Tag Archive | UNESCO

Toàn văn nghị quyết của UNESCO tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch

Khóa họp Ðại Hội đồng UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc) lần thứ 24 tại Pa-ri, từ ngày 20/10 – 20/11/1987, đã thông qua Nghị quyết 24C/18.65 về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là”Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và Nhà văn hóa kiệt xuất”, vào năm 1990.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Trích Nghị quyết của UNESCO…



————————————-

Toàn văn nghị quyết của Tổ chức giáo dục,
khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO)
về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phiên họp toàn thể;

Xét thấy việc tổ chức kỷ niệm trên quy mô quốc tế những nhà tri thức lỗi lạc và danh nhân văn hóa và góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu của UNESCO và vào sự hiểu biết trên thế giới;

Nhắc lại Quyết định số 18C 4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại;

Ghi nhận rằng năm 1990 sẽ được đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa kiệt xuất;

Xét thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội;

Xét thấy sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau;

1 – Khuyến nghị các quốc gia thành viên kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tưởng niệm Người, để làm cho mọi người hiểu được tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Người vì công cuộc giải phóng dân tộc;

2 – Đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO tiến hành những bước đi phù hợp để kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giúp đỡ các hoạt động tưởng niệm chung được tổ chức nhân dịp này, đặc b iệt là những hoạt động diễn ra ở Việt Nam.

(Theo Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam.
NXB Chính trị Quốc gia)
quehuongonline.vn

UNESCO khẳng định sự tôn vinh với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng UNESCO coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của người Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…

Bà C.Ma-rin (Katherine Muller-Marin), Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, đã dành những lời tốt đẹp này để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Hội thảo khoa học quốc tế về Người, được tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Khẳng định sự tôn vinh của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà C.Ma-rin nói: “Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn… Đại hội đồng UNESCO cho rằng, việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Để tôn vinh những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục của Việt Nam và thế giới… bà C.Ma-rin nhấn mạnh: “Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người, nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt những sự kiện diễn ra tại Việt Nam”.

Bà C.Ma-rin (bên phải) trao đổi với các đại biểu dự Hội thảo

Để nhấn mạnh thêm công lao, sự đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao đổi với phóng viên bên lề Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà C.Ma-rin xúc động nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều điều làm tôi ấn tượng, bản thân tôi đã nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tại sao người dân Việt Nam lại ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến như thế, và tôi đã hiểu được tình cảm và lý tưởng của Người. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là biểu tượng của dân tộc thì chắc hẳn phải có điều gì đó và  điều quan trọng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là khả năng đoàn kết và tập hợp mọi người. Làm thế nào Người làm được điều đó? Người đã đoàn kết và tập hợp được nhiều người vì Người làm cho mọi người tự tin vào bản thân mình, tự hiểu mình nhiều hơn và làm cho mọi người có thể hợp tác và sống hòa thuận với nhau, đoàn kết với nhau… Một trong những điều tôi ấn tượng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là người luôn quan tâm, giáo dục cho người dân biết đọc, viết… và đấy cũng là ý tưởng của UNESCO. Để người dân biết đọc biết viết, Người còn quan tâm xem làm thế nào để người dân có sách để đọc, có bút để viết… Ngoài ra, tôi rất thích những nỗ lực của Người trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, điều thú vị là tất cả các lĩnh vực Người làm đều thuộc những thẩm quyền UNESCO quan tâm”.

Bà C.Ma-rin tâm sự: “Điều quan trọng nhất tôi thấy từ di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã chỉ cho dân tộc Việt Nam biết cách sống hòa thuận và xây dựng mối quan hệ bang giao hòa hiếu với các dân tộc khác như thế nào, biết đóng góp vào sự nghiệp chung cho nhân loại… Những gì tôi cảm nhận được từ Người thực sự mang những phẩm chất của một con người anh hùng”.

Bài và ảnh: HOA VINH
qdnd.vn

Hồ Chí Minh – đại sứ của Việt Nam trên toàn cầu

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011)

QĐND – Năm 1990, vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi UNESCO – Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (LHQ) công bố nghị quyết biểu thị lòng tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp tự do độc lập, “anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam… và “là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ XX”… thì những người nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã tự thấy phải điều chỉnh tầm quan sát của mình để không chỉ thấy công lao của Người đối với dân tộc Việt Nam mà còn phải thấy “Người đã góp phần thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta” (tuần báo Time-2000-Hoa Kỳ).

Do nhu cầu tạo ra một phương thức hành động mới để bảo vệ sự hòa hợp xã hội và gìn giữ hòa bình trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng trong mọi khía cạnh cuộc sống con người, Đại hội đồng LHQ đã chọn năm 2010 là năm “Thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau” và chỉ định UNESCO là cơ quan tổ chức hoạt động này. Và người được UNESCO đánh giá có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau chính là Hồ Chí Minh. Tối ngày 14-5-2010, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hans d’Orville, Phó tổng giám đốc UNESCO đọc bản tham luận ca ngợi công lao, sự nghiệp Hồ Chí Minh đã khẳng định “Hồ Chí Minh là người tiêu biểu cho tinh thần hòa giải giữa các nền văn hóa của LHQ… Cả cuộc hành trình trong cuộc đời đã khiến Hồ Chí Minh trở thành công dân của thế giới, đồng thời là đại sứ của Việt Nam trên khắp toàn cầu… Cuộc đời hoạt động chính trị của Người trước hết là nhằm đấu tranh cho quyền lợi con người và quyền của các dân tộc…”. Nhắc lại câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh và lời tuyên bố: “Việc thống trị, áp bức và bóc lột các dân tộc thuộc địa chính là sự chối bỏ các quyền cơ bản của con người và đi ngược lại với Hiến chương của LHQ” , bản tham luận cho rằng, công lao to lớn của Hồ Chí Minh là đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Ảnh: TL.

Rời Tổ quốc qua nước Pháp để tìm đường cứu nước từ ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành không phải là một người mất nước đơn độc mà đã thực sự đại diện cho một khuynh hướng chính trị tiến bộ nhất trong phong trào đòi giải phóng của nhân dân thuộc địa – xây dựng trên một nền tảng văn hóa rất đa diện: Một nền nho học đủ tiếp nhận mọi giáo lý phương Đông; một vốn ngoại ngữ đủ sức giao tiếp với người Pháp; một khuynh hướng chính trị đã bỏ lại sau hàng loạt cuộc khởi nghĩa mang tính dân tộc của các bậc cha anh do mọi đẳng cấp cầm đầu, từ vua quan tới các sĩ phu yêu nước, thủ lĩnh nông dân, các trào lưu chính trị từ “bất bạo động” kiểu Phan Chu Trinh đến “Đông Du cầu viện” của Phan Bội Châu… (với Nguyễn Tất Thành, tất cả các trào lưu chính trị ấy tuy không thiếu lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm, nhưng vẫn chưa hội đủ các yếu tố khả dĩ đương đầu với nền thống trị vừa tinh vi toàn diện vừa rất chuyên nghiệp của thực dân, đế quốc). Theo Người, muốn đánh bại kẻ thù, tất phải nắm trong tay một bí quyết gì lớn mạnh hơn chúng. Đó là cái Nguyễn Tất Thành đã tìm thấy từ Lê-nin.

Cuộc xuất trình “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” trước hội nghị Véc-xây đối với Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một cuộc trinh sát thực địa để thăm dò phản ứng của đối phương và sau khi biết rõ phải tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng thì anh Nguyễn đã tiến hành một cách có hệ thống quá trình vừa sáng tạo lực lượng, vừa tiến công vạch mặt chúng từ nhiều hướng, nhất là thông qua những bài chính luận trên Báo Nhân đạo.

Được những tin tức về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga cổ vũ, qua việc gia nhập đảng Xã hội Pháp vào năm 1919, anh Nguyễn đã tận dụng mọi diễn đàn và mọi mối quan hệ để tranh thủ làm rõ tình hình thuộc địa còn rất xa lạ với mọi người Pháp ở chính quốc; tham gia thành lập “Hội những người Việt Nam yêu nước” và chuẩn bị cẩn thận mọi tư liệu để biên soạn “Bản án chế độ thực dân Pháp”, chủ động tham gia “Ủy ban đấu tranh gia nhập Đệ tam quốc của Đảng Xã hội Pháp”, trở thành đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại đại hội Tua ngày 30-12-1920, rồi chủ trì ra Báo Người cùng khổ vào tháng 4-1922, làm diễn đàn của cư dân thuộc địa ngay trên đất Pháp…

Nhân dịp đại biểu cánh tả của nông dân hơn 20 nước châu Âu và châu Á tới dự triển lãm nông nghiệp toàn Nga và tiến hành Đại hội Quốc tế Nông dân tại Mát-xcơ-va (tháng 10-1923), tại buổi họp thứ hai của Đại hội, anh Nguyễn thay mặt Đông Dương thuộc Pháp chỉ rõ “hai tầng áp bức” mà nông dân các thuộc địa phải chịu: Tầng thứ nhất với tư cách nông dân, tầng thứ hai với tư cách nông dân một nước thuộc địa và ra lời kêu gọi: “Quốc tế của các đồng chí chỉ thực sự trở thành Quốc tế khi mà không những nông dân phương Tây mà cả nông dân phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị bóc lột và áp bức nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế”. Tại Đại hội này Nguyễn Ái Quốc thay mặt các nước châu Á được bầu vào Chủ tịch đoàn của Quốc tế Nông dân. Phóng viên Tạp chí Ngọn lửa nhỏ đã phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc – với tư cách “thành viên Quốc tế Cộng sản đầu tiên người Đông Dương”. Và người phóng viên đã có nhận xét nổi tiếng trong bài phỏng vấn Người: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị… Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”…

Cuộc trường chinh 30 năm của người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước trải qua bao thăng trầm để đến khi trở về Tổ quốc đã “quá tuổi lên lão”. Nhưng đổi lại, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam đã mở, tổ chức lãnh đạo đã thực sự hình thành, lực lượng từ trong nước và ngoài nước đang được động viên rộng rãi, người tìm đường đã thực sự trở thành lãnh tụ dẫn đường không chỉ được trong nước suy tôn mà nhiều nhà cách mạng thế giới đều biết tiếng…

Về đến Cao Bằng ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo cuộc chuyển hướng chiến lược từ cách mạng giai cấp sang giải phóng dân tộc, thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, phát triển các đoàn thể cứu quốc, xây dựng các đội vũ trang cách mạng làm nhiệm vụ đội quân công tác… Cuối tháng 8-1942 tìm đường sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng, bị bắt và tới tháng 7-1944, Hồ Chí Minh đã kịp trở về uốn nắn cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, phát triển căn cứ địa Việt Bắc thành khu giải phóng, xóa bỏ chính quyền cũ, xây dựng chính quyền dân chủ, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, quyết định Tổng khởi nghĩa…

Với nhãn quan chiến lược của nhà cách mạng lão thành, có sự cộng tác của một Bộ tham mưu được đào tạo bài bản, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã nổ ra vào lúc kẻ thù cũ (thực dân Pháp) đã bị phát xít hạ gục, kẻ thù mới (Nhật) bị bẻ gãy tới những lực lượng cuối cùng, sự diễn biến khởi nghĩa toàn dân đã đạt tới trình độ nghệ thuật so với các cuộc cách mạng trong thời hiện đại: Chính quyền cả nước trong 58 tỉnh đã giành được trong vòng 10 ngày (từ 19-8 tới 28-8) hầu như không gặp sự phản kháng nào đáng kể của các thế lực đối lập, trong khi quân Nhật ở Đông Dương vẫn còn hơn 10 vạn, chưa được lệnh hạ vũ khí.

