Âm hưởng bản hùng ca chiến thắng

QĐND – 40 năm trước, quân và dân Thủ đô đã làm nên chiến thắng vĩ đại, Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Sau chiến thắng ấy, khán giả chứng kiến lại 12 ngày đêm đau thương mà cũng rất đỗi oanh liệt hào hùng thông qua các tác phẩm điện ảnh, phim tài liệu. Cho đến hôm nay, những dư âm ấy, ký ức ấy lại ùa về trong tâm trí của bao nghệ sĩ, nhà quay phim đạo diễn, diễn viên và cả những khán giả của “Hà Nội 12 ngày đêm”, “Em bé Hà Nội”, “Hà Nội bản hùng ca”…

Ký ức hào hùng trên phim

Trong dư âm chiến thắng của Hà Nội 12 ngày đêm 40 năm về trước, và trong ký ức làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm” cách đây 10 năm (năm 2002 phim được công chiếu sau 5 năm thực hiện) của đoàn làm phim do NSND Bùi Đình Hạc làm đạo diễn, cùng NSưT Chiều Xuân, NSưT Quốc Tuấn, nhà biên kịch Đinh Thiên Phúc, nhà quay phim Bùi Trung Hải… đã hâm nóng hội trường Sư đoàn Không quân 371 (Sóc Sơn, Hà Nội) trong ngày đông giá lạnh bằng những kỷ niệm, chuyện vui về quá trình thực hiện bộ phim phác họa chân thực về sự kiện lịch sử trọng đại này.

Cảnh trong phim “Em bé Hà Nội”. Ảnh tư liệu

NSND Bùi Đình Hạc kể, cuộc đời của ông chứng kiến trọn vẹn 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc. Khi Hà Nội gồng mình trong 12 ngày đêm khói lửa, ông là một trong những người được chứng kiến tận mắt. Đến nay, dù 40 năm nhưng mỗi lẫn đi qua những con phố, góc đường, vị đạo diễn già vẫn hình dung được không khí tang thương ngày ấy. Phố Khâm Thiên sau trận đánh chỉ còn là một đống đổ nát. Những chiếc xe tải chở quan tài chạy dọc trên phố… Nhưng từ đau thương ấy, Hà Nội vẫn vượt lên, dũng cảm chiến đấu và chiến thắng. Đó chính là những “chất liệu” chân thực để NSND Bùi Đình Hạc làm nên sự thành công của “Hà Nội 12 ngày đêm”.

Với quan niệm làm phim về chiến tranh nhưng không được căng thẳng, lên gân mà phải đi sâu vào tình cảm con người, từ một trận đánh cụ thể, một nhân vật cụ thể để khái quát lên bản lĩnh của cả dân tộc, lý giải với bạn bè quốc tế cũng như thế hệ sau này rằng trong những giây phút khó khăn nhất, chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng như thế nào. Vì thế, Hà Nội của năm đầu thập kỷ 70 trong phim của đạo diễn Bùi Đình Hạc cũng mang nét đặc trưng thường thấy: Những cô gái mặc áo dài dịu hiền và lãng mạn; những chàng trai điềm đạm dễ gần nhưng bước vào cuộc chiến, họ trở thành con người quyết liệt và mạnh mẽ. Không chỉ nói về chiến tranh mà còn là tình yêu, là sự gắn kết con người Hà Nội với nhau. Giữa 12 ngày đêm ác liệt ấy, bỗng có một ngày nô -en hòa bình, trong không gian của đồng ruộng bát ngát, một ngôi nhà nhỏ yên bình, Tiểu đoàn trưởng tên lửa Đặng Nhân (Quốc Tuấn đóng) và cô du kích xã tên Hiền (Hoàng Nhật Mai) được tận hưởng một đêm trọn vẹn tình vợ chồng. Lại cảnh gầm rú của B -52, sự căng thẳng trên từng gương mặt chiến sĩ vì thiếu đạn. Nữ bác sĩ xinh đẹp Thủy Tiên (Mai Thu Huyền) mới đây còn say sưa ngắm một giò lan mới nở hoa, thoắt cái đã trút hơi thở cuối cùng trong đống đổ nát của Bệnh viện Bạch Mai sau một đợt máy bay Mỹ oanh tạc. Giữa ầm ào súng đạn, có những người tình nguyện ở lại pha cà phê phục vụ chiến sĩ… Trong sự kết hợp liên hoàn của ngôn ngữ điện ảnh, “Hà Nội 12 ngày đêm” – như lời của NSND Bùi Đình Hạc, mục đích cuối cùng là đem đến cho khán giả những xúc cảm về sự lớn lao của con người Hà Nội trong chiến đấu.

Với NSND Lan Hương, khi nhắc lại kỷ niệm vào vai Ngọc Hà trong “Em bé Hà Nội”, chị nói 40 năm rồi chị vẫn giữ vẹn nguyên cảm xúc: “Tháng 12-1972, khi ấy tôi 9 tuổi sống cùng ông bà ngoại ở phố Hoàng Hoa Thám. Tôi không biết ký ức về những ngày ấy trong trí nhớ của những đứa trẻ 9 tuổi khác như thế nào, nhưng trong ký ức của tôi đó là nỗi kinh hoàng. Tôi còn nhớ đêm đầu tiên Mỹ ném bom, rất bất ngờ, cả nhà tôi chỉ kịp nhìn thấy chớp giật ầm ầm, sau đó là tiếng la hét, tiếng khóc, tiếng gào vang lên từ khắp các phố. Gia đình tôi lao ào ra hầm trú ẩn cá nhân. Sáng sớm hôm sau, Thành phố hoang tàn, đổ nát”. Từ những ký ức kinh hoàng chân thực về những trận ném bom mùa đông năm 1972, nên khi được chọn vào vai Ngọc Hà, Lan Hương đã diễn bằng tất cả cảm xúc thật, tình cảm thật, Lan Hương đã có một vai diễn xuất sắc khi mới 10 tuổi, và “đóng đinh” tên tuổi “Em bé Hà Nội” với chị đến ngày nay.

Nhắc đến “Em bé Hà Nội”, đạo diễn, NSND Hải Ninh bồi hồi kể, khi đưa phim “Em bé Hà Nội” đi chiếu ở Nhật Bản, sau mỗi buổi chiếu rất đông khán giả khóc, có khán giả xúc động hỏi những câu như tại sao người Việt Nam lại có thể bình tĩnh đến thế trong hoàn cảnh ngặt nghèo đến thế: “Tôi trả lời, nếu không bình tĩnh thì không thể đối phó với bom, đạn của Mỹ. Có người hỏi về việc em bé Hà Nội luôn mang theo cây đàn, phim kết thúc cũng bằng cảnh kéo đàn. Tôi giải thích cho họ biết cây đàn là một ẩn dụ về hòa bình, và khát khao được học tập trở lại, được đến trường của trẻ em Hà Nội”.

Viết tiếp bản hùng ca

Không ít băn khoăn, giới văn nghệ nước nhà, nhất là các nghệ sĩ điện ảnh đang mắc nợ với những thời khắc của lịch sử, bởi ngày nay chúng ta chưa có nhiều những bộ phim, tác phẩm điện ảnh xứng tầm với lịch sử dân tộc. Nhưng thật khó!- như lời của đạo diễn Nguyễn Xuân Cường-người đang làm bộ phim truyền hình dài 50 tập “Cao hơn bầu trời”, phim do Công ty TNHH một thành viên phim Giải Phóng và Quân chủng PK -KQ phối hợp sản xuất, thì điều cơ bản là nguồn kịch bản phim ít, người làm phim tâm huyết với đề tài lịch sử của dân tộc cũng ít, thêm vào đó là kinh phí đầu tư cho dự án phim lịch sử rất tốn kém. Đạo diễn Xuân Cường cho biết, khi được giao làm “Cao hơn bầu trời” anh đã rất lo, vì phim được đầu tư rất lớn, tái hiện toàn bộ cuộc chiến vừa khốc liệt, vừa oanh liệt của những ngày cuối năm 1972 Hà Nội; vốn sống và kinh nghiệm làm phim lịch sử chưa nhiều, phải tra cứu lịch sử và gặp gỡ trao đổi với các nhân chứng lịch sử hàng năm trời… Nhưng đạo diễn Nguyễn Xuân Cường nói, anh rất vinh dự vì những người con miền Nam như anh được làm về cuộc chiến của những người con miền Bắc, trên đất Bắc. Phim “Cao hơn bầu trời” dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 12 – 2013.

