Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Đoàn kết là sức mạnh

Nhân ngày Quốc tế lao động 1.5.1946, Bác Hồ viết lời kêu gọi nhân dân: “Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”. Đoàn kết cũng là nội dung được Người đặc biệt quan tâm trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng.

Vấn đề cốt lõi của tinh thần đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một khối đoàn kết mạnh mẽ nhưng có tổ chức, cương lĩnh, nguyên tắc; có phương châm hành động đúng đắn, cụ thể và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Vấn đề đó đã được đặt ra ngay từ khi có Đảng, với những tổ chức đoàn kết các thành phần lao động như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Phụ nữ, Thanh niên… Và ngày 18.11.1930, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, “Hội Phản đế đồng minh Đông Dương” đã được thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai bán nước.

Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, coi sự đoàn kết là sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù cho dù chúng nham hiểm đến đâu. Giải nghĩa vấn đề “Vì sao phải lấy dân làm gốc”. Người nói thật đơn giản: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hoặc hình ảnh của sức mạnh đoàn kết được Người thể hiện rất cụ thể, sinh động: Trong một bài thơ kêu gọi đoàn kết, Người ví công việc khó khăn như “hòn đá to, hòn đá nặng”, nếu chỉ một người thì “vác chẳng đặng” nhưng có nhiều người “sẽ vác đặng”. Trong tất cả các bài viết, bài nói của Bác hầu như không có bài nào, trang nào Người không nhắc tới từ “đoàn kết”. Và chính bản thân Người, qua cách sống, làm việc, ứng xử… là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha. Tư tưởng đại đoàn kết của Bác đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân ta, dân tộc ta đi đến thắng lợi…

Học tập những lời dạy về đại đoàn kết của Bác, chúng ta cùng nhau phấn đấu thực hiện lời Di huấn thiêng liêng của Người trước lúc đi xa: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

  • Tùng Quân

baobinhdinh.com.vn

5 điều Bác dạy cán bộ

Lâu nay chúng ta hay nhắc đến “5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng” và hầu như đều thuộc từ lúc còn học ở bậc tiểu học. Phải nói rằng đó là những lời dạy thật chân tình, giản dị và vô cùng sâu sắc. Nó như một cẩm nang để các cháu thiếu niên nhi đồng làm theo và trở thành con ngoan, trò giỏi và công dân có ích cho đất nước.

Với đội ngũ cán bộ, Bác cũng có 5 điều căn dặn hết sức quý báu mà mỗi khi soi vào là một lần chúng ta có dịp nhìn nhận lại mình, tự răn mình để sống và làm việc tốt hơn. 5 điều này Bác Hồ nêu ra trong một cuộc nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20.2.1947. Cụ thể như sau:

1. Mình đối với mình. Bác dặn “Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm”.

2. Đối với đồng chí mình. Bác nêu rõ: “Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh rẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…”.

3. Đối với công việc. Theo Bác: “Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh…”. Bác đặc biệt lưu ý “Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì?”…

4. Đối với nhân dân. Bác nhấn mạnh “Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân”; do đó, người cán bộ phải hiểu dân cả về nguyện vọng, tâm lý, sự cực khổ… Đặc biệt là “Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.

5. Đối với Đoàn thể. Bác hết sức lưu ý “Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành”. Đặc biệt là phải “Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…”.

Đã hơn 60 năm qua kể từ ngày Bác Hồ dạy cán bộ 5 điều kể trên. Tuy lời nói giản dị, mộc mạc nhưng ý nghĩa thì thật vô cùng sâu sắc. Nó vẫn còn nguyên giá trị đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức và tác phong làm việc của người cán bộ, đảng viên trong hoàn cảnh hiện nay. Học tập và nghiền ngẫm những điều Bác dạy, mỗi cán bộ chúng ta càng hiểu mình phải làm gì để tốt hơn.

  • Hà Nhiên

baobinhdinh.com.vn

Sửa đổi lối làm việc với dân

“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947. Theo nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu “Có thể coi “Sửa đổi lối làm việc” là sự tiếp bước nối dài nhằm hiện thực hóa những mục tiêu, nguyện vọng được đề cập trong “Tuyên ngôn độc lập” ”.

“Sửa đổi lối làm việc” thực chất là sửa đổi lề lối quan hệ với nhân dân. Chính vì vậy, tư tưởng “dân là gốc”, dân làm chủ toát lên từ mọi khía cạnh, mọi nội dung được đề cập trong “Sửa đổi lối làm việc”. Trong tác phẩm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nhân dân là đối tượng trọng tâm của việc sửa đổi lối làm việc. Với năm nội dung chủ yếu như sau:

Cán bộ, đảng viên trước hết phải có lòng tin vào quần chúng nhân dân. Người căn dặn “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”, và phải biết dựa vào ý kiến của dân chúng để chỉnh sửa cán bộ và tổ chức, từ đó không ngừng nâng cao năng lực phục vụ nhân dân.

Cán bộ, đảng viên phải học quần chúng. Người cho rằng, “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng” nên chúng ta phải học, phải hỏi, phải hiểu dân chúng. Người cảnh báo: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng…”

Cán bộ, đảng viên phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với dân. Người nhấn mạnh. “Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình,… còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình”. Có dân chủ, mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến, tạo không khí hăng hái thi đua rộng khắp.

Cán bộ, đảng viên nói và làm gì nội dung cũng phải thiết thực với dân, xuất phát từ lợi ích của dân. Người căn dặn: “Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng… Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng”.

Cán bộ, đảng viên đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của quần chúng song tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Người chỉ rõ “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”. Cán bộ, đảng viên lắng nghe ý kiến của quần chúng, song không phải dân nói gì cũng nhắm mắt nghe theo, mà phải biết chọn lựa, vận dụng những ý kiến tích cực, tiến bộ vào công việc, để phục vụ dân tốt hơn.

“Sửa đổi lối làm việc” thực sự là một cuốn cẩm nang quý báu, về phong cách, lối làm việc của toàn bộ hệ thống chính quyền và mỗi cán bộ, đảng viên. Thực hiện thật tốt các lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” chúng ta sẽ xây dựng được Đảng trong sạch, vững mạnh.

Lê Tùng

baobinhdinh.com.vn

Chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Bác Hồ trò chuyện với đại biểu phụ nữ dân tộc thiểu số tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III (1961)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Người cho rằng làm cách mạng mà không giải phóng phụ nữ thì mới giải phóng một nửa thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Người cho rằng làm cách mạng mà không giải phóng phụ nữ thì mới giải phóng một nửa thế giới và chỉ làm cách mạng giải phóng dân tộc để có độc lập dân tộc thì phụ nữ mới được giải phóng.

Trong các văn kiện thành lập Đảng tháng 2-1930, Bác Hồ đã nêu về phương diện xã hội “thực hiện nam nữ bình quyền”. Đây là một điểm trong 4 điểm Chánh cương đề ra trên phương diện xã hội. Điều đó chứng tỏ, ngay từ khi thành lập Đảng, vấn đề giải phóng phụ nữ được Bác Hồ và Đảng ta hết sức coi trọng trong xây dựng đường lối cách mạng, một nội dung trong đường lối cách mạng, giải phóng dân tộc.

