Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Vấn đề phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và nâng lên tầm cao mới trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, nhà văn hoá lớn của thế giới. Người không chỉ truyền bá, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, đưa Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà Người còn phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin lên một tầm cao mới.

Picture1.jpg

1. Khi phân tích những mâu thuẫn của CNTB, C.Mác và Ph. Ăngghen đã tiên đoán khả năng cách mạng nổ ra trước tiên ở các nước tư bản phát triển nhất, nơi những tiền đề vật chất của CNXH đã đạt đến độ chín muồi nhất định. Mới đầu các ông cho rằng cách mạng sẽ nổ ra ở Anh, Pháp, sau đó là Đức. Theo các ông, giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản là một thời kỳ cải tiến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia, thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và Nhà nước của thời kỳ ấy là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản. Nhưng đến năm 1877, hai ông lại cho rằng cách mạng sẽ nổ ra ở phương Đông mà Nga là nước tiên phong. C.Mác tán thành ý kiến của Sécnưsepxki cho rằng nước Nga có thể không cần phải trải qua những đau khổ của chế độ tư bản mà vẫn chiếm đoạt được mọi thành quả của chế độ ấy. Như vậy, về cơ bản, lý luận của hai ông đều cho rằng các nước tư bản phát triển có thể đồng loạt tiến lên XHCN. Tuy nhiên, các ông cũng dự báo khả năng phát triển rút ngắn như nước Nga.

Thời C.Mác và Ph. Ăngghen, hệ thống thuộc địa của CNTB đã được mở rộng, nhưng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chưa phát triển mạnh, bởi vậy, theo các ông, vận mệnh loài người, tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc vẫn phần lớn phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.

Sang thời Lênin, khi phân tích CNTB ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ông cho rằng CNXH có thể thắng lợi thậm chí trong một nước tư bản tách riêng (một mắt xích trong sợi dây truyền), và ông nêu ra tư tưởng trong những điều kiện lịch sử nhất định, những nước lạc hậu có thể phát triển rút ngắn, bỏ qua, không phải trải qua giai đoạn phát triển TBCN. Những điều kiện đó là gì?

a) Phương thức sản xuất bị bỏ qua đã tỏ ra lỗi thời về mặt lịch sử.

b) Có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân đã giành được thắng lợi ở nước tư bản phát triển hơn.

c) Có đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân với đầy đủ kinh nghiệm và quyết tâm cùng toàn dân làm cuộc cách mạng giành được chính quyền về tay mình.

Thời Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, nên ông cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Bởi vậy, thay thế cho khẩu hiệu thời C.Mác “Vô sản tất cả các nước liên hợp lại”, ông đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

chuyende.jpg

Hồ Chí Minh trên góc độ của người thuộc địa, góc độ của các dân tộc bị áp bức đã phê phán một cách có căn cứ và hết sức sâu sắc chủ nghĩa đế quốc và đã chỉ ra rằng sức sống của chủ nghĩa đế quốc một phần quan trọng nằm ở thuộc địa. Người nói: “Hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”(1274). Đây là điều quan trọng mà Hồ Chí Minh bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đó, Người viết: “CNTB là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”(1298). Tư tưởng này là sự cụ thể hoá và chứng minh cho quan điểm của Lênin về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản của các nước thuộc địa và các dân tộc bị áp bức để tiêu diệt CNTB – con đỉa có hai vòi. Người cho rằng cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc như đôi cánh của một con chim. Từ đó Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài cách mạng vô sản”, và Người đã gắn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với CNXH, mang lại sự giải phóng triệt để cho con người Việt Nam.

2. Chủ nghĩa Mác-Lênin đề cao vấn đề giai cấp, còn ở Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp gắn bó mật thiết với vấn đề dân tộc, không có giai cấp chung chung đứng ngoài dân tộc, hai cái đó liên hệ với nhau một cách uyển chuyển và biện chứng. Trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên quyền lợi giai cấp, vì có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp, tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi để giải phóng giai cấp. Theo Người, nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được tự do cho dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mại kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không lại được. Không nên thấy người ta làm thế nào mình cũng làm như thế, người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh. Ngoài ra, trên cơ sở phân tích xã hội phương Đông, Người còn cho rằng đấu tranh giai cấp ở các nước phương Đông không quyết liệt như ở phương Tây, còn ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của lịch sử. Bởi vậy, theo Người, “cần phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản, đó là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời, vì người ta sẽ không thể làm gì được cho người An nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của ta thắng lợi, phần lớn thế giới sẽ Xô viết hoá và lúc đó chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế, còn sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới (1,469). Như vậy, ở Hồ Chí Minh, dân tộc và giai cấp liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau, có điều ở mỗi thời điểm lịch sử cụ thể thì cái nào nổi trội hơn nhằm đạt đến mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể. Thực tiễn cách mạng 75 năm qua đã chứng minh cho sự đúng đắn của quan điểm này.

3. Nếu như C. Mác tán thành quan điểm của Sécnưsépxki cho rằng nước Nga có thể bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì Lênin cho rằng: “So với những nước tiên tiến, thì đối với nước Nga, bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều dễ dàng hơn, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó đến thắng lợi cuối cùng… lại là một điều khó khăn hơn” (2,478). Như vậy, theo Lênin, so với những nước tư bản tiên tiến, Nga làm cách mạng vô sản dễ hơn nhưng để đi đến thắng lợi cuối cùng thì lại khó khăn hơn. Khó đến mức mà hiện nay nước Nga xã hội chủ nghĩa là không còn nữa. Nghiên cứu tình hình cụ thể các nước phương Đông, Hồ Chí Minh cho rằng với những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào Châu Á, dễ dàng hơn là ở Châu Âu”(1,36). Như vậy, theo Bác, chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào Châu Á dễ dàng hơn Châu Âu. Điều này hoàn toàn có căn cứ, có cơ sở khoa học.

Như chúng ta đã biết, điểm khác biệt giữa Á với Âu, Đông và Tây là ở chỗ ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á lâu dài, dai dẳng, đã tạo nên một đặc điểm đặc trưng của phương Đông là việc không có sở hữu tư nhân về ruộng đất, cái mà C.Mác gọi là cơ sở, còn Ph.Ăngghen gọi là chiếc chìa khoá để hiểu toàn bộ phương Đông. Trong Kinh Thư có ghi: “Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ, suất hải chi tân mạc phi vương thần” nghĩa là đất đai dưới trời đâu chẳng là của vua, người trên đất đai ấy ai chẳng phải là thần dân của vua. GS. Trần Đình Hượu cho rằng cùng với chế độ “‘lãnh hữu” chứ không phải “sở hữu” và ruộng đất các nước phương Đông để tiến lên CNXH, hơn CNTB.

Nhưng để tiến lên CNXH và xây dựng thành công CNXH là hai việc khác nhau. Cái thứ nhất suy cho cùng nghiêng về tiền đề, cái thứ hai mới là mục đích Hồ Chí Minh cho rằng thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều, rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng vĩ đại, vẻ vang nhất nhưng là cuộc cách mạng gay go nhất, phức tạp, khó khăn nhất, là cuộc chiến khổng lồ chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Qua thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta trong những năm qua, chúng ta càng thấm thía tư tưởng của Người.

4. Chủ nghĩa Mác – Lênin qua lăng kính của Người trở thành một cái gì đó cực kỳ dễ hiểu, giản dị, dung dị, gần gũi đối với tất cả mọi người. Chẳng hạn, quan hệ giữa cán bộ, Đảng, Nhà nước và nhân dân được người mô tả bằng hình ảnh vô cùng quen thuộc: dân là nước, cán bộ là cá, Nhà nước, cách mạng là thuyền, đường lối là la bàn, Đảng như người cầm lái (hay trí tuệ con người cầm lái). Như chúng ta thấy, cá tách khỏi nước sẽ chết. Nước có thể chở thuyền nhưng cũng có thể lật thuyền. Thuyền không có la bàn không biết đi đâu. Thuyền không có người cầm lái thì không chuyển động. Như vậy, thật vô cùng dễ hiểu, không có dân là không có tất cả, dân là gốc, là cơ sở, nước ấy dân làm gốc.

Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân

Từ đó Người đưa ra tư tưởng dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của dân và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người cho rằng thực hiện dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Hay một hình ảnh nữa, đoàn kết hay không đoàn kết, được Người ví như một bó đũa và một chiếc đũa đơn lẻ. Từ đó Người cho rằng đoàn kết tạo nên sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi, là thành công.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công đại thành công

Bởi vậy, chủ nghĩa Mác- Lênin trở nên gần gũi với những người dân lao động bình thường. Bác giải thích thế nào là chủ nghĩa Mác -Lênin, tsách vở mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được, hay hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Bác cho rằng muốn giữ gìn sự trong sáng của chủ nghĩa Mác –Lênin thì trước hết tự mình phải trong sáng (xem 4,272)

5. Chủ nghĩa Mác-Lênin có bàn đến đạo đức giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Mặc dù đã vạch ra được những nguyên lý nền tảng của đạo đức nhưng vẫn còn khá chung chung, chưa thật cụ thể.

Giống như C.Mác phê phán Hêghen, Người cho rằng đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển. Đạo đức là nền tảng của người cách mạng, nó giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Hồ Chí Minh đã nhìn ra đạo đức có thể nhân gấp 10 lần sức mạnh con người, đã nhìn ra ở phương Đông một tấm gương có giá trị gấp trăm bài diễn thuyết, bởi vậy, Người chú trọng vấn đề đạo đức, đặc biệt xây dựng mẫu người toàn diện cả đức lẫn tài, cả tâm hồn lẫn trí tuệ và sức khoẻ, phải trung với nước, hiếu với dân, phải thương yêu con người, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, phải có tinh thần quốc tế trong sáng. Đối với Người, nói là phải đi đôi với với làm, phải làm gương “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” xây đi đôi với chống và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

6. Trên cơ sở phân tích tình hình xã hội phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho rằng cuộc đấu tranh giai cấp ở đây không diễn ra giống như ở phương Tây. Vậy không giống ở điểm nào? Người cho rằng về phía Việt Nam người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức, còn về phía bọn chủ thì không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung, hạng nhỏ và những kẻ ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở Châu Âu và Châu Mỹ, không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi. Cho nên, nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa, nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc, người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có Tơrớl. Người thì nhẫn nhịn chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình, sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được. Từ đó Người kết luận: “Xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây” (1,465).

Từ phân tích về giai cấp xã hội các nước phương Đông và Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đi gần đến cái mà C.Mác gọi là phương thức sản xuất Châu Á vốn coi trọng là tính tự trị độc lập, biệt lập của công xã. Cái đặc trưng này theo Người dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau, từ đó là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông. Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau (1,263).