Đại tá Vũ Văn Chính, Giám đốc Điện ảnh Quân đội tự hào khi nhắc đến những bậc đàn anh từng một thời ôm máy quay ở khắp các chiến trường, trong đó phải kể đến thời khắc lịch sử 12 ngày đêm năm 1972. Họ là những người luôn đối diện giữa sự sống -cái chết như: Quốc Nhàn, Lê Thi, Xuân Thu, Hà Tài, Trần Gia Định, Ngô Đặng Tuất, Vương Đức Cừ, Phạm Hữu Doanh… để ghi lại những giờ phút lịch sử của quân và dân gồng mình chiến đấu – nguồn tư liệu âm thanh, hình ảnh sống động, chân thực quý giá cho các thế hệ làm phim. Để sau đó là những bộ phim tài liệu ra đời, gây tiếng vang với khán giả trong nước và quốc tế như: “Hà Nội đánh giỏi thắng lớn”, “Hà Nội bản hùng ca”, “Hà Nội tháng Chạp năm ấy”, “Một ngày Hà Nội”… Mới đây, nhân kỷ niệm 40 chiến thắng Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không, các nghệ sĩ Điện ảnh Quân đội lại bắt tay thực hiện bộ phim tài liệu “40 năm chiến thắng Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”, thực hiện phim tài liệu minh họa cho chương trình Lễ kỷ niệm cấp Nhà nước. Đặc biệt phải kể đến bộ phim tài liệu “Gió ngang”, phim lấy ý tưởng từ tác phẩm văn học “Gió ngang, những điều không thể thiếu trong cuộc chiến tranh đường không” của GS, TS lịch sử quân sự Mỹ E. Tinpho, với ý nghĩa những “Siêu pháo đài bay”, “Thần sấm”, “Con ma” Mỹ đã bị cơn “Gió ngang” – lịch sử, văn hóa Việt Nam quật ngã. Cơn “Gió ngang” mà nhà sử học quân sự Mỹ tìm cách lý giải lý do thất bại của Chiến dịch Lanebacker II và toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ chính là truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam, sức mạnh của “Gió ngang” là sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa, từ lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân, đến tấm lòng yêu chuộng hòa bình và chân lý của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới… Phim đang trong quá trình hoàn thiện và ra mắt khán giả dịp đầu năm mới 2013.

Hy vọng, trong những năm tiếp theo, các nhà làm phim, diễn viên điện ảnh bằng tình cảm, nhiệt huyết và nghệ thuật sẽ còn tiếp tục miêu tả sống động và chân thực cuộc chiến này với những cách nhìn mới, tiếp cận mới để đưa đến khán giả những thước phim ý nghĩa, nêu bật ý chí kiên cường của quân và dân Việt Nam.

VƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Tiến công chiến lược ở miền Nam và đánh bại B-52 ở miền Bắc năm 1972-Những đòn quyết định buộc Mỹ ký Hiệp định Pa-ri

QĐND – Thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường chính miền Nam, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất trên miền Bắc thực sự là những đòn đánh quyết định làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt đánh phá miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri.

Tiếp đó, bằng nỗ lực vượt bậc của cả hậu phương và tiền tuyến, đồng thời được sự ủng hộ, giúp đỡ hiệu quả bạn bè quốc tế, quân và dân ta ở miền Nam khẩn trương củng cố thế và lực, mở tiếp chiến dịch Đường 9 -Nam Lào (1971), làm thay đổi cán cân so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho ta.

Theo dõi sự chuyển biến trên chiến trường, cân nhắc thế và lực của ta, tháng 5-1971, Trung ương Đảng quyết định: “Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua”[1]. Theo đó, Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu khẩn trương xây dựng kế hoạch tiến công chiến lược ở miền Nam năm 1972 (Quân uỷ Trung ương thông qua tháng 6-1971).

Đúng như kế hoạch, sau khi dồn sức làm công tác chuẩn bị, ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược đã nổ ra đồng loạt trên chiến trường miền Nam. Tại hướng chủ yếu Trị – Thiên và các hướng quan trọng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, ta mở ba chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, đập tan một số tuyến, khu vực phòng thủ mạnh, tiêu diệt và đánh thiệt hại nhiều đơn vị cấp trung, sư đoàn chủ lực cơ động của quân đội Sài Gòn. Đặc biệt, trên hướng Trị – Thiên, ta giải phóng tỉnh Quảng Trị. Ở đồng bằng Nam Bộ và Khu 5, ta cũng đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, mở rộng vùng làm chủ, giải phóng hàng triệu dân.

Thắng lợi 1972 ở miền Nam cộng hưởng với chiến công vang dội của quân và dân miền Bắc: bắn rơi 561 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 80 tàu chiến, phá hủy hàng nghìn quả thủy lôi, mìn từ trường của Mỹ (6.4 – 22.10.1972), đã buộc Mỹ phải chấp thuận bản dự thảo “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” do ta soạn thảo (8-10-1972) và dự định ngày ký kết chính thức[2]. Tuy việc chấp thuận này có phần liên quan đến cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào ngày 7-11-1972 (Ních-xơn tái tranh cử), nhưng đây thực sự là một thắng lợi lớn của ta. Bởi, nếu không có thắng lợi quyết định 1972 thì làm sao có sự chấp thuận này của Mỹ.

Với bản chất ngoan cố và xảo trá, sau chính thức bước vào Nhà Trắng lần hai, chính quyền Ních-xơn tìm mọi lý do để ép ta sửa đổi nhiều nội dung căn bản của Hiệp định. Tất nhiên, ta không thể chấp thuận. Hội nghị Pa-ri bế tắc. Ngay tức khắc, Ních-xơn quyết định sử dụng không lực để “tạo ra một cú sốc” (Sock dologer) – mở cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng điểm khác trên miền Bắc. Với lực lượng tập trung cho cuộc tập kích gồm 193 máy bay B-52 (chiếm 50% số B-52 của Mỹ), gần 50 máy bay F-111 và hơn 1.000 máy bay tiêm kích, 6 liên đội tàu sân bay, hàng chục máy bay KC.135 tiếp dầu trên không… Ních-xơn tin rằng sẽ làm “mềm xương sống” của Hà Nội, buộc Chính phủ ta phải ký Hiệp định Pa-ri theo hướng có lợi cho Mỹ.

Với bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, từng được tôi luyện trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, được chuẩn bị chu đáo mọi mặt từ nhiều năm trước đó, quân và dân Thủ đô Hà Nội thề quyết tâm “… thà hy sinh tất cả, chứ không chịu khuất phục… Không có gì quý hơn độc lập tự do”[3]. Và, chúng ta cũng không bị bất ngờ trước thủ đoạn xảo trá của giới cầm quyền Mỹ; bởi ngay từ tháng 9-1967, khi bộ đội tên lửa của Quân chủng PK-KQ đã bắn rơi B-52 Mỹ ở Vĩnh Linh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội”, vì “trước khi thua ở Triều Tiên, Mỹ đã hủy diệt ở Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội”[4]. Đây chính sự cảnh báo sớm cho quân và dân Thủ đô yêu dấu chủ động đón nhận thách thức “nảy lửa” này.

Đúng như lời Bác, từ đêm 18 đến 29-12-1972, Mỹ đã tổ chức mỗi đêm từ 2 đến 3 đợt đánh phá, với số lượng trung bình 54 – 60 lần/chiếc B.52. Lực lượng yểm trợ cho mỗi đợt thường là 1 tốp 4 máy bay tiêm kích F.4 đánh chặn máy bay và 1 tốp máy bay cường kích F.105 làm nhiệm vụ chế áp tên lửa của ta. Mỗi tốp B-52 có 1 tốp F-4 hộ tống trực tiếp từ khu vực tiếp cận mục tiêu. Ngoài ra, mỗi đêm chúng còn sử dụng từ 10 đến 25 lần/chiếc F.111 oanh tạc ở tầm thấp xen kẽ các các đợt đánh của B-52, nhằm nghi binh tạo bất ngờ cho B-52 vào tiếp cận mục tiêu đánh phá[5].

