Tag Archive | Cần – Kiệm – Liêm – Chính

Cần kiệm liên chính (6-1949)

CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH CHÍ CÔNG VÔ TƯ

Vì sao Hồ Chủ tịch đề ra khẩu hiệu: CẦN, Kiệm, Liêm, CHÍNH?

Vì CẦN, Kiệm, Liêm, CHÍNH là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: CẦN, Kiệm, Liêm, CHÍNH.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức thì không thành người.

Từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nền Dân chủ Cộng hoà, cho đến mấy nǎm kháng chiến, dân ta nhờ CẦN, Kiệm, Liêm, CHÍNH, mà đánh thắng được giặc lụt, giặc dốt, giặc thực dân và giặc đói.

Tuy vậy, đồng bào ta có người đã hiểu rõ, có người chưa hiểu rõ. Có người thực hành nhiều, có người thực hành ít. Cho nên CẦN phải giải thích rõ ràng, để cho mọi người hiểu rõ, mọi người đều thực hành.

CẦN

Tức là siêng nǎng, chǎm chỉ, cố gắng dẻo dai.

Người Tàu có câu: không có việc gì khó. Chỉ e ta không siêng.

Tục ngữ ta có câu: Nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu, cũng đầy tổ.

Nghĩa là CẦN thì việc gì, dù khó khǎn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khoẻ.

Chữ CẦN chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải CẦN, cả nước đều phải CẦN.

Người siêng nǎng thì mau tiến bộ.

Cả nhà siêng nǎng thì chắc ấm no.

Cả làng siêng nǎng thì làng phồn thịnh.

Cả nước siêng nǎng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ CẦN có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng.

Cây gỗ bất kỳ to nhỏ, đều có gốc và ngọn.

Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít.

Cụ Mạnh Tử có nói: “Người thợ muốn làm khéo, thì trước phải sắp sẵn công cụ của mình”.

Một thí dụ:

Người thợ mộc muốn đóng một cái tủ. Trước hết, anh ta mài sẵn cưa, bào, tràng, đục, v.v. và làm sao xếp có thứ tự hẳn hoi. Rồi anh lấy gỗ vừa đủ làm cái tủ. Khi các thứ đều sẵn sàng, anh ta bèn bắt tay vào việc đóng tủ.

Như thế là anh thợ mộc ấy làm việc có kế hoạch. Như thế là anh ấy sẽ không hao thì giờ, tốn lực lượng, mà việc lại mau thành.

Trái lại, nếu anh ấy không sắp đặt sẵn sàng trước, khi CẦN đến cưa mới chạy đi lấy cưa, khi CẦN đến đục thì phải chạy đi tìm đục. Như vậy thì mất thì giờ chạy lǎng xǎng cả ngày, mà công việc được ít.

Việc to, việc nhỏ, muôn việc đều như vậy.

Vì vậy, siêng nǎng và kế hoạch phải đi đôi với nhau.

Kế hoạch lại đi đôi với phân công.

Trong một gia đình, một xưởng máy, một cơ quan, v.v. đã phải có kế hoạch, lại phải phân công cho khéo.

Phân công phải nhằm vào 2 điều:

1. Công việc: Việc gì gấp thì làm trước. Việc gì hoãn thì làm sau.

2. Nhân tài: Người nào có nǎng lực làm việc gì, thì đặt vào việc ấy.

Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai.

CẦN và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày CẦN mà mười ngày không CẦN, thì cũng vô ích. Như thế chẳng khác gì một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nước mười hôm, thì ướt hoàn ướt.

CẦN không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là CẦN.

CẦN là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chǎm chỉ, cả nǎm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ CẦN.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác.

Một thí dụ:

Trong thời kỳ kháng chiến của dân tộc ta, các vị kỹ sư thì chǎm lo phát minh những thứ khí giới mới. Đồng bào thì chǎm lo cung cấp các thứ nguyên liệu. Những người vận tải thì chǎm lo đưa những nguyên liệu ấy đến các xưởng máy. Anh em công nhân thì chǎm lo rèn đúc ra những thứ khí giới mới. Các chiến sĩ chǎm lo luyện tập dùng những vũ khí ấy để giết cho nhiều giặc.