Với tính cách đặc thù đó, Người đã đặt ra một vấn đề hoàn toàn chính xác khi cho rằng C.Mác cho ta biết sự tiến triển của các xã hội trải qua ba giai đoạn: “Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản, và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?”(1,465). Bởi lẽ, ở phương Đông do ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á kéo dài dai dẳng từ sau khi tan rã của công xã nguyên thuỷ cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XIX, nên xã hội ở phương Đông và Việt Nam không thật điển hình như ở phương Tây (nếu theo hệ quy chiếu phương Tây). Một số học giả khác lại cho rằng Việt Nam, Mông Cổ và cả Nga không trải qua chế độ nô lệ, thậm chí có người còn cho rằng Việt Nam không có chế độ phong kiến. Từ đó Hồ Chí Minh cho rằng tùy hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau “Ta không giống Liên Xô… ta có thể đi con đường khác để tiến lên CNXH” (6, 227). Hồ Chí Minh cho rằng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà C.Mác ở thời mình không có được. Người cho rằng “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông, đó chính là nhiệm vụ của các Xô viết” (1,465). Tại sao lại như vậy? Theo người: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (1,465). Qua đây ta đã thấy Người đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện cụ thể của các nước phương Đông và Việt Nam như thế nào. Điều này hoàn toàn xa lạ với cái gọi là khuynh hướng xét lại chủ nghĩa Mác.

Ngày nay trong công cuộc CNH-HĐH, thiết nghĩ những người giảng dạy và nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin học tập tinh thần phát triển sáng tạo ở Người để góp phần nhanh chóng đưa nước ta đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.

___________________

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
2. C.Mác-Lênin và Ph.Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, Nxb Sự thật, Hà Nội 1958.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000.

Nguồn:  Triết học & Đời sống

hochiminhhoc.com

Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldes và vở kịch Con rồng tre của Nguyễn Ái Quốc

Đầu những năm 20 của thế kỷ trước, Thủ đô Pari, nước Pháp là nơi được chứng kiến nhiều hoạt động sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc…

24.jpg

Người đã dũng cảm đối đầu với nhà cầm quyền Pháp, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của nhiều người, bằng mọi hình thức tuyên truyền, vận động, đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập. Câu lạc bộ Faubourg, thành lập từ năm 1914, là một trong những nơi Nguyễn Ái Quốc thường đến dự và có những hoạt động tuyên truyền. Bài viết này của chúng tôi xin cung cấp cho bạn đọc một số thông tin về Câu lạc bộ Faubourg, nhà văn Léo Poldès, chủ nhiệm câu lạc bộ và vở kịch Con Rồng tre, do chính Léo Poldès và Bác Hồ của chúng ta kể lại.

Bác Hồ đã viết về Câu lạc bộ Faubourg (có nghĩa là ngoại ô) như sau:

“Câu lạc bộ ngoại ô. Gọi tên nó như thế, là theo truyền thống đại cách mạng Pháp từ năm 1789. Sự thật thì không phải là một câu lạc bộ chính cống mà cũng không ở ngoại ô. Một người trí thức phái tả tên là Pôn-đét (Poldès) có sáng kiến tổ chức “câu lạc bộ” lưu động, mỗi tuần họp một lần, khi họp chỗ này, khi họp nơi khác ở Thủ đô Pari. Thường có độ ba trăm người đến dự, đủ các xu hướng chính trị và các tầng lớp xã hội. Đại đa số là công nhân và tiểu tư sản “khai minh”. Nhưng cũng có ông nọ bà kia. Họ thảo luận những vấn đề thời sự, chính trị hoặc văn hóa xã hội. Một người trình bày vấn đề (có chuẩn bị trước). Sau đó, mọi người tự do phát biểu ý kiến.

Cuộc bàn cãi luôn luôn sôi nổi, nhưng rất thân mật. Mỗi lần họp, anh Nguyễn (tức Bác Hồ) đều phát biểu ý kiến. Và bất kỳ vấn đề gì anh cũng khéo lái nó về kết luận lên án thực dân. Một ví dụ: Trong một cuộc thảo luận về thuật “thôi miên”, sau khi nhiều người nói tin, nhiều người nói không tin, anh Nguyễn xin phát biểu ý kiến. Anh nói: “Tin cũng được, không tin cũng được. Nhưng tôi xin mạn phép nói thật rằng bác sĩ Cu-ê (người thạo giỏi thuật “thôi miên”) chưa giỏi bằng thực dân Pháp. Mỗi năm, với hàng nghìn tấn thuốc phiện, chúng đang làm cho hàng triệu người Việt Nam ngủ say đến nỗi quên mình là vong quốc nô”.

Anh Nguyễn được mọi người hoan nghênh. Vì thái độ anh khiêm tốn và lời lẽ của anh gọn gàng. Lại vì ở câu lạc bộ và có lẽ ở cả Pari chỉ có anh là người Việt Nam dám lên tiếng chống thực dân Pháp. Một kết quả tốt là nhiều người đồng tình với anh và anh đã trở thành người tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam”. 1

“Một lần khác hội nghị thảo luận vấn đề Ái-nhĩ-lan và Triều Tiên. Tất nhiên những nhà diễn giả Pháp đều nghiêm khắc công kích chính sách của Anh, của Nhật và bênh vực nhân dân Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên. Ông Nguyễn phát biểu ý kiến:

Cũng là một dân tộc bị áp bức, tôi hoàn toàn đồng tình với những người bạn Ái-nhĩ-lan, nhân dân Triều Tiên, và đồng tình với hội nghị kết án bọn thực dân Anh, Nhật. Nhưng tôi hỏi các ngài có nên kết án cả những bọn thực dân khác không? Có nên bênh vực nhân dân bị áp bức khác không? Có hay không?”… Mọi người đều trả lời là có. Thế là được dịp ông Nguyễn trình bày vấn đề Việt Nam”. 2

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, đã làm cho chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg Léo Poldès và nhiều người bạn khác một sự ngạc nhiên sửng sốt.

Câu chuyện của hơn 20 năm trước, được Léo Poldès nhớ và ghi lại trong sự bàng hoàng, ngạc nhiên “Vì sao, Nguyễn Ái Quốc, người thợ ảnh giản dị kia đã chết năm 1933 mà nay năm 1946 đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Xin trích dẫn sau đây một đoạn trong bài viết của Léo Podès về Nguyễn Ái Quốc, vở kịch Con Rồng tre và về Câu lạc bộ Faubourg, đăng trên tuần báo “Paris, số 53”, ngày 11, 12-6-1946. Câu chuyện nhẹ nhàng đưa chúng ta về với những sự kiện xảy ra từ nhiều năm trước như đi vào thế giới cổ tích:

“Ngày xưa đúng thực là một câu chuyện cổ tích, có một bác thợ Việt Nam nghèo nàn, sống giản dị trên một căn gác thượng, trong ngõ hẻm Compoint, giữa một khu chen chúc toàn dân lao động. Tên bác ta là Nguyễn Ái Quốc, bác làm nghề rửa ảnh.

Một chiều kia, cách đây chừng 25 năm, hôm ấy có phiên họp các hội viên Câu lạc bộ Faubourg tại rạp hát Printanis, ở góc đại lộ Clichy và phố Richaud, bác Nguyễn Ái Quốc đã tới đây ngập ngừng hỏi tôi xem liệu bác dù là một kẻ lao động xoàng xĩnh, có thể được hân hạnh vào góp lời trong những cuộc thảo luận của những tay tài ba lỗi lạc, đã làm rạng rỡ văn đàn Câu lạc bộ Faubourg của chúng tôi được không.

Tôi bèn trả lời: “Ông chớ ngại điều đó. Với quan niệm chúng tôi, thì sự tự do phát biểu ý kiến, là của tất cả mọi người. Ý kiến xác đáng, hay ho của một người, dù người ấy chỉ là một người thợ, cũng được đặc biệt chú ý như những ý kiến của một vị Quốc trưởng.

Bác nhún vai, mỉm cười, nói: “Podès quý ngài à, tôi chỉ là nhà cách mạng, ngài ví tôi với những vị quốc trưởng, tôi xin đưa ngài xem đây tập bản thảo của tôi. Tuy chỉ là một người thợ ảnh nghèo nàn, nhưng tôi cũng có viết được một kịch bản, nhan đề bản kịch đó là “Con Rồng tre” (Le dragon de bambous) viết ra cốt là để công kích những vị Quốc trưởng.

Rồi ông tinh quái nói tiếp: “Chắc chắn là không ai dám đem diễn trên sân khấu đâu, ngay như ngài rồi ngài cũng đến quẳng vào sọt rác”. Nhưng ông Nguyễn đã nhầm”.

Léo Podès đã nhận xét về vở kịch Con Rồng tre như sau:

“Tôi đã đọc tập bản thảo, thật là hay, thật là đẹp, lời vừa trải chuốt gọn gàng, với những cái châm biếm dí dỏm của Aistophan 3 bản kịch này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu.

“Con Rồng tre” đầu đề kịch bản chỉ một vị Quốc trưởng Á-Đông, đớn hèn bất lực và ngu dốt, mà tác giả không hà tiện lời chế diễu một cách cay nghiệt, hóm hỉnh suốt trong ba hồi; khi ấy bản thân ông Nguyễn Ái Quốc không ngờ rằng bản kịch của mình đã bao lần chủ kịch bản từ chối không dám diễn mà lại được nhóm Faubourg chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh, và nhất là ông lại không ngờ rằng 25 năm sau người thợ ảnh ở ngõ hẻm Compoint, tác giả “Con Rồng tre”, lại trở thành một vị Quốc trưởng với cái tên mới Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dùng cơm với tướng Leclerc, với Thượng sứ đô đốc D’ Argenlieu, cùng đi duyệt một đạo binh Pháp, và được nghênh tiếp chính thức bởi vị Chủ tịch Pháp ở Pari.”

Vở kịch Con Rồng tre viết về Vua bù nhìn Khải Định, vào dịp ông ta sang Pháp dự triển lãm thuộc địa. Vở kịch bị Chính phủ Pháp cấm, nhưng được Câu lạc bộ Faubourg đem diễn. Vở kịch này hiện chưa sưu tầm được, chúng ta chỉ biết tới nội dung kịch bản qua mấy dòng kể tóm tắt của Bác như sau: “Có những cây tre thân hình quằn quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy nó chỉ là một quái vật vô dụng”. Khải Định chính là một ông vua vô dụng.

Léo Podès còn nhớ và viết khá chi tiết về những buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Faubourg mà Nguyễn Ái Quốc tham dự. Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), mà Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập, ra số đầu tiên ngày 1-4-1922. Ngay trên trang nhất của số báo này có đăng thông báo về đề tài Sân khấu Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc trình bày trong chương trình sinh hoạt tháng 4-1922 của Câu lạc bộ Faubourg 4. Tài liệu của mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pari cũng ghi lại những lần Nguyễn Ái Quốc đến dự sinh hoạt ở Câu lạc bộ Faubourg, trong đó có lần Nguyễn Ái Quốc phân phát cho những người dự sinh hoạt câu lạc bộ tờ Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria 5.