Tuy chúng có gây cho nhân dân ta những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, nhưng với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương lân cận, với tất cả những vũ khí và phương tiện có trong tay, đã ngoan cường, thông minh, sáng tạo đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của không quân Mỹ, bắn rơi 81 máy bay, gồm 34 máy bay B-52, 5 F-111 và 42 máy bay chiến thuật khác. Riêng quân và dân Thủ đô bắn rơi 25 chiếc B-52, làm nên một “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” vang động khắp năm châu, chấn động địa cầu. Cũng từ đây, làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ bùng phát mạnh mẽ hơn bao giờ hết; làm cho “uy tín của Mỹ trên thế giới tụt xuống mức thấp nhất chưa từng có. Phản ứng trên khắp thế giới sẽ càng thêm gay gắt”[6]. Biết không thể đảo ngược được tình thế, sáng 30-12-1972, Ních-xơn tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn, vô điều kiện đối với miền Bắc, quay trở lại bàn đàm phán Pa-ri và ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973).

Đến đây chúng ta đã hoàn toàn thực hiện được quyền tự quyết dân tộc của mình trên mọi phương diện – điểm “vượt trội” của Hiệp định Pa-ri so với Hiệp định Giơ-ne-vơ cách đó 21 năm tròn. Mặt khác, theo Hiệp định, toàn bộ quân chiến đấu Mỹ phải rút khỏi miền Nam, nhưng phải chấp nhận việc ở lại hợp pháp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến đây, quân và dân ta đã thực hiện được một bước lời huấn thị của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút”, mở ra điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 – “Đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

——————

[1] BQP-VLSQSViệt Nam, Cuộc kháng chiến chóng Mỹ cứu nước 1954 – 1975, Những sự kiện quân sự, H.1988, tr.246.

[2] Theo kế hoạch, Hiệp định sẽ được chính thức ký ở Hà Nội ngày 22-10-1972 và ký ở Pa-ri ngày 30-10-1972.

[3] Trích Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 26-10-1972.

[4] “Kính dâng Bác chiến công lịch sử này”, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 24 (12-1987).

[5] Riêng với Thủ đô Hà Nội, trong cuộc tập kích 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Mỹ đã huy động tới 444 lần/chiếc B-52, 1.004 máy bay chiến thuật và sử dụng gần 10.000 tấn bom đạn các loại…

[6] Báo Nhân dân, ngày 28-12-1972.

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
qdnd.vn

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa

LTS: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, giành độc lập tự do cho dân tộc – tổ tiên ta, cha ông ta đã làm nên biết bao chiến công hiển hách. Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa hiển hách còn đó; và còn cả những lần Kinh thành Thăng Long bỏ trống chấp nhận ngoại bang giày xéo để đợi đến ngày phục hận…

Ga Hàng Cỏ, bệnh viện Bạch Mai bị bom Mỹ tàn phá – ảnh tư liệu

Thế kỉ XX, tiếp nối truyền thống đánh giặc giữ nước, kế thừa, phát huy kinh nghiệm và nghệ thuật quân sự của cha ông, toàn dân tộc Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ vĩ đại đã liên tục tiến hành những cuộc chiến đấu bảo vệ, giải phóng đất nước, viết nên trang sử vàng chói lọi trong biên niên sử dựng nước và giữ nước.

12 ngày đêm cuối năm 1972, Hà Nội thay mặt cả nước quật cường chiến đấu và chiến thắng siêu pháo đài bay B52 của không quân Mỹ, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”, một mốc son chói lọi. 40 năm đã qua, giá trị của chiến thắng này trong toàn cục cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước càng rực sáng. Nhân 40 năm Hà Nội chiến thắng B52, ĐĐK cùng bạn đọc nhớ lại những ngày đau thương và oai hùng đó, từ số báo đúng ngày này cách đây 40 năm (18-12-1972 / 18-12-2012) B52 giặc Mỹ rải thảm Thủ đô Hà Nội.

[Bài 1: Hà Nội chờ giặc tới]
[Bài 2: Hà Nội đau thương]
[Bài 3: Hà Nội quật cường]
[Bài 4: Hà Nội chiến thắng]
[Bài 5: Tài tình nghệ thuật quân sự Việt Nam: “Dụng binh như thần” ]

ĐĐK
daidoanket.vn

Nhanh như… “Sóng Điện”

QĐND – Chúng tôi đến Đoàn Thông tin Sóng Điện (Lữ đoàn 26, Quân chủng Phòng không – Không quân) đúng dịp cán bộ, chiến sĩ ở đây đang phấn đấu thi đua đạt thành tích cao nhất trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thiết thực kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (20-7-1965), Trung đoàn (nay là Lữ đoàn) đã tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, bảo đảm thông tin thông suốt, phục vụ bộ đội không quân, tên lửa, pháo phòng không chiến đấu và chiến thắng không quân của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc. Đặc biệt, trong Chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972, đơn vị đã cùng quân, dân cả nước nói chung, bộ đội phòng không – không quân nói riêng và quân dân thủ đô Hà Nội làm nên một “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày ấy, cán bộ, chiến sĩ của đơn vị suốt đêm ngày không ngủ, dưới những làn mưa bom, bão đạn của quân thù, bình tĩnh thu các tín hiệu thông tin của ra-đa; hoặc đọc chính xác các thông tin phát trên mạng tình báo B1 (thông tin báo động) toàn quốc; đánh dấu tọa độ đường bay của máy bay địch… phục vụ bộ đội ta chiến đấu. Trong Chiến dịch 12 ngày đêm năm ấy, dưới đám nhiễu dày đặc của máy bay địch, lọc được nhiễu, “bắt” chính xác các tốp máy bay, đặc biệt là B-52 trở nên cực kỳ khó khăn. Nhưng với ý chí và nghị lực, bằng đôi mắt tinh tường, đôi tai thính, cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều người còn nhớ tới nữ chiến sĩ một tuổi quân Nguyễn Thị Hường – cô gái vùng đất vải thiều Thanh Hà (Hải Dương) nổi tiếng đã phát hiện, đánh dấu tọa độ đường bay B-52 đầu tiên vào Hà Nội đêm 18-12-1972.

Các chiến sĩ tiêu đồ Đoàn Thông tin Sóng Điện đánh dấu tọa độ đường bay.

Đoàn Thông tin Sóng Điện giờ đây đã có một “cơ ngơi” khá khang trang, bề thế. Lớp chiến sĩ trẻ hôm nay của đơn vị cũng đã có những bước trưởng thành mới. Đại tá Khương Minh Cương, Chính ủy Lữ đoàn 26 hồ hởi thông báo: “Năm nào, đơn vị cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu rất cao, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt. Những năm gần đây, năm nào chúng tôi cũng được Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân chủng khen thưởng”.

Đến Tiểu đoàn 16, chúng tôi gặp Trung sĩ Nguyễn Thị Minh, người con gái vùng đất Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) trước giờ vào ca trực. Minh cho biết, sau khi học lớp tự động hóa đường bay tháng 6-2011, cô chính thức được tham gia làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu. Gần 2 tuổi quân, Minh vừa được Đảng ủy Lữ đoàn xét kết nạp vào Đảng. Một sự ghi nhận cố gắng nữa của cô gái đất nhãn lồng là năm 2012 này, Minh được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và là “Gương mặt thanh niên tiêu biểu năm 2012” của Quân chủng. Chứng kiến buổi kiểm tra tiêu đồ tại đây, nhìn những nữ binh nhì mới chưa đầy một tuổi quân, tay kẹp cây bút chì xanh đỏ, tai đeo cáp, mắt chăm chú nhìn vào tấm bản đồ trên bảng mi-ca trong suốt, họ đang “vẽ” lên những đường bay giả định từ nhiều hướng, nhiều tọa độ khác nhau phục vụ sở chỉ huy xử lý tình huống nhanh chóng và chính xác. Binh nhì Bùi Thị Hà, quê ở Tiền Hải, Thái Bình thổ lộ: “Lúc đầu, nghe tín hiệu báo vụ, đánh dấu tọa độ trên bản đồ khó lắm, nhưng được các anh, các chị đi trước hướng dẫn, bây giờ chúng tôi không những quen rồi mà còn “đi” chì nhanh và chính xác nữa!”. Còn Binh nhì Lê Thị Thảo, quê ở Ý Yên, Nam Định giọng đầy tự hào: “Chúng tôi rất tự hào vì được kế thừa truyền thống của các chị đi trước…”.

