Thư viện

Hồ Chí Minh với tín ngưỡng, tôn giáo ở Thủ đô Hà Nội

Long live Uncle Ho

Tiếp tục đọc

Advertisements

Người công giáo ghi ơn Bác Hồ

Chuyện kể về Người

Ngày 12/6/1987, tại Hội thảo khoa học “Bác Hồ với Huế – Huế với Bác Hồ” do Thành ủy Huế tổ chức nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày Bác Hồ về thăm Đồng Hới – Quảng Bình, lúc đó thuộc tỉnh Bình – Trị – Thiên, linh mục Nguyễn Văn Ngọc đã kể một kỷ niệm không bao giờ quên của đồng bào Công giáo xứ Huế về đức bác ái bao la của Bác Hồ:

Tiếp tục đọc

“Lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có một niềm tin tuyệt đối vào trí tuệ và sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam. Người đã xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững chắc chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Tư tưởng thêm bạn bớt thù, đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ truyền thống giàu lòng đồng tình và bác ái của dân tộc ta:

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Từ quan niệm đạo đức quý báu đó, Người đã đúc kết thành một chân lý vĩ đại: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”(1).

Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là người nắm vận mệnh của đất nước, hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò quan trọng của đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới đều cần huy động sức mạnh toàn dân. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh to lớn của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết, không ai chiến thắng được. Mỗi khi đất nước đứng trước những hiểm họa xâm lăng, Người kêu gọi toàn dân hãy đoàn kết lại thành một khối thống nhất để đấu tranh giải phóng dân tộc vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập tự do.

Để xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững mạnh, Người khuyên đồng bào vì lòng yêu nước thương nòi, hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến để cùng phấn đấu cho một tương lai tươi sáng. Trong Thư gửi đồng bào Nam bộ, Người viết: “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu con người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận ra rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc…có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”(2).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân, trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Người coi đó là nền, là gốc của đại đoàn kết. Người chủ trương đoàn kết lâu dài và rộng rãi, vì vậy, đoàn kết phải trở thành chính sách chiến lược của Đảng và Nhà nước. Người xác định mục đích của đoàn kết là để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, vì vậy trong nhân dân hễ ai có tài, có đức, có lòng thì ta đoàn kết với họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, trong chính sách đoàn kết toàn dân phải chống hai khuynh hướng sai lầm: Cô độc hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc. Đồng thời Người cũng chỉ rõ: Phải luôn củng cố khối đoàn kết theo phương châm lấy công tác mà củng cố đoàn kết, lấy đoàn kết mà đẩy mạnh công tác.

Nhận thấy nhân dân là lực lượng quyết định thắng lợi của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra các hình thức tốt nhất để tổ chức lực lượng của nhân dân như thành lập các mặt trận: Việt Minh, Liên Việt, Dân tộc thống nhất, Tổ quốc Việt Nam… nhằm tập hợp các lực lượng cách mạng thành khối đoàn kết toàn dân tộc. Người chủ trương đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân thuộc các đảng phái, các đoàn thể trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam để giúp đỡ nhau phấn đấu hoàn thành sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.

Người nêu ra bốn mục đích của Mặt trận đoàn kết dân tộc là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Theo Người, muốn thống nhất phải có hòa bình, muốn độc lập thì phải có dân chủ. Bốn điểm đó như bầu trời có bốn phương Đông – Tây – Nam – Bắc, như một năm có bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, không thể tách rời nhau. Cương lĩnh của mặt trận đoàn kết phải là ngọn cờ tập hợp các lực lược cách mạng, trong đó Đảng là người lãnh đạo mặt trận và là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân. Tư tưởng của các thành viên trong mặt trận phải đoàn kết với nhau chân thành, không đoàn kết ngoài miệng mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết thực sự với thái độ thân ái giúp đỡ lẫn nhau, thật thà học tập những ưu điểm, thẳng thắn phê bình những khuyết điểm của nhau để cùng nhau tiến bộ.

Khối đoàn kết toàn dân được xây dựng từ mối quan hệ khăng khít giữa các dân tộc, các tôn giáo, mối liên hệ quân – dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nước ta là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,…phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội chủ nghĩa, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc.

Đối với các thành phần tôn giáo, Chủ tịch Hồ chí Minh rất tôn trọng tự do tín ngưỡng của đồng bào vì đó là điều thiêng liêng trong sâu thẳm tâm linh mỗi con người, là quyền lợi chính đáng cần được bảo vệ. Tuy nhiên, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người đánh giá cao công lao đóng góp của đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước. Người nhắc nhở đồng bào Phật giáo phải đoàn kết, đóng góp sức lực và tiền của để đánh đuổi thực dân, cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, làm theo lòng từ bi của đạo Phật. Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Người mong muốn các hòa thượng tăng ni và Phật tử tích cực thực hiện tinh thần từ bi vô ngã vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc.

Trong thư gửi đồng bào công giáo ngày 14/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nước nhà ta đang đứng trước một tình thế rất nghiêm trọng. Dân tộc ta suy hay thịnh, mất hay còn chính là ở trong lúc này. Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(3). Thấu hiểu nguyện vọng của đồng bào Thiên chúa giáo là phần xác ấm no, phần hồn thong dong cho nên cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng sẽ giải phóng trọn vẹn cho người dân công giáo cả về phương diện chính trị và tôn giáo. Người tin tưởng rằng, khi lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hào bình thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ ta, tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội trở thành sức mạnh vô cùng to lớn.Trong bài Quân đội nhân dân đăng Báo Nhân Dân ngày 24/12/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân và dân đoàn kết thành một khối vững chắc, cùng nhau mạnh mẽ tiến lên, thì sẽ vượt qua được mọi khó khăn, nhất định thành công trong sự nghiệp thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ cả nước”(4).

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Quân dân đoàn kết là đường thành công.

Đối với đồng bào ta ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm sâu sắc. Người khen ngợi, khích lệ sự đóng góp của kiều bào cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Người hiểu rằng, kiều bào ta tuy ở đất khách quê người nhưng lòng luôn hướng về Tổ quốc. Người khuyên kiều bào khi về nước cần góp tài góp sức vào công cuộc xây dựng nước nhà. Trong thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp ngày 12/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng tôi gửi lời chào và khuyên tất cả anh chị em kiều bào:

1. Phải triệt để đoàn kết…

4. Mỗi người cần biết thạo một nghề để mai sau về nước giúp ích cho cuộc xây dựng nước Việt Nam mới”(5).

Đại đoàn kết toàn dân là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng này mang ý nghĩa chiến lược, góp phần quan trọng trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đoàn kết toàn dân trở thành một trong những quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Từ khi ra đời đến nay chính sách này đã không ngừng được bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với sự vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam nhằm phát huy tối đa sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Nhờ đó mà chúng ta đã vượt qua bao khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù của dân tộc, vững vàng tiến bước ngay cả trong những thời điểm thế giới có những diễn biến phức tạp.