Nguyễn Ái Quốc rời Pari, Thủ đô nước Pháp, sang Mátxcơva, Liên Xô một cách lặng lẽ và bí mật. Cũng như nhiều người bạn Pháp, ông chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg cũng không biết là Nguyễn Ái Quốc đã đi đâu. Chỉ đến khi có tin về Pari, Nguyễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà tù của đế quốc Anh ở Hông Kông, Léo Poldès đã viết đăng tin trên tờ Faubourg:

“Không phân biệt khuynh hướng khác nhau, hết thảy anh em chúng tôi đề lấy làm đau đớn khi hay tin ông Nguyễn Ái Quốc đã mệnh chung ở Hồng Kông”…

Tờ Faubourg ra ngày 1-7-1933 có trích đăng một bài sau: “Nói về Nguyễn Ái Quốc vị lãnh tụ Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí Pháp – Việt có viết: “Ông không vắng mặt một buổi họp nào ở Câu lạc bộ Faubourg, ở đây ông ta đã từng đứng lên diễn thuyết trước mọi người. Ông ta đã viết báo. Người ta thường gặp ông hồi 6 giờ chiều ở những phòng trị sự các nhà báo. Ông mang lên đây những câu chuyện ngắn hay một tập truyện vì ông từng khảo cứu về văn nghệ, sau này ông hoàn toàn thiên về chính trị và ông đã thiết tha cống hiến cả một đời để phụng sự khuynh hướng ấy”. “Người chiến sĩ xấu số đã mệnh chung trong nhà giam. Người ta lại nhớ đến những cuộc họp ở Câu lạc bộ Faubourg, đến những lời nói thông minh hóm hỉnh trong buổi họp, đến bản kịch bất hủ của ông: “Con Rồng tre”. Hỡi các vị thần linh của cõi Á – Đông, các ngài hẵy săn sóc giữ gìn lấy linh hồn ông”.

Khi được biết Nguyễn Ái Quốc vẫn còn sống, trở lại Pari với tư cách khác, Léo Podès đã rất hóm hỉnh viết rằng: “Và những vị thần linh ấy đã giữ gìn linh hồn ông khỏe đến nỗi, ngày nay người thợ ảnh mày râu nhẵn nhụi kia đã sống lại giữa khuôn mặt đáng kính có thêm một nhúm râu dài của Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Léo Podès nhắn gửi rằng: “Hồ Chí Minh đức ngài, mai đây từng dãy người xếp hàng một diễu qua chào mừng đức ngài trước điện Chamos D’ Elysé, bên cạnh ngài khi ấy là vị Chủ tịch lâm thời nước Cộng hòa Pháp. Chúng tôi thiết tha mong đức ngài nhớ lại cái hồi đầu tiên của đức ngài trong Câu lạc bộ Faubourg. Nhớ lại những vấn đề quỷ thần, sự tái sinh, và nhất là đức ngài hãy rủ lòng thương nhớ đến người thợ ảnh nhỏ bé ở ngõ Compoint khi xưa…6”.

Nguyễn Ái Quốc không thể quên những ngày Pari. Tháng 5-1946, khi đến nước Pháp với tư cách Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là thượng khách của Chính phủ Pháp, ngoài chương trình làm việc chính thức, gặp gỡ với Chính phủ Cộng hòa Pháp, Người dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ kiều bào, các nhà văn, nhà báo, bạn bè cũ. Và đương nhiên là Người đã gặp lại nhà văn Léo Poldès. Nhật ký bốn tháng sang Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi lại: Ngày 8-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp vợ chồng nhà văn Poldès; Ngày 15-7-1946, vợ chồng nhà văn Poldès mời Người vê quê chơi, cách Pari chừng 30 cây số. Nhà ông Poldès, rừng bao bọc xung quanh. Thanh vắng mát mẻ. Cây tốt hoa thơm. Ăn cơm rồi, Cụ Chủ tịch kéo ghế nằm dưới gốc cây. Thật đúng là:

“Thảnh thơi vui thú yên hà,
Tùng là bạn cũ, hạc là người quen”.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Câu lạc bộ Faubourg, ngày 1-5-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng ông Léo Poldès, Chủ tịch của câu lạc bộ Huy chương Hữu nghị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 7.

Những câu chuyện kể về những tình cảm của những người bạn Pháp đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có ông Chủ nhiệm Câu lạc bộ Faubourg là những dấu ấn đặc biệt trong những năm tháng hoạt động cách mạng sôi nổi, oanh liệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở Thủ đô Pari. Năm tháng qua đi, song tình cảm của những người bạn Pháp đối với Bác Hồ kính yêu của chúng ta, mà cũng là đối với cách mạng Việt Nam, mãi mãi được giữ gìn, trân trọng, góp phần củng cố và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước hôm nay.

___________________________

1. Bác Hồ (hồi ký), In lần thứ hai, Nxb. Văn học, 1975, tr. 21.
2. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.40.
3. Aistophan là thi sĩ Hy Lạp nổi tiếng về tài châm biếm hài hước, sống vào thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch.
4. Báo lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Báo cáo của mật thám Pháp, lưu Kho tư liệu BTHCM, ký hiệu: H20C11/7
6. Những đoạn in nghiêng trong bài đều được trích từ bài viết của Léo Podès.
7.Bút tích ghi lại sự kiện này lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Theo Phạm Thị Lai

hochiminhhoc.com

Bác Hồ với quê hương, quê hương với Bác Hồ

(ĐCSVN) – Trong gần 50 năm làm báo, tôi đã có gần 35 năm được hoạt động nghề nghiệp trên quê hương Bác Hồ kính yêu, trong đó có một kỷ niệm tôi không thể nào quên là đã được đón và phản ánh hoạt động của Người trong chuyến về thăm quê lần thứ 2 (ngày 8 tháng 12 năm 1961).

Bác Hồ về thăm quê ở Kim Liên, Nghệ An ngày 8-12-1961. (Ảnh tư liệu)

Ngày 8-12-1961 quả là một ngày khó quên với tôi dù ngày đó đã qua đi gần 50 năm. Trước đó mấy ngày, tin Bác Hồ sẽ về thăm quê đã được thông báo. Tuy không được phổ biến rộng rãi nhưng dù là nghe “lỏm” chúng tôi cũng háo hức chờ đợi. Rồi ngày đó cũng đến. Sân bay Vinh hồi đó còn thô sơ lắm. Trời thu khá rét nhưng khi chúng tôi, những nhà báo đến sân bay sớm hơn quy định thì bà con ở thị xã Vinh và các huyện lân cận đã có mặt từ bao giờ để đợi đón Bác.

Khi chiếc trực thăng từ từ hạ cánh thì dòng người cứ nhích dần vào khu đỗ trung tâm. Không quân nhạc, không pháo hoa. Máy bay vừa tắt cánh quạt thì từ cửa máy bay Bác kính yêu đã tươi cười vẫy tay chào cán bộ và bà con quê hương. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, quân khu 4 đứng sát cầu thang máy bay để đón Người. Nhưng thật bất ngờ, Bác Hồ nét mặt xúc động đã đi thẳng đến nơi các cụ lão thành mặc áo đỏ bắt tay thân thiết từng người rồi đến với các cháu thiếu niên. Bác nhìn quanh, tươi cười vẫy tay chào bà con nông dân đang đứng ở vòng ngoài rồi mới quay lại chào và thăm hỏi các vị lãnh đạo tỉnh, quân khu.

Hồi đó Nghệ An còn nghèo lắm. Cả lãnh đạo tỉnh ủy, ủy ban tỉnh đều chỉ có mấy chiếc com-măng-ca. Trong số xe ra đón có một chiếc xe hiệu “Gat 69” mui trần, kết hoa chắc để dành đón Bác. Lại một ngạc nhiên đầy xúc động nữa: khi đồng chí Bí thư tỉnh ủy Võ Thúc Đồng trân trọng mời Bác lên xe mui trần có kết hoa thì Người quay lại thân thiết mời cụ Lê Nhu, Chủ tịch MTTQ tỉnh người cao tuổi, đầu tóc bạc phơ lên xe đó còn mình lên một chiếc xe khác để về thị xã. Tiếng vỗ tay, tiếng hô “Hồ Chí Minh muôn năm” lại vang lên cho đến khi xe của Người đã đi khuất vào rặng phi lao đoạn đường Quán Bánh hướng vào thị xã.

Bác về thăm quê lần thứ hai ngắn lắm, chỉ trong 3 ngày, nhưng khi bàn về các điểm đi của Bác ai cũng ngạc nhiên. Về Kim Liên chỉ một buổi còn lại là đến với công nhân nhà máy cơ khí Vinh, nông dân trồng cây giỏi ở Vĩnh Thành (Yên Thành), nông trường chăn nuôi giỏi Đông Hiếu ở Nghĩa Đàn, rồi gặp gỡ các cụ lão thành, thăm trường sư phạm miền núi, làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An và nói chuyện với đại diện nhân dân trong tỉnh tại cuộc mít tinh chào mừng Người về thăm quê tại sân vận động thị xã Vinh.

Sách báo đã viết nhiều về lần thăm quê thứ 2 và cũng là lần cuối cùng trong đời hoạt động của Người. Đây là chuyến thăm mà Người đã hứa với Đảng bộ và nhân dân quê hương trong chuyến thăm lần thứ nhất sau 50 năm xa cách (tháng 6-1957) là: nếu Đảng bộ và nhân dân làm tốt trong sản xuất, xây dựng và xây dựng Đảng thì Bác sẽ về thăm lần nữa. Là người làm báo mới ra trường, không được chọn vào đội ngũ phóng viên tháp tùng chính thức nhưng tôi đã cố xin để đi theo Người cả chuyến. Và những điều ghi nhận được, cho đến bây giờ dù đã lên lão nhưng với tôi như vẫn còn tươi mới, như mới xảy ra đâu hôm qua, hôm kia thôi.