Gặp những chiến sĩ trẻ măng đang đứng xếp hàng chuẩn bị vào ca trực, chúng tôi thầm nghĩ: Họ đã và đang là những “chủ nhân” thực sự của Đoàn Thông tin Sóng Điện anh hùng trong việc làm chủ khoa học kỹ thuật, xứng đáng với truyền thống “Kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn” của bộ đội thông tin liên lạc mà các thế hệ cha anh đã xây dựng và vun đắp.

Bài và ảnh: LÊ QUÝ HOÀNG
qdnd.vn

Tháng ngày oanh liệt trong căn hầm đặc biệt

Nằm trong khu vực Hoàng thành Thăng Long, Hầm chỉ huy tác chiến – Bộ Tổng tham mưu được đánh giá là một trong những di tích Cách mạng – Kháng chiến quan trọng hàng đầu, góp phần vào thành quả vĩ đại của sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, Hầm chỉ huy tác chiến đã chính thức mở cửa đón khách tham quan.

Đồng chí Đào Đình Luyện – Tư lệnh binh chủng
Phòng không không quân báo cáo Bộ Tổng Tham mưu
kế hoạch chiến đấu bảo vệ vùng trời Hà Nội

“Tổng hành dinh quân sự”

Xây dựng từ những ngày đầu Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất (cuối năm 1964 đến đầu năm 1965), Hầm chỉ huy tác chiến do Trung đoàn 259 – Cục Công binh thiết kế và thi công. Diện tích 64m2 được đúc bằng bê tông cốt thép nguyên khối, hầm được chia làm 3 phòng chính gồm phòng giao ban và phòng trực ban tác chiến, phòng đặt trang thiết bị, động cơ.

Theo Đại tá Đặng Phan Thái, cửa hầm bằng thép tấm, 2 lớp, chống được sức ép nguyên tử và tia phóng xạ cũng như hơi độc. Trong hầm có hệ thống điều hòa nhiệt độ bằng hơi nước và thông hơi, lọc độc, chống nhiễu từ… Nội thất hầm, đồng bộ với hệ thống tiêu đồ, thông tin liên lạc, còi báo động, loa phóng thanh thông báo về máy bay địch. Đặc biệt, 28 máy điện đàm trong hầm luôn đảm bảo liên lạc thông suốt để kịp thời tổng hợp tình hình mới nhất của các Bộ, báo cáo tình hình với cấp trên, nhận mệnh lệnh và phát lệnh.

Đây là nơi làm việc liên tục 24/24 giờ của kíp trực Ban tác chiến (khoảng 10 người) do Cục Tác chiến của Bộ Tổng tham mưu đảm nhiệm với nhiều nhiệm vụ quan trọng, trên khắp các chiến trường miền Bắc, miền Nam và Đông Dương; cả trên bộ, trên không và dưới biển. Với thủ đô Hà Nội, phải báo động kịp thời cho nhân dân phòng tránh máy bay địch.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng tham mưu, người được điều động về Hầm từ đầu năm 1968 nhớ lại, với vai trò là Trung tâm chỉ huy của Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, tất cả các sự kiện của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra đều có sự tham gia tích cực từ Hầm chỉ huy tác chiến. Mà điển hình nhất là chỉ huy đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân suốt 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 vào Hà Nội của không quân Mỹ.

Ảnh: TL

Giọt nước mắt trong hầm

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh đã được sống trong “những giây phút không cầm được nước mắt, ôm choàng lấy nhau” giữa Hầm chỉ huy tác chiến khi nghe tin từ đài quan sát trong Hoàng thành, chiếc máy bay B52 đầu tiên bị bắn rơi: “Lúc ấy, trong hầm chỉ huy có các đồng chí lãnh đạo cao cấp như Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Yên Mai, Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng… và chúng tôi, những người trong kíp trực ban, các tiêu đồ viên, liên lạc viên… Tất cả đều vui mừng khôn xiết. Ngay sau đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng gọi điện thoại biểu dương bộ đội phòng không Hà Nội”.

Trước đó, khi nhận được nhiều tin tức tình báo quân sự cho thấy, Mỹ đang tập trung lực lượng quân sự không quân và hải quân để thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, các cán bộ Cục Tác chiến, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Ninh được yêu cầu trực 24/24h dưới hầm. Nhờ thế mà khi nhận được tin cấp báo của đồng chí Phan Mạc Lâm, cán bộ của Cục Quân báo và sau đó bộ đội ra-đa phòng không bắt được tín hiệu nhiều tốp B52 đang bay dọc sông Mêkong để ra phía Bắc, nhóm trực ban tác chiến đã hội ý và quyết định báo cáo ngay với đồng chí Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng. Do tình hình nguy cấp, thiếu tướng Ninh đã liều xin phép đồng chí Văn Tiến Dũng được kéo còi báo động phòng không sớm. Đồng chí trả lời “Được” và nói sẽ đến Hầm ngay… Mỗi người phụ trách một việc: báo cáo qua điện thoại ưu tiên số 1 với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, mở micro thông báo tình hình cho Đảng, chính phủ, Quốc hội, Chủ tịch nước… Riêng Thiếu tướng Ninh lĩnh nhiệm vụ ấn còi báo động phòng không không quân, khi đó đặt trên Hội trường Ba Đình, nóc nhà Quốc hội. Từng hồi còi rú lên rất lâu và khẩn thiết để thông báo với đồng bào rằng giặc sắp ném bom, đồng bào phải xuống hầm ngay. Việc báo động đã được thực hiện trước khi bom rơi 25 phút.

Vẹn nguyên giá trị lịch sử

Theo Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội Nguyễn Văn Sơn, Trung tâm đã phối hợp với nhiều cơ quan, đơn vị để phục hồi, tu bổ lại di tích đặc biệt này bởi qua mấy chục năm đóng cửa, các thiết bị trong hầm phần lớn đã bị hỏng… Sau nhiều nghiên cứu, khảo sát và gặp gỡ nhân chứng lịch sử, tổ chức hội thảo khoa học,… được tiến hành trong hai năm qua, di tích Hầm chỉ huy tác chiến đã chính thức mở cửa để đón khách tham quan.

Bước qua cửa hầm, du khách có thể nhận ra bốn cabin trực điện thoại phục vụ chỉ huy chiến đấu còn đó. Mỗi hiện vật như radio, quạt, la bàn, thước chỉ huy… trong phòng trực ban tác chiến hay các bức ảnh tư liệu, bản đồ chiến sự, bản đồ căn cứ không quân, hải quân và binh lực chủ yếu của Mỹ cùng đồng minh, bản đồ lực lượng phòng không – không quân bảo vệ miền Bắc… đã làm sống lại căn hầm khi xưa với trọn vẹn tầm quan trọng của lịch sử. Không chỉ cho hôm nay mà còn mãi mãi về sau.

G.Anh
daidoanket.vn

Người trẻ và những câu chuyện của thế hệ đi trước

QĐND – Buổi sinh hoạt chính trị với chủ đề “Bài học công tác Đảng, công tác Chính trị trong Chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972” của Hệ đào tạo cán bộ chính trị trung, sư đoàn quân chủng và Bộ đội Biên phòng thuộc Học viện Chính trị diễn ra sôi nổi. Những sĩ quan chính trị vốn sinh ra sau chiến tranh rất hào hứng và tập trung đề cập nhiều đến kinh nghiệm xây dựng yếu tố chính trị tinh thần trong Chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972. Đại úy Đinh Đức Việt, học viên lớp không quân 26 chia sẻ: “Được giao lưu với những nhân chứng lịch sử trong Chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972 và đọc các tài liệu, giúp chúng tôi hiểu sâu sắc về phương pháp xây dựng nhân tố chính trị tinh thần cho bộ đội trong huấn luyện, và SSCĐ. Do đó, trong mọi tình huống phải nắm chắc và dự báo đúng âm mưu thủ đoạn của địch để cấp ủy, người chỉ huy có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chiến đấu sát đúng”.