Thực hiện lời dạy của Người, trong suốt những năm qua Đảng ta đã không ngừng xây dựng củng cố tình đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân. Từ khi bước sang giai đoạn đổi mới đất nước Đảng ta đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn giá trị tư tưởng đại đoàn kết toàn dân. Điều đó được thể hiện nhất quán trong các chủ trương chính sách đổi mới trên cơ sở thống nhất về chính trị tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân, giải quyết hợp lý lợi ích kinh tế giữa các thành phần kinh tế xã hội, huy động được sức lực trí tuệ toàn dân để xây dựng đất nước.

Về giá trị lý luận cũng như thực tiễn, đại đoàn kết toàn dân là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà mỗi người dân Việt Nam phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện một cách triệt để trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc.

Theo http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Người bạn linh mục chí cốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong bài điếu văn đọc tại lễ an táng linh mục Phạm Bá Trực, Bác viết: “Tôi xin thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ”.

– Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

“Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”

Những sải chân bước rảo trên con đường dẫn sang núi Hồng, người có tên gọi Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) giục bạn đồng hành: “Bệnh tình của Ông Cụ đã thuyên giảm, sốt cao đã hạ xuống bình thường. Ông Cụ hỏi tôi về tình hình nhân sĩ trí thức của Hà Nội và Bắc Hà đấy, tôi nói cái này không rành, sẽ có đồng chí khác báo cáo. Giờ anh lên, anh tới gặp Ông Cụ đi. Tôi đã trao đổi trước với đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) rồi.

Lội qua con suối, hai người tới một cái lán. Khi bước vào, khách trông thấy có Ông Cụ đang ngồi chăm chú đọc một cuốn sổ tay nhỏ. Gầy còm nhưng rắn rỏi, đôi mắt sáng và linh lợi, với chòm râu thưa, mới tiếp xúc lần đầu tiên khách đã nhận ra Ông Cụ cởi mở và giản dị. Với giọng trầm và ấm, từ trong ngực phát ra, Ông Cụ đề nghị khách nói cho nghe tình hình trí thức trong nước.

Giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).

Vị  khách đó là Vũ Đình Huỳnh, một nhà hoạt động lâu năm có uy tín lớn trong giới trí thức, công chức, công thương gia, tôn giáo của Hà Nội và Bắc Kỳ nói chung. Khi mặt trận Việt Minh phát hành tờ tín phiếu để quyên góp tài chính của các nhà “hằng tâm hằng sản” có tên và chữ ký của Triệu Hải, Triệu Vân. Triệu Hải là biệt danh của Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) và Triệu Vân là Vũ Đình Huỳnh. Trước ngày khai mạc Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Triệu Hải – Triệu Vân bí mật sắm sửa lễ vật chuẩn bị.

Sau khi nghe Ông Cụ hỏi, ông Vũ Đình Huỳnh đã báo cáo với Ông Cụ những gì ông biết, từ phong trào Cần Vương trở đi, ai còn, ai mất trong Đông Kinh nghĩa thục; Phục Việt là gì, nhóm Thanh Nghị, Tự Lực văn đoàn… và thái độ của từng người đối với Việt Minh và cách mạng dân tộc thế nào…

Ông Cụ nghe chăm chú, thỉnh thoảng mới ngắt lời để hỏi kỹ thêm về một người nào đó như cụ Huỳnh Thúc Kháng; hay cụ Nguyễn Văn Tố tại sao lại gọi là ông Phán Men, có phải vì cụ nghiện rượu. Khi biết cụ Nguyễn Văn Tố hàng ngày đi làm, không đi xe kéo mà chỉ đi bộ, lúc nào cũng cầm ô đi sát đường, đi men tường nên mới thành biệt hiệu ông Phán Men. Ông Cụ cười thành tiếng, giọng cười ấm áp, thư thái và truyền cảm.

Thế còn linh mục Phạm Bá Trực?

Ông Vũ Đình Huỳnh báo cáo để Ông Cụ rõ: Linh mục Phạm Bá Trực sinh năm 1898 tại Bách Nguyên, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Linh mục là một trong những khuôn mặt nổi bật nhất, nổi tiếng là một người yêu nước chống Pháp kiên quyết nhất.

Những năm đầu 1930, sau khi học xong tại Roma – đã đậu bằng Tiến sĩ triết học và Thần học – trở về nước, Linh mục càng thấy rõ hơn ai hết, những cảnh bất công đồng bào mình phải chịu cũng như cả Giáo hội Việt Nam phải chịu. Ai cũng nghĩ Phạm Bá Trực sẽ được phong giám mục, vậy mà giáo chức người Pháp lại đưa về thị xã Hà Đông giữ một xứ đạo nhỏ, chỉ vì Phạm Bá Trực bướng bỉnh chống lại những lề thói phân biệt đối xử giữa các linh mục Tây và Việt Nam. Thấy cố đạo Tây lộng hành, cha mắng. Thấy linh mục người Việt không được phép ăn chung với linh mục Tây, cha chống. Linh mục Phạm Bá Trực chống cả việc linh mục tây vào gặp giám mục thì bắt tay mà linh mục ta thì phải tụt giày, vái lễ. Linh mục Phạm Bá trực có câu nói nổi tiếng: “Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, bốn giám mục Việt Nam lúc đó (hơn 80 năm kể từ khi chính thức xác lập năm 1862, Va-ti-căng chỉ phong phẩm và bổ nhiệm bốn giám mục người Việt Nam) đã gửi hai điện văn cho Toà thánh và tín hữu toàn cầu, đề nghị ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu cử đại biểu Quốc hội lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những nhà tu hành như: Thượng toạ Thích Mật Thể, Chưởng quản Cao Đài Cao Triều Phát, linh mục Phạm Bá Trực…đều trúng cử. Linh mục Phạm Bá Trực, đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam, được cử vào Uỷ ban Thường trực rồi Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.

“Vua Hùng kén rể”

Được sự uỷ nhiệm của Quốc hội, trong “Lời tuyên bố sau khi thành lập Chính phủ mới” – Chính phủ Liên hiệp tháng 11 năm 1946 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chính phủ mới phải tỏ rõ tinh thần đại đoàn kết, không phân đảng phái… Kết quả là, có những vị có tài năng nhận lời tham gia Chính phủ:  như Cụ Huỳnh, vì tuổi già sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu Cụ, Cụ cũng gắng ở lại. Lại có nhiều vị đứng ngoài sẵn sàng ra sức giúp đỡ: như Cụ Bùi Bằng Đoàn, linh mục Phạm Bá Trực… Dầu ở trong hay ngoài Chính phủ, ai nấy đều hứa sẽ cố gắng làm việc, một lòng vì nước,vì dân…

Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia”.

