Tag Archive | Quân sự

Tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động: Một thời tay búa, tay súng

QĐND – Những ngày này của mùa đông 40 năm trước, cả Hà Nội kiên cường chống trả với “pháo đài bay B-52” và làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy. Thời điểm đó, hòa chung khí thế sục sôi, những công nhân tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động, nay là Công ty TNHH một thành viên Mai Động vừa miệt mài tham gia sản xuất, vừa vững vàng trên mâm pháo đánh quân thù. Những người lính thợ đã đoàn kết, dũng cảm bắn hạ một máy bay F111A “cánh cụp cánh xòe” của đế quốc Mỹ.

Chiến sĩ Trung đội tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động bên mâm pháo và lẵng hoa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng mừng chiến công (2-1-1973). Ảnh chụp lại từ ảnh tư liệu

Máy vẫn chạy dưới mưa bom, bão lửa

Đã 40 năm trôi qua, nhưng trong ký ức của ông Nguyễn Văn Trung, nguyên Chánh văn phòng Công ty TNHH một thành viên Mai Động về 12 ngày đêm Hà Nội “đất rung, ngói tan, gạch nát” vẫn hiện hữu, vẹn nguyên. Ngày ấy, ông Trung là thành viên của Trung đội tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động. Đội tự vệ gồm 11 người, nhưng trong chiến dịch 12 ngày đêm năm đó, khẩu đội thường xuyên trực chiến gồm 6 người, gồm: Khẩu đội trưởng Thái Văn Quang, các chiến sĩ Phạm Thị Viễn, Đỗ Thị Dần, Ngô Thị Hiếu, Đặng Văn Sinh và Nguyễn Văn Trung, được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực nhà máy. Ông Nguyễn Văn Trung kể rằng, mới đầu, anh chị em thay phiên nhau trực, một tuần tham gia tự vệ, một tuần về nhà máy tham gia sản xuất. Đầu năm 1972, khi đế quốc Mỹ đưa không quân đánh vào Hà Nội, đội tự vệ được giao 2 khẩu pháo 14,5 ly, biên chế rời vị trí sản xuất để trực chiến 24/24.

Ngày ấy, nhà máy chủ yếu sản xuất ống nước, cung cấp cho toàn thành phố. Để tránh thiệt hại, đảm bảo duy trì sản xuất, một số phân xưởng như máy tiện, máy bào… phải sơ tán chuyển về các trường học. Riêng phân xưởng đúc, do không thể di chuyển được nên vẫn ở lại (địa điểm số 310 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng).

Nhấp chén trà nóng, nụ cười hồn hậu, ông Trung kể: “Ngày ấy, bộ phận đúc phải làm trong đêm nên những ống nước bằng thép cao vút được đúc ra lò sáng rực như cột lửa và dễ dàng trở thành mục tiêu của địch, gây nguy hiểm cho nhà máy và dân cư xung quanh. Để khắc phục, anh em chúng tôi đã có sáng kiến “may áo” cho những cột lửa ấy bằng cách làm những cánh cửa, bọc xung quanh để nhà máy an toàn sản xuất”.

Chiến công của những người thợ

Trò chuyện với chúng tôi, người thợ-người tự vệ năm xưa nay đã ngoài 60 tuổi vẫn không quên những ngày tháng hào hùng. Ban ngày, họ trực chiến máy bay cường kích của địch, còn ban đêm thì chia nhau trực. Những đêm đầu (từ ngày 18 tới ngày 20-12-1972), trong đợt tập kích chiến lược bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Trung đội được giao phục vụ chiến đấu cùng trận địa pháo 100mm của Quân chủng Phòng không – Không quân, cách nhà máy 300m. Nhiệm vụ chính của Trung đội là lắp ngòi nổ, chuyển đạn, cứu thương, cứu sập hầm… Sau đó, Trung đội được di chuyển ra trận địa mới ở Vân Đồn, đây là trận địa pháo cao xạ của một đơn vị chính quy vừa rút đi và cũng mới bị ném bom. Từ vị trí này, tầm bao quát rất rộng, nhìn thẳng sang vòm cầu Long Biên, pháo ta có thể đón lõng máy bay tiêm kích của địch đến từ hướng dãy Tam Đảo, theo mặt nước sông Hồng vào Hà Nội thả bom. Chỉ huy trận địa là Trung úy Hoàng Minh Giám, một sĩ quan trẻ thuộc Ban Cao xạ của Quân khu Thủ đô. Khoảng 20 giờ ngày 22-12-1972, đơn vị được cấp trên báo máy bay địch đang tiến vào Hà Nội, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù, máy bay tiêm kích của địch nhỏ, lại bay tầm thấp, nên ra-đa không thể phát hiện được. Tuy vậy, với kinh nghiệm dày dạn trận mạc của Trung úy Hoàng Minh Giám, toàn Trung đội dũng cảm chiến đấu, bắn hạ chiếc F111A. “Lúc đó, cả khẩu đội chỉ biết ôm nhau hò reo vui mừng. Phần thưởng ý nghĩa nhất lúc đó là 5 thùng lương khô do đồng chí Trần Duy Hưng – Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội mang tới động viên anh em” – ánh mắt ông Trung đầy tự hào khi nhớ tới giờ phút lịch sử đó.

Trong buổi Giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca” do Báo Quân đội nhân dân phối hợp với một số đơn vị tổ chức ngày 15-12 vừa qua, cô công nhân tự vệ Phạm Thị Viễn năm xưa không giấu được niềm tự hào khi chia sẻ chiến công đêm 22-12-1972: “20 giờ 30 phút, còi báo động rú lên, toàn thành phố tắt điện. Máy bay Mỹ xuất hiện, bay thấp dọc sông Hồng. Một lúc sau, nhận được lệnh bắn của chỉ huy, chúng tôi đồng loạt bắn. Ở vị trí pháo thủ số 1, tôi nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay rẹt qua đầu, phần đuôi của nó đang bốc lửa… 30 phút sau, một chiếc xe quân sự chạy vào báo tin vui, trận địa chúng tôi vừa hạ được chiếc máy bay F111A “cánh cụp cánh xòe”. Đó là chiến công của cả tập thể Trung đội tự vệ nhà máy cơ khí Mai Động” – bà Phạm Thị Viễn xúc động cho biết.

Mấy ngày sau, bom Mỹ tiếp tục dội xuống. Trận địa pháo cao xạ của Trung đội tự vệ nhà máy liên tục trực chiến. Hà Nội bị đánh phá ác liệt, nhưng bằng sự chiến đấu kiên cường, trong 12 ngày đêm, quân dân Thủ đô đã làm nên khúc tráng ca trên bầu trời Hà Nội.

Sau 40 năm, những người thanh niên tuổi đôi mươi năm ấy nay đã thành ông, thành bà. Có người tuổi cao đã về hưu, người còn khả năng thì tiếp tục ở lại cống hiến cho nhà máy. Họ cũng chính là những người góp phần đưa nhà máy trở thành một doanh nghiệp hàng đầu, có truyền thống và thương hiệu mạnh về sản xuất các loại công cụ: Rèn-dập-ép, khoan-doa-mài phụ kiện ống, trụ nước… Nhà máy xứng đáng được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ chống Mỹ và nhiều danh hiệu cao quý khác.

Hà Nội hôm nay đã “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Nhà máy Cơ khí Mai Động khi xưa giờ đây cũng đã trưởng thành và không ngừng phát triển. Với thế hệ những người công nhân tự vệ của 40 năm trước, đó sẽ mãi là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời mình.

VŨ DUNG – MINH MẠNH
qdnd.vn

Trận địa pháo Vân Đồn bắn hạ máy bay F-111

QĐND – Bà là Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội, từng tham gia chiến đấu tại trận địa Vân Đồn (Hà Nội), cùng đồng đội lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay F-111 của Không quân Mỹ ngày 22-12-1972.

Trong thời gian làm tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn tích cực học tập, sử dụng thành thạo loại súng phòng không 14,5mm. Khi không quân Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, bà phải chịu nỗi đau mất mẹ do bom Mỹ sát hại. Bà nhớ lại: “Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, tôi là tự vệ của nhà máy, nên phải trực chiến suốt ngày đêm. Khi máy bay B-52 mang bom rải thảm, khu tập thể nơi gia đình sinh sống bị một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn và sát hại cha tôi, đúng lúc tôi đang trực chiến”.

Xác chiếc F-111 bị tự vệ Hà Nội bắn cháy, rơi ở Hòa Bình đêm 22-12-1972. Ảnh tư liệu.

Nén đau thương, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn và đồng đội kiên cường chiến đấu, cùng các đơn vị pháo cao xạ kịp thời điều chỉnh thế trận, tạo thành lưới lửa phòng không tầm thấp, không cho địch tự do đánh phá. Trong đơn vị có nhiều tự vệ là nữ, việc thao tác triển khai, thu hồi pháo để cơ động nặng nhọc và vất vả, nhưng ai cũng cố gắng, xung phong ra trận địa, lên mâm pháo, đối mặt với máy bay địch.

Trận đánh bắn rơi máy bay chiến đấu hiện đại F-111 “cánh cụp, cánh xòe” của không quân Mỹ là một điển hình. Máy bay F-111 hoạt động ở độ cao thấp và rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội đánh phá các mục tiêu. Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, triển khai đội hình, trận địa hợp lý, tổ chức và trực tiếp chỉ huy một Liên đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm, gồm 3 trung đội tự vệ của Nhà máy gỗ Hà Nội, Nhà máy cơ khí Mai Động và Nhà máy cơ khí Lương Yên.

Sáng 22-12-1972, các trung đội tự vệ cơ động đến trận địa Vân Đồn, bố trí đội hình liên đội chiến đấu. Lúc 20 giờ ngày 22-12, liên đội nhận lệnh vào cấp 1, trong tư thế “đón lõng” máy bay Mỹ. Khi các khẩu đội bắt mục tiêu, đồng chí liên đội trưởng hô bắn, các khẩu đội pháo đồng loạt nhả đạn. Là pháo thủ số 1, bà Phạm Thị Viễn nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay rẹt qua đầu, phần đuôi của nó lóe sáng. Chiếc máy bay F-111 trúng đạn, bốc cháy, rơi xuống Lương Sơn, Hòa Bình. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo thành phố, Bộ tư lệnh Thủ đô đã đến tận trận địa động viên, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Liên đội tự vệ.

HƯƠNG HỒNG THU (lược ghi)
qdnd.vn

Lực lượng phòng không Hải Phòng đánh B-52 những ngày cuối tháng 12 năm 1872

QĐND – Ở Hải Phòng cuối tháng 12-1972, tình hình hết sức khẩn trương, căng thẳng. Sáng 17-12, Mỹ cho 13 lần chiếc máy bay thả 150 quả thủy lôi xuống luồng tàu biển ngoài cửa sông Nam Triệu, phóng hai quả tên lửa vào kho dầu Thượng Lý và thôn Vị Xuyên, xã Tân Dân, huyện An Thụy (nay là huyện An Lão). Bộ tư lệnh (BTL) 350 Hải Phòng nhận được lệnh của Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng phòng không (PK) miền Bắc chuyển vào trạng thái SSCĐ cao nhất, đề phòng B-52 đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Tại Hải Phòng, trong cuộc họp khẩn cấp ngày 17-12, sau nghe BTL 350 Hải Phòng báo cáo tình hình, Thường vụ Thành ủy nhận định: Những ngày tới địch sẽ đánh phá Hải Phòng ác liệt hơn trước. Do đó, tất cả các đơn vị lực lượng PKND phải triệt để thực hiện những biện pháp phòng chống B-52 theo kế hoạch. Thực hiện chỉ thị của Thành ủy, ngày 17-12, hầu hết những người không liên quan đến sản xuất, chiến đấu sơ tán ra khỏi nội thành, một số xí nghiệp duy trì sản xuất thường xuyên cũng chỉ để lại số công nhân thật cần thiết, các bộ phận khác phân tán mỏng về các đường phố, các xã vùng ven. Ngày 18-12, địch tiếp tục cho máy bay trinh sát Hà Nội – Hải Phòng. Thành ủy Hải Phòng nhận định: Nhiều khả năng địch mở cuộc tập kích chiến lược vào đêm 18-12.

Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư Trung ương Đảng thăm Trung đoàn Pháo Phòng không 252 bảo vệ Hải Phòng trong những ngày Đế quốc Mỹ dùng B-52 đánh phá thành phố Cảng cuối năm 1972. Ảnh tư liệu.

Đúng như nhận định, đêm 18-12, đế quốc Mỹ huy động 90 lần chiếc B-52 cùng 163 lần chiếc máy bay chiến thuật mở đầu cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội – Hải Phòng. Lúc 14 giờ 10 phút, Sở chỉ huy phòng không (SCHPK) Hải Phòng nhận được thông báo B-52 đã vào đánh phá miền Bắc. Theo quy ước, B-52 vượt qua vĩ tuyến 21 SCHPK sẽ phát tín hiệu báo động B1 (có B-52). Trong đêm đầu tiên của cuộc tập kích, địch tập trung toàn bộ B-52 đánh liên tiếp 3 đợt vào Hà Nội, Hải Phòng. Lúc 14 giờ 40 phút, hàng chục máy bay chiến thuật đánh phá Hải Phòng trong nhiều giờ. Khác với những trận đánh trước, các tốp máy bay địch đều bay ở độ cao dưới 1000m, vào một hướng, ra một hướng, thời gian giãn cách giữa các tốp chừng 5-7 phút, đánh cùng lúc vào nhiều mục tiêu. Hoạt động của địch lặp đi lặp lại nhiều lần trong đêm… Cả thành phố thức trắng, căng thẳng kéo dài.

Do địch thay đổi thủ đoạn chiến thuật, các đài quan sát khí tài của ta không phát hiện hết mục tiêu. Các trạm quan sát của DQTV chưa kịp định hướng, máy bay địch đã bay qua. Các trận địa PK tầm cao không bắn được máy bay địch, lại bị chúng chế áp. Hỏa lực tầm thấp chỉ bắn ước lượng vì không xác định được phần tử. Nên ngày 18-12 ta chưa bắn rơi được chiếc máy bay nào. Duy chỉ có trung đội du kích tập trung của huyện Vĩnh Bảo phục kích trên hướng máy bay địch từ nội thành bay ra ngoài biển bắn rơi một chiếc.

Sáng 19-12, địch tiếp tục cho máy bay cường kích đánh phá TX Kiến An (nay là quận Kiến An), huyện Thủy Nguyên… Lực lượng PK Hải Phòng đánh nhiều trận nhưng chỉ có Đại đội 171 pháo cao xạ 100mm bắn rơi một máy bay. Nhận định địch đã thay đổi thủ đoạn đánh phá, đặc biệt là tăng cường khí tài điện tử gây nhiễu. BTL 350 Hải Phòng kịp thời rút kinh nghiệm các trận đánh đêm 18 và ngày 19-12 chỉ đạo các đơn vị gấp rút xây dựng các phương án bắn máy bay bay thấp ban đêm. Căn cứ vào những phát hiện mới nhất về đường bay và thủ đoạn đánh phá của địch, lực lượng PK Hải Phòng đã điều chỉnh thế bố trí lực lượng, tập trung thành từng dải hỏa lực đón đánh máy bay địch trên các đường bay vào thành phố. Mỗi giải hỏa lực có nhiều loại hỏa khí khác nhau, nhưng bắn ở cùng cự ly nhằm tạo ra lưới lửa tập trung. Sau khi nhận được báo cáo của đài quan sát bằng khí tài và bằng mắt, SCHPK chỉ thị mục tiêu cho lực lượng PK toàn thành phố qua đài phát thanh. Bộ đội PK có nhiệm vụ bắn đạn vạch đường, các đơn vị trong dải hỏa lực đồng loạt nổ súng theo cự ly và hướng bay của mục tiêu đã phát hiện.

Chiều và đêm 19-12, lực lượng PK thành phố bố trí xong đội hình theo phương án chiến đấu mới… Từ đêm 19 đến ngày 21-12, địch tiếp tục cho B-52 đánh phá Hải Phòng. Chia lửa với Thủ đô, quân và dân Hải Phòng đã anh dũng đáp trả, lập công giòn giã, bắn rơi 12 máy bay, diệt và bắt sống một số giặc lái. Tiểu đoàn pháo 37mm tự vệ Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng vững vàng đánh địch bảo vệ nhà máy, có ngày tiểu đoàn đánh liên tục 4 trận, có đêm đánh 6 trận. Tự vệ Công ty Công nghệ thực phẩm khu phố Hồng Bàng với 2 khẩu 12,7mm do 12 chiến sĩ giỏi sử dụng đã phối hợp với các tổ bắn máy bay bằng súng bộ binh…, tạo thành hỏa lực tầm thấp khá mạnh, góp phần cùng các đơn vị bạn bắn rơi một máy bay Mỹ…

Các trận địa của Tiểu đoàn 14 cao xạ phối hợp lực lượng của Sư đoàn 363 đón đường bay của địch khi chúng bay vào, bay ra trên hướng Đông Nam, có trận chỉ bằng một loạt đạn, giàn hỏa lực này đã bắn rơi tại chỗ một máy bay địch, bắt sống giặc lái. Cũng trên hướng này, đại đội pháo cao xạ mang tên Trần Thành Ngọ phối hợp với các tổ chiến đấu của dân quân huyện An Thụy, dân quân xã Trường Sơn bắn rơi một máy bay A6.A. Tại xã An Hồng, đêm 21-12, khẩu đội súng máy của dân quân gái đón đường bay, nổ súng chính xác bắn rơi một máy bay Mỹ. Đây là đơn vị dân quân gái đầu tiên của Quân khu Tả ngạn bắn rơi máy bay Mỹ trong đêm…

Từ nhận định tình hình, Hải Phòng chủ động chuẩn bị đối phó với tình huống địch đánh lớn, có tính chất hủy diệt. Ngày 21-12, UBHC thành phố quyết định tạm ngừng sản xuất ở nội thành. Nhân dân các khu phố nội thành, những vùng xung quanh các sân bay, kho tàng, trận địa tên lửa, pháo cao xạ, kể cả một số xã ven đường 5 sơ tán triệt để. Đến ngày 22-12, ở nội thành, chỉ còn hơn một vạn người chủ yếu cán bộ, công nhân thường trực sản xuất ở các nhà máy điện, nước, nhân viên y tế, những người làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông ở các bến phà, các chiến sĩ công an. Bộ đội thường trực lực lượng pháo cao xạ được lệnh tập trung cho nhiệm vụ chủ yếu đánh B-52…

Ngày và đêm 22-12, nhiều tốp máy bay Mỹ hoạt động ngoài vùng biển Hải Phòng. BTL 350 nhận định, đây có thể là hoạt động nghi binh, chuẩn bị cho trận đánh mới. 4 giờ sáng 23-12, SCHPK thành phố phát tín hiệu B1 báo động máy bay B-52 đang vào vùng trời Hải Phòng. Chỉ ít phút sau, đã nghe rõ động cơ máy bay địch ở độ cao 5000m. Qua kiểm tra, Sư đoàn PK 363 khẳng định đó là B-52 giả. Các trận địa đều không phóng đạn, cuộc đấu trí diễn ra căng thẳng trong 30 phút, 9 tốp máy bay B-52 giả bay vào rồi vòng ra biển. Lực lượng PK chưa nổ súng nhưng đã giành chiến thắng đầu tiên. Thủ đoạn nham hiểm của địch dựa vào kỹ thuật điện tử hiện đại nhằm đánh lừa ra-đa của ta, làm cho bộ đội tên lửa, pháo cao xạ ta tiêu phí đạn, bộc lộ trận địa để chuẩn bị cho B-52 đánh chính thức đã hoàn toàn thất bại. 4 giờ 30 phút, nhiều tốp máy bay chiến thuật của địch đánh chế áp các trận địa hỏa lực của ta. Ít phút sau, 24 lần chiếc B-52, có 30 máy bay chiến thuật hộ tống đánh vào Hải Phòng… Các đài quan sát, ra-đa, các trận địa tên lửa, pháo cao xạ ở An Lão, Thủy Nguyên phát hiện mục tiêu, phóng đạn chính xác, bắn rơi hai pháo đài bay B-52. Đánh địch giỏi, phòng tránh tốt, Hải Phòng đã phối hợp nhịp nhàng với quân và dân Thủ đô lập công lớn trong đợt 1 của chiến dịch: 14 máy bay, trong đó có hai chiếc B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hải Phòng.

Bị thất bại nặng nề, lại đúng dịp lễ Nô-en, bắt đầu từ 24 giờ ngày 24-12, địch tạm dừng hoạt động để củng cố lực lượng, ổn định tinh thần giặc lái, tìm thủ đoạn đánh mới.

Ngày 25-12, Hải Phòng tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu đợt 1, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Các đơn vị tên lửa, cao xạ chỉ đạo các kíp chiến đấu, các khẩu đội rút kinh nghiệm từng trận đánh. Được nhân dân giúp đỡ, các đơn vị tranh thủ củng cố hoặc di chuyển trận địa. Một số đơn vị pháo cao xạ được phép bố trí sát trận địa tên lửa để đánh máy bay chiến thuật… Toàn thành phố khẩn trương chuẩn bị, quyết giáng cho địch những đòn đau hơn.

Đêm 26-12, địch huy động 105 lần chiếc B-52, có 120 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ đồng thời đánh mạnh vào Hải Phòng, Hà Nội, Thái Nguyên. Tại Hải Phòng, SCHPK phát lệnh báo động B-52 lúc 22 giờ 10 phút, 24 chiếc B-52 nối nhau bay vào vùng trời thành phố và sau đó là hàng nghìn quả bom rải thảm, 10 máy bay chiến thuật ném bom phố Cầu Đất, Nhà hát… Lực lượng PK Hải Phòng đồng loạt nhả đạn và đã bắn rơi hai chiếc B-52. Quân, dân Hải Phòng góp phần cùng quân và dân Hà Nội chiến thắng giòn giã trong trận đánh then chốt đêm 26-12; đập tan trận tập kích quy mô lớn nhất, bắn rơi 10 máy bay, trong đó có 9 máy bay B-52. Đêm 27-12, Tiểu đoàn 72 tên lửa Hải Phòng mới được tăng cường bảo vệ Hà Nội cũng bắn tan xác một máy bay B-52, rơi ngay trên đường phố Hoàng Hoa Thám (Hà Nội)…

Cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 – nỗ lực quân sự cao nhất và cuối cùng của đế quốc Mỹ đã thảm bại. Trong chiến công chung ấy, quân và dân TP Hải Phòng góp phần xứng đáng bắn rơi 17 máy bay, trong đó có 4 máy bay B-52; diệt, bắt sống nhiều giặc lái…

Đại tá NGUYỄN VĂN MY Phó chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng Bộ CHQS TP Hải Phòng.
qdnd.vn

“Chân ướt chân ráo” về Hà Nội, diệt ngay siêu pháo đài bay B-52

QĐND Online – Tiểu đoàn 72, Trung đoàn tên lửa 285 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) được thành lập ngày 12-9-1965 tại Yên Thế, Bắc Giang, nơi năm xưa là căn cứ địa của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Mang theo niềm tự hào ấy, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn đã cơ động chiến đấu bảo vệ các mục tiêu và bắn rơi 6 máy bay các loại của Mỹ, trước khi về tham gia vào đội hình chiến đấu của Bộ Tư lệnh phòng không Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972…

Về trận địa mới, diệt ngay F-4

Chiều 23-12-1972, nhận lệnh cơ động từ Hải Phòng về Hà Nội bổ sung lực lượng cho Trung đoàn tên lửa 261 (Sư đoàn 361), chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Lúc này một số cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có gia đình vừa bị bom địch gây tổn thất chưa có điều kiện về thăm nhà, nhưng được về bảo vệ Thủ đô nên ai cũng hăng hái lên đường.