Tính chất nhân dân của cuộc Tổng khởi nghĩa đã được nhà nghiên cứu Stein Tonnesson tường thuật tỉ mỉ trong một tác phẩm xuất bản năm 1991 tại Luân Đôn về “Cuộc cách mạng Việt Nam 1945” có đoạn viết: “Trong 58 tỉnh của Việt Nam, không dưới 28 tỉnh chủ yếu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, ở đây người dân nổi dậy đầu tiên trong phạm vi các làng, huyện rồi sau đó là thị xã, ở 7 tỉnh khác, cuộc nổi dậy bắt đầu từ thị xã rồi sau đó mới lan tới các làng, huyện” (1).

So với những cuộc cách mạng trong thời hiện đại ở thế giới, hiếm có cuộc cách mạng nào diễn ra thuận lợi, ít đổ máu như Cách mạng Tháng Tám. Ở đó, tiếng tăm về cuộc đời hoạt động của lãnh tụ đã có sức quy tụ lực lượng, cho đến nhà vua cũng sẵn sàng thoái vị. Cũng do sự chèo chống đầy kinh nghiệm của Hồ Chí Minh mà tất cả các âm mưu xâm lược và tái chiếm Việt Nam của mọi thế lực đế quốc, phản động đều lần lượt thất bại, hoặc bằng ngoại giao mềm dẻo, hoặc bằng kháng chiến kiên cường để nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đứng vững và phát triển.

Và cũng như lời khẳng định của Stein Tonnesson: “… Nước Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945 là giai đoạn đầu tiên mở đầu cho làn sóng xóa bỏ chế độ thuộc địa ở Á châu, tiếp theo là Phi châu” (2), do kích thích dây chuyền của Cách mạng Tháng Tám Việt Nam và In-đô-nê-xi-a (17-8), Nê-pan giành độc lập cuối 1945, Phi-líp-pin vào năm 1946, Mi-an-ma và Ấn Độ vào năm 1947, Triều Tiên, Xri Lan-ca vào năm 1948. Sau khi thực dân Pháp bị thất bại phải rút khỏi Việt Nam vào năm 1954 thì ở châu Á, Pa-ki-xtan giành độc lập năm 1956, Ma-lai-xi-a năm 1957. Ở châu Phi, An-giê-ri tuyên bố độc lập cuối năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi năm 1962, Ma-rốc giành độc lập năm 1956, Tuy-ni-di 1957, Ghi-nê 1958, Gha-na 1959, các nước Ma-li, Ga-bông, Mô-ri-ta-ni, Xê-nê-gan, Ma-đa-ga-xca đều vào năm 1960, U-gan-đa 1962, Kê-ni-a 1963. Các nước còn lại lần lượt đứng dậy cho đến những năm 90 của thế kỷ XX chỉ còn 3 nước chậm nhất là Na-mi-bi-a (1990), Ê-ti-ô-pi-a (1991), Ê-ti-tơ-ri-a (1993).

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh (19-5-1890/19-5-2011) và 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011), chúng ta càng tự hào về sự đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ với cách mạng Việt Nam mà cả với cách mạng thế giới vì sự bình đẳng và tiến bộ của con người.

———————————-

(1) Stein Tonnesson. Cuộc cách mạng Việt Nam 1945. Ru-dơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong thế giới có chiến tranh. Viện Nghiên cứu Hòa Bình Thế giới Oslo, NXB Sage Luân Đôn 1991, Bản dịch của Viện Lịch sử Đảng, tr 100.

(2) Sđd Tr 113-114.

Thiếu tướng, GS BÙI PHAN KỲ

qdnd.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới

Hồ Chí Minh là một con người hội tụ nhiều tư tưởng thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và trong những nỗ lực nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau.

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2010) và 20 năm Ngày UNESCO công nhận Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất Việt Nam”, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã đọc bài tham luận đặc biệt tại lễ kỷ niệm tổ chức tại Paris ngày 14/5, nêu bật những giá trị mang tính thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cổng TTĐT Chính phủ xin giới thiệu toàn văn bài tham luận của Phó Tổng Giám đốc UNESCO.

“Trước hết, cho phép tôi được đặt một câu hỏi hơi đặc biệt “Hồ Chí Minh của năm 2010 này là ai ?” Đối với những người thuộc thế hệ của tôi, ông là một gương mặt mang tính thời sự, là tâm điểm của rất nhiều cuộc tuần hành mà sinh viên trên toàn thế giới tổ chức để ủng hộ Việt Nam, đối với những thế hệ kế tiếp, ông là một gương mặt của lịch sử. Nhưng đối với tất cả chúng ta, ông luôn là biểu tượng mà cho đến nay ta vẫn còn phải suy ngẫm.

Là người giải phóng dân tộc và đấu tranh cho tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người lãnh đạo cuộc đấu tranh của Việt Nam để giành tự do và độc lập dân tộc. Đối với những người Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, trước tiên đó là một con người của hòa bình và của sự hòa giải vì phải công nhận rằng Hồ Chí Minh đã luôn luôn đấu tranh cho sự phát triển của đất nước, của khu vực và trên thế giới.

Năm 2010 là dịp kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Người và đây cũng là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại sự kiện cách đây 20 năm, vào năm 1990, UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một trong những nhân vật quan trọng và kiệt xuất của lịch sử.

Theo Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của “tinh thần dân tộc, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Hồ Chí Minh là một con người hội tụ nhiều tư tưởng thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và trong những nỗ lực nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau. Chúng ta không thể không nhắc đến những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật. “Sự đóng góp này kết tinh từ truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam”.

Sự phong phú đa dạng của Việt Nam đều được thế giới biết đến, nhất là UNESCO. Quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn đã được đưa vào danh sách các di sản văn hóa thế giới của UNESCO. Chúng tôi cũng đã xếp hạng vịnh Hạ Long và vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nằm trong hệ thống các di sản thiên nhiên của thế giới. Trong danh sách 166 di sản phi vật thể của UNESCO hiện nay cũng đã tính cả Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian cồng chiêng Tây Nguyên. Cũng cần phải lưu ý rằng Hà Nội, hiện đang chuẩn bị cho Lễ hội nghìn năm của mình, cũng đã được UNESCO công nhận “Thành phố hòa bình”, nhờ vào những tiến bộ đầy ấn tượng của thành phố này, đặc biệt là trong các lĩnh vực tôn tạo di tích cổ, hỗ trợ các hoạt động trao đổi văn hóa và nghệ thuật, thúc đẩy làng nghề thủ công truyền thống, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cho người cao tuổi, bảo vệ môi trường và tạo ra nhiều không gian xanh. Đây cũng hoàn toàn là ý nguyện đáng được tôn trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Người luôn theo đuổi trong suốt cuộc đời của mình.

Cuộc đời hoạt động chính trị của Người trước hết là nhằm đấu tranh cho quyền con người và quyền của các dân tộc. Ngày 2/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tuyên ngôn của Người bắt đầu bằng chính những từ được trích dẫn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ : “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa đã cho họ những quyền không thể xâm phạm : đó là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Quan điểm của Người đã nói trước được điều mà 15 năm sau, vào năm 1960, LHQ đã đưa vào trong Tuyên bố trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa, theo đó Người đã nói : “Việc thống trị, áp bức và bóc lột các dân tộc thuộc địa chính là sự chối bỏ các quyền cơ bản của con người và đi ngược lại với Hiến chương của LHQ, điều này ảnh hưởng đến sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình và hợp tác trên thế giới”.

Được giáo dục theo truyền thống Khổng giáo, cũng như chịu ảnh hưởng của nền giáo dục phương Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ tư tưởng của mình trên cơ sở dung hòa những sự khác biệt. Cũng từ những sự khác biệt này, Hồ Chí Minh đã biết biết đúc kết để xây dựng một bản sắc văn hóa Việt Nam. Theo Người, “Văn hóa Việt Nam là kết quả của sự giao thoa của các nền văn hóa phương Đông và phương Tây. Chúng ta cần học những điều hay, kể cả từ văn hóa phương Đông và phương Tây, để tạo ra một bản sắc riêng cho nền văn hóa Việt Nam”. Hồ Chi Minh đã đón nhận cách tiếp cận vấn đề này một cách có ý thức. Theo Người, nếu như Khổng giáo chú trọng nhiều tới đạo đức tư cách của cá nhân, thì Thiên chúa giáo lại chú trọng tới những gì hướng thiện, còn chủ nghĩa Mác lại chú ý tới tính biện chứng. Người đã nói, “tôi luôn cố gắng làm một học trò tốt của tất cả những người thầy này”. Thừa hưởng truyền thống dân tộc, Hồ Chí Minh đã luôn chia sẻ sự hiểu biết phong phú của mình, đồng thời cởi mở với thế giới.

Các cuộc hành trình trong cuộc đời đã khiến Bác Hồ trở thành công dân của thế giới, đồng thời là đại sứ của Việt Nam trên khắp toàn cầu. Từ năm 1911, ở tuổi 21, Người đã đến sống làm việc tại Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong số rất nhiều những trường phái tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng, chúng ta có thể kể đến những điều mà Người học được ở New York qua Marcus Garvey, người sáng lập ra Hiệp hội toàn cầu nhằm cải thiện điều kiện sống cho những người da đen, đồng thời cũng là một gương mặt nổi bật trong phong trào đấu tranh đòi quyền tự do của người Phi.

Mối quan tâm của Người đối với vấn đề giải phóng dân tộc càng lớn hơn, nhất là sau Đại chiến thế giới lần thứ I, khi người nhận ra rằng Hiệp ước Versailles không đề cập đến quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa, trong đó có cả Việt Nam. Chính vì thế, khi đến Pháp, người đã đổi tên thành Nguyễn Ái Quốc, tức là Người yêu nước – tuy nhiên không phải là tình yêu nước hẹp hòi và thiển cận, bằng chứng là Hồ Chí Minh là một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và lúc đó Người đã rất được quan tâm bởi bài phát biểu của mình về số phận các dân tộc thuộc địa.