Nhờ chính sách đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đa số người Công giáo Việt Nam đã tin tưởng đi theo cách mạng. Những ngày đầu kháng chiến gian khổ, giám mục Hồ Ngọc Cẩn (Bùi Chu) đã ủng hộ cả dây chuyền vàng cho chính phủ Việt Minh.

Trong nhiều chức vụ quan trọng của Chính phủ, Quốc hội, người ta thấy có mặt người Công giáo như linh mục Phạm Bá Trực, cụ Ngô Tử Hạ – Thứ trưởng Bộ Cứu tế, luật sư Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế đầu tiên, bác sĩ Vũ Đình Tụng – Thứ trưởng Bộ Y Tế.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949) Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10/1949)

Tại miền Nam có nhà cả 3 linh mục, 2 nữ tu đều theo kháng chiến như gia đình linh mục liệt sĩ Nguyễn Bá Luật. Liên đoàn công giáo kháng chiến Nam bộ đã ra đời sau đó là Uỷ ban liên lạc Công giáo kháng chiến đã tập hợp nhiều tên tuổi như các linh mục Võ Thành Trinh, Hồ Thành Biên, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh…

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các Uỷ viên trong Ban thường trực được phân đi các địa phương ở Liên Khu III, Liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến. Sau đó các uỷ viên tuỳ theo khả năng và yêu cầu mà tham gia hoạt động kháng chiến ở địa phương, như Uỷ ban kháng chiến hành chính, làm phái viên của Chính phủ ở các khu… Cụ Bùi Bằng Đoàn được phân công sát bên cạnh Chính phủ để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Thường trực. Cụ Tôn Đức Thắng và linh mục Phạm Bá Trực được mời về cùng Trưởng ban điều hành công việc của Ban.

Sau khi đập tan cuộc tập kích của thực dân Pháp lên chiến khu Việt Bắc với mưu đồ bắt sống toàn bộ Trung ương Đảng và Chính phủ ta, Hồ Chủ tịch quyết định họp Hội đồng Chính phủ để mừng chiến thắng đồng thời vui Tết, đón Xuân Mậu Tý (1948). Phiên họp “tất niên” của Hội đồng Chính phủ diễn ra giữa núi rừng Việt Bắc khi rét đậm tràn về, nhưng các thành viên đều có mặt đông đủ. Trừ ông Đặng Phúc Thông vì ốm, còn các cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban, Linh mục Phạm Bá Trực – Phó Trưởng ban thường trực Quốc hội… là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc, dù tuổi già sức yếu đều tới dự. Có chiến sĩ, có quan thượng thư, có đức linh mục, có trí thức, có Việt minh, những người tóc đã bạc bên những người mái đầu xanh tuổi mới ba mươi… Tất cả cùng chung một ý chí “Tổ quốc trên hết, Kháng chiến trước hết”.

Cuối buổi, anh em phục vụ bưng lên mấy đĩa cam sành Bố Hạ vàng mọng của đặc uỷ đoàn do Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hoè mua về đãi quà Tết. Hội đồng Chính phủ vừa ăn cam vừa nghĩ, đóng góp một trò vui để cùng ăn Tết thật vui vẻ. Cụ Hồ giới thiệu cụ Bùi Bằng Đoàn sẽ mở đầu cuộc vui Xuân mừng chiến thắng…. Sau đó là màn diễn “Vua Hùng kén rể”.

Diễn viên đầu tiên Vở kịch “Vua Hùng kén rể” bước lên sân khấu trong tiếng hò la và vỗ tay rầm rộ của khán giả. Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội, linh mục Phạm Bá Trực, vai vua Hùng lụng thụng trong chiếc áo dạ to xù của lính Pháp mà Quân nhu mới cấp, và chiếc mũ dạ to tướng thường ngày để thay mũ bình thiên. Tiếp đó là Sơn Tinh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp luật sư Vũ Đình Hoè – nhảy ra múa mấy vòng, rồi khuỳnh khuỳnh tay tâu với Vua Hùng về chiến công đuổi được Thuỷ Tinh ra tận ngoài biển.

“Vua Hùng“ vểnh râu lên, khoái trá vuốt, rồi gọi to: “Bớ Mỵ Nương ! Con gái ta, mau mau ra mắt…”. Lời vừa dứt, công chúa choàng chiếc áo ca-pốt cũ của lính lê dương yểu điệu, da trắng nõn, đôi bờ vai hơi rộng, ra trình Vua cha. Khán giả cười lăn, cười bò vì công chúa có râu lún phún đó là luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế. Vua cha, chàng rể, công chúa cùng nhau ôm bụng cười… Cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban ôm chặt lấy cụ linh mục Phó ban của mình, đấm thùm thụp vào lưng và nói: “Giỏi quá! Giỏi quá! Thật là vui như Tết, vui hơn Tết!”.

Linh mục Phạm Bá Trực là một người yêu nước, kính Chúa. Được gặp Cụ Hồ, do sức cảm hóa đặc biệt của Người, Cụ Trực đã kiên quyết một lòng đi theo cách mạng và kháng chiến.

Là  Phó trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I, Cụ Trực được mời tham dự các phiên họp của Hội đồng Chính Phủ do Cụ Hồ chủ trì. Nhiều buổi họp khuya, Cụ thường được ở lại cùng Cụ Hồ.

Có  lần, dưới ngọn đèn khuya Cụ Trực ngồi yên lặng, ngắm Cụ Hồ làm việc, cảm thấy Cụ Hồ như là hiện thân của Chúa, mang đức độ nhân từ, bác ái, vị tha của một bậc thánh, Cụ Trực bỗng thốc lên: “Vous – êtes surnaturel!” (Người đúng là siêu nhiên!). Cụ Hồ mỉm cười, phủ nhận: “Non, nous sommes contre – naturel!”.