Sau khi phổ biến mệnh lệnh hành quân, quán triệt phương châm “đi nhanh, đến đủ, trụ vững, đánh thắng, an toàn tuyệt đối”, Tiểu đoàn tổ chức hành quân theo hai hướng: Hướng thứ nhất gồm trang bị nhẹ (khí tài thông tin, ra-đa, xăng dầu, hậu cần…) theo đường phà Đụn, đường 18…; hướng thứ hai gồm những trang bị nặng (khí tài tên lửa, bệ, đạn…) theo đường phà Kiền, đường 5, cầu Lai Vu, cầu Phú Lương về trận địa mới. Đường từ Hải Phòng về trận địa mới dài hơn 100km, trong khi địch đánh phá ác liệt, nhằm vào tất cả các tuyến giao thông, hệ thống cầu, phà… Đơn vị phải tranh thủ thời gian, không kể đêm tối, mưa rét để hành quân đến trận địa mới, triển khai chiến đấu đúng dự kiến. Sau gần 3 ngày vất vả, mờ sáng ngày 26-12, đơn vị đã chiếm lĩnh trận địa, người và khí tài đều an toàn. Được tự vệ và nhân dân địa phương giúp đỡ củng cố công sự, ngụy trang khí tài, trận địa, nên chỉ hơn 6 giờ sáng, Tiểu đoàn đã triển khai sẵn sàng chiến đấu, chờ thời cơ diệt địch.

Thành phần kíp chiến đấu tháng 12-1972 của Tiểu đoàn 72

Ngay chiều 26-12, lúc 13 giờ 35 phút, 56 lần chiếc máy bay chiến thuật vào trinh sát, “dọn đường” cho B-52 vào đánh phá Hà Nội. Chúng đánh phá nhà ga, kho tàng và trạm biến thế Đông Anh… Sở chỉ huy Sư đoàn 361 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn tiêu diệt tốp F-4 chỉ huy của địch. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt lệnh cho kíp chiến đấu phóng một quả vào tốp F-4. Một chiếc F-4 bị tiêu diệt, xác máy bay rơi xuống một khu rừng ở Hòa Bình, giặc lái bị bắt sống. “Rắn mất đầu” nên những chiếc máy bay còn lại hốt hoảng tháo chạy…

Làm nên trận đánh “đặc biệt xuất sắc”

Đêm 27-12, địch sử dụng 120 lần chiếc máy bay, trong đó có 54 lần chiếc B-52 vào đánh phá các chân hàng, đầu mối giao thông ở ngoại thành Hà Nội. Lúc 23 giờ 3 phút, Tiểu đoàn nhận lệnh vào cấp I, tiêu diệt tốp B-52 mang ký hiệu 491 đang từ hướng Tây Bắc lao vào đánh phá Hà Nội. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt lệnh cho kíp chiến đấu sục sạo, phát hiện mục tiêu. Trên màn hiện sóng không phát hiện máy bay địch, chỉ có một dải nhiễu đậm mịn. Đài trưởng ra-đa P-12 báo cáo mục tiêu B-52 đang bay vào cự ly 45, phương vị 185, độ cao 11… Sau 3 lần phát sóng kiểm tra, dải nhiễu vẫn cơ động ổn định. Bằng kinh nghiệm, Tiểu đoàn trưởng xác định đây chính xác là mục tiêu B-52. Thời cơ tiêu diệt địch đã đến, lệnh của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt vang lên dứt khoát: “Tập trung tiêu diệt tốp 491, vượt nửa góc, đạn 2 quả, giãn cách 6 giây, ngòi nổ PB, cự ly 32, phương vị 198, độ cao 11”.

Lúc này toàn kíp chiến đấu tập trung cao độ. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dự báo cáo: “Mục tiêu đến vùng phóng”… Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh: “Mở đồng bộ, mở mạch chiến đấu….phóng quả 1…phóng quả 2”.

Ngay tức thì, 2 quả đạn vút lên hướng tới mục tiêu. Cả hai đạn có điều khiển. Kíp trắc thủ liên tục theo dõi, bám sát mục tiêu. Giãn cách từ tên lửa đến mục tiêu ngày càng gần. Đạn nổ tốt, cả 3 màn trắc thủ đều lóe sáng… Từ phía Hà Nội bùng lên một khối lửa khổng lồ. Trên đài quan sát, trắc thủ TZK reo lên mừng rỡ: “Cháy rồi! B52 cháy rồi”.

Một phần xác chiếc B-52 bị Tiểu đoàn 72 bắn hạ năm xưa, nay vẫn nằm dưới hồ Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội.

Sau ít phút, Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội và sở chỉ huy Trung đoàn 285 điện xuống biểu dương kíp chiến đấu Tiểu đoàn 72 về thành tích bắn rơi chiếc B5-2.

Thân chiếc B-52 nói trên rơi xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội); đuôi và cánh rơi xuống đường Hoàng Hoa Thám và vườn Bách thảo; động cơ B-52 rơi ở vườn nhà dân.

Sáng hôm sau,, ngày 28-12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến tận nơi chiếc B-52 rơi để thị sát. Đại tướng nhận xét: Đây là trận đánh đặc biệt xuất sắc của bộ đội tên lửa Việt Nam mà Tiểu đoàn 72 đã thực hiện. Chiếc B-52 rơi tại chỗ giữa lòng Hà Nội khi chúng chưa kịp cắt bom, gây tội ác. Tổ lái 6 tên, có 2 tên bị chết và 4 tên còn lại bị bắt sống ngay trên hè phố Hà Nội.

Lịch sử có sự trùng hợp ngẫu nhiên! Tiểu đoàn tên lửa 72 được thành lập tại nơi vốn là căn cứ địa của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám năm xưa, khi được về chiến đấu bảo vệ Thủ đô, tên lửa của Tiểu đoàn lại quật cổ siêu pháo đài bay B-52 của giặc Mỹ trên đường Hoàng Hoa Thám…

Bài và ảnh: NGUYỄN HẢI VIỆT
qdnd.vn

Hiệu quả “ba chủ động”

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam, được phát huy, kế thừa từ truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc. Chủ động phòng tránh, chủ động xây dựng hầm hào, chủ động thông báo… là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Sơ tán, phòng tránh linh hoạt

Trong phòng không nhân dân (PKND), công tác phòng tránh có vai trò hết sức quan trọng, nhằm bảo vệ sinh mạng, tài sản của nhân dân và nhà nước, giảm tổn thất đến mức thấp nhất, tạo điều kiện cho chiến đấu, giữ gìn lực lượng, nhất là lực lượng phòng không duy trì sức mạnh và khả năng chiến đấu liên tục, lâu dài, đồng thời củng cố, nâng cao quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, ổn định cuộc sống sản xuất, học tập trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Trong cuộc tập kích 12 ngày đêm của không quân Mỹ, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, Chính phủ, Hội đồng Phòng không nhân dân các cấp, sự đôn đốc, hướng dẫn tích cực của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức quần chúng…, nên chúng ta đã đưa được hơn 80% số người cần sơ tán ra khỏi các khu vực nguy hiểm.

Cùng với đào hầm trú ẩn tại từng gia đình, cơ quan, xí nghiệp, quân và dân Hà Nội còn đào các hố trú ẩn trên các trục đường để tránh bom, đạn Mỹ. Ảnh tư liệu.

Trong đó, riêng Hà Nội đã huy động 182 xe ca, 54 xe tải, liên tục vận chuyển nhân dân ra khỏi thành phố, cùng với các phương tiện do nhân dân tự túc, đã đưa được 55 trong số 60 vạn dân về nơi sơ tán, trong đó có 10 vạn người được phân tán khẩn cấp chỉ trong 2 ngày; hàng trăm trường học cũng sơ tán học sinh. Thành phố Hải Phòng chỉ trong một đêm đã khẩn cấp di chyển được 20.000 người ra khỏi khu vực Hạ Lý, Thượng Lý trước khi địch đến đánh phá hủy diệt. Tại các thành phố: Thái Nguyên, Nam Định, Hải Dương… chúng ta đã sơ tán hơn 90% dân số; Thành phố Nam Định chỉ trong 2 giờ đã phân tán khẩn cấp hơn 5000 người ra khỏi khu vực mục tiêu địch đến đánh phá. Thực tế chưa có nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trường học nào bị địch phát hiện, đánh phá ở nơi sơ tán. Đó là một thành công, một bài học rất to lớn của công tác PKND.

Xây dựng hệ thống hầm hào phòng không

Thực tế chiến tranh, I-rắc đã phải gánh chịu thiệt hại lớn, khi tất cả các hầm, hào phòng không đều bị quân Mỹ phá hủy, kể cả hầm dành cho Tổng thống, do thuê người nước ngoài xây dựng. Đối với Việt Nam, chúng ta đã tổ chức và phát động toàn dân làm hầm hào, kết cấu đơn giản, giữ được bí mật, kẻ địch khó điều tra xác minh được hầm phòng không của ta ở đâu để đánh phá; riêng ở Hà Nội đã có hơn 630.000 hố cá nhân, 50.000 hầm tập thể nhỏ; TP Hải Phòng có 400.000 hố cá nhân…

Tại Hà Nội, theo chỉ đạo của Hội đồng PKND thành phố, bảo đảm cho mỗi người ở lại có trung bình 3 hầm trú ẩn phòng không (nơi ở, nơi công tác và trên đường phố). Ở ngoại thành, nhân dân làm hầm cá nhân chữ A, ở nội thành nhân dân làm hầm cá nhân bằng ống cống có nắp đậy. Tại các khu vực trọng điểm địch đánh phá ác liệt, việc chỉ đạo làm hầm hào rất chặt chẽ, thực hiện đội mũ rơm, áo giáp bằng rơm, đã hạn chế được thương vong cho nhân dân. Số liệu tổng kết cho thấy khi chưa có hầm, hố trú ẩn, trong một trận đánh phá của địch, bình quân có 4,2 người bị thương vong; khi có đủ hầm, hào phòng tránh, sau một trận đánh phá của địch, bình quân chỉ có từ 0,6 đến 0,9 người bị thương vong.

