Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Phim tài liệu Việt Nam – Hồ Chí Minh

Phim tài liệu “Việt Nam – Hồ Chí Minh” hút khán giả

Đĩa phim tư liệu "Việt Nam-Hồ Chí Minh." (Nguồn: TT&VH)

Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long vừa ra mắt đĩa VCD/DVD bộ phim tài liệu đặc biệt “Việt Nam-Hồ Chí Minh” (thời lượng 57 phút), do Xí nghiệp phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất năm 1985.

Bộ phim do nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh viết kịch bản và đạo diễn; quay phim Lê Mạnh Thích, Lưu Ngọc Hà, với sự đóng góp tư liệu của nhiều nhà điện ảnh, nhiếp ảnh, nhà viết sử, nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước.

Phim tài liệu “Việt Nam-Hồ Chí Minh” đã đạt giải Bông sen Vàng của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1985.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Phó Giám đốc Công ty Cổ phần nghe nhìn Thăng Long cho biết: Đây là một bộ phim tài liệu quý giá, một thiên anh hùng ca về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Với hình ảnh, tư liệu chân thực, chắt lọc; lời bình súc tích mang dấu ấn sử thi, bộ phim tái hiện một chặng đường dài của lịch sử Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (năm 1857) cho đến khi Việt Nam kết thúc cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng nền hòa bình, độc lập dân tộc.

Giá trị của bộ phim không chỉ dừng lại ở sự tái hiện khách quan, sống động các sự kiện mà còn tìm cách lý giải nguyên nhân, đúc kết thành bài học từ truyền thống lịch sử và thực tiễn đấu tranh cách mạng.

Bộ phim cũng khơi gợi niềm tự hào dân tộc, khẳng định công lao to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, để có được một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, sánh vai với các cường quốc năm châu ngày hôm nay.

Là một công ty chuyên kinh doanh băng đĩa thị trường, nhưng với việc phát hành VCD/DVD phim tài liệu này, công ty rất tự tin bởi cách đây ba năm, họ đã ra mắt DVD “Hồ Chí Minh- Chân dung một con người” đến nay đã bán hết 2 vạn bản.

Riêng với VCD/DVD “Việt Nam-Hồ Chí Minh,” chỉ sau ba ngày phát hành (từ 16/4) công ty đã bán hết 6.000 bản.

“Vì sức đặt hàng đột biến, chúng tôi đang tiếp tục in tiếp để đưa ra thị trường,” bà Ngà chia sẻ.

Bộ phim quả thực đang là một món quà vô cùng ý nghĩa đối với đông đảo người con đất Việt, các em học sinh, du khách quốc tế… đặc biệt trong những ngày đại lễ của dân tộc sắp đến gần./.

(TT&VH/Vietnam+)

vietnamplus.vn

nhoNguoicha

Tư tưởng Hồ Chí Minh quy tụ mọi lực lượng để dựng nước và giữ nước

Nếu nghe ai ca tụng cái vĩ đại của Bác thì được Bác trả lời: một mình tôi thì làm được cái gì? Thiên tài của Bác chính là biết tập hợp lực lượng, biết quy tụ mọi sức mạnh có thể quy tụ được để dựng nước và giữ nước.

"Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" - Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử dân tộc, cũng có thời kỳ chia rẽ nội bộ như “Thập nhị sứ quân”, Trịnh – Nguyễn phân tranh, “Nam Kỳ quốc” v.v… nhưng quy luật chung của sự phát triển vẫn là sự đồng tâm nhất trí, sự quy tụ lực lượng với hình tượng “bó đũa”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nguyên lý đó dựa trên thực tế xã hội Việt Nam: sự phân hóa và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội bị chi phối và phụ thuộc vào mâu thuẫn lớn hơn: giữa dân tộc Việt Nam và giai cấp thống trị ngoại bang – mâu thuẫn đối kháng cao nhất.

Vốn mang truyền thống đại đoàn kết dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm đường cứu nước, nắm được học thuyết Mác–Lênin, phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.

Nếu trước kia Mác cho rằng giai cấp vô sản trước hết phải trở thành dân tộc, rằng đấu tranh để giải phóng nhân loại là tiền đề để giải phóng giai cấp vô sản thì Bác Hồ coi giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột trong xã hội Việt Nam. Nếu dân tộc không được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư bản đế quốc thì muôn đời cũng không giải phóng được nhân dân lao động.

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt. Một mặt phải tìm mọi khả năng quy tụ nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội có lòng yêu nước thương nòi vào một mặt trận rộng lớn, chống quan điểm biệt phái, quan điểm giai cấp cực đoan có hại cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác, phải từng bước giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ xã hội Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ, bằng những biện pháp thích hợp (hiến điền, giảm tô, tức, tạm cấp ruộng đất v.v…) để tăng cường sức dân nhưng không phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc. Sự quy tụ lực lượng rộng rãi đó đã tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và cũng nhờ đó làm thất bại chính sách chia để trị của kẻ thù trong bất cứ giai đoạn nào.

Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây dựng xã hội mới, phải chăng chúng ta đã coi nhẹ sự quy tụ lực lượng toàn dân tộc theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh” và quá lo sợ, đề cao việc xóa bỏ ngay mâu thuẫn giai cấp trái quy luật lịch sử – tự nhiên, đốt cháy những giai đoạn quá độ cần thiết và lâu dài. Bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Từ khi tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, quan trọng nhất là sự giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp quan hệ đến hàng chục triệu lao động cùng với sự khai thác khả năng tiềm tàng của các tầng lớp xã hội khác, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi lớn.