Học viên Học viện Chính trị trao đổi thông tin đăng trên Báo Quân đội nhân dân về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Còn với Thiếu tá Trương Văn Chiến, học viên lớp phòng không 29 thì qua nghe các nhân chứng trực tiếp tham gia Chiến dịch 12 ngày đêm giúp anh học được phương pháp xây dựng động cơ thi đua cho bộ đội thực chất, thiết thực, hiệu quả. Dẫn chứng cho vấn đề này, anh Chiến cho biết: “Qua nghe các nhân chứng kể chuyện, tôi nhận thấy: Trong Chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972 thì mỗi biên đội, mỗi phi đội đều quyết tâm thi đua với nhau, lấy mục tiêu bắn rơi máy bay của đế quốc Mỹ hoặc hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt được giao làm thước đo. Xác định rõ mục tiêu, tạo động lực thi đua thực sự trong mỗi cán bộ, chiến sĩ là những vấn đề mà chúng tôi cần tiếp tục nghiên cứu, học hỏi”.

Buổi sinh hoạt chính trị thực sự có ý nghĩa đối với mỗi học viên. Đây không chỉ là cơ hội để mỗi học viên được ôn lại và hiểu sâu sắc thêm ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam; thấy được tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân, của thế trận phòng không nhân dân, mà thông qua đó, mỗi người tự rút ra cho mình những kinh nghiệm quý để nâng cao chất lượng học tập và công tác trên từng cương vị, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Bài và ảnh: MẦU VĂN HẢI
qdnd.vn

40 năm ra đời trường ca “Em ơi, Hà Nội phố”: Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa

Nhiều người trong chúng ta ngân nga ca khúc “Em ơi Hà Nội phố” của nhạc sĩ Phú Quang nhưng không phải ai cũng biết ca từ ở đó được lấy ra từ một trường ca cùng tên dài tới 24 đoạn với 272 câu thơ của nhà thơ tài hoa Phan Vũ. Một trường ca được sáng tác trong 10 ngày của tháng 12 năm 1972, giữa những lần tiếng còi hụ trên nóc Nhà hát Lớn vang lên và giọng Hà Nội chuẩn của cô phát thanh viên báo tin những đợt B52 vào thành phố.

Bức tự họa của họa sĩ Bùi Xuân Phái được vẽ vào đêm 19-12-1972
với khung cảnh chớp lửa của đạn bom, trong đợt oanh kích bằng B52 của Mỹ.
Ông tự vẽ mình với một cặp mắt mở to,
thể hiện một sự đón nhận đau đớn trước
hi sinh của những con người Hà Nội, nhưng bức họa cũng thể hiện
một tinh thần không sợ hãi
(bức tự họa này hiện ở trong tay một nhà sưu tập người Mỹ)

Thuở sinh viên, tôi từng chép tay toàn bộ trường ca “Em ơi, Hà Nội phố” vào cuốn sổ, và đinh ninh những câu thơ tài hoa và lãng mạn ấy phải được “chưng cất” giữa những ngày Hà Nội bình yên của một tâm hồn đang yêu. Mãi sau này mới biết những câu thơ như những trang nhật ký tâm hồn Hà Nội ấy được viết vào những ngày mùa đông 1972, khi B52 điên cuồng trút bom xuống Hà Nội. Năm 2009, trong đêm thơ nhạc “Phan Vũ và Em ơi, Hà Nội phố” do Đài Tiếng nói Việt Nam và Thư viện Hà Nội tổ chức, nhà thơ Phan Vũ đã kể lại: “Những ngày đó tôi và họa sĩ Bùi Xuân Phái rủ nhau đi lang thang trong đêm. Ông vẽ phố, còn tôi nghĩ về phố. Tôi viết bài thơ ấy trong khoảng 10 ngày. Nhà tôi ở phố Hàng Bún. Chiến tranh, người ta đi vắng hết. Bom đạn, cây cối nhà cửa đổ nát”.

Nhà thơ Phan Vũ, sinh năm 1926, nổi tiếng về tài hoa và hào hoa. Ông làm thơ, như trường ca “Em ơi, Hà Nội phố” đạt tới độ mẫu mực. Ông là tác giả của nhiều kịch bản điện ảnh và sân khấu nổi tiếng như: vở kịch “Lửa cháy lên rồi” (giải thưởng Văn học năm 1955), “Thanh gươm và Bà mẹ”, kịch bản phim “Dòng sông âm vang”… Ông là đạo diễn các phim: “Người không mang họ”, “Bí mật thành phố cấm”, “Như một huyền thoại” (phim về nữ anh hùng Võ Thị Sáu). Sau này, khi định cư ở TP. Hồ Chí Minh, lúc ở tuổi ngoài 70, ông cầm cọ vẽ và hơn 10 năm qua, ông có hàng chục cuộc triển lãm tranh trong nước và quốc tế. Phan Vũ còn nổi tiếng đào hoa với những mối tình đẹp như thơ mà nguyên mẫu trong bức tranh “Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ” chỉ là một trong số đó. Còn người vợ ông yêu quí chính là cố nghệ sĩ Phi Nga – nữ diễn viên nổi tiếng đóng vai chính trong bộ phim đầu tiên của điện ảnh cách mạng Việt Nam “Chung một dòng sông”.

“Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ” – tranh của Phan Vũ

Cả một trường ca “Em ơi, Hà Nội phố” dằng dặc, không có một câu nào nhắc tới những từ như khi viết về chiến tranh người ta vẫn hay viết. Không một câu lên gân, không hô hào. Da diết với những hoài niệm về một Hà Nội kiêu sa, tài tình trong khắc họa những ngày Hà Nội đau thương vì bị hủy diệt:

Một tháng chạp
Con đường ngẩn ngơ
Dãy phố không người ở
Những khu trắng nằm trong tọa độ
Sập gụ, tủ chè, sách xưa và bình cổ
Dòng chữ phấn ghi trên cánh cửa
Tất cả thí thân cho một mất một còn
Lời thề ra đi của những người bỏ phố
“Còn một đống gạch còn trở về nhà cũ!”
Một tháng chạp
Phường phố rền vang còi hụ
Cái chết đến tự phương nào?
Cách Thủ đô bao nhiêu cây số?
Giọng Hà Nội thật ngọt ngào
Cô gái loan truyền tin bão lửa
“Hỡi đồng bào! Hỡi đồng bào!”
Một tháng Chạp
Cây bàng mồ côi mùa đông
Mảnh trăng mồ côi mùa đông
Nóc phố mồ côi mùa đông…
Tháng Chạp năm ấy in hình bao mộ phố…

Nhưng trên tất cả, Hà Nội vẫn vang lên “Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ”. Bây giờ, nhìn về Hà Nội 12 ngày đêm 1972, qua trường ca “Em ơi, Hà Nội phố”, thấy diệu kỳ một Hà Nội trong đau thương vẫn tĩnh tại, đài các, kiêu sa, nồng nhiệt một tình yêu xứ sở và lạc quan lạ thường:

Ta còn em chiếc xe hoa
Qua hàng liễu rủ
Điệp vàng rực rỡ.
Cánh tay trần trên gác cao khép cửa.
Những gót son dập dìu đại lộ.
Bờ môi ai đậm đỏ bích đào
Ta còn em tà áo nhung huyết dụ.
Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa,
Phường cũ lưu danh người đẹp lụa
Ngõ phố nào in dấu hài hoa…?

Có những nhà nghiên cứu đã đếm trong trường ca này, 24 đoạn là 24 lần Phan Vũ gọi: Em ơi, Hà Nội phố. Còn điệp khúc “Ta còn em” được nhắc tới mấy chục lần như một lời khẳng định đầy kiêu hãnh: Hà Nội mãi còn, một Hà Nội “nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa”.

40 năm sau chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, 40 năm ra đời trường ca “Em ơi, Hà Nội phố”, vọng lại trong lòng người những câu thơ khắc khoải:

Tháng Chạp
Đôi tân hôn chưa kịp nằm chiếu hoa
Đã có tên
Trong vòng hoa tưởng niệm
Một tháng Chạp
Trắng khăn sô
Khói hương dài theo phố…
Một tháng chạp
Thâu đêm
Mẹ
Thức
Hóa vàng…

Đã qua đi những ngày tháng Chạp “in hình bao mộ phố”, nhưng một tâm hồn Hà Nội giữa chiến tranh vẫn lãng mạn, kiêu sa với những câu thơ tài hoa vào bậc nhất của nền thơ ca hiện đại thì mãi còn, tạc lên một tượng đài Hà Nội bất tử.

