Tag Archive | Bác với nhân dân

Học cách đi cơ sở, tiếp xúc với nhân dân của Bác Hồ

QĐND – Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong bài phát biểu kết luận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chúng ta phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, nhưng có một việc mà mọi cán bộ, đảng viên có thể làm ngay, không tốn kém đầu tư chút công sức, của cải nào, càng không phải chờ kế hoạch của Bộ Chính trị, đó là việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Làm theo phải toàn diện, nhưng trước hết, từng đồng chí cán bộ cấp cao phải học tập cách đi cơ sở, gặp gỡ, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến nhân dân của Bác Hồ. Hiện nay, nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị đề nghị các địa phương không căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mỗi khi có lãnh đạo Trung ương về thăm và làm việc, nhưng các đồng chí chấp hành chưa nghiêm…

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc/Ảnh tư liệu

Sinh thời, mỗi khi Bác Hồ về thăm địa phương nào, thấy địa phương chăng đèn, kết hoa, căng khẩu hiệu chào mừng, Bác đều góp ý: Bác là “công bộc” về thăm, kiểm tra, nắm tình hình nhân dân chứ không phải ông vua, ông quan. Sau những lần như vậy, các địa phương đều sửa được bệnh “hình thức” đó. Tuy nhiên, để nắm được thực chất đời sống của người dân, Bác Hồ còn tự tổ chức những chuyến đi bí mật, trực tiếp gặp gỡ những người nghèo khổ, những hoàn cảnh éo le. Câu chuyện “Bác không đến thăm thím thì thăm ai” do một chiến sĩ bảo vệ kể về lần Người giao cho các đồng chí thư ký, bảo vệ phải tìm cho Bác một gia đình nghèo nhất Hà Nội để Bác đến thăm vào đêm Giao thừa, đã phản ánh tư tưởng, tác phong gần dân, trọng dân và hiểu dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người luôn xác định, với từng đối tượng người dân phải có cách tiếp cận phù hợp thì người dân mới nói hết tâm tư, tình cảm với cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao.

Trong nhiều bài viết, bài nói để lại cho đời sau, Bác Hồ luôn nhấn mạnh: Cán bộ cấp Trung ương về địa phương làm việc, đó là trách nhiệm. Các địa phương cứ chăng đèn, kết hoa, hô khẩu hiệu sẽ khiến cho buổi làm việc trở nên lễ nghi, nặng tính hình thức, vừa tốn kém, vừa khiến lãnh đạo thêm xa dân. Quan liêu, xa rời thực tế là căn bệnh nguy hại nhất đối với cán bộ, nhất là cán bộ cấp Trung ương. Thực tế đã có rất nhiều bài học về việc cấp trực thuộc Trung ương báo cáo một đằng, làm một nẻo khiến lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đánh giá không sát tình hình, đưa ra quyết sách không phù hợp, gây hậu quả xấu. Chẳng hạn như chuyện những vấn đề tiêu cực ở Thái Bình trước đây: Cấp cơ sở có vấn đề, cấp huyện, cấp tỉnh “nhùng nhằng” mãi không giải quyết được nhưng ngay cả khi có cán bộ cấp Trung ương về kiểm tra, tỉnh vẫn không báo cáo đầy đủ, thực chất vấn đề khiến những vụ việc nhỏ kéo dài, thành ra chuyện lớn.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cách gặp gỡ nhân dân, khắc phục tình trạng “nhiệt liệt chào mừng” hiện nay, không chỉ là trách nhiệm của địa phương mà còn của chính các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Thứ nhất, khi thấy địa phương phô trương, hình thức thì tự đồng chí đó phải chấn chỉnh, góp ý cho địa phương ngay. Thứ hai, trong điều kiện truyền thông phát triển như hiện nay, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần có quy định về việc cán bộ cấp cao phải trực tiếp đi gặp dân, nghe dân phản ánh bao nhiêu buổi; buổi nào cho phép báo chí đi theo tuyên truyền, buổi nào phải hạn chế tối đa số lượng người đi theo… Ngay như việc ăn uống, sinh hoạt khi đi thăm, làm việc với địa phương cũng vậy, cần quy định rõ hoàn cảnh nào cán bộ phải tự túc, hoàn cảnh nào thì gặp gỡ, ăn uống, sinh hoạt thân mật với địa phương, cấp dưới… Nghiêm khắc với cán bộ cấp cao như vậy thì địa phương, cấp dưới mới có cơ sở thực hiện. Hiệu quả của những quy định như vậy sẽ rất lớn.

Khắc phục được bệnh phô trương, hình thức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ – một công việc cấp bách hàng đầu mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra./.

HỒNG HẢI

qdnd.vn

Lời giới thiệu Điều lệ tóm tắt của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ( 1-5-1969)

Điều lệ này của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp rất quan trọng.

Nó nhằm bảo đảm thật sự quyền làm chủ tập thể của các xã viên.

Phải thực hiện tốt Điều lệ để hợp tác xã càng thêm vững mạnh, nông thôn ngày càng đoàn kết, sản xuất càng phát triển và nông dân ta càng thêm no ấm và tiến bộ.

Vì vậy, xã viên và cán bộ phải bàn bạc dân chủ để hiểu cho rõ và làm cho đúng. Đảng viên và đoàn viên phải gương mẫu trong mọi việc

Làm được như thế là các hợp tác xã góp phần xứng đáng để giành thắng lợi trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Các ngành và Uỷ ban hành chính các cấp phải thiết thực giúp đỡ các hợp tác xã thực hiện tốt Điều lệ này.

Ngày 1 tháng 5 nǎm 1969
Bác Hồ

——————————

Báo Nhân dân, số 5595, ngày 9-8-1969.
cpv.org.vn

“Dân là gốc”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề “dân là gốc”. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”.

Biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, biết dựa vào dân. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ, đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”. Người cũng yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.

Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dụng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên”. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.

Do đó, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân. Nếu “dân đói”, “dân rét”, “dân dốt”, “ dân ốm” là “Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

  • Hòa Thanh

baobinhdinh.com.vn

Bác Hồ với phong trào phụ nữ “ba đảm đang”

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao tinh thần yêu nước và sự đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Từ thân phận người nô lệ, phụ nữ đã vùng lên làm cách mạng, tham gia vào cuộc đấu tranh chung, trở thành người chủ thực sự, có quyền lợi, có trình độ văn hóa và địa vị xã hội. Hòa trong công cuộc cách mạng lớn của dân tộc, phong trào thi đua của phụ nữ việt Nam đã phát triển sâu rộng chưa từng thấy trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ.

Đặc biệt khi đế quốc Mỹ dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ, tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, mở rộng chiến tranh, dùng máy bay đánh phá miền Bắc. Người người đều căm giận tội ác tày trời của đế quốc Mỹ đối với nhân dân việt Nam. Phong trào chống Mỹ sục sôi trong cả nước.

Tháng 3 năm 1965 (nhân dịp kỷ niệm lần thứ 15 Ngày toàn quốc chống Mỹ: 3/1950 -3/1965) Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam kêu gọi phụ nữ toàn quốc khắc sâu lòng căm thù đế quốc Mỹ, biến căm thù thành quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, Trung ương Hội đã phát động phong trào “Ba đảm nhiệm” trong phụ nữ toàn miền Bắc với nội dung:

1. Phụ nữ đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho chồng con đi chiến đấu.

2. Phụ nữ đảm nhiệm việc gia đình cho chồng, con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội.

3. Phụ nữ đảm nhiệm phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, tập luyện quân sự để sẵn sàng chiến đấu; phục vụ bộ đội, công an, dân quân tự vệ khi chiến đấu.

