Archive | Tháng Ba 2012

Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách sạch chủ nghĩa cá nhân

Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta những lời tâm huyết, thể hiện mối quan tâm sâu sắc và sự lo lắng của Người đối với đất nước trong bài báo: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại, viết xong bài báo này, Bác mời đồng chí Tố Hữu lúc đó phụ trách công tác tuyên huấn và đồng chí Vũ Kỳ lại để Bác đọc cho nghe và góp ý. Nhan đề bài báo của Bác lúc đầu là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Nghe đọc xong, các đồng chí đều thấy đây là một một bài báo có nội dung quan trọng đối với công tác tư tưởng, giữ gìn đạo đức cách mạng – cái gốc của mỗi cán bộ, đảng viên. Bác muốn mỗi người phải ra sức tu dưỡng để trở thành những người tốt, cán bộ tốt, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nghe xong, đồng chí Tố Hữu đề nghị Bác nên đưa ý nâng cao đạo đức cách mạng lên trên, quét sạch chủ nghĩa cá nhân xuống dưới. Bác quay sang hỏi đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí cũng đồng ý như thế. Bác nói:

– Có ba người, các chú là hai, đa số, nên Bác đồng ý đổi lại.

Tuy vậy, sau này Bác hỏi lại đồng chí Vũ Kỳ: Bác thí dụ nhà chú mua được một cái tủ mới, chú có quét nhà trước rồi mới kê tủ vào, hay là cứ kê tủ vào rồi mới quét nhà? ý Bác sâu sắc như thế đấy! Nhưng ở đây ta cũng thấy Bác rất tôn trọng đa số, vả lại sự thay đổi này cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung bài báo.

Bác đã gửi tới tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị để góp ý kiến, sau đó đã in trên báo Nhân Dân đúng vào Ngày thành lập Đảng. Có lẽ Bác muốn lưu ý tất cả các đồng chí lãnh đạo của Đảng về vấn đề chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng.

Đã rất nhiều lần, Bác nói đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Lần này, Bác đặc biệt nhấn mạnh: “Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình…”(1).

Bác đặc biệt vạch rõ những nguy hại lớn do cá nhân chủ nghĩa gây ra:

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”(2).

Chúng ta đều biết, ngay từ năm 1927, mở đầu cuốn “Đường Cách mệnh”, một cuốn sách “vỡ lòng cách mạng”, Bác Hồ đã nói ngay đến “Tư cách một người cách mạng”. Tư cách đạo đức của người cách mạng là điều mà Bác đặt lên đầu tiên. Trong mục “Tự mình phải” gồm có 14 điều, Bác nhấn mạnh phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất và phải biết cả quyết sửa lỗi mình.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 17-9-1945, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư…”(3) (lấy của chung làm của riêng). Và Bác chỉ rõ, những điều đó làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết. “Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm. Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi”(4).

Tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Bác nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Theo Bác, Đảng phải là đạo đức, là văn minh thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.

Trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Bác viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Chỉ trong một đoạn ngắn nói về Đảng, có 57 chữ, Bác đã bốn lần nhấn mạnh chữ “thật” và “thật sự”. ý Bác là vấn đề đạo đức cách mạng phải được quan tâm, phải được coi trọng. Lời căn dặn cuối cùng và tâm huyết ấy của Bác, khiến mỗi người chúng ta càng phải suy nghĩ để tu dưỡng và rèn luyện mình, xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, của nhân dân.

Những năm vừa qua, bên cạnh thành tích to lớn có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, đã diễn ra “những tệ nạn tiêu cực trong một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý bao gồm: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa đọa về đạo đức, lối sống, chạy theo địa vị, danh lợi, tranh giành, kèn cựa, mất đoàn kết nội bộ, dối trá, báo cáo không trung thực, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Những tệ nạn ấy đã trở thành nguy cơ “tự diễn biến” từ trong, không thể coi thường”(6). Là một nhà tư tưởng lớn, một nhà chiến lược và tổ chức thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã nhìn thấy nguy cơ ấy đối với một đảng cầm quyền, nếu không coi trọng sự rèn luyện, tu dưỡng và thường xuyên làm tốt công tác chỉnh đốn Đảng.

Tháng 6-1968, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7).

Rất, rất nhiều lần, Bác đã nói với chúng ta về nguy hại của chủ nghĩa cá nhân: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(8), “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”(9).

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục đảng viên về lý tưởng cách mạng và đạo đức của người đảng viên. Bác nêu cách làm: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(10).

Rèn luyện đạo đức cách mạng là một phần quan trọng của Tư tưởng Hồ Chí Minh, của văn hoá Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Người là một biểu tượng đẹp đẽ nhất, một tấm gương cao quý nhất của đạo đức cách mạng.

Nhớ Bác, chúng ta hãy làm đúng những lời căn dặn của Người: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân – Nâng cao đạo đức cách mạng”.

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.438. (2) Sđd, tr.438-439. (3,4) Sđd, tập 4, tr.21. (5) Sđd, tập 12, tr.510. (6) Trích tài liệu Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên, NXBCTQG, H.2003, tr.200. (7) Sđd, tập 12, tr.557. (8) Sđd, tập 11, tr.374. (9) Sđd, tập 10, tr.306. (10) Sđd, tập 12, tr.439.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Người làm báo Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu

Hằng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), mỗi người làm báo cách mạng chúng ta lại suy ngẫm, chiêm nghiệm và tự hào vì đã có phần đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp báo chí của Đảng, của dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công chăm sóc. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam đúng vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây chính là thời điểm thuận lợi để chúng ta noi theo tấm gương đạo đức của Bác, thực hiện có hiệu quả 9 điều “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Từ quan điểm trên của Người, đạo đức nghề nghiệp được hiểu là phẩm chất tốt đẹp nhất, là gốc của các vấn đề trong cuộc sống, là nền tảng hình thành pháp luật, là phương tiện điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của người làm báo Việt Nam mà phạm trù pháp luật không điều chỉnh được. Thực hiện đúng quy định đạo đức nghề nghiệp, người làm báo Việt Nam sẽ tránh được những biểu hiện tiêu cực trong cơ chế thị trường, giữ vững lòng tin của nhân dân, của xã hội đối với lực lượng báo chí cách mạng nói chung và đối với mỗi người làm báo nói riêng.

Vấn đề hàng đầu Bác đòi hỏi các nhà báo là phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tốt đẹp. Trong thư gửi anh em văn hoá và trí thức Nam bộ ngày 25-5-1947, Người viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”(2). Để thực hiện sự nghiệp “Phò chính, trừ tà”, người làm báo phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân; hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật; sống lành mạnh, trong sáng, không lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật; gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các nền văn hoá khác.

Trung thành với Đảng, với nhân dân là phẩm chất cao quý nhất của người làm báo cách mạng. Lòng trung thành hướng mọi hoạt động của người làm báo tới việc đảm bảo lợi ích của Đảng, của nhân dân, của chế độ. Nó giúp mỗi người làm báo lựa chọn phạm vi hoạt động, phương thức hành nghề, đối tượng phản ánh, tuyên truyền; xác lập phong cách, lập trường, quan điểm, tích luỹ vốn sống. Lòng trung thành khiến chúng ta không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi đạo đức nghề nghiệp để có đủ điều kiện làm việc một cách tốt nhất, hiệu quả nhất vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Người làm báo phải luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ, tức là người làm báo từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Người làm báo càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; yêu kính nhân dân; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; nắm vững quan điểm của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Báo chí là công cụ lãnh đạo của Đảng, ngoài lợi ích của nhân dân, người làm báo cách mạng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, người làm báo phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Tại Đại hội lần thứ hai của Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”(3).

Là một nhà báo lớn, Người ý thức rất rõ ràng về nhiệm vụ tuyên truyền của báo chí, đồng thời, Người khẳng định, tuyên truyền phải đảm bảo tính chân thực. Khi nêu gương người tốt, việc tốt phải: “Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật, không được bịa ra”(4). Mặt khác, “Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy… Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành, đúng đắn; chứ không phải để địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền”(5).

Người làm báo phải sống lành mạnh, trong sáng, không được lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật. Vấn đề này liên quan đến đạo đức, lối sống và khả năng rèn luyện, tu dưỡng của người làm báo. Đạo đức, lối sống của người làm báo không có gì khác đối với mọi cán bộ, đảng viên, đó là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong cơ quan báo chí sẽ không có người vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật; đồng thời môi trường báo chí cũng trở nên trong sạch hơn. Phải đổi mới cách nghĩ, cách làm việc. Phải kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực từ trong cơ quan đến ngoài xã hội. Làm việc gì cũng phải công khai, nhất là về việc chọn lựa tin bài, về tài chính, về thu nhập. Không công khai, không rõ ràng khiến cho người ta tưởng có cái gì đó không bình thường nên nghi ngờ và dẫn đến mất đoàn kết. Phải lấy đoàn kết làm trọng. Nhưng đoàn kết không phải là dĩ hoà vi quý, thủ tiêu đấu tranh. Phải dựa vào quy chế cơ quan và pháp luật của Nhà nước. Nếu thấy đồng chí mình có việc gì chưa rõ, trước hết phải tìm hiểu, nếu đồng chí đó không chịu trả lời hay không chịu làm rõ, lúc đó mới dùng đến tổ chức và các biện pháp mang tính định chế để yêu cầu đồng chí mình trả lời một cách tường tận, làm rõ. Khi tìm hiểu phải thiện chí, đừng vội quy chụp, như vậy mới đảm bảo yêu cầu đoàn kết. Phải biết tôn trọng đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên và những người tham gia tạo nên sản phẩm. Việc giải quyết lương, thù lao, nhuận bút không phải là sự ban ơn mà chính là sự cảm ơn của người được Nhà nước giao quyền là chủ sử dụng lao động đối với người lao động. Phải khẩn trương tạo nguồn kinh phí để chi trả lương, thù lao, nhuận bút cho người lao động. Làm cho tờ báo ngày càng hấp dẫn và hay, chiếm được tình cảm của bạn đọc trong cả nước, đồng thời với củng cố, phát triển cơ quan, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ cán bộ, phóng viên, cộng tác viên, công nhân viên là nhiệm vụ thường xuyên của mọi thành viên trong cơ quan báo.