Và chính những điểm này khiến chúng ta thấy được sự vĩ đại của Hồ Chí Minh, Người không bác bỏ một nước bởi vì đó là một nước thực dân đô hộ, mà Người bác bỏ mối quan hệ bất bình đẳng và bất công, điều mà Hồ Chí Minh đã tố cáo trong cuốn sách xuất bản tại Pháp mang tên “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Tôi xin được trích dẫn câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh : “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Câu nói này có giá trị toàn cầu.

Xin được kể một câu chuyện vui, chúng ta biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn trẻ đã từng viết một bài báo lên án xu hướng mà những người nói tiếng Pháp hiện nay gọi là lạm dụng ngôn ngữ Anh trong tiếng Pháp. Điều này cho thấy Hồ Chí Minh không chỉ là người dẫn đường cho dân tộc Việt Nam mà còn là người soi sáng cho phong trào Pháp ngữ, một tổ chức mà Việt Nam cũng là thành viên và UNESCO có mối quan hệ rất tốt.

Là con người của sự đối thoại, là danh nhân văn hóa, Hồ Chí Minh phải tiếp tục được vinh danh không chỉ ở Việt Nam mà còn ở trên khắp thế giới, và đầu tiên là ở UNESCO, vì năm nay cơ quan này sẽ tổ chức Năm quốc tế nhằm thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các nền văn hóa. Các chuyến bôn ba nước ngoài mà Người đã trải qua, những trào lưu tư tưởng mà Người đã tiếp nhận và đặc biệt là khả năng giao hòa các sự đa dạng mà Người tiếp thụ đã khiến Hồ Chí Minh trở thành một người thầy về cuộc sống trong một thế giới có xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng trong mọi khía cạnh cuộc sống của con người. Và như bà Tổng Giám đốc UNESCO Irina Bokova đã nói, “để khắc phục tâm lý dễ bị tổn thương hiện đang gieo rắc khắp nơi, cần phải tạo ra một phương thức hành động mới để bảo vệ sự hòa hợp xã hội và gìn giữ hòa bình”.

Chính vì ý thức được sự cần thiết này mà Đại hội đồng LHQ đã chọn năm 2010 là năm thúc đẩy các nền văn hóa xích lại gần nhau và chỉ định UNESCO là cơ quan tổ chức hoạt động này bởi vì đã có đến 60 năm kinh nghiệm về sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

Những gì UNESCO thực hiện trong năm nay cũng phù hợp với hành động cũng như là ước vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, đó là sự tôn trọng lẫn nhau, giữa các nền văn hóa, trong khu vực và trên thế giới. Mục tiêu của Năm quốc tế này là giúp xóa bỏ tất cả những sự hiểu nhầm, thường xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, từ những định kiến và thói bất chấp mọi thứ, dẫn đến những căng thẳng, bất ổn, bạo lực và xung đột trên thế giới. Điều đó có nghĩa là cần phải đấu tranh để tăng cường sự đối thoại và hiểu biết lẫn nhau, tạo điều kiện cho sự tôn trọng các nền văn hóa của nhau, xóa bỏ những rào cản giữa các nền văn hóa khác nhau. Bởi vì, trao đổi và đối thoại giữa các nền văn hóa chính là công cụ hữu hiệu nhất để xây dựng hòa bình.

Thay mặt cho UNESCO, tôi không thể không nhắc lại rằng về mục tiêu hòa bình này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng là thầy giáo và sự nghiệp giải phóng dân tộc đối với Người chính là “cuộc đấu tranh chống lại 3 kẻ thù : giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Người thầy thực sự phải là người giải phóng và nhà giải phóng thực thụ cũng chính là người thầy. Tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng hoàn toàn phù hợp với vai trò của UNESCO, luôn hoạt động theo phương châm “thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục toàn dân và truyền bá văn hóa”.

Sinh ra vào thời kỳ mà phần lớn dân số trên thế giới sống trong mù chữ, sự nghèo nàn về tinh thần này thường làm cho đói nghèo tăng gấp đôi, Hồ Chí Minh đã đóng góp rất nhiều vào sự nghiệp giáo dục cho tất cả mọi người. Năm 1945, trong lời hiệu triệu xóa nạn mù chữ, Người đã kêu gọi “Để bảo vệ nền độc lập quốc gia, để nâng cao vị thế và làm giàu đất nước, mỗi người trong chúng ta cần phải biết đích xác quyền lợi và trách nhiệm của mình là gì, cần phải có kiến thức mới để có thể góp phần xây dựng đất nước. Trước hết, mỗi người cần phải biết đọc, biết viết. Những người chưa biết viết cần cố gắng trau dồi học tập. Chồng dạy cho vợ, anh dạy cho em, chủ nhà phải nhà dạy cho những người sống dưới mái nhà của mình. Những người giàu cần tổ chức lớp xóa nạn mù chữ tại nhà. Chị em phụ nữ cũng phải tích cực tham gia học tập, thậm chí còn phải hăng hái hơn vì hiện vẫn còn nhiều rào cản khiến chị em không thể nâng cao trình độ được. Giờ là lúc chị em cần phải theo kịp nam giới để xứng đáng là những công dân thực thụ”.

Hồ Chí Minh đã đưa ra thông điệp này cách đây 60 năm, nhưng đến nay nó vẫn còn giữ nguyên vẹn giá trị. Đặc biệt, sự chú trọng của Người đối với sự bất bình đẳng về điều kiện sống và về giới cho đến nay vẫn mang tính toàn cầu và đúng với mọi lứa tuổi. Chúng ta có thể thấy tinh thần của thông điệp đó được phản ánh đầy đủ trong báo cáo mới đây về phổ cập giáo dục cho tất cả mọi người mang tên “Tiếp cận những người bị gạt bên lề xã hội”. Theo báo cáo này, tính đến nay, thế giới có 72 triệu trẻ em chưa được đến trường, trong đó 54% là các bé gái; 759 triệu người lớn mù chữ trong đó 3/4 là phụ nữ. Như vậy chúng ta phải công nhận rằng thông điệp của Hồ Chí Minh mang giá trị toàn cầu và nó luôn có giá trị thời đại, bởi vì nó hướng tới tương lai. Cũng như chính Người đã từng nói : “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Vậy để trả lời câu hỏi “Hồ Chí Minh của năm 2010 này là ai ?”, tôi có thể kết luận rằng bản tính của Người đó là luôn lo lắng phấn đấu cho một tương lai được xây dựng trên nền tảng của sự công bằng, bình đẳng, biết truyền thụ và chia sẻ sự đa dạng văn hóa và đưa các nền văn hóa xích lại gần nhau.

Chính vì tầm vóc vĩ đại của con người Hồ Chí Minh mà chúng ta đã vinh danh Người ở UNESCO và trên thế giới”./.

Theo website chinhphu.vn

suctrenhanvan.edu.vn

Để có hiểu biết đúng đắn về Hồ Chí Minh ”Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990.

bacho.jpgBác Hồ đánh máy chữ. Ảnh: Tuấn Anh

1. Có một Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990. Bản dịch này từ các thứ tiếng khác nhau nên vẫn còn độ chênh.

Ở ngoài nước, các thế lực thù địch tìm mọi cách bôi nhọ, xuyên tạc, cho rằng không có Nghị quyết của UNESCO !?.

Gần đây, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã công bố văn bản gốc Nghị quyết của UNESCO về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là bản in tiếng Pháp “Tập biên bản của Đại hội đồng khóa họp lần thứ 24 tại Pari, từ ngày 20/10 đến ngày 20/11 năm 1987, Quyển 1: nghị quyết”(1).

Đây là một trong số các tập biên bản báo cáo của Đại hội đồng UNESCO, khóa họp lần thứ 24, được UNESCO xuất bản đồng thời bằng 6 thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, được in và đóng quyển tại xưởng in của UNESCO, Pari, năm 1988.

“Quyển 1: nghị quyết” dày 220 trang, bao gồm các nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24. Tập nghị quyết này gồm 13 mục và phần phụ lục.

Trong Chương trình hành động giai đoạn 1988-1989, cùng với các Nghị quyết 24C/11.9 về Kỷ niệm 600 năm ngày mất của Khaeh Chamsoddne Mohammad Hafez Chirazi và Nghị quyết 24C/11.10 về Kỷ niệm 100 Ngày sinh của Fernando Pessoa, Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 đã thông qua các nghị quyết về tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử, trong đó có Nghị quyết 24C/18.65 về việc Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

images.jpegHồ Chí Minh đẹp nhất tên người. Ảnh: Tuấn Anh

Thực hiện khuyến nghị của UNESCO triển khai các hoạt động tổ chức kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử tại các nước thành viên, nhiều nơi trên thế giới đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa lớn” đã được tổ chức trọng thể vào hai ngày 29 và 30 tháng 3-1990. Tại Hội thảo này, có mặt 70 đại biểu quốc tế thuộc 34 nước và hơn 1.000 đại biểu Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, Tiến sĩ M. At-mét (Medagat Ahmed), Giám đốc UNESCO khu vực châu Á -Thái Bình Dương, Đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định: “Đây thật sự là một niềm vinh dự cho tôi được phát biểu trước các nhà trí thức và thông thái cao quý, có mặt ở đây ngày hôm nay để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh, người chiến sĩ dũng cảm đã giải phóng dân tộc mình khỏi một thế kỷ đô hộ thực dân, bằng sự lãnh đạo khôn khéo và quyết tâm vững chắc. Người là một trong những động lực đầu tiên của phong trào chống thực dân thời kỳ sau Đại chiến thế giới thứ hai ở châu Á và là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ 20. Hội nghị UNESCO phiên thứ 24 đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người vào năm 1990. Đây là một cử chỉ tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập. UNESCO rất vui sướng được tham gia vào sự kiện đáng ghi nhớ này. Điều đó biểu hiện sự cam kết sâu sắc của tổ chức này trong việc duy trì các giá trị và công lao của các nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng. Những tình cảm này được thể hiện rõ rệt trong Nghị quyết của Đại hội đồng với sự nhấn mạnh rằng: tư tưởng của Người chứa đựng nguyện vọng của nhân dân muốn khẳng định nền văn hóa riêng của mình và xúc tiến sự hiểu biết lẫn nhau… Tên gọi cuộc Hội thảo khoa học là “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn” nhằm nêu bật nhiều mặt của nhân cách con người vĩ đại này”(2).

Dưới đây là toàn văn bản dịch (từ bản tiếng Pháp) của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Mục “18. 65: Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng,

Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Nghị quyết số 18C/4.351 thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội,

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,

1- Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người;

2- Đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”(3).

