã hội. Đối với người đảng viên cần đề cao giá trị đạo đức, đề cao sự tự rèn luyện, tu dưỡng trong việc chuyển văn hóa đạo đức xã hội, các giá trị xã hội tiến bộ thành văn hóa đạo đức cá nhân… Nói cách khác, có đạo đức không chỉ phụ thuộc vào tri thức đạo đức mà còn phụ thuộc vào sự lựa chọn giá trị ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Có một thực tế đáng lo ngại hiện nay là “nhiệm vụ xây dựng văn hóa Đảng, trong bộ máy nhà nước chưa được triển khai tích cực, có nơi còn bị xem nhẹ; không ít cán bộ, đảng viên chưa được nêu tấm gương văn hóa cho quần chúng”(5). Trước sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian gần đây là biểu hiện của sự suy đồi về chính trị, là một dạng thái phản giá trị, phản văn hóa. Để tránh rơi vào thái cực đó, người cán bộ, đảng viên phải có văn hoá chính trị, tức là vững vàng về chính trị tư tưởng, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân, phải thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo. Mặt khác, phải thường xuyên, tự giác học tập rèn luyện chủ trương, đường lối của Đảng; phải nâng cao sự lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đặc biệt cơ sở Đảng và đảng viên như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn “Mỗi đảng viên và cán bộ phải phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”(6). Cốt lõi các nhân tố cấu kết thành văn hóa Đảng ở người đảng viên không chỉ là sự thấm nhuần lý tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng, lối sống giản dị; mà còn phải có lề lối làm việc, phương pháp công tác khoa học, sâu sát nhân dân, thái độ giao tiếp văn minh, lịch sự. Do đó, vấn đề văn hóa Đảng đã trở thành cốt cách của người cộng sản Hồ Chí Minh.

* Tài liệu tham khảo:

(1) Tạp chí Cộng sản số 18, tháng 9/2004, trang 17.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1995, tập 12, trang 557 – 558.
(3) Tạp chí Cộng sản số 24, 12/2006, trang 47.
(4) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, 2001, trang 83.
(5) Các Nghị quyết của TW Đảng, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004, trang 241.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1995, tập 5, trang 252 – 253.
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1993, trang 130.

Báo Lâm Đồng

dalat.gov.vn

ĐẶT CON NGƯỜI Ở VỊ TRÍ TRUNG TÂM: Nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh

Có thể nói một trong nhưng nét độc đáo nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộ của nó. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Và trong tổng thể xã hội ấy, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng về văn hóa, vì nói đến con người chính là nói đến văn hóa.

Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, mà có điều kiện đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.

Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường và phương pháp xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.

Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giật. Mà là, làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần với chính trị với hàm nghĩa những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa. Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.

* Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi đại đoàn kết dân tộc. Đây là điểm độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của C.Mác, Ph. Angghen, V.I Lênin không tìm thấy điều này, hoặc nếu có đôi điều nói thoáng qua, chứ không tập trung, nổi bật như của Hồ Chí Minh.

Qua quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về lượng, về số tầng lớp, số người tham gia. Nghĩa là, với Hồ Chí Minh, không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Không có chuyện ai đó, tầng lớp nào đó chỉ là “bạn đường một đoạn” trong cả chặng đường dài, vì họ không còn đủ điều kiện theo đến cùng nên phải thải loại ra. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng. Trong học thuyết và tư tưởng của C.Mác, Ph. Angghen, V.I Lênin có khái niệm “bạn đường một đoạn”, trong Hồ Chí Minh không hề có điều ấy.

Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng đã có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh thấy ra và rất coi trọng cá nhân từng người trong cộng đồng dân tộc. Điều này do nhiều nhân tố tạo thành chứ không phải chỉ là do tiếp thu được từ học thuyết của C.Mác. Nếu có tiếp thu thì là tiếp thu cái cốt lõi có giá trị nhất của học thuyết ấy bằng truyền thống về nhân văn sâu xa từ triết lý cổ đại thời Hy – La, rồi hiện đại dần lên đến thời cổ điển, phục hưng, khai sáng cho đến thời hiện đại của phương Tây. Có thể nói, truyền thống nhân văn ấy là phần rất nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đông đối với con người. Điểm nổi bật nhất của giá trị đó chính là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa kháng chiến của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.

*. Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người, không nề hà công sức, không quản ngại khó khăn, năng nhặt chặt bị, từng ly từng tí một góp gió thành bão. Khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhặt không đáng kể để rồi trở thành một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử.

Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại có thể kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho một đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng. Không chỉ là cá biệt một người, mà nhiều trường hợp với nhiều người khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành. Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở đây là chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử ấy.

*. Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song cũng đồng thời sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hằng ngày.

*. Bằng cuộc sống đầy bản sắc của riêng mình, Hồ Chí Minh biết và hiểu được theo chiều sâu bản sắc của từng người, từng hạng người để tôn trọng và giúp trau dồi bản sắc ấy ở mỗi người. Hồ Chí Minh đều rất tôn trọng cả hai mặt: một mặt là cải tạo hoàn cảnh bên ngoài trở nên hoàn cảnh có tính người như C.Mác nói, để qua đó, cải tạo con người và làm nên được bản sắc của con người mới. Một mặt khác, đi vào chiều sâu bên trong của từng con người như tâm linh dân tộc, tâm linh tôn giáo, tính chất trí thức, đặc điểm thế hệ, tâm lý cá nhân, những khát vọng, những nét bản sắc của từng cá nhân ấy.

Thật tự hào khi chúng ta có Hồ Chí Minh. Làm đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh dân tộc ta nhất định sẽ xây dựng được đất nước ta đàng hoàng hơn, sạch sẽ hơn, to đẹp hơn.

Nguồn: tiasang online

dalat.gov.vn

Tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh tinh hoa đạo đức, tâm hồn cao đẹp của Người và những nội dung cơ bản, quan điểm cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam ngày nay và trong tương lai.

Vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/1990), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã quyết định công bố toàn bộ các bản Di chúc của Người viết.

Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng; là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền và là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam.

Qua 40 năm thực hiện Di chúc của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đó là: Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chuẩn bị điều kiện đi lên CNXH; từng bước thực hiện lý tưởng XHCN, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường XHCN, kiên định sự lãnh đạo của Đảng – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; thực hiện công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng và phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất nước trong hội nhập quốc tế.

Phục vụ cho công tác tuyên truyền về đợt sinh hoạt chính trị 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn Đề cương tuyên truyền về 40 năm thực hiện Di chúc của Người ( 2/9/1969 – 2/9/2009).

Đề cương đề cập đến 3 vấn đề lớn: Hoàn cảnh lịch sử, ý nghĩa, giá trị cơ bản của Di chúc; những thành tựu của cách mạng Việt Nam qua 40 năm thực hiện Di chúc và các nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới.

Đề cương đã nêu những định hướng về các nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Cụ thể là, về công tác xây dựng Đảng: Học tập phẩm chất, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Về nhiệm vụ bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau: Thực hiện lời Bác dặn về việc chuẩn bị một lực lượng cho sự nghiệp cách mạng, Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ Đảng, đoàn thể và cả xã hội có trách nhiệm chăm lo, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để thanh niên đựợc rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; được học tập, có việc làm, nâng cao thu nhập, có đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh. Về nhiệm vụ nâng cao đời sống của nhân dân: Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trước tình hình mới để phấn đấu mục tiêu Bác dặn trong Di chúc: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Về nhiệm vụ đoàn kết quốc tế: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển”, chính sách “đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế”, “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”.

Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các ban ngành Trung ương và địa phương, các đoàn thể chính trị-xã hội… sớm triển khai tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Người.

Nguồn: Chinhphudientu

dalat.gov.vn

Bác Hồ với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu

Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một nhiệm vụ quan trọng, to lớn và cấp bách hiện nay, bởi đây là nguy cơ, ảnh hưởng trực tiếp tới sự lãnh đạo của Đảng và sự ổn định, phát triển của đất nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới nhiệm vụ này. Người cho đây là “kẻ thù nguy hiểm”, “là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”, nó làm hỏng tinh thần và phá hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên.

