Đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một biểu tư­­ợng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, của sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đó là trận quyết chiến chiến lược trong một chiến dịch lớn, có ý nghĩa quan trọng cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nư­­ớc của nhân dân ta đi đến thắng lợi “đánh cho Mỹ cút” tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Sau 12 ngày đêm chiến đấu oanh liệt bằng tất cả lòng yêu nước, căm thù giặc, sự dũng cảm; với trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, quân dân thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và toàn miền Bắc mà nòng cốt là bộ đội phòng không – không quân (PK-KQ), đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 F-111 diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Để làm nên chiến thắng vĩ đại đó có nhiều yếu tố, nhưng trong phạm vi bài viết này, tôi xin được đề cập đến nội dung: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12-1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân (KQND) Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trước hết, một trong những bất ngờ lớn nhất của Mỹ trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta là lực lượng không quân trẻ tuổi của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, có cách đánh độc đáo, táo bạo, thiện chiến, hiệu quả và trở thành lực lượng đột kích mạnh trên không, gây cho không quân Mỹ nỗi ám ảnh, kinh hoàng mỗi khi bay vào vùng trời miền Bắc Việt Nam.

Ngay sau khi mở mặt trận trên không thắng lợi vào mùa xuân năm 1965, không quân ta tiếp tục lập nên nhiều chiến công hiển hách. Trong suốt 2 cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của địch, không quân ta đã cất cánh chiến đấu, bắn rơi hàng trăm máy bay gồm hàng chục kiểu loại của địch, thế hệ phi công nào của ta cũng đánh thắng, loại máy bay nào cũng lập công. Sự xuất hiện của KQND Việt Nam trên bầu trời đã làm cho kẻ thù run sợ.

“Én bạc” MiG-21 – máy bay tiêm kích chủ lực bảo vệ vùng trời miền Bắc Việt Nam trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Ảnh tư liệu

Để có được chiến công đó, vấn đề đầu tiên có tính quyết định đó là do chúng ta có sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc nhận định đánh giá về địch của Bác Hồ và sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Quân chủng PK-KQ chủ động làm công tác chuẩn bị và nghiên cứu tìm cách đánh B-52.

Đầu năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân phải nghiên cứu cách đánh B-52. Theo đó, Binh chủng đã tổ chức một bộ phận cán bộ tham mưu và phi công vào Quảng Bình, Vĩnh Linh, lên đỉnh đèo Mụ Giạ, trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của B-52 cả ngày lẫn đêm.

Tháng 9-1971, Binh chủng đã đưa ra-đa dẫn đường vào Ba Đồn, Quảng Bình và Vĩnh Linh, liên tục cho ra-đa mở máy tìm bắt mục tiêu, lần đầu bị nhiễu nặng, không phát hiện được. Sau nhiều lần rút kinh nghiệm đã phát hiện được mục tiêu trong nhiễu, tổng hợp được quy luật hoạt động của B-52, xây dựng phương án tác chiến, nghiên cứu cách đánh và huấn luyện cho một số phi công MiG chuyên đánh B-52. Cuối tháng 9-1971, Binh chủng Không quân đã tổ chức bộ phận chỉ huy tiền phương bên cạnh sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng PK-KQ ở phía Nam để theo dõi và nghiên cứu, tổ chức trận đánh B-52.

Đồng thời, ngay từ khi địch mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc và không quân ta mở mặt trận trên không đánh địch, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức lực lượng củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống sân bay trên miền Bắc. Một số sân bay được xây dựng thành căn cứ tập kết và xuất phát chính của các loại máy bay hoạt động trên chiến trường phía Nam. Những sân bay bị địch phá hủy nặng ngay từ đầu chiến tranh có kế hoạch tu sửa riêng. Sau mỗi lần đánh phá của địch, các đơn vị công binh và nhân dân địa phương kịp thời huy động lực lượng sửa chữa gấp, bảo đảm cho máy bay có thể cất cánh và hạ cánh được. Một số sân bay dã chiến cũng được xây dựng, kịp thời phục vụ cho máy bay chiến đấu, máy bay vận tải cất cánh, hạ cánh. Ngoài ra, một số sân bay ở hướng Tây Bắc và trên đất bạn Lào được củng cố làm căn cứ dự bị cho không quân ta khi làm nhiệm vụ.

Yếu tố thứ hai là, Binh chủng đã tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho mọi đối tượng mà tập trung nhất là đội ngũ phi công. Đây là yếu tố then chốt giành thắng lợi. Trận chiến trong điều kiện ở trên không không có chiến hào, công sự trận địa. Hơn nữa, cuộc chiến đấu của không quân ta với không quân Mỹ phải nói là không cân xứng về lực lượng, chúng ta chỉ thắng được khi có cách đánh độc đáo, sáng tạo cộng với ý chí quyết tâm, bản lĩnh vững vàng của bộ đội. Mỗi trận đánh dù ngày hay đêm là một thử thách toàn diện đối với người chỉ huy, sĩ quan dẫn đường, đặc biệt là phi công – người trực tiếp đối mặt với kẻ thù; chần chừ một chút là mất thời cơ và có thể thất bại.