Bài điếu văn do Bác Hồ viết

Kháng chiến chín năm, Hồ Chủ tịch nhiều lần rơi lệ  khóc những bậc tài đức đã ra đi mà chưa  được nhìn thấy nước nhà độc lập. Đầu năm 1947, Người gửi điện văn vào Trung Bộ khóc cụ  Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nôi vụ, Đặc phái viên của Chính phủ kinh lý miền Trung đã từ trần ngày 21/4/1947. Buổi khai mạc phiên họp tất niên 1947 của Hội đồng chính phủ giữa núi rừng Việt Bắc, Hồ Chủ tịch đã bật khóc nhắc tới cụ Nguyễn Văn Tố – vị Bộ trưởng cứu tế xã hội trong Chính phủ lâm thời, Trưởng ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ, hy sinh khi Pháp tấn công lên Việt Bắc ngày 7/10/1947. Năm 1951, cụ Hồ Tùng Mậu, một người bạn thân thiết nữa của Hồ Chủ tịch ngã xuống. Lần này…

Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, Hiệp định Giơnevơ đã ký kết, miền Bắc được giải phóng, Chính phủ sắp trở về Thủ đô. Nhưng cuộc sống vất vả trong chiến khu vắt kiệt sức và cụ linh mục Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội đã tạ thế hồi 12 giờ 55 phút ngày 5 tháng 10 năm 1954 hưởng thọ 56 tuổi. Lại thêm một đêm Người thức trắng, từng dòng lệ rơi trên trang giấy đọng lại trong lời ai điếu. Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

Hồi 9 giờ 30 ngày 7 tháng 10 năm 1954 lễ an táng linh mục Phạm Bá Trực được tổ chức tại nhà thờ An Huy, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Theo Thông cáo của Uỷ ban Thường trực Quốc hội – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vòng hoa viếng kèm lời điếu. Người phải cậy nhờ Bộ trưởng Phan Anh thay mặt Người đọc lời điếu:

“Tôi xin thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ.

Từ  ngày nhân dân tin cậy cử  Cụ làm đại biểu Quốc hội và Quốc hội cử Cụ vào Ban thường trực, Cụ đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chính phủ trong mọi vấn đề quan trọng. Trong mọi việc, Cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy, với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt nam.

Nay Cụ mất đi, Chính phủ và nhân dân vô cùng thương xót.

Trong lúc ốm nặng Cụ thường nói với tôi: Mong trông thấy kháng chiến thắng lợi thì dù chết Cụ cũng thoả lòng.

Nay hoà bình đã trở lại Cụ đã thoả lòng.

Nhưng tiếc rằng Cụ không còn nữa để giúp nước, giúp dân.Với lòng vô cùng thương tiếc một nhà tận tuỵ ái quốc và một người bạn thân mến, trước linh hồn Cụ, chúng tôi nguyện kiên quyết một lòng, đoàn kết toàn dân để làm tròn sự nghiệp mà suốt đời Cụ mong muốn là: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn nước Việt Nam yêu quí của chúng ta.

Hồ  Chí Minh”.

Ngày 28/11/2009 tại Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên và Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tổ chức Hội thảo Khoa học “Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)”.Trong tham luận “Một số tư liệu về linh mục Phạm Bá Trực (1946-1954): Giới thiệu, đính chính, những vấn đề cần làm rõ”, Thạc sĩ Ngô Quốc Đông công tác tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) có nhắc đến một thực tế hiện nay là hình ảnh về linh mục Phạm Bá Trực rất hiếm thấy. Anh có dẫn ra 5 tấm ảnh từ năm 1946 đến khi linh mục qua đời (1954).

Để kết thúc bài viết này, tôi xin đăng kèm hai tấm ảnh về linh mục Phạm Bá Trực tại Chiến khu Việt Bắc. Tấm thứ nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949); tấm thứ hai là giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951). Còn một số ảnh khác, trong đó có ảnh chân dung kèm bút tích của linh mục Phạm Bá Trực xin hẹn vào một dịp khác.

Kiều Mai Sơn
Vkyno (st)

Bác Hồ với vị Thượng thư Bộ Hình của Nam triều

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ.

– Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 59 về việc bổ nhiệm những trí thức lớn được đào tạo dưới chế độ cũ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Vũ Trọng Khánh vào Hội đồng Phúc thẩm đặt tại Bộ Nội vụ theo một sắc lệnh số 40 ký ngày 29/3/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân.

Sắc luật về việc bảo vệ tự do cá nhân được ký cho thấy quyết tâm của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời từ trong một xã hội phong kiến và thuộc địa nhằm xây dựng một nhà nước pháp chế.

Sắc luật này quy định những điều khoản rất cụ thể về việc bắt người và giam cứu phải được thực thi đúng với quy trình pháp luật. Những quyền tự do cơ bản của người dân phải được bảo vệ.

10-1946 HCM tiếp đại biểu nhân sĩ,trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc bộ phủ,H (69KB)Tháng 10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu nhân sĩ, trí thức yêu nước dự kỳ họp thứ 2 QH khóa I tại Bắc Bộ phủ.

Riêng đối với những tình thế đặc biệt đòi hỏi “phương pháp đề phòng đặc biệt”  thì mọi quyết định của người đứng đầu cơ quan hành chính phải được trình lên một Hội đồng Thẩm phán Phúc thẩm được thành lập trong Bộ Nội vụ chuẩn y hay bác bỏ.

Hội đồng này còn có thẩm quyền đưa ra xem xét lại các vụ án và các trường hợp bắt giữ hoặc giam cầm. Hội đồng này gồm một đại biểu của Chính phủ; 1 thanh tra hành chính và 1 thẩm phán đều do Bộ Nội vụ đề nghị và sắc lệnh công nhận.

Điều đáng nói là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu 3 vị giữ những cương vị này đều là những trí thức được đào tạo của chế độ cũ và là những nhân sĩ. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một phó bảng, từng làm báo và hoạt động chính trị, lúc này là Bộ trưởng Nội vụ; ông Vũ Trọng Khánh là một luật gia đào tạo dưới chế độ thực dân và đặc biệt là cụ Bùi Bằng Đoàn từng là Thượng thư Bộ Hình của Nam Triều.

Trường hợp của Bùi Bằng Đoàn có thể coi là một điển hình của nguyên lý “cầu hiền tài” của Bác. Ngay khi Cách mang mới thành công, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập đã đưa ra lời kêu gọi “Tìm người tài đức”.

Bác đã giao cho Thư ký Vũ Đình Huỳnh đến gia thất cụ Bùi gửi “lời tâm tri”mời ra giúp việc nước. Cụ Bùi có ý e ngại vì mình đã từng là Thượng thư của chế độ đã bị cách mạng đánh đổ, nhưng khi đón ý của Bác cho rằng cụ Bùi là bậc đại thần “triều ẩn lập thân hành thiện” thì người được mời đáp lại ràng “Thính vũ thanh cảm ứng nghinh thu” và nhận lời đến gặp vị Chủ tịch nước vào ngày 22/11/1945.

Ngay ngày hôm sau, 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, có quyền hạn rất lớn chuyên xử lý các vụ việc liên quan đến các quan chức vi phạm pháp luật. Cụ Bùi Bằng Đoàn và nhà thơ Cù Huy Cận đã được Bác bổ nhiệm vào chức vụ này vì “đó là những người có danh tiếng” trong dân.

