Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Cựu PV chiến tranh TASS viết về 3 lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Hội
“Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh)”.

Sergei Afonin là cựu phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) tại Việt Nam. Ông đã công bố cuốn sách “Những năm tháng nóng bỏng” nói về những trải nghiệm của mình cùng với nhân dân Việt Nam trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

Hiện nay cựu phóng viên chiến tranh của TASS đang sống cùng với vợ và đứa con trai út trong một căn hộ nhỏ ở ngoại ô phía Nam Moskva. Trong căn hộ của họ không có những đồ vật đắt tiền, nhưng nó lại rất giàu những vật kỷ niệm được đưa từ Việt Nam về: Hội họa sơn mài, những bức tranh đại chúng từ làng Đông Hồ, những hộp khảm xà cừ, những búp bê, những tấm bưu thiếp… Vợ ông, Ludmila Afonina không nói bằng tiếng Việt, nhưng cũng yêu Việt Nam với tình yêu nồng nhiệt như chồng bà. Những năm tháng tuổi trẻ hạnh phúc của họ đã diễn ra ở Hà Nội. Dưới đây là lời kể của ông về ba lần được gặp Bác Hồ.

***

Tôi vô cùng may mắn và hạnh phúc đã ba lần được gặp và được nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kỷ niệm về niềm hạnh phúc này tôi sẽ giữ mãi cho đến trọn đời.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên

Đó là vào năm 1961, tôi đến thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi là sinh viên làm luận văn tốt nghiệp và là người phiên dịch ngoài biên chế trong Đại sứ quán Liên Xô và cơ quan đại diện thương mại. Thỉnh thoảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi trên chiếc xe hơi “Chiến thắng” đến cơ quan đại diện thương mại của Liên Xô để xem những bộ phim Xôviết mới trong phòng chiếu phim đầy đủ tiện nghi. Vì Bác Hồ thông thạo tiếng Nga nên ở đó không cần phiên dịch.

Vào một trong những buổi chiều như thế, khi ở cửa ra của phòng chiếu phim, Bác Hồ đã trông thấy tôi, trong chốc lát Người dừng lại và hỏi tôi bằng tiếng Nga:

– Cháu nói được tiếng Việt không?

Quả thật, tôi đã đứng ngây người ra, chính vì đấy là lần đầu tiên tôi được trông thấy con người huyền thoại ấy gần đến như thế. Tôi vô cùng hồi hộp và xúc động, và sau giây lát im lặng, tôi đã trả lời:

– Dạ, cháu nói không được nhiều lắm ạ…

– Vậy cháu có thích ở đây không?

– Cháu rất thích, cháu yêu Việt Nam.

Hồ Chủ tịch mỉm cười và khi chia tay, Người đã nói bằng tiếng Việt:

– Này cháu, cháu cần phải học thật tốt tiếng Việt đấy nhé. Chúc cháu nhiều thành công…

Cuộc gặp gỡ thứ hai

Vào tháng 12/1964, trong thành phần của Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết, tôi đã đến thăm Việt Nam. Dẫn đầu đoàn đại biểu là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Iuri Torxuev, tôi là chuyên viên Ban quốc tế của Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Trước ngày cuối cùng của cuộc đi thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp chúng tôi. Người đã nồng nhiệt ôm hôn các vị khách, mời khách uống trà. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khỏe mạnh và tràn đầy nghị lực. Người hơi gầy, đôi mắt hiền từ tinh anh, chòm râu bạc, giọng nói dịu dàng, bộ quần áo giản dị, đôi dép xăng-đan…

Bác Hồ tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Lênin tại Việt Nam (tháng 12/1964).

Chủ tịch hỏi chúng tôi đã có những ấn tượng gì về cuộc đi thăm. Tôi đã dịch những lời phát biểu trả lời của đồng chí Trưởng đoàn đại biểu ra tiếng Việt, đương nhiên tôi nhớ đến lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã dành cho tôi ba năm trước trong lần gặp đầu tiên. Sau đó Bác Hồ đã kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng Người đã sống ở Liên Xô. Người đã hết sức khâm phục nghị lực và chí hướng vươn tới mục tiêu, mà nhờ đó nhân dân Xôviết đã dốc lòng xây dựng một xã hội mới trong những năm hai mươi và ba mươi. Về tình hình ở Việt Nam, nơi những tên xâm lược Mỹ đã gây chiến tranh ở miền Nam và bắt đầu ném bom miền Bắc, Chủ tịch đã nói ngắn gọn: “Một khi chúng đã xâm phạm đến đất nước chúng tôi, nhân dân chúng tôi nhất định sẽ đánh đuổi được kẻ thù”. Trong đó Người nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của tình đoàn kết quốc tế với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Trong thời kỳ đó, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã có những sự bất đồng nghiêm trọng, và Hồ Chí Minh đã không đề cập đến chủ đề ấy. Đơn giản Người chỉ nhấn mạnh niềm tin của mình vào quê hương của Cách Mạng Tháng Mười.

Cuộc gặp gỡ thứ ba

Vào tháng Hai năm 1969, Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết do đồng chí Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Evghenie Chiajenikov dẫn đầu đã sang thăm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Khi đó, với cương vị là phóng viên thường trú của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) và của Báo “Sự thật Đoàn thanh niên Cômxômôn”, và đã làm việc ở Hà Nội được mấy năm, tôi được đưa vào thành phần của đoàn đại biểu này.

Chúng tôi đã đi thăm những khu vực khác nhau của miền Bắc Việt Nam, đã gặp gỡ với thanh niên trong các nhà máy, ở các vùng nông thôn, trong các trường học, trên các trận địa trực chiến và chúng tôi đã cảm nhận được hoàn toàn ý chí hướng tới chiến thắng không gì lay chuyển được của nhân dân Việt Nam, bất chấp những tội ác khủng khiếp nhất của giới quân phiệt Mỹ. Nhân dân Việt Nam Anh hùng tuân theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do”, đã giáng trả bọn xâm lược những đòn chí mạng và đã làm tất cả vì giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.

Ngày đáng nhớ 25/2/1969 ấy sẽ không bao giờ quên được. Đoàn đại biểu của chúng tôi đã có vinh dự gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc trò chuyện thân tình đã diễn ra trong ngôi nhà nhỏ một tầng, được xây dựng trong những năm chiến tranh trong khuôn viên Phủ Chủ tịch. Chủ và khách trao nhau những vòng tay ôm, những nụ hôn bè bạn, những cái bắt tay nồng ấm. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, Bác Hồ lấy ra chiếc bót thuốc lá và mời hút thuốc lá. Tôi không biết vì sao nữa – chúng tôi đã từ chối, và rồi sau đó mới hiểu ra rằng, đương nhiên là như vậy, cần phải đón nhận từ tay Người những điếu thuốc lá này như là món quà tinh thần. Bác Hồ đã không châm thuốc hút và bắt đầu cuộc trò chuyện:

– Chúng tôi rất rất vui mừng chào đón các bạn đã đến Việt Nam. Chắc các bạn đã thấy rõ là người dân chúng tôi có một tình yêu chân thành và nồng ấm như thế nào đối với nhân dân Xôviết. Khi có đất nước các bạn cùng với chúng tôi, chúng tôi tin tưởng vào tương lai hạnh phúc của mình. Hồ Chí Minh đã nói rất mặn nồng về Liên Xô, Người đã nhớ lại những sự kiện khác nhau trong cuộc sống ở Moskva.

– Hồi ấy, là thời kỳ khó khăn của những năm hai mươi và ba mươi, cũng giống như bây giờ ở đất nước chúng tôi, – Người nhấn mạnh.

– Nhưng hồi ấy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm, các bạn chỉ có một mình, còn bây giờ nhân dân chúng tôi không đơn độc…

– Sau đó những người Xôviết đã sống tốt hơn – Hồ Chủ tịch nói tiếp – Có một lần tôi đã hỏi một cô gái (Hồ Chí Minh nói bằng tiếng Nga: hỏi cô Phifa), tại sao cô ấy mặc chiếc áo choàng lụa sáng tươi, tô điểm đôi mắt và đi giày cao gót. Cô ấy đã tự hào trả lời ngay: “Chính vì tôi chịu khó làm việc và đây là do tôi làm ra”. Sau đó ở Moskva đã xuất hiện tàu điện ngầm, có thêm nhiều xe hơi…

Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh).

Hồ Chí Minh châm thuốc hút rồi bắt đầu kể về việc năm 1925 Người đã làm việc ở Quốc tế Cộng sản như thế nào, đã thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và mấy năm sau thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Vâng, tầm vóc của con người Hồ Chí Minh, tôi thiết nghĩ, hãy còn chưa được thấy rõ đến tận cùng. Phía sau Người là một cuộc đời đầy những thử thách cam go của Nhà cách mạng, của Người yêu nước và của Người chiến sĩ quốc tế vĩ đại. Người đã bị những tên thực dân Pháp kết án tử hình, đã trải qua suốt hàng chục nhà tù ở Hongkong và Trung Quốc. Từ năm 1941 Người còn tiên đoán rằng Liên Xô sẽ đánh tan nước Đức phát xít vào năm 1945, và rằng cũng vào năm đó Việt Nam sẽ giành được độc lập. Điều tiên đoán đó đã xảy ra đúng như thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh Vệ quốc chống lại những tên thực dân Pháp và những tên xâm lược Mỹ. Hồ Chí Minh đã cho chúng tôi xem một số bức ảnh ghi lại những cuộc gặp gỡ của Người với thanh niên miền Bắc Việt Nam, và với các chiến sĩ lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

– Thanh niên chúng tôi – Người nhấn mạnh, thật anh hùng, đó là lực lượng xung kích của chúng tôi.

Trên một trong những bức ảnh là hình một cô gái Việt Nam mảnh dẻ đang áp giải tên phi công Mỹ to béo.

– Rất nhiều người đến đất nước chúng tôi và họ rất ngạc nhiên, tại sao một đất nước nhỏ và kém phát triển như thế, lại đương đầu thành công cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh nói – Nhưng khi đưa bức ảnh này ra, mọi chuyện đã trở nên rõ ràng. (Về sau chúng tôi được biết rằng bức ảnh nổi tiếng này do phóng viên Phan Thoan chụp ngày 20/9/1965 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc buổi gặp mặt bằng những lời biết ơn Lênin và Cách Mạng Tháng Mười:

– Tất cả những thắng lợi của chúng tôi đều gắn liền với tên tuổi của Lênin, tất cả chúng tôi đều biết ơn quê hương của Cách Mạng Tháng Mười

(Theo Nhat-Nam.ru)

cand.com.vn

Nhân văn Hồ Chí Minh

Nhân văn được hiểu là: Chăm lo cho con người, cho sự tiến bộ của con người, hướng tới con người, giải phóng con người.

Trong nhiều hội thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đông đảo nhà khoa học khẳng định, cái bao trùm, cái cốt lõi, cái xuyên suốt tư Tưởng Hồ Chí Minh là nhân văn, là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Cốt lõi của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nhân văn. Cốt lõi của đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Hồ Chí Minh là nhân văn… Con người luôn hướng tới nhân văn. Hành trình của nhân loại là hành trình hướng tới nhân văn, tìm kiếm và hiện thực hoá nhân văn. Nhân văn Hồ Chí Minh là một điểm nổi bật trong hành trình nhân văn của nhân loại trong thời đại ngày nay bởi giá trị hiện thực cụ thể, mạnh mẽ.