2. Nhận thức đúng đắn về sự thống nhất, hòa quyện giữa Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải nhận thức được sự thống nhất, hòa quyện chất Anh hùng giải phóng dân tộc và chất của Nhà văn hóa kiệt xuất trong con người Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO cho thấy, nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một con người, một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, một danh nhân văn hóa kiệt xuất đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng, vì đã cống hiến trọn đời mình cho tự do và độc lập. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó vừa là giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa cách mạng sâu xa. Hồ Chí Minh là “một trong số ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(4).

Để nghiên cứu đúng đắn về Hồ Chí Minh, cần nắm chắc bối cảnh lịch sử, phân biệt rõ mục đích và con đường để đạt mục đích đó. Hồ Chí Minh trước hết là con người của dân tộc, gắn bó mật thiết với non sông ta, đất nước ta. Dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đêm trước thành công của Cách mạng Tháng Tám đắm chìm trong đêm dài nô lệ. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, bằng cách làm này hay cách làm khác, theo con đường này hay con đường khác, đều chung một mục đích giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu thời là một thanh niên yêu nước, ham học hỏi, cầu tiến bộ. Người không những giống mọi người Việt Nam về tinh thần yêu nước mà còn “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”. Người đã từng theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp – bản xứ ở thành phố Vinh. Tại đây, lần đầu tiên Người được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Người cũng đã theo học lớp sơ đẳng Trường Tiểu học Đông Ba ở Huế và Trường Quốc học Huế. Người quan tâm tới nhiều cách tiếp cận khác nhau để đạt mục đích giải phóng dân tộc. Trước lúc đi ra nước ngoài tìm cách giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã tâm sự với một người bạn: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(5). Năm 1923, tâm sự với Ôxíp Manđenxtam, Người bộc lộ: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách báo của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”(6).

Từ đó trở đi, Hồ Chí Minh không chỉ là con người của dân tộc mà còn là của thế giới, của thời đại. Người khám phá thế giới, làm mọi cách để đạt được mục tiêu giải phóng dân tộc, như có lúc Người đã nói một cách hình tượng “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập, tự do”. Cũng như vậy, sau này, để đạt được mục tiêu tự do, hạnh phúc, có lúc Người nói: “Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7).

Trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, như mọi người đều biết, từ Mácxây, Nguyễn Tất Thành có viết một lá đơn đề ngày 15-9-1911 gửi Tổng thống nước Pháp lúc đó Armand Fallieres, xin học Trường Thuộc địa. Lá đơn này có trong Kho Lưu trữ nước Pháp, bộ phận Hải ngoại, phông Trường Thuộc địa, bìa số 27, hồ sơ số 11. Lần đầu tiên (năm 1983) tư liệu này được giới thiệu qua hệ thống đài phát thanh và truyền hình nước Pháp do Tuyren (H. deTurenne) thực hiện nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ. Tiếp đó, tư liệu này được đề cập trong cuộc Hội thảo quốc tế tại Pari ngày 25-5-1983 dưới chủ đề: “Mác- Các chủ nghĩa Mác”. Sau đó, Nguyễn Thế Anh (nguyên là Khoa trưởng Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn thời Mỹ- ngụy) và Vũ Ngự Chiêu (nguyên là sĩ quan ngụy, hiện ở Canađa) đã công bố toàn văn lá đơn trong số 1 tạp chí Đường mới, số tháng 6-1983 với một dụng ý xuyên tạc trắng trợn, cho rằng “Nguyễn Tất Thành lúc đầu có ý định xin vào học Trường Thuộc địa để sau ra làm việc cho Pháp, nhưng vì không được nhận vào học nên phải đi theo con đường cách mạng!?”. Gần đây, tháng 7-2009, DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”, Vũ Ngự Chiêu lại nhắc lại sự kiện đó.

Chúng ta hoàn toàn không giấu giếm sự kiện này. Hơn hai mươi năm trước, Giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm đã có bài viết với tiêu đề: “Cần làm sáng tỏ một số điểm xung quanh lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành năm 1911”, đăng Tạp chí Cộng sản, số 5-1987. Vấn đề là ở chỗ, hiện nay một số người vẫn nghĩ rằng chúng ta không công bố lá đơn này, và quan trọng hơn là nhiều người không hiểu đúng việc làm của Nguyễn Tất Thành. Còn các thế lực thù địch thì cố tình bóp méo sự thật lịch sử.

Làm sáng tỏ vấn đề này, trước hết phải nhận thức đúng đắn rằng đây là cách làm chứ không phải mục đích của Hồ Chí Minh. Có nhiều cách làm và con đường để đạt một mục đích. Cách làm này hoàn toàn hợp lôgic với cách làm và suy nghĩ từ trong nước của Nguyễn Tất Thành khi có ý định xin vào học Trường Kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn, muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ Tự do, Bình đẳng, Bác ái rồi trở về giúp đồng bào chúng ta. Dõi theo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, phải đánh giá sự kiện này ở một cách nhìn khác với tầm cao hơn. Cụ thể là ngay từ rất sớm, Người đã biết khám phá, khai thác văn minh nhân loại, khoa học – công nghệ ở các nước tư bản để phục vụ cho đồng bào mình.

Thứ hai, phải đọc và suy ngẫm kỹ hình thức và nội dung lá đơn gửi Tổng thống một nước tư bản văn minh lúc bấy giờ. Trong lá đơn có câu: “Tôi muốn sẽ trở nên có ích đối với đồng bào của tôi, và đồng thời có thể giúp cho họ hưởng thụ được những lợi ích của học thức”(8).

Sự thật rõ như ban ngày mà những kẻ nuôi dụng tâm xấu vẫn ác ý cố tình xuyên tạc. Để hiểu rõ hơn về lá đơn, hãy đọc Êmơri (Daniel Hémery) – một nhà sử học Pháp chuyên nghiên cứu và giảng dạy lịch sử cận – hiện đại Việt Nam tại Trường Đại học Pari VII, trong bài viết: “Về lá đơn xin vào học Trường Thuộc địa năm 1911 của người thanh niên Hồ Chí Minh”. Êmơri khẳng định: “Tuyệt đối không thể căn cứ vào lá đơn xin học năm 1911 để gán ghép cho Nguyễn Tất Thành ý định sau khi học xong sẽ trở thành người cộng tác với chính quyền thuộc địa”(9).

Bài viết đến đây tạm khép lại với một câu hỏi: “Tại sao người ta cố tình muốn hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”? Câu trả lời từ một cách hiểu rất đơn giản và lôgic, đó là tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và vẫn luôn luôn giữ được ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân loại tiến bộ./.

PGS, TS. Bùi Đình Phong
Theo Tạp chí Tuyên Giáo

———————

(1) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, Nội san, số 25, tháng 9-2009 (Từ đây, những thông tin liên quan tới Nghị quyết đều dẫn từ tài liệu này)
(2) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.34-35.
(3) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, tài liệu đã dẫn, tr.57.
(4) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sdd, tr.37.
(5) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb ST, H, 1975, tr.13.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.1, tr.477.
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr. 227.
(8), (9) GS. NGND Đinh Xuân Lâm: Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2005, tr.275, 273

hochiminhhoc.com

Về sự kiện Unesco ra nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hồ Chí Minh

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời tháng 9 năm 1969, các cá nhân, tổ chức chính trị-xã hội trên thế giới đã tập trung đánh giá cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh. Những đánh giá đó từ những người cộng sản, từ những chính khách không cộng sản, từ những nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, những văn nghệ sĩ có tên tuổi. Tất cả đều đánh giá sự cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của nhân loại, không những đối với thế kỷ XX mà còn đối với thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo.

Nay thì thấy một số mạng điện tử tiếng Việt và cả DVD nói xấu Hồ Chí Minh. Điều này xuất phát từ thái độ thâm thù đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam do ĐCS Việt Nam lãnh đạo và từ chủ trương “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” của các thế lực thù địch.

Trước khi nêu sự kiện Nghị quyết của UNESO năm 1987 về Kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi muốn nêu một vài sự kiện có liên quan.

Vào thời điểm sắp sửa kết thúc thế kỷ XX của thiên niên kỷ thứ hai và bước sang thế kỷ XXI của thiên niên kỷ thứ ba, tờ Time (Thời báo) của Mỹ đã phối hợp với Hãng Truyền hình CBS làm một cuộc lấy ý kiến bằng cách phát ra 7 triệu phiếu gửi đi nhiều nước để bầu chọn lấy 100 nhân vật nổi tiếng nhất, có ảnh hưởng nhất thuộc các lĩnh vực khác nhau của thế kỷ XX. Kết quả được công bố cuối tháng 12 năm 1999. Trong số 100 nhân vật được chọn, có Hồ Chí Minh. Trong số 100 nhân vật đó, người ta lại phân ra danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín nhất trên thế giới trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh là một trong số 20 nhân vật đó, cùng với V.I. Lênin, M. Găngđi, W. Sớcxin, A. Khômêny, N. Manđêla, T. Rudơven, F.D. Rudơven, M. Xangơ, Luthơ Kinh, R. Rigân, v.v. Điều đó giải thích tại sao Trưởng Đại diện của tuần báo Time ở Hà Nội lúc ấy coi “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong thế kỷ XX”.

Trước đó nữa, năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hoá thế kỷ XX (XXth Century culture) do Alan Bullock và R.B. Wodinger chủ biên (Do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hoá thế kỷ XX. Các nhà khoa học này đã thảo luận những tiêu chí thế nào là danh nhân văn hoá thế giới trong thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đưa ra quan niệm như sau:

a. Thế kỷ XX là thế kỷ của những đảo lộn khoa học và công nghệ, chẳng hạn Thuyết Tương đối của A. Anhxtanh. Ai phát minh ra những kết quả khoa học và công nghệ làm đảo lộn thế giới thì người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

b. Thế kỷ XX là thế kỷ của những cuộc chiến tranh tàn bạo. Ai tích cực đấu tranh cho quyền sống của con người, bênh vực con người, giải phóng con người, là người tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn, người đó là danh nhân văn hoá thế giới.

c. Thế kỷ XX là thế kỷ phi thực dân hoá (décolonisation). Ai là người góp phần tích cực giải phóng các thuộc địa, giải phóng các dân tộc bị áp bức, làm đảo lộn thế giới thuộc địa, vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, thì đó là danh nhân văn hoá thế giới.

Hồ Chí Minh đã được 300 nhà khoa học chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó (các trang 322, 333). Các nhà khoa học đó thừa biết rằng, Hồ Chí Minh là người cộng sản, mà một số người trên thế giới không ưa chủ nghĩa cộng sản. Nhưng Hồ Chí Minh là người cộng sản đích thực, là nhà văn hoá, là chiến sĩ tiên phong của một dân tộc tiên phong tích cực nhất, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng con người, cho nên Hồ Chí Minh xứng đáng được chọn. Trong các cuộc thảo luận, 300 nhà khoa học nhất trí cho rằng: “Hồ Chí Minh là nhà mácxít hay nhà Nho, điều đó không quan trọng. Hồ Chí Minh là người cộng sản hay là người dân tộc chủ nghĩa, điều đó không quan trọng. Chỉ cần biết Hồ Chí Minh là Nguyễn ái Quốc – người yêu nước – thế là đủ để xếp ông vào hàng danh nhân văn hoá thế giới thế kỷ XX. Vì Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu á và của thế giới thứ ba”[1].