Người làm báo phải gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, nguồn tin và giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn, cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa các nền văn hoá khác. Người làm báo có lợi thế là được Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo hành lang pháp lý để hành nghề một cách có hiệu quả nhất. Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung và hình thức sản phẩm báo chí đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cả tập thể vươn lên. Từng thành viên vươn lên, coi sự đoàn kết là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới phải thường xuyên, cụ thể, chặt chẽ, thông tin kịp thời. Mỗi tổ chức Hội Nhà báo phải thật sự phát huy vai trò là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp – mái nhà chung của những người làm báo Việt Nam.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, 82 năm qua, các thế hệ nhà báo cách mạng Việt Nam luôn đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, chuyển tải quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, tập hợp, giác ngộ quần chúng, xây dựng lực lượng, tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, đưa đất nước đi lên theo con đường XHCN. Báo chí cách mạng Việt Nam và những người làm báo cách mạng Việt Nam trước sau luôn kiên định lòng trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng và của dân tộc. Cội nguồn sức mạnh của báo chí cách mạng Việt Nam là sự tiếp nối và nhân lên truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, nghìn năm văn hiến, kết hợp với những giá trị tiên tiến của thời đại được biểu hiện thành giá trị đạo đức Hồ Chí Minh. Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ nhà báo cha anh, hơn 16.000 nhà báo Việt Nam hôm nay càng thêm vững vàng hơn trong công tác tuyên truyền nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng chậm phát triển. Dù làm việc ở bất cứ cơ quan báo chí nào, những người làm báo cách mạng Việt Nam cũng tiếp tục phấn đấu để có những tác phẩm có giá trị, hấp dẫn, đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, định hướng, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân, chiếm được cảm tình của đông đảo công chúng.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.252. (2) Sđd, tr.131. (3) Sđd, tập 9, tr.414. (4) Sđd, tập 12, tr.559. (5) Sđd, tập 7, tr.118.

Lê Văn Thiềng Trưởng Ban công tác hội
Hội Nhà báo Việt Nam

xaydungdang.org.vn

Cựu PV chiến tranh TASS viết về 3 lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Hội
“Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh)”.

Sergei Afonin là cựu phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) tại Việt Nam. Ông đã công bố cuốn sách “Những năm tháng nóng bỏng” nói về những trải nghiệm của mình cùng với nhân dân Việt Nam trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

Hiện nay cựu phóng viên chiến tranh của TASS đang sống cùng với vợ và đứa con trai út trong một căn hộ nhỏ ở ngoại ô phía Nam Moskva. Trong căn hộ của họ không có những đồ vật đắt tiền, nhưng nó lại rất giàu những vật kỷ niệm được đưa từ Việt Nam về: Hội họa sơn mài, những bức tranh đại chúng từ làng Đông Hồ, những hộp khảm xà cừ, những búp bê, những tấm bưu thiếp… Vợ ông, Ludmila Afonina không nói bằng tiếng Việt, nhưng cũng yêu Việt Nam với tình yêu nồng nhiệt như chồng bà. Những năm tháng tuổi trẻ hạnh phúc của họ đã diễn ra ở Hà Nội. Dưới đây là lời kể của ông về ba lần được gặp Bác Hồ.

***

Tôi vô cùng may mắn và hạnh phúc đã ba lần được gặp và được nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kỷ niệm về niềm hạnh phúc này tôi sẽ giữ mãi cho đến trọn đời.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên

Đó là vào năm 1961, tôi đến thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi là sinh viên làm luận văn tốt nghiệp và là người phiên dịch ngoài biên chế trong Đại sứ quán Liên Xô và cơ quan đại diện thương mại. Thỉnh thoảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi trên chiếc xe hơi “Chiến thắng” đến cơ quan đại diện thương mại của Liên Xô để xem những bộ phim Xôviết mới trong phòng chiếu phim đầy đủ tiện nghi. Vì Bác Hồ thông thạo tiếng Nga nên ở đó không cần phiên dịch.

Vào một trong những buổi chiều như thế, khi ở cửa ra của phòng chiếu phim, Bác Hồ đã trông thấy tôi, trong chốc lát Người dừng lại và hỏi tôi bằng tiếng Nga:

– Cháu nói được tiếng Việt không?

Quả thật, tôi đã đứng ngây người ra, chính vì đấy là lần đầu tiên tôi được trông thấy con người huyền thoại ấy gần đến như thế. Tôi vô cùng hồi hộp và xúc động, và sau giây lát im lặng, tôi đã trả lời:

– Dạ, cháu nói không được nhiều lắm ạ…

– Vậy cháu có thích ở đây không?

– Cháu rất thích, cháu yêu Việt Nam.

Hồ Chủ tịch mỉm cười và khi chia tay, Người đã nói bằng tiếng Việt:

– Này cháu, cháu cần phải học thật tốt tiếng Việt đấy nhé. Chúc cháu nhiều thành công…

Cuộc gặp gỡ thứ hai

Vào tháng 12/1964, trong thành phần của Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết, tôi đã đến thăm Việt Nam. Dẫn đầu đoàn đại biểu là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Iuri Torxuev, tôi là chuyên viên Ban quốc tế của Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Trước ngày cuối cùng của cuộc đi thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp chúng tôi. Người đã nồng nhiệt ôm hôn các vị khách, mời khách uống trà. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khỏe mạnh và tràn đầy nghị lực. Người hơi gầy, đôi mắt hiền từ tinh anh, chòm râu bạc, giọng nói dịu dàng, bộ quần áo giản dị, đôi dép xăng-đan…

Bác Hồ tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Lênin tại Việt Nam (tháng 12/1964).

Chủ tịch hỏi chúng tôi đã có những ấn tượng gì về cuộc đi thăm. Tôi đã dịch những lời phát biểu trả lời của đồng chí Trưởng đoàn đại biểu ra tiếng Việt, đương nhiên tôi nhớ đến lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã dành cho tôi ba năm trước trong lần gặp đầu tiên. Sau đó Bác Hồ đã kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng Người đã sống ở Liên Xô. Người đã hết sức khâm phục nghị lực và chí hướng vươn tới mục tiêu, mà nhờ đó nhân dân Xôviết đã dốc lòng xây dựng một xã hội mới trong những năm hai mươi và ba mươi. Về tình hình ở Việt Nam, nơi những tên xâm lược Mỹ đã gây chiến tranh ở miền Nam và bắt đầu ném bom miền Bắc, Chủ tịch đã nói ngắn gọn: “Một khi chúng đã xâm phạm đến đất nước chúng tôi, nhân dân chúng tôi nhất định sẽ đánh đuổi được kẻ thù”. Trong đó Người nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của tình đoàn kết quốc tế với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Trong thời kỳ đó, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã có những sự bất đồng nghiêm trọng, và Hồ Chí Minh đã không đề cập đến chủ đề ấy. Đơn giản Người chỉ nhấn mạnh niềm tin của mình vào quê hương của Cách Mạng Tháng Mười.

Cuộc gặp gỡ thứ ba

Vào tháng Hai năm 1969, Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết do đồng chí Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Evghenie Chiajenikov dẫn đầu đã sang thăm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi đó, với cương vị là phóng viên thường trú của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) và của Báo “Sự thật Đoàn thanh niên Cômxômôn”, và đã làm việc ở Hà Nội được mấy năm, tôi được đưa vào thành phần của đoàn đại biểu này.

Chúng tôi đã đi thăm những khu vực khác nhau của miền Bắc Việt Nam, đã gặp gỡ với thanh niên trong các nhà máy, ở các vùng nông thôn, trong các trường học, trên các trận địa trực chiến và chúng tôi đã cảm nhận được hoàn toàn ý chí hướng tới chiến thắng không gì lay chuyển được của nhân dân Việt Nam, bất chấp những tội ác khủng khiếp nhất của giới quân phiệt Mỹ. Nhân dân Việt Nam Anh hùng tuân theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do”, đã giáng trả bọn xâm lược những đòn chí mạng và đã làm tất cả vì giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.

Ngày đáng nhớ 25/2/1969 ấy sẽ không bao giờ quên được. Đoàn đại biểu của chúng tôi đã có vinh dự gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc trò chuyện thân tình đã diễn ra trong ngôi nhà nhỏ một tầng, được xây dựng trong những năm chiến tranh trong khuôn viên Phủ Chủ tịch. Chủ và khách trao nhau những vòng tay ôm, những nụ hôn bè bạn, những cái bắt tay nồng ấm. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, Bác Hồ lấy ra chiếc bót thuốc lá và mời hút thuốc lá. Tôi không biết vì sao nữa – chúng tôi đã từ chối, và rồi sau đó mới hiểu ra rằng, đương nhiên là như vậy, cần phải đón nhận từ tay Người những điếu thuốc lá này như là món quà tinh thần. Bác Hồ đã không châm thuốc hút và bắt đầu cuộc trò chuyện:

– Chúng tôi rất rất vui mừng chào đón các bạn đã đến Việt Nam. Chắc các bạn đã thấy rõ là người dân chúng tôi có một tình yêu chân thành và nồng ấm như thế nào đối với nhân dân Xôviết. Khi có đất nước các bạn cùng với chúng tôi, chúng tôi tin tưởng vào tương lai hạnh phúc của mình. Hồ Chí Minh đã nói rất mặn nồng về Liên Xô, Người đã nhớ lại những sự kiện khác nhau trong cuộc sống ở Moskva.