Quan tâm tới phong trào thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân, Bác Hồ rất chú ý phong trào của chị em phụ nữ, Người đã chỉ thị sửa từ “Ba đảm nhiệm” thành “Ba đảm đang” đúng với bản chất của người phụ nữ trong gian khó. Lần đầu tiên phong trào “Ba đảm đang” được Bác viết trong văn bản “Lời kêu gọi nhân ngày 20-7-1965”, khuyến khích chị em thực hiện thật tốt phong trào này, để làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng “Chống Mỹ cứu nước”.

Phong trào “Ba đảm đang” từ ngày ấy được phát triển, thực sự là một phong trào cách mạng sâu rộng, đi đến mọi nhà lôi cuốn mọi tầng lớp phụ nữ tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Những giá trị tinh thần, những đóng góp to lớn của phụ nữ trong phong trào “Ba đảm đang” của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ được thể hiện trong chiến đấu, trong lao động và cuộc sống hàng ngày. Một cuộc chiến hết sức gay go quyết liệt với tên đế quốc có tiềm lực kinh tế mạnh nhất thế giới. Trong lịch sử Việt Nam chưa có thời kỳ nào lực lượng phụ nữ lại có cả bà già, phụ nữ có con nhỏ tham gia phong trào chiến đấu, phục vụ chiến đấu đông đảo như cuộc kháng chiến này. Ý thức được nghĩa vụ chống Mỹ cứu nước, ở hậu phương, chị em đều đảm đang việc gia đình, thay thế chồng con sản xuất và trực tiếp chiến đấu. Ban ngày các chị tay cày, tay súng, tối về lo việc nhà, dạy dỗ con thơ. Nhiều tấm gương của chị em đã được cả nước biết đến như các trung đội nữ dân quân bắn rơi máy bay Mỹ ở huyện Hậu Lộc, huyện Tĩnh Gia, huyện Hoằng Hóa, huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa; huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình…và đã được Bác Hồ gửi thư khen.

Đó là gương chị La Thị Tám – người con gái sông La, tỉnh Hà Tĩnh tham gia bảo vệ an toàn cho những con đường huyết mạch trong tỉnh, trực tiếp quan sát, dũng cảm cắm tiêu hàng trăm quả bom nổ chậm. Chị Nguyễn Thị Thứ, nữ dân quân ở Hậu Lộc, Thanh Hóa cùng chị em bắn rơi ba máy bay Mỹ… Biết bao tấm gương không thể kể hết của các chị từng một mình nuôi mẹ già, chăm sóc con nhỏ để chồng đi chiến đấu xa mà vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Các chị xứng đáng là những Anh hùng trong thời đại anh hùng, thể hiện nét đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đoàn kết, yêu nước, thương nhà.

Trong kháng chiến chống pháp, ngày 8-3-1952 tại chiến khu Việt bắc, Bác Hồ đã kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc. Tỏ lòng biết ơn các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ, Người nói: “Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”. Trong kháng chiến chống Mỹ, phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (19-10-1966), Người đánh giá :“phong trào “Năm tốt” của phụ nữ miền Nam, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc là phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp, lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật anh hùng”.

Tin tưởng vào khả năng và lòng hy sinh dũng cảm của phụ nữ Việt Nam, Bác luôn động viên chị em phát huy truyền thống yêu nước của Hai Bà Trưng, Bà Triệu để tự hào, noi gương, phấn đấu. Bác gửi thư khen, tặng huy hiệu, tổ chức gặp gỡ các mẹ, các chị, các nữ dân quân, du kích bắn rơi máy bay Mỹ. Có khi Bác trực tiếp, tự tay trao huy hiệu của Người cho phụ nữ có nhiều thành tích trong phong trào “Ba đảm đang” của Thủ đô (2-12-1965). Bác đã trao tặng cho phụ nữ Việt Nam danh hiệu vinh dự “Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang, chống Mỹ cứu nước”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác kính yêu, phát huy sức mạnh tổng hợp, cùng với các phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” trong công nhân, nông dân; phong trào “Ba sẵn sang” trong thanh niên, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ… một thời đã góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp chống Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

45 năm đã trôi qua, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ đã được ghi nhận là một mốc son trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, một phong trào đã có tác dụng vận động to lớn trong một giai đoạn lịch sử dân tộc. Ngày nay phát huy phong trào của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước, chị em luôn ghi nhớ lời dạy và sự quan tâm của Bác, chú ý nâng cao trình độ, tham gia công tác xã hội, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực tham gia các phong trào do Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động.

Nguyễn Thị Nhi

hoilhpn.org.vn

Hồ Chí Minh với quan điểm về sức khỏe, y tế và đạo đức của người thầy thuốc

Cố Giáo sư-Tiến sĩ Đỗ Nguyên Phương, Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế.

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27 tháng 2, xin trích giới thiệu tài liệu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm sức khỏe, y tế và đạo đức của người thầy thuốc trong cuốn sách “Một số vấn đề xây dựng ngành y tế phát triển ở Việt Nam” của Cố Giáo sư-Tiến sĩ Đỗ Nguyên Phương, Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của đảng ta, dân tộc ta. Đảng ta khẳng định cùng với Chủ nghĩa Mác Lênin, những di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng và cách mạng nước ta. Những tư tưởng của Người mãi mãi là ngọn cờ dẫn dắt cách mạng Việt Nam từng bước đi lên giành hết từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thắng lợi ngày càng to lớn hơn.

Vì vậy việc nghiên cứu, khai thác những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để vận dụng vào những hoạt động thực tiễn của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là việc làm quan trọng và cần thiết.

Chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khỏe” đã đặt ra cho ngành y tế một niềm hy vọng rất lớn, có một ý nghĩa rất quan trọng góp phần phát triển sự nghiệp y tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Trên cương vị lãnh tụ tối cao của đảng, của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cống hiến vĩ đại trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đảng, của nhà nước và nhân dân ta để giải phóng đất nước, đưa đất nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội… Trên lĩnh vực y tế và sức khỏe, Người cũng đã để lại cho chúng ta những tư tưởng, quan điểm vô cùng sâu sắc, phong phú, có ý nghĩa định hướng cho việc phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại.

Quan điểm về sức khỏe

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe con người. Người coi đây là một nhân tố rất quan trọng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ: “giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần sức khỏe mới thành công”. Người nói: “mỗi một người dân yếu ớt là cả nước yếu ớt, dân cường thì nước mạnh”. Trong thời kỳ lãnh đạo dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “sức khỏe của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công”. Điều này nói lên rằng Bác Hồ của chúng ta đã đánh giá rất cao vai trò của sức khỏe.

Quan niệm về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm sự lành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần. Người định nghĩa: “ngày nào cũng tập thể dục thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe”. Nội dung của định nghĩa này hoàn toàn thống nhất với định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới trong Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978 “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về tâm hồn, về thể xác, về xã hội”. Như vậy trước Tuyên ngôn Alma Ata gần nửa thế kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một quan niệm rất chính xác về sức khỏe. Khi đưa ra khái niệm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận đến tinh thần mác xít về con người, bản chất của con người vùa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội; vì vậy việc chăm lo sức khỏe cho con người phải bằng cả biện pháp vật chất và biện pháp tinh thần. Người nói: “Làm thế nào cho đời sống của dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn”. Trong thư gửi Hội nghị Quân y, Bác Hồ đã nói: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”.

Trong 5 quan điểm của đảng ta về công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, quan điểm thứ nhất đã khẳng định sức khỏe là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là sự quán triệt, sự tiếp tục những tư tưởng của Người trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phải chăm lo sức khỏe cho mọi người, chăm lo sức khỏe cho toàn dân. Quan điểm chăm lo sức khỏe cho mọi người thực sự là thể hiện một quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khỏe như tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội. Công bằng xã hội không có nghĩa là không thực hiện sự ưu tiên trong xã hội. Lúc sinh thời, Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở các cán bộ của đảng, nhà nước, các đồng chí chỉ huy quân đội, các cán bộ y tế phải quan tâm chăm sóc sức khỏe cho cụ già, cho trẻ em, cho người nghèo ở vùng xa xôi, hẻo lánh, cho bộ đội và thương binh.