Cẩm Anh
daidoanket.vn

Nhạc sĩ Phạm Tuyên: Sức mạnh của niềm tin và hy vọng

“Hai bài hát ra đời trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, tôi viết lúc ấy là để nói lên tình cảm của mình là chính, nhưng đồng thời nó cũng rất hòa nhập với tình cảm của người dân Hà Nội lúc ấy. Có một thực tế, người Hà Nội lúc đó rất kiên định, ứng xử với nhau có tình có nghĩa, rất quý mến mảnh đất này. Những gia đình còn lại ở đó không khóa cửa, người dân động viên nhau cùng vượt qua khó khăn…  Bên cạnh những công lao rất vĩ đại của lực lượng Phòng không – Không quân, dân quân tự vệ, thì có sức mạnh của nhân dân”.

Xác máy bay B52 Mỹ bị bắn
rơi tại đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội

Ảnh: TL

Những ngày này, khi cả nước kỷ niệm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, người ta nhắc nhiều hơn đến những nhạc sĩ đã cho ra đời kịp thời thứ “vũ khí sắc bén” bằng âm nhạc, để giữa những ngày Hà Nội đạn bom vẫn vang lên tâm hồn và ý chí Hà Nội bất diệt,  góp phần vào chiến thắng vang dội ấy. 40 năm sau, một buổi sáng Hà Nội mưa phùn, trong căn phòng tràn ngập những sách vở và các kỷ vật liên quan tới cuộc đời âm nhạc gắn liền với những mốc lịch sử dân tộc, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã trò chuyện về một thời Hà Nội kiêu hùng, một thời “tiếng hát át tiếng bom”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên
Ảnh: Hoàng Long

Nhập vào cuộc sống của nhân dân

Thưa nhạc sĩ, được biết, những ngày “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, ông đang công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam – một mục tiêu quan trọng mà B52 của Mỹ rất muốn xóa bỏ?

– Trong chiến tranh, làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam là vô cùng quan trọng, thông tin cho toàn thế giới, không chỉ phát tin tức mà còn các chương trình nghệ thuật. Hồi đó, Đài cũng là kênh duy nhất chuyển tải được âm thanh. Người lính, người dân khi đó chủ yếu thuộc bài hát qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Vì thế dễ hiểu những trọng điểm Mỹ muốn phá hủy là các trạm phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, để không có thông tin nào phát được ra với nhân dân, với toàn thế giới và như thế thất bại của ta sẽ trông thấy rõ.

Vậy nhưng giữa những đợt bom B52 dải thảm, vẫn vang lên trên sóng phát thanh những lời ca tức khắc thúc giục và động viên quân và dân Hà Nội?

– Dù bom đạn ác liệt đến đâu chúng tôi vẫn kiên quyết bám trụ cơ quan, hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chúng tôi ý thức rất rõ về tác dụng của lời thơ, tiếng nhạc trên làn sóng trong những ngày cuối năm 1972 ấy đối với đồng bào cả nước, nhất là chiến sĩ và đồng bào lớn ở tiền tuyến lớn miền Nam. Bên cạnh những bài hát động viên các lực lượng ở miền Bắc, chúng tôi còn có riêng chuyên mục “Tiếng hát gửi về Nam”, nói lên tình cảm của cả nước. Có bất cứ bài nào của miền Nam gửi ra đều được dàn dựng, các bài của nhạc sĩ Trần Hoàn lúc đó ở Bình Trị Thiên gửi ra, rồi của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước gửi ra được dựng ngay và đưa lên làn sóng, qua đó âm nhạc đến với mọi người nhanh hơn. Cũng chính vì đã sống trong những ngày tháng khốc liệt đó mà rất nhiều nhạc sĩ đã viết được những ca khúc rất hào sảng, như nhạc sĩ Phan Nhân có “Hà Nội niềm tin và hi vọng” với những giai điệu rất tuyệt vời: “Hà Nội đó niềm tin yêu hy vọng, của núi sông hôm nay và mai sau/ Chân ta bước lòng ung dung tự hào, kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao (…) Hà Nội chúng ta vọng lời thiết tha, át tiếng bom rền”.

Trường hợp của tôi cũng có cái duyên nợ. Trong mấy chục năm tôi làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tố chất nhà báo cũng có ở trong cái chức trách văn nghệ sĩ của mình. Vì ở Đài, mọi diễn biến của xã hội, thăng trầm của đất nước cũng đều tác động đến mình, tự nhiên dù muốn hay không khi mình nhập vào cuộc sống của nhân dân sẽ tạo cảm hứng để viết lên những tác phẩm âm nhạc. Khi tôi bước vào cuộc đời sáng tác trên mặt trận văn nghệ, về mặt tình cảm mà nói, tôi chỉ sáng tác khi nào tình cảm của người viết đồng cảm với mọi người thì sẽ có sức lan tỏa. Hai bài hát ra đời trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, tôi viết lúc ấy là để nói lên tình cảm của mình là chính, nhưng đồng thời nó cũng rất hòa nhập với tình cảm của người dân Hà Nội lúc ấy. Có một thực tế, người Hà Nội lúc đó rất kiên định, ứng xử với nhau có tình có nghĩa, rất quý mến mảnh đất này. Ít nơi nào trên thế giới, dưới bom đạn giặc Mỹ mà lại bình tĩnh được như vậy. Đi qua Bạch Mai, qua phố Khâm Thiên, các bà, các mẹ chít khăn tang vẫn dọn dẹp nhà cửa, thu dọn các đống gạch vụn trên phố… Những gia đình còn lại ở đó không khóa cửa, người dân động viên nhau cùng vượt qua khó khăn… Nhưng cuộc chiến thắng 12 ngày đêm này là cuộc chiến thắng của nhân dân. Bên cạnh những công lao rất vĩ đại của lực lượng Phòng không – Không quân, dân quân tự vệ, thì có sức mạnh của nhân dân.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên

Gác lại những mất mát riêng tư

Thưa nhạc sĩ, ông vừa nói tới hai bài hát ra đời trong tháng Chạp năm 1972. Ở bài “Hà Nội những đêm không ngủ”, ông gửi gắm rất nhiều tâm sự cá nhân trong đó mà cũng nói lên tình cảm chung của rất nhiều người?

– Có thể nói đúng là như vậy. Ngày 19-12-1972, Mỹ bắt đầu ném bom. Trưa hôm đó, địch lại ném bom trạm phát sóng ở Bạch Mai và khu tập thể Đại La của chúng tôi ở. Sáng sớm ngày 22-12, B52 lại ném bom rải thảm, lần này chúng đã biến khu tập thể của chúng tôi thành một đống gạch vụn. Vợ con tôi lúc đó đã đi sơ tán. Nhà của tôi cũng dính bom tan tành, cây đàn piano vỡ tung, tủ sách cũng cháy nham nhở, chỉ thấy còn một chiếc cặp sách rớt lại. Lúc đó tự dưng trong tôi trào dâng một cảm giác rất lạ: vừa đau thương, xót xa nhưng lại cũng rất đỗi tự hào. Tôi không còn nghĩ đến những mất mát riêng tư nữa. Đêm hôm ấy, trong một đợt báo động kéo dài, ngồi trong căn hầm ở ngay khu vực trọng điểm, tôi đã viết bài hát “Hà Nội những đêm không ngủ” để ghi lại hình ảnh của mình trong những ngày đầu của đợt tập kích của địch, thầm gửi tình yêu thương nhớ nhung đến vợ con lúc đó đang ở nơi sơ tán đêm đêm vẫn nhìn về vầng lửa đạn đang bao trùm cả Thủ đô.

Và ở bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ” ông đã cất lên tiếng nói đầy quyết liệt của người Hà Nội?

– Đêm 26-12, Mỹ lại ném bom dữ dội ở Hà Nội, buổi sáng giao ban của Đài Tiếng nói Việt Nam ngày hôm sau (27-12), đồng chí Trần Lâm thông báo Quân ủy Trung ương đã có ý kiến chỉ đạo là phải quyết tâm giành một trận Điện Biên Phủ trên không. Nghe từ “Điện Biên Phủ” lúc đó tôi thấy nó có một ý nghĩa rất khác, có sức lay động kì lạ. Đêm hôm ấy tôi đã ngồi trong hầm ở 58 Quán Sứ viết bài “Hà Nội – Điện Biên Phủ” với âm điệu hoàn toàn không du dương như bài “Hà Nội những đêm không ngủ” tôi đã viết mấy ngày trước đó, mà rất quyết liệt: “B52 tan xác cháy sáng bầu trời/ Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời/ Rồng ta lao vút tới vây bắt lũ hung thần khát máu/ Ý chí chúng ta đây mạnh hơn ngàn lần họng súng quân thù/ Một Điện Biên nay sẽ vùi mộng xâm lăng…/ Hà Nội đây! Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta/ Đâu chỉ vì non nước này phất ngọn cờ sao chiến đấu”…

Tiếng hát át tiếng bom
Ảnh: T.L

Bài hát này ngay sau đó đã được in trên báo Nhân dân, được truyền đi qua làn sóng phát thanh trong chương trình Tiếng hát về Nam đã cổ vũ to lớn cho tinh thần chiến đấu của nhân dân ta. Ông có thể chia sẻ cảm xúc của mình khi ấy?