Tuy nhiên, cũng phải từng bước giải quyết những mâu thuẫn giai cấp, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động nhưng không làm tổn hại đến sự quy tụ lực lượng rộng rãi. Chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước phải đồng thời giải quyết tốt nhất cả hai mặt đó. Vừa qua, về mặt kinh tế, chúng ta chậm ban bố các luật đầu tư trong nước, luật chống độc quyền, luật lao động v.v… có liên quan đến việc quy tụ lực lượng và giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nguyên lý phải biết kết hợp chặt chẽ sự quy tụ lực lượng trong nước với lực lượng tiến bộ trên thế giới để đấu tranh và xây dựng Tổ quốc. Ngay từ buổi ban đầu cách mạng cho đến lúc hoàn thành giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình và giúp đỡ của cả nhân loại tiến bộ. Không chỉ riêng các nước xã hội chủ nghĩa mà cả các nước dân tộc chủ nghĩa, các chính phủ tiến bộ, các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, một số nhân vật trong giới cầm quyền không tán thành chiến tranh xâm lược v.v… đã đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chúng ta đã đánh mất một phần sự ủng hộ quốc tế đó, mà đáng ra phải được tăng cường hơn trước. Cũng giống như tình trạng quy tụ lực lượng trong nước, chúng ta đã muốn làm trong sạch ngay các quan hệ kinh tế đối ngoại, quá lo sợ về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới trong khi đã nắm vững chính quyền cả nước.

Từ một nước chậm phát triển, chúng ta bị cô lập với thế giới tư bản đang nắm khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất cùng với vốn đầu tư và thị trường rộng lớn. Điều kiện quốc tế của sự phát triển đất nước bị hạn hẹp và chịu chung số phận khủng hoảng cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trước những cú sốc của thế giới và nội địa.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, chúng ta đã điều chỉnh lại quan hệ đối ngoại, “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhất là các nước trong khu vực.

Muốn quy tụ lực lượng trong điều kiện quốc tế ngày nay, phải tìm được những mục tiêu chung với các đối tác, tạm gác những nét khác biệt, thậm chí cần phải bắt tay với những kẻ thù cũ đã biết tôn trọng lợi ích đôi bên. Cửa phải mở rộng nhưng phải thường xuyên quét sạch rác rưởi, vi trùng, đảm bảo môi trường trong sạch. Yếu tố quyết định thắng lợi của sự quy tụ lực lượng trên thế giới vẫn là sự lớn mạnh, trưởng thành của bản thân nhân dân ta.

Những thành tựu đạt được trong mấy năm qua là kết quả tổng hợp của sự quy tụ lực lượng trong nước và trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo lời dặn của Bác:

Dân ta nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

TRẦN BẠCH ĐẰNG
5-1994
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ, 2-2007)

Tuổi trẻ Online

70 năm trước Bác Hồ về nước

QĐND – Sau khi tìm được con đường cứu nước, trở về nước “giúp đồng bào” luôn là nỗi canh cánh bên lòng Hồ Chí Minh. Tháng 6 năm 1923, khi rời Pa-ri đi Mát-xcơ-va, Người đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội liên hiệp thuộc địa một lá thư thắm tình đồng đội, chứa chan sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ khát vọng của mình: “Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Song, từ khát vọng đến hiện thực là một khoảng cách dài, rất dài, có khi không đến được. Hồi hoạt động ở Pháp, trong một lá thư gửi Nguyễn Ái Quốc ngày 18-2-1922, cụ Phan Chu Trinh không tán thành phương pháp hoạt động của Nguyễn mà Cụ gọi là “Ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội” và khuyên Nguyễn ” trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công!”. Cụ Phan rất chân thành, nhưng tỏ ra chưa hiểu hết lòng dạ của đối phương. Cho nên, dù rất kính trọng cụ Phan, bậc cha chú, nhưng Nguyễn đã không hành động theo lời khuyên đó. Bởi trở về nước lúc đó tức là tự nộp mình cho thực dân Pháp, phải “đãi thời” mới có thể “đột nội” được.

Bác Hồ về nước. Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Trong những năm hoạt động cách mạng ở Xiêm đã một đôi lần Nguyễn Ái Quốc tìm đường về nước, nhưng không thành. Trong một bản báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Người có nói tới sự nỗ lực đó: “Hai lần tôi thử về Việt Nam nhưng đều phải quay trở lại. Mật thám và cảnh sát ở biên giới rất cảnh giác, đặc biệt là từ khi có vụ Việt Nam Quốc dân Đảng”. Thời cơ cho sự đột nội chưa đến với Người.

Tháng 9-1935, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Xô-viết I-li-a Ê-ren-bua về những ấn tượng mùa Xuân trên đất nước Lê-nin và những mong muốn của mình, Nguyễn Ái Quốc một lần nữa lại thốt lên: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc”. Vậy là, cho đến năm 1935, trở về nước vẫn là niềm khát vọng cháy bỏng của Người.

Tháng 9-1938, sau khi được sự chấp nhận của Quốc tế Cộng sản, Người rời Liên Xô về Diên An, Trung Quốc, xích gần lại quê hương, tìm cơ hội trở về nước. Năm 1940, những biến cố thế giới đã tạo ra dấu hiệu xuất hiện cơ hội. Ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng Hít-le và Người đã nhìn thấy trong biến cố đó như một cơ hội tốt cho sự “đột nội” của Người. Người liền triệu tập cuộc họp tại tòa soạn Báo Đ.T bàn về các giải pháp tận dụng cơ hội đó. Đoạn hồi ký của Trịnh Đông Hải (Vũ Anh) cho chúng ta biết cái tài, sự nhạy bén của nhà cách mạng từng trải Nguyễn Ái Quốc trong việc nắm bắt và xử lý thông tin quan trọng đó:” Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ, chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Tiếp đó, Người điện cho Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp) và Cao Hồng Lãnh đang trên đường đi học ở Diên An quay lại, chuẩn bị về nước.