Tất cả mọi người đó như kết thành một sợi dây chuyền, quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Mọi người đều CẦN, thì dây chuyền ấy chạy rất thuận lợi và nhanh chóng. Kết quả là địch mau thua, ta mau thắng.

Nếu trong những người đó mà có người lười biếng, thì công việc của những người khác ắt chậm lại, khác nào sợi dây chuyền có một khúc hỏng. Kết quả sẽ tai hại thế nào, rất là dễ hiểu.

Lại một thí dụ nữa: Toàn dân tộc ta đoàn kết thành một khối. Công việc của mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều phối hợp với nhau, như một chuyến xe lửa. Tất cả mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều cố gắng, đều siêng nǎng, thì nước ta sẽ tiến bộ rất nhanh chóng. Cũng như chuyến xe lửa chạy đều, chạy nhanh, mau đến ga. Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc.

Kết quả chữ CẦN là thế nào?

Kết quả chữ CẦN rất là to lớn. Một thí dụ:

Trong 20 triệu đồng bào ta, cho 10 triệu là thanh niên và thành nhân có sức làm việc. Nếu mỗi người, mỗi ngày chỉ làm thêm một tiếng đồng hồ, thì:

Mỗi tháng sẽ thêm lên 300 triệu giờ.

Mỗi nǎm thêm lên 3.600 triệu giờ.

Chỉ những giờ ấy đã bằng động viên 400 triệu người làm trong một ngày 9 giờ.

Cứ tính một giờ làm là đáng giá một đồng bạc, thì mỗi nǎm nước ta đã thêm được 3.600 triệu đồng. Đưa số tiền đó thêm vào kháng chiến, thì kháng chiến ắt mau thắng lợi, thêm vào kiến quốc, thì kiến quốc ắt mau thành công.

Đó là kết quả rõ ràng của chữ CẦN.

KIỆM

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

CẦN với KIệM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tǎng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

Cụ Khổng Tử nói: “Người sản xuất nhiều, người tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ”.

Tiết kiệm cách thế nào?

Chắc đồng bào ai cũng được nghe câu chuyện phong bì của Hồ Chủ tịch.

Hồ Chủ tịch dùng một cái phong bì hơn 2, 3 lần. Cụ nói:

“Trung bình, cái phong bì là 180 phân vuông giấy (0,018 m2).

Mỗi ngày, các cơ quan, đoàn thể và tư nhân trong nước ta ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy. Mỗi tháng là 5.400 thước. Mỗi nǎm là 64.800 thước vuông giấy.

Nếu ai cũng tiết kiệm, dùng một cái phong bì 2 lần, thì mỗi nǎm chỉ tốn một nửa giấy, tức là 32.400 thước vuông. Còn 32.400 thước thì để dành cho các lớp bình dân học vụ, thì chẳng tốt sao?

Hơn nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể thêm vào việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa…”.

Cái thí dụ ấy rất rõ rệt, dễ hiểu. Đối với giấy như thế, đối với mọi thứ vật liệu khác đều như thế.

Thời giờ cũng CẦN phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được. Có ai kéo lại ngày hôm qua được không?

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là CẦN.

Bất kỳ làm việc gì, nghề gì, khi đã làm thì phải hǎng hái, chǎm chỉ, chuyên chú, làm cho ra trò làm.

Tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ người khác.

Thánh hiền có câu: “Một tấc bóng là một thước vàng”.

Tục ngữ Âu nói: “Thời giờ tức là tiền bạc”.

Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ. Thì ai đưa thời giờ vứt đi, là người ngu dại.

Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài đến 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ǎn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ.

Ǎn không ngồi rồi, trong lúc đang CẦN kháng chiến và xây dựng, là xa xỉ.

Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Tiết kiệm nghĩa là:

1 giờ làm xong công việc của 2, 3 giờ.

1 người làm bằng 2, 3 người.

1 đồng dùng bằng giá trị 2, 3 đồng.

Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức. Cái thí dụ người thợ mộc nói trên, đã chứng tỏ rằng: biết tổ chức thì tiết kiệm được sức lực, thời giờ, và vật liệu.

Không biết tổ chức thì không biết tiết kiệm. Thí dụ: nếu 1 nhà 10 người, mỗi người nấu riêng một nồi cơm, thì tốn biết bao nhiêu nồi, bao nhiêu củi và nước, bao nhiêu công phu. Góp nhau lại nấu chung một nồi, thì lợi biết bao nhiêu.

Vì vậy, góp sức làm việc (lao động tập đoàn), và hợp tác xã, là một cách tiết kiệm tốt nhất.

KẾT QUẢ CỦA TIẾT KIỆM

Trên kia đã thuật lại cái thí dụtiết kiệm phong bì, mà Hồ Chủ tịch đã dạy chúng ta. Đây tôi xin thêm một thí dụ nữa:

Nước ta có 20 triệu người. Nhiều bù ít, mỗi người mỗi ngày ǎn 700 gam gạo, mỗi tháng là 21 kilô gạo.

Nếu mỗi ngày mỗi người chỉ tiết kiệm nửa bát cơm (việc đó rất dễ, ai cũng làm được), thì mỗi tháng cả nước sẽ tiết kiệm được 20 triệu kilô gạo, nghĩa là đủ nuôi một triệu chiến sĩ trong một tháng.

Hiện nay, mấy xã ở Liên khu I có sáng kiến làm “Hũ gạo kháng chiến”. Mỗi nhà mỗi ngày cứ bỏ vào hũ một vốc gạo. Chỉ thế thôi, mà số gạo đủ nuôi anh em dân quân du kích trong xã.

Đó là một sáng kiến tiết kiệm hay, mà các nơi nên làm theo. Nếu toàn dân ta THI ĐUA TIếT KIỆM:

Các cơ quan tiết kiệm tiền công và của công, để đỡ tốn ngân quỹ;

Chiến sĩ thi đua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy;

Công nhân thi đua tiết kiệm nguyên liệu;

Học sinh thi đua tiết kiệm giấy bút;

Đồng bào hậu phương thi đua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội;

Mỗi người, thi đua tiết kiệm thời giờ;

Thì kết quả thi đua tiết kiệm cũng bằng kết quả thi đua tǎng gia sản xuất.

Một mặt, chúng ta thi đua KIỆM.

Một mặt, chúng ta thi đua CẦN.

Kết quả CẦN cộng với kết quả KIỆM là: bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiền tiến trên thế giới.

Kết quả chữ CẦN chữ KIỆM to lớn như vậy đó.

Cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm.

LIÊM

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ LIÊM có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM. Cũng như trunglà trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ǎn ngon, sống yên đều là BấT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ǎn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian bán lậu chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.

Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng đồng bào.

Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khǎn mà bắt chẹt đồng bào.

Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của mình. Đều là tham lam, đều là BấT LIÊM.

Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo.

Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh uý tử.

Đều làm trái với chữ LIÊM.

Do BấT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp.

Cụ Khổng Tử nói: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”.

Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Để thực hiện chữ Liêm, CẦN có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên.

Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ǎn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân.

“Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm cũng phải hoá ra LIÊM.

Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM.

Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì.

Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, với dân.

Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân.

Một dân tộc biết CẦN, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc vǎn minh tiến bộ.

Dân tộc ta đang kháng chiến và kiến quốc, đang xây dựng một Đời sống mới trong nước Việt Nam mới. Chẳng những chúng ta phải CẦN kiệm, chúng ta còn phải thực hành chữ LIÊM.

CHÍNH

CHÍNH nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây CẦN có gốc rễ, lại CẦN có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải CẦN, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người áC.

Trong xã hội, tuy có trǎm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc Tà.

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc Tà, là người áC.

Siêng nǎng (CẦN), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.

Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:

1. Mình đối với mình.

2. Mình đối với người.

3. Mình đối với công việc.

ĐỐI VỚI MÌNH

– Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.

– Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.

– Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.

Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.

Cụ Tǎng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tǎng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? đối với việc có chuyên CẦN không?

Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải CHÍNH trước, mới giúp được người khác CHÍNH. Mình không CHÍNH, mà muốn người khác CHÍNH là vô lý.

ĐỐI VỚI NGƯỜI

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.

Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – ái.

ĐỐI VỚI VIỆC

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm.

Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công.

Việc THIỆN thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một nǎm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.

Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt,

Con cháu mình sung sướng,

Gia đình mình no ấm,

Làng xóm mình thịnh vượng,

Nòi giống mình vẻ vang,

Nước nhà mình mạnh giàu.

Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.

Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.

Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều Thi đua: CẦN, Kiệm, Liêm, CHÍNH.

Viết xong khoảng tháng 6-1949.
Ký tên: Lê Quyết Thắng.
Uỷ ban KCHC Liên khu I xuất bản nǎm 1949.
Theo sách của Uỷ ban KCHC
Liên khu I.
cpv.org.vn

Advertisements

Bác Hồ dạy thực hành tiết kiệm

 

Bác Hồ là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước thương dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để chúng ta học tập noi theo. Lối sống giản dị, trong sáng tiết kiệm của Bác Hồ có lẽ không ai sánh bằng. Sau đây là những mẩu chuyện của các đồng chí lãnh đạo lão thành vinh dự được phục vụ và bảo vệ Bác Hồ kể về nếp sống giản dị và tiết kiệm của Bác.

 

Hũ gạo chống đói

Sau khi giành được chính quyền cách mạng về tay nhân dân, đất nước ta đứng trước nạn đói vô cùng nghiêm trọng. Trên một triệu người dân kiệt sức vì đói. Trước tình hình đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ đầu tiên ngày 3/9/1945, Bác nêu lên 6 vấn đề cấp bách nhất, trong đó Người phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói.

Trong khi chờ đợi thu hoạch ngô, khoai (khoảng ba, bốn tháng) sẽ mở một cuộc quyên góp. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa (mỗi bữa một bơ gạo). Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người đói. Bác thực hiện đúng như vậy và tới lấy phần gạo của mình, tự tay đổ vào hũ gạo chống đói.

Một hôm, đúng vào bữa cơ quan nhịn ăn gom gạo thì Tiêu Văn (Tiêu Văn là Trưởng ban Chính trị Quân đội Tưởng Giới Thạch) mời Bác đến dự chiêu đãi. Khi Bác về anh em trong cơ quan báo cáo đã đem phần gạo của Bác đổ vào hũ gạo chống đói rồi. Bác vẫn quyết định nhịn ăn một bữa vào ngày hôm sau.

Cái gì dùng được nên dùng, bỏ đi không nên

Bác sống rất giản dị, thanh bạch, ăn uống chi tiêu bao giờ cũng rất tiết kiệm. Chiến sĩ Cảnh vệ chúng tôi được ở gần Bác không thấy Bác lãng phí một thứ gì.

Ngày ở chiến khu, có đôi tất rách đã vá đi vá lại mấy lần thế mà Bác không bỏ, cũng không dùng tất mới. Bác nói: “Cái gì dùng được nên dùng, bỏ đi không nên…”. Có một cái tất bị rách chưa kịp vá, chúng tôi đưa đôi tất mới để Bác dùng, nhưng Bác vẫn không đồng ý, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa: “Đấy! Có trông thấy rách nữa đâu?”.

Lời nói và việc làm của Bác làm chúng tôi thật xúc động. Một vị lãnh tụ tối cao thế mà cuộc sống giản dị như những người dân lao động vậy!

Ai cho các chú may thêm

Bác Hồ mặc rất giản dị, Người chỉ có hai bộ quần áo kaki dùng khi tiếp khách. Ở nhà Bác thường mặc bộ bà ba. Có lần Bác đi thăm nước bạn, nhân dân yêu quý họ tung hoa làm áo Bác bị ố, giặt là không kịp. Các đồng chí phục vụ đã may thêm một bộ giống như bộ Bác đang dùng nhưng không cho Bác biết. Tuy đã giặt nhiều lần cho cũ đi nhưng khi mặc Bác vẫn phát hiện ra đó là quần áo mới may. Bác phê bình ngay: “Ai cho các chú may thêm, Bác chỉ cần hai bộ. Nhân dân ta còn đang thiếu vải mặc, Bác dùng như vậy là đủ rồi”.