– Hồi ấy, là thời kỳ khó khăn của những năm hai mươi và ba mươi, cũng giống như bây giờ ở đất nước chúng tôi, – Người nhấn mạnh.

– Nhưng hồi ấy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm, các bạn chỉ có một mình, còn bây giờ nhân dân chúng tôi không đơn độc…

– Sau đó những người Xôviết đã sống tốt hơn – Hồ Chủ tịch nói tiếp – Có một lần tôi đã hỏi một cô gái (Hồ Chí Minh nói bằng tiếng Nga: hỏi cô Phifa), tại sao cô ấy mặc chiếc áo choàng lụa sáng tươi, tô điểm đôi mắt và đi giày cao gót. Cô ấy đã tự hào trả lời ngay: “Chính vì tôi chịu khó làm việc và đây là do tôi làm ra”. Sau đó ở Moskva đã xuất hiện tàu điện ngầm, có thêm nhiều xe hơi…

Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh).

Hồ Chí Minh châm thuốc hút rồi bắt đầu kể về việc năm 1925 Người đã làm việc ở Quốc tế Cộng sản như thế nào, đã thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và mấy năm sau thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Vâng, tầm vóc của con người Hồ Chí Minh, tôi thiết nghĩ, hãy còn chưa được thấy rõ đến tận cùng. Phía sau Người là một cuộc đời đầy những thử thách cam go của Nhà cách mạng, của Người yêu nước và của Người chiến sĩ quốc tế vĩ đại. Người đã bị những tên thực dân Pháp kết án tử hình, đã trải qua suốt hàng chục nhà tù ở Hongkong và Trung Quốc. Từ năm 1941 Người còn tiên đoán rằng Liên Xô sẽ đánh tan nước Đức phát xít vào năm 1945, và rằng cũng vào năm đó Việt Nam sẽ giành được độc lập. Điều tiên đoán đó đã xảy ra đúng như thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh Vệ quốc chống lại những tên thực dân Pháp và những tên xâm lược Mỹ. Hồ Chí Minh đã cho chúng tôi xem một số bức ảnh ghi lại những cuộc gặp gỡ của Người với thanh niên miền Bắc Việt Nam, và với các chiến sĩ lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

– Thanh niên chúng tôi – Người nhấn mạnh, thật anh hùng, đó là lực lượng xung kích của chúng tôi.

Trên một trong những bức ảnh là hình một cô gái Việt Nam mảnh dẻ đang áp giải tên phi công Mỹ to béo.

– Rất nhiều người đến đất nước chúng tôi và họ rất ngạc nhiên, tại sao một đất nước nhỏ và kém phát triển như thế, lại đương đầu thành công cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh nói – Nhưng khi đưa bức ảnh này ra, mọi chuyện đã trở nên rõ ràng. (Về sau chúng tôi được biết rằng bức ảnh nổi tiếng này do phóng viên Phan Thoan chụp ngày 20/9/1965 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc buổi gặp mặt bằng những lời biết ơn Lênin và Cách Mạng Tháng Mười:

– Tất cả những thắng lợi của chúng tôi đều gắn liền với tên tuổi của Lênin, tất cả chúng tôi đều biết ơn quê hương của Cách Mạng Tháng Mười

(Theo Nhat-Nam.ru)

cand.com.vn

Nhân văn Hồ Chí Minh

Nhân văn được hiểu là: Chăm lo cho con người, cho sự tiến bộ của con người, hướng tới con người, giải phóng con người.

Trong nhiều hội thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đông đảo nhà khoa học khẳng định, cái bao trùm, cái cốt lõi, cái xuyên suốt tư Tưởng Hồ Chí Minh là nhân văn, là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Cốt lõi của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nhân văn. Cốt lõi của đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Hồ Chí Minh là nhân văn… Con người luôn hướng tới nhân văn. Hành trình của nhân loại là hành trình hướng tới nhân văn, tìm kiếm và hiện thực hoá nhân văn. Nhân văn Hồ Chí Minh là một điểm nổi bật trong hành trình nhân văn của nhân loại trong thời đại ngày nay bởi giá trị hiện thực cụ thể, mạnh mẽ.

Nhân văn Hồ Chí Minh là sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa nhân văn của dân tộc và nhân loại, hay có thể nói tinh hoa nhân văn của dân tộc và nhân loại kết tinh trong Người. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam kết tinh trong Người, đó là chủ nghĩa yêu nước, ý chí bất khuất đấu tranh cho độc lập, tự do; đó là truyền thống nhân ái “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Nhân văn Hồ Chí Minh có tinh hoa nhân văn của Nho giáo, của học tập, của rèn luyện, hướng tới con người: “Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân; kỉ dục lập nhi, lập nhân; kỉ dục đạt nhi đạt nhân” (điều gì mình không muốn, đừng đem điều đó làm cho người khác; mình muốn lập thân, hãy giúp cho người khác lập thân; mình muốn thành đạt, hãy giúp cho người khác thành đạt). Nhân văn Hồ Chí Minh có tinh hoa của Phật giáo, của tư tưởng vị tha, từ bi, cứu khổ, cứu nạn, của tình yêu bao la, của lòng nhân từ, bác ái mênh mông, yêu thương từ cây cỏ, chim muông… Nhân văn Hồ Chí Minh có tinh hoa nhân văn của Đức chúa Giê-su; có tinh hoa nhân văn của tinh thần tự do dân chủ tư sản tiến bộ; có tinh hoa nhân văn của chủ nghĩa nhân văn trong chủ nghĩa nhân văn của nền văn hoá “ánh sáng”, “Phục hưng”; của chủ nghĩa xã hội không tưởng và đặc biệt là nhân văn Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, giải phóng con người. Tấm gương nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện bởi chính những hành động nhân văn. Hai mươi mốt tuổi ra đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, cho nhân loại. Năm 1913, dưới chân tượng Thần Tự do ở Niu Oóc (Mỹ), Người đặt câu hỏi: “Đến bao giờ người da đen mới được bình đẳng? Đến bao giờ người phụ nữ mới được giải phóng? Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả”(1). Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người tìm thấy “con đường giải phóng” cho chúng ta. Người tin theo và coi đó là “cái bàn chỉ nam”, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Là lãnh tụ cao nhất của dân tộc, lúc còn cơ hàn “cháo bẹ, rau măng”, rồi trên cương vị đứng đầu nhà nước, đứng đầu một Đảng cầm quyền vẫn dép lốp, áo ka ki bạc màu. Lúc đồng bào còn đói, Bác kêu gọi cứu đói, đồng thời “tôi xin thực hiện trước”(2). Cả cuộc đời của Người, mỗi hành vi của Người đều lấp lánh hào quang nhân văn, là “sữa để em thơ, lụa tặng già”, là “yêu từng ngọn lúa mỗi cành hoa”, là “tự do cho mỗi đời nê lệ”(thơ Tố Hữu). Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào… Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(3). “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”(4). Trước khi qua đời, điều nuối tiếc của Người cũng là sự nuối tiếc “Không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” và còn dặn lại: “Chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi làm lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”(5).

ở Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân văn và hành động nhân văn là thống nhất. Người căm ghét những hành vi phi nhân văn của chủ nghĩa đế quốc, của bọn xâm lược và bè lũ tay sai. Người vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chủ nghĩa thực dân bằng các bản án đanh thép ngay tại sào huyệt của chúng và kêu gọi dân tộc ta, thanh niên ta và các dân tộc bị áp bức “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “công việc giải phóng cho ta phải do ta tự làm lấy, không ỉ lại, không trông chờ”.

Đối với những người lầm đường lạc lối đã lỡ theo giặc chống lại cách mạng, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, Người dạy: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn, dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác, đều dòng dõi của Tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ… Ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ”(6). Bác còn dặn, đối với những người lầm đường, lạc lối, “không được báo thù, báo oán” mà phải lấy lời khôn, lẽ phải mà bày cho họ.

Trong kháng chiến, Người đứt từng đoạn ruột khi nghe tin các chiến sĩ ta hy sinh, nhưng Người cũng ngậm ngùi, thương xót cho những người Pháp đã tử vong. “Trước bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”(7). Người không muốn chiến tranh. Nhưng để bảo vệ quyền sống, quyền độc lập tự do thì phải hành động chống lại sự xâm lược, sự tàn bạo phi nhân văn.

Con đường Bác chọn cho Đảng, cho dân tộc là con đường nhân văn, con đường tự giải phóng: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(8). Người đòi hỏi Đảng phải thật sự là một Đảng nhân văn: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác”(9). Nhiệm vụ của Đảng là giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Và muốn làm được điều đó, người cán bộ đảng viên phải là người có đức, có nhân, có trí, có dũng, có liêm, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Và muốn xứng đáng là người lãnh đạo thì đảng viên và Đảng phải luôn tự rèn luyện, tự củng cố, tự chỉ trích, tự nâng cao không ngừng về trí tuệ, bản lĩnh, phong cách. Chỉ có một Đảng biết cống hiến cho dân, cho nước thì mới được nhân dân yêu mến, ca ngợi và tin theo.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, bản thân Đảng và đảng viên phải chống lại những hành động và tư tưởng phi nhân văn ngay trong tổ chức và con người mình, đó là chủ nghĩa cá nhân, đó là “vác mặt làm quan cách mạng”, quan liêu, hủ hoá, thoái hoá, tham ô, vụ lợi, lười biếng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện… Những căn bệnh đó Bác coi là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân, là “thứ giặc” ở trong lòng, phải không ngừng đấu tranh loại bỏ nó.