Trong 12 ngày đêm đánh B-52, ngoài những khó khăn bị tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp thì những điều kiện phức tạp trong quá trình cất, hạ cánh cũng gây cho phi công không ít căng thẳng về tâm lý, đó là: Trực chiến dưới tầm bom đạn của các loại máy bay cường kích kể cả B-52. Cất, hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy hoặc chỉ huy hạn chế.

Ở đây, có một vấn đề hết sức quan trọng đó là: Trong phương châm tác chiến của không quân có nêu “đánh chắc thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn, bồi dưỡng lực lượng ta”. Nhưng riêng với đánh B-52 khi chúng ném bom miền Bắc, nhất là Hà Nội, với sự nguy hiểm của chúng, đặc biệt với ý nghĩa chính trị quan trọng là bảo vệ Thủ đô, nên bằng mọi cách không quân phải cất cánh. Trong bất cứ điều kiện khí tượng nào, hoàn cảnh khó khăn nào, không quân cũng phải có mặt để cùng với các lực lượng phòng không, ít nhất ngăn cản được các cuộc tiến công của địch.

Trong điều kiện địch tìm mọi cách để tiêu diệt không quân, chúng ta đã nêu cao ý chí quyết tâm, vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để tồn tại và phát triển, từng bước đánh bại kẻ thù. Đường băng bị đánh hỏng thì “ta sửa, ta bay” hoặc cất cánh từ đường lăn; sân bay chính bị đánh bom, bị khống chế thì xuất kích từ sân bay dự bị, sân bay dã chiến; cơ động ban ngày bị địch phát hiện thì tổ chức chuyển trường vào ban đêm, dùng trực thăng cẩu máy bay tiêm kích đi sơ tán hay đến sân bay bí mật…

Thực tế, trước khi diễn ra trận đánh của đồng chí Phạm Tuân ngày 27-12, chiến dịch đã diễn ra 10 ngày, lực lượng phòng không, đặc biệt là bộ đội tên lửa đã bắn rơi nhiều B-52 và các loại máy bay khác. Không quân đã xuất kích nhiều lần, bắn rơi một số máy bay chiến thuật. Sự xuất hiện của không quân đã làm giãn đội hình, giảm cường độ nhiễu và phân tán sự đối phó của địch, tạo điều kiện tốt cho lực lượng phòng không lập công. Tuy nhiên, không quân vẫn chưa bắn rơi được B-52. Những luồng tư tưởng khác nhau đã xuất hiện kể cả trong cơ quan và bộ phận phục vụ, đặc biệt là trong đội ngũ phi công. Số ít thì lo lắng khả năng bắn rơi B-52 của không quân ta, số khác thì nôn nóng dễ dẫn đến mất bình tĩnh và mạo hiểm, phần lớn phi công thấy trách nhiệm nặng nề đè lên đôi vai và cảm thấy mình có lỗi, chưa làm tròn sứ mệnh lớn lao đối với cấp trên, với Quân chủng và với đồng chí, đồng đội. Cái bao trùm lên tất cả là không quân phải bắn rơi B-52.

Thực tế đó khẳng định, nhiệm vụ đánh B-52 đã được quán triệt kỹ hơn, sâu sắc hơn đến mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ phi công. Nó trở thành khẩu hiệu hành động, trở thành quyết tâm sắt đá của không quân. Máy bay B-52 đã đánh ra miền Bắc, chưa bắn rơi B-52 coi như không quân còn món nợ. Trong những phút giây gian khổ và ác liệt nhất, tất cả mọi cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là đội ngũ phi công luôn giữ vững ý chí chiến đấu, khát khao thực hiện nhiệm vụ, còn một người, một máy bay cũng kiên quyết tiến công. Yếu tố tinh thần, tâm lý, bản lĩnh, ý chí của phi công cùng với nghệ thuật chỉ huy tài tình đã tạo nên sức mạnh to lớn để không quân vượt lên, giành chiến thắng.

Ba là, không quân ta tập trung xây dựng lực lượng, huấn luyện giỏi về kỹ thuật, nhuần nhuyễn về chiến thuật, cách đánh. Về xây dựng lực lượng: Với đặc thù của KQND Việt Nam, số phi công chiến đấu ở mỗi trung đoàn không nhiều nhưng được chia thành 2 bộ phận: Bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban ngày (chiếm đa số), còn lại là huấn luyện và làm nhiệm vụ chiến đấu ban đêm. Năm 1972, lực lượng phi công chiến đấu ban ngày đã lập công xuất sắc, nhiều đồng chí bắn rơi 5-6 máy bay địch, hầu như đồng chí nào tham gia chiến đấu cũng lập công.