Bởi vậy, Bác Hồ đã có nhiều bài nói, bài viết đề cập trực tiếp tới nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu. Người thường xuyên nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Người là hình ảnh tiêu biểu của đạo đức cách mạng, là tấm gương trong sáng về đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu mà mỗi người, từng tổ chức của cả hệ thống chính trị phải thường xuyên rèn luyện, học tập và noi theo.

Nhớ lại, sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo nguy cơ tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong bộ máy và đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một thứ “giặc nội xâm” rất nguy hiểm. Bởi vậy, ngay sau khi tuyên bố độc lập một ngày (ngày 3/9/1945) Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay, trong đó có nhiệm vụ “giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”.

Tiếp đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 7/1952, trong bài phát biểu Người nhấn mạnh: Bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí nguồn gốc trong xã hội cũ mà ra. Chúng ta không lấy làm lạ, nhưng mấy năm sau cách mạng mà tham ô, lãng phí còn khá phổ biến trong cán bộ ta là vì giáo dục thiếu sót. Chúng ta phải sửa chữa một cách có kế hoạch, có chuẩn bị.
Người từng chỉ rõ: Để kháng chiến thắng lợi, để xây dựng nhà nước, chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi, nước mắt để đóng góp. Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám.

Vì vậy, theo Người chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị.

Nhớ lại trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, giám đốc nhà quân nhu – đại tá Trần Dụ Châu phạm tội tham ô, lợi dụng chức quyền biển thủ 57.950 đồng bạc Việt Nam, 449 USD, 28 tấn lụa vải xanh, nhận 20 vạn đồng tiền hối lộ của người dưới quyền, sống xa hoa, trụy lạc, kèo bé phái, gây chia rẽ nội bộ, vụ lợi riêng, nên ngày 5/9/1950 đã bị tòa án binh tối cao tuyên phạt mức án tử hình. Điều đó cho thấy sự nghiêm minh và quyết tâm của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ trong việc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Sau vụ Trần Dụ Châu, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 15 đến 17 tháng 11 năm 1950, Bác Hồ trong bài phát biểu kết luận đã căn dặn: Lúc tìm người phải tìm cả tài, cả đức, chú trọng tư tưởng. Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc. Đồng thời phải giáo dục, cải tạo, kiểm tra cán bộ.

Cũng trong thời gian này, Bác Hồ còn có nhiều bài viết căn dặn, giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Đồng thời Người nghiêm khắc phê phán những cán bộ phạm phải căn bệnh nguy hiểm nói trên. Đó là bài: Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (tháng 9/1952). Người viết:

“Tất cả cán bộ đều là đầy tớ của dân.
Quan liêu là những người phụ trách mà chỉ biết yên thân.
Xa cách cán bộ, nhân dân và việc làm
Việc gì cũng nhắm mắt ký thàm
Không biết cán bộ tốt hay xấu, việc làm đúng hay không
Quan liêu “ngài” không biết đề phòng
Do đó mà tham ô, lãng phí mọc từ trong đến ngoài
Tham ô là những cán bộ chỉ lo phát “hoạnh tài”.
Đục khoét của nhân dân, bộ đội chính phủ, đoàn thể
Của ai họ cũng trộm làm của mình.
Để họ tiêu xài xa xỉ, linh đình
Tội ác ấy thật là to lớn, tâm tình ấy thật là nhuốc nhơ
Lãng phí là những cán bộ ngẩn ngơ
Không biết thương tiếc của cải và thời giờ của Chính phủ và nhân dân.
Đáng tiêu một phần thì tiêu đến 10 phần, 100 phần
Việc một người làm được, cũng kéo gấp đến 10 người, 100 người
Tham ô có tội đã đành rồi.
Tai hại đến của dân, của nước thì lãng phí cũng là tội to.
Hỡi những người quan liêu, lãng phí và tham ô!
Cần, kiệm, liêm, chính các người để ở mô cả rồi.
Đoàn thể và Chính phủ, nhân dân và bộ đội, ủy thác cho các người.
Mà các người làm hỏng việc thì tội này ai mang
Cho nên toàn dân ta phải đứng dậy hiên ngang
Quyết tâm chống quan liêu, tham ô, lãng phí trong hàng ngũ ta.
Mấy câu mộc mạc, nôm na
Xin mọi người ghi nhớ đem ra thực hành”.