Nét đặc biệt trong tư tưởng giải phóng phụ nữ là Hồ Chí Minh đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Quyền của phụ nữ gắn liền quyền dân tộc độc lập, quyền dân tộc tự quyết. Đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc thì mới thực hiện được quyền bình đẳng của phụ nữ. Trong cách mạng giải phóng dân tộc phải đem toàn bộ sức mạnh dân tộc (nội lực) để tranh đấu, “đem sức ta mà giải phóng cho ta” thì sự nghiệp giải phóng phụ nữ cũng là đem sức mạnh của đoàn kết dân tộc, của khối đoàn kết phụ nữ mà giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, nổi bật và bao trùm lên tất cả là tính nhân văn của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, trong hoàn cảnh bị tù đày hay khi là lãnh tụ tối cao của cách mạng, Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới phụ nữ. Người cảm nhận sâu sắc thân phận của người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, nhất là trong xã hội còn chịu ảnh hưởng tàn dư của chế độ phong kiến và đô hộ, áp bức của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo Hồ Chí Minh là cuộc cách mạng giải phóng con người, do đó nếu không giải phóng phụ nữ, một phần nửa xã hội thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội. Và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự đem lại lợi ích, chăm lo lợi ích cho con người, trong đó có phụ nữ được chăm lo, được giải phóng.

Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo sự nghiệp giải phóng phụ nữ khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, bất bình đẳng. Đó cũng là công việc quan trọng trong công cuộc kiến thiết nước nhà, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là huy động phụ nữ tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ vươn lên, thật sự bình đẳng với nam giới.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, nổi bật 3 nội dung lớn:
Một là, giải phóng về chính trị. Giải phóng phụ nữ là một bộ phận của giải phóng dân tộc. Bởi vì nước mất, nhà tan, dân là nô lệ, phụ nữ bị đọa đày đau khổ nhất. Giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng phụ nữ. Nước có độc lập thì dân mới có tự do. Dân tộc được giải phóng thì phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong việc ứng cử và bầu cử vào các cơ quan dân cử, hệ thống chính trị theo Hiến pháp, pháp luật.

Hai là, giải phóng về xã hội. Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong việc tham gia công việc xã hội. Đồng thời bình đẳng trong hôn nhân với chế độ một vợ một chồng. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân gia đình. Người đã nhiều lần bày tỏ chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia trưởng, tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ. Đồng thời phụ nữ phải tự giải phóng, tự vươn lên làm tốt vai trò người phụ nữ trong chế độ mới, chú trọng thiên chức của người phụ nữ trong gia đình.

Ba là, giải phóng tâm lý tự ti, đầu óc phụ thuộc bởi thân phận người phụ nữ trong chế độ cũ, phát huy phẩm chất truyền thống tốt đẹp phụ nữ Việt Nam trong điều kiện xã hội mới, thật sự giải phóng tư tưởng, giải phóng năng lực của phân nửa xã hội để người phụ nữ vươn lên làm chủ bản thân, gia đình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội.

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, từ giữa thế kỷ XX, trên khắp đất nước Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” xuất hiện ngày càng nhiều. Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và Mỹ, đã có hàng triệu phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà. Tiêu biểu nhất là các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hàng vạn, hàng nghìn anh hùng, liệt sĩ là nữ mà tên tuổi của họ còn ghi mãi trong sử vàng dân tộc, làm lay động lòng người hôm nay và mãi về sau.

Trong công cuộc xây dựng nước nhà, tiến hành đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, phụ nữ Việt Nam tỏ ra không thua kém nam giới, vươn lên khẳng định vị trí người làm chủ xã hội, thiên nhiên và gia đình, bản thân. Trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, đời sống, xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế xây dựng gia đình văn hóa mới đều có và ngày càng nhiều người phụ nữ tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực, đạo đức con người mới.

Vì thế, vai trò người phụ nữ ngày càng nâng cao. Trong gần 20 năm qua liên tục có Phó Chủ tịch nước là nữ. Các nhiệm kỳ Đại hội Đảng luôn có nữ là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và nhiều ủy viên Trung ương, Bộ trưởng, Thứ trưởng; tỷ lệ nữ trong Quốc hội chiếm 25%… Trong xây dựng kinh tế, lao động nữ chiếm tỷ lệ hơn 50% trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và nữ tham gia nhiều nghề mới mà trước chỉ dành cho nam giới. Ở lĩnh vực khoa học, công nghệ, nữ tham gia tới gần 40% và tỷ lệ các nhà khoa học nữ đạt hơn 6%. Đặc biệt trong giáo dục, đào tạo và y tế, nữ chiếm tỷ lệ cao và có nhiều người có trình độ cao…

Tiếp tục phát huy vai trò người phụ nữ trong thời kỳ mới, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng để nâng cao hơn nữa vị thế người phụ nữ Việt Nam. Cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong toàn xã hội về vai trò của người phụ nữ trong tiến trình xây dựng xã hội mới, nhất là xây dựng, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như xây dựng gia đình văn hóa thật sự là tế bào của xã hội văn minh.

Chúng ta cũng cần thật sự chăm lo cho tổ chức của phụ nữ là hệ thống Hội Phụ nữ Việt Nam, nhất là từ cơ sở thật sự là người đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của phụ nữ, chăm lo ngày càng nhiều hơn, tốt hơn cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với giới nữ, thực hiện bình đẳng giới thật sự cho một nửa số dân, tạo điều kiện để phụ nữ vươn lên làm tốt vai trò trong xã hội.

PHẠM VĂN KHÁNH
Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh – đại sứ của Việt Nam trên toàn cầu

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Năm 1990, vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi UNESCO – Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (LHQ) công bố nghị quyết biểu thị lòng tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp tự do độc lập, “anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam… và “là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ XX”… thì những người nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã tự thấy phải điều chỉnh tầm quan sát của mình để không chỉ thấy công lao của Người đối với dân tộc Việt Nam mà còn phải thấy “Người đã góp phần thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta” (tuần báo Time-2000-Hoa Kỳ).

Do nhu cầu tạo ra một phương thức hành động mới để bảo vệ sự hòa hợp xã hội và gìn giữ hòa bình trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng trong mọi khía cạnh cuộc sống con người, Đại hội đồng LHQ đã chọn năm 2010 là năm “Thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau” và chỉ định UNESCO là cơ quan tổ chức hoạt động này. Và người được UNESCO đánh giá có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau chính là Hồ Chí Minh. Tối ngày 14-5-2010, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hans d’Orville, Phó tổng giám đốc UNESCO đọc bản tham luận ca ngợi công lao, sự nghiệp Hồ Chí Minh đã khẳng định “Hồ Chí Minh là người tiêu biểu cho tinh thần hòa giải giữa các nền văn hóa của LHQ… Cả cuộc hành trình trong cuộc đời đã khiến Hồ Chí Minh trở thành công dân của thế giới, đồng thời là đại sứ của Việt Nam trên khắp toàn cầu… Cuộc đời hoạt động chính trị của Người trước hết là nhằm đấu tranh cho quyền lợi con người và quyền của các dân tộc…”. Nhắc lại câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh và lời tuyên bố: “Việc thống trị, áp bức và bóc lột các dân tộc thuộc địa chính là sự chối bỏ các quyền cơ bản của con người và đi ngược lại với Hiến chương của LHQ” , bản tham luận cho rằng, công lao to lớn của Hồ Chí Minh là đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Ảnh: TL.