Đó là bài học công nông liên minh Bác dạy ở HTX nông nghiệp Vĩnh Thành và nông trường Đông Hiếu, đó là bài học đoàn kết, không ỷ lại, chung lo xây dựng quê hương ở xã Nam Liên. Đó là bài học về đãi ngộ và cống hiến, công bằng, “tre già măng mọc” nói với các cán bộ lão thành, đó là bài học về tổ chức cán bộ và xây dựng Đảng ở buổi làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ và bài học về đại đoàn kết toàn dân và sức mạnh của nhân dân khi nói chuyện với đại diện đồng bào toàn tỉnh và học sinh trường sư phạm miền núi Nghệ An. Với cán bộ, công nhân nông trường Đông Hiếu, Bác dặn: Nông trường là làm nông nghiệp kỹ thuật cao, là điểm tựa của nông dân toàn tỉnh. Đã là điểm tựa thì cán bộ, công nhân nông trường phải giúp nông dân trong vùng và toàn tỉnh để phát triển tốt chăn nuôi, trồng trọt, thâm canh tăng năng suất. Với công nhân Nhà máy cơ khí Vinh, Người khuyên: là đứa con công nghiệp đầu lòng của tỉnh, là nơi sản xuất nông cụ phục vụ nông dân thì phải sản xuất “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”. Nhanh, nhiều tốt là rất cần. Nhưng nông dân ta còn nghèo nên hàng làm ra đã tốt mà phải rẻ để bà con có tiền mua. Nếu nông dân dùng mà sớm hỏng thì phải sửa không mất tiền cho nông dân. Đó chính là liên minh công nông, là mối tình công nông thiết thực nhất. Ở nông trường Đông Hiếu, Bác đã chọn và tặng huy hiệu của Người ngay tại buổi nói chuyện cho 3 tấm gương tiêu biểu đã được tập thể công nhân bình chọn, đó là Nguyễn Văn Lang, tổ trưởng trồng trọt, Võ Trọng Tạo, tổ trưởng chăn nuôi và Trần Kim Mạnh, quản đốc. Bác nói: “Bác và Trung ương sẵn sàng thưởng nếu các cô, các chú thi đua làm kịp các chiến sĩ đó. Có “giao kèo” đấy nhé. Nếu các cô, các chú làm được như thế mà Bác không thưởng là lỗi tại Bác. Nếu Bác sẵn sàng thưởng mà các cô, các chú không làm được thì lỗi tại ai?”. Công nhân trả lời “Tại các cháu”. Bác hỏi có phải thế không? Có đồng ý như thế không? Cùng với tiếng “Dạ thưa Bác, đồng ý ạ” thì cả hội trường lại rộn lên, hướng về Người, ai cũng ngầm hứa phải làm thật tốt để sớm được nhận phần thưởng của Người.

Căn nhà lá của gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.  Ảnh: Tuấn Anh

Bài học sâu sắc mà tôi khắc ghi trong lòng là quan điểm về đãi ngộ và công tác cán bộ của Người tại buổi nói chuyện với cán bộ cách mạng lão thành của tỉnh. Sau khi nói về công lao đóng góp của các đồng chí cán bộ lão thành cho thành công của Đảng, của Cách mạng, Bác nói: “Bây giờ sang phần thứ hai. Đây là những điểm nhỏ, tôi gom góp, nói để các đồng chí rõ”. Về đào tạo lớp trẻ, Người nói: “Đảng rất quý, rất trọng các đồng chí già nhưng Đảng cũng rất cần nhiều cán bộ trẻ để làm những việc mà đảng viên già không làm được. Tôi cũng là một trong nhưng đồng chí già. Tôi có lái xe được không? Không, phải nhờ đồng chí trẻ. Muốn học lái xe thì phải học các đồng chí trẻ. Chớ có nói: sao mình không được đi, nó lại được đi xe”. Nói về quan điểm dùng người, sau khi nói về vai trò tham mưu của ban tổ chức từ Trung ương đến địa phương trong việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, Bác khẳng định: “Nhưng bất kỳ ai, có khả năng, đã đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng. Ví dụ: giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng. Con của đồng chí mình thì kém, dốt hơn, con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn. Vậy thì ta nên đưa ai đi? Con của người ngoài Đảng hay con của người trong Đảng?(cả hội trường đồng thanh “con của người ngoài Đảng”). Đúng, vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc cho cả nước. Đó là chính sách cán bộ”.

Từ sau ngày Bác vô thăm quê lần thứ hai, những lời dạy ân cần của Người từ xã quê hương Nam Liên đến nhà máy, hợp tác xã, trường học… cán bộ, nhân dân Nghệ An đều ghi sâu lời dạy của Người và thực hiện ngày càng tốt lời Người dạy. Những năm đó, nhà máy cơ khí Vinh duy trì thường xuyên tổ sửa chữa máy tuốt lúa lưu động về các hợp tác xã sửa miễn phí cho nông dân, nông trường Đông Hiếu đã giúp các hợp tác xã quanh vùng, nhất là xã Nghĩa Thuận trở thành đơn vị điều hành về sản xuất, chăn nuôi của Nghĩa Đàn. Công tác cán bộ ở Nghệ An ngày càng tốt hơn, giảm dần tình trạng “thành phố chủ nghĩa”trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ. Số lượng cán bộ, công nhân viên và xã viên được nhận huy hiệu của Người mỗi năm mỗi tăng, có người được tặng đến lần thứ hai như nữ anh hùng Hoàng Thị Liên ở cửa hàng ăn cảng Bến Thủy. Những đơn vị được vinh dự đón Bác trong hai lần về thăm quê đều trở thành những điển hình tiên tiến, nhiều đơn vị trở thành đơn vị anh hùng, xã anh hùng. Nghệ An từ một tỉnh nghèo đã phấn đấu trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước như mong muốn của Người.

Nghệ An, Hà Tĩnh, hai tỉnh được vinh dự đón Người về thăm đều trở thành những tỉnh đón vốn đầu tư nước ngoài vào loại lớn nhất nước trong thời kỳ xây dựng và đổi mới. Nghệ An, Hà Tĩnh còn là những đơn vị tổ chức tốt và triển khai có hiệu quả thiết thực trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Trung ương Đảng phát động.

Những ngày tháng 5 này trên quê hương Bác đang sôi động những phong trào thi đua trong sản xuất, xây dựng, an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng, xây dựng nông thôn mới… Đảng bộ và nhân dân Nghệ An coi đây là những hành động thiết thực dâng lên chào mừng lần thứ 120 ngày sinh của Bác, báo công với Bác những việc làm được của những cán bộ, Đảng viên và nhân dân quê hương, hứa mãi mãi học tập và làm theo tấm gương của Người, mãi mãi xứng đáng là quê hương của Người, nơi mà Người đã có câu thơ xúc động trong lần về thăm quê thứ nhất sau 50 năm xa cách:

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao là tình!”

(*) Tất cả những câu trong ngoặc kép bài này đều trích nguyên văn trong tập “Bác Hồ với quê hương Nghệ An” do NXB Nghệ An ấn hành tháng 5-2006.

Thanh Phong

hochiminhhoc.com

Những lời dạy của Bác Hồ với thanh niên

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại, Người Thầy, Người Cha, Người Anh kính yêu của biết bao thế hệ người dân Việt Nam. Cả cuộc đời Người dành trọn vẹn tình cảm, sự yêu thương của mình cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, đặc biệt là lớp lớp thế hệ thanh niên – lực lượng xung kích trên các mặt trận, “rường cột” của quốc gia. Trong không ít những bức thư, những bài báo, bài thơ và bài nói chuyện với thanh niên, Bác đã gửi gắm những lời dạy chân thành và sâu sắc. Đó là ngọn đèn soi sáng cho mỗi hành động, mỗi bước đi để thanh niên Việt Nam vững bước tiến lên theo con đường mà Đảng và Bác kính yêu đã lựa chọn.

Năm 2011 là năm được Đảng và Nhà nước chọn làm Năm Thanh niên, cũng là năm kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, xin được trích dẫn những lời dạy mà lúc sinh thời Bác đã dành cho các thế hệ thanh niên Việt Nam.

1. Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.

(Thư gửi Thanh niên An Nam, 1925)

2.“… ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên toàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

(Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945).

3.  “Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.

(“Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ”, ngày 30/10/1945)

4..“Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

 (Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946)

5.“… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”.

 (“Thư gửi các bạn thanh niên”, ngày 12/8/1947)

6.         “Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”.

(Bài thơ Bác tặng Đơn vị thanh niên xung phong 312 làm đường tại xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, ngày 28/3/1951)

7. “Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thề các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy”.

(Thư gửi thanh niên, tháng 4/1951, Hồ Chí Minh toàn tập)

8.  “Kháng chiến càng tiến tới, công việc ngày càng nhiều, chúng ta cần củng cố và phát triển Ðội TNXP để bảo đảm thêm công việc kháng chiến và đào tạo cán bộ sau này. Nhiệm vụ của Ðội TNXP là xung phong mọi việc bất kỳ việc khó, việc dễ và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công. Ðó là nhiệm vụ rất vẻ vang của thanh niên”.

(“Ðội Thanh niên xung phong” đăng trên Báo Nhân Dân số 147, 1953)

9. “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?”

(Bài nói chuyện với sinh viên và thanh niên trong Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 19/11/1955)

10.“Tính trung bình thanh niên chiếm độ 1 phần 3 tổng số nhân dân – tức là một lực lượng to lớn. Lực lượng to lớn thì phải có nhiệm vụ to lớn”

(“Nhiệm vụ của thanh niên ta”, báo Nhân dân ngày 20/12/1955)

11. “Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:

– Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.

– Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.

– Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.”

(Bài nói chuyện tại Đại hội thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa, ngày 17/3/960)

12. “Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế nên số đông thanh niên công – nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”.

(Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 24/3/1961)

13.  “Bác rất yêu quý thanh niên:

– Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng.

– Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc”.

(Bài nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ngày 20/12/1961)

14. “Phải không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện đâu cần thanh niên có, việc khó có thanh niên, gặp gian khổ phải đi lên phía trước, khi hưởng thụ phải hưởng thụ sau mọi người”.

(Bài phát biểu tại Hội nghị Cán bộ toàn miền Bắc, tháng 9/1962)

15. Đảng, Chính phủ và Bác rất chú ý đến thanh niên. Bác vui lòng khen ngợi những cố gắng của thanh niên… Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm cho tốt.

Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp.-

Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”, “gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người”.-

Không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ.”-

(Bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc, ngày 22/9/1962)

16.  “Bác muốn dặn thêm các cháu mấy điều:

– Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.

– Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.

– Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng, tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh, để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.

– Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.

– Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo”.

(Thư gửi thanh niên Ngày 2/9/1965, Báo 

17. “Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng. Và, giặc Mỹ đã thua to ở hai miền nước ta, chúng đang thất bại ngày càng nặng nề hơn ở miền Nam, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Vì vậy, Bác nhắc nhở các cháu: Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược; luôn luôn đoàn kết, ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa để ngày càng tiến bộ, đem hết nhiệt tình tài năng của tuổi trẻ cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước””.

(Thư khen ngợi đơn vị TNXP 333 có nhiều thành tích xuất sắc trên các tuyến đường Khu Bốn ác liệt, ngày 27/1/1969)

 18. “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.

(Di Chúc của Người)

Theo Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh .

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bác Hồ với Lê-nin

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tình cảm đặc biệt với V.I.Lê-nin. Từ lòng kính trọng và biết ơn vô cùng sâu nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Lê-nin, học tập, nghiên cứu học thuyết của Lê-nin để vận dụng vào cách mạng Việt Nam, dẫn nhân dân ta vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và tiến lên cùng thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, bắt đầu từ cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga do Lê-nin lãnh đạo.