Sau này, nội dung đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu còn được Người nêu lên trong nhiều bài nói, bài viết tại các Hội nghị Trung ương, ở những buổi làm việc với lãnh đạo các cấp, các ngành, đoàn thể ở Trung ương, địa phương, cũng như ở nhiều bài viết quan trọng khác! Điều đó cho thấy đây là một nội dung xuyên suốt trong cuộc đời đấu tranh hoạt động của Bác Hồ, là vấn đề được Người thường xuyên quan tâm để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.

Ngày nay, Đảng ta xác định tham nhũng là trong một quốc nạn. Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của từng tổ chức, của mỗi cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội X của Đảng vừa qua đã khẳng định quyết tâm: Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng, bất kể chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; những người bao che cho tham nhũng, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Biểu dương và nhân rộng những gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Điều đó thể hiện Đảng ta đã nhận thức và đang quyết tâm thực hiện đúng những gì mà Bác Hồ kính yêu căn dặn, để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của mình, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Nguồn: Báo Lâm Đồng

dalat.gov.vn

Người giúp Việt Nam tìm lại niềm tự hào dân tộc

Kỷ niệm 40 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, Dominique Bari, phóng viên tờ L’Humanité (Nhân Đạo), cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, phỏng vấn sử gia Alain Ruscio, tác giả của nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Người.

– Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng. Ông có thể cho biết về vai trò lịch sử của Người đối với nền độc lập của Việt Nam?

– Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời cho cách mạng Việt Nam, Người tìm ra con đường đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân Pháp. Công lao của Hồ Chí Minh trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay và mai sau. Người là người cha của nền độc lập của Việt Nam, là người đã giúp dân tộc Việt Nam tìm lại niềm tự hào được là người Việt Nam.

Bác Hồ trong một chuyến đi công tác. (Ảnh tư liệu)

Chính vì những điều mà Người mang lại cho dân tộc Việt Nam mà người Việt Nam ngày nay vẫn vô cùng yêu mến vị lãnh tụ đáng kính mà họ thường gọi là Bác Hồ. Không dừng tại đó, hình ảnh Hồ Chí Minh đã vượt qua biên giới, lãnh thổ Việt Nam, đến nhiều quốc gia trên thế giới. Hồ Chí Minh là người đầu tiên chống lại chế độ thực dân và tuyên bố nền độc lập của Việt Nam vào ngày 2/9/1945. Điều này đã tạo nên một tiếng vang, một ý nghĩa to lớn đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh được ví ngang với các lãnh tụ kiệt xuất như Gandhi, Nehru,… và nhiều lãnh tụ giải phóng dân tộc khác.

– Ông suy nghĩ gì về tư tưởng Hồ Chí Minh?

– Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhưng Người không bao giờ tỏ ý muốn công bố những tài liệu lý luận của mình. Người cũng chưa từng có ý định lý luận hóa những tư tưởng của mình. Người rất thực tế, không ngần ngại bàn đến tất cả các khía cạnh của cuộc sống, chẳng hạn như: trong những thời kỳ lương thực thiếu thốn, Người khuyên bảo dân không nên để đất hoang, kêu gọi cán bộ phải gần gũi với nhân dân và không thể là những “ông quan cách mạng”. Từ những khái niệm rất cụ thể, Người phát triển thành một tư tưởng lớn về mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với quần chúng nhân dân.

– Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa Lenin hay là người theo tư tưởng dân tộc?

– Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa Lenin là một lý luận dẫn đường sự nghiệp giải phóng dân tộc của Đảng.

Alain Ruscio là sử gia người Pháp. Ông là tác giả của hơn chục bộ sách nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, là Giám đốc Trung tâm Thông tin tư liệu VN tại Pháp, và từng là phóng viên thường trú duy nhất của tờ L’Humanité tại Việt Nam, từ năm 1978 đến năm 1980.