Thấy trời nóng mà khi tiếp khách Bác vẫn mặc áo bằng vải kaki, anh em phục vụ đề nghị Bác cho may hai chiếc sơ mi để Bác thay đổi cho đỡ nóng. Bác nói: “Tiếp khách mà mặc áo đại cán là tôn trọng khách rồi, không cần dùng áo sơ mi nữa”. Quả thật Bác không có áo sơ mi. Ngoài hai bộ kaki quen thuộc, Người chỉ còn một bộ áo len dạ do Chính phủ Tiệp Khắc tặng. Bác thường dùng khi đi thăm các nước xứ lạnh.

Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng.

Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại một ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội). Đến tháng 12/1954 thì Trung ương mời Bác Hồ về khu Ba Đình và ở Phủ Chủ tịch (ngôi nhà Phủ toàn quyền cũ) để tiện chủ trì các cuộc họp của Chính phủ, tiếp khách trong nước và nước ngoài.

Khi nghe Trung ương báo cáo ý định này, Bác đến xem trước. Khi xem ngôi nhà, Người khen to và đẹp nhưng quyết định không ở và cho tu sửa lại căn nhà ba gian gần bờ ao cách Phủ Chủ tịch khoảng 300 mét để ở. Căn nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện làm việc cho chế độ cũ. Người nói: “Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi, lại gần Phủ Chủ tịch nên khi hội họp, tiếp khách đi bộ sang cũng tiện”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, chiến sĩ Công an bảo vệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  III của Đảng (năm 1960).

Hãy mang đến cho các chú thương binh

Thời gian Bác Hồ ở ngôi nhà của người thợ điện phục vụ trong Phủ Toàn quyền cũ, phòng ở hẹp nên mùa hè rất nóng. Bác Hồ thường dùng chiếc quạt làm bằng lá cọ. Anh em ở Bộ Ngoại giao thương Bác ở nóng bức nên đã mua biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ.

Nhân một hôm Bác đi công tác, anh em phục vụ cho lắp máy điều hòa vào phòng của Bác. Vừa về đến nhà, bước chân vào phòng, Bác đứng lại hỏi đồng chí Cảnh vệ: “Này chú! Hôm nay nhà mình có mùi gì “hôi” quá” (chả là khi lắp chiếc máy điều hòa các đồng chí phục vụ còn để lọ nước hoa khô cho thơm phòng). Biết không giấu được Bác, các đồng chí phục vụ phải trình bày lý do về chiếc máy điều hòa.

Không thấy Bác nói gì, mọi người ai nấy đều vui mừng. Nhưng chỉ đến buổi chiều, Bác gọi đồng chí phục vụ đến, Người nói: “Các chú hãy mang chiếc máy điều hòa này cho anh em thương binh ở Hàng Bột. Hôm Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần”.

Thế là ngay chiều hôm ấy anh em phục vụ phải chuyển chiếc máy điều hòa cho anh em thương binh theo yêu cầu của Bác.

Ai thích sang thì đi xe mới

Từ ngày về tiếp quản Thủ đô, Bác vẫn dùng chiếc xe Pô-vê-đa để đi lại. Đây là quà của Chính phủ Liên Xô tặng Bác. Chiếc xe dùng lâu đã cũ. Anh em phục vụ định đổi chiếc khác mới và tốt hơn. Thấy vậy, Bác hỏi: “Xe Bác đang dùng đã hỏng chưa?” Đồng chí lái xe báo cáo thật với Bác, xe chưa hỏng nhưng muốn đổi xe khác tốt hơn để đi nhanh Bác đỡ vất vả. Bác nói luôn: “Thế thì chưa đổi, ai cần đi nhanh thì dùng xe khác, ai thích sang thì đi xe mới, còn Bác vẫn dùng xe này vì nó chưa hỏng”.