Dấu ấn sâu đậm trên hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc là khi Người được tiếp xúc với học thuyết của Lê-nin về vấn đề giải phóng thuộc địa từ những năm 20 của thế kỷ 20. Ngay từ đấy Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết nhiều tác phẩm về Lê-nin và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, ca ngợi thiên tài và tấm gương đạo đức cách mạng cao cả của Lê-nin. Tin tưởng và đi theo con đường cách mạng do Lê-nin lãnh đạo, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ủng hộ Quốc tế Ba do Lê-nin thành lập. Ðồng thời ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam.

chuyende.jpg

Sự gặp gỡ của Nguyễn Ái Quốc với chủ nghĩa Lê-nin là một cuộc gặp lịch sử. Với quyết tâm tìm con đường cứu nước, sau bao năm bôn ba khắp các châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa hoạt động trong phong trào các dân tộc bị áp bức, phong trào công nhân, tháng 7 năm 1920, trên những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin, đăng trên báo Nhân Ðạo (L’Humanité) của Ðảng Xã hội Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tưởng: Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình mà Người đã nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Ðây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vui mừng như vậy vì đã tìm thấy con đường cứu nước, cứu dân, con đường giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp và chế độ phong kiến – đó là con đường cách mạng vô sản. Tại Ðại hội Tua của Ðảng Xã hội Pháp cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Ðảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

lenin-october-revolution.jpg

Hướng về Lê-nin – lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ cuối năm 1923, đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật đến Liên Xô. Ngay sau khi Lê-nin từ trần, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài: Lê-nin và các dân tộc thuộc địa đăng trên báo Sự thật, số ra ngày 27-1-1924, với những dòng vô cùng xúc động: Khi còn sống, Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Trong những năm tháng học tập, hoạt động, nghiên cứu trên đất nước Xô-viết, Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm xuất sắc về Lê-nin và cuộc Cách mạng Tháng Mười. Ðặc biệt vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã cho xuất bản cuốn sách Ðường cách mệnh làm tài liệu huấn luyện cán bộ để chuẩn bị cho việc thành lập Ðảng. Trong tác phẩm quan trọng này, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Ðảng có vững cách mạng mới thành công. Ngày nay học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng cách mạng nhất, chân chính nhất là chủ nghĩa Lê-nin…; trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và đã thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật; không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc. Phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin…

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều tác phẩm về Lê-nin để giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta luôn ghi nhớ công ơn và học tập, vận dụng học thuyết cách mạng của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, học tập kinh nghiệm của nhân dân các dân tộc Xô-viết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

lenin147.jpg

Vấn đề cốt tử nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục Ðảng và toàn dân ta là chăm lo xây dựng Ðảng thật sự là một đảng Mác – Lê-nin chân chính. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của nhân dân, mà Lê-nin là tấm gương tiêu biểu để Ðảng xứng đáng là “trí tuệ, lương tâm, danh dự” của dân tộc và thời đại, được nhân dân tin yêu…

Ðảng ta, nhân dân tự hào khẳng định rằng, trong hơn tám thập kỷ qua, đi theo con đường cách mạng của Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đã phát triển và làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng thực tiễn lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ðó là các vấn đề xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đã kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu tố là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân; về con đường cách mạng Việt Nam giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; về đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công, nông, trí; về tiến hành hai chiến lược cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh giải phóng miền nam; về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân do Ðảng lãnh đạo; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…/.

Khánh Thuỷ
(Nguồn: ND)

hochiminhhoc.com

Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giáo dục. Ngay từ ngày đầu sau khi tuyên bố độc lập, cho đến trước lúc đi xa, Người luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến nền giáo dục nước nhà và đội ngũ những người làm công tác giáo dục.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm sự nghiệp giáo dục và chỉ rõ: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang…, xây dựng kinh tế, không có cán bộ không làm được. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa”. (Xem Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, trang 184).

293.jpgBác Hồ với các em thiếu nhi. Ảnh: Tuấn Anh

Người còn nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Ngay ngày đầu, sau khi tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những nhiệm vụ cấp bách mà một trong những nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc dốt, xóa nạn mù chữ cho toàn dân. Những giáo viên bình dân học vụ hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ đã lao động xả thân để mở mang dân trí được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao. Trong thư gửi đội ngũ giáo viên bình dân học vụ ngày 4 tháng 5 năm 1946, Bác Hồ biểu dương, khen ngợi: Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh những rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bác Hồ coi trọng phát triển giáo dục toàn dân, toàn diện. Nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 15-10-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn… trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật” (Xem Hồ Chí Minh toàn tập, t12, tr403).

Trước lúc đi xa, tháng 5 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn toàn Ðảng, toàn dân ta phải ra sức chăm lo sự nghiệp giáo dục, có chương trình, kế hoạch chu đáo trong việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Cùng với việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh thì phải “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”. Ðối với đội ngũ giáo viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người dạy học là: Chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà. Người lưu ý, coi trọng vai trò nòng cốt của thanh niên: Bất kỳ ở đâu cũng phải làm cho thanh niên hiểu rõ nhiệm vụ. Học thanh niên cũng phải làm đầu tàu, dạy thanh niên cũng phải làm đầu tàu. Hơn 60 năm qua, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối giáo dục của Ðảng, Nhà nước, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển vượt bậc. Từ chỗ hơn 90% dân số mù chữ, đến nay cả nước đã cơ bản phổ cập giáo dục, mỗi năm có hơn 20 triệu học sinh, sinh viên các cấp học đến trường, đội ngũ giáo viên các cấp học ngày càng phát triển về số lượng (gần một triệu người) và nâng cao về chất lượng. Có được thành tựu quan trọng về giáo dục, cống hiến của các thầy cô giáo, của cán bộ quản lý giáo dục đóng góp phần to lớn. Họ đã lao động quên mình vì học sinh thân yêu, vì sự nghiệp mở mang và nâng cao dân trí. Những tấm gương cao đẹp của các thầy cô giáo xuất hiện ngày càng nhiều. Ðặc biệt là những người thầy, người cô đến với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng xa, vùng khó khăn. Họ vừa là người thầy, vừa là cán bộ dân vận của Ðảng và Chính phủ. Họ âm thầm thực hiện lời dạy của Bác Hồ, là những “vô danh anh hùng” nhưng lại vô cùng hữu ích cho dân, cho nước, đem ánh sáng tri thức của Ðảng, của cách mạng và thời đại đến cho dân, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo lớp lớp công dân và cán bộ cho tương lai.

 PHẠM VĂN KHÁNH

hochiminhhoc.com

Những ngày cuối cùng của Bác Hồ

9 giờ ngày 2/9/1969, Bác bị một cơn đau tim nặng. Theo dõi trên máy điện tim thì đến 9 giờ 15 phút, tim Bác ngừng đập hẳn. Các bác sỹ, anh em bảo vệ chúng tôi thay nhau dùng sức ấn lên ngực Bác, mong sao tim Người đập trở lại. Cho đến 9 giờ 47 phút, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trào nước mắt: “Thôi các đồng chí ạ, Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi” – TS. Trần Viết Hoàn, nguyên cảnh vệ của Bác Hồ viết riêng cho VietNamNet.

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến thăm Bác những ngày Bác ốm năm 1969.Ảnh do tác giả cung cấp

Bác nằm chữa bệnh tại ngôi nhà nhỏ phía sau nhà sàn, ngôi nhà mà Bộ Chính trị quyết định làm tháng 5/1967 – trong lúc Bác sang Trung Quốc chữa bệnh, với mục đích bảo đảm an toàn cho Người trong những năm máy bay giặc Mỹ bắn phá Hà Nội.

 

Khi nhà làm xong, Bác Hồ không nhận sử dụng riêng cho mình. Người nói: Khi nào có nhiều đồng chí phụ trách đến làm việc với Bác thì họp ở nhà ấy cho chắc chắn. Còn lúc ở một mình, Bác cứ ở nhà sàn gỗ thôi.” 

Kể từ ngày 20/7/1967 (ngày Bác đi Trung Quốc về), nơi đây trở thành địa điểm Bộ Chính trị họp mỗi tuần một lần, ra những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Bây giờ, trong hồ sơ di sản, ngôi nhà này được gọi là nhà 67.

Bài viết cuối cùng

 

Kỷ niệm Đảng ta 39 tuổi (3/2/1969), tại ngôi nhà này, Bác Hồ đã viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, biểu dương tinh thần hy sinh gương mẫu, đạo đức trong sáng của cán bộ, đảng viên, đồng thời kịch liệt lên án những hành vi, tư tưởng cá nhân hẹp hòi.

Người chỉ ra rằng chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân, là bạn đồng hành của căn bệnh tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh, trục lợi… làm hại đến quyền lợi của cách mạng, của nhân dân, làm giảm thanh danh, uy tín của Đảng cầm quyền.

Trong bài viết cuối cùng về đạo đức trước khi từ biệt thế giới này, Bác Hồ không quên dặn lại mọi người cách làm người, nâng cao phẩm giá – cái gốc quý báu để bảo đảm cho cuộc hành trình trong cuộc đời mỗi người tới đích vẻ vang. Ngẫm suy thời cuộc hiện nay, khi mà chủ nghĩa cá nhân đẻ ra tham nhũng đã trở thành nguy cơ nội xâm, quốc nạn, càng thấy giá trị lớn lao lời dạy của Bác.

Các đồng chí lãnh đạo Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương thắp hương tại bàn thờ Bác Hồ. Ảnh do tác giả cung cấp

Và tại ngôi nhà này, Bác đã để lại tấm gương đạo đức trong sáng để bây giờ cho ta học và làm theo.

Một lần, đồng chí phục vụ đọc cho Bác nghe báo Hà Nội Mới đưa tin Hợp tác xã Ngũ Xã có ý định đúc bức tượng Bác bán thân bằng đồng. Bác nói với đồng chí phục vụ: “

Vào thời gian sau ngày 12/8/1969, Bộ Chính trị tổ chức họp bàn chuẩn bị tổ chức 4 ngày lễ lớn trong năm 1970. Cuộc họp vắng Bác, vì Người đang mệt nặng. Một hôm, có đồng chí ủy viên Bộ Chính trị vào thăm Bác và báo cáo lại với Bác quyết định của Bộ Chính trị.

Nằm trên giường bệnh, nghe nói về những kỷ niệm sắp tới, Bác rất vui. Nhưng khi nghe nói việc tổ chức kỷ niệm 80 năm ngày sinh của Người, Bác liền bảo: “

“Chúng tôi xin hiến tim mình để thay tim cho Bác”

16 giờ ngày 12/8/1969, Bác gặp đồng chí Lê Đức Thọ tại nhà nghỉ Hồ Tây nghe báo cáo tình hình Hội nghị Paris. Đêm hôm đó, Bác lên cơn sốt và ho, những ngày sau đó Bác ho nhiều hơn, sốt nặng hơn. Nhưng Bác vẫn lên, xuống nhà sàn làm việc. Theo đề nghị của bác sỹ, ngày 18/8, Bác Hồ không làm việc ở nhà sàn gỗ nữa. Người xuống ở và làm việc tại ngôi nhà 67. Kể từ hôm đó, những ngày quy luật của cuộc đời đến với Bác Hồ ở nơi đây.

Ngày 29/8/1969, Bác nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Ngày lễ Quốc khánh, Bác sẽ ra dự mươi, mười lăm phút”.