Tuy nhiên, trong chiến đấu do bị tổn thất nên có thời điểm lực lượng phi công còn rất mỏng. Số phi công đánh đêm đã tham gia trực ban chiến đấu, xuất kích ban đêm nhiều lần nhưng chưa ai bắn rơi được máy bay địch. Một vấn đề đặt ra là số anh em bay đêm mong mỏi được chiến đấu cùng đội ngũ đánh ngày, đây vừa là mong muốn được thử thách, lập công, vừa khắc phục tình trạng thiếu hụt phi công đánh ngày. Nhưng cấp trên đã nắm chắc ý đồ của địch, quyết tâm giữ gìn lực lượng, vì vậy cho đến trước khi chiến dịch 12 ngày đêm diễn ra, số phi công đánh đêm vẫn được giữ nguyên. Nhờ có sự chuẩn bị ấy mà trong 12 ngày đêm, không quân ta liên tục có lực lượng cất cánh. Đây cũng là yếu tố bất ngờ đối với kẻ thù.

Về công tác huấn luyện: Phi công chiến đấu đêm phải được huấn luyện kỹ hơn về kỹ thuật lái, nhất là cất, hạ cánh ở đường băng ngắn, hẹp, vào ban đêm, khí tượng phức tạp. Từ thực tế huấn luyện và chiến đấu thấy rằng: Nếu như có điều kiện và đủ lực lượng, những phi công đánh đêm được lựa chọn đào tạo từ những phi công chiến đấu ban ngày thì có thể kết quả chiến đấu còn cao hơn. Đây cũng là kinh nghiệm quý báu về huấn luyện phi công trong hoàn cảnh ta chưa có điều kiện bay nhiều để đồng hóa giữa phi công đánh ngày và đánh đêm. Một vấn đề hết sức quan trọng trong huấn luyện phi công, đó là phải mạnh dạn rèn luyện phi công trong thực tế chiến đấu. Sau mỗi lần gặp địch, tuy không bắn rơi nhưng phi công trưởng thành lên rất nhiều, từ ý chí quyết tâm đến tư duy chiến thuật tự tin và vững vàng hơn.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, B-52 đánh đêm là chủ yếu, ta sử dụng sân bay dã chiến, ánh sáng hạn chế để xuất kích và hạ cánh sau chiến đấu, do đó thường sử dụng lực lượng nhỏ 1-2 chiếc, mặt khác để nhanh chóng tiếp cận, công kích nhanh, thoát ly nhanh, đánh được địch, bảo vệ ta. Chỉ sử dụng 2 chiếc khi cần tăng cường nghi binh để kéo tiêm kích địch ra hướng khác, còn hướng đánh B-52 phải giữ bí mật bất ngờ, tránh tiêm kích, tiếp cận trực tiếp mục tiêu chủ yếu. Đây là kinh nghiệm quý được đúc kết qua thực tế chiến đấu.

Vì vậy, đòi hỏi người lái phải điêu luyện đánh đêm, cất, hạ cánh tại sân bay dã chiến đường băng nền đất, ban đêm ánh sáng hạn chế; trong điều kiện địch gây nhiễu nặng, ra-đa dẫn đường phát hiện mục tiêu không liên tục, chỉ căn cứ vào thông báo của mạng B1 để dẫn máy bay vào khu vực chiến đấu, phi công phát hiện mục tiêu bằng mắt, ước lượng cự ly, hướng bay, phân loại được máy bay địch qua ánh sáng của đèn, tăng lực tiếp cận, công kích đúng thời cơ. Phi công phải xác định cự ly xạ kích đối với tên lửa hồng ngoại hợp lý, nếu xa thì hiệu quả thấp, nếu quá gần thì sau khi công kích sẽ bị ảnh hưởng của luồng khí lưu phía sau B-52, máy bay ta dễ bị rơi hoặc lao thẳng vào B-52, không thoát ly kịp.

Về công tác chỉ huy, dẫn đường: Quá trình chuẩn bị cho cả chiến dịch nói chung và từng trận đánh của không quân ta nói riêng hết sức gian khổ, công phu và tỉ mỉ, từ công tác nghiên cứu đặt sở chỉ huy, theo dõi quy luật hoạt động của địch, chuẩn bị mọi phương án, nghiên cứu cách đánh. Trong 12 ngày đêm năm 1972, ta có phương án cất cánh đánh B-52 từ các sân bay vòng ngoài, sân bay dã chiến. Cả hai trận bắn rơi B-52 của không quân đều cất cánh từ sân bay vòng ngoài.