Quan sát, báo động phòng không rộng khắp

Từ thực tiễn tổ chức hệ thống quan sát, thông báo, báo động phòng không của Thủ đô, có thể rút ra một số kinh nghiệm: Chú trọng việc triển khai hệ thống vọng gác phòng không và tổ chức thông báo, báo động phòng không bằng mọi phương tiện. Thành phố đã tổ chức thiết lập hệ thống còi báo động phòng không, gồm: 3 còi lớn đặt trên nóc Nhà hát Lớn, Ga Hàng Cỏ, Hội trường Ba Đình, do Hội đồng PKND thành phố trực tiếp quản lý và phát lệnh báo động. Hệ thống còi tầm của các nhà máy cũng được huy động phối hợp hệ thống báo động phòng không. Ngoài ra, thành phố còn chủ động tổ chức hệ thống loa thông báo, báo động phòng không và giúp cho Hội đồng PKND thành phố chỉ đạo kịp thời các hoạt động phòng tránh. Sở Bưu điện thành phố đã lắp 900 chiếc loa lớn ở nơi công cộng và hơn 50 nghìn loa nhỏ trong các gia đình để thông báo tình hình địch và chỉ thị của Hội đồng PKND. Ở ngoại thành, các làng xã đều tổ chức vọng gác phòng không để quan sát theo dõi hoạt động đánh phá của địch, báo động trực tiếp cho nhân dân địa phương, phục vụ việc chuyển cấp báo động cho các đơn vị dân quân, tự vệ.

Cũng nhờ báo động, thông báo kịp thời, nên chúng ta đã chủ động triển khai nhanh chóng công tác khắc phục hậu quả xảy ra, các địa phương đều tổ chức lực lượng chuyên cứu hỏa, cứu sập hầm, cứu thương, cơ động ứng cứu, sửa chữa, khôi phục trận địa chiến đấu, cầu đường, bảo đảm giao thông vận chuyển…

Thiếu tướng NGÔ MẠNH HÀ Cục trưởng Cục Phòng không lục quân
qdnd.vn

Âm vang Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Màn sử thi nghệ thuật âm vang “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” gồm hai phần: “Linh thiêng – Hà Nội, mặt đất, bầu trời” và “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được dàn dựng công phu, do nhiều diễn viên, nghệ sĩ… trình diễn tại Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sáng 29-12, đã tái hiện hình ảnh, khí thế hào hùng của quân dân Thủ đô trong cuộc đối đầu lịch sử 12 ngày đêm cuối năm 1972. Kịch bản và tổng đạo diễn chương trình do Thiếu tướng, Nhà giáo ưu tú, Nhạc sĩ Nguyễn Đức Trịnh, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa -Nghệ thuật Quân đội thực hiện.

Với những ca khúc nổi tiếng, các màn múa hát đặc sắc về chiến thắng 12 ngày đêm…, màn sử thi nghệ thuật đã khắc họa hình ảnh anh dũng, kiên cường, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của quân dân Hà Nội, của bộ đội phòng không -không quân, cùng những đau thương mất mát của Thủ đô sau các đợt tập kích của không quân Mỹ 40 năm trước, gây ấn tượng và tình cảm sâu sắc đối với các đại biểu dự lễ kỷ niệm và đồng bào, chiến sĩ theo dõi trực tiếp lễ kỷ niệm qua các phương tiện thông tin đại chúng. Chương trình cũng nói lên sự khởi sắc, vươn lên đáng tự hào của thủ đô Hà Nội – “Thành phố vì hòa bình” hôm nay.

Màn múa hát tái hiện cuộc sống thanh bình của người dân Hà Nội.

Tái hiện hình ảnh mặt đất giáng trả cuộc tập kích.

Các nghệ sĩ biểu diễn bài hát “Phi đội ta xuất kích” của nhạc sĩ Tường Vy.

Khắc họa hình ảnh quân dân Hà Nội trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng và chiến thắng vẻ vang.

Màn đồng diễn do các nghệ sĩ, diễn viên Trường Đại học Văn hóa -Nghệ thuật Quân đội, Đoàn văn công Quân chủng PK -KQ, Đoàn Nghệ thuật BĐBP tham gia biểu diễn.

Tiết mục đặc sắc tái hiện niềm tự hào của quân dân Thủ đô và cả nước.

Nhiều cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu trong 12 ngày đêm lại Lễ kỷ niệm.

Tin, ảnh: VŨ QUANG THÁI
qdnd.vn

Cuộc chiến với “bóng ma đêm” AC-130 trên Trường Sơn

QĐND – Ở chiến trường Trường Sơn, từ cuối năm 1970, không quân Mỹ đã nâng cường độ đánh phá ác liệt bằng không quân lên mức độ cao nhất có thể. Để ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược cho các hướng chiến trường của Bộ tư lệnh Trường Sơn, đầu năm 1971, không quân Mỹ đã đưa loại máy bay AC-130 vào sử dụng. Loại máy bay này chỉ thực hiện oanh tạc vào ban đêm. Chúng không dám hoạt động ban ngày vì với độ kềnh càng của nó, lại bay với tốc độ chậm (tối đa 480km/giờ) nên nó dễ trở thành “mồi ngon” cho pháo cao xạ của ta. AC-130 được cải tiến từ loại máy bay vận tải hạng nặng C130 của không quân Mỹ. Nó dài 29,8m, sải cánh 40,4m, chiều cao 11,7m, trọng lượng 80 tấn, trọng tải 55 tấn, gắn 4 động cơ phản lực cánh quạt. AC-130 được lắp 2 súng máy 7,62mm, 2 súng 20mm. Một chiếc AC-130 có thể bay liên tục 4 giờ và có hệ thống tiếp dầu trên không. Nó mang trên mình hàng chục tấn đạn. Một chiếc AC-130 có thể khống chế các trọng điểm trải dài từ 200 đến 300km đường Trường Sơn trong nhiều giờ liền. Được trang bị các thiết bị ngắm bắn hiện đại nên khi phát hiện ô tô dưới mặt đất, từ độ cao 3000m, chiếc AC-130 có thể bắn một loạt đạn 20mm đỏ rực, cày giữa tim đường chạy dài cả trăm mét.

Với tính năng ưu việt đó, mỗi đêm không quân Mỹ chỉ sử dụng vài chiếc AC-130 là đã gây cho bộ đội ta rất nhiều khó khăn trên tuyến vận tải Trường Sơn.

Đầu năm 1971, lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn trên toàn tuyến được trang bị cao xạ 57mm. Để đối phó với bộ đội cao xạ Trường Sơn, ngay lập tức, chỉ mấy tháng sau AC-130 của không quân Mỹ đã được cải tiến lắp thêm pháo 40mm. Đồng thời, trên AC-130 được lắp máy ngắm bằng tia hồng ngoại. Có nghĩa là, ô tô của ta chạy đêm tối, từ độ cao trên 3000m, lũ AC-130 vẫn có thể nhận dạng được ô tô chuyển động nhờ bộ cảm nhiệt của tia hồng ngoại qua sức nóng của ống khói và máy ô tô. Dù là đêm tối, nhưng nhờ máy khuếch đại ánh sáng lên 4000 lần mà từ trên cao, chúng nhìn đường Trường Sơn rõ như dưới ánh trăng đêm rằm. AC-130 hoạt động thường được nhiều chiếc máy bay tiêm kích bay vòng ngoài bảo vệ. Lũ máy bay tiêm kích sẵn sàng lao vào oanh kích các trận địa pháo của ta khi các trận địa này nổ súng đánh trả AC-130.

Kíp trắc thủ Tiểu đoàn 67 (Trung đoàn 275) tham gia bắn rơi AC-130 ngày 29-3-1972. Ảnh tư liệu.

Mùa khô 1971-1972, AC-130 là nỗi ái ngại với bộ đội lái xe Trường Sơn. Có đêm, AC-130 đánh cháy hàng chục xe ô tô, nhiều chiến sĩ lái xe của ta bị thương vong. Chỉ tính riêng Sư đoàn 471 hoạt động ở Nam Lào, mùa khô năm 1972 đã bị máy bay Mỹ bắn cháy tới 223 xe ô tô vận tải chiến đấu (chiếm 28% tổng số xe của sư đoàn). Hai năm 1971 và 1972, Bộ đội Trường Sơn bị địch bắn hỏng 4000 xe (trong đó riêng AC-130 bắn hỏng 2000 chiếc).

Khi lực lượng phòng không Trường Sơn được trang bị pháo cao xạ 85mm, thì chỉ vài tháng sau, cuối năm 1972, AC-130 đã được cải tiến lắp thêm pháo 105mm để bắn phá các trận địa pháo của ta mà không cần gọi máy bay tiêm kích.

AC-130 là “ác quỷ”, là “bóng ma đêm” của không quân Mỹ trên đường Trường Sơn. Vì thế, trên toàn chiến trường Trường Sơn, phong trào tìm mọi cách tiêu diệt AC-130 đã được phát động. Lực lượng phòng không Trường Sơn dồn sức suy nghĩ, tìm các phương án tác chiến đánh AC-130 trong điều kiện đối mặt với máy bay tiêm kích bảo vệ chúng. Nhiều đơn vị phòng không ngoài việc tăng cường bảo vệ các trọng điểm, đã tổ chức thêm nhiều trận địa cơ động nhằm bảo vệ xe trên đường vận chuyển. Bắn rơi được một chiếc AC-130 không chỉ phá hủy một chiếc máy bay đắt tiền của không quân Mỹ, mà quan trọng hơn là tiêu diệt được một kíp lái 13 người. Đây sẽ là một tổn thất nặng nề về người của không quân Mỹ nếu một chiếc AC-130 bị bắn hạ.

Ngày 20-7-1971, Sư đoàn Phòng không 377 được Bộ Quốc phòng điều động trực thuộc Bộ tư lệnh Trường Sơn. Bộ cũng bổ sung cho Bộ tư lệnh Trường Sơn thêm 728 khẩu pháo phòng không các loại và 20.000 bộ đội và 15.000 thanh niên xung phong. Chưa bao giờ, lực lượng phòng không của Trường Sơn lại hùng hậu như thời kỳ này: Sư đoàn 377 (có 6 trung đoàn) và 12 Trung đoàn cao xạ và tên lửa độc lập. Đó là chưa kể 28 tiểu đoàn cao xạ của 25 Binh trạm Trường Sơn.

Từ tháng 10-1970, Bộ đã quyết định cho Bộ tư lệnh Trường Sơn lập thêm Cục Phòng không. Cũng thời gian này, Quân ủy Trung ương đã điều đồng chí Nguyễn Quang Bích, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân vào làm Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Trường Sơn phụ trách tác chiến phòng không. Ngày 1-10-1971, Bộ Chính trị điều Đại tá Đặng Tính từ Quân chủng Phòng không – Không quân vào làm Chính ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn. Điều đồng chí Phan Khắc Hy, Chính ủy Không quân vào làm Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Trường Sơn. Việc điều động 3 đồng chí lãnh đạo của Quân chủng Phòng không – Không quân vào Trường Sơn, chứng tỏ việc đối phó với không quân Mỹ trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn là rất quan trọng.