Sau việc bổ nhiệm vào Hội đồng Thẩm phán phúc thẩm, cuối năm 1946, tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, cụ Bùi Bằng Đoàn được cử làm Trưởng ban Thường trực của Quốc hội… và tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc cho đến khi qua đời.

Cũng trong một ngày đầu tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi đọc báo trong phòng làm việc tại Bắc Bộ phủ để các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Thị Kim sáng tác các tác phẩm hội hoạ và tạo hình vị Chủ tịch nước Viêt Nam Độc lập.

X&N
Vkyno (st)

“Câu chuyện cái đồng hồ” – Bài học về sự đoàn kết

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

“Năm 1954, các cán bộ tham gia cải cách ruộng đất đang dự hội nghị tổng kết ở Hiệp Hòa (Hà Bắc) để rút kinh nghiệm làm tốt đợt mới ở vùng giải phóng, thì có lệnh Trung ương rút bớy một số người đi học lớp tiếp quản thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán rất sôi nổi. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Giữa lúc đó thì Bác Hồ đến thăm hội nghị. Hôm đó giữa mùa thu, nhưng trời vẫn còn nóng. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu của Bác…Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi:

– Các chú có trông thấy cái gì đây không ?

Mọi người đồng thanh:

– Cái đồng hồ ạ.

– Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì ?

– Có những chữ số ạ.

– Những cái kim ngắn, kim dài để làm gì ?

– Để chỉ giờ, chỉ phút ạ.

– Cái máy bên trong dùng để làm gì ?

– Để điều khiển cái kim chạy ạ.

Bác mỉm cười, hỏi tiếp:

– Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng ?

Mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi:

– Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không ?

– Thưa không được ạ.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

– Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ…cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì có còn là cái đồng hồ được không ?

Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đã khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những suy nghĩ riêng tư vô lý”.

(trích trong tác phẩm BÁC HỒ KÍNH YÊU, Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1980)


Qua mẩu chuyện trên, ta có thể rút ra được rất nhiều điều có ý nghĩa:

1/ Trong mỗi cơ quan, đơn vị: mỗi cá nhân được phân công một nhiệm vụ và có bổn phận làm tròn trức trách, nhiệm vụ được giao, có như vậy thì mới tạo nên hiệu quả chung của cả tập thể cơ quan, đơn vị. Cần phải hiểu rằng việc phân cấp các chức danh, chức vụ trong cơ quan, đơn vị nhằm phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn mà bản thân mỗi cá nhân phải thực hiện khi đảm nhận chức trách đó.

Việc suy bì, tính toán hơn thiệt về quyền lợi, trách nhiệm trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoặc hành vi lánh nặng tìm nhẹ, suy nghĩ quan liêu, cục bộ… sẽ dễ dẫn đến sự mất đoàn kết trong nội bộ, từ đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cả đơn vị. Ngược lại nếu các cá nhân trong một tập thể nhận thức được vai trò, chức trách của mình và cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công, bất kể là ở vị trí Thủ trưởng hay nhân viên, tất cả đều nhắm tới một mục tiêu chung của đơn vị thì hiệu quả công tác chắc chắn đạt tỷ lệ cao.

2/ Trong xã hội: Bằng những đặc điểm riêng của mình mà các ngành, các cấp… khác nhau tạo nên một bức tranh xã hội phong phú. Hãy thử tưởng tượng nếu tất cả mọi người đều đi làm công nhân hết thì lấy đâu ra người nông dân để trồng trọt, chăn nuôi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống xã hội, nếu ai cũng muốn làm kỹ sư thì lấy đâu ra thợ để thực hiện những việc thủ công… Những nét riêng đó kết lại với nhau tạo thành một xã hội hoàn chỉnh.

3/ Trong công tác Mặt trận: các giai tầng, các ngành, các giới, các dân tộc – tôn giáo trong xã hội đều có đặc điểm riêng. Người làm công tác Mặt trận cũng giống như người thợ sửa đồng hồ, phải biết gắn kết những đặc điểm riêng lại để tạo nên một khối thống nhất thực hiện nhiệm vụ chính trị thông qua các phong trào hành động cách mạng tại đơn vị, địa phương. Có như vậy thì “cái đồng hồ” do Mặt trận làm ra sẽ chạy tốt, phục vụ cho xã hội một cách có hiệu quả nhất.

N.Q.T (quận 12) – ảnh PXL
ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

“Đoàn kết là cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

Ông Alain Ruscio và phóng viên TTXVN trong cuộc phỏng vấn. (Ảnh : Tiến Nhất)

Nhân kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phóng viên TTXVN tại Pháp đã phỏng vấn nhà nghiên cứu sử học người Pháp Alain Ruscio, Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại Pháp, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa Pháp và Đông Dương.

Ông Alain Ruscio cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử cận đại Việt Nam.

Với tư cách là nhà sử học, ông đánh giá như thế nào về di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc Việt Nam?

Alain Ruscio: Khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một bản Di chúc không chỉ mang tính nhân văn mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn. Có thể nói bản Di chúc này thâu tóm tất cả trong một mong muốn to lớn mà Người luôn ấp ủ: đó là sự đoàn kết.

Người kêu gọi sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ cao trào của cuộc chiến tranh. Nhớ lại thời điểm trước khi Người mất một năm, giai đoạn sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, quân Mỹ đã rút ở một số nơi nhưng vẫn tiếp tục ném bom ở nhiều nơi khác. Bác Hồ đã kêu gọi nhân dân Việt Nam luôn luôn đoàn kết: đó là chìa khóa dẫn đến chiến thắng sau này mà Người luôn tin tưởng.

Sự đoàn kết trong Đảng cũng là điều Người mong muốn. Ở vào thời điểm chủ nghĩa tư bản tấn công, đó không phải là lúc để tranh cãi nội bộ mà trước hết cần phải nghĩ đến lợi ích Cách mạng. Thông điệp này của Người mang một ý nghĩa rất to lớn.

Cuối cùng là mong muốn của Người về sự đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế.

Có ý kiến cho rằng tinh thần đoàn kết mà Bác Hồ đề cao trong Di chúc vẫn giữ nguyên giá trị của nó cho đến tận ngày nay, khi mà cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đã kết thúc và đất nước đã bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển. Ông nghĩ như thế nào về quan điểm này? 

Alain Ruscio: Tôi cho rằng đúng, sự đoàn kết, điều mong muốn của Hồ Chủ tịch, vẫn luôn có giá trị đối với nhân dân của ông ngay cả bây giờ. Trên thực tế, hiện nay ở Việt Nam có những người làm ra tiền, nhưng cũng còn nhiều người sống trong cảnh nghèo nàn. Tôi cho rằng không nên để hố sâu ngăn cách xã hội này rộng thêm.

Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân dân, các nhà lãnh đạo và các chiến sĩ Cách mạng Việt Nam cần phải tạo thành một khối thống nhất. Khái niệm “Đại Đoàn kết dân tộc” đóng vai trò hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh và tôi nghĩ rằng đó cũng là mục tiêu đồng thời là mong muốn mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang hướng tới.

Trong các câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, câu nào ông tâm đắc nhất?

Alain Ruscio: Đó chính là câu trả lời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Tổng thống Mỹ Nixon vào năm 1966: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do!”. Đây cũng chính là hai cụm từ dẫn đường cho xã hội Việt Nam. Độc lập dân tộc, các bạn đã giành được, còn tự do hiện đang luôn tiến triển.

Là chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của đất nước hiện nay?

Alain Ruscio: Rất ấn tượng! Tôi biết Việt Nam từ hơn 30 năm nay. Tôi đến Việt Nam hai năm một lần, thậm chí hàng năm, tùy thuộc vào từng giai đoạn và tôi thấy được những biến đổi về mọi mặt của đất nước này. Đó là một dân tộc cần cù, rất năng động, một dân tộc dù phải chịu nhiều đau thương và nghèo đói, nhưng luôn có ý chí vươn lên.

Tuy nhiên, việc xuất hiện sự chênh lệch xã hội và một số khó khăn, cái nghèo dai dẳng và nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang khiến cho Việt Nam bối rối. Tăng trưởng của Việt Nam không cao như những năm trước và xuất khẩu thì bị sụt giảm. Tuy những điều này có gây ảnh hưởng, nhưng tôi vẫn nhìn thấy ở đất nước này một dân tộc luôn phát triển./.

Nhà sử học Alain Ruscio là chuyên gia nghiên cứu các vấn đề thuộc địa và Đông Dương. Từng là phóng viên thường trú báo Nhân đạo (L’Humanité) của Pháp tại Việt Nam giai đoạn 1978-1980, ông Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người.

Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó có các tác phẩm đã được xuất bản như “Hồ Chí Minh,” “Sống ở Việt Nam,” “Việt Nam, lịch sử, đất nước, con người”…

Hiện nay, ông Alain Ruscio là Chủ tịch Trung tâm thông tin tư liệu Việt Nam tại thành phố Montreuil (Pháp). Được thành lập từ năm 1985, Trung tâm này là nơi tập trung nhiều nhất ở châu Âu những tài liệu về Việt Nam. Trung tâm đã và đang góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra với thế giới.

Nguyễn Thu Hà/Paris (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Bình đẳng dân tộc đặt nền móng cho đại đoàn kết

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho Đảng, nhân dân, dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hóa có ý nghĩa giá trị nhân văn sâu sắc.

Nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) và 20 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam (1990 – 2010), Vietnam+ xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài viết trong cuốn Kỷ yếu của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” diễn ra trong hai ngày 12-13/5, tại Hà Nội.

Dưới đây, xin trích đăng bài viết của bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương:

Một trong những di sản quý mà Hồ Chủ tịch đã để lại cho nhân dân Việt Nam chính là tư tưởng của Người về bình đẳng dân tộc. Tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bình đẳng dân tộc trong quan niệm của Hồ Chí Minh khác xa bình đẳng dân tộc của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh cho rằng, bình đẳng dân tộc không chỉ cụ thể hóa về mặt pháp lý, mà quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Và chính Người đã thực hiện điều đó.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định, các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng và Chính phủ sẽ hết sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta tiếp tục đề ra những chính sách nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc. Tháng 8-1952, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về dân tộc. Tiếp đó, tháng 6-1953, Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam với tinh thần cơ bản là đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ lẫn nhau. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc qua các thời kỳ của cách mạng.

Bình đẳng dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, chúng đã thi hành những chính sách đi ngược lại với nguyện vọng và quyền của các dân tộc ở Việt Nam. Đó là chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt đánh người Việt”, dùng người dân tộc này đánh người dân tộc khác, nhằm chia rẽ các dân tộc, phục vụ cho mưu đồ thống trị của chúng.

Vì vậy, có giành được độc lập dân tộc, mới có điều kiện để chăm lo cho đồng bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính phủ đã có những kế hoạch và hành động cụ thể để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước mang lại cuộc sống mới cho đồng bào.

Mặt khác, thực hiện bình đẳng dân tộc cũng là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Khi một dân tộc này chà đạp, ép buộc các dân tộc khác thì sớm hay muộn cũng tạo nên sự chia rẽ, ly khai dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải thực hiện bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc không những phải dựa trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, mà còn phải thực hiện đoàn kết các dân tộc.

Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì lợi ích của tất cả các dân tộc trong một quốc gia. Khi các dân tộc được đối xử bình đẳng, cả về nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự đồng thuận giữa các dân tộc và ngược lại.

Vì thế, nếu không đảm bảo và không có những chính sách và hành động cụ thể để thực hiện bình đẳng dân tộc, làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thành hiện thực thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp lực lượng của cách mạng.

Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó quyền bình dẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện. Xã hội đó, không thể khác là xã hội xã hội chủ nghĩa. Kết luận trên của Hồ Chí Minh được Người rút ra trong quá trình khảo nghiệm các con đường cứu nước và trong quá trình khảo sát các xã hội tư bản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong quan hệ giữa dân tộc đa số có trình độ phát triển cao hơn với các dân tộc thiếu số có trình độ thấp hơn rất dễ nảy sinh tư tưởng kỳ thị dân tộc, và thường có hai thái cực: một là người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, và hai là cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng.

Người cho rằng, cần phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi và tự ti dân tộc. Trong nhiều hội nghị, trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng những từ rất thân mật, ruột thịt để nói về tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, như “anh em một nhà”, “giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”… Người nhấn mạnh rằng, đồng bào miền xuôi với trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển hơn phải giúp đỡ đồng bào thiểu số, để cùng tiến bộ.

Người cũng đã khẳng định nhiệm vụ của Trung ương, Chính phủ và cấp ủy đảng là phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc, phải giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số về mọi mặt.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc chung sống, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% dân số cả nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước tạo nên một dân tộc Việt Nam thống nhất.

Các dân tộc ở nước ta sinh sống gắn bó với nhau từ lâu đời, đã sớm có ý thức đoàn kết, giúp nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Sự đoàn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo nên một quốc gia đa dân tộc bền vững, thống nhất.

Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng đã được thể hiện ở các nghị quyết của Đảng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc đã khẳng định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.”

Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ….”

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi, nâng cao dần mức sống của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số một cách đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.

Song song đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong số đó, Chương trình 135 – giai đoạn 2, đang đầu tư cho 1.841 xã và 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn với tổng vốn đầu tư gần 13 nghìn tỷ đồng; quyết định số 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và tập trung giúp đỡ 62 huyện khó khăn nhất; thực hiện sâu rộng Chương trình xoá đói giảm nghèo và chăm lo các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, người có công với cách mạng.