Ra-đa dẫn đường là mắt thần của không quân. Tuy nhiên, trong thực tế 12 ngày đêm năm 1972, dẫn đường gặp nhiều khó khăn do ra-đa bị nhiễu nặng, chúng ta đã phải tận dụng tất cả các yếu tố, các nguồn tình báo, các trạm ra-đa dẫn đường khác (mạng B1, ra-đa của tên lửa, cao xạ, các trạm quan sát mắt) phối hợp với nhau để có những tham số dẫn đường, người chỉ huy nghiên cứu bố trí các trạm ra-đa dẫn đường trên một đường bay cùng phối hợp dẫn đường, các trạm ra-đa hai bên sườn của đường bay rất linh hoạt, như các trạm ở Thọ Xuân, Mộc Châu, Yên Bái… vì chúng ta đã đúc kết được kinh nghiệm: Máy gây nhiễu của B-52 chỉ có tác dụng tốt về phía trước theo hướng bay, hai bên sườn và phía sau cường độ yếu hơn. Thực tế đúng như vậy, các trạm ra-đa này đã phát hiện tốt và dẫn khá chuẩn xác máy bay ta.

Bốn là, nghiên cứu tìm cách đánh và rút kinh nghiệm để thay đổi cách đánh kịp thời khi địch thay đổi thủ đoạn là một yêu cấp cấp thiết thường xuyên sau mỗi trận đánh.

Khi đánh vào Hà Nội, địch cảnh giác và chuẩn bị kỹ cả trên 3 mặt: Gây nhiễu, hộ tống nhiều tầng, nhiều lớp tạo nên lá chắn cho B-52 và đánh đồng loạt các sân bay của ta. Ngay từ trận đầu đêm 18-12 và tiếp tục một số trận sau, phi công ta đều phát hiện đèn của F-4 và đèn của B-52 nhưng chúng ta không tiếp cận được hoặc khi tiếp cận mở ra-đa vừa bị nhiễu, vừa lộ lực lượng, địch cơ động, ta mất mục tiêu. Nếu tổ chức chỉ huy và phi công rút kinh nghiệm thay đổi cách dẫn dắt và phương pháp tiếp cận bằng đèn sớm hơn thì có thể thời cơ đánh B-52 của ta còn nhiều hơn. Rõ ràng đây là bài học sâu sắc, nhất là khi lực lượng của ta mỏng đối chọi với một lực lượng mạnh, ta càng phải biến hóa, càng phải chủ động, sáng tạo trong cách đánh mới giành được thắng lợi.

Trước một lực lượng không quân nhà nghề của Mỹ, với VKTBKT hiện đại, chúng ta đã tìm ra cách đánh sáng tạo, phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, xử lý linh hoạt các tình huống trên không và mặt đất, đồng thời luôn luôn hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng trong từng khâu, từng bước. Vì vậy, không quân ta càng đánh, càng thắng, càng đánh càng trưởng thành, phát triển, những chiếc MiG vẫn tung hoành trên bầu trời và giáng cho địch những đòn đích đáng.

Khu vực địch tập trung săn lùng MiG của ta nhiều nhất là là vùng trời Việt Trì – Tam Đảo, nơi đây đã trở thành nơi vùi thây những “thần sấm”, “con ma” và trở thành khu vực khiếp đảm của giặc lái Mỹ. Chúng đã gọi đây là “Thung lũng MiG”. Có trận, địch âm mưu chọn vùng trời này để phục kích, sẵn sàng chặn đánh MiG của ta ngay sau khi cất cánh bay lên, nhưng chúng không ngờ một biên đội MiG đã phục kích trước ở khu chờ. Địch vừa đến nơi đã bị MiG chủ động công kích và 2 chiếc “thần sấm” đã phải đền tội, bọn còn lại quăng bom bừa bãi để chạy tháo thân… Nhiều trận MiG của ta đã giấu mình trong mây, thậm chí ngay trong vệt đường bay của máy bay địch để chờ thời cơ tiêu diệt chúng…

Không quân địch thường xuyên thay đổi thủ đoạn, càng ngày càng tinh vi, khó đối phó nhưng chúng ta đã có nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo như: Đánh quần, đánh gần, kéo địch đến khu vực có lợi để đánh, chủ động đánh chặn từ xa, sử dụng tất cả các số trong đội hình đều có thể tham gia công kích khi xuất hiện thời cơ, tổ chức đội hình chiến đấu phù hợp, sử dụng ra-đa, thiết bị vô tuyến linh hoạt; kết hợp chặt chẽ trên không và mặt đất… Khi tiếp cận B-52 ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển các hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh” rất hiệu quả và đã thành công trong 2 trận bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B-52 trong hai đêm 27 và 28-2-1972 của đồng chí Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều.

Thực tế trên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12 năm 1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của KQND Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trung tướng PHƯƠNG MINH HÒA, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ
qdnd.vn

Advertisements