Nhân văn Hồ Chí Minh là sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa nhân văn của dân tộc và nhân loại, hay có thể nói tinh hoa nhân văn của dân tộc và nhân loại kết tinh trong Người. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam kết tinh trong Người, đó là chủ nghĩa yêu nước, ý chí bất khuất đấu tranh cho độc lập, tự do; đó là truyền thống nhân ái “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Nhân văn Hồ Chí Minh có tinh hoa nhân văn của Nho giáo, của học tập, của rèn luyện, hướng tới con người: “Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân; kỉ dục lập nhi, lập nhân; kỉ dục đạt nhi đạt nhân” (điều gì mình không muốn, đừng đem điều đó làm cho người khác; mình muốn lập thân, hãy giúp cho người khác lập thân; mình muốn thành đạt, hãy giúp cho người khác thành đạt). Nhân văn Hồ Chí Minh có tinh hoa của Phật giáo, của tư tưởng vị tha, từ bi, cứu khổ, cứu nạn, của tình yêu bao la, của lòng nhân từ, bác ái mênh mông, yêu thương từ cây cỏ, chim muông… Nhân văn Hồ Chí Minh có tinh hoa nhân văn của Đức chúa Giê-su; có tinh hoa nhân văn của tinh thần tự do dân chủ tư sản tiến bộ; có tinh hoa nhân văn của chủ nghĩa nhân văn trong chủ nghĩa nhân văn của nền văn hoá “ánh sáng”, “Phục hưng”; của chủ nghĩa xã hội không tưởng và đặc biệt là nhân văn Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học.

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, giải phóng con người. Tấm gương nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện bởi chính những hành động nhân văn. Hai mươi mốt tuổi ra đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, cho nhân loại. Năm 1913, dưới chân tượng Thần Tự do ở Niu Oóc (Mỹ), Người đặt câu hỏi: “Đến bao giờ người da đen mới được bình đẳng? Đến bao giờ người phụ nữ mới được giải phóng? Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả”(1). Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người tìm thấy “con đường giải phóng” cho chúng ta. Người tin theo và coi đó là “cái bàn chỉ nam”, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Là lãnh tụ cao nhất của dân tộc, lúc còn cơ hàn “cháo bẹ, rau măng”, rồi trên cương vị đứng đầu nhà nước, đứng đầu một Đảng cầm quyền vẫn dép lốp, áo ka ki bạc màu. Lúc đồng bào còn đói, Bác kêu gọi cứu đói, đồng thời “tôi xin thực hiện trước”(2). Cả cuộc đời của Người, mỗi hành vi của Người đều lấp lánh hào quang nhân văn, là “sữa để em thơ, lụa tặng già”, là “yêu từng ngọn lúa mỗi cành hoa”, là “tự do cho mỗi đời nê lệ”(thơ Tố Hữu). Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào… Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(3). “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”(4). Trước khi qua đời, điều nuối tiếc của Người cũng là sự nuối tiếc “Không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” và còn dặn lại: “Chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi làm lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”(5).

ở Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân văn và hành động nhân văn là thống nhất. Người căm ghét những hành vi phi nhân văn của chủ nghĩa đế quốc, của bọn xâm lược và bè lũ tay sai. Người vạch trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chủ nghĩa thực dân bằng các bản án đanh thép ngay tại sào huyệt của chúng và kêu gọi dân tộc ta, thanh niên ta và các dân tộc bị áp bức “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “công việc giải phóng cho ta phải do ta tự làm lấy, không ỉ lại, không trông chờ”.

Đối với những người lầm đường lạc lối đã lỡ theo giặc chống lại cách mạng, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, Người dạy: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn, dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác, đều dòng dõi của Tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ… Ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ”(6). Bác còn dặn, đối với những người lầm đường, lạc lối, “không được báo thù, báo oán” mà phải lấy lời khôn, lẽ phải mà bày cho họ.

Trong kháng chiến, Người đứt từng đoạn ruột khi nghe tin các chiến sĩ ta hy sinh, nhưng Người cũng ngậm ngùi, thương xót cho những người Pháp đã tử vong. “Trước bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”(7). Người không muốn chiến tranh. Nhưng để bảo vệ quyền sống, quyền độc lập tự do thì phải hành động chống lại sự xâm lược, sự tàn bạo phi nhân văn.

Con đường Bác chọn cho Đảng, cho dân tộc là con đường nhân văn, con đường tự giải phóng: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(8). Người đòi hỏi Đảng phải thật sự là một Đảng nhân văn: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác”(9). Nhiệm vụ của Đảng là giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Và muốn làm được điều đó, người cán bộ đảng viên phải là người có đức, có nhân, có trí, có dũng, có liêm, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Và muốn xứng đáng là người lãnh đạo thì đảng viên và Đảng phải luôn tự rèn luyện, tự củng cố, tự chỉ trích, tự nâng cao không ngừng về trí tuệ, bản lĩnh, phong cách. Chỉ có một Đảng biết cống hiến cho dân, cho nước thì mới được nhân dân yêu mến, ca ngợi và tin theo.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, bản thân Đảng và đảng viên phải chống lại những hành động và tư tưởng phi nhân văn ngay trong tổ chức và con người mình, đó là chủ nghĩa cá nhân, đó là “vác mặt làm quan cách mạng”, quan liêu, hủ hoá, thoái hoá, tham ô, vụ lợi, lười biếng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện… Những căn bệnh đó Bác coi là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân, là “thứ giặc” ở trong lòng, phải không ngừng đấu tranh loại bỏ nó.

Trong điều kiện xây dựng đất nước, Đảng và dân tộc phải không ngừng nâng cao tri thức, trí tuệ. Bởi vì: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Bác coi dốt nát cũng là một thứ giặc. Diệt giặc dốt là một bộ phận của sự nghiệp giải phóng, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Năm 1923, Nhà thơ Xô-viết O-xíp Man đen-stam khi gặp Bác đã viết: “Từ Nguyễn ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải văn hoá châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”(10). Nền văn hoá của tương lai đó có lẽ là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thật tự hào là chúng ta có Bác. Thật vinh quang khi đi theo con đường Người chọn – Con đường của nhân loại tiến bộ, của quy luật tất yếu của lịch sử, con đường sáng ngời nhân văn Hồ Chí Minh.

Ths. NGƯT Nguyễn Thế Cường

xaydungdang.org.vn

Rèn luyện, tu dưỡng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu việc chăm lo rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, cấp uỷ các cấp đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng đảng, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đã bàn về một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, quyết định mở cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn đảng. Tuy nhiên, đến nay, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng bên cạnh những thành tựu đã đạt được so với yêu cầu còn nhiều hạn chế, những yếu kém, tiêu cực, sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, quan liêu ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn nghiêm trọng. Lối sống cá nhân, thực dụng, cơ hội, chạy theo danh vị, chức quyền, quan liêu, xa dân diễn ra khá phổ biến. Thậm chí có cán bộ, đảng viên sống quay lưng lại với dân, ăn chơi hưởng lạc, sa đọa…

Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là cấp uỷ đảng và lãnh đạo, chỉ huy các cấp chưa thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, các quy định của pháp luật, các quy định về công tác kiểm tra, thanh tra và chưa phát huy tốt tinh thần dân chủ từ cơ sở. Chậm bổ sung, cụ thể hoá và hoàn thiện các quy định về thực hiện dân chủ, pháp lệnh cán bộ, công chức, về những điều đảng viên và cán bộ không được làm, buông lỏng công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Mặt khác, không ít cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cấp cao mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, tham vọng quyền lực, danh lợi, cục bộ, bản vị, chưa gương mẫu rèn luyện bản thân, chưa tự giác và nghiêm túc thực hiện Điều lệ và các nghị quyết của Đảng. Khắc phục tình trạng trên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 17-11-2006 về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để góp phần thực hiện tốt cuộc vận động có ý nghĩa quan trọng này, xin đề xuất một số giải pháp nhằm rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên như sau:

1. Cán bộ, đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình, không ngừng tự rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, giữ gìn thanh danh, uy tín của Đảng. Muốn có đạo đức cách mạng thì từng người phải tự giác, tự trọng, tự rèn luyện theo quy tắc, chuẩn mực. Phải thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữ gìn đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cấp dưới và quần chúng nhân dân.

2. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng đoàn kết thống nhất trong chi bộ, kịp thời uốn nắn những nhận thức lệch lạc, kiên quyết đấu tranh phê phán, bác bỏ những khuynh hướng, tư tưởng sai trái. Sức mạnh của Đảng ta là sự đoàn kết, thống nhất, trước hết là thống nhất về quan điểm, đường lối của Đảng. Đó là cội nguồn sức mạnh vô địch, là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, muốn xây dựng đạo đức cách mạng phải tạo được sự đoàn kết, thống nhất, trước hết phải kịp thời phát hiện những nhận thức lệch lạc, khuynh hướng, quan điểm sai trái trong nội bộ Đảng. Mặt khác, phải nhạy bén phát hiện sự xâm nhập, chống phá của kẻ thù đối với cán bộ, đảng viên để có những biện pháp tích cực ngăn chặn tác hại của nó, nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá, biến chất, bất kể họ là ai, giữ cương vị công tác nào.

3. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, tạo môi trường lành mạnh để đảng viên phấn đấu, rèn luyện. Tăng cường công tác quản lý đảng viên, cải tiến việc đánh giá, phân tích chất lượng đảng viên, thực hiện chế độ đảng viên báo cáo thu nhập, quy định trách nhiệm của đảng viên.

Việc đánh giá đúng thực chất cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ rất khó khăn, cần phải nghiên cứu một cơ chế đánh giá cán bộ, đảng viên phù hợp với điều kiện cụ thể trong cơ chế thị trường. Mặt khác, phải nâng cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên, nhất là ở các tổ chức cơ sở đảng. Có làm tốt việc này mới giúp cho cán bộ, đảng viên tự nhìn nhận lại mình và có biện pháp khắc phục hạn chế, khuyết điểm, kể cả những vấn đề dư luận quần chúng, cán bộ, đảng viên quan tâm góp ý.

4. Thường xuyên, định kỳ kiểm tra, giám sát có hiệu quả các hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ trực tiếp lãnh đạo, quản lý các hoạt động kinh tế-xã hội.

Đảng ta là Đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng giữ những cương vị lãnh đạo của chính quyền và các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội… Muốn kiểm tra, giám sát các hoạt động của cán bộ, đảng viên, Đảng, Nhà nước phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, quy định trên tất cả các lĩnh vực công tác. Đồng thời chú trọng bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kiến thức toàn diện cho cán bộ, đảng viên, nhất là những kiến thức về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và pháp luật… Mặt khác, phải tích cực, quan tâm giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường để cán bộ chủ động, tự giác tu dưỡng, rèn luyện vượt qua được những cám dỗ.

5. Cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, là tấm gương sáng cho quần chúng học tập, noi theo. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Trước mặt quần chúng, không phải là cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước.