Rời Tổ quốc qua nước Pháp để tìm đường cứu nước từ ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành không phải là một người mất nước đơn độc mà đã thực sự đại diện cho một khuynh hướng chính trị tiến bộ nhất trong phong trào đòi giải phóng của nhân dân thuộc địa – xây dựng trên một nền tảng văn hóa rất đa diện: Một nền nho học đủ tiếp nhận mọi giáo lý phương Đông; một vốn ngoại ngữ đủ sức giao tiếp với người Pháp; một khuynh hướng chính trị đã bỏ lại sau hàng loạt cuộc khởi nghĩa mang tính dân tộc của các bậc cha anh do mọi đẳng cấp cầm đầu, từ vua quan tới các sĩ phu yêu nước, thủ lĩnh nông dân, các trào lưu chính trị từ “bất bạo động” kiểu Phan Chu Trinh đến “Đông Du cầu viện” của Phan Bội Châu… (với Nguyễn Tất Thành, tất cả các trào lưu chính trị ấy tuy không thiếu lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, nhưng vẫn chưa hội đủ các yếu tố khả dĩ đương đầu với nền thống trị vừa tinh vi toàn diện vừa rất chuyên nghiệp của thực dân, đế quốc). Theo Người, muốn đánh bại kẻ thù, tất phải nắm trong tay một bí quyết gì lớn mạnh hơn chúng. Đó là cái Nguyễn Tất Thành đã tìm thấy từ Lê-nin.

Cuộc xuất trình “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” trước hội nghị Véc-xây đối với Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một cuộc trinh sát thực địa để thăm dò phản ứng của đối phương và sau khi biết rõ phải tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng thì anh Nguyễn đã tiến hành một cách có hệ thống quá trình vừa sáng tạo lực lượng, vừa tiến công vạch mặt chúng từ nhiều hướng, nhất là thông qua những bài chính luận trên Báo Nhân đạo.

Được những tin tức về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga cổ vũ, qua việc gia nhập đảng Xã hội Pháp vào năm 1919, anh Nguyễn đã tận dụng mọi diễn đàn và mọi mối quan hệ để tranh thủ làm rõ tình hình thuộc địa còn rất xa lạ với mọi người Pháp ở chính quốc; tham gia thành lập “Hội những người Việt Nam yêu nước” và chuẩn bị cẩn thận mọi tư liệu để biên soạn “Bản án chế độ thực dân Pháp”, chủ động tham gia “Ủy ban đấu tranh gia nhập Đệ tam quốc của Đảng Xã hội Pháp”, trở thành đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại đại hội Tua ngày 30-12-1920, rồi chủ trì ra Báo Người cùng khổ vào tháng 4-1922, làm diễn đàn của cư dân thuộc địa ngay trên đất Pháp…

Nhân dịp đại biểu cánh tả của nông dân hơn 20 nước châu Âu và châu Á tới dự triển lãm nông nghiệp toàn Nga và tiến hành Đại hội Quốc tế Nông dân tại Mát-xcơ-va (tháng 10-1923), tại buổi họp thứ hai của Đại hội, anh Nguyễn thay mặt Đông Dương thuộc Pháp chỉ rõ “hai tầng áp bức” mà nông dân các thuộc địa phải chịu: Tầng thứ nhất với tư cách nông dân, tầng thứ hai với tư cách nông dân một nước thuộc địa và ra lời kêu gọi: “Quốc tế của các đồng chí chỉ thực sự trở thành Quốc tế khi mà không những nông dân phương Tây mà cả nông dân phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị bóc lột và áp bức nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế”. Tại Đại hội này Nguyễn Ái Quốc thay mặt các nước châu Á được bầu vào Chủ tịch đoàn của Quốc tế Nông dân. Phóng viên Tạp chí Ngọn lửa nhỏ đã phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc – với tư cách “thành viên Quốc tế Cộng sản đầu tiên người Đông Dương”. Và người phóng viên đã có nhận xét nổi tiếng trong bài phỏng vấn Người: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”…

Cuộc trường chinh 30 năm của người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước trải qua bao thăng trầm để đến khi trở về Tổ quốc đã “quá tuổi lên lão”. Nhưng đổi lại, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam đã mở, tổ chức lãnh đạo đã thực sự hình thành, lực lượng từ trong nước và ngoài nước đang được động viên rộng rãi, người tìm đường đã thực sự trở thành lãnh tụ dẫn đường không chỉ được trong nước suy tôn mà nhiều nhà cách mạng thế giới đều biết tiếng…

Về đến Cao Bằng ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo cuộc chuyển hướng chiến lược từ cách mạng giai cấp sang giải phóng dân tộc, thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, phát triển các đoàn thể cứu quốc, xây dựng các đội vũ trang cách mạng làm nhiệm vụ đội quân công tác… Cuối tháng 8-1942 tìm đường sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng, bị bắt và tới tháng 7-1944, Hồ Chí Minh đã kịp trở về uốn nắn cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, phát triển căn cứ địa Việt Bắc thành khu giải phóng, xóa bỏ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền dân chủ, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, quyết định Tổng khởi nghĩa…

Với nhãn quan chiến lược của nhà cách mạng lão thành, có sự cộng tác của một Bộ tham mưu được đào tạo bài bản, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã nổ ra vào lúc kẻ thù cũ (thực dân Pháp) đã bị phát xít hạ gục, kẻ thù mới (Nhật) bị bẻ gãy tới những lực lượng cuối cùng, sự diễn biến khởi nghĩa toàn dân đã đạt tới trình độ nghệ thuật so với các cuộc cách mạng trong thời hiện đại: Chính quyền cả nước trong 58 tỉnh đã giành được trong vòng 10 ngày (từ 19-8 tới 28-8) hầu như không gặp sự phản kháng nào đáng kể của các thế lực đối lập, trong khi quân Nhật ở Đông Dương vẫn còn hơn 10 vạn, chưa được lệnh hạ vũ khí.

Tính chất nhân dân của cuộc Tổng khởi nghĩa đã được nhà nghiên cứu Stein Tonnesson tường thuật tỉ mỉ trong một tác phẩm xuất bản năm 1991 tại Luân Đôn về “Cuộc cách mạng Việt Nam 1945” có đoạn viết: “Trong 58 tỉnh của Việt Nam, không dưới 28 tỉnh chủ yếu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, ở đây người dân nổi dậy đầu tiên trong phạm vi các làng, huyện rồi sau đó là thị xã, ở 7 tỉnh khác, cuộc nổi dậy bắt đầu từ thị xã rồi sau đó mới lan tới các làng, huyện” (1).

So với những cuộc cách mạng trong thời hiện đại ở thế giới, hiếm có cuộc cách mạng nào diễn ra thuận lợi, ít đổ máu như Cách mạng Tháng Tám. Ở đó, tiếng tăm về cuộc đời hoạt động của lãnh tụ đã có sức quy tụ lực lượng, cho đến nhà vua cũng sẵn sàng thoái vị. Cũng do sự chèo chống đầy kinh nghiệm của Hồ Chí Minh mà tất cả các âm mưu xâm lược và tái chiếm Việt Nam của mọi thế lực đế quốc, phản động đều lần lượt thất bại, hoặc bằng ngoại giao mềm dẻo, hoặc bằng kháng chiến kiên cường để nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đứng vững và phát triển.