Ngày nay, trong điều kiện của một nền kinh tế thị trường, có sự phân tầng xã hội, tức là trong xã hội có người giàu, có người trung bình, có người nghèo, người đói, có người trong diện chính sách thì rõ ràng nhà nước ta không thể duy trì một nền y tế bao cấp vì như vậy không những nguồn kinh phí không cho phép và hơn thế nữa là không đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Chúng ta quan niệm rằng khi nói đến công bằng xã hội là phải nói đến sự ưu tiên đối với những người có công, vùng có công với cách mạng, đối với người nghèo, vùng nghèo, vùng miền núi xa xôi. Nền y tế của chúng ta phải thực hiện yêu cầu không để các bệnh nhân vì không có tiền mà không được khám chữa bệnh đầy đủ.

Quan điểm về y tế và y học

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền y tế của nước ta là một nền y tế nhân dân. Bác Hồ nói “xây dựng một nền y học của ta”, đây là một quan điểm rất sâu sắc. Bác Hồ còn nói với cán bộ y tế phải “giúp đồng bào, giúp chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta”. Cả cuộc đời của Bác Hố đều vì dân, lấy dân làm gốc. Tư tưởng đó của Người cũng được thể hiện ở việc xây dựng một nền y học xuất phát từ nhân dân, của dân, vì dân. Tư tưởng này còn thể hiện ở một nền y học mang bản sắc Việt Nam, xuất phát từ những điều kiện Việt Nam. Theo Bác Hồ, nhân tố nhân dân và nhân tố Việt Nam là cơ sở cho việc xây dựng một nền y học Việt Nam. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nguyên tắc phải xây dựng một nền y học dân tộc, đại chúng. Tính dân tộc và tính đại chúng chính là một nền y học mang nhân tố dân tộc và nhân tố nhân dân. Nhưng Bác Hồ cũng không dừng lại ở đó, Bác còn nêu ra nguyên tắc nền y học của ta phải là một nền y học mang tính khoa học. Theo Bác Hồ, bản thân y học là khoa học, hơn nữa là một khoa học về con người. Như vậy khi Bác Hồ nêu ra nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng tức là nền y học đó phải mang truyền thống của dân tộc kết hợp với tinh hoa của thời đại. Ở đây nhân tố dân tộc và nhân tố thời đại hòa quyện với nhau, bổ sung cho nhau thành một chỉnh thể thống nhất.

Nền y tế của chúng ta phải hướng về cơ sở, phải đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho toàn dân. Ở các vùng miền xuôi, chăm lo xây dựng các trạm y tế, nhanh chóng xóa bỏ tình trạng xã trắng về y tế, phấn đấu tuyến xã có bác sĩ. Ở các tỉnh miền núi, chăm lo đến y tế thôn bản, chăm lo đến sức khỏe gia đình. Mặt khác, nền y tế của chúng ta phải vươn tới xây dựng một nền y tế hiện đại, đào tạo được ngày càng nhiều các chuyên gia đầu đàn, nhanh chóng tiếp cận với trang thiết bị hiện đại, tập trung xây dựng những trung tâm y tế chuyên sâu. Như vậy là tính dân tộc, tính đại chúng và tính khoa học gắn bó chặt chẽ với nhau và là những phương hướng cơ bản, lâu dài của nền y tế nước ta.

Trong tư tưởng của Bác Hồ thể hiện rất rõ quan điểm xây dựng một nền y học trên cơ sở kết hợp đông y và tây y. Quan điểm này của Bác Hồ là xuất phát từ thực tiễn lịch sử Việt Nam. Bác nói: “Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý hóa về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc” và Bác còn nói “Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc đông và thuốc tây”. Sở dĩ như vậy vì Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thuốc tây chữa được nhiều bệnh, nhưng có bệnh chữa không được mà thuốc ta chữa được. Thuốc ta cũng chữa được nhiều bệnh nhưng có bệnh cũng không chữa được. Bên nào cũng có cái ưu điểm, hai cái ưu điểm cộng lại thì chữa bệnh tốt cho đồng bào, cho nhân dân, phục vụ cho xây dựng xã hội chủ nghĩa. Thầy thuốc tây phải học đông y, thầy thuốc ta cũng phải học thuốc tây… Thầy thuốc ta và thầy thuốc tây đều phục vụ nhân dân, như có hai tay cùng làm việc thì làm việc được tốt. Cho nên phải đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, đoàn kết thuốc ta và thuốc tây thành một khối để chữa bệnh cho đồng bào”.

Với cách nhìn nhận của Bác Hồ thì đông y và tây y không phải là hai mặt mâu thuẫn với nhau mà có sự thống nhất chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Chúng ta quan niệm đầy đủ rằng phải kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại, phải hiện đại hóa y dược học cổ truyền nhưng không làm mất bản sắc y dược học dân tộc. Chúng ta luôn luôn ý thức y dược học cổ truyền là một thế mạnh của nước ta. Để xây dựng một nền y học hiện đại tiến kịp với nền y học nhân loại, chúng ta phải khai thác, phát huy sức mạnh của y dược học cổ truyền; khai thác, phát huy cái phong phú, cái tài tình, cái còn đang tiềm ẩn của y học cổ truyền.

Quan điểm về y tế dự phòng

Trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề y học dự phòng. Bác Hồ nói “Phòng bệnh cũng cần thiết như chữa bệnh”. Có lúc Người còn nói “Phòng bệnh hơn trị bệnh”. Quan điểm về y học dự phòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất toàn diện. Để chống lại bệnh tật, ốm đau, Người đặc biệt quan tâm từ những vấn đề rất nhỏ về vệ sinh môi trường như nước sạch, hố xí vệ sinh, diệt ruồi, muỗi. Người nhấn mạnh “Vệ sinh là yêu nước”. Ở đây khái niệm “vệ sinh” của Người bao hàm rất rộng, rất đầy đủ. Người thường xuyên nhắc nhở toàn dân phải giữ gìn vệ sinh. Người nói: “Mọi người từ già trẻ, trai gái đã là người dân yêu nước đều phải quan tâm đến vấn đề vệ sinh, giữ gìn sức khỏe”. Trong 5 lời dạy của Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng. Bác cũng nói: “Yêu tổ quốc và yêu đồng bào, Học tập tốt và lao động tốt. Đoàn kết tốt và kỷ luật tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Khiêm tốn, thật thà và dũng cảm”.

Ngay trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước những công việc cấp bách, bộn bề; Người vẫn nghĩ đến xây dựng “Đời sống mới” cho toàn dân. Trong nội dung của “Đời sống mới”, Người viết “Sạch sẽ là một phần của đời sống mới, sạch sẽ thì dân ít ốm, khỏe mạnh thì làm được việc, làm được việc thì có ăn, xem đó thì biết rằng ai cũng nên làm đời sống mới”.

Trong quan điểm y học dự phòng của Chủ thịch Hồ Chí Minh, Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề nâng cao thể lực của con người. Đây chính là phương châm y học dự phòng tích cực và chủ động nhất. Bác Hồ vận động toàn dân phải thường xuyên vận động cơ thể, tập thể dục để nâng cao sức khỏe. Khi khuyên đồng bào tập thể dục, Bác Hồ nói, vị Chủ tịch nước cũng xin hứa “Tự tôi ngày nào tôi cũng tập”. Không những tập thể dục mà Người còn tập tắm nước lạnh, trèo núi, đánh bóng chuyền, tập võ… Có thể nói Bác Hồ cũng chính là một mẫu mực của ý chí rèn luyện về mọi mặt.