Tuy vậy, anh em lái xe vẫn muốn đổi xe mới để Bác dùng. Một hôm các đồng chí phục vụ bàn với đồng chí lái xe, lúc đánh xe đưa Bác đi công tác thì cố gắng làm cho xe trục trặc không nổ máy được. Đồng chí lái xe trình bày với Bác lý do vì xe cũ nên nóng máy là không nổ được. Bác vẫn không đồng ý đổi xe mới. Bác ân cần căn dặn lái xe: “Lần sau chú phải sửa chữa cho cẩn thận kẻo nhỡ việc của Bác”.

Thế là chiếc Pô-vê-đa cũ kỹ ấy, Bác dùng cho đến ngày Bác đi xa.

Theo thanhnienviet.vn

hcmpc.com.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 2)

Cần

Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai…

Tục ngữ ta có câu: nước chảy mãi, đá cũng mòn. Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
Nghĩa là Cần thì việc gì, dù khó khăn mấy, cũng làm được.

Dao siêng mài thì sắc bén. Ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt. Điều đó rất dễ hiểu.

Siêng học tập thì mau biết.

Siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến.

Siêng làm thì nhất định thành công. Siêng hoạt động thì sức khỏe.

Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp, như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần.

Người siêng năng thì mau tiến bộ.
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no.
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh.
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu.

Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng…

Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là Cần.

Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài.

Lười biếng là kẻ địch của chữ Cần.

Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc.

Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn hàng vạn người khác…

… Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe.

Vì vậy, người lười biếng là có tội lỗi với đồng bào, với Tổ quốc…

Kiệm

Kiệm là thế nào?

Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi.

Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau như hai chân của con người.

Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy hết ra chừng ấy, không lại hoàn không.

Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

… Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.

Việc đáng làm trong 1 giờ, mà kéo dài 2, 3 giờ, là xa xỉ.

Hao phí vật liệu, là xa xỉ.

Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ…
Vì vậy xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.

Liêm

Liêm là trong sạch, không tham lam.

Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp.

Cũng như ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc; hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải làm cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam…

Chính

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người Thiện và người Ác.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính, là người Thiện.

Làm việc Tà, là người Ác.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), Chính là Thiện.
Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác…

Cần kiệm liêm chính,
tháng 6-1949, sđd, t.5,tr.632-643
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Hồ Chí Minh và đạo đức thời đại mới

Trong di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, bao giờ Người cũng phân định rõ ràng tính phải và trái, đúng và sai, thiện và ác, xây và chống… Điều đó khiến mỗi người Việt Nam chúng ta đều nhận thấy và tìm thấy những vấn đề đạo đức rất gần gũi với mình, để hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Và di sản của Người cho đến ngày hôm nay đã trở thành những chuẩn mực chung của đạo đức thời đại mới.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành chuẩn mực chung cho đạo đức thời đại mới:

Trung với nước, Hiếu với dân

Tháng 5/1945, Bác từ Pác Bó về Tân trào (Tuyên Quang) để cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.
Ở Tân Trào, các đồng chí địa phương đã làm cho Bác một căn nhà lá khá xinh xắn. Đó vừa là nhà nghỉ, vừa là nơi để Bác làm việc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp lúc ấy được sống và làm việc gần bên Bác. Lần nào đồng chí đến cũng thấy Bác đang cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị Bác đều ghi chép và đánh máy rõ ràng.

Cao trào kháng Nhật cứu nước lúc bấy giờ đang sôi sục từ Bắc chí Nam. Toàn thể nhân dân hướng về Việt Minh, khí thế Cách mạng hừng hực khắp nơi. Trung ương đã quyết định tích cực chuẩn bị cho cuộc họp toàn quốc của Đảng và quốc dân đại hội đại biểu ở Tân Trào. Nắm vững thời cơ Cách mạng, Bác quyết định thời gian họp vào tháng 7/1945. Đúng thời gian đó, Bác bị mệt và sốt mấy hôm liền, thậm chí còn sốt cao và mê sảng. Nhưng khi vừa tỉnh, Bác đã vội vã bàn bạc công việc và lắng nghe tình hình. Bác nhắc cán bộ phải khẩn trương chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Bác nói: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy của dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ý chí và quyết tâm của bác đã trở thành ý chí và quyết tâm của toàn đảng, toàn dân ta, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, có ý nghĩa quyết định đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 lịch sử.