Và cũng như lời khẳng định của Stein Tonnesson: “… Nước Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945 là giai đoạn đầu tiên mở đầu cho làn sóng xóa bỏ chế độ thuộc địa ở Á châu, tiếp theo là Phi châu” (2), do kích thích dây chuyền của Cách mạng Tháng Tám Việt Nam và In-đô-nê-xi-a (17-8), Nê-pan giành độc lập cuối 1945, Phi-líp-pin vào năm 1946, Mi-an-ma và Ấn Độ vào năm 1947, Triều Tiên, Xri Lan-ca vào năm 1948. Sau khi thực dân Pháp bị thất bại phải rút khỏi Việt Nam vào năm 1954 thì ở châu Á, Pa-ki-xtan giành độc lập năm 1956, Ma-lai-xi-a năm 1957. Ở châu Phi, An-giê-ri tuyên bố độc lập cuối năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi năm 1962, Ma-rốc giành độc lập năm 1956, Tuy-ni-di 1957, Ghi-nê 1958, Gha-na 1959, các nước Ma-li, Ga-bông, Mô-ri-ta-ni, Xê-nê-gan, Ma-đa-ga-xca đều vào năm 1960, U-gan-đa 1962, Kê-ni-a 1963. Các nước còn lại lần lượt đứng dậy cho đến những năm 90 của thế kỷ XX chỉ còn 3 nước chậm nhất là Na-mi-bi-a (1990), Ê-ti-ô-pi-a (1991), Ê-ti-tơ-ri-a (1993).

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh (19-5-1890/19-5-2011) và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011), chúng ta càng tự hào về sự đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ với cách mạng Việt Nam mà cả với cách mạng thế giới vì sự bình đẳng và tiến bộ của con người.

———————————-

(1) Stein Tonnesson. Cuộc cách mạng Việt Nam 1945. Ru-dơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong thế giới có chiến tranh. Viện Nghiên cứu Hòa Bình Thế giới Oslo, NXB Sage Luân Đôn 1991, Bản dịch của Viện Lịch sử Đảng, tr 100.

(2) Sđd Tr 113-114.

Thiếu tướng, GS BÙI PHAN KỲ

qdnd.vn

Bác Hồ từng hoạt động cách mạng tại Lào

QĐND – Những năm làm phóng viên thường trú tại Thủ đô Viêng Chăn, tôi có nhiều dịp gặp nhà văn lão thành Lào Xu-văn-thon Bu-pha-nu-vông. Ông kể cho tôi nghe chuyện Bác Hồ đến thăm lớp học chính trị của Lào sơ tán tại Phu La, Tuyên Quang sau sự kiện thành lập Neo Lào Ít-xa-la và Chính phủ kháng chiến của Pa-thét Lào năm 1950. Sau khi hỏi thăm sức khỏe, tình hình học tập của mọi người, Bác Hồ nói: “Tôi biết tiếng Thái và tiếng Lào, nhưng lâu rồi không nói. Tôi cũng đã từng nhiều lần ngủ qua đêm ở chùa In-pông, thủ đô Viêng Chăn…”. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ từng bôn ba đến rất nhiều nước trên thế giới, nhưng trước đó tôi chưa một lần nghe nói Bác đã hoạt động ở Lào.

Tôi trao đổi câu chuyện của nhà văn Xu-văn-thon với ông Xi-xa-nạ Xi-xán, một lão thành cách mạng, tác giả của Quốc ca Lào, người có nhiều năm gần gũi với Chủ tịch Xu-pha-nu-vông và Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Ông cho biết: Những năm đồng chí Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Thái Lan, Người đã nhiều lần triệu tập các đồng chí Lào ở Viêng Chăn tới Noỏng Khai (Thái Lan) để nghe báo cáo tình hình ở Lào. Người đã chỉ đạo các đồng chí Lào đẩy mạnh tuyên truyền, giác ngộ nhân dân về tinh thần yêu nước và xây dựng cơ sở. Người đã từ Thái Lan sang Pắc Xế, rồi lên Xa-vẳn-na-khệt, đến Xiềng Vang, phía nam thị xã Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn để trực tiếp tìm hiểu thực tế tình hình đời sống nhân dân Lào.

Bác Hồ và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản. Ảnh tư liệu

Đọc hai tác phẩm Cay-xỏn Phôm-vi-hản Tiểu sử và sự nghiệp và Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài của PGS, TS Đức Vượng, nguyên Chánh Văn phòng Hội đồng lý luận Trung ương, hiện là Viện trưởng Viện khoa học nghiên cứu nhân tài, nhân lực, có nhiều chi tiết giúp tôi sáng tỏ điều ấp ủ tìm hiểu trong nhiều năm qua. Ngày 25-4-1928, Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản mới có quyết định cử Nguyễn Ái Quốc trở về Đông Dương hoạt động. Để che mắt bọn mật thám, cuộc hành trình về phương Đông phải qua nhiều nước, mãi tới tháng 7-1928, Người mới tới Băng Cốc. Rời Băng Cốc, Người ngược lên phía bắc tới bản Pa-ma-khạp (tỉnh Phít-xa-nu-lốc), bản Noon-gon (tỉnh U-đon Tha-ni), bản Na-choọc, tỉnh Na-khon Phạ-nôm, sát bờ sông Mê Công…

Trong những ngày hoạt động ở Thái Lan, Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian tuyên truyền, giác ngộ lòng yêu nước cho kiều bào ta, chọn ra những người tiên tiến nhất để đào tạo họ trở thành những cán bộ nòng cốt. Những ngày hoạt động ở Na-khon Phạ-nôm, Người đã đi đò qua sông Mê Công sang tỉnh Khăm Muộn, Lào. Đến bản Xiềng Vang, xã Xiềng Mương, huyện Noỏng Bốc, Người gặp gỡ bà con người Lào và người Việt sinh sống ở đây. Nói chuyện với bà con, Người căn dặn người Lào và người Việt phải đoàn kết giúp đỡ nhau, chung sức chung lòng đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi Lào, ra khỏi Việt Nam, giải phóng hai nước thoát khỏi ách nô lệ. Người phổ biến kinh nghiệm cho bà con về việc tổ chức các đoàn thể yêu nước và đoàn thể cách mạng tại Lào.

Theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, Người ở Thái Lan đến tháng 11-1929, sau đó Người đến Lào hoạt động một thời gian. Tại Lào, Người nhận xét “dân cư rất phân tán, hầu hết theo đạo Phật”. Từ Lào, Người rất muốn về Việt Nam hoạt động nhưng không thể do bọn mật thám của thực dân Pháp hoạt động mạnh. Không về nước được, Người tới Hồng Công (Trung Quốc) để thống nhất ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930. Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp tháng 10-1930 thông qua Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Hòa nhịp với cao trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, từ những năm 1930, những cán bộ ở Lào từng được Nguyễn Ái Quốc đào tạo và những cán bộ giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Người truyền bá, đã lãnh đạo phong trào đấu tranh ở Viêng Chăn, Bò Nèng, Phôn Tịu, Thà Khẹt, Pắc Xế, Xiêng Khoảng. Công nhân làm đường Lạc Xao đấu tranh ủng hộ cao trào Xô-viết Nghệ-Tĩnh năm 1931. Tháng 9-1934, Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời Lào, sau thời gian bị địch khủng bố phân tán, được củng cố để lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh. Tháng 2-1935, Xứ ủy lâm thời Lào họp, cử đại biểu đi Ma Cao dự đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 9-1935, Đảng bộ Lào có hai Tỉnh ủy là Viêng Chăn và Xa-vẳn-na-khệt và các tổ chức đảng ở Bò Nèng, Phôn Tịu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tuy bị địch khủng bố gắt gao, phong trào đấu tranh vẫn lan rộng, lực lượng cách mạng phát triển, dẫn tới việc thành lập Đảng Nhân dân Lào, tiền thân là Đảng Cộng sản Đông Dương.