– Tôi rất cảm động khi thấy bản nhạc đã được in trên báo Nhân dân ngày 29-12, giữa lúc địch còn chưa chấm dứt cuộc leo thang đánh phá, với nét chữ chép tay rất đẹp của nhạc sĩ Phan Nhân. Những ngày sau đó, ca khúc “Hà Nội – Điện Biên Phủ” được các đoàn văn công, các đoàn dân quân tự vệ hát rất hào hùng. Sau này, tôi có nghe nhạc sĩ, nhà báo Nguyễn Thụy Kha kể lại, anh em ở Quảng Trị đã khóc vì sung sướng, xúc động khi nghe bài hát này. Mấy nhà báo trong TP.HCM ra phỏng vấn tôi có nói là hồi đó, đêm 29-12-1972 nghe bài hát trên sóng phát thanh đã biết là Hà Nội sẽ chiến thắng.

Trân trọng cảm ơn ông!

Hoàng Thu Phố (thực hiện)
daidoanket.vn

Khâm Thiên – Gương mặt cuộc đời

Nhân kỷ niệm 40 năm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhà nghiên cứu Giang Quân cho ra mắt cuốn sách “Khâm Thiên – Gương mặt cuộc đời” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).

340 trang sách dành để “kể chuyện” con phố Khâm Thiên, nơi tác giả đang sống và chứng kiến nhiều đổi thay. Các phần viết ăm ắp những tư liệu về một thời B-52 Mỹ rải thảm hòng hủy diệt con phố này. Kế đó, gương mặt Khâm Thiên còn hiện lên qua các chương “Cái thú ả đào”, “Sênh phách một thời” cho độc giả những tư liệu  thú vị liên quan đến các đào nương Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm, Phó Thị Yến, Quách Thị Hồ… và nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng: Trần Tuấn Khải, Nguyễn Xuân Khoát, Thâm Tâm, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân,…

Ngoài ra cuốn sách còn dành riêng phần “Khâm Thiên trong chớp lửa bom chùm” để in bài viết của các nhà văn, nhà thơ Ngô Văn Phú, Hà Đình Cẩn, Nguyễn Sĩ Chung, Nghiêm Đa Văn…

HT
daidoanket.vn

Gắn kết nhân chứng với bảo tàng

Chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”

QĐND – Bảo tàng Phòng không – Không quân (PK-KQ) là một trong những bảo tàng đầu tiên trong cả nước triển khai chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” (đây là một phần của chương trình bảo tồn nhân chứng chiến tranh). Sau hơn một năm triển khai chương trình, Bảo tàng PK-KQ đã thu về được hàng nghìn phiếu bảo tồn nhân chứng, trong đó 500 phiếu liên quan trực tiếp đến sự kiện B-52. Chương trình mới này đã cung cấp những dữ liệu quan trọng giúp đơn vị làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.Từ mô hình đăng ký bạn chiến đấu

Đại tá Nguyễn Hữu Đạc, Giám đốc Bảo tàng PK-KQ cho biết:

– Ý tưởng ra đời chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” của đơn vị được hình thành từ năm 2008 khi xuất hiện cách làm của các cựu chiến binh (CCB) với mô hình đăng ký phiếu bạn chiến đấu.

Mô hình đăng ký phiếu bạn chiến đấu là hoạt động tự nguyện của các CCB đăng ký những thông tin cá nhân thông qua lá phiếu để trao đổi, liên lạc với nhau. Theo anh Đạc, mô hình này chỉ là hoạt động tự phát của các ban liên lạc bạn chiến đấu, nó chưa thu hút được nhiều CCB tham gia, mặt khác, còn thiếu tính ràng buộc về mặt pháp lý.

Cán bộ, nhân viên Bảo tàng Bảo tàng PK-KQ trao đổi nghiệp vụ.

Từ mô hình đó, Bảo tàng PK-KQ đã xây dựng chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” và được Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ phê duyệt. Nội dung cơ bản của chương trình tạo sự gắn kết và phát huy vai trò của CCB đối với hoạt động của bảo tàng, thông qua việc tự nguyên hiến tặng các kỷ vật kháng chiến. Ngay sau khi chương trình ra đời, để thuận lợi cho các CCB tham gia vào quá trình bảo tồn, tự nguyện hiến tặng những hiện vật, đơn vị đã tổ chức tuyên truyền rộng rãi, phát phiếu đăng ký và gửi đến từng gia đình CCB. Phiếu bảo tồn được làm theo đúng quy định của Luật Di sản, với các tiêu chí hết sức cụ thể, rõ ràng nhằm bảo đảm tính chính xác như: Thông tin của nhân chứng; thông tin về không gian, thời gian của sự kiện lịch sử; thông tin về các tư liệu lịch sử có liên quan. Trong đó, đặc biệt lưu ý thể hiện rõ tư cách pháp nhân của nhân chứng, như: Bút tích, chữ ký, hình ảnh… Từ cách làm trên, giúp cho Bảo tàng PK-KQ lưu trữ được những thông tin có giá trị xung quanh các sự kiện lịch sử, đặc biệt là chiến thắng B-52 trong 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội; đồng thời lưu giữ được lâu dài, bảo đảm tính nhất quán trong các dữ liệu, sự kiện lịch sử.

Sau hơn một năm triển khai chương trình, Bảo tàng PK-KQ đã thu về được hàng nghìn phiếu với nhiều thông tin có giá trị; trong đó 500 phiếu liên quan đến sự kiện B-52, với nhiều thông tin mới được công bố, đồng thời giúp cho đơn vị tổ chức thành công nhiều hoạt động, thu hút gần 40 nhân chứng tiêu biểu tham gia.

Gắn kết nhân chứng B-52 với bảo tàng

Thiếu tướng Phan Thanh Giảng, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK-KQ khẳng định:

– Chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” đã giúp Bảo tàng PK-KQ nói riêng, Quân chủng PK-KQ nói chung có thêm những tư liệu giá trị về lịch sử chiến đấu hào hùng của Bộ đội PK-KQ, đặc biệt là những thông tin mới, hết sức giá trị về sự kiện chiến thắng B-52 những ngày cuối năm 1972.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, để phát huy tối đa những thông tin, hiện vật, câu chuyện, hình ảnh mà các CCB hiến tặng thông qua chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”, trong đợt cao điểm tuyên truyền kỷ niệm 40 năm “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, Bảo tàng PK-KQ đã mời các nhân chứng như: Phạm Tuân, Nguyễn Văn Phiệt, Nguyễn Xuân Đài, Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Văn Cốc nói chuyện truyền thống cho nhân dân, học sinh, sinh viên.

Từ khi có chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”, việc kết nối các nhân chứng với bảo tàng không còn là sự kết nối “cơ học”, mà là sự kết nối gắn với các hoạt động đa dạng phong phú, hấp dẫn của các CCB. Trung tá Phạm Văn Chắt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285, Sư đoàn 363, người trực tiếp chỉ huy đơn vị bắn cháy B-52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp xúc động nói:

– Tôi rất tự hào được gửi gắm những câu chuyện về chiến thắng B-52 thông qua chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”. Tôi hy vọng những câu chuyện chân thực của mình và nhiều đồng đội sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam; đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

Bảo tàng chiến thắng B-52.