Còn đối với UNESCO, có một sự kiện liên quan đến Hồ Chí Minh cần làm sáng rõ hơn.

Với sự cống hiến nổi bật của Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của đất n­ước và đối với sự phát triển văn minh tiến bộ của nhân loại, Việt Nam — một quốc gia thành viên — đã gửi hồ sơ tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) để Tổ chức này xem xét kỷ niệm nhân dịp 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh.

Trong Khoá họp toàn thể lần thứ XXIV tại Pari (thủ đô nư­ớc Cộng hoà Pháp) từ ngày 20-10 đến ngày 20-11-1987, UNESCO có một ch­ương trình nghị sự thảo luận, xem xét và cuối cùng đã thông qua Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh[2].

Cần nhắc lại rằng, năm 1974, tại Khoá họp lần thứ XVIII của mình, Đại Hội đồng UNESCO đã định với nhau rằng: định kỳ xét để tổ chức kỷ niệm các danh nhân văn hoá thế giới theo tiêu chí chung nhất là “những người đã để lại những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại”. Những danh nhân này sẽ được long trọng kỷ niệm nhân kỷ niệm các năm sinh chẵn 100, 200…Tại Khoá họp lần thứ XXIV, Đại Hội đồng UNESCO đã xem xét để ra nghị quyết kỷ niệm các danh nhân có các kỷ niệm năm sinh chẵn vào các năm 1988, 1989, 1990. Hồ Chí Minh là 1 trong 6 người có hồ sơ đề cử (có cả J. Nêru (ấn Độ), A. Macarencô (Liên Xô), 1 của Thái Lan, 1 của Cộng hoà Liên bang Đức, 1 của Thổ Nhĩ Kỳ). Tính đến Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO lần thứ XXIV năm 1987 này, đã có 21 người được ra nghị quyết kỷ niệm.

Bối cảnh của việc xem xét các danh nhân trong Khoá họp Đại Hội đồng UNESCO cuối năm 1987 không mấy suôn sẻ, vì trước đó đã có một số quốc gia vì lý do chính trị đã rút ra khỏi danh sách thành viên của UNESCO. Có nước chỉ đề nghị nên xem xét những hồ sơ đề cử nào mà có năm chẵn 100 (đến năm 1988) thôi, vì họ còn “lấn cấn”, chưa thông lắm về các tiêu chí. Có nước đề nghị UNESCO nên hạn chế kỷ niệm các danh nhân…

Trong Khoá họp lần thứ XXIV này, UNESCO tôn vinh J. Nêru là “Nhà quán quân của phong trào giải phóng dân tộc”, với 45 phút thảo luận và thông qua nghị quyết.

Phía Việt Nam dự kiến khi xét Hồ Chí Minh có thể khó khăn hơn, bởi nhiều lý do. Lúc này, vấn đề Campuchia và vấn đề người Việt Nam vượt biên tỵ nạn đang nổi lên, nhiều nước đang hiểu lầm và không thiện cảm. Một bản kiến nghị gửi đến Đại Hội đồng có các chữ ký của 79 người Việt Nam vượt biên, di tản phản đối việc xét Hồ Chí Minh. Trong lúc đó, hệ thống xã hội chủ nghĩa đang “có vấn đề”, nghĩa là đang lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Trong tổng lượng phiếu 159 nước thành viên thì các nước xã hội chủ nghĩa chỉ có 8.

Thế nhưng, tình hình không rắc rối, phức tạp như chúng ta tưởng. Cuộc thảo luận của Đại Hội đồng Khoá họp XXIV diễn ra trong không khí hữu nghị, tình cảm chân thành đối với nhân vật được đề xuất trong hồ sơ là Hồ Chí Minh. Gần 30 nước đã ký tên đồng tác giả dự thảo Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lên Đại Hội đồng. Cuộc họp Tiểu ban các vấn đề văn hoá đã thảo luận dự thảo này và được thông qua tại Đại Hội đồng bằng biểu quyết với đa số tuyệt đối. Tại Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh tại Thủ đô Hà Nội, các ngày 29 và 30 tháng 3 năm 1990, ông Nguyễn Dy Niên, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban UNESCO của Việt Nam, đã có bài thuật lại những nét cơ bản nhất của sự kiện này.

Trong quá trình thảo luận, Chủ toạ Phiên họp là một quý bà người Thái Lan. Bà đã cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản chung của nhân loại, có giá trị vĩnh hằng, là niềm tự hào của các dân tộc. Một đại biểu của Cộng hoà Dân chủ Đức cho rằng, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn của mọi thời đại. Một đại biểu của Xri Lanca cho rằng, Hồ Chí Minh là một nhà tiên tri, Hồ Chí Minh là ngọn hải đăng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Còn ông Trưởng Đoàn đại biểu của ấn Độ thì cho rằng, Hồ Chí Minh là một danh xưng cao quý, không chỉ nằm ngay trong mỗi chúng ta, mà gắn với sự tiến bộ của thời đại, vì vậy, việc kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh vừa là một sự kiện quan trọng, vừa là niềm tự hào, niềm vinh dự lớn lao đối với mọi người lao động.

Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn viết:

“Xét thấy việc tổ chức kỷ niệm trên quy mô quốc tế những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá là góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu của UNESCO và vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Quyết định số 18 C-4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận rằng, năm 1990 sẽ đư­ợc đánh dấu bằng lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”.

Các văn kiện của UNESCO được quy định công bố bằng 6 thứ tiếng: Pháp, Anh, Arập, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Nga. Nguyên văn tiếng Pháp đoạn cuối cùng của ba đoạn trích dẫn này trong Nghị quyết của UNESCO nh­ư sau: “Notant que, 1990 marquera le centième anniversaire de la naissance du Président Ho Chi Minh, héro de la libération nationale et éminent homme de culture du Vietnam”.Đáng chú ý là cụm từ éminent homme de culture được một số ngư­ời dịch là Nhà văn hoá lớn.

Theo tôi, bản Nghị quyết bằng tiếng Anh (trong đó có ghi là: Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture) thì có thể dịch Nhà văn hoá lớn, nhưng cũng có thể dịch là Nhà văn hoá ưu tú (hoặc cũng có thể dịch là Nhà văn hoá xuất sắc hoặc Nhà văn hoá kiệt xuất – great man of culture). Nhưng đối với bản tiếng Pháp thì phải dịch là Nhà văn hoá kiệt xuấtmới đúng nghĩa. Mà đây cả hai cái danh: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất đều là của Việt Nam (du Vietnam), chứ không phải là Anh hùng giải phóng dân tộc là của Việt Nam, còn Nhà văn hoá kiệt xuất thì lại là của thế giới.

Một vấn đề cần lư­u ý nữa là: bản thân Nghị quyết này của UNESCO được thông qua theo lời mở đầu có tính mặc định mà tôi đã trích dẫn ở hai đoạn đầu bên trên. Đáng chú ý là những cụm từ, như “Những nhà trí thức lỗi lạc và danh nhân văn hoá” cũng như Quyết định khung số 18 C-4351 của UNESCO “Kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” thì có thể hiểu đã mặc nhiên công nhận Hồ Chí Minh là Danh nhân văn hoá thế giới rồi, chứ không nên gọi là Tổ chức UNESCO “phong” cho Hồ Chí Minh danh hiệu này, danh hiệu nọ. Tôi nghĩ rằng, nói đúng như thế thì sẽ không phức tạp hoá vấn đề.

Nghị quyết trên đây của UNESCO còn khẳng định rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu t­ượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật, là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Ng­ười là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Do đó, Nghị quyết của UNESCO đã nêu rõ: “Khuyến nghị các quốc gia thành viên kết hợp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cách tổ chức những hoạt động đa dạng để tư­ởng niệm Người, để làm cho mọi ngư­ời hiểu đ­ược tầm vóc to lớn của những tư tưởng và sự nghiệp của Ng­ười vì công cuộc giải phóng dân tộc”.

Việc thực hiện Nghị quyết này của UNESCO ở Việt Nam, nhất là ở trên bình diện quốc tế, ở các nước thành viên Tổ chức UNESCO, có nhiều trắc trở.

Phải thấy được hoàn cảnh đặc biệt lúc đó.

Sau ngày 30-4-1975, Việt Nam bước vào một cuộc thử thách mới, đầy chông gai trên bình diện quốc tế. Hầu như Việt Nam bị cô lập, ít được bạn bè cảm thông. Đây là một bi kịch lớn. Nói bi kịch lớn là vì lẽ ra mọi người, hay chí ít là bạn bè số đông của Việt Nam, sẽ cùng Việt Nam sẻ chia mừng vui và bắt tay vào công cuộc giúp Việt Nam băng bó vết thương chiến tranh, xây dựng một cuộc sống mới. Nhưng không đơn giản như vậy. Nói để cho người khác hiểu là việc không đơn giản. Việc Việt Nam đem quân sang Campuchia chẳng hạn. Đây là việc làm hợp với đạo lý, nhưng nhiều nước coi là Việt Nam đã xâm lược Campuchia. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, sau khi bại trận “lấm lưng trắng bụng” ở Việt Nam, lại bước vào một cuộc phiêu lưu mới, tiến hành cấm vận mọi mặt với Việt Nam. Việt Nam bước vào những đợt khó khăn mới. Nạn đói đã xảy ra trong thời bình. Lòng người không yên. ở ngoài bắc thiếu lương thực phải ăn bo bo đã đành, nhưng đợt công tác mà tôi có mặt một tháng tại thành phố Hồ Chí Minh mùa hè năm 1977 ở giữa vựa thóc lớn đất nước mà vẫn không đủ gạo ăn, phải ăn bo bo. Đó còn là cơ chế vốn chỉ thích ứng trong chiến tranh nay đến thời bình tỏ ra cứng nhắc nhưng vẫn được vận hành và đương nhiên nó không phù hợp mà Đảng Cộng sản chưa sớm nhận ra.