Về câu chuyện Bác Hồ từng hoạt động ở Lào, PGS,TS Đức Vượng còn cho biết, ngày 9-7-2009, trong chuyến đi công tác tại Lào, ông đã đến bản Xiềng Vang, xã Xiềng Mương, huyện Noọng Bốc, tỉnh Khăm Muộn để khảo sát nơi mà Nguyễn Ái Quốc đã đến gây dựng cơ sở cách mạng tại Lào. Nơi đây, Đảng và Nhà nước Lào đang xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghĩa cử cao đẹp của Đảng và Nhà nước Lào quyết định xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh theo nguyện vọng của cán bộ và nhân dân các bộ tộc Lào, bày tỏ sự biết ơn và ghi nhận những cống hiến to lớn của Người đã khai sáng và dày công vun đắp cho quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt-Lào thủy chung, trong sáng.

Nguyễn Thế Nghiệp

qdnd.vn

Kỳ 4: Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng vô sản thế giới

Xông pha, nhiệt huyết trong thực tế

QĐND Online- Hồ Chí Minh-nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế. Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hòa mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người-với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm 1925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác – Lê-nin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủy viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập Đảng cộng sản ở Việt Nam.

Sức lan tỏa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ La-tinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

Bổ sung sức sống của lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lê-nin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Các Mác, Ăng-ghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lê-nin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân-giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân-cùng với công nhân là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hóa, nhân văn.

Trách nhiệm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “Xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

Hơn bao giờ hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam… Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Kỳ 1: Hành trình mở trang sử mới
Kỳ 2: Nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc
Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

QĐND Online

qdnd.vn

Kỳ 3: Tầm nhìn và những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước bước ngoạt của cách mạng

Truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và sáng lập Đảng

QĐND Online-  Truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào nước ta, hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khởi thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt-Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, xác định con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội….Những công việc cách mạng vĩ đại đó cho thấy tầm nhìn xa, trông rộng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam.

Xuất phát từ thực trạng của đất nước, Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay đảng cộng sản mà thành lập một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít để qua đó dần dần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào quần chúng lao động, đó là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong các tác phẩm, các bài báo, bài giảng của mình, Người đã kết hợp việc phổ biến lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin với việc giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, vạch cho nhân dân ta con đường đi đến độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đường Cách mệnh là một trong những tác phẩm có giá trị to lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin ở Việt Nam những năm 20. Người tổ chức chuyển tài liệu, sách vở, báo chí về nước, gấp rút đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; tổ chức tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong nhân dân; mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trang bị cho các học viên những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, về những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công việc vận động quần chúng; chọn những học viên ưu tú kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cử về nước gây dựng phong trào… Việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thúc đẩy sự phát triển những tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Phong trào “vô sản hóa” đã góp phần đẩy nhanh quá trình giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lê-nin của giai cấp công nhân. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động được lãnh đạo, liên kết với nhau thành một làn sóng mạnh mẽ. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin do Nguyễn Ái Quốc có công truyền bá, đã thật sự chiếm lĩnh được lòng tin của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp ông G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3-1946”

Năm 1930, việc hợp nhất thành công các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn (qua Chánh cương, Sách lược), có hệ thống tổ chức thống nhất, chặt chẽ, rộng khắp cả nước, là một bước ngoặt quyết định của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc – người tìm ra con đường cứu nước, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam; người tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; người rèn luyện, cán bộ, đảng viên theo chuẩn mực của đảng Mác – Lê-nin chân chính, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân.

Những quyết sách chiến lược trọng đại

Bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy tình hình thế giới có chuyển biến lớn, Người gấp rút trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Tám (5-1941). Đây là Hội nghị hoàn chỉnh thêm một bước sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị Trung ương Sáu (11-1939). Tại Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc đã xác định nhiệm vụ dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Người khẳng định: Lúc này nếu quyền lợi của dân tộc không đòi lại được thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Người chỉ đạo thành lập một mặt trận rộng rãi và có tên thích hợp hơn Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để tập hợp lực lượng chống đế quốc. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời với Chương trình cứu nước do chính Hồ Chí Minh dự thảo. Người chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền. Đón bắt kịp thời thời cơ, Người và Đảng ta đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc Dân ngày 16 và 17-8-1945 thống nhất ý chí toàn dân, quyết định Tổng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nắm vững vị trí quan trọng của chính quyền cách mạng, với Tuyên ngôn độc lập, Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, với việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự ra đời Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Nhà nước cách mạng- Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Suốt chặng đường sau đó, bằng tầm nhìn văn hóa sâu rộng, kinh nghiệm chính trị phong phú và sáng tạo, Người đã lãnh đạo, tổ chức và xây dựng Nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, luôn phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Thủ đô Vácxava (Ba Lan), tháng 7-1957. Ảnh: Tư liệu

Với phương châm kháng chiến “toàn dân, toàn diện”, “trường kỳ và tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Người đã hiệu triệu được lòng yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời điểm đất nước “ngàn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài năm 1946; trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1-1959) về đường lối cách mạng miền Nam; trong chỉ đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam-Bắc và cả tinh thần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”… là những nhân tố quan trọng, quyết định làm nên thắng lợi và thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong xu thế thời đại, phát huy được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của dân tộc. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giương cao, đưa Việt Nam thành lương tâm và khí phách của thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội của học thuyết Mác – Lên-nin vào điều kiện Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội-con đường phát triển của dân tộc mà Người đã lựa chọn, đang từng bước được hiện thực hóa sinh động trên đất nước Việt Nam.

Kỳ 4: Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và cách mạng vô sản thế giới

QĐND Online

qdnd.vn

Thông điệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh từ căn cứ địa Thái Nguyên

Chúng tôi muốn hòa bình trong độc lập tự do

TP – Trong thư chúc mừng chính phủ mới của Pháp, Hồ Chủ tịch viết: “Chúng tôi mong chính phủ Pháp đình chỉ ngay cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này và tin rằng dù có nhiều khó khăn vẫn có thể giải quyết một cách hoà bình và công bằng”.

Pôn Ramađiê thay Lêông Blum làm thủ tướng Chính phủ Pháp, tuyên bố trước quốc hội: Không thể giải quyết vấn đề Đông Dương bằng vũ lực. Ramađiê cử Bôlae làm cao ủy thay đô đốc Đácgiăngliơ. Đảng cộng sản Pháp ra nghị quyết “phải nối ngay những cuộc đàm phán với Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh…”.

Bác Hồ với đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại ATK Định Hóa
(Tư  liệu nhà trưng bày ATK Định Hóa)

Những nỗ lực vãn hồi hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thư chúc mừng chính phủ mới của Pháp, Hồ Chủ tịch viết: “Chúng tôi mong chính phủ Pháp đình chỉ ngay cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này và tin rằng dù có nhiều khó khăn vẫn có thể giải quyết một cách hoà bình và công bằng”.