Ngày 19-11-1971, Đảng ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn tiến hành họp để bàn về việc tổ chức thế trận phòng không nhằm tiêu diệt không quân Mỹ, đặc biệt là máy bay AC-130. Nhiều biện pháp tác chiến đã được áp dụng trên toàn lực lượng của Bộ đội Trường Sơn: Xe ô tô chạy lấn sáng, lấn chiều, làm “giàn mướp” che kín toàn bộ phần đầu ô tô để chống AC-130 phát hiện bằng tia hồng ngoại, mở đường kín, ngụy trang đường nửa kín nửa hở, mở thêm nhiều hầm mang cá tránh bom đạn cho ô tô dọc các tuyến đường trọng điểm, xây dựng trận địa phòng không liên hoàn, xây dựng trận địa bí mật bất ngờ để đón lõng bắn hạ AC-130… Đấy là chưa kể, lực lượng công binh Trường Sơn phải đối phó với nhiều loại bom đạn mới của đế quốc Mỹ, trong đó có loại bom từ trường thế hệ 3 đặc biệt nguy hiểm mà không quân Mỹ thả xuống Trường Sơn từ đầu mùa khô năm 1971.

Tiên lượng khả năng không quân Mỹ sẽ mở đợt tập kích quy mô và ác liệt cao nhất bằng không quân vào Hà Nội và Hải Phòng có thể xảy ra. Quân ủy Trung ương đã điều đồng chí Nguyễn Quang Bích, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Trường Sơn trở lại Quân chủng Phòng không – Không quân. Đồng chí Nguyễn Quang Bích sau đó được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy lực lượng phòng không Hà Nội trong 12 ngày đêm đánh trả quyết liệt không quân Mỹ tháng 12 năm 1972.

Cùng thời gian này, trên đường 22 thuộc khu vực Bộ tư lệnh 471, đêm đêm máy bay AC-130 hoạt động liên tục. Ngầm 22 là một trọng điểm khống chế của AC-130. Sau khi nghiên cứu quy luật hoạt động của lũ AC-130, Trung đoàn Cao xạ 593 – đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh 471, phát hiện rằng: Đường 22 nằm trên địa hình khá bằng phẳng của Tây Trường Sơn. Vì cho rằng mấy chục cây số đường 22 ta không bố trí lực lượng phòng không, lực lượng phòng không của ta chỉ bố trí quanh trọng điểm ngầm 22. Vì thế, trước khi bay vào trọng điểm, máy bay AC-130 thường hạ độ cao, bay dọc đường 22 để quan sát. Ban Chỉ huy Trung đoàn 593 đã chọn một quả đồi cách trọng điểm ngầm 22 khoảng hơn 10km. Trung đoàn đã bí mật lập một trận địa cao xạ 37mm ở đây. Sẩm tối một ngày đầu tháng 12-1972, chiếc AC-130 như mọi ngày hạ thấp độ cao để quan sát dọc tuyến đường 22, trước khi nó nâng độ cao để bay vào trọng điểm. Chiếc AC-130 nhìn to “như chiếc thuyền” lao thẳng về hướng trận địa pháo bí mật. Vì thế ngay từ loạt đạn đầu tiên, chiếc AC-130 đã bị hạ gục.

Sau khi chiếc máy bay AC-130 của Mỹ bị bắn hạ trên địa bàn tác chiến của Sư đoàn 471, nửa tháng liền sau đó ban đêm không thấy bóng AC-130 hoạt động tại các trọng điểm do Sư đoàn phụ trách.

Trong năm 1972, riêng lực lượng phòng không bảo vệ các cửa khẩu của Bộ đội Trường Sơn đã bắn hạ 7 chiếc AC-130 của không quân Mỹ. Chiến công này của bộ đội phòng không Trường Sơn đã khiến “bóng ma đêm” AC-130 của không quân Mỹ hoạt động không còn hiệu quả như mong muốn của chúng.

Có thể nói, bước sang năm 1972, đế quốc Mỹ đã tăng cường lực lượng và tần suất đánh phá bằng không quân ác liệt chưa từng có trên mọi tuyến đường của Trường Sơn. Chỉ riêng tháng 3-1972, có ngày đế quốc Mỹ dùng tới 51 lượt máy bay B-52 rải thảm các trọng điểm, các căn cứ của Bộ đội Trường Sơn mọi tuyến đường Trường Sơn. Các trọng điểm cửa khẩu, các trọng điểm vượt sông suối trên nhiều tuyến đường của tất cả các binh trạm đều bị đánh phá liên tục suốt ngày đêm. Ngụy Lào và ngụy Thái Lan tăng cường nống ra hòng ngăn chặn hoạt động của đường Trường Sơn phía Tây. Sư đoàn 968 quân tình nguyện của Bộ đội Trường Sơn được sự phối thuộc của lực lượng cao xạ thuộc Sư đoàn 471 đã mở chiến dịch đánh tấn công địch, buộc chúng phải tháo chạy khỏi thị xã Saravan, giải phóng thêm một vùng rộng lớn phía Tây Trường Sơn.

Tháng 12-1972, do phải tập trung lực lượng không quân đánh phá Hà Nội, Hải Phòng, nên số vụ B-52 rải thảm Trường Sơn giảm đi rõ rệt. Tuy nhiên, không quân Mỹ vẫn duy trì lực lượng máy bay tiêm kích và máy bay trinh sát đánh phá các trọng điểm trên đường Trường Sơn không hề giảm. Chia lửa với Hà Nội, Hải Phòng và miền Bắc thân yêu, các lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn đã chiến đấu dũng cảm, có đêm bắn rơi tới 7 máy bay Mỹ. Hà Nội, Hải Phòng và Trường Sơn là hai chiến trường mà đế quốc Mỹ gần như dồn hết sức mạnh của không lực Hoa Kỳ hiện có của khu vực Thái Bình Dương cho các mục tiêu đánh phá. Nhưng cuối cùng, đế quốc Mỹ đã thất bại thảm hại qua trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội. Thất bại ấy buộc Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra ngày 30-12-1972 và ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973.

PHẠM THÀNH LONG – Ủy viên Thường vụ, Phó trưởng ban Tuyên truyền Thi đua Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh
qdnd.vn

Xây dựng niềm tin chiến thắng cho bộ đội

QĐND – Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến công chói lọi, một sự kiện trọng đại và là một kỳ tích vô song, bởi đây được coi là “cuộc đụng đầu lịch sử điển hình nhất”, có ý nghĩa và tác động sâu xa cả về chính trị, quân sự, không những trong quá khứ mà cả hiện tại và tương lai. Trong cuộc đọ sức quyết liệt đó, với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, quân và dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc đã đập tan ý đồ “thương lượng trên thế mạnh” của Ních-xơn và buộc chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, tạo thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam, thúc đẩy nhanh sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta sớm đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Đến đầu tháng 10 năm 1972, cục diện chiến tranh Việt Nam có những chuyển biến quan trọng. Ở miền Nam quân và dân ta liên tục giành được thắng lợi lớn. Mỹ vừa phải tiếp tục triệt thoái các đơn vị bộ binh, vừa phải “Mỹ hóa” trở lại bằng không quân và hải quân để thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, ngăn chặn cuộc chiến tranh của ta. Thời điểm này cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã đến gần, sức ép của chính giới Mỹ và cử tri có tác động mạnh mẽ đến đường lối của đương kim Tổng thống Ních-xơn. Nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới kịch liệt lên án và đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Phong trào phản đối chiến tranh ngày càng lên cao ở nước Mỹ, buộc Nhà Trắng phải tìm lối thoát cho vấn đề Việt Nam. Cuộc đàm phán ở Hội nghị 4 bên tại Pa-ri đã kéo dài 4 năm mà chưa đến hồi kết thúc. Trước sức ép đó, Ních-xơn đã cử Kít-xinh-giơ đến Pa-ri để nối lại cuộc thương lượng với Việt Nam; và kết quả là phía Mỹ chấp nhận hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” do ta dự thảo. Hai bên đã đưa ra lộ trình cụ thể về việc ký hiệp định và thực hiện những điều cam kết trong hiệp định.

Nhưng với thái độ tráo trở và lật lọng, sau khi tái cử nhiệm kỳ hai, Tổng thống Ních-xơn trắng trợn xóa bỏ bản dự thảo Hiệp định đã thỏa thuận với Việt Nam, đòi sửa đổi nhiều điều trong bản dự thảo Hiệp định mà trước đó phía Mỹ đã hoàn toàn nhất trí. Đồng thời Ních-xơn và Lầu Năm góc đã bí mật, khẩn trương chuẩn bị kế hoạch tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc. Cuộc tập kích này được nhà cầm quyền Mỹ gọi là chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II”.

Thực hiện âm mưu này, đế quốc Mỹ đã huy động số lượng lớn máy bay, tàu chiến và các loại vũ khí vào chiến dịch. Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, với lực lượng gồm 193 máy bay chiến lược B-52 (chiếm 50% lực lượng không quân chiến lược Mỹ), toàn bộ không quân chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á, bao gồm 5 biên đội tàu hải quân, gần 1000 máy bay các loại, 50 máy bay KC-135 tiếp dầu trên không và sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại khác.

Mặc dù vậy nhưng quân và dân ta không hề nao núng. Chúng ta đã tiến hành mọi công tác chuẩn bị, chủ động bước vào cuộc đụng đầu lịch sử. Với tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ, ngay từ giây phút đầu tiên của chiến dịch này, bộ đội Phòng không – Không quân đã kịp thời phát hiện mục tiêu B-52 và giáng trả địch những đòn đích đáng. Ngay từ đêm 18-12-1972, Bộ đội Ra-đa anh hùng đã phát hiện sớm những tốp B-52 đầu tiên khi chúng còn cách Hà Nội hàng trăm ki-lô-mét. 19 giờ 44 phút, Bộ đội Tên lửa đã phóng những quả đạn đầu tiên vào đội hình B-52 mở màn chiến dịch. Hơn 20 phút sau, chiếc B-52 đầu tiên đã bị trừng trị, bốc cháy dữ dội rồi rơi xuống chính mảnh đất Thủ đô kiên cường. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có của đế quốc Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử “Siêu pháo đài bay B-52” thất trận và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất… Trước sự thất bại liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc, 7 giờ sáng 30-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và buộc Chính phủ Mỹ ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Có nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh để làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, song yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đó chính là “sức mạnh tinh thần”. Vũ khí, trang bị quân sự, cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh, nhưng vượt trên tất cả là sức mạnh của lòng quả cảm, ý chí quyết chiến, quyết thắng. Chính niềm tin chiến thắng, khát vọng hòa bình đã tạo nên một trận địa vững chắc để quân đội ta chiến đấu và chiến thắng. Sức mạnh ấy được kết tinh trong mỗi người dân, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta và đã trở thành động lực thôi thúc họ đạp bằng mọi gian khổ, bất chấp mọi hiểm nguy, mưu trí, dũng cảm, kiên cường, sáng tạo lập kỳ tích vô song có một không hai trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của quân đội ta hết sức nặng nề. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) sẽ là chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao (chiến tranh công nghệ cao) là một kiểu chiến tranh dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ vào việc trang bị vũ khí, khí tài chiến đấu, cũng như vào việc chỉ huy điều hành chiến tranh. Vũ khí, kỹ thuật trong chiến tranh công nghệ cao có tính năng rất ưu việt: Có sức cơ động cao, tầm bắn xa, độ chính xác lớn, sức công phá mạnh và khả năng tự động hóa cao. Khối lượng vũ khí, khí tài được sử dụng trong chiến tranh rất lớn và có độ tập trung cao trong một thời gian tương đối ngắn (trong 78 ngày đêm tấn công vào Cô-xô-vô, Mỹ và NATO đã sử dụng trên 1.100 máy bay hiện đại ném gần 9000 tấn bom; 14.000 tên lửa, trong đó có trên 800 tên lửa hành trình Tô-ma-hốc…). Bản thân chiến tranh đã mang trong lòng nó sự tàn khốc, ác liệt và nguy hiểm. Trong chiến tranh công nghệ cao, với khối lượng rất lớn và chất lượng rất cao của vũ khí, khí tài càng làm cho sự tàn khốc ác liệt và nguy hiểm tăng lên gấp bội. Do vậy, khi chiến tranh xảy ra sẽ có tác động rất lớn tới tinh thần và tâm lý của bộ đội.