Thoạt đầu, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về nước theo hướng Côn Minh-Lào Cai bởi hướng này có tuyến đường sắt từ Côn Minh nối với Lào Cai có nhiều gia đình công nhân người Việt làm việc và sinh sống thành từng làng mà Người đã chứng kiến qua cuộc khảo sát do Phùng Chí Kiên tháp tùng. Vì thế mà Người đã phái Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc về Hà Khẩu để điều tra, nắm tình hình trong nước và đặt cơ sở liên lạc. Nhưng rồi cầu Hồ Kiều, một chiếc cầu lớn trên tuyến đường sắt Việt-Điền nối hai nước Việt-Trung, bị máy bay Nhật đánh sập ngày 10-9-1940. Cửa khẩu lớn giữa hai nước bị đóng lại. Vậy là, ý định về nước theo hướng Lào Cai không còn. Người tin cho Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc trở lại Côn Minh, tìm hướng mới. Và hướng mới đó là Cao Bằng.

Trong suy nghĩ của Nguyễn Ái Quốc, Cao Bằng hội tụ 3 yếu tố quan trọng cho sự đột nội của Người: Địa, Nhân và sự gợi ý của Ban Thường vụ Đảng trong nước. Về Địa, Cao Bằng ở vào vị trí tiến thoái đều thuận lợi. Cách mạng phát triển, từ Cao Bằng theo tuyến đường bộ thông với Thái Nguyên, thông với Lạng Sơn về Hà Nội. Nếu gặp khó khăn, Cao Bằng thông sang Trung Quốc với những con đường mòn, những con suối nhỏ mà dân vùng biên thường qua lại. Cao Bằng còn là vùng đất hiểm trở mà trước đây các thế lực chống đối các triều đại phong kiến biến thành nơi dung thân, đợi thời, điển hình là nhà Mạc. Về Nhân, người dân cư trú trên mảnh đất này có truyền thống yêu nước và cách mạng sớm, đặc biệt có chi bộ Đảng sớm nhất ở Việt Bắc. Ngoài ra, trên bước đường hoạt động cách mạng của mình, người dân tộc thiểu số đầu tiên mà Người gặp là Hoàng Văn Nọn, người Tày Cao Bằng tại Mát-xcơ-va, đã để lại trong Người những ấn tượng tốt đẹp về người Tày và vùng quê của anh. Cuối cùng, trong thời điểm quyết định, đầu tháng 1-1941 diễn ra cuộc gặp gỡ kỳ thú giữa Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Hoàng Văn Thụ, đại diện của Ban Thường vụ Trung ương Đảng từ trong nước sang tại làng Tân Khư, Tĩnh Tây (Trung Quốc). Tại cuộc gặp đó, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã đề nghị Người về nước theo hướng Cao Bằng vì trình độ giác ngộ của dân chúng tương đối cao và đội ngũ cán bộ lãnh đạo khá vững vàng.

Theo sự chỉ dẫn của Bác, trước đó một tháng, Vũ Anh đã tìm được một nơi “bí mật, có hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui”. Đó là hang Cốc Bó thuộc bản Pác Bó, huyện Hà Quảng, địa thế hiểm trở. Hang thông ra một con đường kín dẫn sang bên kia biên giới, có thể rút lui an toàn khi bị lộ. Cách đó không xa là bản Pác Bó, một hàng rào quần chúng bảo vệ rất tốt.

Ngày 28-1-1941, sau một thời gian chuẩn bị chu tất, Nguyễn Ái Quốc cùng Phùng Chí Kiên được Dương Đại Lâm dẫn đường, vượt biên giới Việt-Trung ở cột mốc 108 về nước. Đầu tiên Người được bố trí sống trong nhà dân ở bản Pác Bó. Từ ngày 8-2-1941, Người sống và làm việc tại hang Cốc Bó. Từ đó Cốc Bó trở thành đầu nguồn của cách mạng. Tại lán Khuổi Nậm, cách hang không xa, tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám, hoàn thiện sự chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam đã được khởi động từ Hội nghị Trung -ương VI dưới sự chủ trì của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ tháng 11-1939. Hội nghị chủ trương tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi sau đó mới làm cách mạng tư sản dân quyền. Vấn đề dân tộc được đặt lên trên hết và trước hết: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Lần đầu tiên, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc được giải quyết một cách thấu đáo như vậy. Không chỉ thế, hội nghị này còn chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của từng nước Đông Dương: “Sau lúc đánh đuổi Pháp-Nhật, ta sẽ thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý… Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng… Riêng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đông và mạnh hơn hết ở Đông Dương, sau lúc đánh đuổi được Pháp-Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ”. Vì thế, hình thức tập hợp lực lượng cách mạng cũng thay đổi – Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, được thành lập thay cho Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương không còn thích hợp. Cùng với hai vấn đề chiến lược trên, Hội nghị quyết định chuyển công tác Đảng về nông thôn là nơi chính quyền thực dân lỏng lẻo và chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.

Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Tám chính là sự chuẩn bị đường lối chính trị quyết định cho sự thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Và Cao Bằng với “Ba mặt “Tam giang” trôi cuồn cuộn. Bốn bề “Tứ trụ” đứng chon von” đã trở thành chỗ đứng chân đầu tiên khi Nguyễn Ái Quốc về nước sau 30 năm hoạt động nơi góc bể chân trời. Từ đó mà đến tháng 6-1945 ta có Khu Giải phóng gồm 6 tỉnh (Cao – Bắc – Lạng – Hà – Tuyên – Thái) để đến tháng 8 năm 1945 ta được cả nước Việt Nam từ Lũng Cú đến mũi Cà Mau. Được tất cả những điều đó thực sự bắt đầu từ chọn đúng đột phá khẩu – Cao Bằng

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Tuyên ngôn độc lập và những tư tưởng mang tính thời đại

Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945 thực sự là một áng văn bất hủ trong di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

Nó có thể sánh với những áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cả ngàn năm tồn tại trong mối quan hệ với phương Bắc như “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ văn thời Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi tuyên cáo về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Một văn bản pháp lý rất hiện đại

Nhưng với Tuyên ngôn Độc lập ra đời vào một thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với toàn thế giới khi cuộc đại chiến lần thứ hai kết thúc lại mang một giá trị đặc biệt. Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về quyền tự chủ của dân tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc của “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà còn khẳng định được với toàn thế giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly chế độ thuộc địa của thực dân Pháp đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa phát xít Nhật đã bại trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ngàn năm bằng sự thoái vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Hơn thế nữa, nhà nước này lại là thành quả của “một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay” do vậy mà “dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”.

Chúng ta đều biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt tay vào việc soạn thảo văn kiện này vào đêm 28-8-1945, ngay sau khi Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên cáo “là một chính phủ quốc gia thống nhất giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ Cộng hòa chính thức”. Và ai cũng biết rằng chính phủ lâm thời này được thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc Giải phóng được thành lập tại Quốc dân Đại hội Tân Trào trước đó hơn mười ngày (17-8). Việc cải tổ này lại được thực hiện bởi một hành vi rất cao cả là nhiều ủy viên Việt Minh tự rút lui nhường chỗ cho các nhân sĩ ngoài Việt Minh vào tham chính. “Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân” (Hồ Chí Minh).

Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng được khởi thảo khi những đại diện của Việt Minh đã lên đường vào Huế để 2 hôm sau (30-8) nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Tại buổi lễ đó, vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam đã có lời tuyên cáo mang ý nghĩa thật sâu sắc: “Sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc, ngậm đắng nuốt cay, từ nay trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập”…

Tất cả những diễn tiến sự kiện ấy đã làm nên một nét đặc sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”.

Do vậy, cũng có thể thấy được một giá trị rất quan trọng của Tuyên ngôn Độc lập là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với tập quán chính trị của nhiều quốc gia nhằm khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thể cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, A.Patti, viên sĩ quan tình báo Hoa Kỳ phụ trách đơn vị OSS đang cộng tác với Việt Minh, cho rằng ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Tiếp nối sự tiến hóa của nhân loại

Bản Tuyên ngôn Độc lập đã được vị Chủ tịch nhà nước lâm thời soạn thảo ngay giữa lòng TP Hà Nội, ngôi nhà phố 48 Hàng Ngang của một nhà tư sản dân tộc. Văn bản này đã được tác giả trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc nhưng cũng gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo thể chế Dân chủ, Cộng hòa…

Hơn thế nữa, người đứng đầu cuộc cách mạng cũng là đứng đầu của Nhà nước Việt Nam còn tham khảo cả những người đồng minh khi mời Patti tới ngôi nhà 48 Hàng Ngang để trao đổi về bản thảo Tuyên ngôn Đôc lập Việt Nam. Hai người tranh luận về nguyên văn một đoạn trích từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ mà cuối cùng người công dân Hoa Kỳ phải nhận rằng mình đã sai khi biết rằng từ 20 năm trước đó (1925) trên Báo Thanh Niên xuất bản ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dịch và trước đó không lâu Hồ Chí Minh đã yêu cầu các phi công Mỹ thả dù xuống chiến khu Việt Bắc một nguyên bản của văn kiện lịch sử này.

Có người khi đọc văn bản lịch sử này đặt ra câu hỏi vì sao tác giả lại trích hai bản tuyên ngôn của hai quốc gia Âu Tây, trong đó lại có cả nước Pháp mới đây đô hộ nước mình? Hoàn toàn không phải là sách lược để ứng phó với hai cường quốc lớn tiềm tàng những mưu đồ thực dân cũ và mới. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp của con đường tiến hóa mà nhân loại đã và sẽ đi. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1892 là những mốc son của sự nghiệp giải phóng con người thì chính cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 của Việt Nam cũng là bước đi tiếp theo của quá trình ấy.

Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 đã chứng thực một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các dân tộc nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn, sản phẩm của chế độ thực dân, đã lần lượt tan rã sau năm cuộc cách mạng của Việt Nam khởi đầu cho các phong trào giải phóng các thuộc địa.

Sự sáng tạo tầm vóc 

Trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (2005), tại cuộc tiếp xúc ở thành phố Boston, mọi người đã được nghe một bài phát biểu nồng nhiệt của một chính khách lão thành của Hoa Kỳ. Đó là nguyên thượng nghị sĩ McGovern, người luôn có tiếng nói chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và năm 1972 đã từng tranh cử chức tổng thống với R.Nixon. Ông đã đưa ra nhận xét rằng: “Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Th. Jefferson. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: “Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”…

Nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà Lady Borton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Th. Jefferson vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ – Cộng hòa theo đuổi mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lý mang tầm thời đại.

Theo Dương Trung Quốc – Người Lao Động

Tuổi trẻ Online

Bác Hồ ở Matxcơva


nammaidong

Bác Hồ với Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II

Bác Hồ phát biểu trong một cuộc họp Quốc hội - Ảnh tư liệu

Đại hội Đảng lần thứ II diễn ra từ ngày 11-19/2/1951, tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Ngày 3/2/1930 tại Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản đã chủ trì hội nghị thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam, mở đầu trang sử quan trọng của cách mạng ba nước Ðông Dương. Nhưng trong điều kiện phức tạp thời đó, phải năm năm sau vào tháng 3/1935, Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ I mới được chính thức triệu tập tại một địa điểm thuộc Ma Cao (Trung Quốc) và đổi tên thành Ðảng Cộng sản Ðông Dương.

Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhân dân ta đã đoàn kết, hy sinh chiến đấu với kẻ thù tàn ác đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến, song ngay lập tức lại phải đứng lên kháng chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Thắng lợi lớn ban đầu của kháng chiến (cuối năm 1950) giải phóng các tỉnh biên giới phía bắc, phá thế bao vây của địch, thời cơ mới đã mở ra đòi hỏi sự tăng cường lãnh đạo của Ðảng phù hợp thực tế khách quan đang đặt ra và điều kiện tiến hành Ðại hội Ðảng lần thứ II đã chín muồi.

Ðầu xuân Tân Mão (1951) Bác Hồ đã có thơ tặng đồng bào cả nước:

“Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công
Toàn dân hăng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Vào thời điểm bước ngoặt lịch sử quan trọng đó, đầu năm 1951, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, Trung ương Ðảng đã quyết định khẩn trương triệu tập Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ II tại trung tâm căn cứ địa kháng chiến tại Việt Bắc.

Ðồng thời là Ðại hội Ðảng toàn quốc lần đầu được tổ chức ở trong nước với quy mô lớn chưa từng thấy trước đó. Mặc dầu khi đó chiến tranh cứu nước đang diễn ra ác liệt, thế mà có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho toàn Ðảng đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại về dự Ðại hội.

Các đại biểu đều phấn khởi được gặp các đồng chí mới, cũ từ khắp các chiến trường Ðông Dương về hội tụ để nhận nhiệm vụ trọng đại của lịch sử, của Ðảng. Nhiều đồng chí lần đầu tiên có được vinh dự dự Ðại hội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ.

Những ngày này Bác hoạt động như không biết mệt mỏi, chỉ đạo sâu sát từ việc lớn đến việc nhỏ về mọi mặt. Bác thật sự là linh hồn của Ðại hội. Ðó là nhân tố quyết định thành công rực rỡ của sự kiện chính trị trọng đại này của dân tộc.

Trước Ðại hội một tháng, Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Ðảng đã tiến hành nhiều cuộc họp quan trọng ở bản Pèo, xã Khuổi Trang, huyện Chợ Ðồn, Bắc Cạn, và tại làng Mạ, xã Kiên Quyết (nay là Kiên Ðài), huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang để chuẩn bị mọi mặt, từ văn kiện, nhân sự đến tổ chức Ðại hội.

Hai ngày trước khi khai mạc Ðại hội, Bác Hồ đã đến địa điểm họp. Người trực tiếp quan tâm kiểm tra và tổ chức xem xét bếp ăn đến nhà nghỉ của đại biểu, hội trường, đài tưởng niệm liệt sĩ. Người đã gặp riêng anh chị em phục vụ hậu cần và thăm hỏi gia đình họ.

Bộ phận này do đồng chí Lê Tất Ðắc phụ trách (sau này đồng chí là Thứ trưởng Bộ Nội vụ). Bác cũng gặp lực lượng vũ trang bảo vệ Ðại hội để căn dặn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thành công cho Ðại hội.

Tại các phiên họp Ðại hội, Bác Hồ cùng các đồng chí Thường vụ T.Ư Ðảng chủ trì trong không khí trang nghiêm, biểu thị quyết tâm cao của những người cộng sản trước vận mệnh sống còn của quốc gia, dân tộc. Bác Hồ còn tham gia dự thảo luận ở các đoàn. Ở đâu Người cũng nhấn mạnh với các đại biểu về hai nhiệm vụ quan trọng lúc này là phải quyết tâm kháng chiến thành công và Ðảng ra công khai lấy tên là Ðảng Lao động Việt Nam.

Người nhấn mạnh Ðảng đổi tên nhưng bản chất không thay đổi, phải tiếp tục phát huy truyền thống Ðảng Cộng sản trong điều kiện mới. Báo cáo Chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày trước Ðại hội có đoạn như sau: “Chúng ta phải có một Ðảng công khai, tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân đấu tranh đến thắng lợi, Ðảng đó lấy tên Ðảng Lao động Việt Nam”.

“Mục đích trước mắt, Ðảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Ngoài giờ họp chính thức, Bác Hồ có chương trình thăm hỏi động viên từng đoàn đại biểu, đặc biệt là đoàn đại biểu Nam Bộ, Lào, Cam-pu-chia. Bác như có sức hấp dẫn kỳ diệu, người đi đến đâu là ở đó có tiếng cười rộn ràng, giữa Người và các đại biểu không có sự ngăn cách tình cảm, Bác không phân biệt tuổi tác.

Khi tạm biệt mọi người đều tỏ luyến tiếc vỗ tay không ngớt, lúc chụp ảnh ai cũng muốn ngồi gần Bác. Bác thường ưu tiên cho nữ. Ðoàn Nam Bộ có ba nghệ sĩ tháp tùng (họa sĩ Diệp Minh Châu, họa sĩ Nguyễn Minh Hiền, nhiếp ảnh kiêm quay phim Nguyễn Thế Ðoàn) được Bác đặc cách cho phép theo về cơ quan tại Khâu Lấu, Tân Trào ba tháng sau Ðại hội để sáng tác theo yêu cầu của đồng bào miền nam.