Từ chiến khu Việt Bắc, Đài tiếng nói Việt Nam  truyền đi lời phát biểu của Bác:

…”Nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn độc lập và thống nhất trong khối Liên hiệp Pháp, chúng tôi cam kết tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hoá Pháp ở Việt Nam”.

Phạm Khắc Hoè, nguyên Đổng lý văn phòng Triều đình Huế kể lại: Vào độ cuối tháng 4 năm 1947, ủy viên Cộng hòa Pháp ở miền Bắc, Đơ Pêrêra hỏi:

Ông có quen thân với thứ trưởng ngoại giao Hoàng Minh Giám không?

Ông Hoè cho biết từng học cùng trường Quốc học Huế với ông Giám. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, ông là cộng sự của ông Giám trong nhiều tháng.

Chính phủ Pháp mới nhận được thông điệp của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đề nghị đình chiến, mở cuộc đàm phán  giải quyết xung đột Việt – Pháp, vậy ông Giám có phải là Đảng viên cộng sản không?

Không, ông Giám là nhà giáo yêu nước, được Hồ Chủ tịch rất tin tưởng…  đàm phán sẽ thành công nếu Việt Nam độc lập và thống nhất trong khối Liên hiệp Pháp – Đơ Pêrêra nhún vai… Còn Phạm Khắc Hoè sau đó cũng lên An toàn khu tham gia kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với 8 chiến sỹ bảo vệ do Người đặt tên: “Trường – Kỳ – Kháng – Chiến – Nhất – Định – Thắng – Lợi” đến Làng Xảo, Hợp Thành, Sơn Dương, Tuyên Quang (2/4/1947). Người chủ trì hội nghị cán bộ Trung ương Đảng “Bàn việc cụ thể hoá đường lối kháng chiến…”.

Kiên trì mục đích hòa bình, nhân đạo ngăn chặn chiến tranh, Chính phủ ta gửi thông điệp (25/4/1947) cho Bôlae đề nghị hai bên ngừng bắn, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Bolae trả lời trên đài phát thanh sẽ cử một phái viên đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để chuyển thông điệp.

Đại tướng  Võ Nguyên Giáp nhớ lại(1):

Đầu tháng 5/1947 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám gặp Trung tá Uyn – Sơn, Người của Tổng lãnh sự Anh ở gần cầu Đuống:

– Ông có nhớ Pôn Muýt (Paul Must) không? Người có dịp gặp ông ở Hà Nội và tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 19/12/1946. Ông ấy đang ở bên kia cầu Đuống và tha thiết muốn gặp ông.

Pôn Muýt tới và nói với Hoàng Minh Giám:

– Tôi muốn gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi được ủy nhiệm chuyển trực tiếp đến Chủ tịch một thông điệp của Cao ủy Bôlae…

– Tôi sẽ báo cáo với Hồ Chủ tịch và trả lời về quyết định của Người…. Có thể liên hệ với tôi bằng điện đàm – Pôn Muýt trao đổi quy ước liên lạc.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám kể lại(2):

Bác nhận định cuộc gặp này không mang lại kết quả gì đâu. Nhưng cần cho phái viên Pháp thấy quyết tâm chống xâm lược của Chính phủ và nhân dân Việt Nam để Bôlae và bộ tham mưu của chúng biết…

Chúng tôi muốn hòa bình trong độc lập tự do

Các chiến sỹ công binh dựng một nhà bốn mặt che kín bằng vải bạt dưới tán cây xanh tại một phố vắng trong ba giờ đồng hồ trước khi Pôn Muýt đến. Nhà chia làm hai phòng, một để Hồ Chủ tịch cùng Hoàng Minh Giám tiếp đón phái viên, phòng nhỏ hơn để bộ phận lễ tân làm việc.

Ông Tạ Quang Chiến, một trong 8 chiến sĩ bảo vệ giúp việc được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên, nay đã ngoài 80 tuổi, ở phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội, nhớ lại:

Đường đến thị xã Thái Nguyên cũng như địa điểm gặp gỡ được lực lượng bảo vệ phối hợp triển khai đề phòng tình huống xấu có thể xảy ra. Buổi chiều, đồng chí Kháng (Hoàng Hữu Kháng), Định (Võ Viết Định) và Lợi (Trần Định) bảo vệ Bác từ ATK về thị xã Thái Nguyên.

Khoảng 9 giờ tối ngày 11/5/1947 người chiến sỹ cảnh vệ mở cửa phòng khách để đồng chí Phan Mỹ và Pôn Muýt vào rồi đứng lại ngay. Dưới ánh đèn măng sông Pôn Muýt xúc động bắt tay Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người tuy có gầy đi nhưng vẫn giản dị, lịch sự như trước đây ông đã được gặp tại 12 Ngô Quyền, Hà Nội.

Sau khi hỏi thăm khách chuyện đi đường, Hồ Chủ tịch mời Pôn Muýt uống nước chè đường, một đặc sản nổi tiếng của Thái Nguyên cho lại sức rồi nói:

Ông chuyển cho tôi bức hoàng điệp của ông Bôlae?

Pôn Muýt cảm ơn Hồ Chủ tịch vui lòng tiếp ông và xin phép đọc thuộc lòng bản thông điệp (không có văn bản) của Cao ủy Pháp Bôlae, đặt ra bốn điều kiện cho ngừng bắn: Quân đội Việt Nam phải nộp vũ khí cho Pháp/ Quân đội Pháp được quyền đi lại tự do trên đất nước Việt Nam/ Chính phủ Việt Nam phải trả lại cho Pháp tất cả những người bị bắt (mà họ gọi là con tin)/ Chính phủ Việt Nam phải trao cho Pháp tất cả những người nước ngoài (người Nhật và Pháp  chạy sang phía Việt Nam).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm nét mặt, Người ôn tồn hỏi:

Ông Pôn Muýt, tôi biết ông đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hítle của nhân dân Pháp, điều đó có đúng không ?

Thưa Chủ tịch, đúng.

Vậy nếu ở địa vị tôi, ông sẽ có thái độ thế nào với bản thông điệp của ông Bôlae? Ông có thể chấp nhận những điều kiện đó không?

Pôn  Muýt lúng túng không trả lời được.

Bác nói tiếp: Tôi nghe nói ông Bôlae cũng tham gia cuộc kháng chiến chống Hítle và có thành tích. Những điều kiện ông ấy đưa ra để ngừng bắn có ý nghĩa gì? Có nghĩa ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng. Lại còn điều liên quan đến người nước ngoài đứng trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam chống thực dân. Nếu chấp nhận chúng tôi sẽ là kẻ hèn nhát. “Trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn nhát”. (3)

Pôn Muýt im lặng, gật đầu tỏ ý đồng tình, rồi nói:

– Tôi hiểu, thưa Chủ tịch tôi hiểu… – Thế rồi ông ta không nói tới bản thông điệp nữa. Bác giải thích về lập trường của Chính phủ và nhân dân ta, yêu chuộng hoà bình muốn có quan hệ với nhân dân Pháp nhưng kiên quyết kháng chiến để bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc mình.

Pôn Muýt thừa nhận rằng đó là những tình cảm và ý chí chính đáng, hứa sẽ báo cáo lại với Cao ủy Bôlae. Bác nói:

– Chúng tôi muốn hoà bình, nhưng không phải là hoà bình với bất cứ giá nào! mà phải là hoà bình trong độc lập tự do.