Đã xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng. Làn sóng người Việt Nam ồ ạt ra đi khỏi đất nước, mà đây chủ yếu là lực lượng của chế độ Sài Gòn lòng đầy hận thù, trắc ẩn, mặc cảm với chế độ chính trị mới ở Việt Nam. Trung Quốc, sau những chuỗi không êm ả với Việt Nam, đầu năm 1979 đã đưa quân sang mấy tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam gây chiến, nói là để “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Trong hoàn cảnh đó, có sự chống phá quyết liệt từ những phần tử cực đoan, nhất là từ một số người gốc Việt ở nước ngoài. Họ ngăn trở việc Tổ chức UNESCO đứng ra tổ chức lễ Kỷ niệm hoặc đứng ra cổ suý cho các quốc gia thành viên tổ chức các hoạt động tưởng niệm hoặc lễ kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Hồ Chí Minh theo đúng như Nghị quyết của UNESSCO, viết rằng: “Đề nghị ông Tổng Giám đốc UNESCO tiến hành những bước đi phù hợp để kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giúp đỡ các hoạt động tưởng niệm chung được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động diễn ra ở Việt Nam”.

Ngay tại Pari, trụ sở của Đại Hội đồng UNESCO, cũng không tài nào tổ chức nổi một lễ kỷ niệm, tưởng niệm Hồ Chí Minh. Chỉ có hai nước là đứng ra tổ chức được lễ kỷ niệm theo đúng tinh thần của Nghị quyết UNESCO, đó là Việt Nam (đương nhiên, vì là đất nước của Hồ Chí Minh) và ấn Độ. Lễ Kỷ niệm và cuộc Hội thảo nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh được long trọng tổ chức tại Hà Nội với nhiều bạn bè quốc tế, những người có cảm tình với Việt Nam và những người nhận rõ những cống hiến về nhiều mặt của Hồ Chí Minh đối với những bước tiến của dân tộc Việt Nam cũng như đối với hành trình của nhân loại vươn tới tất yếu của tự do.

Trở lại vấn đề Nghị quyết 18.65 của phiên họp lần thứ 24 Đại hội đồng UNESCO năm 1987. Tại sao thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như vậy? Tôi thấy chẳng phải ngẫu nhiên mà UNESCO đánh giá như thế. Tôi thấy như sau:

Một: Hồ Chí Minh là chiến sĩ tiên phong trong thế kỷ phi thực dân hoá.

Hồ Chí Minh là người lĩnh ấn tiên phong của dân tộc Việt Nam và của nhân loại cần lao tiến công vào chủ nghĩa thực dân để đưa lại độc lập, tự do cho mỗi dân tộc, mỗi con người. Thế giới thấy Hồ Chí Minh là một con người đặc biệt trong thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá. Chủ nghĩa thực dân là một vết nhơ lớn nhất trong lịch sử của loài người. Đúng là một vết nhơ thật. Một dân tộc đang yên đang lành thì bỗng nhiên có một thế lực thực dân đến bắt làm nô lệ, không cho người ta có quyền sống, hoặc nếu để sống thì cái quyền con người sống bị chà đạp. Thực dân xâm chiếm thuộc địa nhưng lại được che dấu bằng những lời lẽ mỹ miều là đi “khai hoá văn minh”.

Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa thực dân là mục tiêu lớn nhất để công phá. Hồ Chí Minh tố cáo mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân ở tất cả mọi diễn đàn và sử dụng tất cả mọi vũ khí mà ông có. Người viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Người tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Hồ Chí Minh là một con người tiên phong của một dân tộc tiên phong đấu tranh phi thực dân hoá trên đất nước ông và trên thế giới.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ chiều ngày 7-5-1954, Việt Nam đã mở đầu cho một quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Với chiến thắng trưa ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn, dân tộc Việt Nam đã báo hiệu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới. Một dân tộc tiên phong và một con người tiên phong của nhân loại tiến bộ. Thế giới không đặt lầm. Thế giới đã đúng. Việt Nam không làm hổ danh, không phụ lòng tin của lương tri loài người tiến bộ. Nếu tạc tượng những vĩ nhân thế giới thuộc thế kỷ XX, một thế kỷ phi thực dân hoá, thì Hồ Chí Minh xứng đáng được tạc bức tượng đẹp nhất.

Hai: Hồ Chí Minh là một con người đầy lòng vị tha, khoan dung.

Trong một thế giới đầy bất trắc của quan hệ con người, Hồ Chí Minh hiển hiện như một tấm lòng bao dung. Hồ Chí Minh đã nói rằng, sự bao dung là như biển cả, nó có thể nhận bao nhiêu nước từ các sông suối. Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống văn hoá khoan dung của dân tộc Việt Nam, như ông đã viết rằng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Hồ Chí Minh không bao giờ kỳ thị, bài bác các học thuyết, trong quan hệ ứng xử của con người và của cộng đồng này với cộng đồng khác. Sự khoan dung trong thái độ ứng xử của Hồ Chí Minh đến mức đến như một số người hiểu lầm là trong cuộc sống, giải quyết trong các mối quan hệ, Hồ Chí Minh hay nặng về tình. Thực ra, Hồ Chí Minh không duy tình, không duy lý, mà luôn luôn “vừa có lý, vừa có tình”, lấy chữ “nhân” làm nền tảng.

Trong khoan dung văn hoá Hồ Chí Minh, thì các giá trị văn hoá nhân loại như là một giòng chảy tự nhiên qua tâm hồn Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chính là bộ lọc văn hoá chắt lọc cái chân, cái thiện, cái mỹ. Nếu tập hợp, lần dở những trang sách, trang báo của các nhà “Hồ Chí Minh học”, “Việt Nam học” nổi tiếng trên thế giới thì biết cơ man nào là những đánh giá rất đặc sắc về khía cạnh văn hoá khoan dung của Hồ Chí Minh. Trong thực tế cuộc sống, mặc nhiên có sự so sánh. Trong sự so sánh đó, nổi bật lên Hồ Chí Minh, một nhân vật sáng ngời của nhân văn, văn hoá, khoan dung trong cái thế giới có lúc cũng có vẻ hỗn mang về các mối quan hệ giữa con người với con người này.

Ba: Hồ Chí Minh là một chiến sĩ văn hoá, là một hiệp sĩ của UNESCO tích cực giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Vấn đề lớn nhất mà Hồ Chí Minh nêu lên và hướng cả cuộc đời của mình cũng như hướng cả dân tộc Việt Nam cùng những dân tộc khác trên thế giới vào giải quyết là đấu tranh giải phóng con người. Đối với Hồ Chí Minh, mọi hoạt động, mọi cuộc đấu tranh đều hướng đích đó. Hồ Chí Minh tập hợp cả một véctơ lực vào cái đó.

Từ cái chung nhất đó, Hồ Chí Minh nêu lên và hướng vào giải quyết vấn đề hòa bình, hòa bình cho dân tộc Việt Nam và hòa bình cho thế giới, một nền hòa bình thật sự, hòa bình bền vững mà trên đó bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cái nguyên tắc đó trở thành cái khung cho mọi hiệp định chính trị, mà nó đã thể hiện ở Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương ngày 20-7-1954 và Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973.

Hồ Chí Minh là con người của hòa bình. Hồ Chí Minh coi đó là nguyên tắc hành xử giữa con người với con người, giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nhưng, cái chốt của Hồ Chí Minh là ở chỗ: đó phải là một nền hòa bình chân chính. Trước kẻ xâm lược, nhiều lúc Hồ Chí Minh nhân nhượng, nhưng kẻ cướp càng lấn tới thì ông kêu gọi cả dân tộc vùng lên đấu tranh gìn giữ hòa bình chứ không phải có hòa bình bằng mọi giá, hòa bình trong cái thế hèn kém của một kẻ nô lệ.

Sau khi giành được chính quyền, thiết lập được Nhà nước mới – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà — Hồ Chí Minh tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam cũng như toàn thể nhân dân thế giới rằng, nước Việt Nam đã thật sự trở thành một nước tự do và độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập ấy. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm chiếm nước Việt Nam một lần nữa. Cuộc kháng chiến đã nổ ra sớm ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ từ ngày 23-9-1945, tức là đúng 3 tuần lễ sau Ngày Độc lập 2-9-1945. Nhân dân miền Nam đã đi liền một mạch gian khổ, kiên cường, Thành đồng Tổ quốc, “đi trước về sau” từ ngày đó đến tận ngày 30-4-1975.

Ý đồ của thực dân Pháp là gây chiến tranh trở lại, “gặm nhấm” dần lãnh thổ Việt Nam, chia cắt Nam Bộ ra khỏi đất nước Việt Nam. Quan điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh là Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, là tìm cách bảo vệ chính quyền còn non trẻ, tránh đụng độ với các thế lực có ý định xâm lược, bảo vệ nền hoà bình lâu dài cho đất nước. Chính vì thế mà Hồ Chí Minh gồng mình lên để bước qua những chông gai. Hồ Chí Minh hoà với quân Tưởng Giới Thạch để kìm quân Pháp, ông hoà với Pháp để đuổi quân Tưởng Giới Thạch, và ông ký Hiệp ước 6-3-1946, phái người đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, cử đoàn đi dự Hội nghị ở Phôngtenblô (Pháp) và khi các hội nghị đó không đạt kết quả, thì Hồ Chí Minh ký Tạm ước 14-9-1946.

Hồ Chí Minh tìm cách hoà hoãn với cả kẻ cướp để mong cứu vãn hoà bình, có lúc chịu nhận Việt Nam là nước tự do trong Liên hiệp Pháp, bảo đảm quyền lợi kinh doanh và các quyền lợi kinh tế khác cho người Pháp ở Việt Nam, v.v. Hồ Chí Minh viết thư cho các tổ chức và cá nhân quốc tế, kể cả cho một số nước có vai trò lớn trong Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm, nguyên tắc đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; sẵn sàng dành và tiếp nhận sự đầu tư về kinh tế với tất cả các nước, các nhà tư bản vào Việt Nam với mục đích cùng có lợi. Và Hồ Chí Minh cũng “rắn” khi tuyên bố rằng: nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên cầm tất cả mọi thứ có trong tay để làm vũ khí chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ hoà bình, bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đúng như Hồ Chí Minh đã viết: “Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Nhân nhượng của Hồ Chí Minh và của nhân dân Việt Nam chỉ có giới hạn, có nguyên tắc. Hoà bình không bằng mọi giá. Không có thứ hoà bình trong thân phận của những người nô lệ.

Thế là cuộc chiến tranh lần nữa lại nổ ra. Lần này kéo dài 9 năm binh đao khói lửa, bằng trận đại thắng của Việt Nam và cũng là trận đại bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ kết thúc vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954 và bằng Hiệp định Giơnevơ 20-7-1954.

Sau này, chiến tranh đã qua đi nhiều năm, nhiều chính khách và các sử gia, các nhà quân sự, các nhà báo, các nhà hoạt động xã hội Pháp đã tốn bao giấy mực viết về cuộc chiến tranh đó. Có lúc, trong số đó, có người đổ lỗi cho Hồ Chí Minh gây ra cuộc chiến tranh. Nhưng, sự thật là sự thật, nó phơi bày ra đó, không ai có thể chỗi cãi được. ý kiến đổ lỗi cho Hồ Chí Minh là số rất ít và bị chìm nghỉm đi. Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện lên với tư cách là chiến sĩ hoà bình quốc tế.