Để giành thắng lợi trong chống chiến tranh công nghệ cao, đòi hỏi chúng ta phải làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, trong đó việc xây dựng ý chí, niềm tin cho bộ đội vào chiến thắng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ý chí, niềm tin vào chiến thắng là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện bền bỉ lâu dài và sự trải nghiệm của bộ đội.

Ý chí, niềm tin là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm: Tri thức, tình cảm và sự trải nghiệm. Ba thành tố này hòa quyện với nhau tạo thành một “hợp kim” bền vững. Trong đó, thành tố làm cơ sở tiền đề cho việc hình thành niềm tin là tri thức. Do đó, quá trình xây dựng và củng cố ý chí, niềm tin vào chiến thắng cho bộ đội trước hết phải là quá trình trang bị nội dung hệ thống tri thức về chiến tranh công nghệ cao và đặc biệt là những tri thức về các yếu tố quyết định tạo nên chiến thắng của ta trong việc đánh trả chiến tranh công nghệ cao của địch. Khi những tri thức này đạt tới độ sâu, chính xác và mang tính thuyết phục cao, sẽ tạo nên thái độ, cảm xúc tích cực cho bộ đội và cùng với quá trình trải nghiệm trong hoạt động thực tiễn, niềm tin vào chiến thắng của bộ đội sẽ được hình thành và củng cố.

Đại tá, TS PHẠM DANH QUÝ, Văn phòng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Vận dụng phương châm “lấy ít địch nhiều” trong chiến dịch phòng không

QĐND – Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đều phải đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn hơn ta nhiều lần. Do đó, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh là nghệ thuật tác chiến đạt đến trình độ đỉnh cao của ông, cha ta. Chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972, Bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam đã nắm vững và vận dụng sáng tạo, tài tình nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều giành chiến thắng oanh liệt. Có thể coi chiến thắng của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” như một Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Chi Lăng và Đống Đa… là đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều quân sự Việt Nam.

Để tiến hành chiến dịch Linebacker II, Quân đội Mỹ đã huy động 193 máy bay chiến lược B-52, chiếm gần 50% tổng số “pháo đài bay” có trong biên chế và 1.077 máy bay chiến thuật, chiếm 31% số máy bay trong biên chế của quân đội Mỹ. Với số lượng máy bay khổng lồ được sử dụng để đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc nước ta bấy giờ cho thấy, mật độ dày đặc của số lượng phi cơ Mỹ được sử dụng và sức tàn phá ghê gớm của bom đạn mà chúng gây ra. Trong khi đó, xét về lực lượng phòng không, chúng ta chỉ có 4 trung đoàn tên lửa và 5 trung đoàn pháo cao xạ. Về không quân, chỉ có 9 phi công lái MIC-21 được đào tạo có đủ trình độ tác chiến ban đêm để đánh máy bay B-52 Mỹ. So sánh tương quan trong tác chiến, rõ ràng lực lượng không quân Mỹ có số lượng và trình độ kỹ thuật hiện đại vượt trội hơn ta nhiều lần. Tác chiến trong điều kiện như vậy, rõ ràng phòng không – không quân ta phải vận dụng một cách thông minh, sáng tạo nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều của ông, cha.

Kíp chiến đấu tên lửa nhận nhiệm vụ trước khi vào chiến đấu. Ảnh tư liệu.

Nguyên tắc cao nhất của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều là phải đánh vào chỗ hiểm và tiêu diệt được bộ phận quan trọng nhất của quân địch, theo kiểu đòn đau nhớ lâu. Vận dụng thông minh và sáng tạo nghệ thuật tác chiến này, bộ đội tên lửa đã tiết kiệm từng quả tên lửa tập trung đánh và tiêu diệt bằng được càng nhiều càng tốt “pháo đài bay” B-52. Khi số tên lửa trên bệ phóng còn rất hạn chế, các đồng chí chỉ huy và trắc thủ các tiểu đoàn tên lửa thuộc Sư đoàn Phòng không 361 đã kịp thời đúc rút kinh nghiệm thực tiễn vượt trên lý thuyết bắn thông thường, sử dụng chỉ một đến hai quả đạn cho một lần phóng để bắn tan xác B-52 trên bầu trời Hà Nội. Không quân nhân dân Việt Nam cũng đã sáng tạo ra cách đánh hiểm, vượt qua sự bảo vệ dày đặc của các loại phi cơ hiện đại của quân đội Mỹ, đánh từ vòng ngoài vào trong vít cổ B-52 bằng cú đánh áp sát táo bạo chắc thắng.

Đòn đánh hiểm nhằm vào “pháo đài bay” B-52, con át chủ bài của không lực Hoa Kỳ đã làm nên chiến thắng oanh liệt của quân và dân Thủ đô. Toàn bộ chiến dịch, ta bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 “pháo đài bay” B-52, 16 chiếc rơi tại chỗ. Như vậy, hiệu suất chiến đấu của lực lượng phòng không – không quân rất cao, với hơn 12% số máy bay B-52 địch sử dụng bị bắn rơi, chưa kể số bị thương. So sánh với số máy bay bị các nước bắn hạ trong các cuộc chiến tranh gần đây do Mỹ và đồng minh tiến hành, những con số nêu trên thật có ý nghĩa. Điều đáng nói ở đây là, cùng với 34 “pháo đài bay B-52” bị bắn rơi, mỗi kíp bay có 6 phi công và kỹ thuật viên, đây là những phi công, kỹ thuật viên ưu tú nhất của không lực Hoa Kỳ bị bắt hoặc bị chết. Từ sự ngạo mạn coi chiến dịch Linebacker II chỉ là một cuộc dạo chơi trên bầu trời Hà Nội, khi bị bắn rơi và được đưa vào khách sạn “Hilton Hà Nội”, các phi công Mỹ hết sức bàng hoàng. Tại các sân bay, những phi công thoát chết trở về cũng có tâm trạng hết sức hoang mang và lo sợ. Chính điều đó đã làm cho giới cầm quyền Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và ngay lập tức quay lại Pa-ri ngồi vào bàn đàm phán và ký hiệp định chấm dứt cuộc chiến tranh hao người tốn của theo những điều khoản của ta đưa ra. Điều đó cho thấy, sự hết sức lợi hại của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều của ông, cha ta đã được kế tục một cách xuất sắc bởi những người lính trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trong tương lai nếu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xảy ra, điều chắc chắn chúng ta lại phải đối phó với những kẻ địch có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn hơn nhiều lần. Dân tộc ta là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu lại phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, thì nghệ thuật tác chiến của ông, cha sẽ mãi mãi là những bài học vô cùng quý giá được nắm vững và vận dụng sáng tạo để đánh bại bất cứ kẻ thù nào có âm mưu xâm lược nước ta. Dù chúng từ đâu đến và có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn hiện đại đến đâu cũng sẽ được nếm những đòn đau, bởi lối đánh hiểm của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh đã được tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.

Đại tá, PGS, TS HOÀNG MINH THẢO
qdnd.vn

Vừa đánh địch vừa rút kinh nghiệm

QĐND – Kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 78 đêm đầu tiên bắn không trúng máy bay B-52, nhưng “người trong cuộc” đã nhận ra đặc điểm của nhiễu B-52 khác hẳn các máy bay khác, nhất là những máy bay chiến thuật giả tín hiệu B-52. Về cách đánh, bộ đội Tên lửa cũng nhận ra một điều, đánh máy bay B-52 trong nhiễu, khi không nhìn thấy “nó” thì phải chọn phương pháp điều khiển phù hợp.

Đêm 20-12-1972, sau hai ngày “bắn trượt”, nhờ rút kinh nghiệm kịp thời, Tiểu đoàn 78 đã bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên cho đơn vị. Các trắc thủ sau khi “cọ sát” với nhiễu B-52 đã nhận biết được “địch” bằng quan sát trực tiếp, bằng phân tích, loại suy và bằng các thao tác cụ thể, chọn phương pháp bắn tối ưu.

Trong lý thuyết chiến đấu của hầu hết các khí tài phòng không điện tử, thì hiệu quả trúng mục tiêu cao hay thấp, ngoài việc phụ thuộc vào tham số kỹ thuật của khí tài, vào phương pháp xạ kích, còn có một yếu tố rất quan trọng nữa là trình độ thành thục trong thao tác của nhân viên. Điều này hội tụ đủ trong các kíp chiến đấu của lực lượng tên lửa phòng không của ta. Chọn được đội hình kíp chiến đấu giỏi, ăn ý, dũng cảm, sáng tạo trong trực chiến đánh máy bay B-52 tại mỗi tiểu đoàn hỏa lực tên lửa tháng 12-1972 cũng là một yếu tố mang tính thực tiễn sống động.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

Những con số góp phần làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Cách đây 40 năm, quân và dân Việt Nam đã lập lên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Một trong những nhân tố góp phần đem lại chiến thắng vang dội này là sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của bạn bè quốc tế, đặc biệt là về vũ khí, khí tài của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) anh em.

Tên lửa Sam-2 được sử dụng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu

Trước tiên phải kể tới các loại pháo phòng không cỡ lớn, máy bay tiêm kích và tên lửa có thể chế ngự và tiêu diệt được máy bay B-52 – con chủ bài trong cuộc tập kích đường không của Mỹ tấn công ra miền Bắc. Theo thống kê của các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ đặt hàng, tiếp nhận, từ năm 1965 đến 1972, các nước XHCN đã giúp Việt Nam khoảng hơn 7000 quả đạn tên lửa SA-75, gần 5000 khẩu pháo cao xạ các loại, gần 5 triệu viên đạn pháo cao xạ các cỡ, hơn 400 trăm máy bay chiến đấu MIG-17, 19, 21, K6, K5, cùng hàng trăm ra-đa tiên tiến hiện đại.

Việt Nam đã đưa ngay các vũ khí, khí tài này vào khai thác và sử dụng, trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra đối với miền Bắc, đồng thời bổ sung tiêu hao, biên chế cho các đơn vị mới được thành lập và chuyển phần lớn thành nguồn dự trữ chiến lược. Điều quan trọng là Việt Nam đã tính toán kỹ lưỡng để sử dụng hiệu quả và hợp lý các vũ khí này để vừa phục vụ chiến đấu, vừa có nguồn dự trữ chiến lược. Chẳng hạn, chính phủ Liên Xô trước đây chỉ cung cấp tên lửa SA-75 – loại hỏa lực chính tiêu diệt B-52, chủ yếu tập trung từ năm 1965 đến hết 1969. Nhưng ta đã có chiến lược sử dụng hợp lý nên vẫn có đủ nguồn đạn tên lửa cũng như các loại vũ khí hiện đại khác phục vụ cho các chiến dịch hoạt động quân sự lớn về sau. Chẳng hạn, trong Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Việt Nam đã đưa 800 quả đạn tên lửa cùng khí tài vào bảo đảm chiến đấu. Ngoài ra, Việt Nam còn sử dụng gần 1000 quả tên lửa SA-75 cho chiến dịch phòng không cuối tháng 12-1972.