Trong điều kiện hiện nay, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên không chỉ thể hiện ở hiệu quả thực hiện chức trách nhiệm vụ, có lối sống trong sạch, không tham nhũng, không mắc vào các tệ nạn xã hội, mà phải gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện phản giá trị khác ở chính ngay cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác được giao làm tốt những nội dung trên, thực chất là tu dưỡng, rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đại tá, TS Đặng Nam Điền
Phó Chính uỷ
BTL Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

xaydungdang.org.vn

Chỉ dạy của Bác Hồ đối với người đứng đầu

Những năm gần đây, trong các văn bản của Đảng và Nhà nước xuất hiện khái niệm “người đứng đầu”. Sinh thời, Bác Hồ thường dùng khái niệm: “người phụ trách”, “thủ trưởng”.

Theo định nghĩa của một số từ điển Hán Việt thì “phụ trách” là nhận gánh vác, chịu trách nhiệm về một nhiệm vụ, công tác nào đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm cao nhất của cơ quan, tổ chức đó.

1. Do đâu mà có người đứng đầu?

Có người cho rằng mình có tài, có đức, cơ quan, tổ chức có nhu cầu thì mình được đề bạt làm người đứng đầu. Điều đó là lẽ đương nhiên nhưng chưa phải tất cả. Không ít người khi được đề bạt đã không biết ngoái nhìn quá khứ để hiểu thấu cái nôi sinh ra mình, chỉ biết có hôm nay và chặng đường phía trước mà quên cuộc cách mạng của nhân dân do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, quên sự hy sinh công sức, tiền của, xương máu của biết bao thế hệ mới có cơ đồ, sự nghiệp hôm nay. Ngày 28-5-1948, khi chủ trì lễ phong hàm đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và cấp tướng cho một số đồng chí khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao hy sinh, cố gắng của đồng bào, đồng chí. Chúng ta phải cố gắng, phải quyết giành được độc lập, tự do cho thỏa lòng những người đã mất”(1). Trong một lần khác, khi nói chuyện với các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Người còn nói: Các chú có công trạng, có thành tích, được phong cấp tướng, cấp tá nhưng các chú có biết câu “Nhất nhật công thành vạn cốt khô” không? Câu ấy có nghĩa là mỗi một thành công trên con đường công danh của các chú là nhờ có sự hy sinh của hàng vạn đồng bào, chiến sĩ.

Do yêu cầu mới của cách mạng và do quy luật của thời gian mà thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, trong đó có những người được giao trọng trách là người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Khi đã có quyền lực trong tay, một số người đã quên rằng quyền lực mà họ đang nắm giữ vốn không phải là của cá nhân họ (quyền lực nhà nước vốn không phải của riêng bất cứ người nào). Tất cả quyền bính trong nước là của nhân dân. Nhân dân ủy thác cho họ đại diện để sử dụng quyền lực thực hiện nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó. Quên điều đó, người ta dễ sinh tự kiêu, tự mãn, “khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân”(2). Được trao quyền quản lý, chi tiêu một khối lượng tiền của, tài sản nào đó, một số người đã cậy quyền thủ trưởng quyết định tất cả, bất chấp kỷ cương, phép nước, chỉ “lo chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị và công tác của mình mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công. Đạo đức cách mạng thế nào, dư luận chê bai thế nào cũng mặc”(3). Trong công tác nhân sự thì đối với bản thân “cố tranh cho được ủy viên này chủ tịch kia”, đối với xã hội thì giữ thói “một người làm quan, cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này, việc kia, làm được hay không mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”(4). Nhiều lần Bác Hồ đã dạy, việc nước là việc chung, tài sản của Nhà nước là của chung nhân dân chứ không phải của riêng ai, của dòng họ nào. Vì vậy, người đứng đầu phải phục tùng tổ chức, nêu gương sáng giữ gìn và bảo vệ tài sản của công, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc và nhân dân, phải chí công vô tư.

2. Sinh ra người đứng đầu để làm gì?

Đã là xã hội thì ắt phải có tổ chức, có tổ chức thì phải có lãnh đạo và quản lý, cơ chế làm việc và người đứng đầu. Lãnh đạo là dẫn dắt, phát triển cơ quan, tổ chức đúng hướng, bày tỏ quyết tâm, duy trì các chuẩn mực, là làm việc với con người (tổ chức, dẫn dắt, giáo dục, thuyết phục, cảm hóa, đoàn kết, tạo sự đồng thuận…). Vì vậy, lãnh đạo phải tập thể, người đứng đầu cơ quan, tổ chức là một thành viên của tập thể lãnh đạo. Bác Hồ đã dạy “vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người…

ý nghĩa của tập thể lãnh đạo rất giản đơn, chân lý của nó rất rõ rệt. Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc” là nghĩa đó”(5).

Nhưng khi đã có hội nghị, đã bàn thảo, có nghị quyết của tập thể rồi thì phải thi hành, phải có người chỉ huy, điều khiển. “Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy…

Vì lẽ đó, cho nên lãnh đạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần phải cá nhân”(6).

Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng và Nhà nước ta là lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách. Nhưng không ít tổ chức đảng đã không duy trì nghiêm túc chế độ lãnh đạo tập thể, một số người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã phớt lờ (thậm chí vô hiệu hóa) sự lãnh đạo của tập thể, cấp ủy, độc đoán, chuyên quyền dẫn tới tình trạng lãng phí, thất thoát, hư hao tài sản của Nhà nước, tham nhũng, gian lận… và bản thân họ cũng không được tập thể kiểm tra, giám sát, uốn nắn, giúp đỡ nên dần dần trở thành kẻ hư hỏng, sa đọa, biến chất.

Tóm lại “lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.

Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc”(7).

Chính vì cần tổ chức thực hiện mà phải đặt ra chế độ thủ trưởng, một người đứng đầu để họ phụ trách công việc, chịu trách nhiệm trước cấp trên, cấp dưới, nhân dân và pháp luật. “Bất kỳ công tác gì, chiến tranh, sản xuất, giáo dục, kiểm soát v.v, cơ quan lãnh đạo cấp trên cần phải kinh qua những người phụ trách chung của cơ quan lãnh đạo cấp dưới, mỗi khi có việc gì liên quan đến một ngành hoạt động nào đó thuộc cấp dưới. Có như thế, mới đạt được mục đích phân công mà thống nhất”(8). Sinh ra người đứng đầu là để họ phụ trách, chịu trách nhiệm. Họ được giao cho một số quyền hành nhưng quyền đó bao giờ cũng có giới hạn và phải thực hiện một nghĩa vụ – nghĩa vụ của người thừa hành, chấp hành sự lãnh đạo của tập thể, của cấp trên. Quyền bao giờ cũng gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm. Người thủ trưởng (đứng đầu) không thể khi công việc thành công thì “nhô cao đầu lên” nhận vinh quang, thành tích thuộc về mình; khi khuyết điểm, thất bại thì “hạ thấp đầu xuống”, ẩn nấp sau bức bình phong tập thể, đổ trách nhiệm cho tập thể, cho cấp phó. Chính V.I.Lênin từng phê phán tình trạng này, Người đã coi đó là thói láu cá, khôn vặt của mấy ông cấp trưởng, còn tổ chức thì bất lực.

Cần trao quyền và trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu, kiểm tra, giám sát họ và có chế tài thích đáng đối với những khuyết điểm, sai lầm của đơn vị do họ đứng đầu; người đứng đầu vui mừng phấn khởi nhận chức vụ, có gan sử dụng quyền lực thì cũng phải có dũng khí, can đảm nhận trách nhiệm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước và sự phán xét của công luận. Đó là lẽ tự nhiên, biểu hiện của sự công bằng, dân chủ và văn minh trong chế độ chúng ta.

3. Những người đứng đầu cần phải có phẩm chất gì?

Trước hết, họ phải có những phẩm chất của người cán bộ cách mạng như Bác Hồ đã dạy, Đảng và Nhà nước đã có các quy định rõ ràng, pháp lệnh cán bộ công chức đã xác định cụ thể. Nhưng đối với những người đứng đầu thì đòi hỏi của tổ chức và nhân dân đối với họ ở mức độ cao hơn, nghiêm ngặt hơn, ở sự nêu gương và dẫn dắt. Bác Hồ đã nhắc nhở “các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”(9).

Trong tình hình hiện nay, vấn đề tư tưởng, thái độ của người đứng đầu cần phải được đặt ra một cách bức thiết. Người đứng đầu là người có trách nhiệm giáo dục tư tưởng cho cán bộ, công chức, nhân viên cấp dưới nhưng lại đứng ngoài sự giáo dục, rất ít lắng nghe và tìm cách để biết lắng nghe những ý kiến mang tính khuyên răn, nhắc nhở của tổ chức đảng, của những người xung quanh, của cấp dưới và quần chúng. Cần phải nhắc lại lời dạy của C.Mác: Đã đến lúc các nhà giáo dục cũng cần được giáo dục, và của Hồ Chí Minh: “Muốn hướng dẫn nhân dân mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…

Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính.

Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”(10).

4. Làm thế nào để có người đứng đầu xứng đáng?

Trước hết là phải thực hành dân chủ, đồng thời xử lý, chấm dứt ngay các hiện tượng “các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh cậy thế cậy quyền… khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng”(11). Đảng và Nhà nước không chỉ bằng sự giáo dục, thuyết phục, kêu gọi lòng tự giác, hướng thiện mà còn phải cưỡng chế, răn đe bằng pháp luật đối với những ai “làm quan cách mạng, chợ đỏ chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia”(12).

Cần đặt mọi người, không ngoại trừ ai trong bộ máy quyền lực của Nhà nước, dưới sự kiểm soát chặt chẽ và nghiêm túc theo nguyên tắc công khai, minh bạch (Bác Hồ gọi là “quang minh chính đại”). Kiểm soát cấp trên trước, cấp dưới sau, trong sạch cấp trên để chấn chỉnh cấp dưới, làm gương cho cấp dưới như Bác Hồ từng dạy và nêu gương. Cha ông ta từng tổng kết “thượng bất chính, hạ tắc loạn” và chắc chắn là: Thượng chính thì hạ yên.

Có nhiều việc phải làm, phải kiên trì không thể nôn nóng nhưng cũng có những việc có thể làm ngay. Ví dụ, trong công tác phê bình, tự phê bình không nên nói chung chung mà cần rõ địa chỉ. Theo Bác Hồ thì phê bình việc chứ không phê bình người. Cần chỉ rõ việc ấy giao cho ai, ai làm, làm đúng hay sai, kết quả tốt hay xấu? Ai chịu trách nhiệm? Việc xóa bỏ chế độ bao cấp, đối với số đông cán bộ, công chức chúng ta đã làm xong nhưng với thủ trưởng, với cấp trên thì còn nhiều việc chưa làm đến nơi, đến chốn. ở đây không chỉ là vấn đề tài sản, công quỹ, tiền bạc mà quan trọng hơn là còn bao cấp, còn mập mờ thì uy tín của người được bao cấp còn bị xói mòn. Công khai chế độ, chính sách thực hiện nghiêm, không xuê xoa, nể nang bất cứ ai, càng thủ trưởng cấp trên càng phải gương mẫu, làm được như vậy thì kỷ cương, phép nước mới được duy trì. Quần chúng nhân dân rất sáng suốt, không có việc gì khuất tất có thể che mắt được dân chúng.