Còn đối với cuộc chiến tranh Mỹ – Việt? Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam không muốn cuộc chiến tranh này, nhất lại là “đấu” với lực lượng hùng mạnh, khổng lồ hơn Pháp nhiều. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nêu quan điểm muốn “trải thảm đỏ” cho quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nhưng, quân Mỹ cố bám lấy. Cuộc chiến đấu buộc phải diễn ra mà thiệt hại cho cả hai bên về vật chất và tinh thần không biết đến bao giờ mới hàn gắn lại được. Hồ Chí Minh quý từng giây phút hoà bình, khát khao hoà bình. Nhưng, cũng như trong cuộc kháng Pháp, ông biết đâu là giới hạn của sự chịu đựng, biết nguyên tắc “chơi” với kẻ xâm lược. Hoà bình của Hồ Chí Minh là một loại hoà bình chân chính. ở trong con người Hồ Chí Minh, thông điệp hoà bình cho mỗi một dân tộc, cho cả toàn thế giới là như thế.

Thông điệp đó, cái nguyên tắc về hoà bình của Hồ Chí Minh đó cần được phát huy trong thời buổi hiện nay. Có những chuyện tréo ngoe. Để dập tắt đổ máu, nhân danh hoà bình, nhân danh dân chủ, tự do, người ta lại đi đổ xô bán vũ khí cho các nước hiện đang đổ máu, hoặc những nước đang gầm ghè nhau, đang ở bên miệng hố chiến tranh. Người ta đang lấy luật này luật nọ để hành xử không công bằng trong nhiều quan hệ quốc tế. Nước này có vũ khí hạt nhân, thử vũ khí hạt nhân thì có vẻ lo lắng đấy, nhưng rồi không sao, nhưng nước kia mà có thì không, nhất thiết không thể được, v.v. Khái niệm hoà bình, hoà bình chân chính đang bị thử thách một cách nghiệt ngã.

Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập, tự do đó là độc lập, tự do trong một nền hoà bình chân chính, trong sự hợp tác, hữu nghị của tất cả các dân tộc trên thế giới — dù dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ.

Hồ Chí Minh phấn đấu cho các dân tộc xích lại gần nhau, giao lưu, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Cuộc đời của Hồ Chí Minh chính là một biểu tượng, hiện thân về cái đó. Mà điều đó lại bắt nguồn từ sinh khí của dân tộc, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý.

Có thể ai đó trong người Việt Nam cảm thấy bình thường, nhưng đối với thế giới, xét trong các vấn đề toàn cầu thì thấy rất thú vị, thú vị ở chỗ Hồ Chí Minh chính là người nêu ra và thực hành tích cực nhất cho việc bảo vệ môi trường, sinh thái.

Khỏi phải nói, vấn đề này hiện đang trở nên bức xúc, nhức nhối đến mức nào. Trong thời kỳ phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, con người đã tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ cho chính mình đồng thời lại tạo ra những tố chất hại mình. Đó là sự xâm hại môi trường sinh thái. Hình như Ph. Ăngghen thì phải, đã viết đại ý rằng, chúng ta không nên quá ảo tưởng vào những chiến thắng của mình đối với thiên nhiên; thiên nhiên sẽ trả thù chúng ta cho mỗi “chiến thắng” ấy.

Thế giới đang trở nên bất an hơn bao giờ hết. Sự xâm hại tự nhiên chính là hành vi phản văn hoá. Cái gọi là “sự thắng lợi” chinh phục tự nhiên của con người chính là sự tác động gây hiệu ứng phản lại của tự nhiên. Chinh phục tự nhiên không như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác. Bản thân con người là một thực thể của tự nhiên. Nếu gọi là sự chinh phục một cách đúng đắn của con người đối với tự nhiên thì đòi hỏi con người phải nhận thức đúng đắn quy luật của tự nhiên để hành xử cho đúng. Con người sẽ đánh mất khả năng chủ thể văn hoá khi thoát ra khỏi hệ thống điều chỉnh của tự nhiên — đó là sự cân bằng sinh thái. Chính con người hiện đại, mặc dù nắm được khoa học và công nghệ, lại là yếu tố phá vỡ một cách tệ hại nhất sự cân bằng sinh thái. Chính sự thống nhất của con người với tự nhiên tạo ra bản sắc văn hoá của mỗi vùng, miền.

Hiện thời, trên thế giới, người ta đã “quy” phát triển bền vững vào 6 nội dung:

1. Tăng trưởng kinh tế;
2. Công bằng xã hội;
3. Bảo vệ môi trường;
4. Phát triển văn hoá, giáo dục, công nghệ;
5. Bảo đảm tự do, dân chủ;
6. Phát triển con người.

Trong 6 nội dung đó, người ta lại hay tập trung vào ba nội dung có tính “trụ cột”, đó là Tăng trưởng kinh tế; Công bằng xã hội; Bảo vệ môi trường tự nhiên.

Quan niệm trên đây chính là phản ánh khái niệm phát triển, cho rằng, Phát triển là quá trình qua đó một xã hội người cùng nhau phấn đấu đạt tới chỗ thoả mãn được các nhu cầu mà xã hội ấy cho là cơ bản và hiện đại. Hoặc như quan niệm của Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển họp ở Riô đơ Janerô (Braxin) năm 1992: Phát triển bền vững là một sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây từ cuối năm 1959. Hồ Chí Minh cho đăng trên báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28-11-1959 bài “Tết trồng cây”, trong đó cho rằng: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”; rằng, miền Bắc hiện có độ 14 triệu người, trong đó có 3 triệu trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây; như vậy là mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây; từ năm 1960 đến năm 1965 là năm cuối cùng của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa có cây ăn quả, cây có hoa, vừa có cây làm cột nhà; và trong vòng 10 năm, nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn, đời sống nhân dân được cải thiện hơn.

Dịp cuối năm 1959, Hồ Chí Minh lại kêu gọi toàn dân hưởng ứng phong trào một tháng trồng cây (từ ngày 6-1-1960 đến ngày 6-2-1960) và mong nhân dân duy trì bền bỉ “Tết trồng cây” hằng năm.

Đi thăm các địa phương, các cơ quan, Hồ Chí Minh thường trồng cây. Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến của các chuyên gia lâm nghiệp để có thể trồng cây gì phù hợp nhất. Theo tư vấn của các chuyên gia, Hồ Chí Minh hay trồng nhất là cây đa. Đây là loại cây nếu trồng ở nơi công cộng thì rất thích hợp, nó tỏa bóng mát nhiều, ít sâu bệnh, dễ sống, tuổi thọ lâu (khoảng 500-700 năm). Hồ Chí Minh quan niệm trồng cây nào phải sống cây ấy, cho nên ông trồng “thật”, ông tưới nước thật chứ không phải trên ngực áo có bông hoa giả, xẻng xúc đất thì quấn giấy xanh giấy đỏ để quay phim, chụp ảnh, và khi về Hà Nội Hồ Chí Minh thường hỏi thăm cây do mình trồng còn sống không, nó đang như thế nào.

Tới thăm xã Nam Cường, một xã mới thành lập do lấn biển của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đang đi trên đường làng, Hồ Chí Minh thấy hai hàng cây mới trồng. Hồ Chí Minh cho rằng, hình như cán bộ và nhân dân ở đây mới trồng vội hôm qua để đón mình (Ông Ngô Duy Đông, Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình lúc đó thừa nhận đúng là như vậy). Hồ Chí Minh dặn rằng, phải rào lại khỏi bị trâu bò phá, và trồng cây nào phải cố gắng chăm sóc để tất cả đều sống.

Lạ thay và thật thú vị biết bao, đọc trong tài liệu Tuyệt đối bí mật, tôi thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về môi trường sinh thái – vấn đề toàn cầu – rất rõ. Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp vào vấn đề xử lý thi hài của mình khi qua đời. Đến bản viết năm 1966, Hồ Chí Minh viết lại như bản viết năm 1965 một đoạn: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn”.

Đến cái chết của mình mà còn nghĩ đến giữ vệ sinh và để khỏi tốn đất nông nghiệp, nghĩ đến trồng cây, nghĩ đến môi trường sinh thái thì đến nay tôi chỉ thấy Hồ Chí Minh chứ không thấy người thứ hai.

Câu chuyện trên đây thật nhiều tầng ý nghĩa. Nhưng, xét riêng về mặt môi trường sinh thái mà nói, thì quả là đáng khâm phục về tư chất của con người, một con người luôn luôn hướng tới việc nêu lên và giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Dẫn ra một số điểm trên đây để thấy rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh chính là con người của văn hoá, một nhà văn hoá hoạt động chính trị, một con người có tư duy luôn ở tầm quốc tế.

Phiên họp lần thứ XXIV Đại Hội đồng UNESCO năm 1987 tại Pari đã thực hiện được một sứ mệnh lớn lao, có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn, làm cho con người xích lại gần nhau hơn, làm cho thế giới đẹp hơn lên khi khuyến nghị các quốc gia thành viên có những hoạt động kỷ niệm, tưởng niệm những danh nhân, những sự kiện văn hoá theo tiêu chí của mình. Chỉ điều này mới có ý nghĩa văn hoá lớn lao, chứ không phải là sự chống đối, sự quậy phá của những người có đầu óc thâm thù đối với sự nghiệp của Hồ Chí Minh, của nhân dân Việt Nam rồi đi đến ghét bỏ Hồ Chí Minh.

[1] Tham khảo báo Quân đội nhân dân, số Xuân Canh Ngọ, 27-1-1990.

[2] Những đoạn trích dẫn Nghị quyết này là từ tài liệu lư­u tại Uỷ ban UNESCO của Việt Nam.

Mạch Quang Thắng, ngày 22/5/2011
http://xichloviet.wordpress.com
NDVN, ngày 14/1/2012

nhandanvietnam.org

Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO (*)

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà Katherine Muller-Marin – Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội đã có bài phát biểu nêu bật những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động của tổ chức này.

Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của Nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn. Đại hội đồng cho rằng việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Đại hội đồng cũng coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Trên cơ sở những suy xét này, Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt là những sự kiện diễn ra tại Việt Nam.

Quyết định của UNESCO cũng căn cứ vào những đóng góp của Hồ Chí Minh cho năm lĩnh vực hoạt động của UNESCO. Tôi xin được nhắc lại một vài đóng góp đó:

Trong lĩnh vực văn hóa, chúng ta thấy Hồ Chí Minh bên cạnh tư cách là một nhà thơ, rất quan tâm đến việc bảo vệ và bảo tồn di sản. Sắc lệnh Số 65 được Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành tháng 11 năm 1945 quy định rằng việc bảo tồn di tích lịch sử là một nhiệm vụ rất cần thiết để xây dựng nước Việt Nam.