Các đồng chí phục vụ bưng ra rượu sâm panh để Chủ tịch Hồ Chí Minh mời khách uống. Pôn Muýt uống cạn ly chia tay rồi khuất vào bóng đêm.

Cuộc gặp gỡ cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại diện Chính phủ Pháp ở thị xã Thái Nguyên 11/5/1947, thông điệp của Bác đã trở thành lời hịch non sông bảo vệ độc lập của dân tộc Việt Nam sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

“Đánh Pháp bằng trí tuệ của nhân dân Việt Nam”

Bốn ngày sau, Bác chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ tại Sơn Dương để bàn về vấn đề ngoại giao với Pháp sau cuộc hội kiến giữa Người với Pôn Muýt…  Ngày 25/5/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Thư gửi đồng bào(4)

… Người kêu gọi: “Mỗi công dân phải là một chiến sỹ, mỗi làng phải là một chiến hào”.

Tối ngày 20/5/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các chiến sỹ bảo vệ giúp việc đến đồi Khau Tý, xã Điềm Mặc, ATK Định Hóa, xây dựng Phủ Chủ tịch đầu tiên ở Việt Bắc. Bác chủ trì họp Ban Thường vụ Trung ương Đảng, ra chỉ thị “Phá tan cuộc tấn công của giặc Pháp” đánh lên căn cứ địa Việt Bắc, bằng không quân, bộ binh, hải quân của 12.000 quân địch. Ta diệt, làm bị thương 7.200 tên, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm 16 tàu chiến, 38 ca nô, 255 xe thiết giáp, ô tô cùng 1.000 khẩu pháo, cối, thu 4.000 súng các loại…

Cũng cần nhắc lại rằng; trước năm 1946 Hồ Chủ tịch là thượng khách của Chính phủ Pháp. Người họp báo ở lâu đài Royal Monceau Paris, một nhà báo Pháp hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Chủ tịch tuyên bố nếu Pháp cố tình mở chiến tranh xâm lược thì  quyết địch lại chứ không sợ. Vậy Chủ tịch đánh bằng gì ?

Bác đáp lại đanh gọn : “Đánh bằng trí tuệ của nhân dân Việt Nam”

Từ câu nói ở thủ đô Paris của Người, nhân dân Việt Nam đã biến thành bài học nhớ đời của quân viễn chinh Pháp ở chiến khu Việt Bắc.

————————–

(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây (Hữu Mai ghi), Tổng tập hồi ký, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội 2006, tr 435.
(2) Hoàng Minh Giám, Đánh bằng trí tuệ của nhân dân Việt Nam (Phí Văn Báo ghi), tạp chí Xưa và Nay số 267 (9/2006)
(3) Hoàng Minh Giám, S.đ.d, Tr 6
(4) Những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1956, tập I, Tr 174 – 175

Đồng Khắc Thọ

tienphong.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước rất phong phú và hiện đại, đặc biệt là tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước kiểu mới – nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Sau khi nước ta giành được độc lập, Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân; Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Trong nhà nước của dân thì dân là chủ, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Cũng trên ý nghĩa đó, các vị đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là “công bộc” của dân theo ý nghĩa đúng đắn của từ này.

Nhưng có những “vị đại diện” đã lầm lẫn sự ủy quyền đó với quyền lực cá nhân, sinh ra lộng quyền, cửa quyền… Chính cơn khát quyền lực ấy đã đẻ ra biết bao chuyện đau lòng mà Bác Hồ từng phê phán: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”.

Nhà nước do dân là nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình; nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. Nghĩa là khi các cơ quan đó không đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân sẽ bãi miễn nó.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì dân được. Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính.

Cán bộ vừa là lãnh đạo vừa là đầy tớ của dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh…”. Người viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Đến đây, nảy sinh mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với người cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân ủy quyền. Trong các chế độ cũ, nhà nước là bộ máy của giai cấp bóc lột dùng để thống trị và áp bức nhân dân; viên chức, quan lại tự xưng là “cha mẹ dân”, đè đầu cưỡi cổ dân.

Trong chế độ dân chủ, Bác Hồ đã lật ngược mối quan hệ đó. Người nói: “Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ. Làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”.

Bác Hồ nhiều lần kéo các quan chức từ hàng “dân chi phụ mẫu” xuống hàng đầy tớ. Hai chữ “đầy tớ” Người dùng gốc từ hai chữ “công bộc”, vốn có nghĩa là người phục vụ chung của xã hội cũng là một cách dùng để chỉ hàng ngũ quan lại, dưới chính thể phong kiến hay tư sản đều có dùng, chứ không hề có ý miệt thị các chức vụ này.

Nhưng đối với cán bộ nhà nước, Bác Hồ không bao giờ chỉ nhấn mạnh một vế. Là người phục vụ, cán bộ nhà nước đồng thời là người lãnh đạo, người hướng dẫn của nhân dân. Người nói: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường”. Trong Di chúc, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Có ý kiến cho rằng: đã là đầy tớ thì lãnh đạo sao được? Mới nghe qua tưởng như đây là một nghịch lý, nhưng thực ra không có gì mâu thuẫn. Phải hiểu ý Bác Hồ. Là người đầy tớ thì phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ… Là người lãnh đạo thì phải có trí tuệ hơn người, minh mẫn, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi nhân dân, trọng dụng hiền tài… Như vậy, để làm người thay mặt dân phải gồm đủ cả đức và tài, phải vừa hiền lại vừa minh.

vietbao.vn

Mười “tiên đoán” lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng thành văn và cả tư tưởng truyền miệng đều nói đến những nhà tư tưởng lớn có khả năng “tiên tri tiên lượng” về thời cuộc, về thế sự,… như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi… Họ đã được nhân dân tôn vinh như những vị thánh. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần bộc lộ khả năng như vậy.

Về các sự kiện lớn trên thế giới

1. Chủ nghĩa Mác – Lênin sẽ cùng với chủ nghĩa yêu nước truyền thống ở Việt Nam tạo thành sức mạnh đánh bại chủ nghĩa thực dân phong kiến….

Ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc viết trong bài “Phong trào Cộng sản quốc tế” đăng trong tạp chí La Revue Communiste số 15 đã tiên đoán “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn ở châu Âu. Chủ nghĩa Mác – Lênin sẽ cùng với chủ nghĩa yêu nước truyền thống ở Việt Nam tạo thành sức mạnh tổng hợp vừa mang tính dân tộc vừa mang tính thời đại. Sức mạnh đó sẽ đánh bại chủ nghĩa thực dân phong kiến xây dựng nước Việt Nam độc lập và chủ nghĩa xã hội”.

Lịch sử cách mạng VN hiện đại cho thấy tiên đoán đó đã thành sự thật.

2. Nước Trung Hoa sẽ trở thành nhà nước cộng sản và sẽ bắt tay với Liên Xô.

Cũng trong bài viết trên, từ năm 1921, Người tiên đoán: “Sự thành lập chính quyền của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên ở phía Nam đã hứa hẹn với chúng ta một nước Trung Hoa được tổ chức lại và vô sản hóa… trong một tương lai gần đây,… nước Trung Hoa mới và nước Nga công nhân sẽ nắm tay nhau trong tình hữu nghị để tiến lên vì lợi ích của nền dân chủ và nhân đạo”.