Ngẫm lại thì thấy thật kỳ lạ: 9 giờ ngày 2/9/1969, Bác bị một cơn đau tim nặng. Theo dõi trên máy điện tim thì đến 9 giờ 15, tim Bác ngừng đập hẳn. Các bác sỹ, anh em bảo vệ chúng tôi thay nhau dùng sức ấn lên ngực Bác, mong sao tim Người đập trở lại. Cho đến 9 giờ 47 phút, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trào nước mắt: ” Thôi các đồng chí ạ, Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi “.

Thế là, 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969, từ nơi đây truyền đến cho nhân loại nỗi đau Bác Hồ ra đi mãi mãi để cho “đời tuôn nước mắt”. Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đã cứu dân tộc khỏi kiếp khổ nạn, mang lại hạnh phúc độc lập cho mọi người dân, nhưng ngày đó Bác có được hưởng đâu.

Và con số 9 mới linh thiêng làm sao: Bác ra đi lúc 9 giờ 47 phút, ngày 2/9/1969, thọ 79 tuổi. Ngày 9/9/1969, cả dân tộc làm lễ truy điệu tiễn đưa Người về với thế giới người hiền.

Suốt 15 năm, Bác sống và làm việc ở khu Phủ Chủ tịch, không có một lần nào dân kéo về nhà Bác để làm bận lòng Bác. Trong những ngày Bác yếu, tuy giữ bí mật rất cao về tình trạng sức khỏe của Bác, nhưng xe cộ hàng ngày ra vào nhiều, đưa các đồng chí Trung ương vào thăm Bác, đưa bác sĩ vào chữa bệnh cho Bác, đưa các phương tiện vào để chạy chữa bệnh cho Bác…, nên dân dự đoán rằng có thể Bác ốm.

Vì thế, có nhiều người dân đến Cổng đỏ (cổng ra vào Phủ Chủ tịch, hàng ngày Bác Hồ vẫn thường đi lại cổng này), nói lên một tâm nguyện: Nếu đúng Bác ốm, chúng tôi xin hiến trái tim của mình để thay tim cho Bác.

Từ ngày 3 đến ngày 6/9/1969, dòng người không lúc nào vắng, buồn rầu đội mưa thầm lặng, trật tự đi đến Lễ đài Ba Đình để viếng ảnh Bác. Và những ngày thi hài Bác quản trong linh cữu đặt tại Hội trường Ba Đình, vì đông người vào viếng nên có những cháu nhỏ không vào viếng Bác được, cứ giằng co với công an bảo vệ ngoài Hội trường, khóc lóc thảm thiết: Các chú trả Bác cho chúng cháu đây…

Ngày 2/9/1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố vấn Ban Chấp hành TƯ Đảng Phạm Văn Đồng thăm lại nơi Bác mất (tác giả đứng ngoài cùng, bên trái).

Sau ngày Bác mất, một số chiến sỹ công an, trong đó có tôi gác tay súng, chuyển sang tay chổi, tay bút chăm lo công việc bảo vệ di sản cho Bác, hàng ngày quét dọn lau chùi ngôi nhà 67 như khi phục vụ Bác lúc sinh thời. Bác đi rồi, ngôi nhà sao mà lạnh lẽo. Vì vậy chúng tôi đã đặt một lư đồng nhỏ ở cửa sổ cạnh giường Bác nằm, hàng ngày đốt nén hương trầm để nhà thêm ấm cúng.

9 giờ 47 phút ngày 2/9/1989, tôi đã mời và đón Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố vấn Ban Chấp hành TƯ Đảng Phạm Văn Đồng vào thăm lại nơi Bác mất và thắp nén hương tưởng nhớ Bác. Hai đồng chí cho ý kiến: “Nên có một nơi trang trọng để thờ cúng Bác, vì hương hồn Bác vẫn mãi mãi ở lại nơi đây với chúng ta”  

Để từng bước thực hiện lời căn dặn này, Khu Di tích Phủ Chủ tịch đã chỉnh trang để có được nơi thắp hương như hiện nay ở nơi Bác mất. Sau đó, dần dần để khách đến thăm nhà Bác được thắp nén hương nhớ Bác.

Và bắt đầu từ ngày 2/9/1994, chúng tôi mời các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước tới thắp hương tưởng nhớ Bác Hồ tại nơi đây vào những dịp lễ hàng năm 19/5, 2/9 và ngày Tết âm lịch. Theo phong tục cúng giỗ tổ tiên của Việt Nam, từ năm 1994, cứ đến ngày 21/7 âm lịch, chúng tôi lại sắp mâm cơm giỗ Bác.

Năm 2002, với tấm lòng thành kính của đứa con trông nhà cho Bác, tôi cầu khấn xin Bác cho lập nơi thờ cúng trang nghiêm, rộng rãi để cháu con hôm nay và mai sau về thắp hương tưởng nhớ người Ông, người Bác, người Cha, với bức tượng đồng Bác ngồi ghế, tay Bác cầm kính đặt lên tờ báo để trên đùi, mắt nhìn thẳng như dừng đọc báo để chào đón mọi người vào thăm.

Kể từ ngày lập bàn thờ Bác ở đây, các đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng cùng nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đã về thắp hương tưởng nhớ Bác, cầu nguyện Bác phù hộ cho Quốc thái, Dân an.

TS. Trần Viết Hoàn (Nguyên Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch)
Theo vietnamnet.vn
Nguồn Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Tuổi 20 cho Ngày độc lập (Kỳ 5)

“Chết tự do hơn sống nô lệ!”

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng bên kệ sách gia đình

TT – Ông vẫn còn tráng kiện lắm, giọng nói sang sảng đặc chất Nam bộ cho dù đã vượt qua cái ngưỡng tuổi 80: “Làm sao quên được những ngày ấy, những người nông dân, công nhân đồn điền cao su, học sinh trường làng… của cái xã An Tịnh nhỏ bé ấy cứ ngất ngây trước hai chữ: tự do!

Ngọn cờ hồng trên chiến lũy!

Đời ông, đời cha mình có bao giờ được nghe hai chữ này đâu! Tôi và một số anh như Nguyễn Thanh Tùng, Huỳnh Duy Ngươn, Nguyễn Văn Sữa, Trương Tùng Quân, Trần Bá Liêm, Trần Bá Bên, Tô Văn Ri… tham gia đoàn thanh niên tiền phong xã và cùng với các đoàn thể trong ủy ban khởi nghĩa xã chuẩn bị cướp chính quyền…”. Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân VN, nhớ lại tuổi 20 của mình.

Ngày 25-8-1945, người dân An Tịnh cũng như huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cả miền Nam cùng đứng lên cướp chính quyền. Những đoàn người cuồn cuộn như sóng biển. Vị tướng già đã đi qua trọn vẹn hai cuộc kháng chiến bồi hồi nhớ lại:

“Chúng tôi cùng xuống đường và hô vang khẩu hiệu: Việt Minh muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Dòng máu trẻ cứ rần rật chảy trong người. Hàng ngàn, hàng vạn con người, những đội hình đội ngũ chỉnh tề, trên tay chỉ với tầm vông vạt nhọn mà tinh thần đánh giặc vô cùng hăng hái, tưởng như quân Pháp, quân Nhật xuất hiện với tàu đồng, xe tăng, đại bác… cũng không thể ngăn nổi cơn sóng trào này. Nhìn bóng cờ đỏ sao vàng bay phần phật trong gió, chúng tôi đã thấy được bình minh của tự do…”.

Quân Pháp quay trở lại miền Nam! Để đối phó, cuối tháng 9 -1945 xã An Tịnh đã tuyển chọn một tiểu đội do đồng chí Nguyễn Ngọc Tươi chỉ huy chi viện cho mặt trận Tham Lương. Vừa chuẩn bị lực lượng, khí giới, công sự sẵn sàng cho cuộc chiến, vừa xây dựng phòng tuyến, chiến lũy địa đầu của tỉnh Tây Ninh tại khu vực Suối Sâu, các lực lượng thanh niên Gia Lộc, Lộc Hưng, Trảng Bàng… được khẩn cấp điều động ra chiến lũy, chiến tranh là không thể tránh khỏi!

Trung tướng Nguyễn Thới Bưng kể: “Sáng 8-11-1945, hàng trăm xe cơ giới có cả xe tăng và xe bọc thép do liên quân Anh – Ấn chỉ huy, theo sau là lính lê dương Pháp bất ngờ đánh úp Tây Ninh và vùng giáp giới Campuchia. Chúng tôi đều xung phong ra chiến lũy Suối Sâu chỉ vì một lời nguyện thề với lòng mình: Thà hi sinh trên chiến lũy dưới ngọn cờ hồng tự do chứ không thể trở về quê nhà tiếp tục lầm lũi kiếp nô lệ! Lúc đó trên chiến lũy súng thì ít mà giáo mác, mã tấu, tầm vông thì nhiều, nhưng ai cũng hừng hực ý chí xả thân…”.

Lời thề Rừng Rong

Đài tưởng niệm những chiến sĩ Rừng Rong tại Trảng Bàng, Tây Ninh

Phòng tuyến địa đầu vỡ nhanh chóng, tầm vông vạt nhọn sao có thể đối đầu với xe tăng, đại bác! Để bảo toàn lực lượng và cũng là để chuẩn bị cho một cuộc trường kỳ kháng chiến, các chiến sĩ trên chiến lũy Suối Sâu buộc phải rút về Bàu Mây, Rừng Rong (An Tịnh) chỉnh đốn lực lượng và liên lạc với các nơi khác như Trâm Vang (Gia Bình), Cầu Quan (An Hòa)… cũng đã rút lui để hợp lực cho sự ra đời của “Đội tự vệ chiến đấu huyện Trảng Bàng” do Trần Văn Chói chỉ huy, với 27 nam nữ chiến sĩ được chia thành nhiều nhóm do Mười Tùng, Sáu Hung, Út Bưng, Hai Ngươn… làm trưởng nhóm.

Các nhóm hoạt động dựa vào dân để đưa tin, tiếp tế, nuôi dưỡng, cung cấp vũ khí. Đội tự vệ chiến đấu chọn Rừng Rong làm căn cứ để tiến hành chiến tranh du kích. “Gian khổ lắm, những ngày cuối năm 1945 theo chân quân Pháp chiếm đóng là bọn tề gian tràn về cướp bóc, hãm hiếp bà con mình ngay giữa ban ngày. Diệt tề là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của đội, chúng tôi một mặt dựa vào dân, một mặt tìm mọi cách tiếp cận xóm làng để tổ chức trừ gian, giải tán hội tề, kết hợp tuyên truyền vận động bà con tham gia cách mạng… Sự tàn ác của giặc ban đầu làm bà con nao núng lắm, nhưng dần dần bà con đã lấy lại niềm tin với lực lượng kháng chiến chúng tôi…” – vị tướng già nhớ lại những ngày ấy.

Hồi ức của 60 năm trước sống dậy trong ông: “Hình ảnh về bóng cờ đỏ sao vàng bay trong gió của cái ngày cướp chính quyền, bóng cờ ám khói trên chiến lũy với chúng tôi không thể nào quên. Cuộc kháng chiến sẽ con rất gian khổ và lâu dài, làm sao để dân tin là chúng tôi – những người cách mạng – sẽ chiến thắng.