Nhờ vậy, cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa từng bước được cải thiện rõ rệt, quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảm đầy đủ và toàn diện; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tích cực phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước, tinh thần đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc, như Bác Hồ hằng mong muốn./.

Hà Thị Khiết (Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương)
vietnamplus.vn

Bác Hồ với ngày hội đoàn kết toàn dân

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 80 năm, giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh đang diễn ra rầm rộ, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của đồng chí Hồ Chí Minh, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) thành lập tại Pắc Pó (Cao Bằng). Tháng 5 năm 1946, cũng theo sáng kiến của Người, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) được thành lập. Đến tháng 3 năm 1951, Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt lấy tên là Mặt trận Liên Việt.

Để mở rộng khối đoàn kết dân tộc, Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc họp từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 10-9-1955 tại Hà Nội quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đại hội bầu làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận.

Tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời với chương trình hành động 10 điểm mà nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Sau khi thống nhất nước nhà, tháng 01 năm 1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam quyết định thống nhất 3 tổ chức Mặt trận ở hai miền lấy tên chung là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân để cùng phấn đấu.

Trải qua quá trình lịch sử cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) ra đời và trưởng thành gắn liền với sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời Người cũng là một tấm gương sáng mẫu mực về đoàn kết dân tộc, xây dựng các phong trào cách mạng, gắn kết tinh thần tập thể trong các lực lượng cách mạng của cả nước. Đồng thời, Người đã trực tiếp xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới. Có thể coi đại đoàn kết là một chiến lược lớn của cách mạng, chiến lược về tổ chức nhằm tập hợp lực lượng đến mức đông đảo nhất, rộng rãi nhất mọi tầng lớp nhân dân.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, tháng 5 năm 1995 nhân kỷ niệm 105 năm Ngày sinh của Người, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động trong cả nước Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”nay là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Đây là Cuộc vận động nhân dân rộng lớn trong cả nước của thời kỳ đổi mới có nội dung toàn diện, diễn ra trong thời gian dài. Hơn 17 năm qua được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các tổ chức thành viên Mặt trận, sự hưởng ứng tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cùng với các phong trào thi đua yêu nước khác, Cuộc vận động đã đạt được những kết quả tốt đẹp góp phần từng bước nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninh trật tự, ngày càng tạo ra các mối quan hệ gắn bó, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau của nhân dân cả nước.

Trong những thực hành lớn của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành đoàn kết và đại đoàn kết, từ đoàn kết trong Đảng đến đoàn kết trong dân và đoàn kết quốc tế. Đó là sự gặp gỡ và kết hợp nhuần nhuyễn giữa đường lối chiến lược, phương pháp tổ chức và hoạt động, lãnh đạo và quản lý, với chính sách và biện pháp nhằm gây dựng lực lượng, nuôi dưỡng phong trào thi đua ái quốc, dùng người tài đức, trọng đãi nhân tài, hiền tài để giữ vững nền độc lập tự do, xây dựng đất nước phú cường, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đồng bào. Đường lối chiến lược và chính sách đại đoàn kết của Hồ Chí Minh còn đồng thời là văn hóa ứng xử tinh tế của Người mà ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức vận dụng, phát huy để vượt qua mọi khó khăn, thách thức hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và hiện đại hóa vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bác Hồ với đại biểu công giáoBác Hồ với đại biểu Công giáo

Để đại đoàn kết với mọi người, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến mọi người và chăm lo lợi ích cho mọi người. Bác Hồ quan tâm đến lợi ích của mọi tầng lớp, từ người cộng sự, người phục vụ gần gũi đến quảng đại quần chúng, từ miền xuôi đến miền ngược, mọi tôn giáo, mọi dân tộc. Người quan tâm đặc biệt đến lợi ích vật chất: Dân đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, được học hành. Ngoài sự chăm lo lợi ích vật chất, Người còn quan tâm đến đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của mọi tầng lớp. Với các tăng ni phật tử, đồng bào Công giáo, Người đều gửi gắm những quan điểm tích cực, đậm chất nhân văn và mang đậm tinh thần đoàn kết, bác ái, không phân biệt người có đạo và người không đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu tấm gương đoàn kết rộng rãi bởi một lẽ rất giản đơn: Người muốn huy động tiềm năng của cả dân tộc vào sự nghiệp chung, Người luôn mong muốn thêm bạn bớt thù. Người tin ở tính hướng thiện của mọi người và trong bất cứ con người nào, Người cũng tìm thấy những nhân tố tốt đẹp đó. Tấm gương đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ Người có phương pháp xử lý đúng đắn những bất đồng, những cản trở cho sự đoàn kết. Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết song không phải là kiểu đại đoàn kết một chiều. Người luôn luôn khuyên đoàn kết song phải đấu tranh, đấu tranh để đoàn kết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn quan tâm đến xây dựng tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng. Theo Người, sự đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết trong nhân dân. Đảng đoàn kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân sẽ tạo lên sức mạnh để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng của cách mạng. trong Di chúc để lại, điều đầu tiên Bác nói về Đảng Bác căn dặn: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải “giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Thực hiện Di chúc cảu Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn bốn mươi năm qua, Đảng ta đã rất đề cao tinh thần đoàn kết, nhất trí trong nội bộ Đảng, giữa Đảng với nhân dân. Nhờ vậy, Đảng ta đã phát huy trí tuệ của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng; phát huy nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới ngon cờ của Đảng.

Trong giai đoạn phát triển xã hội hiện nay đầy những biến động và thách thức lớn lao đặt ra cho toàn Đảng và toàn dân ta nên muốn tồn tại và phát triển đi lên một cách bền vững thì hơn lúc nào hết chúng ta phải quán triệt và thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công đại thành công”.

Kỷ niệm 82 năm thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, chúng ta khắc sâu lời dạy của Bác Hồ: “Chính sách Mặt trận là chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”, nguyện cùng nhau tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo

“Hình ảnh Bác Hồ trong tôi, nói theo ngôn ngữ nhà Phật, là hình ảnh một vị Bồ tát sáng chói các đức tính “tri túc dục thiểu” – hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về mọi tâm tư và tình cảm sâu kín nhất của mọi tầng lớp người trong xã hội, với đạo đức hết sức trong sáng, tất cả mọi hành động đều chỉ vì cuộc sống hạnh phúc của con người, của nhân loại… với kinh nghiệm bản thân, tôi cũng thấy theo chân Bác, tâm trí mình trong sáng hơn, lòng mình “thanh tịnh” hơn. Và cả dân tộc mình, đi theo con đường soi sáng bởi trí tuệ và đạo đức cao đẹp của Bác – nhất định sẽ làm nên những sự tích “thần kỳ”…”.

Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội chủ trì hội thảo và tập hợp những bài viết xuất sắc của các chức sắc Phật giáo, tăng ni Phật tử và các học giả, nhà nghiên cứu tôn giáo để xuất bản thành cuốn sáchChủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo. Đây là một cuốn sách hay, có giá trị tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, học tập và tìm hiểu về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng của Người về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng.

Cuốn sách được phát xuất từ nhận định rằng, một trong những nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu liên tục suốt 30 năm qua của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là do chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta đối với Phật giáo. Mà người đặt nền móng cho tư tưởng, chính sách tôn giáo đúng đắn đó là Chủ tịch Hồi Chí Minh vĩ đại.

Sự tín nhiệm của Đảng, Nhà nước với Phật giáo hẳn là có cơ sở từ lịch sử lâu dài của đất nước, sự vững mạnh của Đất nước và Phật giáo luôn có tính sóng đôi. Thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vốn là một nhà nghiên cứu Phật học uyên thâm, một trí thức yêu nước rất thân cận với chư tôn đức Phật giáo. Thừa hưởng tinh thần ấy, Bác Hồ cũng có sự quan tâm sâu đậm với Phật giáo, điều này được chứng tỏ qua nhiều tài liệu lịch sử, qua những phát biểu về Phật giáo và những lần tiếp xúc của Người với chư tôn túc Phật giáo và quần chúng Phật tử.

Cuốn sách tập hợp 31 nhận định, kiến giải cũng là 31 cảm niệm về Hồ Chủ tịch với Phật giáo mà các tác giả đã thực tế trải nghiệm trong cuộc sống tu học, sinh hoạt tôn giáo, và qua những lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Qua Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo người đọc sẽ có cái nhìn tổng quát về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Phật giáo, những hiểu biết sâu sắc của Người về tôn giáo truyền thống của dân tộc, những quan điểm, chủ trương, chính sách thực tế mà chính Người, qua sự hiểu biết sâu sắc ấy, cùng nhãn quan chính trị tài tình và sáng suốt, đã biến thành những nội dung ưu việt trong Hiến pháp, trong Sắc lệnh và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Qua những bài viết tiêu biểu, như: “Ba lần được gặp cụ Hồ” của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, “Một lần gặp gỡ mãi mãi không quên” của Hòa thượng Thích Minh Châu, “Vinh dự lớn lao” của học giả Nguyễn Đình Chi, “Hình ảnh đạo đức mãi mãi vẫy gọi Phật tử chúng tôi” của Cư sỹ Tống Hồ Cầm, và nhiều bài khác nữa, ta càng thêm yêu, thêm kính trọng sự giản dị, thân tình và sâu sắc đến vĩ đại của Hồ Chủ tịch trong sự nhìn nhận, ứng xử và tiếp xúc với chức sắc Phật giáo.

Đọc Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo, người đọc sẽ lý giải được vì sao Hồ Chủ tịch là tấm gương, là mục tiêu phấn đấu, là động lực mạnh mẽ cho những ý thức và hành động cao cả của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trong đó có một phần không nhỏ là chức sắc và tín đồ Phật giáo Việt Nam, đoàn kết một lòng thực hiện mục tiêu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đọc Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo, độc giả cũng thêm hiểu và tin tưởng chắc chắn như lời nói chân thành của Hòa thượng Thích Minh Châu, rằng: “Đến nay, hơn bốn mươi năm đã trôi qua, nhìn lại quãng đường đời không mấy chỗ là bằng phẳng, tôi càng tin chắc rằng tấm lòng kính mến, tin yêu Hồ Chủ tịch từ thuở thiếu thời của tôi đã là một trong những ngọn lửa giữ cho lòng tôi luôn luôn nồng nhiệt, tâm luôn trong sáng trên con đường phụng Đạo, yêu nước của người Phật tử Việt Nam”.

Cuốn sách không phân chương, mục theo cách bố cục quen thuộc, mà tập hợp những bài viết theo chủ đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với Phật giáo; chính sách của Đảng, Nhà nước và Hồ Chủ tịch về Phật giáo; Hồ Chủ tịch với công tác vận động tăng ni, tín đồ Phật giáo; đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh; hồi ức, cảm nhận về những lần được vinh dự gặp Hồ Chủ tịch, làm cho người đọc tiếp cận những trang sách một cách tự nhiên như chính mình là một nhân chứng thực sự. Cuốn sách là tài liệu có giá trị, trực tiếp, cụ thể về tư tưởng Hồ Chí Minh với Phật giáo lần đầu tiên được viết bởi các chức sắc, nhà tu hành, tăng ni và cư sỹ Phật tử Phật giáo Việt Nam.

Sách do Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành tháng 9/2011. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả./.

Cư sỹ Yên Sơn
btgcp.gov.vn

Đoàn kết là sức mạnh

Nhân ngày Quốc tế lao động 1.5.1946, Bác Hồ viết lời kêu gọi nhân dân: “Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”. Đoàn kết cũng là nội dung được Người đặc biệt quan tâm trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng.

Vấn đề cốt lõi của tinh thần đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một khối đoàn kết mạnh mẽ nhưng có tổ chức, cương lĩnh, nguyên tắc; có phương châm hành động đúng đắn, cụ thể và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Vấn đề đó đã được đặt ra ngay từ khi có Đảng, với những tổ chức đoàn kết các thành phần lao động như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Phụ nữ, Thanh niên… Và ngày 18.11.1930, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, “Hội Phản đế đồng minh Đông Dương” đã được thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai bán nước.

Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, coi sự đoàn kết là sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù cho dù chúng nham hiểm đến đâu. Giải nghĩa vấn đề “Vì sao phải lấy dân làm gốc”. Người nói thật đơn giản: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hoặc hình ảnh của sức mạnh đoàn kết được Người thể hiện rất cụ thể, sinh động: Trong một bài thơ kêu gọi đoàn kết, Người ví công việc khó khăn như “hòn đá to, hòn đá nặng”, nếu chỉ một người thì “vác chẳng đặng” nhưng có nhiều người “sẽ vác đặng”. Trong tất cả các bài viết, bài nói của Bác hầu như không có bài nào, trang nào Người không nhắc tới từ “đoàn kết”. Và chính bản thân Người, qua cách sống, làm việc, ứng xử… là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha. Tư tưởng đại đoàn kết của Bác đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân ta, dân tộc ta đi đến thắng lợi…

Học tập những lời dạy về đại đoàn kết của Bác, chúng ta cùng nhau phấn đấu thực hiện lời Di huấn thiêng liêng của Người trước lúc đi xa: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tùng Quân
baobinhdinh.com.vn