Nhờ số trang bị, khí tài và vũ khí của các nước bạn bè viện trợ, lực lượng Phòng không-Không quân miền Bắc được trang bị tương đối mạnh và tổ chức thành một mạng phòng không có tầm thấp, tầm trung bình và tầm cao. Tính đến trước ngày 18-12-1972, ngày Mỹ mở đầu cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 ra Hà Nội và Hải Phòng, chỉ riêng ở Hà Nội, quân và dân miền Bắc đã xây dựng được 30 trận địa cho tên lửa, hơn 100 trận địa cho cao xạ các loại… Trên chiến trường miền Bắc, từ Nghệ An trở ra, Việt Nam đã tập trung một lực lượng phòng không chủ lực mạnh nhất từ trước cho đến lúc bấy giờ cho cuộc quyết chiến trên không cuối tháng 12-1972 với Mỹ. Nhờ đó, quân và dân miền Bắc đã chủ động giáng trả kịp thời và hiệu quả máy bay, tàu chiến Mỹ ngay từ ngày đầu, trận đầu. Kết quả cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972 là 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 F-111, 44 phi công đã bị lực lượng phòng không Việt Nam bắn hạ và bắt sống. Thắng lợi trong trận “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử này đã góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút quân và không can thiệp vào nội bộ Việt Nam.

Ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ cuối năm 1972, buộc địch phải khuất phục nhờ bắn hạ con chủ bài B-52 nhiều tới mức không thể chịu đựng. Bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam là lực lượng bắn rơi nhiều máy bay B-52 nhất (29/34 chiếc), góp phần quyết định vào thắng lợi của chiến dịch phòng không bảo vệ Hà Nội. Việt Nam đã quyết tâm sử dụng lực lượng tên lửa để tiêu diệt lực lượng tập kích chủ chốt B-52, chỉ giành tên lửa để đánh B-52 ban đêm còn lực lượng không quân và cao xạ tập trung đánh không quân chiến thuật vào ban ngày.

Việc Việt Nam sớm xây dựng được một hệ thống phòng không mạnh mẽ khiến chính Mỹ phải kinh ngạc và thừa nhận: “Lúc Mỹ khởi đầu chiến dịch ném bom miền Bắc năm 1965, miền Bắc Việt Nam không có máy bay phản lực, có rất ít sân bay, không có tên lửa, chỉ có một số ít súng phòng không lỗi thời. Nhưng năm 1967, các phi công Mỹ đã phải bay qua lưới phòng không kinh khủng hơn, nhiều hơn lưới lửa gặp phải ở Đức năm 1944… Tổn thất của Mỹ về máy bay và phi công đã gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ phát triển hệ thống phòng không của Hà Nội”. Chính giới quân sự Mỹ cũng phải công nhận: “Bắc Việt Nam có một trong các hệ thống phòng không hiệu quả nhất trong lịch sử”. Và để có được hệ thống phòng không này, theo tướng 4 sao của Mỹ là Brúc Pan-mơ (Bruce Palmer) khẳng định: “Với sự giúp đỡ to lớn, chủ yếu là của Liên Xô, cuối cùng Hà Hội đã phát triển các hệ thống phòng không ghê gớm nhất mà các lực lượng chúng ta chưa bao giờ vấp phải”. Ông này cũng thừa nhận: “Tất nhiên người của họ được huấn luyện rất cẩn thận và được các chuyên gia Nga hướng dẫn tỉ mỉ để sử dụng những loại vũ khí phòng không tinh vi”.

Trên thực tế, bên cạnh giúp Việt Nam trang bị, vũ khí, các nước XHCN anh em cũng cử một đội ngũ chuyên gia quân sự giàu kinh nghiệm sang hướng dẫn quân và dân Việt Nam cách sử dụng những loại vũ khí này. Theo thống kê của các cơ quan chức năng Việt Nam, từ năm 1965 đến 1970, Liên Xô đã cử sang Việt Nam tổng số 3.935 chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra còn có một số chuyên gia quân sự của Triều Tiên, bộ đội phòng không của Trung Quốc sang giúp Việt Nam.

Trung tá NGUYỄN VĂN QUYỀN

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
qdnd.vn

Đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một biểu tư­­ợng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, của sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đó là trận quyết chiến chiến lược trong một chiến dịch lớn, có ý nghĩa quan trọng cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nư­­ớc của nhân dân ta đi đến thắng lợi “đánh cho Mỹ cút” tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Sau 12 ngày đêm chiến đấu oanh liệt bằng tất cả lòng yêu nước, căm thù giặc, sự dũng cảm; với trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, quân dân thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và toàn miền Bắc mà nòng cốt là bộ đội phòng không – không quân (PK-KQ), đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 F-111 diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Để làm nên chiến thắng vĩ đại đó có nhiều yếu tố, nhưng trong phạm vi bài viết này, tôi xin được đề cập đến nội dung: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12-1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân (KQND) Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trước hết, một trong những bất ngờ lớn nhất của Mỹ trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta là lực lượng không quân trẻ tuổi của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, có cách đánh độc đáo, táo bạo, thiện chiến, hiệu quả và trở thành lực lượng đột kích mạnh trên không, gây cho không quân Mỹ nỗi ám ảnh, kinh hoàng mỗi khi bay vào vùng trời miền Bắc Việt Nam.

Ngay sau khi mở mặt trận trên không thắng lợi vào mùa xuân năm 1965, không quân ta tiếp tục lập nên nhiều chiến công hiển hách. Trong suốt 2 cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của địch, không quân ta đã cất cánh chiến đấu, bắn rơi hàng trăm máy bay gồm hàng chục kiểu loại của địch, thế hệ phi công nào của ta cũng đánh thắng, loại máy bay nào cũng lập công. Sự xuất hiện của KQND Việt Nam trên bầu trời đã làm cho kẻ thù run sợ.

“Én bạc” MiG-21 – máy bay tiêm kích chủ lực bảo vệ vùng trời miền Bắc Việt Nam trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Ảnh tư liệu

Để có được chiến công đó, vấn đề đầu tiên có tính quyết định đó là do chúng ta có sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc nhận định đánh giá về địch của Bác Hồ và sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Quân chủng PK-KQ chủ động làm công tác chuẩn bị và nghiên cứu tìm cách đánh B-52.

Đầu năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân phải nghiên cứu cách đánh B-52. Theo đó, Binh chủng đã tổ chức một bộ phận cán bộ tham mưu và phi công vào Quảng Bình, Vĩnh Linh, lên đỉnh đèo Mụ Giạ, trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của B-52 cả ngày lẫn đêm.

Tháng 9-1971, Binh chủng đã đưa ra-đa dẫn đường vào Ba Đồn, Quảng Bình và Vĩnh Linh, liên tục cho ra-đa mở máy tìm bắt mục tiêu, lần đầu bị nhiễu nặng, không phát hiện được. Sau nhiều lần rút kinh nghiệm đã phát hiện được mục tiêu trong nhiễu, tổng hợp được quy luật hoạt động của B-52, xây dựng phương án tác chiến, nghiên cứu cách đánh và huấn luyện cho một số phi công MiG chuyên đánh B-52. Cuối tháng 9-1971, Binh chủng Không quân đã tổ chức bộ phận chỉ huy tiền phương bên cạnh sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng PK-KQ ở phía Nam để theo dõi và nghiên cứu, tổ chức trận đánh B-52.

Đồng thời, ngay từ khi địch mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc và không quân ta mở mặt trận trên không đánh địch, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức lực lượng củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống sân bay trên miền Bắc. Một số sân bay được xây dựng thành căn cứ tập kết và xuất phát chính của các loại máy bay hoạt động trên chiến trường phía Nam. Những sân bay bị địch phá hủy nặng ngay từ đầu chiến tranh có kế hoạch tu sửa riêng. Sau mỗi lần đánh phá của địch, các đơn vị công binh và nhân dân địa phương kịp thời huy động lực lượng sửa chữa gấp, bảo đảm cho máy bay có thể cất cánh và hạ cánh được. Một số sân bay dã chiến cũng được xây dựng, kịp thời phục vụ cho máy bay chiến đấu, máy bay vận tải cất cánh, hạ cánh. Ngoài ra, một số sân bay ở hướng Tây Bắc và trên đất bạn Lào được củng cố làm căn cứ dự bị cho không quân ta khi làm nhiệm vụ.

Yếu tố thứ hai là, Binh chủng đã tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho mọi đối tượng mà tập trung nhất là đội ngũ phi công. Đây là yếu tố then chốt giành thắng lợi. Trận chiến trong điều kiện ở trên không không có chiến hào, công sự trận địa. Hơn nữa, cuộc chiến đấu của không quân ta với không quân Mỹ phải nói là không cân xứng về lực lượng, chúng ta chỉ thắng được khi có cách đánh độc đáo, sáng tạo cộng với ý chí quyết tâm, bản lĩnh vững vàng của bộ đội. Mỗi trận đánh dù ngày hay đêm là một thử thách toàn diện đối với người chỉ huy, sĩ quan dẫn đường, đặc biệt là phi công – người trực tiếp đối mặt với kẻ thù; chần chừ một chút là mất thời cơ và có thể thất bại.

Trong 12 ngày đêm đánh B-52, ngoài những khó khăn bị tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp thì những điều kiện phức tạp trong quá trình cất, hạ cánh cũng gây cho phi công không ít căng thẳng về tâm lý, đó là: Trực chiến dưới tầm bom đạn của các loại máy bay cường kích kể cả B-52. Cất, hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy hoặc chỉ huy hạn chế.

Ở đây, có một vấn đề hết sức quan trọng đó là: Trong phương châm tác chiến của không quân có nêu “đánh chắc thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn, bồi dưỡng lực lượng ta”. Nhưng riêng với đánh B-52 khi chúng ném bom miền Bắc, nhất là Hà Nội, với sự nguy hiểm của chúng, đặc biệt với ý nghĩa chính trị quan trọng là bảo vệ Thủ đô, nên bằng mọi cách không quân phải cất cánh. Trong bất cứ điều kiện khí tượng nào, hoàn cảnh khó khăn nào, không quân cũng phải có mặt để cùng với các lực lượng phòng không, ít nhất ngăn cản được các cuộc tiến công của địch.

Trong điều kiện địch tìm mọi cách để tiêu diệt không quân, chúng ta đã nêu cao ý chí quyết tâm, vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để tồn tại và phát triển, từng bước đánh bại kẻ thù. Đường băng bị đánh hỏng thì “ta sửa, ta bay” hoặc cất cánh từ đường lăn; sân bay chính bị đánh bom, bị khống chế thì xuất kích từ sân bay dự bị, sân bay dã chiến; cơ động ban ngày bị địch phát hiện thì tổ chức chuyển trường vào ban đêm, dùng trực thăng cẩu máy bay tiêm kích đi sơ tán hay đến sân bay bí mật…

Thực tế, trước khi diễn ra trận đánh của đồng chí Phạm Tuân ngày 27-12, chiến dịch đã diễn ra 10 ngày, lực lượng phòng không, đặc biệt là bộ đội tên lửa đã bắn rơi nhiều B-52 và các loại máy bay khác. Không quân đã xuất kích nhiều lần, bắn rơi một số máy bay chiến thuật. Sự xuất hiện của không quân đã làm giãn đội hình, giảm cường độ nhiễu và phân tán sự đối phó của địch, tạo điều kiện tốt cho lực lượng phòng không lập công. Tuy nhiên, không quân vẫn chưa bắn rơi được B-52. Những luồng tư tưởng khác nhau đã xuất hiện kể cả trong cơ quan và bộ phận phục vụ, đặc biệt là trong đội ngũ phi công. Số ít thì lo lắng khả năng bắn rơi B-52 của không quân ta, số khác thì nôn nóng dễ dẫn đến mất bình tĩnh và mạo hiểm, phần lớn phi công thấy trách nhiệm nặng nề đè lên đôi vai và cảm thấy mình có lỗi, chưa làm tròn sứ mệnh lớn lao đối với cấp trên, với Quân chủng và với đồng chí, đồng đội. Cái bao trùm lên tất cả là không quân phải bắn rơi B-52.