Chống thói hư, tật xấu của người đứng đầu trong bộ máy công quyền không phải là việc dễ, bởi vì những thói hư, tật xấu ấy là “giặc ở trong lòng” đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ “ngoại công, nội kích”. Nhưng Đảng và Nhà nước ta tin dân, dựa vào dân, “khó vạn lần dân liệu cũng xong”, vậy thì tại sao chúng ta không sớm bổ sung cơ chế để nhân dân, cán bộ và quần chúng cấp dưới bày tỏ sự tín nhiệm với người đứng đầu cơ quan, đơn vị mà không sợ bất cứ một sự trù úm nào?

Suy cho cùng, đó cũng là cách xây dựng, bảo vệ, giữ gìn uy tín cho người giữ trọng trách đứng đầu cơ quan, tổ chức của chúng ta.

——

(1) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, NXBCTQG, H.1994, tập 4, tr.203. (2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.72. (3,4) Sđd, tr.74. (5,6,7) Sđd, tập 5, tr.504-505. (8) Sđd, tr.291. (9) Sđd, tập 6, tr.480. (10) Sđd, tập 5, tr.552. (11) Sđd, tập 4, tr.47. (12) Sđd, tập 5, tr.61.

TRẦN ĐÌNH HUỲNH
TRỊNH QUANG CẢNH

xaydungdang.org.vn

Nguyên tắc xây dựng đảng – một biểu hiện đặc sắc của văn hóa Hồ Chí Minh

Từ trước đến nay, nhất là từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (1986), trong các đại hội của mình, Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu các chủ trương đổi mới, chỉnh đốn và xây dựng Đảng, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác tổ chức. Tổ chức là khoa học về con người mà ở đây là sự liên kết những con người tiên tiến, những con người mang trong mình một tinh thần cách mạng và tinh thần khoa học của thời đại. Đó không phải là một sự liên kết bất kỳ, nó phải tuân theo những nguyên tắc khách quan biểu hiện văn hoá của một “Đảng chân chính cách mạng”.

Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Những nguyên tắc xây dựng Đảng mà Người xác định và thực hiện là một biểu hiện đặc sắc của văn hoá chính trị. Sự thăng trầm của lịch sử Đảng, của lịch sử dân tộc do Đảng lãnh đạo từ đầu thế kỷ XX tới nay đã chứng minh hào hùng hệ giá trị văn hóa chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, trong đó những nguyên tắc tổ chức là kết tinh rực rỡ và then chốt nhất.

Theo lịch sử thời gian, chúng tôi nhận thấy:

Khi chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930), trong bản Điều lệ tóm tắt (do Người soạn thảo được Hội Nghị nhất trí tán thành), Hồ Chí Minh đã xác định: “Bất cứ vấn đề nào (TQC nhấn mạnh) đảng viên đều phải hết sức thảo luận và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả phải phục tùng mà thi hành”(1). ở đây, đã biểu hiện một tinh thần dân chủ trong Đảng như là một nguyên tắc bắt buộc và là cơ sở để ra quyết định. Đồng thời, dân chủ vừa là quyền lợi lại vừa là nghĩa vụ của đảng viên.

Cũng trong bản Điều lệ vắn tắt này, một trong những vấn đề quan trọng là kỷ luật đảng viên cũng được quy định một cách dân chủ: Không một cá nhân nào có quyền ra quyết định “xử phạt người có lỗi trong Đảng”. Quyền quyết định đó thuộc về tập thể cấp uỷ. (“Hội Chấp hành uỷ viên” hay “Đại biểu đại hội”).

Tháng 10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Trần Phú chủ trì, tuy đã thay “Chính cương sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt” của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng Cương lĩnh chính trị Đảng Cộng sản Đông dương, nhưng trong Điều lệ, về cơ bản, nguyên tắc xây dựng Đảng vẫn thể theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: “Đảng Cộng sản Đông Dương… phải tổ chức theo lối dân chủ tập trung”. Đại hội Đảng lần thứ nhất (1935), dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Hồng Phong, Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương được Đại hội thông qua cũng đã ghi rõ nguyên tắc xây dựng Đảng là “dân chủ tập trung”.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), Hồ Chí Minh đã phê bình cách lãnh đạo không được dân chủ, “Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình…

Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và “những thói xấu khác”(2).

Lãnh đạo thì phải kiểm soát. “Đó là kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ tập trung, phê bình và tự phê bình, những nguyên tắc mà Đảng phải thực hành triệt để”(3).

Năm 1951, trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Hồ Chí Minh viết: “Về tổ chức, Đảng Lao động Việt Nam theo chế độ dân chủ tập trung”. Trong báo cáo này, Người không xếp “phê bình và tự phê bình” vào nguyên tắc tổ chức nhưng Người lại xác định nó là “luật” trong Đảng. Luật ở đây, theo chúng tôi có thể hiểu theo hai nghĩa: “Luật” là quy luật và “luật” là sự bắt buộc phải theo. Người viết “Về luật phát triển, Đảng Lao động Việt Nam dùng lối phê bình và tự phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục quần chúng”(4). Tư tưởng Người đã được thể hiện ở trong Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam (Đại hội II).

Năm 1953, trong sách “Thường thức chính trị” Hồ Chí Minh đã chỉ rõ dân chủ tập trung cũng là nguyên tắc tổ chức của chính quyền Nhà nước các cấp. “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ.

Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung.

Từ Hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung.

Chế độ dân chủ tập trung khiến cho toàn thể nhân dân (công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc) đều trở nên chủ nhân chân chính của nước nhà, đều đoàn kết để kháng chiến, kiến quốc”(5).

Cũng trong sách này, khi nói về nền tảng tổ chức của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: Có đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”(6).

Người nhấn mạnh: Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp, tổ chức thống nhất lại theo nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc ấy tức là dân chủ tập trung. Nghĩa là “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”. Người nhấn mạnh: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật”(7). ở đây, Người không tách phê bình, tự phê bình thành một nguyên tắc riêng nhưng lại coi nó như là nội hàm của dân chủ.

Trong Lời bế mạc Hội nghị lần thứ 9 (mở rộng) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (đọc ngày 24-4-1956) Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến vấn đề dân chủ, phê phán tệ quan liêu, độc đoán chuyên quyền và bệnh sùng bái cá nhân. Người khẳng định: “Phải định rõ chế độ làm việc, đảm bảo nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng tức là tập thể lãnh đạo”(8), nhưng Người lại lưu ý: “Tập thể lãnh đạo phải đi đôi với cá nhân phụ trách”(9). Đến Hội nghị lần thứ 11 (mở rộng) của Đảng Lao động Việt Nam, trong lời bế mạc, Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh: “Cố gắng để tăng cường sự lãnh đạo tập thể của Trung ương, để mở rộng dân chủ trong Đảng”(10). Như vậy, tập thể lãnh đạo, nhất là tập thể lãnh đạo của Trung ương là điều kiện cần để mở rộng dân chủ.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960) tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, trong Điều lệ Đảng đều ghi nguyên tắc xây dựng Đảng là tập trung dân chủ.

Đáng chú ý là năm 1960, Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng, tuy trong Điều lệ ghi nguyên tắc xây dựng Đảng là tập trung dân chủ, nhưng nội hàm của nó vẫn thống nhất với những điều Hồ Chí Minh đã từng xác định, và trong tất cả các bài nói và viết của Người cho tới khi Người qua đời, Người vẫn nhất quán nhấn mạnh nội hàm của khái niệm ấy. Ví dụ, năm 1961, khi nói về đảng viên, cán bộ, Người nhắc nhở: “Trong công việc thì phải lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”(11). Nếu không, sẽ dẫn tới tình trạng “ai cũng phụ trách mà không ai phụ trách”. Đặc biệt, khi nói về sự lãnh đạo của Đảng, các cấp uỷ phải có tinh thần phụ trách. Theo Hồ Chí Minh, “Muốn như thế thì phải nắm vững nguyên tắc: Một là, nguyên tắc đoàn kết nội bộ. Hai là, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Muốn làm tốt việc ấy còn phải… dân chủ nội bộ. Muốn dân chủ nội bộ tốt thì cần… phải phê bình, tự phê bình. Cái này nó dính cái khác”(12). Nhiều lần Người nói: “Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ, mở rộng tự phê bình và phê bình. Tăng cường chế độ lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách”(13).

Khi Hồ Chí Minh 75 tuổi (1965), trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (Bản thảo Di chúc) Người viết: “Trước hết nói về Đảng… các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con người của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng…”(14).

Nếu nhân gian suy tôn Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc thì chính vì Người đã cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh quyền làm chủ của dân tộc ta và của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Nếu nhân gian suy tôn Hồ Chí Minh là nhà văn hoá kiệt xuất thì chính vì một trong những giá trị văn hoá mà Người đã góp vào dòng chảy chung của văn hoá nhân loại là văn hoá chính trị, là dân chủ.

Nếu nhiều nhà hoạt động chính trị danh tiếng ca ngợi Hồ Chí Minh là “người chiến sỹ lỗi lạc nhất của phong trào cộng sản quốc tế”(15) thì chính vì Người đã nâng quan hệ của những người đồng chí trong nội bộ Đảng Cộng sản lên một tầm văn hoá mà không một tổ chức chính trị nào có được. Đó là thực hành dân chủ rộng rãi, là tình đồng chí thương yêu và giải quyết mọi công việc có lý, có tình, là giúp nhau cùng tiến bộ, là giữ gìn Đảng “thật trong sạch”, luôn luôn “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(Di chúc).

Để có một Đảng Cộng sản như thế, theo Hồ Chí Minh thì cần phải tổ chức và xây dựng Đảng theo nguyên tắc:

Dân chủ tập trung…

Theo Hồ Chí Minh “dân chủ tập trung” là một khái niệm trong đó dân chủ và tập trung có quan hệ biện chứng với nhau, dân chủ được xác định là nền tảng của tập trung.

Nội hàm của nguyên tắc dân chủ tập trung rất rộng, nó bao gồm được cả 6 điểm như điều 9 trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội IX thông qua.

Thực tiễn của Đảng ta và của các Đảng Cộng sản khi đã trở thành đảng cầm quyền đã minh chứng hùng hồn những nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng do Hồ Chí Minh đề ra và thực hành là đúng đắn. Sự đúng đắn ấy đã trở thành một phần trong hệ giá trị văn hoá chính trị Hồ Chí Minh: Văn hoá dân chủ.

______

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2002, tập 3, tr.7. (2) Sđd, tập 5, tr.243. (3) Sđd, tập 5, tr.288. (4) Sđd, tập 6, tr.174. (5) Sđd, tập 7, tr.218-219. (6) Sđd, tập 7, tr. 229. (7) Sđd, tập 7, tr.240-241. (8,9) Sđd, tập 8, tr.157. (10) Sđd, tập 8, tr.274. (11) Sđd, tập 10, tr.285. (12) Sđd, tập 10, tr.443. (13) Sđd, tập 10, tr.452. (14) Sđd, tập 12, tr.497-498. (15) Điện chức mừng 70 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh của Chủ tịch Mao Trạch Đông, Uỷ viên trưởng Chu Đức, Thủ tướng Chu Ân Lai.