Ngày nay, khi đất nước ta chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nhiều thách thức lớn đang đặt ra cho công tác chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe nhân dân thì vai trò của y học dự phòng càng trở nên đặc biệt quan trọng. Không những chúng ta vẫn phải ngăn chặn, đề phòng những bệnh tật của mô hình một nước kém phát triển như các bệnh nhiễm khuẩn, tả, lỵ, thương hàn, sốt rét… mà còn phải đặt ra vấn đề phòng chống các bệnh ung thư, tim mạch, AIDS, bệnh nghề nghiệp, bệnh do tệ nạn xã hội… là mô hình bệnh tật của các nước phát triển.

Quan điểm về đạo đức của của người thầy thuốc

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức của người thầy thuốc là “lương y phải như từ mẫu” nghĩa là “thầy thuốc phải như mẹ hiền”. Đây là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng của Người về y đức. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghề thầy thuốc là một nghề đặc biệt, nó trực tiếp quan hệ đến sức khỏe, đến tính mệnh của con người. “Thầy thuốc phải như mẹ hiền” là một đòi hỏi khách quan trong việc thực hành y nghiệp. Vì tính chất của nghề nghiệp mà người thầy thuốc phải giàu lòng nhân ái, chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần người bệnh, yêu thương người bệnh và săn sóc họ như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn như mình đau đớn. Người thầy thuốc phải lấy người bệnh là trung tâm, coi cứu người bệnh là mục đích hành đạo.

Hải Thượng Lãn ông cũng quan niệm người thầy thuốc phải nhiệt tình, không kể sang hèn, không kể giàu nghèo, phải tôn trọng người bệnh, không được cầu lợi, kể công, không được “đem nhân thuật để làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm vấn đề quyết định y đức của người thầy thuốc là lương tâm đạo đức, là trách nhiệm bổn phận của người thầy thuốc “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khỏe cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ rất vẻ vang”. Người còn dặn dò các y tá “y tá chẳng những là một nghề nghiệp, mà là một nghĩa vụ. Người y tá chẳng những chữa bệnh mà còn phổ biến vệ sinh. Việc giữ gìn, bồi dưỡng sức khỏe của dân tộc, người y tá phải gánh một phần quan trọng. Vì vậy, y tá là những chiến sĩ đành giặc ốm, bảo vệ sự khang kiện của giống nòi. Những chiến sĩ y tá phải có chí chịu khổ, chịu khó, phải giàu lòng bác ái, hy sinh”. Theo Người nhân ái hay bác ái là nét nổi bậc trong nhân cách của người thầy thuốc, một nền y học tiến bộ phải tồn tại trên cái nền của lòng nhân ái.

Ngày nay, trong bối cảnh mới của đất nước, vấn đề y đức cũng đang được đặt ra như một vấn đề bức xúc. Sự chuyển đổi từ một nền y tế bao cấp sang một nền y tế trong cơ chế thị trường, những tác động tiêu cực của nó ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giữ gìn đạo đức, phẩm chất của người thầy thuốc. Khi đồng tiền được đặt ra giữa người thầy thuốc và bệnh nhân. Khi người bệnh đến bệnh viện có nhiều phương thức trả tiền trong những điều kiện đời sống của những người thầy thuốc còn nhiều khó khăn, đồng lương còn chưa đủ ăn thì những tác động tiêu cực cũng đã làm không ít thầy thuốc bị xói mòn lương tâm đạo đức; đồng tiền, quà cáp đang làm thay đổi tiêu chí đối xử đối với bệnh nhân.

Nhận rõ tính bức xúc trên đây, trong thời gian qua ngành y tế bằng nhiều biện pháp đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng y đức, với quyết tâm càng ngày càng nâng cao hơn nữa lòng tin của nhân dân đối với ngành y tế. Bộ Y tế đã có chỉ thị về vấn đề y đức và chỉ thị đó dần dần đi vào thực tiễn và trở thành hành động của các nhân viên y tế. Bộ Y tế cũng đã ban hành 12 điều quy định về y đức. Có thể nói rằng 12 điều quy định này đã được dư luận rộng rãi nhân dân trong cả nước đồng tình và ủng hộ. Ở trong ngành y tế đã và đang có những đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi để quán triệt, tổ chức thực hiện 12 điều quy định về y đức.

Những nội dung trọng tâm của 12 điều y đức là những quy định về tinh thần trách nhiệm, thái độ của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, thái độ niềm nở, tận tình, khẩn trương tổ chức khám chữa, tôn trọng bệnh nhân không phân biệt giàu nghèo. Trong điều trị phải tận tình, chu đáo, luôn luôn có mặt ở vị trí công tác, theo dõi chặt chẽ, xử lý kịp thời các tình huống, phải thực hiện được điều như Cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch đã nói: “Đến, niềm nở tiếp đón. Ở, tận tình chăm sóc. Đi, ân cần dặn dò”.

Đối với đồngnghiệp phải tôn trọng, cộng tác, thân ái giúp đỡ lẫn nhau. Khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm nghề nghiệp của nhau, sẵn sàng chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm cho người khác.

Đối với nghề nghiệp, phải ra sức phấn đấu cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, có lòng yêu nghề sâu sắc, có lương tâm nghề nghiệp cao, không ngừng học tập và nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, xứng đáng là người thầy thuốc của nhân dân, vì nhân dân.

Ngoài lời dạy phải thương yêu người bệnh “Lương y phải như từ mẫu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc là “trước hết phải thật thà đoàn kết…” Bác Hồ nói “Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới, đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, Bác sĩ, Dược sĩ cho đến các chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân”

Toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta đã và đang triển khai thực hiện cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đối với vấn đề y đức, những người làm công tác y tế cần phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người từ những quan điểm về sức khỏe, y tế, y học và đạo đức của người thầy thuốc đã nêu trên.

Ngày 24/02/2011
TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

nhoNguoicha

Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vnSau Cách mạng tháng 8-1945, Nhà nước Việt Nam non trẻ gặp rất nhiều khó khăn, thử thách, cùng lúc phải đối mặt với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đề ra và lãnh đạo thực hiện đúng đắn chính sách đối với những người đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc. Ngày 7-1-1947, trong thư gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, khi đó là Giám đốc Y tế Bắc bộ, Người viết: “Tôi biết rằng con trai Bác sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Bác sĩ biết đấy, tôi không có gia đình và không có con, nhưng gia đình của tôi là Việt Nam, con cái tôi là thanh niên Việt Nam, mỗi khi một thanh niên hy sinh thì tôi thấy mình như mất đi một phần cơ thể”(1). Trong thư gửi các chiến sĩ bị thương trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Bác nhấn mạnh: “Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để gìn giữ đất nước… Các chiến sĩ thật xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc không bao giờ quên những người con như thế”(2). Người coi việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ không là nhiệm vụ của riêng ai, mà là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Để toàn dân ta quan tâm thường xuyên hơn nữa đối với thương binh, thân nhân liệt sĩ, tháng 6 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm ngày thương binh, liệt sĩ. Thực hiện chỉ thị đó, Hội nghị về vấn đề này gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khối và tỉnh họp ở Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) bàn và nhất trí đề nghị lấy ngày 27-7-1947 làm ngày thương binh, liệt sĩ. Từ đó, ngày 27-7 hằng năm là ngày toàn dân ta tưởng nhớ đến các liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng.