Alain Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người. Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó, có các tác phẩm đã xuất bản như “Hồ Chí Minh”, “Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh”, “Sống ở Việt Nam”, “Việt Nam, lịch sử, trái đất, loài người”…

Hồ Chí Minh là một người thuộc hai đảng cộng sản trên thế giới – ĐCS Pháp và ĐCS Việt Nam. Năm 1930, Người đã thành lập một đảng hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn do Pháp đàn áp mạnh các lực lượng tiến bộ, chống lại chế độ thuộc địa. Hoạt động của Đảng tại thời điểm đó gần giống như một tổ chức quân sự. Đối với Người, Đảng phải có kỷ luật và đoàn kết. Trong thời kỳ đó, Người cũng thể hiện tinh thần bác ái với các phong trào chống thực dân trong nước.

– Vào năm 1954, Việt Nam giành độc lập nhưng đất nước bị chia cắt, vai trò của Hồ Chí Minh trong công cuộc thống nhất đất nước như thế nào?
– Năm 1954, người dân Việt Nam đau đớn vì đất nước bị chia cắt. Mỹ nhảy vào thay thế Pháp ở Đông Dương. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, người Việt Nam hiểu rằng, nếu muốn thống nhất đất nước, họ buộc phải tiến hành vào một cuộc chiến đấu mới. Điều này dẫn tới sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1960 và thắng lợi năm 1975.

– Vai trò của Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống lại sự chiếm đóng của Mỹ là gì?

– Hồ Chí Minh vẫn mãi là một người của sự đoàn kết và hài hòa. Người luôn coi sự đoàn kết trong ĐCS Việt Nam và sự đoàn kết của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là điều vô cùng quý báu. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, người Việt Nam không cho phép để xảy ra sự chia rẽ dân tộc.

Thời khắc quan trọng đã đến trong quan hệ giữa Việt Nam và phong trào cộng sản thế giới. Một đất nước đang có chiến tranh sẽ cần sự hỗ trợ từ nhiều phía. Sau chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kosygin đến Hà Nội vào tháng 2/1965, Liên Xô nhận thức được quy mô, tầm quan trọng của cuộc kháng chiến ở Việt Nam khi Mỹ bắt đẩu rải chất độc da cam, bom napalm, bom bi xuống miền Nam. Liên Xô đã quyết định giúp đỡ Việt Nam trên quy mô lớn, thông qua việc cung cấp các loại vũ khí, tên lửa đất đối không và nhiều trang thiết bị quân sự hiện đại khác. Trung Quốc cũng viện trợ cho Việt Nam những loại vũ khí hạng nhẹ, hỗ trợ hậu cần, quân tư trang và lương thực.

– Tình hình Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh qua đời như thế nào?

– Toàn thể dân tộc Việt Nam đứng sau vị lãnh tụ của họ. Người Việt Nam vừa trải qua cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968. Cuộc tấn công này có ý nghĩa chính trị to lớn đối với dư luận quốc tế. Việt Nam đã giành được thắng lợi về ngoại giao khi đưa vấn đề Việt Nam trở thành một vấn đề quốc tế. Dư luận công chúng Mỹ đã mất thăng bằng. Johnson đã không tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai. Nước Mỹ đã hiểu rằng, họ không thể chiến thắng trong cuộc chiến tại Việt Nam.

Nguồn: Đất Việt (theo L’Humanité).

dalat.gov.vn

Một nguyên tắc cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “nói đi đôi với làm”, phải nêu gương về đạo đức

Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính, một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, có nghĩa là đạo đức gắn liền với hành động. Nói về đạo đức phải gắn liền với thực hành đạo đức, đặc biệt phải có hiệu quả. Một người làm việc gì cũng không có hiệu quả, thì không thể coi là một người có đạo đức, Người chỉ ra rằng “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến vai trò, tác dụng của đạo đức, nêu ra những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, nhân dân từ đời công đến đời tư. Song, Hồ Chí Minh thực hành đạo đức nhiều hơn những điều Người nói và làm rất lặng lẽ. Theo Người, muốn giáo dục mọi người phải nêu gương trước của mình đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói.