TRỊNH QUANG CẢNH

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng dân là chủ, Đảng là đầy tớ của nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã để lại những di huấn quan trọng cho cách mạng và Đảng ta, một trong những giá trị quý báu đó là tư tưởng dân là chủ, Đảng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, trong những khoá đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định mục đích của lớp học là đào tạo cán bộ, đưa họ trở về nước để giáo dục, giác ngộ, tổ chức nhân dân đấu tranh giải phóng đồng bào thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, lập ra chính quyền dân chủ nhân dân. Trong Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng ta xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn, đề ra chương trình hành động của Đảng. Nội dung các văn kiện đó toát lên mục tiêu hành động của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Trong suốt 24 năm giữ cương vị cao nhất cơ quan đảng và nhà nước, bên cạnh khẳng định vai trò làm chủ đất nước của nhân dân, Hồ Chí Minh thường huấn thị cho cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện và phấn đấu, xứng đáng là đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng dân là chủ được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần sau khi nước độc lập, khi miền Bắc xây dựng CNXH. Dân là chủ, nghĩa là trong xã hội Việt Nam, nhân dân là người chủ của nước, nước là nước của dân. Các cơ quan đảng và nhà nước là tổ chức được dân uỷ thác làm công vụ cho dân. Dưới chế độ thuộc địa, nhân dân ta bị một cổ ba tròng, bị thủ tiêu hết mọi quyền dân chủ. Trong xã hội đó, quyền con người, quyền dân tộc bị kẻ thù chà đạp thô bạo, dã man. Lật đổ chính quyền thực dân đế quốc, lập chính quyền mới – chính quyền nhân dân trở thành mục tiêu trực tiếp của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ cao cả của Đảng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”(1). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng nghĩa lý gì. Giá trị cao nhất của độc lập dân tộc là đem lại quyền làm chủ thực sự cho dân, phải trao lại cho dân mọi quyền hành.

Trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh coi nhân dân là người “chủ”, nghĩa là dân có quyền được hưởng mọi quyền con người, có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm, có nghĩa vụ tuân theo pháp luật, có quyền tự do lựa chọn và đi theo con đường cách mạng chân chính. Nhân dân có quyền ứng cử, đề cử đại biểu vào cơ quan nhà nước, đồng thời có quyền “bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(2). Nhân dân có quyền trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mọi công việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia, dân tộc phải được công khai bàn bạc với dân, do dân quyết định. Trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của mình. Những biểu hiện xem thường, thủ tiêu các quyền dân chủ đều trái với tư tưởng dân là chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi bàn về mục tiêu hoạt động, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng không có mục tiêu nào khác là đem lại lợi ích cho dân. Để thực hiện được mục tiêu đó Đảng phải thu phục, chinh phục được nhân dân, muốn vậy Đảng phải làm tròn trách nhiệm đày tớ của nhân dân. Đày tớ là công bộc của dân, với nội hàm là vì lợi ích chung mà gánh vác việc dân, trung thành và tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân.

Trong quan hệ giữa Dân và Đảng, Hồ Chí Minh quy vào quan hệ chủ và đày tớ. Chủ là dân, đày tớ là Đảng. Nói đày tớ nghĩa là nói tới đức trung thành của Đảng với dân, thể hiện ở sự hiểu biết lợi ích, tâm tư nguyện vọng của dân, biết giải quyết đúng đắn, kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiến trình cách mạng Việt Nam luôn không ngừng vận động, với những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, theo đó nguyện vọng của dân cũng có bước phát triển theo dòng thời gian. Khi nước mất, nhân dân Việt Nam trở thành người nô lệ, nhiệm vụ của Đảng là tập trung lãnh đạo nhân dân lật đổ chính quyền thực dân, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách thống trị thực dân, lập chính quyền mới, đem lại quyền làm chủ cho nhân dân. Khi nước độc lập rồi thì Đảng phải nắm bắt và giải quyết kịp thời những nhu cầu trực tiếp mà nhân dân đặt ra như: Ăn, ở, học hành, chữa bệnh v.v… Nếu dân đói, dân rét thì đó là lỗi của Đảng và Chính phủ. Đối với hoạt động của cán bộ, đảng viên, Người thường nhắc nhở “việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(3). Đức trung thành của Đảng với dân gắn liền với vận mệnh của nước. Khi đất nước bị chia cắt thành hai miền, thì sự trung thành của Đảng với dân thể hiện ở việc lãnh đạo giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nếu nước mất thì nhà tan; nước độc lập thống nhất thì dân mới có quyền hưởng tự do, hạnh phúc. Vì vậy, việc giải quyết lợi ích của dân phải gắn đồng thời với giải quyết những vấn đề về sinh mệnh của dân tộc, có như vậy Đảng mới làm đúng nghĩa trung với dân.

Là đày tớ của dân, Đảng và Nhà nước phải tận tâm, tận lực đối với dân trong từng việc làm. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Không chỉ thấm đượm trong từng lời nói, Hồ Chí Minh đã biến tư tưởng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thành hành động cách mạng, trọn đời vì nước, vì dân. Sự hy sinh cao cả cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh trở thành tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, Người trở thành hiện thân của truyền thống kính dân, yêu dân của Đảng ta. Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư nguyện vọng và lợi ích của dân.

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu vô cùng quan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân rất quan trọng là Đảng luôn kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, lấy phục vụ nhân dân làm nhiệm vụ cao nhất theo đúng Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân là chủ và “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(4).

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.270. (2) Sđd, tập 9, tr.591. (3) Sđd, tập 4, tr.22. (4) Sđd, tập 12, tr.510.

Ths CHẾ ĐÌNH QUANG

xaydungdang.org.vn

Xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tượng Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai: Ảnh gialai.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, luôn đặc biệt chú ý giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên ý thức bảo vệ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Người khẳng định: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Tư tưởng của Người về đoàn kết thống nhất của Đảng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc tổ chức kỷ luật trong Đảng với tình thương yêu đồng chí mang đậm nét văn hoá phương Đông, giữa truyền thống dân tộc và phẩm chất tiên tiến của giai cấp công nhân.

Giáo sư Trần Văn Giàu nói: “Đến Cụ Hồ thì đại đoàn kết được xây dựng trên cả một lý luận chứ không còn đơn thuần là tình cảm tự nhiên của người trong một nước phải thương nhau cùng”(1). Theo số liệu thống kê, trong 1.921 bài viết của Bác có tới 839 bài Bác đề cập đến vấn đề đoàn kết thống nhất và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, vấn đề đoàn kết trong Đảng được Bác nhắc đi, nhắc lại tới 16 lần. Trong “Di chúc” thì thuật ngữ “đoàn kết” được Bác nhấn mạnh 7 lần. Bác căn dặn “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2). Đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ là “đoàn kết một chiều”, “bằng mặt mà không bằng lòng”, “liên minh”, lúc cần thì hợp lực, không cần thì tìm cách lật đổ nhau… mà phải là đoàn kết có lý, có tình – tình cảm cách mạng trong sáng, tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Bác từng nói: “Toàn Đảng, toàn dân đồng sức đồng lòng thì khó khăn gì cũng nhất định khắc phục được”(3).

Với Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng phải là một chiến lược lâu dài, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam: “Nội bộ Đảng phải đoàn kết nhất trí, đoàn kết không phải ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình giúp nhau tiến bộ”(4). Bác luôn tâm niệm, Đảng ta tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người và nhờ vậy “Cách mạng nhất định thành công. Ta thành công chính vì ta đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng”(5).

Bác khuyên các đồng chí trong Đảng phải thương yêu đoàn kết, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi, cục bộ, kèn cựa… “Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi”(6).

Có thể nói, xây dựng, củng cố và tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm lớn lao của toàn thể cán bộ, đảng viên, trước hết là của những cán bộ chủ chốt.

Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh, thật sự đoàn kết thống nhất thì mới đảm bảo sự lãnh đạo, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng đến bến bờ thắng lợi. Do đó, mỗi đảng viên phải nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sự đoàn kết thống nhất, tự giác rèn luyện đạo đức cách mạng, năng lực hoạt động để góp sức xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đồng tâm nhất trí, đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Hiện nay, để bảo vệ và giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng “như giữ gìn con ngươi của mắt mình” cần thực hiện nhiều giải pháp, trong đó:
1. Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân.

Tự phê bình và phê bình không những là vũ khí sắc bén mà còn là động lực bên trong giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, công khai, chân thành. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7). Do đó, tự phê bình và phê bình cần tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên, phê bình việc chứ không phê bình người và phê bình phải thường xuyên như “rửa mặt hằng ngày”. “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”(8).

2. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đề cao tính tổ chức và kỷ luật trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng.

Dân chủ trong Đảng là phải làm cho tất cả đảng viên đóng góp ý kiến của mình cho Đảng với ý thức trách nhiệm xây dựng trong nguyên tắc sinh hoạt đảng. Các cấp uỷ đảng phải bảo đảm dân chủ từ cơ sở. Mặt khác, từng cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm đóng góp ý kiến vào những vấn đề chung, nhất là những vấn đề thuộc về đường lối, chính sách và giải pháp thực hiện. Thực hiện tập trung dân chủ thực sự trong sinh hoạt đảng nhằm tạo cơ sở bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

3. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hiện tượng mất đoàn kết và nguyên nhân dẫn đến mất đoàn kết, thực hiện tốt chế độ thi đua khen thưởng và kỷ luật của Đảng.

Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Công tác kiểm tra giúp cho các cấp uỷ kịp thời phát hiện và ngăn chặn nguyên nhân, hiện tượng mất đoàn kết. Bên cạnh đó, tổ chức thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng có tác dụng kịp thời động viên, khích lệ những tập thể, cá nhân, cán bộ, đảng viên có thành tích trong xây dựng khối đoàn kết thống nhất, nhắc nhở giáo dục cán bộ, đảng viên không ngừng xây dựng, vun đắp cho khối đoàn kết thống nhất.

4. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực của đội ngũ đảng viên, đủ uy tín và khả năng quy tụ đội ngũ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong tổ chức đảng.

Cán bộ quyết định sức mạnh và hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Người cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có năng lực, trình độ, uy tín mới có thể tập hợp, tổ chức, quy tụ được sức mạnh đội ngũ đảng viên và quần chúng. Cùng với việc quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ, công tác đánh giá, quản lý cán bộ cần phải được chú trọng hơn, phải quan tâm bồi dưỡng thường xuyên kiến thức về công tác tổ chức, cán bộ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất trong Đảng mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để mỗi chúng ta phấn đấu, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao ý thức đoàn kết góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

____

(1) Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Tư tưởng Hồ Chí Minh xuất bản, H.1993, tập 2, tr.34. (2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.510. (3) Sđd, tập 10, tr.545. (4) Sđd, tập 9, tr.400. (5) Sđd, tập 11, tr.467. (6) Sđd, tập 5, tr.238. (7) Sđd, tập 5, tr.261. (8) Sđd, tập 5, tr.232.

NGUYỄN THỊ NGỌC CẢNH
Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực III

xaydungdang.org.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Giai cấp nông dân

1. “Thực túc thì binh cường!”

Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất.