Bác Hồ rất quan tâm đến hoạt động văn nghệ phục vụ Ðại hội. Người đã nhiều lần tham gia múa tập thể “Son lá son” rất sôi nổi hào hứng cùng các đại biểu. Các nhà quay phim, nhiếp ảnh chớp thời cơ hiếm có để ghi hình các hoạt động quan trọng của Ðại hội từ khai mạc đến bế mạc, đặc biệt là các hình ảnh về Bác Hồ. Nay Bảo tàng Hồ Chí Minh là nơi lưu giữ nhiều nhất các tư liệu quý về Bác Hồ ở Ðại hội II.

Tôi rất xúc động khi xem lại ảnh Bác Hồ chụp chung với các đồng chí lãnh đạo Ðảng trước hội trường. Trong số đó nay duy nhất chỉ còn lại đồng chí Nguyễn Văn Trân đã 95 tuổi, sau khi nhận được ảnh này, đồng chí đã cho phóng to cỡ 70×80 cm treo trang trọng tại phòng riêng ở Hà Nội.

Là cán bộ được tháp tùng Bác Hồ tại Ðại hội, tôi xin ghi lại đôi dòng theo hồi ức để bày tỏ nhiệt liệt hoan nghênh Kỷ niệm 60 năm sự kiện lịch sử trọng đại đang diễn ra ở Tuyên Quang và nhiều nơi trong cả nước. Mong rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các bài học tại Ðại hội II sẽ được nghiên cứu nâng cao để vận dụng vào thực tiễn hiện nay mà Ðại hội Ðảng lần thứ XI là sự nối tiếp lịch sử đang hướng về mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xuân Tân Mão, 2/2011

Nhiều hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II

Tại cuộc giao ban báo chí tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Tuyên Quang đã giới thiệu một số hoạt động kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II (11-19/2/1951).

Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô khu giải phóng, nơi Trung ương Đảng, Bác Hồ đã ở và làm việc, lãnh đạo cách mạng Tháng Tám thành công. Với vị thế là Thủ đô kháng chiến, Tuyên Quang đã được chọn là nơi tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng – sự kiện đặc biệt quan trọng trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hữu Hoan cho biết nhân kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang- Thủ đô kháng chiến” vào ngày 18/2/2011 với sự tham dự của các nhân chứng lịch sử, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học, đại biểu các cơ quan Trung ương đã ở và làm việc tại Tuyên Quang trong Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược…

Lễ mít tinh kỷ niệm 60 năm Đại hội Đảng lần thứ II sẽ được tổ chức ngày 19/2/2011 tại Quảng trường Khu Di tích Đại hội II của Đảng ở xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa.

Trong dịp này, tỉnh Tuyên Quang tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, triển lãm trong toàn tỉnh và tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa (nguồn:

Chinhphu.vn).

Theo Tạ Quang Chiến
Báo Đảng Cộng sản/Nhân Dân

dantri.com.vn

Đã hơn nửa thế kỷ có “Tết trồng cây”

– “Tết trồng cây” đầu tiên được ghi nhận vào mùa Xuân năm 1960, gắn liền với phong trào thi đua kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng (khi đó còn lấy ngày 6/1). Nhưng phải nói cho đúng hơn nó được khởi xướng bằng một bài báo ngắn đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 28/11/1959 của Bác Hồ.

Tên của bài báo gồm 3 chữ được đặt trong ngoặc kép “Tết trồng cây”, đặt vấn đề bên cạnh các hình thức hoạt động đã có thường được phát động để lấy thành tích chào mừng ngày thành lập Đảng, “chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày “Tết trồng cây”. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”.

Rồi tác giả bài báo phân tích một cách rạch ròi, dễ hiểu: “Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó có 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây… Như vậy mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây…

Từ 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, vừa cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong 10 năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần cải thiện đời sống của nhân dân ta. Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, đều có thể hăng hái tham gia”.

Ảnh Bác Hồ trồng câyẢnh Bác Hồ trồng cây

Bài báo viết cực kỳ đơn giản mà đầy tính thuyết phục và cùng với thời gian, chúng ta càng thấy giá trị sâu sắc của nó khi cả nhân loại đang đứng trước những thử thách của sự suy thoái môi trường mà việc trồng cây, gây rừng vẫn luôn là một giải pháp quan trọng hàng đầu. Nhưng Bác Hồ cũng hiểu rằng một cuộc vận động quần chúng là vô cùng gian khổ trong đó vai trò tổ chức và quản lý của nhà nước và các tổ chức xã hội là vô cùng quan trọng.

Có thể nói kể từ đó, Bác không chỉ là người phát động mà còn theo sát từng bước đi, không chỉ khuyến khích cổ vũ mà còn chăm chút chỉ bảo, phê bình và tìm tòi những biện pháp để cuộc vận động không chỉ mang lại kết quả thiết thực mà còn mong muốn biến nó thành một tập quán tốt đẹp của xã hội mới.

Vào Mùa Xuân năm Kỷ Dậu, Bác Hồ viết bài báo cuối cùng cổ vũ “Tết trồng cây” năm 1969, trong đó  đưa ra nhận định rằng “Tết trồng cây đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta” và tổng kết thực tiễn cho rằng: mọi người đều nên tham gia trồng cây nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực. Bác Hồ còn nhắc đến một nhận thức mới là “Chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa” …

Đến nay, nhiều cây Bác trồng đã trở thành những di tích lịch sử lâu bền làm tấm gương cho các đời sau về mẫu mực của con người hiện đại: thân thiện và bảo vệ môi trường sinh thái.

Và Tết trồng cây tiếp tục được duy trì và được phát động mỗi một Mùa Xuân sang, như một tập quán văn minh của dân tộc ta. Hiểu theo một nghĩa nào đó thì “Tết trồng cây” đã đi trước thời đại và ngày càng phù hợp đối với mối quan tâm của thế giới hiện đại trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước

(Dân trí) – Đó là tên Hội thảo khoa học do Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Viện Hồ Chí Minh và các Lãnh tụ của Đảng phối hợp tổ chức vào sáng nay 28/1, tại Hà Nội, với sự tham dự của nhiều nhà nghiên cứu trong nước.