Ở Hồ Chí Minh luôn luôn có sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức với thực hành đạo đức. Người nói “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”. Cho đến khi qua đời, Người còn viết trong Di chúc “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Cả cuộc đời Người đã là minh chứng cảm động cho sự nhất quán giữa nói và làm đạo đức. Nhờ kiên trì thực hành đạo đức, Người đã để lại cho dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức của một vị lãnh tụ thực sự của nhân dân.

Sở dĩ Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính đã để lại cho chúng ta một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Trong xã hội, tấm gương của các thế hệ trước đối với các thế hệ sau rất quan trọng. Mỗi thế hệ đều có trách nhiệm của mình, nhưng thế hệ trước bao giờ cũng có trách nhiệm rất nặng nề với thế hệ sau trong việc giáo dưỡng, nhất là bồi dưỡng về đạo đức. Chính vì vậy, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người kiên quyết đấu tranh chống lại nguy cơ xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của một đảng cầm quyền. Người nhắc nhở: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. “Muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người… mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Người đã từng cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Theo Người, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội không phải ở lý tưởng cao xa nào mà trước hết, cụ thể và trực tiếp là ở những người cộng sản ưu tú bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực. Củng cố hay làm suy giảm niềm tin của quần chúng vào tương lai của chủ nghĩa xã hội không phải ở những sai lầm và thất bại tạm thời khó tránh khỏi trên con đường mới khai phá mà chủ yếu ở sự sa sút, thoái hóa của những người được mệnh danh là “những chiến sĩ tiên phong” trước thắng lợi hay khó khăn của cách mạng.

Sự lành mạnh của đời sống đạo đức xã hội phụ thuộc một phần rất quan trọng vào sự nêu gương của người lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu các ngành, các địa phương, các đơn vị. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải hết sức giữ gìn và nêu gương về mặt đạo đức.

Để thực hiện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng ta vừa qua đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị học tập và làm theo Người. Đặc biệt Đảng ta yêu cầu những người lãnh đạo cao cấp phải nêu tấm gương về đạo đức, lối sống lành mạnh, phải là những chiến sĩ đi đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, sa hoa, lãng phí, không chỉ trong xã hội mà cả trong gia đình riêng của mình.

Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa lúc nào từ bỏ âm mưu và thủ đoạn thâm độc để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nước ta. Chúng luôn thực hiện “diễn biến” về tư tưởng, đạo đức lối sống qua con đường giao lưu, hội nhập kinh tế, qua các mạng thông tin để lôi kéo dân ta đi chệch khỏi các định hướng giá trị của dân tộc, đánh phá từ bên trong. Chính vì vậy, để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh” mỗi cán bộ đảng viên không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân như lời Bác Hồ đã dạy.

Th.S Nguyễn Thị Giang – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

dalat.gov.vn

Hồ Chí Minh và đạo đức thời đại mới

Trong di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, bao giờ Người cũng phân định rõ ràng tính phải và trái, đúng và sai, thiện và ác, xây và chống… Điều đó khiến mỗi người Việt Nam chúng ta đều nhận thấy và tìm thấy những vấn đề đạo đức rất gần gũi với mình, để hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Và di sản của Người cho đến ngày hôm nay đã trở thành những chuẩn mực chung của đạo đức thời đại mới.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành chuẩn mực chung cho đạo đức thời đại mới:

Trung với nước, Hiếu với dân

Tháng 5/1945, Bác từ Pác Bó về Tân trào (Tuyên Quang) để cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.
Ở Tân Trào, các đồng chí địa phương đã làm cho Bác một căn nhà lá khá xinh xắn. Đó vừa là nhà nghỉ, vừa là nơi để Bác làm việc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp lúc ấy được sống và làm việc gần bên Bác. Lần nào đồng chí đến cũng thấy Bác đang cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị Bác đều ghi chép và đánh máy rõ ràng.