Không chỉ dành sự quan tâm đặc biệt tới thương, bệnh binh, Người còn luôn biểu dương, nêu gương những người có công cứu chữa thương, bệnh binh. Trong thư gửi bà Bá Huy, Bác viết: “Tôi nhận được báo cáo bà đã hăng hái giúp đất ruộng, trâu bò, thóc lúa và tiền bạc để lập một trại an dưỡng cho thương binh… Như thế là bà đã làm kiểu mẫu cho đồng bào thực hành cái khẩu hiệu: Có tiền giúp tiền, có sức giúp sức, đồng tâm hiệp lực, kháng chiến thành công”(3). Với lời lẽ mộc mạc, giản dị, Hồ Chí Minh đã động viên kịp thời những người có công giúp đỡ thương, bệnh binh, Người đã khéo nêu gương bà Bá Huy cho toàn dân học tập. Người mong muốn có nhiều bà Bá Huy hơn nữa để bù đắp cho những người đã vì Tổ quốc mà mất đi một phần xương máu của mình.

Hồ Chí Minh chỉ rõ trách nhiệm của chúng ta đối với thương, bệnh binh: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh. Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí ốm yếu què quặt. Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”(4).

Vào năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta liên tiếp giành thắng lợi lớn trên các mặt trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư thăm hỏi, động viên các chiến sĩ bị thương trong các trận đánh. Trong thư gửi những chiến sĩ thương binh khi tham gia giải phóng Đông Khê(5), Người viết: “Các chú đã chiến đấu anh dũng và đã giết được nhiều giặc, đã có công trong việc giải phóng Đông Khê. Chính phủ đồng bào đều nhớ ơn các chú. Tôi gửi lời khen ngợi các chú và chúc các chú mau lành bệnh để trở lại hàng ngũ tiếp tục chiến đấu giết giặc”(6).

Trên mỗi chặng đường cách mạng, kháng chiến, Bác luôn quan tâm đến những thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng, từ đó đề ra chủ trương, chính sách ưu đãi để bù đắp những mất mát đối với họ và Người luôn làm gương thực hiện cho mọi người noi theo.

Ngày 27-7-1953, trong thư gửi Bộ Thương binh Cựu binh, Người viết: “Tôi xin gửi một tháng lương và 50 cái khăn tay do đồng bào phụ nữ Thái biếu tôi, nhờ Cụ(7) chuyển cho anh em thương binh với lời chào thân ái của tôi”. Bức thư này của Bác đã đăng liên tục trên báo Nhân Dân từ ngày 26 đến 30-7-1953. Việc gửi vật chất để biếu thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là việc làm thường xuyên của Bác, chứa đựng trong đó những tình cảm và ý nghĩa sâu xa.

Ngày 7-5-1954, quân và dân ta đại thắng ở Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam – Lào – Căm-pu-chia. Nhân thắng lợi to lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư nhắn nhủ đồng bào: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu giúp đỡ họ”(8). Đối với thiếu niên, nhi đồng – những chủ nhân tương lai của đất nước, để giáo dục các cháu luôn chăm lo cho các thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng, Người căn dặn: “Các cháu phải: thi đua học tập, thi đua sản xuất, thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ”(9).

Năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra rất quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Trước lúc đi xa, để thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ tốt hơn nữa, Bác căn dặn: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn, chốn ở, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét”(10). Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lời căn dặn, là ý nguyện của Người, mà còn là nguyện ước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta, bất luận hoàn cảnh nào, cũng luôn xác định chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với Tổ quốc là một trong những chính sách lớn, có vị trí quan trọng trong chiến lược con người. Đặt con người ở vị trí trung tâm, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, chính sách của Đảng ta đối với con người, đặc biệt là những người đã chịu nhiều hy sinh mất mát, có nhiều cống hiến cho cách mạng, không những có ý nghĩa to lớn đối với bản thân các đối tượng chính sách, mà còn tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng, ý thức chính trị của mọi tầng lớp nhân dân. Đảng, Nhà nước ta đã tập trung khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách thương binh, liệt sĩ cho phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là từng bước luật pháp hóa các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong đó tiêu biểu là Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; Pháp lệnh tuyên dương Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; chủ trương về xây cất mộ – nghĩa trang liệt sĩ v.v… Các chủ trương chính sách đó đã và đang đi vào cuộc sống, được toàn xã hội đón nhận và đồng tình ủng hộ; vừa góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần các đối tượng chính sách, vừa góp phần ổn định và phát triển đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ XHCN.

Hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đạt được những thành tựu to lớn. Để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 mà Đại hội X của Đảng đã xác định, chúng ta phải phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực để đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, thực hiện tốt hơn nữa chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng; tiếp tục quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng hệ thống chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Để làm được điều đó chúng ta phải:

Đẩy mạnh xã hội hóa công tác thương binh, liệt sĩ và chăm sóc người có công. Tiếp tục giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tình cảm và tính tự giác hành động của quần chúng, đưa phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng đi vào chiều sâu; chủ động, sáng tạo, tổng kết thực tiễn để xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế và cơ chế kinh tế mới. Thông qua việc làm tình nghĩa mà giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chế độ, tình cảm cách mạng trong sáng cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ.

Gắn công tác thương binh, liệt sĩ và chăm sóc người có công với cách mạng với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược quốc phòng – an ninh của đất nước. Đi đôi với việc nâng cao vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả việc chăm lo thực hiện các chính sách, chế độ đã ban hành, cần giáo dục, động viên các đối tượng hưởng chính sách nêu cao tinh thần gương mẫu, nỗ lực vươn lên, tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng tốt đẹp của mình và góp sức xây dựng đất nước. Đồng thời phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho họ tham gia các chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương (vay vốn giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; xây dựng nền văn hóa mới, con người mới…) hình thành hệ thống biện pháp tổng hợp, đồng bộ để tạo nên hiệu quả toàn diện cả về kinh tế và chính trị-xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với chăm sóc và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công, tạo thành nền tảng chính trị-xã hội vững chắc của sự nghiệp đổi mới và bảo vệ Tổ quốc. Thường xuyên nắm chắc tình hình tổ chức thực hiện ở các địa phương, có kế hoạch chỉ đạo để bảo đảm mọi đối tượng có công sớm được hưởng các chế độ theo quy định. Chủ động và kiên quyết xử lý những trường hợp làm sai chính sách, chế độ và những yếu kém, khuyết điểm trong tổ chức thực hiện.

Đẩy mạnh tiến độ, hiệu quả giải quyết các tồn đọng chính sách sau chiến tranh. Tăng cường phối hợp, liên kết các đoàn thể, ban ngành trung ương và địa phương, các lực lượng vũ trang và nhân dân để tổ chức tìm kiếm, khảo sát, quy tập mộ liệt sĩ. Đây là một vấn đề có ý nghĩa chính trị-xã hội và nhân văn to lớn. Ngoài ra, việc tiếp tục tu sửa, nâng cấp, quản lý tốt các nghĩa trang, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sĩ, coi đó thực sự là những công trình văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, là bổn phận của thế hệ hôm nay và mai sau.

——-

(1) Hồ Chí Minh – chân dung một con người, lưu Bảo tàng Hồ Chí Minh. (2) Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, lưu Trung tâm lưu trữ quốc gia I. (3) Sách Lời Hồ Chủ tịch, Nha Thông tin thư viện Việt Nam, H.1949, tập II, tr.13. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2000, tr.175. (5) Trận Đông Khê là trận đánh mở đầu trong chiến dịch Biên giới năm 1950. (6) Báo Cứu quốc, số 1675, ngày 25-10-1950. (7) Tức Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh lúc bấy giờ. (8) Báo Nhân Dân, số 875, ngày 27-7-1956. (9) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 6, tr.221. (10) Sđd, tập 12, tr.503.