Hồ Chí Minh rời đất nước từ khi 21 tuổi với khát vọng cháy bỏng tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam; thành lập Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và xây dựng được đội ngũ cán bộ nòng cốt của phong trào cách mạng Việt Nam.

Bác về Tổ quốc 28/1/1941

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam – thời kỳ chuẩn bị về mọi mặt, tiến tới phát động cao trào Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Quyết định về nước và những hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau ngày Người trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng là vô cùng phong phú và sinh động.

Tham luận của các nhà nghiên cứu tại Hội thảo đã tập trung làm rõ các nội dung sau: Tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với việc lựa chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng cơ quan đầu não của Trung ương Đảng – căn cứ địa cách mạng đầu tiên của cả nước; Nguyễn Ái Quốc với việc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, quyết định thay đổi đường lối chiến lược cách mạng của Đảng và thành lập Mặt trận Việt Minh; Nguyễn Ái quốc chỉ đạo công tác vận động xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng – nhân tố quan trọng góp phần giàng thắng lợi cho khởi nghĩa; Nguyễn Ái Quốc với công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, coi công tác cán bộ là gốc của mọi công việc; Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền; Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo công tác tuyên truyền; đưa chủ trương, đường lối của Đảng đến với phong trào cách mạng và Nguyễn Ái Quốc với việc chỉ đạo xây dựng và kiện toàn hệ thống cơ sở Đảng.

Hội thảo “Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước” cũng là một sự tri ân đến các liệt sĩ đã quên mình vì sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc; bày tỏ lòng tự hào và biết ơn đến công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ tiền bối của Đảng, đồng bào và đồng chí đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Hội thảo cũng góp phần đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương dạo đức Hồ Chí Minh” trong giai đoạn mới.

Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn

Vang mãi khúc khải hoàn Pác Bó

(GD&TĐ) – Cách đây đúng 70 năm, ngày 28-1-1941, Bác Hồ chính thức đặt bước chân lên cột mốc biên giới 108 (Cao Bằng) – mảnh đất địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc sau 30 năm bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Cùng về nước với Bác có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp và Thế An. 

Sáng sớm ngày 28-1-1941 (nhằm mùng 2 Tết Tân Tỵ), đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang (Quảng Tây – Trung Quốc). Đi đầu là đồng chí Phùng Chí Kiên, người rất thông thạo đường đi lối lại vùng rừng núi; nhóm đi giữa gồm có Bác, đồng chí Lê Quảng Ba và Thế An, đều là cán bộ người dân tộc Tày, thông thạo tiếng nhiều dân tộc và rất giỏi võ, kế đến là đồng chí Hoàng Văn Lộc và cuối cùng là đồng chí Đặng Văn Cáp, một thanh niên rất khỏe, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi, biết chữa bệnh bằng thuốc nam. Bác đề nghị cả nhóm hóa trang ăn mặc như đàn ông Nùng để che mắt địch, vì phong tục của họ là cứ đến Tết các chàng rể đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Bác mặc đúng kiểu đàn ông Nùng trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín râu. Hành lý mà Bác mang theo chỉ có một chiếc vali bằng mây nhỏ cũ kỹ đựng quần áo và chiếc máy đánh chữ xách tay.

Sau 8 giờ đi đường, vượt qua dãy núi Phia Sum Khảo, đoàn đặt chân đến cột mốc biên giới số 108 vào giữa trưa, khoảng 12 giờ. Đoàn cán bộ trong nước do đồng chí Hoàng Sâm dẫn đầu được cử đi đón Bác cũng đã có mặt tại cột mốc. Sau 30 năm bôn ba xứ người, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước.

Theo hồi ký của thiếu tướng Lê Quảng Ba, khi vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, đưa mắt ngắm nhìn núi rừng trùng điệp quê hương rồi cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt Bác rưng rưng. Cả đoàn lặng đi trong niềm xúc động khi chứng kiến khoảnh khắc thiêng liêng ấy của lịch sử.

Cột mốc 108

Nơi Bác đặt chân đầu tiên khi trở về là Pác Bó, Pác Bó có nghĩa là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Bác đặt tên là suối Lê – Nin. Hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác.

Ngày đầu tiên đồng chí Lê Quảng Ba đưa ông Ké (“ông ké”- theo tiếng địa phương có nghĩa là cụ già – là cách gọi Bác Hồ một cách thân thiện của người dân Pác Bó) về nghỉ tại nhà ông Lý Quốc Súng dân tộc Nùng. Nhà có hai gian cũ và làm thêm một gian mới để đón khách, khách và chủ cùng quây quần bên mâm cơm ngày Tết của gia đình họ Lý.

Sau bữa cơm chủ nhà đã thu xếp chỗ ăn ở và làm việc cho đoàn cán bộ nhưng ông Ké bảo Lê Quảng Ba: Ta có nhiều người, ở lại nhà ông Lý làm phiền chủ nhà quá, thôi nên dứt khoát “sáu sán” thôi.