Để biểu thị lòng quyết tâm của đội tự vệ chiến đấu với lý tưởng cho nền độc lập và để người dân cũng có được niềm tin ấy, đêm 30 Tết Ất Dậu (ngày 1-2-1946), tại Rừng Rong, chúng tôi tổ chức ăn thề. 27 nam nữ chiến sĩ của đội tự vệ chiến đấu Trảng Bàng đều ở độ tuổi 20 và có thành tích xuất sắc nhất trong chiến đấu từ các mặt trận trong huyện trở về, quần áo chỉnh tề, chỉ với một vài khẩu súng trên vai, đội ngũ đứng nghiêm trang dưới ánh đuốc bập bùng trong đêm.

Sau khi đồng chí chỉ huy đội Trần Văn Chói đọc lời thề chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập của đất nước, cả 27 nam nữ chiến sĩ chúng tôi đều hô vang: “Độc lập hay là chết!… Chết tự do hơn sống nô lệ! Ai phản bội sẽ chịu xử tử…”.

Tất cả họ – những người con trai, con gái tuổi đôi mươi – đã giữ vững lời thề chết cho độc lập, chết cho tự do… Trong một lần tập kích, anh Nguyễn Văn Hung đã bị trúng đạn và bị bắt, quân Pháp tra tấn rất dã man nhưng anh vẫn không hé răng khai một lời về nơi đóng quân của đội tự vệ chiến đấu.

Còn chị Trần Thị Đường bị giặc bắt, bị chúng dùng dây điện quấn quanh hai bàn tay rồi ghim điện tra tấn suốt ngày đêm nhưng người con gái tuổi mới đôi mươi này có một dũng khí mạnh hơn đòn tra tấn, đó là lời thề trong đêm Rừng Rong. Nhiều chiến sĩ đã chọn cái chết trước mũi súng quân thù để bảo vệ khí tiết như chị Trần Thị Đẹp. Chỉ riêng trong năm 1946 ác liệt đó, đã có hơn phân nửa những người tham gia hội thề Rừng Rong vĩnh viễn nằm xuống!

Ông Nguyễn Thới Bưng cho đến bây giờ vẫn còn nhớ những cái tên, những gương mặt đã in đậm trong ký ức: “Người ta hay nói thanh niên bồng bột, nhưng với chúng tôi thời ấy cũng mới chỉ 19, 20 nhưng chín chắn lắm. Trước vận nước lâm nguy không thể có chuyện bộc phát sôi nổi. Không ai bội ước với lời thề. Đa số họ hy sinh rất sớm, nằm lại chiến trường ở tuổi 20, chưa thấy được độc lập, tự do. Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục đi trên con đường đó đến cùng.

Sau ngày miền Nam giải phóng, chúng tôi mừng rơi nước mắt, trong số 27 người ngày ấy có đến bốn người được phong quân hàm cấp tướng, hai sư đoàn trưởng, hai ủy viên trung ương, hai tư lệnh quân khu… Mà không chỉ vậy, xã An Tịnh chúng tôi đã hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang và có đến 1.200 liệt sĩ, 54 bà mẹ VN anh hùng, năm cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang…

Có một địa danh ở Nam bộ cướp chính quyền thành công vào đêm 22-8-1945, trước cả Sài Gòn và tạo tiền đề cho nhiều tỉnh khu vực miền Tây Nam bộ đứng lên khởi nghĩa. Người chỉ huy sự kiện này là chàng trai 26 tuổi…

VŨ BÌNH – THẾ ANH

———

* Kỳ cuối: Nơi cướp chính quyền đầu tiên ở Nam bộ

—————-

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 1: Chung một bóng cờ…
– Kỳ 2: Lên đường!
– Kỳ 3: Những “giải phóng quân” đặc biệt!
– Kỳ 4: Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

tuoitre.vn

Gắn kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình (TPB và PB) cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình. Củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm. Coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bên cạnh sự tự giác thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Công tác này nhất thiết phải gắn bó mật thiết với TPB và PB một cách nghiêm túc. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. TPB và PB nhau theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng đảng, được tiến hành dựa trên các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng nhưng đồng thời phải làm tốt công tác TPB và PB. Trên cơ sở các nguyên tắc, Điều lệ Đảng về xử lý kỷ luật trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải gắn kết chặt chẽ, phát huy cao độ vai trò công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng theo Điều lệ Đảng trên cơ sở TPB và PB, lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa là chính, giúp đồng chí mình tiến bộ, giúp tổ chức đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, trước những yêu cầu đặt ra từ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm không ngừng kiện toàn và nâng cao sức lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đấu tranh thắng lợi trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị tư tưởng, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng càng phải gắn bó mật thiết với công tác TPB và PB. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra giám sát trong Đảng với công tác TPB và PB sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng, xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống cho mỗi cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu; nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình.

Đối với đảng viên, cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và các cấp ủy cần phải có nhận thức đúng về sự kết hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB. Đây còn là một trong những nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo ở đâu, lĩnh vực gì, nhiệm vụ nào đều phải gắn liền công tác kiểm tra giám sát ở lĩnh vực, nhiệm vụ đó.

Công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên. Quá trình kiểm tra, giám sát phải gắn với TPB và PB để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, định hướng công tác lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tạo điều kiện phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc và chế độ sinh hoạt đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Công tác kiểm tra, giám sát gắn với TPB và PB là nhằm làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách dân chủ, đúng nguyên tắc, gắn với tự trọng, tự giác trong TPB và PB.

Hai là, củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải làm tốt công tác củng cố kiện toàn cơ cấu ủy ban kiểm tra các cấp, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và có năng lực và trình độ hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao.

Trước khi bắt đầu cho một nhiệm kỳ mới, các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở phải làm tốt công tác củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp. Chức năng, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra phải được xác định phù hợp với tính chất nhiệm vụ lãnh đạo của từng tổ chức đảng cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải được kiện toàn đồng bộ, ngang tầm với tính chất nhiệm vụ được giao. Yêu cầu đặt ra là: Đối với người cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy, công tâm, trung thực, liêm khiết, khách quan, dân chủ, có lý có tình, kiên quyết và khôn khéo; đối với ủy ban kiểm tra các cấp là sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trên cơ sở các nguyên tắc được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Người cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng như uỷ ban kiểm tra cần chủ động, đồng bộ, sâu sát, tỉ mỉ, khách quan, thận trọng trong mọi khâu, mọi bước của công việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính công minh, chính xác, kịp thời.

Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải đóng vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được lựa chọn phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tự kiểm tra, giám sát mình và chịu sự giám sát, phê bình của cấp ủy, chi bộ và quần chúng; ra sức nâng cao trình độ mọi mặt, mẫn cán, nhạy cảm, tinh thông nghiệp vụ.

Ba là, coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB .

Công tác kiểm tra được tiến hành theo phân cấp, cấp trên kiểm tra cấp dưới, ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp kiểm tra đảng viên thuộc quyền về chấp hành nguyên tắc, chế độ, phục tùng kỷ luật Đảng và thực hiện nghị quyết các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Trong đó, TPB và PB là nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng mà các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB là một giải pháp khoa học nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, chủ động cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm và giải quyết dứt điểm các vụ việc trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Minh Đức
Trường Đại học Nguyễn Huệ

xaydungdang.org.vn

Ngày 8/1: Tết kháng chiến đầu tiên

– “Chúng ta phải làm sao cho Tết này thật là một Tết kháng chiến. Bao giờ kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau ăn Tết linh đình” – Trong Lời kêu gọi chuẩn bị Tết kháng chiến đầu tiên cho chiến sĩ ngày 8/1/1947, Bác Hồ đã nói như vậy.

Ngày 8/1/1947 mới là ngày 17 tháng Chạp năm Bính Tuất tức là gần tròn một tháng kể từ ngày Toàn quốc kháng chiến và Tết Đinh Hợi đang đến gần, Bác Hồ viết một bài thơ tặng báo “Độc lập” là cơ quan của Đảng Dân chủ để động viên lực lượng trí thức và các nhà công thương yêu nước nhân Tết kháng chiến đầu tiên và chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ nhưng lạc quan tin vào thắng lợi cuối cùng.

Bác Hồ đến thăm Xưởng may 10  và góp ý kiến về cách may sao cho nhanh chóng và hiệu quảBác Hồ đến thăm Xưởng may 10 và góp ý kiến về cách may sao cho nhanh chóng và hiệu quả

Bài thơ viết : “Năm mới thế cho năm đã cũ/ Báo Độc lập của Đảng Dân chủ/ Kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam/ Đoàn kết và thắt chặt hàng ngũ/ Kiên quyết kháng chiến đến kỳ cùng/ Để giữ chủ quyền và lãnh thổ/ Chờ ngày độc lập đã thành công/ Tết ấy tha hồ bàn với cỗ.”

Tinh thần ấy còn được thể hiện trong một văn kiện được người đứng đầu cuộc kháng chiến công bố cùng ngày “Lời kêu gọi nhân ngày Tết Nguyên đán năm 1947”. Lời kêu gọi viết: “Tết đã đến gần. Theo tục lệ thường thì đồng bào từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến thôn quê, ai cũng sắm sửa ăn Tết.

Song Tết năm nay, phải là một Tết kháng chiến. Chiến sĩ ở tiền phương đang chịu đói chịu rét, xông pha bom đạn, đem xương máu để giữ gìn Tổ quốc, để bảo vệ đồng bào hậu phương được an toàn. Đồng bào các chiến khu thì nhà tan cửa mất, lưu lạc, tản cư ăn đói mặc rét, cực khổ điêu linh. Trước tình trạng đó, đồng bào các nơi khác có nỡ lòng ăn Tết linh đình không? Chắc là không!”.

Lời kêu gọi đã đề ra những việc làm cụ thể: “Phải hết sức tiết kiệm để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài”, “đề phòng trước bọn địch tấn công”, “ra sức thi đua tăng gia sản xuất”, “rủ nhau gửi đồ, uý lạo đến chiến sĩ ở tiền phương”.

Cuối lời kêu gọi, Bác viết: “Chúng ta phải làm sao cho Tết này thật là một Tết kháng chiến. Bao giờ kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau ăn Tết linh đình”.

Cũng nhân dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi hô hào đồng bào phải hết sức tiết kiệm, để dành tiền bạc, cơm gạo cho cuộc kháng chiến lâu dài…, ra sức thi đua tăng gia sản xuất, “Rủ nhau gửi đồ, uý lạo cho chiến sĩ ở tiền phương”.

Cùng ngày, Bác Hồ còn viết thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương “xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”. Đồng thời khen ngợi các thầy thuốc và cán bộ đã hết lòng chăm sóc thương binh: “Thế là các bạn cũng trực tiếp tham gia kháng chiến cứu quốc”.