LÊ VĂN PHONG
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng dân là chủ, Đảng là đầy tớ của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã để lại những di huấn quan trọng cho cách mạng và Đảng ta, một trong những giá trị quý báu đó là tư tưởng dân là chủ, Đảng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, trong những khoá đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định mục đích của lớp học là đào tạo cán bộ, đưa họ trở về nước để giáo dục, giác ngộ, tổ chức nhân dân đấu tranh giải phóng đồng bào thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, lập ra chính quyền dân chủ nhân dân. Trong Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn, đề ra chương trình hành động của Đảng. Nội dung các văn kiện đó toát lên mục tiêu hành động của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Trong suốt 24 năm giữ cương vị cao nhất cơ quan đảng và nhà nước, bên cạnh khẳng định vai trò làm chủ đất nước của nhân dân, Hồ Chí Minh thường huấn thị cho cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện và phấn đấu, xứng đáng là đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng dân là chủ được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần sau khi nước độc lập, khi miền Bắc xây dựng CNXH. Dân là chủ, nghĩa là trong xã hội Việt Nam, nhân dân là người chủ của nước, nước là nước của dân. Các cơ quan đảng và nhà nước là tổ chức được dân uỷ thác làm công vụ cho dân. Dưới chế độ thuộc địa, nhân dân ta bị một cổ ba tròng, bị thủ tiêu hết mọi quyền dân chủ. Trong xã hội đó, quyền con người, quyền dân tộc bị kẻ thù chà đạp thô bạo, dã man. Lật đổ chính quyền thực dân đế quốc, lập chính quyền mới – chính quyền nhân dân trở thành mục tiêu trực tiếp của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ cao cả của Đảng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”(1). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng nghĩa lý gì. Giá trị cao nhất của độc lập dân tộc là đem lại quyền làm chủ thực sự cho dân, phải trao lại cho dân mọi quyền hành.

Trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh coi nhân dân là người “chủ”, nghĩa là dân có quyền được hưởng mọi quyền con người, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm, có nghĩa vụ tuân theo pháp luật, có quyền tự do lựa chọn và đi theo con đường cách mạng chân chính. Nhân dân có quyền ứng cử, đề cử đại biểu vào cơ quan nhà nước, đồng thời có quyền “bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(2). Nhân dân có quyền trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mọi công việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc phải được công khai bàn bạc với dân, do dân quyết định. Trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của mình. Những biểu hiện xem thường, thủ tiêu các quyền dân chủ đều trái với tư tưởng dân là chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi bàn về mục tiêu hoạt động, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng không có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. Để thực hiện được mục tiêu đó Đảng phải thu phục, chinh phục được nhân dân, muốn vậy Đảng phải làm tròn trách nhiệm đày tớ của nhân dân. Đày tớ là công bộc của dân, với nội hàm là vì lợi ích chung mà gánh vác việc dân, trung thành và tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân.

Trong quan hệ giữa Dân và Đảng, Hồ Chí Minh quy vào quan hệ chủ và đày tớ. Chủ là dân, đày tớ là Đảng. Nói đày tớ nghĩa là nói tới đức trung thành của Đảng với dân, thể hiện ở sự hiểu biết lợi ích, tâm tư nguyện vọng của dân, biết giải quyết đúng đắn, kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiến trình cách mạng Việt Nam luôn không ngừng vận động, với những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, theo đó nguyện vọng của dân cũng có bước phát triển theo dòng thời gian. Khi nước mất, nhân dân Việt Nam trở thành người nô lệ, nhiệm vụ của Đảng là tập trung lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền thực dân, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách thống trị thực dân, lập chính quyền mới, đem lại quyền làm chủ cho nhân dân. Khi nước độc lập rồi thì Đảng phải nắm bắt và giải quyết kịp thời những nhu cầu trực tiếp mà nhân dân đặt ra như: Ăn, ở, học hành, chữa bệnh v.v… Nếu dân đói, dân rét thì đó là lỗi của Đảng và Chính phủ. Đối với hoạt động của cán bộ, đảng viên, Người thường nhắc nhở “việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(3). Đức trung thành của Đảng với dân gắn liền với vận mệnh của nước. Khi đất nước bị chia cắt thành hai miền, thì sự trung thành của Đảng với dân thể hiện ở việc lãnh đạo giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nếu nước mất thì nhà tan; nước độc lập thống nhất thì dân mới có quyền hưởng tự do, hạnh phúc. Vì vậy, việc giải quyết lợi ích của dân phải gắn đồng thời với giải quyết những vấn đề về sinh mệnh của dân tộc, có như vậy Đảng mới làm đúng nghĩa trung với dân.

Là đày tớ của dân, Đảng và Nhà nước phải tận tâm, tận lực đối với dân trong từng việc làm. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Không chỉ thấm đượm trong từng lời nói, Hồ Chí Minh đã biến tư tưởng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thành hành động cách mạng, trọn đời vì nước, vì dân. Sự hy sinh cao cả cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh trở thành tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, Người trở thành hiện thân của truyền thống kính dân, yêu dân của Đảng ta. Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư nguyện vọng và lợi ích của dân.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu vô cùng quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân rất quan trọng là Đảng luôn kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, lấy phục vụ nhân dân làm nhiệm vụ cao nhất theo đúng Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân là chủ và “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(4).

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.270. (2) Sđd, tập 9, tr.591. (3) Sđd, tập 4, tr.22. (4) Sđd, tập 12, tr.510.

Ths CHẾ ĐÌNH QUANG

xaydungdang.org.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Giai cấp nông dân

1. “Thực túc thì binh cường!”

Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất.

Ruộng rẫy là chiến trường

Cuốc cày là vũ khí,

Nhà nông là chiến sĩ,

Hậu phương thi đua với tiền phương.

 

Thư gửi nông dân thi đua canh tác, tháng 2-1951, sđd, t.6, tr. 178.

 

2. … Phải củng cố hợp tác xã cho tốt. Muốn hợp tác xã tốt, phải thế nào? Phải nâng cao tinh thần làm chủ: làm chủ xóm làng, làm chủ hợp tác xã, làm chủ đất nước… Nay dân đã là chủ. Nhưng phải cho ra người chủ, chứ không thể phất phơ được. Mọi người đều có trách nhiệm làm cho dân giàu nước mạnh, quốc phòng vững mạnh. Làm chủ hợp tác xã là thế nào? Là phải coi công việc của hợp tác xã như công việc của mình, chứ không phải làm sao cũng được.

 

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (Nghệ An), ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 455.

 

36. … Các hợp tác xã đều phải:

– Đoàn kết chặt chẽ, giữa xã viên với nhau, đoàn kết giữa ban quản trị và xã viên.

– Thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh.

– Tài chính phải công khai, tuyệt đối chống tham ô, lãng phí.

Các hợp tác xã phải làm thế nào để các xã viên đều thấy rằng mình là người chủ tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã. Có như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất, và hợp tác xã sẽ tiến bộ không ngừng.

 

Nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình ngày 1-1-1967, sđd, t.12, tr. 195.

quangbinh.gov.vn

Câu chuyện “Bác Hồ về thăm làng Gốm” giờ mới kể

Sơ lược lịch sử Bát Tràng

Trước năm 1961 xã Bát Tràng là xã Quang Minh gồm 3 thôn Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan. Hiện nay xã Bát Tràng có 2 thôn :Giang Cao và Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội.

Theo cuốn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Bát Tràng (1930 – 2000) thì diện tích toàn bộ xã là 164 ha với 1628 hộ và 6655 nhân khẩu. Về địa lý, xã Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía Bắc giáp xã Đông Dư , phía đông giáp xã Đa Tốn, phía nam giáp xã Xuân Quan (huyện văn giang, tỉnh Hưng Yên) Phía tây là sông Hồng. Xã Bát tràng cách trung tâm thành phố Hà Nội 12km.