Yêu thương con người

Với Bác, tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất cao đẹp nhất. Trong di chúc, Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau. Đây là tình thương yêu dựa trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, chân thành giữa những con người có cùng ý tưởng. Với người lao động, Bác luôn động viên tinh thần họ với những việc làm cụ thể; với thiếu niên nhi đồng, Bác giành trọn niềm tin yêu đúng như câu nói “Trẻ em hôm nay là thế giới của ngày mai”.

Một câu chuyện cảm động về tình thương yêu Bác giành cho người lao động đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và là điều đáng để tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Đó là câu chuyện về cây xanh muôn đời trong khu di tích Hồ Chủ tịch.

Vào một đêm mùa Đông, Bác thức giấc khi nghe tiếng chổi tre quét lá bên đường của người lao công. Bác biết mùa này lá rụng nhiều, người lao công sẽ rất vất vả. Vậy nên một lần sang Trung Quốc công tác, Bác thấy một loại cây xanh tốt cả mùa đông mà lá không rụng. Bác nghĩ phải nhân giống loại cây này ở Việt Nam, như vậy các cô chú lao công mới đỡ vất vả quét lá rụng hàng ngày. Bác đã mang về 1 cây và trồng ngay trong khu nhà sàn và tự tay chăm sóc. Bác đặt tên cây đó là cây xanh muôn đời. Đến hôm nay cây xanh muôn đời đó vẫn xanh tốt quanh năm như tình yêu của Bác với những người lao công quét rác. Một việc làm tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn lao về tình thương yêu người lao động của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Cần, kiệm, liêm, chính

Từ “Đường Kách mệnh”, cuốn sách đầu tiên đào tạo, bồi dưỡng những người cách mạng trẻ tuổi, đến “Di chúc”, văn bản cuối cùng trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhắc đến cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư đều được Bác Hồ giải thích rất rõ, rất cụ thể, rất dễ hiểu. Riêng về chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc. Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”… Theo Bác, chí công vô tư về thực chất là nối tiếp và có quan hệ mật thiết với cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư, ngược lại, đã chí công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính “và có được nhiều tính tốt khác”. Tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

Có được phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, con người sẽ thực sự vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Nhưng nói dễ, làm khó. Để có được phẩm chất này, trước hết mỗi người phải tự vượt qua chủ nghĩa cá nhân, nhất là những lợi ích do chức, quyền, danh, lợi đem lại vốn rất hấp dẫn và diễn ra hằng ngày.

Câu chuyện về một lá thư đặc biệt của Bác gửi cho đồng chí trợ lý Cục lãnh sự Liên Bang Xô Viết là bài học Người dạy mỗi chúng ta về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Người viết: “Khi tôi đi công tác, các đồng chí có đưa cho tôi 100 Rúp để tiêu vặt và đưa cho đồng chí thư kí Vũ Kỳ của tôi 60 Rúp. Tổng cộng là 160 Rúp. Nhưng do không có dịp sử dụng đến nên hôm nay, tôi nhờ đại diện Đại sứ quán của chúng tôi gửi lại các đồng chí số tiền trên. Mong các đồng chí nhận lại. Số tiền đó tuy không nhiều nhưng còn có nhiều người khác cần sử dụng hơn tôi…”.

Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”. Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

Ngô Ngọc Huy

dalat.gov.vn

Lẽ sống giản dị của Bác Hồ

Có một nhà văn đã viết: Một con người vĩ đại, nhiều khi vĩ đại ngay trong công việc bình thường. Chúng ta có thể nghĩ tới lời ca trong một bài hát:

Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ,
Bác đi từ ở chiến khu Bác về.
Phố phường trận địa, nhà máy đồng quê, đều in dấu dép Bác về, Bác ơi!