Thực tế đó khẳng định, nhiệm vụ đánh B-52 đã được quán triệt kỹ hơn, sâu sắc hơn đến mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ phi công. Nó trở thành khẩu hiệu hành động, trở thành quyết tâm sắt đá của không quân. Máy bay B-52 đã đánh ra miền Bắc, chưa bắn rơi B-52 coi như không quân còn món nợ. Trong những phút giây gian khổ và ác liệt nhất, tất cả mọi cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là đội ngũ phi công luôn giữ vững ý chí chiến đấu, khát khao thực hiện nhiệm vụ, còn một người, một máy bay cũng kiên quyết tiến công. Yếu tố tinh thần, tâm lý, bản lĩnh, ý chí của phi công cùng với nghệ thuật chỉ huy tài tình đã tạo nên sức mạnh to lớn để không quân vượt lên, giành chiến thắng.

Ba là, không quân ta tập trung xây dựng lực lượng, huấn luyện giỏi về kỹ thuật, nhuần nhuyễn về chiến thuật, cách đánh. Về xây dựng lực lượng: Với đặc thù của KQND Việt Nam, số phi công chiến đấu ở mỗi trung đoàn không nhiều nhưng được chia thành 2 bộ phận: Bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban ngày (chiếm đa số), còn lại là huấn luyện và làm nhiệm vụ chiến đấu ban đêm. Năm 1972, lực lượng phi công chiến đấu ban ngày đã lập công xuất sắc, nhiều đồng chí bắn rơi 5-6 máy bay địch, hầu như đồng chí nào tham gia chiến đấu cũng lập công.

Tuy nhiên, trong chiến đấu do bị tổn thất nên có thời điểm lực lượng phi công còn rất mỏng. Số phi công đánh đêm đã tham gia trực ban chiến đấu, xuất kích ban đêm nhiều lần nhưng chưa ai bắn rơi được máy bay địch. Một vấn đề đặt ra là số anh em bay đêm mong mỏi được chiến đấu cùng đội ngũ đánh ngày, đây vừa là mong muốn được thử thách, lập công, vừa khắc phục tình trạng thiếu hụt phi công đánh ngày. Nhưng cấp trên đã nắm chắc ý đồ của địch, quyết tâm giữ gìn lực lượng, vì vậy cho đến trước khi chiến dịch 12 ngày đêm diễn ra, số phi công đánh đêm vẫn được giữ nguyên. Nhờ có sự chuẩn bị ấy mà trong 12 ngày đêm, không quân ta liên tục có lực lượng cất cánh. Đây cũng là yếu tố bất ngờ đối với kẻ thù.

Về công tác huấn luyện: Phi công chiến đấu đêm phải được huấn luyện kỹ hơn về kỹ thuật lái, nhất là cất, hạ cánh ở đường băng ngắn, hẹp, vào ban đêm, khí tượng phức tạp. Từ thực tế huấn luyện và chiến đấu thấy rằng: Nếu như có điều kiện và đủ lực lượng, những phi công đánh đêm được lựa chọn đào tạo từ những phi công chiến đấu ban ngày thì có thể kết quả chiến đấu còn cao hơn. Đây cũng là kinh nghiệm quý báu về huấn luyện phi công trong hoàn cảnh ta chưa có điều kiện bay nhiều để đồng hóa giữa phi công đánh ngày và đánh đêm. Một vấn đề hết sức quan trọng trong huấn luyện phi công, đó là phải mạnh dạn rèn luyện phi công trong thực tế chiến đấu. Sau mỗi lần gặp địch, tuy không bắn rơi nhưng phi công trưởng thành lên rất nhiều, từ ý chí quyết tâm đến tư duy chiến thuật tự tin và vững vàng hơn.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, B-52 đánh đêm là chủ yếu, ta sử dụng sân bay dã chiến, ánh sáng hạn chế để xuất kích và hạ cánh sau chiến đấu, do đó thường sử dụng lực lượng nhỏ 1-2 chiếc, mặt khác để nhanh chóng tiếp cận, công kích nhanh, thoát ly nhanh, đánh được địch, bảo vệ ta. Chỉ sử dụng 2 chiếc khi cần tăng cường nghi binh để kéo tiêm kích địch ra hướng khác, còn hướng đánh B-52 phải giữ bí mật bất ngờ, tránh tiêm kích, tiếp cận trực tiếp mục tiêu chủ yếu. Đây là kinh nghiệm quý được đúc kết qua thực tế chiến đấu.

Vì vậy, đòi hỏi người lái phải điêu luyện đánh đêm, cất, hạ cánh tại sân bay dã chiến đường băng nền đất, ban đêm ánh sáng hạn chế; trong điều kiện địch gây nhiễu nặng, ra-đa dẫn đường phát hiện mục tiêu không liên tục, chỉ căn cứ vào thông báo của mạng B1 để dẫn máy bay vào khu vực chiến đấu, phi công phát hiện mục tiêu bằng mắt, ước lượng cự ly, hướng bay, phân loại được máy bay địch qua ánh sáng của đèn, tăng lực tiếp cận, công kích đúng thời cơ. Phi công phải xác định cự ly xạ kích đối với tên lửa hồng ngoại hợp lý, nếu xa thì hiệu quả thấp, nếu quá gần thì sau khi công kích sẽ bị ảnh hưởng của luồng khí lưu phía sau B-52, máy bay ta dễ bị rơi hoặc lao thẳng vào B-52, không thoát ly kịp.

Về công tác chỉ huy, dẫn đường: Quá trình chuẩn bị cho cả chiến dịch nói chung và từng trận đánh của không quân ta nói riêng hết sức gian khổ, công phu và tỉ mỉ, từ công tác nghiên cứu đặt sở chỉ huy, theo dõi quy luật hoạt động của địch, chuẩn bị mọi phương án, nghiên cứu cách đánh. Trong 12 ngày đêm năm 1972, ta có phương án cất cánh đánh B-52 từ các sân bay vòng ngoài, sân bay dã chiến. Cả hai trận bắn rơi B-52 của không quân đều cất cánh từ sân bay vòng ngoài.

Ra-đa dẫn đường là mắt thần của không quân. Tuy nhiên, trong thực tế 12 ngày đêm năm 1972, dẫn đường gặp nhiều khó khăn do ra-đa bị nhiễu nặng, chúng ta đã phải tận dụng tất cả các yếu tố, các nguồn tình báo, các trạm ra-đa dẫn đường khác (mạng B1, ra-đa của tên lửa, cao xạ, các trạm quan sát mắt) phối hợp với nhau để có những tham số dẫn đường, người chỉ huy nghiên cứu bố trí các trạm ra-đa dẫn đường trên một đường bay cùng phối hợp dẫn đường, các trạm ra-đa hai bên sườn của đường bay rất linh hoạt, như các trạm ở Thọ Xuân, Mộc Châu, Yên Bái… vì chúng ta đã đúc kết được kinh nghiệm: Máy gây nhiễu của B-52 chỉ có tác dụng tốt về phía trước theo hướng bay, hai bên sườn và phía sau cường độ yếu hơn. Thực tế đúng như vậy, các trạm ra-đa này đã phát hiện tốt và dẫn khá chuẩn xác máy bay ta.

Bốn là, nghiên cứu tìm cách đánh và rút kinh nghiệm để thay đổi cách đánh kịp thời khi địch thay đổi thủ đoạn là một yêu cấp cấp thiết thường xuyên sau mỗi trận đánh.

Khi đánh vào Hà Nội, địch cảnh giác và chuẩn bị kỹ cả trên 3 mặt: Gây nhiễu, hộ tống nhiều tầng, nhiều lớp tạo nên lá chắn cho B-52 và đánh đồng loạt các sân bay của ta. Ngay từ trận đầu đêm 18-12 và tiếp tục một số trận sau, phi công ta đều phát hiện đèn của F-4 và đèn của B-52 nhưng chúng ta không tiếp cận được hoặc khi tiếp cận mở ra-đa vừa bị nhiễu, vừa lộ lực lượng, địch cơ động, ta mất mục tiêu. Nếu tổ chức chỉ huy và phi công rút kinh nghiệm thay đổi cách dẫn dắt và phương pháp tiếp cận bằng đèn sớm hơn thì có thể thời cơ đánh B-52 của ta còn nhiều hơn. Rõ ràng đây là bài học sâu sắc, nhất là khi lực lượng của ta mỏng đối chọi với một lực lượng mạnh, ta càng phải biến hóa, càng phải chủ động, sáng tạo trong cách đánh mới giành được thắng lợi.

Trước một lực lượng không quân nhà nghề của Mỹ, với VKTBKT hiện đại, chúng ta đã tìm ra cách đánh sáng tạo, phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, xử lý linh hoạt các tình huống trên không và mặt đất, đồng thời luôn luôn hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng trong từng khâu, từng bước. Vì vậy, không quân ta càng đánh, càng thắng, càng đánh càng trưởng thành, phát triển, những chiếc MiG vẫn tung hoành trên bầu trời và giáng cho địch những đòn đích đáng.

Khu vực địch tập trung săn lùng MiG của ta nhiều nhất là là vùng trời Việt Trì – Tam Đảo, nơi đây đã trở thành nơi vùi thây những “thần sấm”, “con ma” và trở thành khu vực khiếp đảm của giặc lái Mỹ. Chúng đã gọi đây là “Thung lũng MiG”. Có trận, địch âm mưu chọn vùng trời này để phục kích, sẵn sàng chặn đánh MiG của ta ngay sau khi cất cánh bay lên, nhưng chúng không ngờ một biên đội MiG đã phục kích trước ở khu chờ. Địch vừa đến nơi đã bị MiG chủ động công kích và 2 chiếc “thần sấm” đã phải đền tội, bọn còn lại quăng bom bừa bãi để chạy tháo thân… Nhiều trận MiG của ta đã giấu mình trong mây, thậm chí ngay trong vệt đường bay của máy bay địch để chờ thời cơ tiêu diệt chúng…

Không quân địch thường xuyên thay đổi thủ đoạn, càng ngày càng tinh vi, khó đối phó nhưng chúng ta đã có nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo như: Đánh quần, đánh gần, kéo địch đến khu vực có lợi để đánh, chủ động đánh chặn từ xa, sử dụng tất cả các số trong đội hình đều có thể tham gia công kích khi xuất hiện thời cơ, tổ chức đội hình chiến đấu phù hợp, sử dụng ra-đa, thiết bị vô tuyến linh hoạt; kết hợp chặt chẽ trên không và mặt đất… Khi tiếp cận B-52 ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển các hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh” rất hiệu quả và đã thành công trong 2 trận bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B-52 trong hai đêm 27 và 28-2-1972 của đồng chí Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều.

Thực tế trên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12 năm 1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của KQND Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trung tướng PHƯƠNG MINH HÒA, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ
qdnd.vn