Xã Bát tràng có làng nghề gốm sứ cổ truyền là làng Bát Tràng, cũng như mọi làng quê Việt Nam, làng Bát Tràng có nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ… chứng minh cho một làng quê văn hiến. Làng Bát tràng từ xa xưa đã nổi tiếng là đất học, đất làng nghề có nhiều người đỗ đạt , khoa bảng . Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Huế và Văn Miếu Bắc Ninh ( trước 1961 làng Bát Tràng thuộc tỉnh Bắc Ninh) đã ghi danh các bậc đại khoa của làng Bát Tràng gồm một trạng nguyên , tám tiến sĩ, mười quận công. Đầu thế kỷ 20, xã Bát tràng có nhà chí sĩ cách mạng Phạm Văn Tráng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bộ Châu, cùng đồng đội tiêu diệt viên tuần phủ gian tỉnh Thái Bình và đã hi sinh anh dũng. Nhiều người làng Bát Tràng đã tham gia Việt Minh, cùng nhân dân nổi lên cưới chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Làng Bát tràng cũng là nơi in ấn bài hát tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, sau này là Quốc ca của nước ta. trong kháng chiến chống pháp giữa vòng vây kìm kẹp của kẻ thù, người dân làng Bát Tràng vẫn hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu, không ngại hy sinh gian khổ, tích cực tham gia chiến đấu , phá tề trừ gian, chống giặc càn. trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân tự vệ Bát tràng đã đánh trả máy bay Mỹ ném bom vào thôn bát tràng. Thanh niên Bát tràng đã xung phong vào bộ đội và đi khắp mọi miền Đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Làng Bát tràng có nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chống Mỹ cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 8 năm 1958, TW Đảng và Chính phủ quyết định đào sông Bắc Hưng Hải nhằm phục vụ tưới tiêu cho 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương). Do việc đào sông, xã Quang Minh được tách thành hai xã: Xã Bát Tràng và xã Kim Lan.

Để phục vụ cho đào sông Bắc Hưng Hải, phải di chuyển một nửa thôn Bát Tràng ra chỗ đất mới. Trong đó, có hơn 200 ngôi nhà cổ, một ngôi chùa, các lò nung đồ gốm sứ và các cơ sở sản xuất lâu đời…

Trong tình hình các hộ dân đã di chuyển ra chỗ ở mới, mới chỉ có một số hộ dân xây dựng được nhà cửa , còn một số hộ đang chuẩn bị xây dựng nơi ăn chốn ở và cơ sỏ sản xuất thì Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.

Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng

Sáng ngày 20-2-1959, nhân dân xã Quang Minh (Tên xã ở thời điểm đó) vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ về thăm làng Bát Tràng. Cùng đi với Bác có các cán bộ của xã và huyện. Rất đông dân làng nô nức đón Người, vô cùng sung sướng được ngắm nhan dung Bác và đi theo người đến thăm các nơi.

Trên đường vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Bác ghé thăm nhà ông lang Tự (Nguyễn Trọng Đức, đã mất vào năm 1983). Nhà ông Tự đã được di chuyển ra chỗ đất mới và xây dựng xong. Ông lang Tự và con trai đi làm vắng nhà, chỉ có 2 con gái, cô chị là Nguyễn Thị Trâm 13 tuổi., cô em gái Nguyễn Thị Oanh 9 tuổi đang chơi ngoài sân, theo Bác vào Nhà.

Bác hỏi:

– Ba mẹ đi đâu rồi?

– Thưa Bác, thầy cháu và anh cháu đi làm, u cháu đi chợ.

Bác ngắm, đọc bức hoành phi và đôi câu đối ở ngoài hiên nhà thờ. Bác bảo hai cô gái.

– Các cháu nói với ba mẹ là treo câu đối không đúng vị trí, phải đổi câu bên trái sang bên phải.

Bác xuống nhà dưới, mở lồng bàn để xem mâm cơm của gia đình.

Lúc đó chưa đến bữa ăn nên mâm cơm chỉ có bát rau muống luộc. Sau ngày Bác về thăm, ông Lang Tự đã treo lại câu đôi như lời bác dặn.

Bác rời nhà ông lang Tự, vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Thời gian đó HTX này là mô hình sản xuất gốm sứ tiến bộ nhất của làng Bát Tràng, có nội dung và hình thức gần giống như một công ty cổ phần ngày nay. Tiền thân của HTX là tập đoàn sản xuất Minh Châu được thành lâp bởi một số thợ làm thuê tập hợp nhau lại và đóng góp cổ phần. Ban đầu, tập đoàn chỉ có 30 người. Trong vòng 2 năm, tập đoàn này đã phát triển thêm được gần 50 người nữa. Tháng 10 năm 1957, tập đoàn chuyển thành HTX sản xuất Minh Châu. Tháng 8-1959, HTX hợp nhất với các xí nghiệp gốm công ty hợp doanh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng. HTX sản xuất Minh Châu chỉ được thông báo vào hôm trước là sẽ có lãnh đạo của TW về thăm. Sáng hôm sau Bác đã về. Tất cả các xã viên đều sản xuất bình thường.

Bác đi qua khu bể lọc đất rồi vào khu sản xuất đứng xem anh Vũ Văn Vinh (sinh năm 1941, hiện nay đã 63 tuổi đã nghỉ hưu) in bát. Vì cảm động quá và còn ít tuổi nên anh Vinh in ra một bát còn hơi méo rồi đặt lên bàn sản phẩm.

Bác hỏi:

– Khi nung chín ra, bát có méo không?

– Thưa Bác, bát cũng méo ạ!

– Thế thì phải làm lại!

Bác quay sang chỗ anh Trần văn Tửu (sinh năm 1940, đã nghỉ hưu) đang tiện tiện bát (một công đoạn sản xuất sau khi in bát và để khô) và hỏi:

– Mỗi ngày cháu tiện được bao nhiêu cái bát?

Anh Tửu hồi hộp quá nên không trả lời được. Một anh cán bộ huyện trả lời.

– Thưa Bác , được 300 cái ạ!

– Như thế có ít không? Có thể gấp hai được không?

Rồi Bác đi ra sân, xem chị Nguyễn Thị Kiểm ( Gọi theo tên chồng là Định, năm nay 74 tuổi đã nghỉ Hưu dấn men phủ Bát . Lúc đó là mùa Xuân nhưng vẫn còn rét, công nhân phải đun nước nóng để pha vào huyễn dịch men sứ cho khỏi giá. Một cán bộ huyện Gia Lâm cầm chậu để đi lấy nước nóng.
– Để các công nhân làm, kẻo chú làm hỏng mất!

Chị Định còn mải ngắm Bác nên Bác nói:

– Cứ làm đi cháu, khéo không đổ vỡ.

Xem xong, bác hỏi chị Định:

– Các cháu làm thế này, thu nhập có cao không? Sản phẩm có chất lượng không?

Mọi người chỉ mải nhìn Bác nên không ai biết trả lời như thế nào.
Cuối cùng, Bác bá vai anh Phùng Ngọc Oanh (hiện 71 tuổi, đã nghỉ hưu) là chủ nhiệm HTX Minh Châu, căn dặn:

– Các cháu cố găng sản xuất hàng hoá sao cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ để phục vụ nhân dân!

Bác Hồ rời khỏi HTX trong tiếng hô của mọi người

Hồ chủ tịch muôn năm!

Bác rẽ xuống thăm nhà ông Lang Xương (Lê Văn Xương đã mất) làm nghề Đông dược. Nhà ông lang Xương cũng đã được xây dựng xong ở chỗ đất mới.

Bác thấy trong nhà có mâm cơm, mổ lồng bàn ra xem. bác thấy cơm trắng, đậu rán, rau muống luộc, cà muối. Bác khen nhà có cơm ngon. Rồi Bác ngồi xuống phản gỗ, nói chuyện với ông lang. Bác thấy các lọ và hộp tủ đựng thuốc có dán nhãn tên thuốc bằng chữ Hán, Bác bảo:

– Chú phải dán tên thuốc bằng chữ Quốc ngữ ở dưới chữ Nho để khi chú đi vắng, người nhà bốc thuốc cứu người.

Bác lại hỏi:

– Chú có đắt hàng không?

– Thưa Bác, không được đắt lắm ạ!

Bác nói:

– Thế thì tốt, hàng thuốc mà đắt thì dân có nhiều người bệnh. Bác ngoặt sang một ngôi nhà 2 tầng gần đấy cũng đã được xây dựng xong.
Bác hỏi

– Đây là nhà ai?

Ông Trần Văn Tuý (nguyên Phó chủ tịch xã Bát Tràng đã mất)

– Thưa Bác, nhà ông Phạm Huy Giáp đi bộ đội về ạ!

Bác vào thẳng gian hàng giữa nhà và thấy chăn chiếu trên giường được xếp gọn gàng. bác hỏi bà Trần Thị Vinh (vợ ông Giáp, nay đã 83 tuổi):

– Gia đình ta có mấy người?

– Thưa Bác, có 5 người cháu, 2 vợ chồng và một mẹ già , tổng cộng là 8 người ạ!

Bác nói;

– Thế thì có quá nhiều con.

Ngày 2- 09 – 2002, gia đình ông Phạm Huy Giáp đã lập bia đá gắn và ở tường trước ngôi nhà mà Bác đã đến thăm để kỷ niệm ngày Bác về thăm Gia đình .

Ra khỏi nhà ông Giáp, Bác vào nhà bà Nguyễn Thị Bùi (gọi theo tên chồng là bà Tín, đã mất) chưa xây dựng xong nhà ở tại khu đất mới.

Bác hỏi:

– Sao cô chưa làm nhà?

– Thưa Bác, chưa có vôi ạ!

Thế là hôm sau, bà Tín có vôi làm nhà.

Cuối cùng, Bác trở lại để nói chuyện với dân làng. Trên khu đất có một đường goòng chạy đến cửa sông Bắc Hưng Hải để chở vật liệu và dụng cụ cho việc xây dựng cửa sông này. có một chiếc cầu cao bằng gỗ vượt qua đường gòong để anh chị em công nhân chất đồ xuống xe goòng. Dân làng muốn Bác Hồ đứng trên cầu vượt để nói chuyện với nhân dân.

Bác bảo các cán bộ lãnh đạo huyện và xã:

– Các cô chú cho Bác ra chỗ nào rộng!

Bác ra khoảng đất rộng trước HTX mua bán cho nhân dân trong xã (nay là Trạm Y tế thôn Bát Tràng), Anh Trần Văn Tửu vào một gia đình ở gần đó, mượn một cái bàn gỗ nhỏ , dài chừng 1,2m và cùng mấy người khiêng ra chỗ đất rộng để Bác đứng nói chuyện với dân làng. Mọi người đứng xung quanh Bác, yên lặng và trật tự để nghe Bác nói chuyện.

Bác hỏi thăm dân làng và nói:

– Nhà nước đào sông Bắc Hưng Hải làm mất đi một phần đất của làng Bát Tràng, các cụ và dân làng có vui lòng không hay không đồng ý? Việc di chuyển vừa qua, tình hình xây dựng nơi ăn chốn ở của các gia đình như thế nào? Làng Bát Tràng cũng như xã Quang Minh trong những năm qua hoạt động và công tác có thành tích ra sao?

Ai nghe cũng ngẩn người ra, không biết nói gì vì chỉ ngắm Bác và nghe Bác nói. Cụ Phùng Văn Chạnh (đã mất) thay mặt dân làng báo cáo:

– Dân làng sản xuất rất tốt, thành tích so với năm 1957-1958 gấp rưỡi, không ai bị đói, làng Bát tràng không những giải quyết việc làm cho dân mà còn cho cả bà con ở các nơi khác.
Bác bảo:

– Thế thì tốt, Bác nghe bác cáo dân làng đã chuyển một nửa làng ra khu đất mới. Vậy tất cả bà con đã xây dựng được nhà mới chưa?

– Thưa Bác, đã xây dựng được 80%. bà con phấn khởi, an tâm, không ai thắc mắc gì cả ạ!

– Dân làng đã phải giúp đỡ nhau để ai cũng làm nhanh được nhà mới.
Mọi người đồng thanh nói:

– Vâng ạ!

Bác Hồ căn dặn:

– Bát Tràng là một làng nghề phát triển. Các cô chú phải xây dựng đường sá rộng rãi để xe chở nguyên liệu về làng và chở hàng hoá đi, làng phải có giao thông thuận lợi . Bác căn dặn: “Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa”.

Sau đó Bác chúc sức khoẻ các cụ và dân làng rồi ra xe, rời khỏi làng Bát Tràng. Theo lời Bác dặn, các gia đình ở các đường cái đều lùi vào nhà 1m, còn các gia đình ở đường phụ đều lùi vào 5 m. Một tuần sau đó, thư ký của Bác về hỏi ông Trần Văn Tuý xem nhân dân đã lùi nhà vào chưa? Ông Tuý đưa thư ký của Bác đi xác minh và công nhận dân làng đã làm đúng theo lời Bác!

Nguồn: Giang Thanh sưu tầm

battrangceramics.com.vn

“Cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào”

– Cách đây 63 năm, ngày 10/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, các chiến sĩ ở tiền tuyến và Uỷ ban Hành chính Nam Bộ để thông báo về việc chính phủ đã ký Hiệp định Sơ bộ 6/3.

Bác khẳng định: “Đối với nước Việt Nam ta, sự ký kết đó có một kết quả hay là nước Pháp thừa nhận nước Việt Nam là một nước tự chủ. Ấy cũng là nhờ ở sự tranh đấu anh dũng của tất cả đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ và của hết thảy anh em chiến sĩ khắp các mặt trận trong sáu tháng nay…

Trong giờ phút này, tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc tranh đấu cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng…

Ngày 10/3/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn về việc thu xếp để Người vào thăm đồng bào chiến sĩ miền NamNgày 10/3/1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bí thư thứ nhất Lê Duẩn về việc thu xếp để Người vào thăm đồng bào chiến sĩ miền Nam.

Chúng ta cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai cho Tổ quốc. Sự kiến thiết sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hành động nữa. Trong giai đoạn mới của lịch sử nước nhà hiện nay, tinh thần đoàn kết của anh em sẽ đưa lại những kết quả hơn nữa.”

22 năm sau, ngày 10/3/1968, Bác viết thư gửi Bí thư thứ nhất Lê Duẩn: “Nhớ lại Noel năm ngoái, Chú có khuyên B.(Bác) đi thăm miền Nam sau ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Bác rất tán thành.

Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ “trước” ngày thắng lợi hoàn toàn… Đi thăm đúng lúc, đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em… Có lẽ chú và các đồng chí khác e rằng sức khoẻ của Bác không cho phép Bác đi chơi xa. Nhưng thay đổi không khí, hô hấp gió biển và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu, sẽ giúp sức khoẻ tiến bộ mau hơn.”.

Trong hồi ức, ông Vũ Kỳ người thư ký gần gũi của Bác, cho biết Bác đã chuẩn bị cho chuyến đi này với quyết tâm rất cao, nhưng vì lý do sức khoẻ mà Bộ Chính trị chưa thể đồng ý ngay, để rồi nguyện vọng tha thiết đó đã không thực hiện được…

X&N
bee.net.vn