Trong điều kiện xây dựng đất nước, Đảng và dân tộc phải không ngừng nâng cao tri thức, trí tuệ. Bởi vì: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Bác coi dốt nát cũng là một thứ giặc. Diệt giặc dốt là một bộ phận của sự nghiệp giải phóng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Năm 1923, Nhà thơ Xô-viết O-xíp Man đen-stam khi gặp Bác đã viết: “Từ Nguyễn ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải văn hoá châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”(10). Nền văn hoá của tương lai đó có lẽ là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thật tự hào là chúng ta có Bác. Thật vinh quang khi đi theo con đường Người chọn – Con đường của nhân loại tiến bộ, của quy luật tất yếu của lịch sử, con đường sáng ngời nhân văn Hồ Chí Minh.

Ths. NGƯT Nguyễn Thế Cường

xaydungdang.org.vn

Rèn luyện, tu dưỡng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu việc chăm lo rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cấp uỷ các cấp đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng đảng, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đã bàn về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, quyết định mở cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn đảng. Tuy nhiên, đến nay, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng bên cạnh những thành tựu đã đạt được so với yêu cầu còn nhiều hạn chế, những yếu kém, tiêu cực, sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, quan liêu ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn nghiêm trọng. Lối sống cá nhân, thực dụng, cơ hội, chạy theo danh vị, chức quyền, quan liêu, xa dân diễn ra khá phổ biến. Thậm chí có cán bộ, đảng viên sống quay lưng lại với dân, ăn chơi hưởng lạc, sa đọa…

Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là cấp uỷ đảng và lãnh đạo, chỉ huy các cấp chưa thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, các quy định của pháp luật, các quy định về công tác kiểm tra, thanh tra và chưa phát huy tốt tinh thần dân chủ từ cơ sở. Chậm bổ sung, cụ thể hoá và hoàn thiện các quy định về thực hiện dân chủ, pháp lệnh cán bộ, công chức, về những điều đảng viên và cán bộ không được làm, buông lỏng công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Mặt khác, không ít cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cấp cao mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, tham vọng quyền lực, danh lợi, cục bộ, bản vị, chưa gương mẫu rèn luyện bản thân, chưa tự giác và nghiêm túc thực hiện Điều lệ và các nghị quyết của Đảng. Khắc phục tình trạng trên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 17-11-2006 về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để góp phần thực hiện tốt cuộc vận động có ý nghĩa quan trọng này, xin đề xuất một số giải pháp nhằm rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên như sau:

1. Cán bộ, đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình, không ngừng tự rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, giữ gìn thanh danh, uy tín của Đảng. Muốn có đạo đức cách mạng thì từng người phải tự giác, tự trọng, tự rèn luyện theo quy tắc, chuẩn mực. Phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữ gìn đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cấp dưới và quần chúng nhân dân.

2. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng đoàn kết thống nhất trong chi bộ, kịp thời uốn nắn những nhận thức lệch lạc, kiên quyết đấu tranh phê phán, bác bỏ những khuynh hướng, tư tưởng sai trái. Sức mạnh của Đảng ta là sự đoàn kết, thống nhất, trước hết là thống nhất về quan điểm, đường lối của Đảng. Đó là cội nguồn sức mạnh vô địch, là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, muốn xây dựng đạo đức cách mạng phải tạo được sự đoàn kết, thống nhất, trước hết phải kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc, khuynh hướng, quan điểm sai trái trong nội bộ Đảng. Mặt khác, phải nhạy bén phát hiện sự xâm nhập, chống phá của kẻ thù đối với cán bộ, đảng viên để có những biện pháp tích cực ngăn chặn tác hại của nó, nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá, biến chất, bất kể họ là ai, giữ cương vị công tác nào.

3. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, tạo môi trường lành mạnh để đảng viên phấn đấu, rèn luyện. Tăng cường công tác quản lý đảng viên, cải tiến việc đánh giá, phân tích chất lượng đảng viên, thực hiện chế độ đảng viên báo cáo thu nhập, quy định trách nhiệm của đảng viên.

Việc đánh giá đúng thực chất cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ rất khó khăn, cần phải nghiên cứu một cơ chế đánh giá cán bộ, đảng viên phù hợp với điều kiện cụ thể trong cơ chế thị trường. Mặt khác, phải nâng cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên, nhất là ở các tổ chức cơ sở đảng. Có làm tốt việc này mới giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhìn nhận lại mình và có biện pháp khắc phục hạn chế, khuyết điểm, kể cả những vấn đề dư luận quần chúng, cán bộ, đảng viên quan tâm góp ý.

4. Thường xuyên, định kỳ kiểm tra, giám sát có hiệu quả các hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ trực tiếp lãnh đạo, quản lý các hoạt động kinh tế-xã hội.

Đảng ta là Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng giữ những cương vị lãnh đạo của chính quyền và các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội… Muốn kiểm tra, giám sát các hoạt động của cán bộ, đảng viên, Đảng, Nhà nước phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, quy định trên tất cả các lĩnh vực công tác. Đồng thời chú trọng bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức toàn diện cho cán bộ, đảng viên, nhất là những kiến thức về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và pháp luật… Mặt khác, phải tích cực, quan tâm giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường để cán bộ chủ động, tự giác tu dưỡng, rèn luyện vượt qua được những cám dỗ.

5. Cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, là tấm gương sáng cho quần chúng học tập, noi theo. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Trước mặt quần chúng, không phải là cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước.

Trong điều kiện hiện nay, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên không chỉ thể hiện ở hiệu quả thực hiện chức trách nhiệm vụ, có lối sống trong sạch, không tham nhũng, không mắc vào các tệ nạn xã hội, mà phải gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện phản giá trị khác ở chính ngay cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác được giao làm tốt những nội dung trên, thực chất là tu dưỡng, rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đại tá, TS Đặng Nam Điền
Phó Chính uỷ
BTL Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

xaydungdang.org.vn

Chỉ dạy của Bác Hồ đối với người đứng đầu

Những năm gần đây, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước xuất hiện khái niệm “người đứng đầu”. Sinh thời, Bác Hồ thường dùng khái niệm: “người phụ trách”, “thủ trưởng”.

Theo định nghĩa của một số từ điển Hán Việt thì “phụ trách” là nhận gánh vác, chịu trách nhiệm về một nhiệm vụ, công tác nào đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm cao nhất của cơ quan, tổ chức đó.

1. Do đâu mà có người đứng đầu?

Có người cho rằng mình có tài, có đức, cơ quan, tổ chức có nhu cầu thì mình được đề bạt làm người đứng đầu. Điều đó là lẽ đương nhiên nhưng chưa phải tất cả. Không ít người khi được đề bạt đã không biết ngoái nhìn quá khứ để hiểu thấu cái nôi sinh ra mình, chỉ biết có hôm nay và chặng đường phía trước mà quên cuộc cách mạng của nhân dân do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, quên sự hy sinh công sức, tiền của, xương máu của biết bao thế hệ mới có cơ đồ, sự nghiệp hôm nay. Ngày 28-5-1948, khi chủ trì lễ phong hàm đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và cấp tướng cho một số đồng chí khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao hy sinh, cố gắng của đồng bào, đồng chí. Chúng ta phải cố gắng, phải quyết giành được độc lập, tự do cho thỏa lòng những người đã mất”(1). Trong một lần khác, khi nói chuyện với các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Người còn nói: Các chú có công trạng, có thành tích, được phong cấp tướng, cấp tá nhưng các chú có biết câu “Nhất nhật công thành vạn cốt khô” không? Câu ấy có nghĩa là mỗi một thành công trên con đường công danh của các chú là nhờ có sự hy sinh của hàng vạn đồng bào, chiến sĩ.

Do yêu cầu mới của cách mạng và do quy luật của thời gian mà thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, trong đó có những người được giao trọng trách là người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Khi đã có quyền lực trong tay, một số người đã quên rằng quyền lực mà họ đang nắm giữ vốn không phải là của cá nhân họ (quyền lực nhà nước vốn không phải của riêng bất cứ người nào). Tất cả quyền bính trong nước là của nhân dân. Nhân dân ủy thác cho họ đại diện để sử dụng quyền lực thực hiện nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó. Quên điều đó, người ta dễ sinh tự kiêu, tự mãn, “khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân”(2). Được trao quyền quản lý, chi tiêu một khối lượng tiền của, tài sản nào đó, một số người đã cậy quyền thủ trưởng quyết định tất cả, bất chấp kỷ cương, phép nước, chỉ “lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công. Đạo đức cách mạng thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”(3). Trong công tác nhân sự thì đối với bản thân “cố tranh cho được ủy viên này chủ tịch kia”, đối với xã hội thì giữ thói “một người làm quan, cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này, việc kia, làm được hay không mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”(4). Nhiều lần Bác Hồ đã dạy, việc nước là việc chung, tài sản của Nhà nước là của chung nhân dân chứ không phải của riêng ai, của dòng họ nào. Vì vậy, người đứng đầu phải phục tùng tổ chức, nêu gương sáng giữ gìn và bảo vệ tài sản của công, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc và nhân dân, phải chí công vô tư.

2. Sinh ra người đứng đầu để làm gì?

Đã là xã hội thì ắt phải có tổ chức, có tổ chức thì phải có lãnh đạo và quản lý, cơ chế làm việc và người đứng đầu. Lãnh đạo là dẫn dắt, phát triển cơ quan, tổ chức đúng hướng, bày tỏ quyết tâm, duy trì các chuẩn mực, là làm việc với con người (tổ chức, dẫn dắt, giáo dục, thuyết phục, cảm hóa, đoàn kết, tạo sự đồng thuận…). Vì vậy, lãnh đạo phải tập thể, người đứng đầu cơ quan, tổ chức là một thành viên của tập thể lãnh đạo. Bác Hồ đã dạy “vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người…

ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc” là nghĩa đó”(5).

Nhưng khi đã có hội nghị, đã bàn thảo, có nghị quyết của tập thể rồi thì phải thi hành, phải có người chỉ huy, điều khiển. “Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy…

Vì lẽ đó, cho nên lãnh đạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần phải cá nhân”(6).

Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng và Nhà nước ta là lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách. Nhưng không ít tổ chức đảng đã không duy trì nghiêm túc chế độ lãnh đạo tập thể, một số người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã phớt lờ (thậm chí vô hiệu hóa) sự lãnh đạo của tập thể, cấp ủy, độc đoán, chuyên quyền dẫn tới tình trạng lãng phí, thất thoát, hư hao tài sản của Nhà nước, tham nhũng, gian lận… và bản thân họ cũng không được tập thể kiểm tra, giám sát, uốn nắn, giúp đỡ nên dần dần trở thành kẻ hư hỏng, sa đọa, biến chất.

Tóm lại “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc”(7).

Chính vì cần tổ chức thực hiện mà phải đặt ra chế độ thủ trưởng, một người đứng đầu để họ phụ trách công việc, chịu trách nhiệm trước cấp trên, cấp dưới, nhân dân và pháp luật. “Bất kỳ công tác gì, chiến tranh, sản xuất, giáo dục, kiểm soát v.v, cơ quan lãnh đạo cấp trên cần phải kinh qua những người phụ trách chung của cơ quan lãnh đạo cấp dưới, mỗi khi có việc gì liên quan đến một ngành hoạt động nào đó thuộc cấp dưới. Có như thế, mới đạt được mục đích phân công mà thống nhất”(8). Sinh ra người đứng đầu là để họ phụ trách, chịu trách nhiệm. Họ được giao cho một số quyền hành nhưng quyền đó bao giờ cũng có giới hạn và phải thực hiện một nghĩa vụ – nghĩa vụ của người thừa hành, chấp hành sự lãnh đạo của tập thể, của cấp trên. Quyền bao giờ cũng gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm. Người thủ trưởng (đứng đầu) không thể khi công việc thành công thì “nhô cao đầu lên” nhận vinh quang, thành tích thuộc về mình; khi khuyết điểm, thất bại thì “hạ thấp đầu xuống”, ẩn nấp sau bức bình phong tập thể, đổ trách nhiệm cho tập thể, cho cấp phó. Chính V.I.Lênin từng phê phán tình trạng này, Người đã coi đó là thói láu cá, khôn vặt của mấy ông cấp trưởng, còn tổ chức thì bất lực.

Cần trao quyền và trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu, kiểm tra, giám sát họ và có chế tài thích đáng đối với những khuyết điểm, sai lầm của đơn vị do họ đứng đầu; người đứng đầu vui mừng phấn khởi nhận chức vụ, có gan sử dụng quyền lực thì cũng phải có dũng khí, can đảm nhận trách nhiệm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước và sự phán xét của công luận. Đó là lẽ tự nhiên, biểu hiện của sự công bằng, dân chủ và văn minh trong chế độ chúng ta.

3. Những người đứng đầu cần phải có phẩm chất gì?

Trước hết, họ phải có những phẩm chất của người cán bộ cách mạng như Bác Hồ đã dạy, Đảng và Nhà nước đã có các quy định rõ ràng, pháp lệnh cán bộ công chức đã xác định cụ thể. Nhưng đối với những người đứng đầu thì đòi hỏi của tổ chức và nhân dân đối với họ ở mức độ cao hơn, nghiêm ngặt hơn, ở sự nêu gương và dẫn dắt. Bác Hồ đã nhắc nhở “các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”(9).

Trong tình hình hiện nay, vấn đề tư tưởng, thái độ của người đứng đầu cần phải được đặt ra một cách bức thiết. Người đứng đầu là người có trách nhiệm giáo dục tư tưởng cho cán bộ, công chức, nhân viên cấp dưới nhưng lại đứng ngoài sự giáo dục, rất ít lắng nghe và tìm cách để biết lắng nghe những ý kiến mang tính khuyên răn, nhắc nhở của tổ chức đảng, của những người xung quanh, của cấp dưới và quần chúng. Cần phải nhắc lại lời dạy của C.Mác: Đã đến lúc các nhà giáo dục cũng cần được giáo dục, và của Hồ Chí Minh: “Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”(10).

4. Làm thế nào để có người đứng đầu xứng đáng?

Trước hết là phải thực hành dân chủ, đồng thời xử lý, chấm dứt ngay các hiện tượng “các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh cậy thế cậy quyền… khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng”(11). Đảng và Nhà nước không chỉ bằng sự giáo dục, thuyết phục, kêu gọi lòng tự giác, hướng thiện mà còn phải cưỡng chế, răn đe bằng pháp luật đối với những ai “làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia”(12).

Cần đặt mọi người, không ngoại trừ ai trong bộ máy quyền lực của Nhà nước, dưới sự kiểm soát chặt chẽ và nghiêm túc theo nguyên tắc công khai, minh bạch (Bác Hồ gọi là “quang minh chính đại”). Kiểm soát cấp trên trước, cấp dưới sau, trong sạch cấp trên để chấn chỉnh cấp dưới, làm gương cho cấp dưới như Bác Hồ từng dạy và nêu gương. Cha ông ta từng tổng kết “thượng bất chính, hạ tắc loạn” và chắc chắn là: Thượng chính thì hạ yên.

Có nhiều việc phải làm, phải kiên trì không thể nôn nóng nhưng cũng có những việc có thể làm ngay. Ví dụ, trong công tác phê bình, tự phê bình không nên nói chung chung mà cần rõ địa chỉ. Theo Bác Hồ thì phê bình việc chứ không phê bình người. Cần chỉ rõ việc ấy giao cho ai, ai làm, làm đúng hay sai, kết quả tốt hay xấu? Ai chịu trách nhiệm? Việc xóa bỏ chế độ bao cấp, đối với số đông cán bộ, công chức chúng ta đã làm xong nhưng với thủ trưởng, với cấp trên thì còn nhiều việc chưa làm đến nơi, đến chốn. ở đây không chỉ là vấn đề tài sản, công quỹ, tiền bạc mà quan trọng hơn là còn bao cấp, còn mập mờ thì uy tín của người được bao cấp còn bị xói mòn. Công khai chế độ, chính sách thực hiện nghiêm, không xuê xoa, nể nang bất cứ ai, càng thủ trưởng cấp trên càng phải gương mẫu, làm được như vậy thì kỷ cương, phép nước mới được duy trì. Quần chúng nhân dân rất sáng suốt, không có việc gì khuất tất có thể che mắt được dân chúng.

Chống thói hư, tật xấu của người đứng đầu trong bộ máy công quyền không phải là việc dễ, bởi vì những thói hư, tật xấu ấy là “giặc ở trong lòng” đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ “ngoại công, nội kích”. Nhưng Đảng và Nhà nước ta tin dân, dựa vào dân, “khó vạn lần dân liệu cũng xong”, vậy thì tại sao chúng ta không sớm bổ sung cơ chế để nhân dân, cán bộ và quần chúng cấp dưới bày tỏ sự tín nhiệm với người đứng đầu cơ quan, đơn vị mà không sợ bất cứ một sự trù úm nào?

Suy cho cùng, đó cũng là cách xây dựng, bảo vệ, giữ gìn uy tín cho người giữ trọng trách đứng đầu cơ quan, tổ chức của chúng ta.

——

(1) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, NXBCTQG, H.1994, tập 4, tr.203. (2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.72. (3,4) Sđd, tr.74. (5,6,7) Sđd, tập 5, tr.504-505. (8) Sđd, tr.291. (9) Sđd, tập 6, tr.480. (10) Sđd, tập 5, tr.552. (11) Sđd, tập 4, tr.47. (12) Sđd, tập 5, tr.61.

TRẦN ĐÌNH HUỲNH
TRỊNH QUANG CẢNH

xaydungdang.org.vn

Nguyên tắc xây dựng đảng – một biểu hiện đặc sắc của văn hóa Hồ Chí Minh

Từ trước đến nay, nhất là từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (1986), trong các đại hội của mình, Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu các chủ trương đổi mới, chỉnh đốn và xây dựng Đảng, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác tổ chức. Tổ chức là khoa học về con người mà ở đây là sự liên kết những con người tiên tiến, những con người mang trong mình một tinh thần cách mạng và tinh thần khoa học của thời đại. Đó không phải là một sự liên kết bất kỳ, nó phải tuân theo những nguyên tắc khách quan biểu hiện văn hoá của một “Đảng chân chính cách mạng”.

Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Những nguyên tắc xây dựng Đảng mà Người xác định và thực hiện là một biểu hiện đặc sắc của văn hoá chính trị. Sự thăng trầm của lịch sử Đảng, của lịch sử dân tộc do Đảng lãnh đạo từ đầu thế kỷ XX tới nay đã chứng minh hào hùng hệ giá trị văn hóa chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, trong đó những nguyên tắc tổ chức là kết tinh rực rỡ và then chốt nhất.

Theo lịch sử thời gian, chúng tôi nhận thấy:

Khi chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930), trong bản Điều lệ tóm tắt (do Người soạn thảo được Hội Nghị nhất trí tán thành), Hồ Chí Minh đã xác định: “Bất cứ vấn đề nào (TQC nhấn mạnh) đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả phải phục tùng mà thi hành”(1). ở đây, đã biểu hiện một tinh thần dân chủ trong Đảng như là một nguyên tắc bắt buộc và là cơ sở để ra quyết định. Đồng thời, dân chủ vừa là quyền lợi lại vừa là nghĩa vụ của đảng viên.

Cũng trong bản Điều lệ vắn tắt này, một trong những vấn đề quan trọng là kỷ luật đảng viên cũng được quy định một cách dân chủ: Không một cá nhân nào có quyền ra quyết định “xử phạt người có lỗi trong Đảng”. Quyền quyết định đó thuộc về tập thể cấp uỷ. (“Hội Chấp hành uỷ viên” hay “Đại biểu đại hội”).

Tháng 10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Trần Phú chủ trì, tuy đã thay “Chính cương sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt” của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng Cương lĩnh chính trị Đảng Cộng sản Đông dương, nhưng trong Điều lệ, về cơ bản, nguyên tắc xây dựng Đảng vẫn thể theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: “Đảng Cộng sản Đông Dương… phải tổ chức theo lối dân chủ tập trung”. Đại hội Đảng lần thứ nhất (1935), dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Hồng Phong, Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương được Đại hội thông qua cũng đã ghi rõ nguyên tắc xây dựng Đảng là “dân chủ tập trung”.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), Hồ Chí Minh đã phê bình cách lãnh đạo không được dân chủ, “Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình…

Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và “những thói xấu khác”(2).

Lãnh đạo thì phải kiểm soát. “Đó là kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ tập trung, phê bình và tự phê bình, những nguyên tắc mà Đảng phải thực hành triệt để”(3).

Năm 1951, trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Hồ Chí Minh viết: “Về tổ chức, Đảng Lao động Việt Nam theo chế độ dân chủ tập trung”. Trong báo cáo này, Người không xếp “phê bình và tự phê bình” vào nguyên tắc tổ chức nhưng Người lại xác định nó là “luật” trong Đảng. Luật ở đây, theo chúng tôi có thể hiểu theo hai nghĩa: “Luật” là quy luật và “luật” là sự bắt buộc phải theo. Người viết “Về luật phát triển, Đảng Lao động Việt Nam dùng lối phê bình và tự phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục quần chúng”(4). Tư tưởng Người đã được thể hiện ở trong Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam (Đại hội II).

Năm 1953, trong sách “Thường thức chính trị” Hồ Chí Minh đã chỉ rõ dân chủ tập trung cũng là nguyên tắc tổ chức của chính quyền Nhà nước các cấp. “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ.

Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung.

Từ Hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.

Chế độ dân chủ tập trung khiến cho toàn thể nhân dân (công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc) đều trở nên chủ nhân chân chính của nước nhà, đều đoàn kết để kháng chiến, kiến quốc”(5).

Cũng trong sách này, khi nói về nền tảng tổ chức của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: Có đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”(6).

Người nhấn mạnh: Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp, tổ chức thống nhất lại theo nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy tức là dân chủ tập trung. Nghĩa là “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”. Người nhấn mạnh: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật”(7). ở đây, Người không tách phê bình, tự phê bình thành một nguyên tắc riêng nhưng lại coi nó như là nội hàm của dân chủ.

Trong Lời bế mạc Hội nghị lần thứ 9 (mở rộng) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (đọc ngày 24-4-1956) Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến vấn đề dân chủ, phê phán tệ quan liêu, độc đoán chuyên quyền và bệnh sùng bái cá nhân. Người khẳng định: “Phải định rõ chế độ làm việc, đảm bảo nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng tức là tập thể lãnh đạo”(8), nhưng Người lại lưu ý: “Tập thể lãnh đạo phải đi đôi với cá nhân phụ trách”(9). Đến Hội nghị lần thứ 11 (mở rộng) của Đảng Lao động Việt Nam, trong lời bế mạc, Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh: “Cố gắng để tăng cường sự lãnh đạo tập thể của Trung ương, để mở rộng dân chủ trong Đảng”(10). Như vậy, tập thể lãnh đạo, nhất là tập thể lãnh đạo của Trung ương là điều kiện cần để mở rộng dân chủ.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960) tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, trong Điều lệ Đảng đều ghi nguyên tắc xây dựng Đảng là tập trung dân chủ.

Đáng chú ý là năm 1960, Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng, tuy trong Điều lệ ghi nguyên tắc xây dựng Đảng là tập trung dân chủ, nhưng nội hàm của nó vẫn thống nhất với những điều Hồ Chí Minh đã từng xác định, và trong tất cả các bài nói và viết của Người cho tới khi Người qua đời, Người vẫn nhất quán nhấn mạnh nội hàm của khái niệm ấy. Ví dụ, năm 1961, khi nói về đảng viên, cán bộ, Người nhắc nhở: “Trong công việc thì phải lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”(11). Nếu không, sẽ dẫn tới tình trạng “ai cũng phụ trách mà không ai phụ trách”. Đặc biệt, khi nói về sự lãnh đạo của Đảng, các cấp uỷ phải có tinh thần phụ trách. Theo Hồ Chí Minh, “Muốn như thế thì phải nắm vững nguyên tắc: Một là, nguyên tắc đoàn kết nội bộ. Hai là, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Muốn làm tốt việc ấy còn phải… dân chủ nội bộ. Muốn dân chủ nội bộ tốt thì cần… phải phê bình, tự phê bình. Cái này nó dính cái khác”(12). Nhiều lần Người nói: “Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ, mở rộng tự phê bình và phê bình. Tăng cường chế độ lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách”(13).

Khi Hồ Chí Minh 75 tuổi (1965), trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (Bản thảo Di chúc) Người viết: “Trước hết nói về Đảng… các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con người của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng…”(14).

Nếu nhân gian suy tôn Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc thì chính vì Người đã cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh quyền làm chủ của dân tộc ta và của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Nếu nhân gian suy tôn Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất thì chính vì một trong những giá trị văn hoá mà Người đã góp vào dòng chảy chung của văn hoá nhân loại là văn hoá chính trị, là dân chủ.

Nếu nhiều nhà hoạt động chính trị danh tiếng ca ngợi Hồ Chí Minh là “người chiến sỹ lỗi lạc nhất của phong trào cộng sản quốc tế”(15) thì chính vì Người đã nâng quan hệ của những người đồng chí trong nội bộ Đảng Cộng sản lên một tầm văn hoá mà không một tổ chức chính trị nào có được. Đó là thực hành dân chủ rộng rãi, là tình đồng chí thương yêu và giải quyết mọi công việc có lý, có tình, là giúp nhau cùng tiến bộ, là giữ gìn Đảng “thật trong sạch”, luôn luôn “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(Di chúc).

Để có một Đảng Cộng sản như thế, theo Hồ Chí Minh thì cần phải tổ chức và xây dựng Đảng theo nguyên tắc:

Dân chủ tập trung…

Theo Hồ Chí Minh “dân chủ tập trung” là một khái niệm trong đó dân chủ và tập trung có quan hệ biện chứng với nhau, dân chủ được xác định là nền tảng của tập trung.

Nội hàm của nguyên tắc dân chủ tập trung rất rộng, nó bao gồm được cả 6 điểm như điều 9 trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội IX thông qua.

Thực tiễn của Đảng ta và của các Đảng Cộng sản khi đã trở thành đảng cầm quyền đã minh chứng hùng hồn những nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng do Hồ Chí Minh đề ra và thực hành là đúng đắn. Sự đúng đắn ấy đã trở thành một phần trong hệ giá trị văn hoá chính trị Hồ Chí Minh: Văn hoá dân chủ.

______

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2002, tập 3, tr.7. (2) Sđd, tập 5, tr.243. (3) Sđd, tập 5, tr.288. (4) Sđd, tập 6, tr.174. (5) Sđd, tập 7, tr.218-219. (6) Sđd, tập 7, tr. 229. (7) Sđd, tập 7, tr.240-241. (8,9) Sđd, tập 8, tr.157. (10) Sđd, tập 8, tr.274. (11) Sđd, tập 10, tr.285. (12) Sđd, tập 10, tr.443. (13) Sđd, tập 10, tr.452. (14) Sđd, tập 12, tr.497-498. (15) Điện chức mừng 70 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh của Chủ tịch Mao Trạch Đông, Uỷ viên trưởng Chu Đức, Thủ tướng Chu Ân Lai.

TRỊNH QUANG CẢNH

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng dân là chủ, Đảng là đầy tớ của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã để lại những di huấn quan trọng cho cách mạng và Đảng ta, một trong những giá trị quý báu đó là tư tưởng dân là chủ, Đảng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, trong những khoá đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định mục đích của lớp học là đào tạo cán bộ, đưa họ trở về nước để giáo dục, giác ngộ, tổ chức nhân dân đấu tranh giải phóng đồng bào thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, lập ra chính quyền dân chủ nhân dân. Trong Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn, đề ra chương trình hành động của Đảng. Nội dung các văn kiện đó toát lên mục tiêu hành động của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Trong suốt 24 năm giữ cương vị cao nhất cơ quan đảng và nhà nước, bên cạnh khẳng định vai trò làm chủ đất nước của nhân dân, Hồ Chí Minh thường huấn thị cho cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện và phấn đấu, xứng đáng là đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng dân là chủ được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần sau khi nước độc lập, khi miền Bắc xây dựng CNXH. Dân là chủ, nghĩa là trong xã hội Việt Nam, nhân dân là người chủ của nước, nước là nước của dân. Các cơ quan đảng và nhà nước là tổ chức được dân uỷ thác làm công vụ cho dân. Dưới chế độ thuộc địa, nhân dân ta bị một cổ ba tròng, bị thủ tiêu hết mọi quyền dân chủ. Trong xã hội đó, quyền con người, quyền dân tộc bị kẻ thù chà đạp thô bạo, dã man. Lật đổ chính quyền thực dân đế quốc, lập chính quyền mới – chính quyền nhân dân trở thành mục tiêu trực tiếp của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ cao cả của Đảng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”(1). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng nghĩa lý gì. Giá trị cao nhất của độc lập dân tộc là đem lại quyền làm chủ thực sự cho dân, phải trao lại cho dân mọi quyền hành.

Trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh coi nhân dân là người “chủ”, nghĩa là dân có quyền được hưởng mọi quyền con người, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm, có nghĩa vụ tuân theo pháp luật, có quyền tự do lựa chọn và đi theo con đường cách mạng chân chính. Nhân dân có quyền ứng cử, đề cử đại biểu vào cơ quan nhà nước, đồng thời có quyền “bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(2). Nhân dân có quyền trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mọi công việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc phải được công khai bàn bạc với dân, do dân quyết định. Trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của mình. Những biểu hiện xem thường, thủ tiêu các quyền dân chủ đều trái với tư tưởng dân là chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi bàn về mục tiêu hoạt động, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng không có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. Để thực hiện được mục tiêu đó Đảng phải thu phục, chinh phục được nhân dân, muốn vậy Đảng phải làm tròn trách nhiệm đày tớ của nhân dân. Đày tớ là công bộc của dân, với nội hàm là vì lợi ích chung mà gánh vác việc dân, trung thành và tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân.

Trong quan hệ giữa Dân và Đảng, Hồ Chí Minh quy vào quan hệ chủ và đày tớ. Chủ là dân, đày tớ là Đảng. Nói đày tớ nghĩa là nói tới đức trung thành của Đảng với dân, thể hiện ở sự hiểu biết lợi ích, tâm tư nguyện vọng của dân, biết giải quyết đúng đắn, kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiến trình cách mạng Việt Nam luôn không ngừng vận động, với những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, theo đó nguyện vọng của dân cũng có bước phát triển theo dòng thời gian. Khi nước mất, nhân dân Việt Nam trở thành người nô lệ, nhiệm vụ của Đảng là tập trung lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền thực dân, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách thống trị thực dân, lập chính quyền mới, đem lại quyền làm chủ cho nhân dân. Khi nước độc lập rồi thì Đảng phải nắm bắt và giải quyết kịp thời những nhu cầu trực tiếp mà nhân dân đặt ra như: Ăn, ở, học hành, chữa bệnh v.v… Nếu dân đói, dân rét thì đó là lỗi của Đảng và Chính phủ. Đối với hoạt động của cán bộ, đảng viên, Người thường nhắc nhở “việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(3). Đức trung thành của Đảng với dân gắn liền với vận mệnh của nước. Khi đất nước bị chia cắt thành hai miền, thì sự trung thành của Đảng với dân thể hiện ở việc lãnh đạo giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nếu nước mất thì nhà tan; nước độc lập thống nhất thì dân mới có quyền hưởng tự do, hạnh phúc. Vì vậy, việc giải quyết lợi ích của dân phải gắn đồng thời với giải quyết những vấn đề về sinh mệnh của dân tộc, có như vậy Đảng mới làm đúng nghĩa trung với dân.

Là đày tớ của dân, Đảng và Nhà nước phải tận tâm, tận lực đối với dân trong từng việc làm. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Không chỉ thấm đượm trong từng lời nói, Hồ Chí Minh đã biến tư tưởng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thành hành động cách mạng, trọn đời vì nước, vì dân. Sự hy sinh cao cả cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh trở thành tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, Người trở thành hiện thân của truyền thống kính dân, yêu dân của Đảng ta. Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư nguyện vọng và lợi ích của dân.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu vô cùng quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân rất quan trọng là Đảng luôn kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, lấy phục vụ nhân dân làm nhiệm vụ cao nhất theo đúng Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân là chủ và “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(4).

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.270. (2) Sđd, tập 9, tr.591. (3) Sđd, tập 4, tr.22. (4) Sđd, tập 12, tr.510.

Ths CHẾ ĐÌNH QUANG

xaydungdang.org.vn

Ngày 4/3: “Tôi đang đứng trước con người phi thường”

– Ngày 4/3/1945, là người dứng đầu Mặt trận Việt Minh, Hồ Chí Minh qua Côn Minh (Trung Quốc) để tìm cách tiếp xúc với quân Đồng Minh, một mặt trao trả viên trung uý phi công Mỹ Shaw được Việt Minh cứu sống ở miền Bắc Việt Nam khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi, đồng thời đặt quan hệ đồng minh với các đơn vị quân Mỹ đang có mặt tại đây, trực tiếp là cơ quan trợ giúp mặt đất (AGAS).

Trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với Cơ quan Thông tin chiến tranh để đọc sách báo, thu thập tin tức và tìm cách liên hệ với Bộ Ngoại giao Mỹ.

Trung uý Charles Fenn, là sĩ quan của cơ quan tình báo chiến lược OSS của Mỹ là người được Bác tiếp xúc sớm nhất và chính viên sĩ quan này đã giới thiệu để người đứng đầu cách mạng Việt Nam tiếp xúc với người đứng đầu lực lượng Đồng minh ở vùng Hoa Nam là tướng Claire Chennault để từ đó xác lập mối quan hệ đồng minh chống phát xít Nhật.

Chủ tịch HCM đọc báo cáo tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khoá I ngày 4-3-1946.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khoá I ngày 4/3/1946.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch. Fenn chính tay đã biên soạn cuốn tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh đầu tiên bằng tiếng Anh (Ho Chi Minh-a biography) được xuất bản tại Mỹ… và hơn một nửa thế kỷ sau, khi đã ngoài 100 tuổi, ông còn viết lời giới thiệu cho cuốn sách của 2 tác giả người Mỹ là Lady Borton và David Thomas xuất bản ở Việt Nam có nhan đề “Hồ Chí Minh – một chân dung”. Ông viết :

“Lần đầu gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc vào tháng 3/1945, tôi không biết gì về thân thế và sự nghiệp của ông. Khi đó tôi làm việc cho Cơ quan tình báo chiến lựợc, tiền thân của CIA.

Với tôi, công lao của Hồ Chí Minh là chỉ đạo việc cứu sống một phi công Mỹ khi chiếc máy bay của anh ta bị bắn rơi ở Đông Dương. Dù quân Nhật đóng dày đặc ở biên giới Việt – Trung, viên phi công Mỹ vẫn được người Việt Nam đưa an toàn về căn cứ Mỹ ở Côn Minh. Điều đó làm cho Hồ Chí Minh có thể trở thành một đồng minh của Mỹ trong các hoạt động ở Đông Dương.

Trong tâm trạng ấy, tôi nói chuyện với Hồ Chí Minh, một người dáng nhỏ, gầy, hơi già trong chiếc áo vải bông sờn cũ. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, bởi vì tôi chưa biết rằng ông còn thông thạo tiếng Anh, không kể tiếng Nga, Đức, Xiêm, hai phương ngữ Trung Hoa và tất nhiên, tiếng Việt và tiếng một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Thoạt đầu, ông không gây cho tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi tôi cảm nhận được ánh sáng đặc biệt của đôi mắt ông, tôi biết tôi đang đứng trước một con người phi thường.

Sau này, khi hướng dẫn cho ông nghệ thuật tình báo quân sự phương Tây, tôi mới thấy đôi mắt sáng của ông đã ánh lên thần thái một cách mạnh mẽ thế nào qua việc ông nắm vững rất nhanh môn học đầy phức tạp đó…

Nếu chúng ta so sánh Hồ Chí Minh với các lãnh tụ nổi tiếng khác của thế kỷ XX, chúng ta không thể không có ấn tượng khi biết rằng trong một thời gian dài, Hồ Chí Minh đã đi tới nhiều nơi trên thế giới và đã bắt đầu in dấu ấn của mình lên các biến cố quốc tế trước khi cả Mao Trạch Đông, Gandhi, Nehru, Roosevelt, Churchill hay De Gaulle được biết trên thế giới.

Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất, đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại, lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

Xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tượng Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai: Ảnh gialai.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn đặc biệt chú ý giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên ý thức bảo vệ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Người khẳng định: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Tư tưởng của Người về đoàn kết thống nhất của Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc tổ chức kỷ luật trong Đảng với tình thương yêu đồng chí mang đậm nét văn hoá phương Đông, giữa truyền thống dân tộc và phẩm chất tiên tiến của giai cấp công nhân.

Giáo sư Trần Văn Giàu nói: “Đến Cụ Hồ thì đại đoàn kết được xây dựng trên cả một lý luận chứ không còn đơn thuần là tình cảm tự nhiên của người trong một nước phải thương nhau cùng”(1). Theo số liệu thống kê, trong 1.921 bài viết của Bác có tới 839 bài Bác đề cập đến vấn đề đoàn kết thống nhất và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, vấn đề đoàn kết trong Đảng được Bác nhắc đi, nhắc lại tới 16 lần. Trong “Di chúc” thì thuật ngữ “đoàn kết” được Bác nhấn mạnh 7 lần. Bác căn dặn “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2). Đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ là “đoàn kết một chiều”, “bằng mặt mà không bằng lòng”, “liên minh”, lúc cần thì hợp lực, không cần thì tìm cách lật đổ nhau… mà phải là đoàn kết có lý, có tình – tình cảm cách mạng trong sáng, tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Bác từng nói: “Toàn Đảng, toàn dân đồng sức đồng lòng thì khó khăn gì cũng nhất định khắc phục được”(3).

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng phải là một chiến lược lâu dài, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”(4). Bác luôn tâm niệm, Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người và nhờ vậy “Cách mạng nhất định thành công. Ta thành công chính vì ta đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”(5).

Bác khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi, cục bộ, kèn cựa… “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi”(6).

Có thể nói, xây dựng, củng cố và tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm lớn lao của toàn thể cán bộ, đảng viên, trước hết là của những cán bộ chủ chốt.

Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh, thật sự đoàn kết thống nhất thì mới đảm bảo sự lãnh đạo, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng đến bến bờ thắng lợi. Do đó, mỗi đảng viên phải nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sự đoàn kết thống nhất, tự giác rèn luyện đạo đức cách mạng, năng lực hoạt động để góp sức xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đồng tâm nhất trí, đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Hiện nay, để bảo vệ và giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng “như giữ gìn con ngươi của mắt mình” cần thực hiện nhiều giải pháp, trong đó:
1. Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân.

Tự phê bình và phê bình không những là vũ khí sắc bén mà còn là động lực bên trong giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, công khai, chân thành. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7). Do đó, tự phê bình và phê bình cần tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên, phê bình việc chứ không phê bình người và phê bình phải thường xuyên như “rửa mặt hằng ngày”. “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(8).

2. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề cao tính tổ chức và kỷ luật trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng.

Dân chủ trong Đảng là phải làm cho tất cả đảng viên đóng góp ý kiến của mình cho Đảng với ý thức trách nhiệm xây dựng trong nguyên tắc sinh hoạt đảng. Các cấp uỷ đảng phải bảo đảm dân chủ từ cơ sở. Mặt khác, từng cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm đóng góp ý kiến vào những vấn đề chung, nhất là những vấn đề thuộc về đường lối, chính sách và giải pháp thực hiện. Thực hiện tập trung dân chủ thực sự trong sinh hoạt đảng nhằm tạo cơ sở bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

3. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hiện tượng mất đoàn kết và nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết, thực hiện tốt chế độ thi đua khen thưởng và kỷ luật của Đảng.

Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Công tác kiểm tra giúp cho các cấp uỷ kịp thời phát hiện và ngăn chặn nguyên nhân, hiện tượng mất đoàn kết. Bên cạnh đó, tổ chức thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng có tác dụng kịp thời động viên, khích lệ những tập thể, cá nhân, cán bộ, đảng viên có thành tích trong xây dựng khối đoàn kết thống nhất, nhắc nhở giáo dục cán bộ, đảng viên không ngừng xây dựng, vun đắp cho khối đoàn kết thống nhất.

4. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực của đội ngũ đảng viên, đủ uy tín và khả năng quy tụ đội ngũ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tổ chức đảng.

Cán bộ quyết định sức mạnh và hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có năng lực, trình độ, uy tín mới có thể tập hợp, tổ chức, quy tụ được sức mạnh đội ngũ đảng viên và quần chúng. Cùng với việc quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ, công tác đánh giá, quản lý cán bộ cần phải được chú trọng hơn, phải quan tâm bồi dưỡng thường xuyên kiến thức về công tác tổ chức, cán bộ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất trong Đảng mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để mỗi chúng ta phấn đấu, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao ý thức đoàn kết góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

____

(1) Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Tư tưởng Hồ Chí Minh xuất bản, H.1993, tập 2, tr.34. (2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.510. (3) Sđd, tập 10, tr.545. (4) Sđd, tập 9, tr.400. (5) Sđd, tập 11, tr.467. (6) Sđd, tập 5, tr.238. (7) Sđd, tập 5, tr.261. (8) Sđd, tập 5, tr.232.

NGUYỄN THỊ NGỌC CẢNH
Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực III

xaydungdang.org.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Giai cấp nông dân

1. “Thực túc thì binh cường!”

Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất.

Ruộng rẫy là chiến trường

Cuốc cày là vũ khí,

Nhà nông là chiến sĩ,

Hậu phương thi đua với tiền phương.

 

Thư gửi nông dân thi đua canh tác, tháng 2-1951, sđd, t.6, tr. 178.

 

2. … Phải củng cố hợp tác xã cho tốt. Muốn hợp tác xã tốt, phải thế nào? Phải nâng cao tinh thần làm chủ: làm chủ xóm làng, làm chủ hợp tác xã, làm chủ đất nước… Nay dân đã là chủ. Nhưng phải cho ra người chủ, chứ không thể phất phơ được. Mọi người đều có trách nhiệm làm cho dân giàu nước mạnh, quốc phòng vững mạnh. Làm chủ hợp tác xã là thế nào? Là phải coi công việc của hợp tác xã như công việc của mình, chứ không phải làm sao cũng được.

 

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (Nghệ An), ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 455.

 

36. … Các hợp tác xã đều phải:

– Đoàn kết chặt chẽ, giữa xã viên với nhau, đoàn kết giữa ban quản trị và xã viên.

– Thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh.

– Tài chính phải công khai, tuyệt đối chống tham ô, lãng phí.

Các hợp tác xã phải làm thế nào để các xã viên đều thấy rằng mình là người chủ tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã. Có như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất, và hợp tác xã sẽ tiến bộ không ngừng.

 

Nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình ngày 1-1-1967, sđd, t.12, tr. 195.

quangbinh.gov.vn

Lẽ sống giản dị của Bác Hồ

Có một nhà văn đã viết: Một con người vĩ đại, nhiều khi vĩ đại ngay trong công việc bình thường. Chúng ta có thể nghĩ tới lời ca trong một bài hát:

Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ,
Bác đi từ ở chiến khu Bác về.
Phố phường trận địa, nhà máy đồng quê, đều in dấu dép Bác về, Bác ơi!

Với những người bạn nước ngoài, một vị Chủ tịch nước nổi tiếng như Bác lại đi một đôi dép cao su là điều rất lạ. Ngày Bác sang thăm Liên Xô, một cháu thiếu nhi đã viết thư cho Bác: Sao Bác không đi giầy? Mỗi thiếu nhi Liên Xô chúng cháu góp một cô-pếch thì Bác đi giầy suốt đời không hết.

Một nhà văn An-giê-ri đã viết một vở kịch về Bác với cái tên “Người đi dép cao su”. Một đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Nhật Bản khi sang thăm Việt Nam đã viết: Hai bàn chân của đồng chí Hồ Chí Minh thu hút tâm trí tôi. Tôi nghĩ: Hai bàn chân này đã đi khắp thế giới.

Khi Bác đã đi xa, nhà thơ Tố Hữu viết:

Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn.
Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn.
Và: Tôi viết bài thơ cho các con
Mai sau được thấy Bác như còn
Phơ phơ tóc bạc chòm râu mát
Đôi dép mòn đi in dấu son.

Ở cuối bài thơ ấy, Tố Hữu xúc động:

Còn đôi dép cũ mòn quai gót
Bác đã từng đi khắp thế gian.

Ngày nay, “đôi dép Bác Hồ” đã trở thành một kỷ vật thiêng liêng, vô giá Bác để lại cho con cháu. Hằng ngày những dòng người nối tiếp nhau vào Lăng viếng Bác đều thấy đôi dép ấy được đặt trong lồng kính, dưới chân Người.

Bác Hồ của chúng ta đi đôi dép cao su, bởi Bác giản dị, tiết kiệm. Một lần các đồng chí phục vụ thấy đôi dép Bác đi đã mòn, liền thưa với Bác xin được mua một đôi dép mới cho Bác. Bác nói: Không phải vì Bác sợ tốn kém mà vì đôi dép Bác đang đi vẫn còn dùng được. Ở gần Bác lâu ngày các đồng chí phục vụ nhận ra một điều, không phải Bác có thêm một bộ quần áo mới, một đôi dép mới, thì đất nước nghèo đi mà vì một lẽ, Bác muốn chia sẻ với cuộc sống còn thiếu thốn của hàng triệu nhân dân. Năm 1946, Bác sang Pháp đàm phán, thấy Bác mặc đơn sơ quá, các nhà báo đã ngạc nhiên. Nhưng Bác nói: Tôi mặc thế này, bởi nhân dân tôi vừa qua khỏi cảnh mất nước, đời sống còn thiếu thốn nhiều. Bởi vậy, đến bây giờ một số người nước ngoài đến thăm nhà Bác, trong tủ chỉ thấy mấy bộ quần áo, vài đôi dép, một đôi giầy thì rất ngạc nhiên: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có thế này thôi ư?

Đọc hồi ký của các đồng chí đã từng phục vụ Bác, chúng ta xúc động thấy việc ăn uống của Bác rất dân dã: một món ăn mặn, một bát canh, tương cà là đủ. Bác tự chọn cho mình căn phòng nhỏ trước kia là chỗ ở của người thợ điện của Phủ toàn quyền để ở. Sau này, thấy căn phòng chật chội, Bộ Chính trị mới quyết định làm ngôi nhà mới để Bác ở và làm việc. Bác đã chọn ngôi nhà sàn nhỏ. Hôm làm xong, Bác mời đồng chí kiến trúc sư đến bảo:

– Chú làm nhà thế là nhanh, tốt. Nhưng có một khuyết điểm, chú biết khuyết điểm gì không?

– Dạ thưa Bác, so với ý Bác dặn thì căn nhà to hơn đôi chút ạ!

Bác cười: Chú nói đúng, nước ta chưa giàu, dân ta còn nhiều thiếu thốn, chưa đủ nhà ở, Bác ở thế này là tốt rồi!

Bác Hồ luôn coi đạo đức là “gốc” của người cách mạng. Chính Bác đã nêu một tấm gương sáng về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Tất cả cuộc đời và lẽ sống của Người là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

Người vì dân – sống giữa lòng dân
Và nơi ấy, ngàn đời Người sống mãi.

Bùi Hoàng

xaydungdang.org.vn