Cao trào kháng Nhật cứu nước lúc bấy giờ đang sôi sục từ Bắc chí Nam. Toàn thể nhân dân hướng về Việt Minh, khí thế Cách mạng hừng hực khắp nơi. Trung ương đã quyết định tích cực chuẩn bị cho cuộc họp toàn quốc của Đảng và quốc dân đại hội đại biểu ở Tân Trào. Nắm vững thời cơ Cách mạng, Bác quyết định thời gian họp vào tháng 7/1945. Đúng thời gian đó, Bác bị mệt và sốt mấy hôm liền, thậm chí còn sốt cao và mê sảng. Nhưng khi vừa tỉnh, Bác đã vội vã bàn bạc công việc và lắng nghe tình hình. Bác nhắc cán bộ phải khẩn trương chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Bác nói: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy của dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ý chí và quyết tâm của bác đã trở thành ý chí và quyết tâm của toàn đảng, toàn dân ta, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, có ý nghĩa quyết định đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 lịch sử.

Yêu thương con người

Với Bác, tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất cao đẹp nhất. Trong di chúc, Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau. Đây là tình thương yêu dựa trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, chân thành giữa những con người có cùng ý tưởng. Với người lao động, Bác luôn động viên tinh thần họ với những việc làm cụ thể; với thiếu niên nhi đồng, Bác giành trọn niềm tin yêu đúng như câu nói “Trẻ em hôm nay là thế giới của ngày mai”.

Một câu chuyện cảm động về tình thương yêu Bác giành cho người lao động đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và là điều đáng để tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Đó là câu chuyện về cây xanh muôn đời trong khu di tích Hồ Chủ tịch.

Vào một đêm mùa Đông, Bác thức giấc khi nghe tiếng chổi tre quét lá bên đường của người lao công. Bác biết mùa này lá rụng nhiều, người lao công sẽ rất vất vả. Vậy nên một lần sang Trung Quốc công tác, Bác thấy một loại cây xanh tốt cả mùa đông mà lá không rụng. Bác nghĩ phải nhân giống loại cây này ở Việt Nam, như vậy các cô chú lao công mới đỡ vất vả quét lá rụng hàng ngày. Bác đã mang về 1 cây và trồng ngay trong khu nhà sàn và tự tay chăm sóc. Bác đặt tên cây đó là cây xanh muôn đời. Đến hôm nay cây xanh muôn đời đó vẫn xanh tốt quanh năm như tình yêu của Bác với những người lao công quét rác. Một việc làm tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn lao về tình thương yêu người lao động của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Cần, kiệm, liêm, chính

Từ “Đường Kách mệnh”, cuốn sách đầu tiên đào tạo, bồi dưỡng những người cách mạng trẻ tuổi, đến “Di chúc”, văn bản cuối cùng trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhắc đến cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư đều được Bác Hồ giải thích rất rõ, rất cụ thể, rất dễ hiểu. Riêng về chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc. Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”… Theo Bác, chí công vô tư về thực chất là nối tiếp và có quan hệ mật thiết với cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư, ngược lại, đã chí công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính “và có được nhiều tính tốt khác”. Tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

Có được phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, con người sẽ thực sự vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Nhưng nói dễ, làm khó. Để có được phẩm chất này, trước hết mỗi người phải tự vượt qua chủ nghĩa cá nhân, nhất là những lợi ích do chức, quyền, danh, lợi đem lại vốn rất hấp dẫn và diễn ra hằng ngày.

Câu chuyện về một lá thư đặc biệt của Bác gửi cho đồng chí trợ lý Cục lãnh sự Liên Bang Xô Viết là bài học Người dạy mỗi chúng ta về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Người viết: “Khi tôi đi công tác, các đồng chí có đưa cho tôi 100 Rúp để tiêu vặt và đưa cho đồng chí thư kí Vũ Kỳ của tôi 60 Rúp. Tổng cộng là 160 Rúp. Nhưng do không có dịp sử dụng đến nên hôm nay, tôi nhờ đại diện Đại sứ quán của chúng tôi gửi lại các đồng chí số tiền trên. Mong các đồng chí nhận lại. Số tiền đó tuy không nhiều nhưng còn có nhiều người khác cần sử dụng hơn tôi…”.

Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”. Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

Ngô Ngọc Huy

dalat.gov.vn