Quyết định này còn cấm phá hủy đình, chùa, đền đài, điện thờ, hoặc những nơi thờ cúng, các lâu đài, thành quách, và lăng mộ, cũng như các đồ vật, sắc chỉ, văn bằng, tư liệu, sách báo có giá trị cho lịch sử, dù có tính tín ngưỡng hoặc không. Người cũng quan tâm đến việc khôi phục nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống trên khắp đất nước.

Bảo vệ và bảo tồn là những nhiệm vụ rất quan trọng trong UNESCO. UNESCO khuyến khích việc nhận diện, bảo vệ và bảo tồn di sản văn hóa cũng như di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên khắp thế giới – những di sản được coi là có giá trị nổi bật đối với nhân loại, như đã được thể hiện trong Công ước của UNESCO liên quan đến việc Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và trong Công ước 2003 của UNESCO về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Một ví dụ khác của Hồ Chí Minh liên quan đến công tác bảo vệ và bảo tồn này là Sắc lệnh công nhận Lễ hội Giỗ tổ Hùng vương, một sự kiện yêu nước nhằm mục đích ghi nhớ công lao to lớn của ông cha, đồng thời nhấn mạnh sức mạnh tinh thần của một dân tộc thống nhất.

Từ thuở ban đầu, Hồ Chí Minh đã nhận ra bản chất hỗn hợp của nền văn hóa Việt Nam. Người nói: “Văn hoá Việt Nam là kết quả của sự tác động qua lại giữa Đông và Tây”. Người cũng tin rằng văn hóa là kim chỉ nam cho mọi dân tộc với ý nghĩa là nó giúp nâng cao nhận thức của công chúng, phục hồi sức sống của dân tộc, và đảm bảo các quyền con người, trong khi khẳng định các quyền kinh tế, chính trị và Người cũng quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa văn hóa, kinh tế và chính trị và tin rằng văn hóa phải thẩm thấu vào toàn xã hội và đến với từng thành viên để phát huy tiềm năng sáng tạo của họ.

Trong lĩnh vực truyền thông và thông tin. chúng ta thấy vai trò của Người trong việc phát triển báo chí. Ví dụ như: Người đã lập ra tờ báo riêng của mình, Tờ Le Paria, có nghĩa là “Người cùng khổ” vào năm 1921 và sáng lập ra Báo Thanh niên – tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1925 và trở thành Tổng Biên tập đầu tiên của ấn phẩm này. Người cũng lập ra tờ báo quốc gia chính của Đảng Cộng sản Việt Nam – Báo Nhân Dân, được xuất bản tại Hà Nội và là cơ quan ngôn luận chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đưa một phong cách làm báo mới ở Việt Nam, lấy dân tộc và người dân làm chủ đề thời sự chính. Viết cho giai cấp lao động, các tờ báo cách mạng phải lột tả thực tế đời sống của người lao động và hướng dẫn họ trong cách cư xử và hành động nhằm giúp họ cải thiện điều kiện sống của mình.

Một số người nói rằng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền báo chí Việt Nam, một giả định hợp với logic bởi suốt đời mình, Người là một nhà báo. Người viết nhiều thể loại văn chương và báo chí: Bút ký, truyện thời sự, xã luận, thơ, cùng các thể loại khác. Các bài báo của Người, đi thẳng vào vấn đề và được viết một cách giản dị, rõ ràng và súc tích, rất dễ hiểu với độc giả đông đảo của Người.

Hội Nhà báo Việt Nam cũng được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; khởi đầu chỉ với 200 hội viên nhưng giờ đây đã lên đến hơn 16.000 người.

Tôi nhận thấy một điều lý thú là vào năm 1946, trên cương vị Chủ tịch lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Bộ Kinh tế quốc gia, trong đó có một đơn vị thống kê chịu trách nhiệm tập hợp các số liệu về dân số, tình hình tài chính, kinh tế, chính trị, và lý thú hơn nữa là cả các số liệu về văn hóa.

Giờ đây, chúng ta đang làm việc với sự hỗ trợ của Viện Thống kê UNESCO cùng Tổng cục Thống kê và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Việt Nam để xây dựng một Khung hành động cho Thống kê Văn hóa Việt Nam nhằm trợ giúp cho việc xây dựng và triển khai chính sách dựa vào thực tiễn, bởi lẽ văn hóa đang trở thành một nhân tố chủ chốt của phát triển bền vững.

Trên những lĩnh vực khác, tôi nhận thấy trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến các vấn đề của phụ nữ. Người cho rằng để giúp chị em tham gia vào các hoạt động xã hội, sự phân biệt giữa nam và nữ cần xóa bỏ và chính phủ cần phải có chính sách khuyến khích phụ nữ cùng nam giới tham gia vào sản xuất, quản lý kinh tế và hoạt động văn hóa. Người cũng viết trong Di chúc là Đảng và Chính phủ nên có những kế hoạch để đảm bảo ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động, kể cả lãnh đạo, và rằng chị em cần phải phấn đấu vươn lên.

Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một quyền cơ bản của con người, một giá trị chung, và cũng là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế, trong đó có tất cả các mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ. Suy cho cùng, việc nâng cao quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới là những vấn đề chính trị cần có sự hưởng ứng và cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới và những người làm chính sách.

Liên quan đến khoa học xã hội và với những khái niệm về hợp tác hòa bình và hiểu biết lẫn nhau trên thế giới được UNESCO quảng bá, Việt Nam đang ra sức đóng góp cho khu vực và thế giới. Một phong cách mới của ngoại giao Việt Nam đã xuất hiện khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Bộ Ngoại giao được thành lập trong tháng 8 năm1945 khi nội các lâm thời được công bố. Ý thức được tầm quan trọng của ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao cho đến tháng 3 năm 1947.

Về khoa học tự nhiên, Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện sự quan tâm của Người đối với các vấn đề liên quan đến môi trường và tới mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên trong sự phát triển của một quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, thủy lợi và cải thiện chất đất.

Sự quan tâm của Người đối với việc trồng cây và bảo vệ môi trường đã vượt qua biên giới tới mức, trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc mỗi khi tiếp đón khách ngoại quốc, Người hay tổ chức lễ trồng cây và gọi những cây này là “cây hữu nghị”, biểu tượng cho quan hệ giữa Việt Nam và thế giới cũng thể hiện thái độ tích cực đối với môi trường. Tôi có thể hiểu được tại sao chúng tôi luôn được mời tới các lễ trồng cây. Ngay cả trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh khuyến nghị những người viếng thăm trồng cây tưởng niệm.

Người còn kêu gọi mọi người “trồng và bảo vệ rừng, như bảo vệ ngôi nhà của mình”. Để nêu gương, Người đã tạo ra một môi trường tự nhiên tuyệt vời quanh nơi ở của mình và chăm sóc cây cối, hồ cá, và chim chóc, nhấn mạnh là chúng cần được bảo vệ bởi chúng là những báu vật của thiên nhiên.

Trong lĩnh vực giáo dục, tôi nhận thấy điều thú vị là Người cho rằng xóa bỏ nạn mù chữ có nghĩa là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng. Người chỉ ra rằng học đọc và học viết có thể được tiến hành ở bất cứ đâu, dùng than, mặt đất, hoặc lá chuối làm bút và giấy. Người sáng suốt khi chỉ ra rằng một người đã biết đọc, người đó cần tiếp tục học tập bởi người biết chữ có thể quên cách đọc nếu họ không có gì đễ đọc. Người tuyên bố rõ ràng rằng Chính phủ và Bộ Giáo dục có nhiệm vụ cung cấp sách báo phù hợp với từng cấp độ của người đọc.

Từ khi được thành lập vào năm 1946, UNESCO đã đi đầu trong nỗ lực xóa bỏ nạn mù chức trên toàn cầu với những chương trình như Giáo dục cho mọi người. Đây là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới, và đảm bảo phát triền bền vững, hòa bình và dân chủ. Hơn thế, thật thú vị khi đọc trong Công báo quốc gia Việt Nam 1945 thấy rằng Bộ Giáo dục được thành lập ngay sau khi Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có một mối tương liên giữa ý nghĩ của Hồ Chí Minh rằng “mục tiêu cuối cùng của việc học là trở thành con người theo đúng nghĩa của từ này với bốn trụ cột của việc học đã được Ủy ban về Giáo dục cho thế kỷ XXI xác định trong báo cáo của họ trình lên UNESCO trong thập kỷ 1990 như là những nguyên tắc cơ bản cho việc định hình lại giáo dục. Ủy ban cảm thấy là giáo dục suốt đời dựa trên bốn trụ cột:

Học để biết, ngụ ý cung cấp những công cụ nhận thức cần có dễ hiểu thế giới và những điều phức tạp của nó một cách tốt hơn, và để có nền tảng đủ và phù hợp để học tập trong tương lai.

Học để làm, có nghĩa là cung cấp các kỹ năng giúp các cá nhân tham gia một cách có hiệu quả vào nền kinh tế và xã hội toàn cầu.

Học để làm người có nghĩa là cung cấp những kỹ năng tự phân tích và kỹ năng xã hội để giúp các cá nhân phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình về mặt tâm lý – xã hội, về tình cảm cũng như thể chất, để trở thành một “con người toàn diện” về mọi mặt.

Học để chung sống ngụ ý là hướng các cá nhân vào những giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tôn trọng và hòa bình ở mọi cấp bậc xã hội và quan hệ giữa người với người nhằm giúp cho các cá nhân và các xã hội cùng sống trong hòa bình và hòa thuận.

Tôi xin kết thúc bài phát biểu của mình với những ý nghĩ sau:

Nếu một con thuyền ra khơi mà không định trước bến đỗ, thì gió thổi hướng nào là không quan trọng? Con thuyền có thể cập bất kỳ bến nào. Biết được bến đỗ mà ta muốn đến có nghĩa là ta có một tầm nhìn rõ ràng về nơi đó. Điều đó có nghĩa là kiểm soát tốc độ gió và sức lực để tới được bến đỗ đó.

Có được một vị Chủ tịch như Hồ Chí Minh, người được nhiều người không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới tôn vinh như anh hùng dân tộc, giống như có được một biểu tượng giúp chúng ta có được một tầm nhìn, chỉ cho đất nước một bến đỗ an toàn cho đất nước. Và hơn thế, một lãnh tụ như thế cũng chỉ cho ta cách kiểm soát phong ba bão táp thông qua lòng tự hào, lao động cần cù và quan hệ hòa hiếu.

Giờ đây, tôi xin cùng dân tộc Việt Nam kỷ niệm ngày sinh của một nhân vật vĩ đại, người đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại và trong lịch sử của đất nước này. Xin chúc tất cả quý vị một tương lai phồn thịnh và thái bình./.

Katherine Muller-Marin
Theo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn