Thư viện

Lời dặn khiêm nhường của Người cộng sản

Dù đã đi xa, song cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và tấm gương đạo đức, sự mưu cầu hạnh phúc cho hết thảy mọi người của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản Di chúc của Người vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng cho hậu thế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và nói chuyện với đồng bào đảo Cô Tô (Quảng Ninh), 5/1961. Ảnh: ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Tiếp tục đọc

Advertisements

Sự sâu sắc trong những lời giản dị của Bác Hồ

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là câu nói tiêu biểu của Hồ Chủ tịch được ghi ngay trong Lăng của Người ở Thủ đô Hà Nội, thật sự giản dị, dễ hiểu vì không có chữ nào khó đoán; dễ hiểu vì nó là ước vọng của các dân tộc, quốc gia và của mỗi người dân yêu nước nhưng lại là vấn đề lý luận chính trị sâu sắc, là chân lý của thời đại.

Tiếp tục đọc

6 điều Bác Hồ dạy đối với giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam

Face Book

Từ năm 1957, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, được sự giáo dục và rèn luyện của Đảng, giai cấp công nhân bắt đầu phát huy vai trò lãnh đạo của mình trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta. Trong hoàn cảnh và điều kiện mới đó của đất nước, sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho đã đòi hỏi mỗi công nhân viên chức một sự giác ngộ sâu sắc về vai trò tiên phong của mình, một ý thức đầy đủ về nhiệm vụ của mình trong công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tiếp tục đọc

Những lời dạy của Bác Hồ đối với Công đoàn

Lời của Bác - Lời của non sôngTrong những năm 1920, cùng với quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã làm hết sức mình để giác ngộ và thức tỉnh giai cấp công nhân Việt Nam đến với phong trào đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc. Người luôn giành sự quan tâm sâu sắc đến quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động.

Tiếp tục đọc

Nhớ mãi những việc Bác làm, những lời Bác dạy

Học tập theo gương BácCách đây 68 năm, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Nhà nước Công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Châu Á ra đời, đất nước ta phải đối mặt với bao nguy cơ, thử thách, thế nước trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đó, với tầm nhìn xa trông rộng, với trí tuệ và bản lĩnh chính trị tuyệt vời của mình, Bác Hồ kính yêu của chúng ta vẫn vững tay chèo lái con thuyền cách mạng, vượt qua bao sóng gió, lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta giữ vững nền độc lập, tự do. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những việc Bác làm, những lời Bác dạy giữa mùa thu lịch sử ấy vẫn còn in đậm trong ký ức của mỗi một người con dân đất Việt. Tiếp tục đọc

Thi đua theo lời Bác Hồ dạy

Sinh thời, Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến vấn đề thi đua yêu nước. Bản thân Người đã có hơn 200 bài nói, bài viết đề cập đến vấn đề thi đua ái quốc và khen thưởng. Đặc biệt, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, chính thức phát động Cuộc vận động thi đua ái quốc.

Nền tảng tư tưởng vững chắc

Trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, Bác nêu ra rất chi tiết, đầy đủ từ mục đích, cách làm, bổn phận của người dân, khẩu hiệu,… đến kết quả to lớn cũng như lâu dài mà Thi đua ái quốc đem lại, rồi khẳng định: “Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi. Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng. Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi”.

Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị. Người coi tổ chức thi đua yêu nước là cách tốt nhất để khơi dậy lòng yêu nước tiềm tàng trong mỗi người dân Việt Nam, biến nó thành sức mạnh, thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cũng như trong bảo vệ Tổ quốc.

Bác nêu rõ: Công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua, mọi việc đều thi đua. Thi đua là hoạt động tất yếu nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi con người. Người người phải thi đua, ngành ngành phải thi đua. Ai làm việc gì, nghề gì cũng thi đua làm cho nhanh, cho tốt, cho nhiều.

– Quân đội thi đua giết giặc lập công,
– Công nhân thi đua tăng gia sản xuất,
– Nông dân thi đua sản xuất lương thực,
– Trí thức thi đua sáng tác, phát minh,
– Cán bộ thi đua cần kiệm liêm chính,
– Toàn dân thi đua tích cực tham gia kháng chiến.

Bác khẳng định: Đảng phải lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước. “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng”. Cần có sự lãnh đạo thống nhất, có sự phối hợp giữa Đảng, chính quyền với các đoàn thể nhân dân, bảo đảm các mặt hoạt động thi đua ăn khớp với nhau, nhằm vào mục đích chung, vào mục tiêu thi đua nhằm hoàn thành tốt những nhiệm vụ chính trị do Đảng, Nhà nước đề ra.

Người cũng chỉ ra sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ thi đua với khen thưởng. Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời lại có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục. Người nói: thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch. Người rất quan tâm đến việc biểu dương và phát huy sức mạnh của những tấm gương “Người tốt, việc tốt” bằng cách kịp thời khen thưởng, động viên khuyến khích bằng vật chất hoặc tinh thần nhằm phát triển cái tốt để lấn át cái xấu, nhằm xây dựng con người mới, làm cho xã hội ngày một tiến bộ.

thi-dua-tt-aChủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng và đặt nền tảng vững chắc cho phong trào thi đua
yêu nước. Ảnh Internet

Trong thời kỳ chống thực dân Pháp có những phong trào thi đua yêu nước với các tên gọi và khẩu hiệu nổi tiếng như: Yêu nước thì phải thi đua. Thi đua là yêu nước; Hũ gạo kháng chiến, Bình dân học vụ…

Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có các phong trào thi đua điển hình như: “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp, “Gió Đại phong” trong nông nghiệp, “Cờ ba nhất” trong Quân đội,  Thanh niên “3 sẵn sàng”, Phụ nữ “3 đảm đang”; “Hai tốt” trong trường học…

Khoảng thời gian từ 1948-1969, thi đua yêu nước đã huy động được cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đoàn kết một lòng, phát huy ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, giành được những thắng lợi vẻ vang. Thắng lợi này có được phần lớn là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, đúng đắn của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Chỉ trong vòng 21 năm này, Đảng ta đã có 32 văn kiện về phong trào thi đua yêu nước.

Tuy nhiên, từ sau khi nước nhà thống nhất vào năm 1975, đặc biệt là sau thời kỳ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, công tác thi đua, khen thưởng bị buông lỏng và hoạt động mang tính tự phát. Về công tác khen thưởng vẫn được duy trì, nhưng chủ yếu tập trung vào khen thưởng thành tích kháng chiến. Năm 1987, Ban Thi đua khen thưởng Trung ương (vốn được thành lập theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1963 nhằm giúp Trung ương Đảng và Chính phủ tăng cường lãnh đạo công tác thi đua) bị giải thể. Thống kê trong 41 năm (1969 – 2010), Đảng ta chỉ có 17 văn kiện về phong trào thi đua yêu nước. Thời kỳ này, thi đua chưa thực sự là động lực thúc đẩy, động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân hăng hái lao động sản xuất, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Trước yêu cầu mới của thời kỳ xây dựng đất nước, ngày 3/6/1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về đổi mới công tác thi đua – khen thưởng trong giai đoạn mới, tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh coi “Thi đua khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày”(2). Sau đó, Hội đồng Thi đua khen thưởng Trung ương được lập lại do Thủ tướng Chính phủ là Chủ tịch.

Năm 2004, Ban Thi đua khen thưởng Trung ương được thành lập. Đến năm 2003, Quốc hội ban hành Luật thi đua, khen thưởng (Luật này được sửa đổi, bổ sung năm 2005).

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng.

Ngày 30/8/2010, Ban Bí thư ra Kết luận về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến. Mới đây, Đại hội lần thứ XI của Đảng ta cũng nhấn mạnh: “Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…”.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện tốt lời kêu gọi của Bác Hồ, phong trào thi đua yêu nước đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều phong trào thi đua yêu nước đã được dấy lên và đem lại hiệu quả rất thiết thực, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội ngày càng cao như: phong trào thi đua “Xứng danh bộ đội Cụ Hồ”; thi đua thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy công an nhân dân; “Phong trào dạy tốt, học tốt”; “Phong trào lương y như từ mẫu”; hai phong trào thanh niên: “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước” của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh … Thi đua khen thưởng được các cấp, các ngành, các địa phương xem là một nhiệm vụ quan trọng.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định phải gắn phong trào thi đua yêu nước với cuộc vận động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc thi kể chuyện về Người, mà các câu chuyện đó cần được vận dụng vào cuộc sống của mỗi người.

Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện theo lời Bác Hồ dạy

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Thi đua là yêu nuớc, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” và “càng khó khăn thì phải càng thi đua”, những năm qua, cán bộ, viên chức Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Trung tâm) luôn quyết tâm phấn đấu, ra sức thi đua và đạt nhiều thành tích đáng tự hào, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đơn vị.

Tuy mới thành lập còn nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp sâu sát của các cấp ủy,  phong trào thi đua trong Trung tâm đã diễn ra sôi nổi, hào hứng, góp phần cổ vũ, động viên các cán bộ, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng khối đoàn kết vững mạnh, thúc đẩy sự phát triển của Trung tâm.

thi-dua-tt-bLãnh đạo Trung tâm tặng Giấy khen cho các điển hình tiên tiến
trong phong trào thi đua 5 năm (2006 – 2010)

Trong hoạt động, lãnh đạo cơ quan thường xuyên quan tâm nhắc nhở, giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với nhiệm vụ chính trị đặc biệt của đơn vị; nắm bắt tâm tư tình cảm của mỗi cán bộ, viên chức; lồng ghép thi đua vào công tác chuyên môn, lấy phong trào thi đua làm động lực thúc đẩy công tác chuyên môn, nhưng đồng thời cũng lấy kết quả công tác chuyên môn làm tiêu chí đánh giá thi đua. Phong trào thi đua được triển khai thực hiện mạnh mẽ, nhờ đó hiệu quả hoạt động của Trung tâm ngày càng được nâng cao. Các cán bộ, viên chức luôn xem lời dạy của Bác là kim chỉ nam cho hành động, tích cực tham gia thi đua, góp phần thúc đẩy sự phát triển các phong trào thi đua, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Nhờ triển khai có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến về thi đua khen thưởng, cán bộ, viên chức Trung tâm đã có những chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận thức và hành động, cùng đoàn kết phát huy tinh thần yêu nước, tình yêu, trách nhiệm với công việc, với cuộc sống, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hàng năm, Hội đồng thi đua – khen thưởng đã bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của đơn vị, xây dựng các kế hoạch, nội dung và biện pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong cán bộ, viên chức; kịp thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, tổ chức phát động, đăng ký giao ước thi đua, nhất là phát động các đợt thi đua cao điểm lập thành tích xuất sắc chào mừng các ngày lễ lớn trong năm.

Với đặc thù phần lớn là các cán bộ, viên chức trẻ, yêu cầu công việc trong đơn vị sự nghiệp ngày càng cao nên cùng với việc ra sức thi đua trong công việc, cán bộ, viên chức cũng đã tích cực thi đua trong học tập nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ theo lời dạy của Bác: cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân dân”(3). Riêng trong năm 2012, toàn đơn vị có 13 lượt cán bộ, viên chức trên tổng số 18 người tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng cao học, đại học, chuyên viên, chuyên viên chính, kỹ sư chính, cao cấp lý luận chính trị – hành chính, tin học, ngoại ngữ. Đây là nỗ lực lớn của lãnh đạo đơn vị, của bản thân các cán bộ, viên chức trong công tác đào tạo, bồi dưỡng.

thi-dua-tt-cthi-dua-tt-dViên chức Trung tâm không ngừng thi đua trong học tập nâng cao trình độ, làm chủ được công nghệ mới

Đơn vị tích cực tham gia các phong trào thi đua do Ban Quản lý Lăng phát động như văn nghệ, thể thao, thi viết bài tìm hiểu về các sự kiện lịch sử đất nước… Các tổ chức quần chúng cũng đang phát huy tốt vai trò động viên, tổ chức các phong trào thi đua như “5 nhất, 3 không” của tổ chức công đoàn; “Phụ nữ tích cực lao động, học tập, sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” của phụ nữ…

Cán bộ, viên chức tích cực viết bài trên Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng. Qua các phong trào thi đua yêu nước, cán bộ, viên chức trên tất cả các lĩnh vực công tác đã hoàn thành tốt công việc với tinh thần làm việc tận tụy, có trách nhiệm cao. Có nhiều tấm gương tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu trong thực hiện phong trào thi đua yêu nước đã được biểu dương, khen thưởng như Tổng kết phong trào thi đua yêu nước 5 năm (2005 – 2010) của Ban Quản lý Lăng, Trung tâm có 01 tập thể và 01 cá nhân điển hình tiên tiến được tặng Bằng khen. Tập thể Trung tâm cũng đã vinh dự được Ban Quản lý Lăng trao tặng Bằng khen (năm 2010) và Danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến xuất sắc (năm 2011, 2012).

Tổ chức Đảng, đoàn thể của cơ quan luôn giữ vững danh hiệu trong sạch vững mạnh và vững mạnh tiêu biểu trong nhiều năm liền. Thành tích đạt được trong các phong trào thi đua yêu nước như bó hoa tươi thắm dâng lên vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Nhờ các phong trào thi đua, cán bộ, viên chức đã làm việc có chương trình, kế hoạch, với tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy, đoàn kết, chủ động, sáng tạo và cố gắng hơn trong công tác, đặc biệt là trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật công nghệ và môi trường phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Ban Quản lý Lăng; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng, các đối tác thực hiện tốt công tác nghiên cứu khoa học với công tác ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, Chi bộ trong sạch vững mạnh.

Đồng thời, qua việc chú trọng phát huy vai trò của các phong trào thi đua, gắn kết chặt chẽ thi đua với khen thưởng để kịp thời động viên, khuyến khích hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị, Trung tâm đã xây dựng được khối đoàn kết nội bộ thống nhất, làm nền tảng cho sự phát triển lớn mạnh của đơn vị.

thi-dua-tt-eLãnh đạo Ban Quản lý Lăng chúc mừng những thành tích Trung tâm
 đã đạt được nhân dịp kỷ niệm 8 năm ngày thành lập đơn vị (15/3/2005-15/3/2013)

Các cuộc vận động, các phong trào thi đua của Trung tâm luôn gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; xây dựng và bồi dưỡng những người cán bộ, viên chức – “công bộc của dân” vừa hồng vừa chuyên trong thời kỳ mới, phát triển toàn diện về ý thức độc lập tự chủ, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật cao, có tri thức, có sức khỏe; phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, vượt qua những khó khăn, thử thách hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp sức xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Phong trào thi đua đã thật sự trở thành động lực, đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển vững mạnh của Trung tâm.

Bài học kinh nghiệm từ các phong trào thi đua cho thấy, phong trào thi đua chỉ thực sự có hiệu quả khi có sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của cấp ủy đảng, sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền với các tổ chức đoàn thể, đúng như Bác đã nói: “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng”(4). Công tác kiểm tra, đánh giá phong trào thi đua phải được tiến hành thường xuyên. Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tới từng cán bộ, viên chức để tạo khí thế thi đua sôi nổi, phát huy sức mạnh cá nhân và sức mạnh tập thể. Và yếu tố không kém phần quan trọng đó là xét khen thưởng phải thật sự khách quan, công bằng, đúng người, đúng việc.

Kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc – Ngày truyền thống Thi đua yêu nước (11/6/1948-11/6/2013), toàn thể cán bộ, viên chức Trung tâm ra sức thi đua, quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng Chi bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đóng góp vào thành công của sự nghiệp giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.

Thu Hiền

————–

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.557-558.
(2). Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr226.
(3). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 7, tr.407.
(4). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 6, tr.208.

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Suy ngẫm từ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước hết nói về Đảng”

Lời của Bác - Lời của non sôngBốn mươi bốn năm trước đây, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời căn dặn cuối cùng và cũng là tình cảm thiêng liêng, niềm tin vô bờ bến của Người đối với tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, Người đã để lại những lời di huấn quý báu đối với Đảng ta, mong muốn Đảng luôn được củng cố, ngày càng trưởng thành, trong sạch vững mạnh, xứng đáng là một Đảng vừa đạo đức, vừa văn minh.

Xây dựng Đảng luôn phải là công tác “trước hết”, hàng đầu

Trong phần mở đầu bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trước hết nói về Đảng, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(*). Thực tiễn suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho Đảng và chăm lo hoàn thiện các công việc lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã đặt ra câu hỏi: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, và Người đưa ra lời giải đáp đó là: “Trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” (1). Người khẳng định: Đảng phải lấy chủ nghĩa Lê-nin làm cốt, bởi vì đó là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Được chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi sáng, Người đã dày công xây dựng, giáo dục, rèn luyện Đảng ta với tâm nguyện cao cả là Đảng phải “trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc” (2). Tại Hội nghị cán bộ của Đảng ta ngày 18-1-1949, sau khi nêu lên một số vấn đề cần làm ngay trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp và chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập một vấn đề có tính quyết định của công tác xây dựng Đảng: “Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy nó mà làm. Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng” (3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là một nhiệm vụ hết sức cần kíp, là vấn đề “Trước hết” đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo tư tưởng của Người, phải coi trọng trước hết đến công tác xây dựng Đảng, bởi đó là công tác tạo ra “máy phát điện” trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng ta. Vì vậy, vào thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Di chúc, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đang ở trong giai đoạn rất gay go, quyết liệt; song Người vẫn luôn giữ vững niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta những công việc phải làm khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, giang sơn thu về một mối, Tổ quốc thống nhất, thì một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng phải tiến hành là đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn”. Người còn nhấn mạnh: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được việc như vậy, thì dù công việc lớn mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(4).

Trong bản Di chúc, Người đề cập vấn đề “Trước hết nói về Đảng” để nói đến vấn đề tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng ta. Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Người nêu tới bốn lần cụm từ “Đoàn kết”. Trước khi viết đoạn kết bản Di chúc bất hủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã di huấn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(*).

Như vậy, ở đâu và trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn trăn trở, quan tâm đến nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nêu vấn đề “Trước hết nói về Đảng” và đặt lên hàng đầu cho nhiệm vụ “chỉnh đốn lại Đảng”; điều đó không có nghĩa là Đảng ta đã phạm phải những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng nào, mà ở chỗ tình hình mới, điều kiện mới của cách mạng đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao chất lượng, năng lực lãnh đạo, trình độ trí tuệ của Đảng lên tầm cao mới, để Đảng đủ sức đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới.

Thực hiện di huấn của Người trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Nhìn lại hơn bốn mươi năm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua những chặng đường đầy sóng gió; phải đương đầu với sự đan xen khốc liệt giữa vận hội và thách thức, giữa thời cơ và nguy cơ để lập nên nhiều kỳ tích trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,… được nhân dân trong và ngoài nước, cùng đông đảo bạn bè trên khắp thế giới yêu mến, tin cậy, cảm phục.

Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, còn có những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong bản Di chúc về vấn đề xây dựng Đảng, đến nay chưa được thực hiện thường xuyên và trọn vẹn, thậm chí còn gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nổi lên đó là “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp,…”; việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu”; “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục”; “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt”(5). Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(6). Những hiện tượng đó nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây tổn hại nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.

Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là có một số tổ chức cơ sở đảng vẫn xảy ra vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng kỷ luật vì những động cơ cá nhân, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách hình thức, đại khái, “dĩ hòa vi quý”; chưa chú trọng chăm lo đầy đủ việc giáo dục, rèn luyện, kiểm tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những đảng viên, cán bộ có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, như tham nhũng, hối lộ, quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, sách nhiễu nhân dân, cục bộ địa phương, cơ hội, gây bè, kéo cánh, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, né tránh, bằng mặt không bằng lòng, phát ngôn tùy tiện, nói không đi đôi với làm, tranh công đổ lỗi…; một bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, làm tổn hại đến thanh danh và uy tín của Đảng, của dân tộc.

Những tình trạng trên đã gây nên bức xúc trong dư luận xã hội, trước hết làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Hệ lụy dẫn đến là vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng bị giảm sút; các nghị quyết, quyết định của cấp ủy đưa ra thường không được thực hiện nghiêm túc và triệt để; không phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân cả về vật chất, tinh thần và trí tuệ để phục vụ cho nhiệm vụ chung của tập thể, của đất nước. Những biểu hiện tiêu cực đó tạo ra kẽ hở cho các phần tử cơ hội, cho các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, hòng thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta.

Vì vậy, mỗi dịp đọc lại bản Di chúc bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng đảng viên, cán bộ hơn lúc nào hết cần phải ra sức học tập, suy ngẫm và hành động theo những lời căn dặn của Người: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(7). Phải tập trung xây dựng Đảng nhằm làm cho Đảng thật trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, có đạo đức, có trí tuệ, có năng lực. Có thể xem đó là những mục tiêu trực tiếp và trước hết của công tác xây dựng Đảng ở thời kỳ mới. Nhưng xây dựng Đảng còn nhằm mục tiêu xa hơn, có tính chất quyết định hơn, tức là làm cho Đảng “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(*), một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong Di chúc.

Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và lời chỉ huấn quý báu của Người: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” (8). Cho nên, mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn luôn suy ngẫm và nỗ lực hành động để góp phần “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Phải thực hiện tốt những lời căn dặn và có thể coi là những biện pháp lớn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh mà Người đã nêu trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(*). Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau bốn mươi bốn năm, chúng ta càng hiểu rõ hơn ý nghĩa sâu sắc và tầm vóc lớn lao của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đồng thời, càng bồi đắp thêm nghị lực và quyết tâm để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng Đảng.

Suy ngẫm về những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tổ chức đảng và từng đảng viên cần ra sức hành động để góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh; trước hết cần nỗ lực thực hiện tốt các giải pháp cơ bản, đồng bộ như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định, trong đó tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc đến mọi cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

Hơn một năm qua, trong toàn Đảng ta đã tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một cách kịp thời, nghiêm túc từ Trung ương đến cơ sở. Đây không chỉ là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn của Đảng mà còn có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt như một đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” mà Đảng ta đã tiến hành vào các năm 1952, 1961 và 1965. Sau mỗi lần “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” như vậy, Đảng ta đã khắc phục được những yếu kém, khuyết điểm nổi cộm, uy tín và vị thế của Đảng được nâng cao, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn có những cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI. Việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình có những tổ chức đảng còn xuê xoa, nể nang, không vạch rõ những dấu hiệu của sự suy thoái… Vì vậy, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống như mong muốn của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, quán triệt cho cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI; nêu rõ những thuận lợi, khó khăn, tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao, để mọi người, mọi tổ chức cùng đồng thuận, đồng tâm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những mối hiểm họa cho Đảng, cho đất nước, cho chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân  trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, một trong những nguyên lý quan trọng là Đảng phải thường xuyên củng cố, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn dựa vào nhân dân, bởi vì sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Cho nên, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nếu không dựa chắc vào nhân dân, không được nhân dân đồng tình, ủng hộ sẽ không đem lại kết quả như mong muốn.

Thực tiễn cho thấy, cộng đồng dân cư hiểu khá rõ về đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp và gia đình họ sinh sống ở địa phương. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng ở mỗi cấp phải thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân địa phương nơi có cán bộ, đảng viên của cơ quan, đơn vị mình cư trú; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân hiểu rõ những quan điểm, chủ trương, phương châm, nguyên tắc của Đảng trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; qua đó tạo sự thống nhất, đồng thuận, phát huy sức mạnh nhân dân vào thực hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp nhằm  ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước là hành lang pháp lý để mỗi cấp ủy, chính quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành. Những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách, luật pháp hiện thời sẽ tạo ra các kẽ hở, “khoảng trống pháp lý”, dễ bị một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất lợi dụng để trục lợi cá nhân, tạo “lợi ích nhóm”…
Hiện nay, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước và của các bộ, ngành, địa phương có nhiều nội dung không còn phù hợp, trong khi tình hình thực tiễn đã có nhiều thay đổi so với trước, đã đặt ra không ít vấn đề mới phải giải quyết. Việc chậm đổi mới, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, để ngăn chặn hữu hiệu những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp, tạo cơ sở pháp lý cho cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành các cơ quan, đơn vị mình chấp hành nghiêm đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tạo ra môi trường lành mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành; xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Thứ tư, kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Một trong những vấn đề “trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách” hiện nay đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là phải tập trung giải quyết dứt điểm, nghiêm túc những vụ việc tiêu cực, tham nhũng nổi cộm; kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức đảng vi phạm kỷ luật, những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không để “con sâu làm rầu nồi canh”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI chỉ rõ: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng”(9). Đó là thể hiện bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính, có tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân và dân tộc.

Việc kiên quyết xử lý dứt điểm, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật theo Điều lệ Đảng và kiến nghị chính quyền xử lý nghiêm theo những quy định của pháp luật, cho dù họ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý ở cấp nào, chẳng những làm trong sạch đội ngũ của Đảng mà còn tạo hiệu ứng tích cực đến đời sống chính trị, tinh thần trong toàn xã hội; đồng thời bảo vệ Đảng trước sự tấn công phá hoại của các thế lực thù địch. Vì vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng khi phát hiện có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống phải khẩn trương kết luận rõ ràng, kiên quyết xử lý nghiêm minh, triệt để các trường hợp sai phạm tùy theo mức độ; khắc phục tình trạng bao che khuyết điểm, nể nang, né tránh, cục bộ, phe nhóm, đùn đẩy trách nhiệm, xử lý “nội bộ”… Đặc biệt, các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước cần nhanh chóng đưa những vụ việc tiêu cực, thất thoát, tham nhũng lớn ra xét xử công khai, dứt điểm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, lấy lại lòng tin của quần chúng nhân dân, trả lại sự trong sạch của các tổ chức đảng, chính quyền và của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ và vận hội mới, thì đất nước chúng ta cũng đang phải đứng trước những nguy cơ và thách thức mới. Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trước hết toàn Đảng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh học tập và thực hiện đầy đủ những lời căn dặn đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trong bản Di chúc: “Trước hết nói về Đảng”; và biểu hiện “Trước hết” đó phải bằng nhận thức, bằng hành động cách mạng cụ thể của mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên trong nỗ lực xây dựng và chỉnh đốn Đảng./.

—————————-

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 189
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 7, tr. 207
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 5, tr. 551-552
4. Di cảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10-5-1969, Lưu trữ tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 173-175
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật,  Hà Nội, 2012, tr. 22
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 4, tr. 56-57
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 3, tr. 217
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, sđd, tr. 26

(*) Các đoạn trích dẫn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bố ngày 10-5-1969

Đại tá, ThS. Nguyễn Đức Thắng
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng

Tâm Trang (st)

Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền

Sinh thời, Bác Hồ có nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong mọi việc. Không có lĩnh vực nào mà tác dụng nêu gương lại quan trọng bằng lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình, đó là tấm gương của cha, mẹ đối với con cái, của anh, chị đối với các em; trong xóm làng, khu phố, đó là tấm gương của các bậc cao niên, các cựu chiến binh, các thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ; trong cơ quan Đảng và Nhà nước, đó là tấm gương của các đồng chí phụ trách, các đồng chí lãnh đạo đối với nhân viên; trong đơn vị quân đội, đó là tấm gương của các cấp chỉ huy, các chính ủy, chính trị viên đối với binh sĩ, của cấp trên đối với cấp dưới; trong toàn xã hội, đó là tấm gương của những “người tốt việc tốt”, đối với mọi đối tượng, mọi tầng lớp nhân dân. Trong cuốn sách “Tư tưởng Bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta”,  Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Bác Hồ thường nhắc đến một phương pháp giáo dục quan trọng là sức mạnh của sự nêu gương. Bác luôn luôn nêu gương trước cho mọi người noi theo”.

Bua com gian di cua con Nguoi vi daiBữa cơm giản dị của con người vĩ đại, bữa cơm của Bác ở Chiến khu Việt Bắc

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên chỉ đạo, nhắc nhở việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng: Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, đức và tài, trong đó đức là gốc.

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng là việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài; có đạo đức trước, có tài năng sau. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở phẩm chất, tư cách: Suốt đời phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; có đời tư trong sáng; là tấm gương sáng trong cuộc sống để nhân dân tin và noi theo.

Cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao, càng phải sống thanh bạch, giản dị và nêu gương tốt trước hết. Bác Hồ là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng quan tâm nhiều đến vấn đề đạo đức và có nhiều cống hiến về tư tưởng đạo đức cách mạng. Bản thân Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng. Học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh là học cho được cái gốc, tức là học cho được cái tâm và tấm lòng của mình  trước nỗi khổ của con người, của đồng loại, của nhân dân, nhất là những người khổ, người nghèo, người bất hạnh; biết đồng cảm, sẻ chia những nỗi đau của từng cảnh đời trong cuộc sống.

Bác Hồ thường nói: Người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên mới đi làm cách mạng. Người có lòng thương yêu mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Học gương đạo đức Bác Hồ là phải học từ cái tâm, từ những xúc động đến rưng nước mắt của Bác trước nỗi khổ của con người, là vận dụng bài học đó để suy nghĩ và thực hiện trong đời sống hàng ngày.

Thực hiện học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục đề cao phương pháp nêu gương, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành, các đảng bộ, chi bộ. Cụ thể là nói đi đôi với làm, nói được thì phải làm được; cán bộ cấp trên gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm cao trước cán bộ cấp dưới; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, xa rời cơ sở, xa rời quần chúng; kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đường làm một nẻo”, thậm chí chỉ thụ động, ngồi chờ, ỷ lại, sợ trách nhiệm. Những biểu hiện đó hoàn toàn trái với tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho phương pháp “nêu gương” mất ý nghĩa, tác dụng trong giáo dục đạo đức, lối sống ngay trong nội bộ tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội…

Phương pháp “nêu gương” đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Bởi vì, quần chúng nhân dân luôn chú ý tới lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên để xem có nên noi theo hay không noi theo. Và cũng qua đó, họ biết rất rõ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở, có những ưu điểm, nhược điểm gì, và đã sửa chữa nhược điểm, phát huy ưu điểm đến đâu. Cán bộ, đảng viên càng giữ vị trí cao, vị trí quan trọng, nhất là người đứng đầu, càng phải hết sức nêu gương tự phê bình và phê bình về phẩm chất đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi./.

Theo ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Tâm Trang (st)