20 năm sau, tiên đoán đó đã thành hiện thực.

3. Chiến tranh thế giới lần thứ II và cuộc tiến công của chủ nghĩa tư bản vào nước Nga Xô-viết.

Tháng 3 năm 1924 viết bài đăng trên Tập san Inprekorr, Nguyễn Ái Quốc đã viết: ‘Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản”.

17 năm sau, năm 1941 lời tiên đoán đó thành hiện thực.

4. Lò lửa chiến tranh sẽ nổ ra ở Thái Bình Dương và Đông Dương sẽ bị bần cùng, giảm sút dân số…

Tháng 4 năm 1924 cũng bài đăng trên tạp chí nêu trên, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Vì đã trở thành trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương tương lai sẽ trở thành lò lửa của chiến tranh thế giới mới và giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh” và “để làm cho các thuộc địa đó cũng trở thành “có ích” cho chính quốc. Nếu dự án được thực hiện, thì nhất định là Đông Dương sẽ lâm vào tình trạng giảm sút dân số và bần cùng”.

Gần 20 năm sau lời tiên đoán đó đã xảy ra. Và ở nước ta vào năm 1945, hàng triệu người đã bị chết đói do phát xít Nhật vơ vét hết lương thực cung ứng cho chiến tranh.

5. Hítle tấn công Liên Xô và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Tháng 6–1940 khi phát xít Đức đã chiếm nước Pháp và một số nước châu Âu, Nhật chiếm Trân Châu cảng của Mỹ và hất cẳng Anh, Pháp ra khỏi các thuộc địa ở Thái Bình Dương, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Ngày Hítle tấn công liên bang Xô-viết sẽ trở thành ngày bắt đầu diệt vong của chủ nghĩa phát xít Đức. Có thể nói một cách chắc chắn rằng chiến tranh đế quốc lần thứ nhất dẫn đến việc thành lập liên bang Xô-viết thì lần này chủ nghĩa phát xít sụp đổ sẽ dẫn đến thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước khác”.

Lời tiên đoán đó 4 năm sau thành hiện thực.

Về các sự kiện lớn cách mạng nước ta

6. Năm 1945 nước Việt Nam độc lập.

Tháng 2 năm 1942 trong bài thơ “Lịch sử nước ta” Hồ Chí Minh viết: “1945 Việt Nam độc lập”. Ba năm sau, tháng 9-1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại vườn hoa Ba Đình – Hà Nội, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

7. Kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp bằng chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Hồ Chí Minh đã tiên đoán rằng đế quốc Mỹ sẽ xâm lược Việt Nam.

Ngày 12-4-1999 nhân kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời phỏng vấn báo chí: “Bác Hồ – Nhà tiên tri”. Đại tướng cho biết: “Khi gặp tôi sau chiến thắng, Bác nói: Chiến thắng Điện Biên Phủ đáng mừng, nhưng chú hãy nhớ, đây mới là bắt đầu – bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ta còn phải đánh Mỹ…”.

Mười năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Mỹ đã hùng hổ đem quân xâm lược VN.

8. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi và thắng lợi vào khoảng năm 1975.

Trong Di chúc viết 15-5-1965 có câu: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào có thể hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn… Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất”.

Mấy năm nữa có nghĩa là trong vòng 10 năm trở lại, tức là nhiều lắm là 1975.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã kể lại rằng: “Trong bản thảo diễn văn nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 15 nước Việt Nam Dân chủ Cộïng hòa, ngày 2-9-1960, Bác viết: “Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh thì chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam sẽ sum họp một nhà”.

9. Mỹ sẽ đem B52 đánh phá Hà Nội, và sẽ chịu thua trên bầu trời Hà Nội.

Hồi ký của Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân Việt Nam viết, vào năm 1967, Bác Hồ đã nói với ông: “Sớm muộn gì thì đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh phá Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua”. Bác khẳng định dứt khoát “… Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

5 năm sau, năm 1972, ta thắng trận “Điện Biên Phủ trên không” và sau đó Mỹ mới chịu ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam.

10. Về tiến trình kết thúc chiến tranh ở Việt Nam là “Mỹ cút” rồi “Ngụy nhào”.

Trong Thư chúc mừng năm mới – Xuân Kỷ Dậu (năm 1969), Bác viết: “Vì độc lập vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”…

Sự việc đã diễn ra đúng như vậy vào năm 1973 (Mỹ cút) và năm 1975 (ngụy nhào) giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam…

Tiến sĩ NGUYỄN ĐỨC ĐẠT

vietbao.vn

Triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc”

Đội viên Thiếu niên Tiền phong Trung Quốc nhờ Bác Hồ chuyển thư tới các bạn nhỏ Việt Nam năm 1957

Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Tổng cục Lưu trữ Nhà nước Trung Quốc đồng tổ chức Triển lãm tài liệu lưu trữ Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra từ nay đến hết ngày 15-6-2007, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (19 Ngọc Hà, Hà Nội).

Triển lãm mang chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc” trưng bày hơn 300 tài liệu, hình ảnh và hiện vật phản ánh sinh động hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Trung Quốc; mối quan hệ hữu nghị của Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Trung Quốc. Trong đó, có nhiều tài liệu lần đầu tiên được giới thiệu với công chúng thủ đô.

Có thể thấy, những tài liệu, hình ảnh được trưng bày tại Triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc” đã tái hiện một cách chân thực và sinh động quan hệ mật thiết giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo tiền bối như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc; tình cảm giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân Trung Quốc. Những hình ảnh ấy tô đậm thêm tình hữu nghị vừa là đồng chí vừa là anh em giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân Trung – Việt.

Nội dung triển lãm gồm 3 phần, được sắp xếp theo các mốc quan trọng:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đón tiếp Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai năm 1960

Phần thứ nhất khái quát thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh xây đắp nền móng quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc (1890 – 1945). Phần này bao gồm những tài liệu về quê hương, đất nước và về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc cùng những người bạn Trung Quốc như: Chu Ân Lai, Trương Thái Lôi, Lý Phú Xuân… tại Pháp và Liên Xô (1919 – 1924); những hoạt động cách mạng của Người tại Trung Quốc (1924 – 1931) và những hoạt động cùng nhân dân Trung Quốc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít tại Trung Quốc (1938 – 1944).

Phần hai giới thiệu các tài liệu lưu trữ phản ánh quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Trung Quốc trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân và đế quốc, giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng đất nước (1945 – 1969).

Phần ba phản ánh một số sự kiện tiêu biểu về quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc trong thời gian gần đây qua các chuyến viếng thăm lẫn nhau của các đoàn đại biểu lãnh đạo cấp cao của Đảng, Chính phủ hai nước, tiếp tục phát triển tình hữu nghị Việt – Trung mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Ban tổ chức cho biết thêm, triển lãm sẽ được tổ chức lần lượt vào tháng 5 và tháng 10 tại thành phố Hà Nội và Bắc Kinh. Đợt tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 10 tới, Trung Quốc sẽ chọn địa điểm tổ chức triển lãm này tại “Trung Hoa thế kỷ đàm” – công trình đánh dấu mốc cho thế kỷ mới, nằm trên tuyến đường Trường An ở Bắc Kinh – “con đường đẹp nhất” Trung Quốc.

Theo M. NGUYỆT – Sài Gòn giải phóng

vietbao.vn