Ruộng rẫy là chiến trường

Cuốc cày là vũ khí,

Nhà nông là chiến sĩ,

Hậu phương thi đua với tiền phương.

 

Thư gửi nông dân thi đua canh tác, tháng 2-1951, sđd, t.6, tr. 178.

 

2. … Phải củng cố hợp tác xã cho tốt. Muốn hợp tác xã tốt, phải thế nào? Phải nâng cao tinh thần làm chủ: làm chủ xóm làng, làm chủ hợp tác xã, làm chủ đất nước… Nay dân đã là chủ. Nhưng phải cho ra người chủ, chứ không thể phất phơ được. Mọi người đều có trách nhiệm làm cho dân giàu nước mạnh, quốc phòng vững mạnh. Làm chủ hợp tác xã là thế nào? Là phải coi công việc của hợp tác xã như công việc của mình, chứ không phải làm sao cũng được.

 

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (Nghệ An), ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 455.

 

36. … Các hợp tác xã đều phải:

– Đoàn kết chặt chẽ, giữa xã viên với nhau, đoàn kết giữa ban quản trị và xã viên.

– Thực hành dân chủ, nghĩa là công việc đều phải bàn bạc với xã viên, cán bộ không được quan liêu, mệnh lệnh.

– Tài chính phải công khai, tuyệt đối chống tham ô, lãng phí.

Các hợp tác xã phải làm thế nào để các xã viên đều thấy rằng mình là người chủ tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã. Có như thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất, và hợp tác xã sẽ tiến bộ không ngừng.

 

Nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình ngày 1-1-1967, sđd, t.12, tr. 195.

quangbinh.gov.vn

Lẽ sống giản dị của Bác Hồ

Có một nhà văn đã viết: Một con người vĩ đại, nhiều khi vĩ đại ngay trong công việc bình thường. Chúng ta có thể nghĩ tới lời ca trong một bài hát:

Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ,
Bác đi từ ở chiến khu Bác về.
Phố phường trận địa, nhà máy đồng quê, đều in dấu dép Bác về, Bác ơi!

Với những người bạn nước ngoài, một vị Chủ tịch nước nổi tiếng như Bác lại đi một đôi dép cao su là điều rất lạ. Ngày Bác sang thăm Liên Xô, một cháu thiếu nhi đã viết thư cho Bác: Sao Bác không đi giầy? Mỗi thiếu nhi Liên Xô chúng cháu góp một cô-pếch thì Bác đi giầy suốt đời không hết.

Một nhà văn An-giê-ri đã viết một vở kịch về Bác với cái tên “Người đi dép cao su”. Một đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Nhật Bản khi sang thăm Việt Nam đã viết: Hai bàn chân của đồng chí Hồ Chí Minh thu hút tâm trí tôi. Tôi nghĩ: Hai bàn chân này đã đi khắp thế giới.

Khi Bác đã đi xa, nhà thơ Tố Hữu viết:

Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn.
Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn.
Và: Tôi viết bài thơ cho các con
Mai sau được thấy Bác như còn
Phơ phơ tóc bạc chòm râu mát
Đôi dép mòn đi in dấu son.

Ở cuối bài thơ ấy, Tố Hữu xúc động:

Còn đôi dép cũ mòn quai gót
Bác đã từng đi khắp thế gian.

Ngày nay, “đôi dép Bác Hồ” đã trở thành một kỷ vật thiêng liêng, vô giá Bác để lại cho con cháu. Hằng ngày những dòng người nối tiếp nhau vào Lăng viếng Bác đều thấy đôi dép ấy được đặt trong lồng kính, dưới chân Người.

Bác Hồ của chúng ta đi đôi dép cao su, bởi Bác giản dị, tiết kiệm. Một lần các đồng chí phục vụ thấy đôi dép Bác đi đã mòn, liền thưa với Bác xin được mua một đôi dép mới cho Bác. Bác nói: Không phải vì Bác sợ tốn kém mà vì đôi dép Bác đang đi vẫn còn dùng được. Ở gần Bác lâu ngày các đồng chí phục vụ nhận ra một điều, không phải Bác có thêm một bộ quần áo mới, một đôi dép mới, thì đất nước nghèo đi mà vì một lẽ, Bác muốn chia sẻ với cuộc sống còn thiếu thốn của hàng triệu nhân dân. Năm 1946, Bác sang Pháp đàm phán, thấy Bác mặc đơn sơ quá, các nhà báo đã ngạc nhiên. Nhưng Bác nói: Tôi mặc thế này, bởi nhân dân tôi vừa qua khỏi cảnh mất nước, đời sống còn thiếu thốn nhiều. Bởi vậy, đến bây giờ một số người nước ngoài đến thăm nhà Bác, trong tủ chỉ thấy mấy bộ quần áo, vài đôi dép, một đôi giầy thì rất ngạc nhiên: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có thế này thôi ư?

Đọc hồi ký của các đồng chí đã từng phục vụ Bác, chúng ta xúc động thấy việc ăn uống của Bác rất dân dã: một món ăn mặn, một bát canh, tương cà là đủ. Bác tự chọn cho mình căn phòng nhỏ trước kia là chỗ ở của người thợ điện của Phủ toàn quyền để ở. Sau này, thấy căn phòng chật chội, Bộ Chính trị mới quyết định làm ngôi nhà mới để Bác ở và làm việc. Bác đã chọn ngôi nhà sàn nhỏ. Hôm làm xong, Bác mời đồng chí kiến trúc sư đến bảo:

– Chú làm nhà thế là nhanh, tốt. Nhưng có một khuyết điểm, chú biết khuyết điểm gì không?

– Dạ thưa Bác, so với ý Bác dặn thì căn nhà to hơn đôi chút ạ!

Bác cười: Chú nói đúng, nước ta chưa giàu, dân ta còn nhiều thiếu thốn, chưa đủ nhà ở, Bác ở thế này là tốt rồi!

Bác Hồ luôn coi đạo đức là “gốc” của người cách mạng. Chính Bác đã nêu một tấm gương sáng về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Tất cả cuộc đời và lẽ sống của Người là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

Người vì dân – sống giữa lòng dân
Và nơi ấy, ngàn đời Người sống mãi.

Bùi Hoàng

xaydungdang.org.vn

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM: Tư tưởng lớn từ những mẩu chuyện nhỏ

Khi Bác hỏi: “Lãnh đạo ở tỉnh, chú thấy khó khăn nhất là gì?”. Tôi trả lời: “Khó khăn nhất là rất thiếu cán bộ chỉ huy”. Bác hỏi ngay: “Ở tỉnh chú, có bao nhiêu cán bộ tiểu đội đã qua hai năm làm công tác tốt mà chưa được đề bạt làm cán bộ trung đội?”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện thân mật với bà con nông dân và cán bộ huyện, xã, hợp tác xã Cầu Thành, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên ngày 3-2-1958. Ảnh: T.L.

Tôi không trả lời được. Bác bảo: “Chú về coi lại, nếu chú không chỉ đạo đề bạt, thì báo cho Bác để Bác đề bạt”. Rồi Bác nói: “Nếu lãnh đạo, chỉ huy ở trên mà hiểu được tình hình chiến sĩ, cán bộ dưới rồi biết chọn người tốt từ bên dưới đề bạt lên cấp trên thì cán bộ không bao giờ thiếu”.

Năm 1952, tôi được Bộ Chính trị triệu tập ra dự lớp chỉnh huấn ở Việt Bắc. Hai giờ chiều ngày 24-7-1952, tôi được gặp Bác. Đó là một buổi gặp Bác mà tôi không bao giờ quên.

Vào làm việc, tôi báo với Bác là có chuẩn bị một bản báo cáo, xin được đọc cho Bác nghe, nhưng Bác bảo là Bác chỉ muốn hỏi một số việc thôi. Rồi Bác hỏi, hỏi câu nào tôi trả lời câu đó. Bác hỏi nhiều về đời sống của nhân dân, của chiến sĩ và hỏi rất cụ thể đến bữa ăn, đến áo mặc lúc trời rét, thuốc men lúc đau ốm, việc học hành của các cháu, hỏi đến trường hợp anh em chiến đấu bị chết bị thương đã được chăm lo như thế nào?

Khi nghe tôi báo cáo tình hình đời sống của đồng bào Công giáo nơi nhà thờ bị địch biến thành đồn bót, Bác nói: “Địch biến nhà thờ thành đồn bót, lấy giáo dân làm bia đỡ đạn lại gây chia rẽ lương giáo, đó là âm mưu rất thâm độc. Phải tuyên truyền giải thích cho bà con cả giáo và lương hiểu để tăng cường đoàn kết”.

Khi tôi báo cáo cho Bác biết là Tỉnh ủy đã hướng dẫn cho nông dân bàn để chia ruộng đất công được công bằng hợp lý, bà con rất phấn khởi, tôi thấy nét mặt Bác vui hẳn lên. Bác nói: “Tỉnh Quảng Trị là nơi có rất nhiều ruộng đất công. Hướng dẫn cho nông dân bàn bạc để việc phân chia được công bằng hợp lý, không làm thay là rất tốt, chú về báo lại là Bác có lời khen”. Bác lại hỏi: “Chú là Bí thư Tỉnh ủy từ lúc nào, đã có mấy lần chú xuống trực tiếp làm việc với chi bộ xã, kiểm tra công việc ở xã?”. Bác hỏi gì tôi cũng trả lời được cả. Chỉ duy nhất có một câu hỏi mà tôi không trả lời được.

Khi Bác hỏi: “Lãnh đạo ở tỉnh, chú thấy khó khăn nhất là gì?”. Tôi trả lời: “Khó khăn nhất là rất thiếu cán bộ chỉ huy”. Bác hỏi ngay: “Ở tỉnh chú, có bao nhiêu cán bộ tiểu đội đã qua hai năm làm công tác tốt mà chưa được đề bạt làm cán bộ trung đội?”. Tôi không trả lời được. Bác bảo: “Chú về coi lại, nếu chú không chỉ đạo đề bạt, thì báo cho Bác để Bác đề bạt”. Rồi Bác nói: “Nếu lãnh đạo, chỉ huy ở trên mà hiểu được tình hình chiến sĩ, cán bộ dưới rồi biết chọn người tốt từ bên dưới đề bạt lên cấp trên thì cán bộ không bao giờ thiếu”.

Đến đây thì đồng chí giúp việc cho Bác đến báo với Bác là có các đồng chí Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi và Nông Quốc Chấn đến. Bác bảo mời vào. Tôi chuẩn bị ra về nhưng Bác bảo ở lại để nghe. Đồng chí Lưu Hữu Phước báo với Bác là mới sáng tác được bài Lãnh tụ ca, xin được hát để Bác nghe và cho ý kiến. “Chú hát đi!”, Bác bảo. Đồng chí Lưu Hữu Phước đằng hắng rồi lên giọng hát, Bác chăm chú nghe.

Nghe xong Bác cười rồi hỏi: “Trong bài hát của chú có câu “Hồ Chí Minh xuất hiện trong ánh sao”, vậy Hồ Chí Minh nào đã xuất hiện trong ánh sao? Nếu từ trên trời rơi xuống thì chết thôi, có làm việc gì được? Phải là xuất hiện từ nhân dân mà ra, mới đúng”. Đồng chí Lưu Hữu Phước nói lại: “Thưa Bác, Hồ Chí Minh xuất hiện trong ánh sao là xuất hiện cùng với lá cờ đỏ sao vàng ạ!”. Nhìn anh Phước, Bác cười: “Đó là nói đùa cho vui thôi, chứ Bác cũng hiểu được ý chú”.