Mở hướng đi mới

Theo kế hoạch, năm 2013, Bảo tàng PK-KQ sẽ đưa vào trang mạng quản lý thông tin của đơn vị để độc giả dễ dàng tra cứu các hiện vật, tư liệu lịch sử về Bộ đội PK-KQ. Hình ảnh, hiện vật của các nhân chứng cũng sẽ được đơn vị tổ chức trưng bày trực quan theo từng chủ đề, gắn với các sự kiện lịch sử, các ngày lễ lớn của đất nước, của Quân đội và Quân chủng PK-KQ. Thượng tá QNCN Nguyễn Thị Thanh Lương, Trưởng ban Sưu tầm Bảo tàng PK-KQ nói:

– Mặc dù mới triển khai, nhưng bước đầu chương trình đã mang lại hiệu quả thiết thực, tạo ra một kênh mới để huy động có hiệu quả những hiện vật làm phong phú, đa dạng hóa các hoạt động của giáo dục lịch sử, truyền thống cho thế hệ trẻ.

Việc Bảo tàng PK-KQ xây dựng và triển khai chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” không chỉ giúp cho hoạt động của đơn vị thêm phong phú, sinh động, chân thực khi tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống, mà còn mở ra hướng đi mới trong việc gắn kết các nhân chứng lịch sử với hoạt động của bảo tàng.

Bài và ảnh: LẠI NGUYÊN THẮNG
qdnd.vn

Từ hầm chỉ huy tác chiến…

QĐND – Hầm Chỉ huy tác chiến (Bộ tổng Tham mưu) đóng tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Ba Đình, Hà Nội) vừa mở cửa đón khách tham quan đúng dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”. Thăm căn hầm, nhiều du khách không khỏi ngỡ ngàng về sức mạnh từ nơi đây- một sức mạnh như huyền thoại.

Căn phòng lớn nhất – Phòng trực ban tác chiến, nơi cán bộ, nhân viên làm việc 24/24 giờ, có nhiệm vụ trực tiếp trả lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người gọi, hỏi; theo dõi tình hình bảo vệ miền Bắc (kể cả trên bộ, trên biển, trên không) và chiến sự diễn ra trên các chiến trường Đông Dương, đề xuất với Bộ tổng Tham mưu các phương án tác chiến…và đảm nhiệm những công việc tác chiến cực kỳ quan trọng khác đối với cả nước và Hà Nội, chỉ rộng 34m2, bậu cửa, tường quét vôi ve, gạch lát nền đơn giản. Ông Trần Độ, nguyên sĩ quan tác chiến, trực ban trưởng ngày 18-12-1972, giải thích: Căn phòng vẫn còn “nguyên gốc” như khi tôi trực ban đánh B-52 cách đây 40 năm”.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh (đứng giữa) kể chuyện trực chiến tại Hầm chỉ huy tác chiến trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu, suốt 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã trực chiến trong căn hầm này. Ông giới thiệu một chiếc máy điện thoại trên bàn ở góc phòng, cạnh bộ ấm chén uống nước: “Chiếc điện thoại này được dùng cho một việc duy nhất là trả lời Bác Hồ. Chuông reo là lúc Bác Hồ gọi để Bác nghe báo cáo tình hình”.

Chị Vũ Thu Hà, cầm chiếc bút chì xanh đỏ đặt trong chiếc khay cạnh bảng tiêu đồ, ngắm nghía như tìm lại được kỷ vật cuộc đời. Chị xúc động kể: “Tôi lúc ấy 19 tuổi, làm nhiệm vụ trong phòng tiêu đồ. Chúng tôi viết ký hiệu và thông tin lên tấm bản đồ kính để sĩ quan tác chiến ở phòng ngoài nhận biết và xử lý”. Theo yêu cầu của một số đại biểu, chị Hà đưa nét bút…Người đứng cùng chiều với chị thì không hiểu gì, nhưng người đối diện ở phía bên kia tấm kính đọc được ngay, vì chị viết chữ ngược! Đó cũng là nét đặc sắc của nhân viên tiêu đồ hầm chỉ huy tác chiến…

Đồ dùng sinh hoạt trong hầm, từ chiếc đèn bão, bộ ấm chén, bát đũa ăn cơm…, đều như đồ dùng của gia đình ở thôn quê. Thăm căn hầm, tôi không thể nén được cảm xúc và thốt ra thành lời: Căn hầm giản dị này mà đã làm cho Lầu năm góc phải mất ăn mất ngủ, làm cho quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam cộng hoà được trang bị “đến tận răng” cũng phải khốn đốn. Đặc biệt, từ đây, những mệnh lệnh điều hành tác chiến làm cho pháo đài bay B-52 yêng hùng, tích tụ văn minh đế quốc đầu sỏ bị đánh tan tành, thảm bại ngay tại vùng trời trên nóc hầm!

Tôi hỏi Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh: “Thưa ông, trong chiến dịch 12 ngày đêm, các ông có nghĩ tới trường hợp B-52 trút bom trúng hầm?”.

Vị tướng trả lời chắc nịch: “Mặc dù hầm rất kiên cố, nhưng không phải không có lúc nghĩ tới chuyện đó. Có điều, trong chỉ huy tác chiến, cuộc đấu trí nơi đây luôn hướng vào việc tấn công kẻ thù, tiêu diệt chúng, để chúng không thể gây tội ác với nhân dân ta. Chúng tôi hầu như không có lúc nào để nghĩ đến khả năng xấu có thể đến. Bộ đội ta chưa lập công, hầm tác chiến cũng căng thẳng với bao băn khoăn, day dứt. Khi B-52 bị bắn rơi, hầm tác chiến hân hoan, rộn rã tiếng reo vui…

Rời căn hầm, tôi mang theo những cảm xúc đặc biệt. Những căn phòng, hiện vật đều đã cũ, nhưng vẫn luôn âm vang bài học cho hiện tại và cả với tương lai: Ta đánh giặc bằng lương tri, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam!

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG
qdnd.vn

Hầm chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 được công nhận Di tích quốc gia

QĐND Online – Chiều 28-12, tại Hà Nội, Sư đoàn phòng không 361 (Quân chủng PK-KQ) tổ chức Lễ công bố quyết định và đón nhận Bằng di tích quốc gia cho Hầm chỉ huy Sư đoàn phòng không 361. Đến dự có Đại tá Ngô Doãn Tạo, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK-KQ và đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Ngày 19-5-1965, Đoàn phòng không Hà Nội, nay là Sư đoàn phòng không 361 được thành lập. Ngay sau đó, Ủy ban hành chính Hà Nội đã ra quyết định cấp đất để xây dựng sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn, mang mật danh K1, trên diện tích 850m2. Đầu năm 1966, Hầm chỉ huy cơ bản K1 được xây dựng xong và đưa vào sử dụng.

Đại diện Quân chủng PK-KQ và lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 đón nhận Bằng di tích quốc gia.

Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 là trung tâm điều hành, chỉ huy chiến đấu của Sư đoàn. Từ Sở chỉ huy này, Sư đoàn phòng không 361 đã hiệp đồng với LLVT Thủ đô và các binh chủng bạn, đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch, bảo vệ Hà Nội. Đây cũng là nơi diễn ra các cuộc đấu trí quyết liệt của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn phòng không 361 với các thủ đoạn kỹ, chiến thuật của không quân Mỹ. Do vậy, trong 3 năm (từ 1966 đến 1968), các lực lượng của Sư đoàn đã bắn rơi 159 máy bay địch; phối hợp với các đơn vị khác bắn rơi 323 chiếc khác.

Cũng tại Sở chỉ huy cơ bản K1, Đảng ủy Sư đoàn phòng không 361 đã ra Nghị quyết chuyên đề về đánh máy bay B-52. Ngày 21-9-1972, phương án đánh máy bay B-52, bảo vệ Hà Nội của Sư đoàn phòng không 361 đã được thông qua tại Sở chỉ huy cơ bản K1.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm chống cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc, tại Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361, kíp trực chỉ huy chiến đấu rút gọn đã ngày đêm sẵn sàng chiến đấu, hỗ trợ chỉ huy, cùng với các lực lượng của Quân chủng PK-KQ, quân và dân Thủ đô và các địa phương, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng lừng lẫy “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Hiện tại, Hầm Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 vẫn giữ nguyên hiện trạng, tại số 2 đường Lê Văn Lương, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. Trong thời gian tới, Sư đoàn phòng không 361, Bảo tàng PK-KQ sẽ tiếp tục phối hợp với Ban quản lý di tích tiến hành củng cố, tôn tạo, để Hầm chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 ngày càng xứng đáng với tầm vóc lịch sử của mình; đồng thời trở thành địa chỉ tham quan hấp dẫn đối với nhân dân Thủ đô và nhân dân cả nước và là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay.

Tin, ảnh: HOÀNG HÀ
qdnd.vn