Cuộc kháng chiến thành công đã được 4 năm, ngày 8/1/1958 sau khi tiếp Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp trong vườn của Phủ Chủ tịch, Bác Hồ tiếp tục chủ trì cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Bác đã đưa ra những yêu cầu lãnh đạo các bộ phải học tập kinh nghiệm làm kế hoạch của các nước bạn, kế hoạch khi đã được thông quan phải trở thành pháp lệnh của nhà nước buộc mọi người phải chấp hành nghiêm chỉnh, phải quan tâm giáo dục tư tưởng và xây dựng tác phong cần kiệm, sâu sát thực tế và phải “kiên quyết chống quan liêu, chống lãng phí. Các bộ, các ngành mắc khuyết điểm nghiêm trọng về lãng phí phải kiểm điểm trước nhân dân”.

Ngày này năm sau, ngày 8/1/1959, Xưởng may 10 của Tổng cục Hậu cần có vinh dự được Bác Hồ đến thăm. Nửa thế kỷ qua, nhà máy này đã không ngừng trưởng thành đến nay đã trở thành một nhà máy có một thương hiệu nổi tiếng trong ngành may mặc nước ta.

X&N
bee.net.vn

Đoàn kết Lương Giáo – một quan điểm xuyên suốt của Đảng

Đêm Giáng sinh an lành tại Thủ đô Hà Nội. (Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo…

1. Đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đoàn kết toàn dân tộc

Đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Đây là một bài học mang tính lịch sử. Giai đoạn nào chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo được thực hiện tốt thì đất nước thái bình, các thế lực ngoại bang cũng ít nhòm ngó.

Đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc đã trở thành tư tưởng xuyên suốt, một chiến lược cách mạng quan trọng của Đảng ta. Cơ sở của chiến lược này là luôn tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, không tôn giáo; đoàn kết tôn giáo; hoà hợp dân tộc. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”(1), và đây đã trở thành một trong sáu nhiệm vụ của nhà nước non trẻ. Điều này xuất phát từ một lẽ hiển nhiên là, người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng. Do vậy, đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Trong mối quan hệ giữa dân tộc và nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, và nhân dân chỉ có thể được tự do khi đất nước độc lập. Điều này là ước nguyện của mọi người dân, dân tộc bị áp bức, kể cả đồng bào có đạo. Người viết: “Hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do”(2), do vậy, “toàn thể đồng bào ta, không chia Lương Giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do”(3).

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi vấn đề đoàn kết Lương Giáo là một nội dung quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đoàn kết toàn dân, về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ việc xác định tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới, năm 1990, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 24/NQ-TƯ, về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đoàn kết Lương Giáo, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(4).

Những quan điểm này được tiếp tục thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991); Văn kiện Đại hội VII, VIII, IX. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (năm 2003), về Công tác tôn giáo cũng khẳng định:

“- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

– Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào,…

– Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo”(5).

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2006) tiếp tục khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ… Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân (6).

Gần đây nhất, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhất quán khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(7). Đây chính là cơ sở quan trọng nhằm đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta – giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2. Phát huy các giá trị trong tôn giáo, tín ngưỡng nhằm đoàn kết lương giáo xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đây cũng là một trong những nhận thức lại của Đảng ta về vị trí, vai trò của tôn giáo, là giải pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực của tôn giáo, làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần của xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh từng cho rằng, học thuyết của Khổng Tử, Thiên chúa giáo của Giêsu, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên và chủ nghĩa Mác đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Do vậy, trong quan niệm và hoạt động thực tiễn của mình, Người luôn tôn trọng vai trò của các tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn trong các tôn giáo để tiến tới xây dựng một nước Việt Nam đoàn kết, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết Lương Giáo, phát huy các giá trị nhân văn trong tôn giáo và với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhất quán khẳng định vị trí và vai trò của tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội qua việc thực hiện chiến lược đoàn kết dân tộc và tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của các tầng lớp nhân dân; phát huy các giá trị mang tính nhân văn của các tôn giáo trong xây dựng đạo đức xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các quan điểm trên đã được khẳng định trong Nghị quyết 24-NQ/TƯ của Bộ Chính trị, về các Văn kiện và nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết 24-NQ/TƯ nhấn mạnh, cần phải: “khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo”(8).

Điều 5, Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo, ngày 18/6/2004, khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”(9). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(10).

3. Bảo đảm sự đoàn kết lương giáo trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, đồng thời nghiêm trị mọi hành động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và đoàn kết lương giáo nói riêng.

Hiến pháp và pháp luật là cơ sở quan trọng, bảo đảm chiến lược đoàn kết lương giáo nói riêng, đại đoàn kết dân tộc nói chung. Đây chính là những sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về đoàn kết lương giáo, là cụ thể hóa quyền lực của nhà nước trong việc bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết Lương Giáo.

Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) đều nhất quán khẳng định quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các quyền này thể hiện ở các điểm sau:

– Mọi công dân Việt Nam đều có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo, tín ngưỡng bất kỳ và đây là một trong những quyền dân chủ quan trọng. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau.

– Các tôn giáo dù lớn hay nhỏ (ít hay nhiều tín đồ) đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

– Nhà nước luôn tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo; động viên chức sắc, tín đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

– Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo.

– Mọi sự xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân đều bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị.

– Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước, bảo đảm khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tóm lại, trong những năm qua, nhất là thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề đoàn kết toàn dân tộc nói chung, đoàn kết lương giáo nói riêng có những phát triển vượt bậc. Điều này thể hiện rõ nét qua xu hướng chủ đạo trong hoạt động của các tôn giáo là gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”, các tôn giáo ở Việt Nam đã có những định hướng hành đạo tiến bộ, như: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Thiên chúa giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của Hội thánh Tin lành Việt Nam; “Nước vinh, đạo sáng” của Cao Đài… Các khuynh hướng này vừa phù hợp với đạo lý, truyền thống, văn hóa của dân tộc, vừa phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và xu hướng phát triển của thời đại./.

TS. Nguyễn Dương Hùng
___________________________

(1), (3) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4, tr.9, 490.
(2) – Sđ d, t.5, tr.44.
(4), (8) – Nghị quyết 24-NQ/TW về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
(5) – ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. CTQG, H, 2003.
(6) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.122-123.
(7), (10) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H.2011, tr.81, 245.
(9) – Xem: Pháp lệnh về Tín ngưỡng Tôn giáo.

Theo http://www.tuyengiao.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tinh thần cùng với người dân


Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890/19-5-2011)

QĐND – “Nói về lịch sử Việt Nam, thì tinh thần yêu nước, thương dân, yêu dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – một nhân vật vĩ đại xứng đáng là tấm gương cho các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới”.

Lời khẳng định trên là của Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, thuộc Trường Đại học Chosun Hàn Quốc, khi nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà ông đã dành hơn 20 năm để nghiên cứu, tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-2010), ở Hà Nội.

Vị Chủ tịch gần gũi nhân dân

Trong bài viết của mình, Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan nhấn mạnh: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nói một cách tóm tắt là Tinh thần cùng với người dân. Cả đời Người hiến thân vì sự nghiệp độc lập và tự do cho Tổ quốc Việt Nam, và thực hiện ba tinh thần là tinh thần cùng sống với người dân, tinh thần cùng ăn với người dân và tinh thần cùng làn việc với người dân”.

Tại sao lại có sự khẳng định như vậy? Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan phân tích: Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã không thần tượng hóa hay thần thánh hóa về mình. Người được nhân dân thân thương gọi là Bác Hồ. Cả đời Người sống thanh bần, không lập gia đình riêng. Người không màng tới địa vị của mình. Người được thừa nhận là nhà lãnh đạo mang tầm cỡ thế giới và là một người yêu nước, sống như cuộc sống của một người dân bình thường, hiến thân phục vụ vì đại nghĩa, luôn chăm lo cải thiện cuộc sống của đồng bào Việt Nam. Chính những tư tưởng trên của Người đã đưa Người tới gần nhất với đời sống của nhân dân.

Các đại biểu và học giả trao đổi bên lề Hội thảo diễn ra vào tháng 5-2010.
Ảnh: Hoa Huyền

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, khi một nhà lãnh đạo chính trị hành động với tinh thần tập thể cùng sống, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với người dân thì tập hợp được sức mạnh của toàn dân, đất nước dù có gặp những khó khăn thế nào cũng khắc phục và tìm được con đường giải quyết, đưa đất nước khỏi con đường bế tắc. “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã cùng sống, cùng ăn và cùng làm việc với người dân. Ngay cả khi ở địa vị tối cao của một nhà lãnh đạo, Người cũng không đòi hỏi đặc quyền gì cho bản thân mình. Một nhân vật đã cùng khổ, cùng sướng với người dân và qua đó đã có được một cơ sở vững chắc là sự tin cậy của người dân – nguồn sức mạnh để giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp”, Giáo sư Ahn Kyong Hwan nói.

Suốt đời hy sinh cho dân tộc Việt Nam

Trong bài viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cảm nghĩ của một người Hàn Quốc” mà Giáo sư-Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan trình bày tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, Giáo sư đã nhấn mạnh, cho dù có sự khác biệt về tư tưởng hay tôn giáo với các vĩ nhân khác trên thế giới, nhưng về nhân cách của Người, đáng để cho tất cả mọi người trên thế giới tôn kính. Giáo sư Ahn Kyong Hwan cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc và là nhà yêu nước xuất sắc. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới phải noi gương tinh thần yêu nước, yêu đồng bào vĩ đại của Người.

Phân tích luận điểm trên, Giáo sư Ahn Kyong Hwan đã dẫn giải rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước chân chính, tuyệt đối không mang tinh thần chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Chủ nghĩa dân tộc của Người là “chủ nghĩa dân tộc mở”, luôn hướng về thế giới. Chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc bao gồm thế giới, đâu phải là chủ nghĩa dân tộc bị trói buộc trong một vòng chật hẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn lựa chiến lược vận động cho độc lập, thống nhất đất nước bằng đấu tranh vũ trang, bằng chiến tranh nhân dân, nhưng về cơ bản Người là một người theo chủ nghĩa hòa bình, một nhà văn hóa.

Trong 79 năm cuộc đời mình, Người đã cùng dân tộc trải qua con đường chông gai trong suốt cuộc đấu tranh giành độc lập. Người đã cùng dân tộc Việt Nam làm nên nhiều thắng lợi lịch sử. Người đã vì Tổ quốc và dân tộc mà sống một cuộc đời đầy gian khổ. Người là một nhân vật luôn tuân theo mệnh lệnh tối cao của dân tộc mà đấu tranh để giành độc lập-tự chủ. Những con người đi theo con đường vì Tổ quốc, vì dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là niềm tự hào, là vĩ nhân bất diệt của nhân dân Việt Nam. Hiểu về Người, là đã hiểu một phần về Việt Nam. Khi tinh thần của Người được kế thừa và phát huy, chắc chắn thắng lợi của Việt Nam là đời đời bền vững. Người luôn sống mãi trong lòng người dân Việt Nam.

NGUYỄN HÒA (ghi)

qdnd.vn