Bác nhìn vào chúng tôi hỏi: “Các chú có nghe người nào ca ngợi Bác, cho rằng Bác là vị cha già dân tộc không?” Bác chỉ vào tôi. Tôi trả lời: “Cháu có nghe và chính cháu cũng có nói như thế, với lòng kính trọng Bác”. Bác nghiêm nét mặt: “Nghĩ như vậy, nói như vậy về Bác là rất sai, hóa ra Bác là con người rất hỗn, làm cha cả dân tộc! Khi nói về Bác, phải nói Bác là con em của nhân dân”. Rồi Bác hỏi: “Các chú thấy nói như vậy có đúng không?”. Cả bốn anh em chúng tôi đều trả lời: “Đúng ạ!”.
Tiếp theo, đồng chí Nông Quốc Chấn lại báo thêm với Bác: “Nhiều gia đình vùng đồng bào dân tộc, thấy họ treo hình Bác để thờ”. Bác hỏi: “Theo chú, làm như vậy có nên không?”. Đồng chí Nông Quốc Chấn thưa: “Cháu nghĩ rằng, đồng bào thờ như vậy cũng là tỏ lòng quý trọng tôn kính Bác”.
Suy nghĩ một lát, Bác nói: “Nơi nào bà con đã treo ảnh Bác để thờ, đã thành tín ngưỡng như vậy thì đừng bảo gỡ ra. Nhưng không nên tuyên truyền khuyến khích. Chỉ nên nói với bà con, khi nghe Bác nói điều gì, suy nghĩ thấy đúng thì làm theo, như vậy Bác sẽ rất vui”. Bác chỉ vào đồng chí Nông Quốc Chấn hỏi: “Bác nói vậy có đúng không?”. Đồng chí Nông Quốc Chấn: “Bác dặn vậy là rất đúng”. Bác hỏi lại: “Chú cho là đúng thì hãy nhắc lại cho Bác nghe”. Đồng chí Nông Quốc Chấn nói: “Bác dặn, nơi nào bà con đã treo ảnh Bác để thờ thì đừng bảo gỡ ra, nhưng không nên tuyên truyền khuyến khích. Chỉ nên nói với bà con, khi nghe Bác nói điều gì, thì làm theo. Như vậy Bác sẽ rất vui”.

Bác hỏi ba chúng tôi: “Có đúng là Bác dặn như vậy không?”. Anh Thi, anh Phước và tôi đều trả lời là anh Chấn đã nhớ rất giỏi, thuật lại rất đúng. Bác nói ngay: “Có mấy chữ Bác dặn, rất quan trọng nhưng các chú đều đã quên. Bác dặn, khi nghe Bác nói điều gì, suy nghĩ kỹ thấy đúng thì làm theo. Bác đâu có dặn cứ nghe Bác nói là làm theo!”.

Đến đây, đồng chí giúp việc cho Bác đến đề nghị Bác nghỉ. Chúng tôi chào Bác, ra về.

Buổi gặp Bác chỉ diễn ra non một buổi chiều và cách đây đã khá lâu nhưng nay xin kể lại để chúng ta cùng suy nghĩ./.

Theo Tạp chí Ban Tuyên giáo TW

binhthuansports.vn

Phẩm chất người lãnh đạo

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người lãnh đạo phải có đủ 2 thành tố phẩm chất và đạo đức cách mạng. Về phẩm chất, Người nhấn mạnh 4 nội dung Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng.

Nhân: ”Là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải họ đều làm được”.

Chữ Nhân – Nghĩa vốn là nguồn mạch truyền thống cha ông. Cách đây hơn 500 năm Nguyễn Trãi đã nói: ”Phàm mưu việc lớn phải lấy Nhân – Nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy Nhân – Nghĩa làm đầu. Di Nhân – Nghĩa có làm đủ thì công việc mới thành công được”.

Ông cha ta đã từng lấy ”Nhân – Nghĩa thắng hung tàn, lấy Trí – Nhân thay cường bạo” mà chống thắng giặc phương Bắc hàng ngàn năm đô hộ và chiến thắng 2 tên đế quốc tư bản giàu mạnh nhất thế giới đó là Pháp và Mỹ.

Nghĩa: ”Là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình khác cũng luôn luôn đúng đắn”.

Người lãnh đạo làm việc nghĩa không có tà tâm, không bao giờ sợ kẻ địch nào, không sợ kẻ tà gian, nhưng lại sẵn sàng làm người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, sống phải có nghĩa có tình.

Trí: ”Vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian”.

Người lãnh đạo phải có đầu óc sáng suốt, có tầm nhìn xa trông rộng. Biết công tâm mà xem xét con người để giúp đỡ, biết người xấu không dùng.
Dũng: ”Dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”. Dũng cũng còn có gan mạnh dạn quyết đoán dám làm dám chịu trách nhiệm trước tổ chức, nhưng không phiêu lưu, chủ quan, liều lĩnh. Người cán bộ không có lòng dũng cảm thì không thể lãnh đạo được. Nói được thì phải làm cho kỳ được, không thể nói một đàng, làm một nẻo. Hồ Chủ tịch nói: ”Lời nói và việc làm của đảng viên rất quan hệ đến sự nghiệp cách mạng, vì nó ảnh hưởng lớn đến quần chúng”… ”đảng viên phạm sai lầm thì sẽ đưa quần chúng đến sai lầm, cho nên có sai lầm thì các đồng chí ấy sẵn sàng và kịp thời sửa chữa, không để nhiều sai lầm nhỏ cộng thành sai lầm to”.

Liêm: ”Là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tân bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có 1 thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Trời có 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Đất có 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, thì con người mà nhất là người cán bộ lãnh đạo có 4 đức: Cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một mùa không thể thành trời, thiếu một phương không thể thành đất, thiếu 1 trong 4 đức trên không thể thành người lãnh đạo.

Cần: ”Tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Nghĩa là cần thì việc gì, dù khó khăn mấy cũng làm được. Chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp như: Tay siêng làm thì hàm siêng nhai. Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải Cần”.

”Người siêng năng thì mau tiến bộ
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no
Cả làng siêng năng thì làng phồn vinh
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu”

Kiệm: ”Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần với Kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm ”thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Ngày xưa Khổng Tử đã nói: ”Người sản xuất nhiều, người tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ”.

”Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có một việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng… Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, dại dột, chứ không phải là kiệm”. Người lãnh đạo phải hết sức tiết kiệm. Trong đó có tiết kiệm thời giờ, tiết kiệm là phải kiên quyết chống xa xỉ.

Ngày xưa thời chế độ phong kiến, người làm quan mà không đục khoét của dân thì gọi là ”Liêm”. Còn Hồ Chủ tịch, chữ ”Liêm” quan niệm là không tham địa vị. Không tham tiền tài, không tham sung sướng, không tham sắc, không tham người tân bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại. Liêm là trong sạch, không tham lam. Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm, cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với Cần. Có Kiệm mới có Liêm được. Vì xa xỉ mà sanh ra tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên thân là ”Bất Liêm”. Như xã hội hiện nay đang xuất hiện không ít người như vậy.

Đối với cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp ”dĩ công vì tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ ”Liêm” trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính: ”Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn, đứng đắn tức là tà”. Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính. Một người Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải có Chính mới là hoàn toàn.

Siêng năng (Cần), tần tiện (Kiệm), trong sạch (Liêm), Chính là Thiện.

Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: Người Thiện và người Ác.

Trong xã hội tuy có trăm công nghìn việc. Song những việc ấy có thể chia làm 2 thứ:

Việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính là người Thiện
Làm việc Tà là người Ác.

Chính cũng có nghĩa là gần với chân lý, là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân, cái gì trái lại là không phải chính, không phải là chân lý. Ra sức để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tức là phục tùng chính nghĩa, là chân lý.

Tóm lại, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì người cán bộ phải có đủ tài, đủ đức. Hội tụ đủ Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính là những phẩm chất đạo đức căn bản nhất phải có. Những phẩm chất, đạo đức đó được nhân dân ta, Đảng ta và Hồ Chủ tịch vun đắp lâu đời. Nó phù hợp với yêu cầu xây dựng con người mới XHCN, nền đạo đức mới của dân tộc trong thời đại hiện nay. Đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, không phải vì danh vọng cá nhân mà toàn tâm toàn ý cho lợi ích của dân tộc và của Đảng, của cả loài người. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc truyền thống của cha ông ta bằng chính cuộc sống và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Là một biểu tượng cao đẹp của con người trung thành, hiếu nghĩa, một lòng một dạ vì nước vì dân, là bậc đại nhân, đại nghĩa, đại trí, đại dũng và hết sức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Học tập và làm theo lời dạy và tấm gương đạo đức phẩm chất của nhà cách mạng thiên tài Hồ Chí Minh để xứng đáng là người lãnh đạo và đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Theo Báo Long AN

dalat.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Thể dục, Thể thao

Hầu hết các mặt quan trọng về TDTT đối với lợi ích con người về sức khoẻ và tinh thần đều được Hồ Chí Minh đề cấp với các quan điểm đúng đắn, sáng tạo. Các quan điểm đó toát lên sự hiện hữu tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT. Tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT bao hàm các quan điểm cơ bản và có vị trí, vai trò to lớn trong nền văn hoá thể chất Việt Nam.

“Dân cường thì nước thịnh”: quan điểm cơ bản nhất

Nói về mục tiêu thì dân cường và nước thịnh là hai mục tiêu cao quý của chế độ mới. Hai mục tiêu này không những có quan hệ với nhau mà còn có quan hệ bản chất với mục tiêu dân giàu nước mạnh, chúng đều đem lại hạnh phúc cho con người, cho dân tộc Việt Nam. Quan điểm “Dân cường thì nước thịnh” quy định tất cả các quan điểm khác của Hồ Chí Minh, hướng TDTT phục vụ đắc lực các mục tiêu dân cường, nước thịnh.

Dân cường làm nên nước thịnh. Điều này có nghĩa sức khoẻ của nhân dân là một trong những nhân tố to lớn quyết định sự phát triển đất nước đi tới “Dân giàu nước mạnh”. Do đó, TDTT phục vụ đắc lực sức khoẻ nhân dân cũng đồng thời góp phần phục vụ công cuộc chấn hưng đất nước.

Bởi vậy, các quan điểm khác của Hồ Chí Minh đều nhất quán sự định hướng TDTT phát triển mạnh vì sức khoẻ của nhân dân. Thông qua phục vụ sức khoẻ nhân dân, phục vụ sức khoẻ cho mọi người, TDTT góp phần phục vụ tất cả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục… tức là phục vụ sự nghiệp phấn đấu cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”.

Từ đó, tất cả các quan điểm khác về TDTT của Hồ Chí Minh đều được quy tụ: TDTT vì dân cường, nước thịnh.

Quan điểm Hồ Chí Minh về phát triển TDTT quần chúng

Theo từ điển tiếng Việt, quần chúng là mọi người trong xã hội. Như vậy TDTT quần chúng chính là TDTT cho mọi người, mọi nguồn nhân lực.

Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Dưới chế độ dân chủ, Thể thao và Thể dục phải trở thành hoạt động chung của quần chúng, nhằm mục đích làm tăng cường sức khoẻ của nhân dân. Nhân dân có sức khoẻ thì mọi công việc đều làm được tốt.” Người khuyến khích “Vậy nên luyện tập Thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước”. Từ đó Hồ Chí Minh chủ trương “Chúng ta nên phát triển phong trào TDTT rộng khắp”. Đó là những quan điểm chung của Hồ Chí Minh về TDTT quần chúng, thể thao cho mọi người.

Thế hệ trẻ là một bộ phận rất đông đảo của quần chúng nhân dân. Giáo dục thể chất và thể thao là một thành phần rất cơ bản, nền tảng của TDTT quần chúng. Hồ Chí Minh rất coi trọng TDTT đối với thế hệ trẻ.

Về giáo dục thể chất tuổi trẻ học đường, Hồ Chí Minh xác định là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân của nước Việt Nam độc lập và dân chủ: “Một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Từ quan điểm đó, sau này Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách cụ thể về giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng, giáo dục toàn diện đó là “Thể dục kết hợp với gìn giữ vệ sinh chung và riêng, trí dục, mỹ dục, đức dục.” Bốn mặt giáo dục đó có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó Thể dục là tiền đề đầu tiên để phát triển các mặt giáo dục khác. Kể cả học viên trong nhà trường quân đội cũng vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập giáo dục thể chất lên trước hết: “Các cháu phải ra sức thi đua: Luyện tập thân thể cho mạnh mẽ, nghiên cứu kỹ thuật cho thông thạo, trau dồi tinh thần cho vững chắc, hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng”.

Về giáo dục thể chất cho thanh niên đang tham gia mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bảo tuổi trẻ thanh niên rằng: “Thanh niên phải rèn luyện TDTT vì thanh niên là tương lai của đất nước”. Ngoài các mặt học tập và rèn luyện khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu thanh niên phải tích cực rèn luyện thể chất “ Phải giữ vững đạo đức cách mạng. Phải xung phong trong mọi công tác. Phải học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi. Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh. Khoẻ mạnh thì mới đủ sức tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước lợi dân”.

Trong quần chúng, có một bộ phận rất lớn, rất quan trọng, đó là nguồn nhân lực đang và sẽ tham gia thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”. Nguồn lực con người như nông dân, công nhân, chuyên viên kỹ thuật, cán bộ nghiệp vụ, cán bộ quản lý, các nhà khoa học, văn nghệ sỹ… là trung tâm của sự phát triển. Nguồn nhân lực này không chỉ cần đông đảo mà đòi hỏi phải có chất lượng cao. Một trong những yếu tố cơ bản cấu thành chất lượng cao của nguồn nhân lực là sức khoẻ của mỗi con người. Hồ Chí Minh rất coi trọng sức khoẻ của nguồn nhân lực này. Để giữ gìn và tăng cường sức khoẻ cho họ, Hồ Chí Minh khuyên bảo họ tích cực tập TDTT. Người viết “muốn lao động sản xuất tốt, công tác và học tập tốt thì cần có sức khoẻ. Muốn giữ sức khoẻ thì nên thường xuyên tập TDTT.” Từ quan điểm này, Người chủ trương phát triển TDTT khắp mọi miền, mọi vùng của đất nước.

Quan điểm Hồ Chí Minh về TDTT trong lực lượng vũ trang

Hồ Chí Minh rất quan tâm tới TDTT trong cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang. Lực lượng này khá đông đảo, họ trực tiếp chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ an ninh xã hội. Do đó, họ phải có thể lực tốt.

Trước và sau Cách mạng tháng Tám thành công, trong kháng chiến và sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhiều lần Hồ Chí Minh trực tiếp nói chuyện, chỉ bảo, khuyến khích các cán bộ, chiến sỹ quân đội, tự vệ tập luyện TDTT. Người còn hướng dẫn, sửa chữa những động tác sai trong khi tập Thể dục, luyện Võ thuật cho nhiều cán bộ chiến sỹ quân đội. Tấm gương rèn luyện thân thể được các đoàn quân trên đường hành quân ra chiến trường noi theo: “Ngọn Tây Phong Lĩnh Bác trèo; Để nay có núi có đèo con qua”.

Hồ Chí Minh chủ trương: “Đẩy mạnh phong trào TDTT trong quân đội, làm cho quân đội chúng ta có thể chất khoẻ, tinh thần khoẻ để làm tròn mọi nhiệm vụ”. Chủ trương này thể hiện một quan điểm sâu sắc của Hồ Chí Minh về sức khoẻ thể chất và tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ quân đội là nhân tố có tính quyết định làm tròn mọi nhiệm vụ. Để có được sức khoẻ cả thể chất lẫn tinh thần, cán bộ chiễn sỹ phải tập luyện TDTT.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về TDTT có vai trò định hướng sự hình thành và phát triển nền TDTT của chế độ mới từ sau cách mạng tháng Tám 1945 cho đến ngày nay và cả mai sau. Đảng cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối quan điểm TDTT, trong đó phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều quan điểm về TDTT. Ngành TDTT đang từng bước thực hiện có kết quả tích cực đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT.

Quan điểm Hồ Chí Minh về thể thao thành tích cao

TDTT quần chúng là nền tảng xã hội của thể thao thành tích cao, Hồ Chí Minh rất quan tâm tới thể thao thành tích cao. Nhưng theo Người, thể thao thành tích cao phát triển trên cơ sở TDTT quần chúng. Hồ Chí Minh từng lưu ý rằng, phát triển thể thao thành tích cao vừa phấn đấu giành “vinh quang của dân tộc về mặt thể thao” vừa thúc đẩy TDTT quần chúng vì sức khoẻ cho mọi người dân.

TDTT quần chúng phải được phát triển phong phú đó là sự đa dạng các loại hình, sâu rộng các địa bàn và hầu hết các đối tượng tập luyện. Tính phóng phú đó là nền tảng của thể thao thành tích cao. Đồng thời thể thao thành tích cao phát triển mạnh cũng thể hiện tính phong phú của nó về cả loại hình, đối tượng, địa bàn. Trong thư chúc mừng Đại hội thể thao GANEFO châu Á lần thứ nhất, tổ chức vào cuối năm 1966 ở Campuchia, Hồ Chí Minh viết: “Đây là cuộc gặp gỡ lớn để các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á, tỏ rõ cho toàn thế giới thấy khả năng phong phú của mình trong lĩnh vực thể thao”. Quan điểm này còn có nghĩa rằng, thể thao của các lực lượng mới trỗi dậy ở châu Á với khả năng phát triển mạnh mẽ cả về TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao.

TDTT quần chúng mà nổi bật là thể thao trong các trường học, trong lực lượng vũ trang phát triển mạnh, đạt được nhiều thành tích trong thi đấu quốc gia, quốc tế, đó là điều kiện tất yếu, thường xuyên để phát triển thể thao thành tích cao của nước nhà, vươn tới tầm vóc khu vực, châu lục và thế giới. Bởi vậy, cần phải quan tâm tới mọi điều kiện phát triển thể thao quần chúng, nhất là thể thao thế hệ trẻ. Hồ Chí Minh dạy rằng: “Tuổi trẻ là tương lai của đất nước và của thể thao nước nhà, các cháu phải có đầy đủ phương tiện tập luyện để nâng cao thể lực”.

Phát huy tinh thần dân tộc trong lĩnh vực thể thao

Năm 1922 ở Pháp, Hồ Chí Minh đã từng đề cập đến lòng tự hào dân tộc. Người khuyến khích phát triển thể thao thành tích cao, khuyến khích các đấu trường thể thao nhằm phát huy tinh thần dân tộc và rèn luyện thể lực cho thế hệ trẻ.

Hồ Chí Minh chỉ ra cho thể thao Việt Nam rằng: “Phong trào và thành tích thể thao của thế giới phát triển mạnh, Việt Nam ta hãy cố gắng tiến kịp”. Người mong muốn ở đây là thể thao thành tích cao của Việt Nam phải được phát triển mạnh mẽ, tiến tới giành được những thành tích tốt, những tấm huy chương cao quý trên các đấu trường quốc tế “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm Châu”.

Cuối năm 1966, đoàn Thể thao Việt Nam tham dự Đại hội thể thao GANEFO lần thứ nhất tổ chức tại Campuchia giành được thành tích tốt. Ngay sau khi về nước được Bác Hồ tiếp, Người rất vui bởi vì thể thao Việt Nam đã phát huy cao tinh thần dân tộc, giành vinh quang về cho đất nước, nhân dân. Hồ Chí Minh khen ngợi các VĐV rằng: “Tất cả các cháu giành được huy chương, nhiều cháu giành được HCV, thế là rất tốt” Người căn dặn các VĐV: “Các cháu hãy cố gắng nhiều hơn nữa để xứng đáng là những VĐV của dân tộc Việt Nam anh hùng”. Quan điểm này nói lên rằng, dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, phải có những VĐV tài năng, phát huy cao độ tinh thần dân tộc giành “vinh quang cho dân tộc về mặt thể thao”.

Quan điểm đạo đức nhân văn trong thể thao thành tích cao

Hồ Chí Minh rất coi trọng những giá trị đạo đức và nhân văn trong thể thao thành tích cao. Hồ Chí Minh “là người chống lại mọi thứ bạo lực” trong thể thao, vì có hại đến sức khoẻ, sinh mệnh của VĐV. Người nhắc nhở VĐV Việt Nam rằng “Các cháu đừng vì thắng lợi mà kiêu căng, tự mãn” và căn dặn “các cháu luôn luôn nhớ phải khiêm tốn học tập cái hay, cái giỏi của các bạn. Trong thi đấu thắng không kiêu, bại không nản, thế mới là VĐV tốt”.

Đấu trường thể thao còn được Hồ Chí Minh ghi nhận là dịp để tăng cường sự bình đẳng dân tộc, chủng tộc và đoàn kết giữa các dân tộc với nhau, hiểu biết lẫn nhau.

Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí của công tác TDTT và nhiệm vụ của người cán bộ trong lĩnh vực này

Vị trí của công tác TDTT được Hồ Chí Minh xác định là một công tác cách mạng. Đối với cán bộ TDTT có nhiệm vụ học tập, nghiên cứu chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, ra sức công tác phục vụ nhân dân và đất nước. Hồ Chí Minh dạy rằng: “Cán bộ TDTT phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác. Vì đó cũng là một công tác trong những công tác cách mạng khác”. Rõ ràng đây là một quan điểm của Hồ Chí Minh coi trọng công tác TDTT và coi trọng cán bộ TDTT.

Đó là những nét cơ bản trong 5 nội dung của các quan điểm cơ bản về TDTT của Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về TDTT có vai trò định hướng sự hình thành và phát triển nền TDTT của chế độ mới từ sau cách mạng tháng Tám 1945 cho đến ngày nay và cả mai sau. Đảng cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối quan điểm TDTT, trong đó phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều quan điểm về TDTT. Ngành TDTT đang từng bước thực hiện có kết quả tích cực đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT.

Theo TDTT VN

binhthuansports.vn