Với những người bạn nước ngoài, một vị Chủ tịch nước nổi tiếng như Bác lại đi một đôi dép cao su là điều rất lạ. Ngày Bác sang thăm Liên Xô, một cháu thiếu nhi đã viết thư cho Bác: Sao Bác không đi giầy? Mỗi thiếu nhi Liên Xô chúng cháu góp một cô-pếch thì Bác đi giầy suốt đời không hết.

Một nhà văn An-giê-ri đã viết một vở kịch về Bác với cái tên “Người đi dép cao su”. Một đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Nhật Bản khi sang thăm Việt Nam đã viết: Hai bàn chân của đồng chí Hồ Chí Minh thu hút tâm trí tôi. Tôi nghĩ: Hai bàn chân này đã đi khắp thế giới.

Khi Bác đã đi xa, nhà thơ Tố Hữu viết:

Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn.
Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn.
Và: Tôi viết bài thơ cho các con
Mai sau được thấy Bác như còn
Phơ phơ tóc bạc chòm râu mát
Đôi dép mòn đi in dấu son.

Ở cuối bài thơ ấy, Tố Hữu xúc động:

Còn đôi dép cũ mòn quai gót
Bác đã từng đi khắp thế gian.

Ngày nay, “đôi dép Bác Hồ” đã trở thành một kỷ vật thiêng liêng, vô giá Bác để lại cho con cháu. Hằng ngày những dòng người nối tiếp nhau vào Lăng viếng Bác đều thấy đôi dép ấy được đặt trong lồng kính, dưới chân Người.

Bác Hồ của chúng ta đi đôi dép cao su, bởi Bác giản dị, tiết kiệm. Một lần các đồng chí phục vụ thấy đôi dép Bác đi đã mòn, liền thưa với Bác xin được mua một đôi dép mới cho Bác. Bác nói: Không phải vì Bác sợ tốn kém mà vì đôi dép Bác đang đi vẫn còn dùng được. Ở gần Bác lâu ngày các đồng chí phục vụ nhận ra một điều, không phải Bác có thêm một bộ quần áo mới, một đôi dép mới, thì đất nước nghèo đi mà vì một lẽ, Bác muốn chia sẻ với cuộc sống còn thiếu thốn của hàng triệu nhân dân. Năm 1946, Bác sang Pháp đàm phán, thấy Bác mặc đơn sơ quá, các nhà báo đã ngạc nhiên. Nhưng Bác nói: Tôi mặc thế này, bởi nhân dân tôi vừa qua khỏi cảnh mất nước, đời sống còn thiếu thốn nhiều. Bởi vậy, đến bây giờ một số người nước ngoài đến thăm nhà Bác, trong tủ chỉ thấy mấy bộ quần áo, vài đôi dép, một đôi giầy thì rất ngạc nhiên: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có thế này thôi ư?

Đọc hồi ký của các đồng chí đã từng phục vụ Bác, chúng ta xúc động thấy việc ăn uống của Bác rất dân dã: một món ăn mặn, một bát canh, tương cà là đủ. Bác tự chọn cho mình căn phòng nhỏ trước kia là chỗ ở của người thợ điện của Phủ toàn quyền để ở. Sau này, thấy căn phòng chật chội, Bộ Chính trị mới quyết định làm ngôi nhà mới để Bác ở và làm việc. Bác đã chọn ngôi nhà sàn nhỏ. Hôm làm xong, Bác mời đồng chí kiến trúc sư đến bảo:

– Chú làm nhà thế là nhanh, tốt. Nhưng có một khuyết điểm, chú biết khuyết điểm gì không?

– Dạ thưa Bác, so với ý Bác dặn thì căn nhà to hơn đôi chút ạ!

Bác cười: Chú nói đúng, nước ta chưa giàu, dân ta còn nhiều thiếu thốn, chưa đủ nhà ở, Bác ở thế này là tốt rồi!

Bác Hồ luôn coi đạo đức là “gốc” của người cách mạng. Chính Bác đã nêu một tấm gương sáng về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Tất cả cuộc đời và lẽ sống của Người là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

Người vì dân – sống giữa lòng dân
Và nơi ấy, ngàn đời Người sống mãi.

Bùi Hoàng

xaydungdang.org.vn