Sáng sớm hôm sau ông Lý dẫn ông Ké và mấy anh em cán bộ lên hang Pác Bó. Trước cảnh sắc một sáng xuân của Tổ quốc Bác ngâm khe khẽ bài thơ mới sáng tác:

Non xa xa nước xa xa
Nào phải thêng thang mới gọi là
Đây suối Lê – nin kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà

Trong bối cảnh cuộc sống còn gian khó, đất nước sống dưới ách áp bức của các thế lực thực dân phong kiến, nhưng ở mảnh đất Pác Bó người dân Cao Bằng đã gíac ngộ hướng về cách mạng và bảo vệ cách mạng. Tại Pác Bó Bác tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, nơi câu cá lúc nhàn rỗi, chỗ đun nước uống mà chè là lá cây ổi, kê bàn đá mộc mạc tự nhiên để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Từ đó ở khu Pác Bó có một ông Ké mặc bộ quần áo chàm, quần sắn cao, tay cầm gậy, dáng đi nhanh nhẹn nhưng ưng dung, thoải mái vui vẻ tiếp các cán bộ về thỉnh thị và báo cáo. Bác hoà mình vào hoàn cảnh mới hết sức tự nhiên, tâm hồn của Bác luôn ung dung lạc quan, với cuộc sống gian khó mà Bác vẫn có những vần thơ bất hủ.

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

oBức họa tái hiện thời khắc Bác cùng các đồng chí trong đoàn về nước

Khi về Pác Bó, Bác đã mở nhiều lớp đào tạo huấn luyện cán bộ, gắn họat động cách mạng với thực tiễn tại cơ sở, tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh, các Hội cứu quốc các giới do 43 cán bộ đã được huấn luyện làm chủ chốt, mở rộng tổ chức ra các xã, châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình hoạt động rất có kết quả, từ kết quả này đồng chí Vũ Anh triệu tập hội nghị tổng kết thí điểm tại Coọc Mu (Hà Quảng) vào tháng 4/1941 đó là những thực tế sinh động cho nội dung Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

gfdgrNgày nay, địa danh lịch sử gắn liền sự kiện ngày Bác Hồ về nước được đông đảo đồng bào cả nước, du khách đến tham quan, ôn lại lịch sử (ảnh Internet)

Ở hang Pác Bó hơn một tháng Bác cho cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nặm (suối nước), địa điển này tiện lợi đi lại không phải lội qua suối, nếu có động dễ thoát nhanh chóng. Tại đây Bác lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản trịêu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hội nghị khai mạc sáng 10/05/1941, Hội nghị đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là Hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng Minh, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa.

Sau Hội nghị Bác tự tay thảo ra bức thư ”Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ dân tộc ta liên tiếp giành được thắng lợi vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Kiên Hưng (st)
gdtd.vn

Người bạn linh mục chí cốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh

– Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

“Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”

Những sải chân bước rảo trên con đường dẫn sang núi Hồng, người có tên gọi Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) giục bạn đồng hành: “Bệnh tình của Ông Cụ đã thuyên giảm, sốt cao đã hạ xuống bình thường. Ông Cụ hỏi tôi về tình hình nhân sĩ trí thức của Hà Nội và Bắc Hà đấy, tôi nói cái này không rành, sẽ có đồng chí khác báo cáo. Giờ anh lên, anh tới gặp Ông Cụ đi. Tôi đã trao đổi trước với đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) rồi.

Lội qua con suối, hai người tới một cái lán. Khi bước vào, khách trông thấy có Ông Cụ đang ngồi chăm chú đọc một cuốn sổ tay nhỏ. Gầy còm nhưng rắn rỏi, đôi mắt sáng và linh lợi, với chòm râu thưa, mới tiếp xúc lần đầu tiên khách đã nhận ra Ông Cụ cởi mở và giản dị. Với giọng trầm và ấm, từ trong ngực phát ra, Ông Cụ đề nghị khách nói cho nghe tình hình trí thức trong nước.

Giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).

Vị  khách đó là Vũ Đình Huỳnh, một nhà hoạt động lâu năm có uy tín lớn trong giới trí thức, công chức, công thương gia, tôn giáo của Hà Nội và Bắc Kỳ nói chung. Khi mặt trận Việt Minh phát hành tờ tín phiếu để quyên góp tài chính của các nhà “hằng tâm hằng sản” có tên và chữ ký của Triệu Hải, Triệu Vân. Triệu Hải là biệt danh của Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) và Triệu Vân là Vũ Đình Huỳnh. Trước ngày khai mạc Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Triệu Hải – Triệu Vân bí mật sắm sửa lễ vật chuẩn bị.

Sau khi nghe Ông Cụ hỏi, ông Vũ Đình Huỳnh đã báo cáo với Ông Cụ những gì ông biết, từ phong trào Cần Vương trở đi, ai còn, ai mất trong Đông Kinh nghĩa thục; Phục Việt là gì, nhóm Thanh Nghị, Tự Lực văn đoàn… và thái độ của từng người đối với Việt Minh và cách mạng dân tộc thế nào…

Ông Cụ nghe chăm chú, thỉnh thoảng mới ngắt lời để hỏi kỹ thêm về một người nào đó như cụ Huỳnh Thúc Kháng; hay cụ Nguyễn Văn Tố tại sao lại gọi là ông Phán Men, có phải vì cụ nghiện rượu. Khi biết cụ Nguyễn Văn Tố hàng ngày đi làm, không đi xe kéo mà chỉ đi bộ, lúc nào cũng cầm ô đi sát đường, đi men tường nên mới thành biệt hiệu ông Phán Men. Ông Cụ cười thành tiếng, giọng cười ấm áp, thư thái và truyền cảm.

Thế còn linh mục Phạm Bá Trực?

Ông Vũ Đình Huỳnh báo cáo để Ông Cụ rõ: Linh mục Phạm Bá Trực sinh năm 1898 tại Bách Nguyên, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Linh mục là một trong những khuôn mặt nổi bật nhất, nổi tiếng là một người yêu nước chống Pháp kiên quyết nhất.

Những năm đầu 1930, sau khi học xong tại Roma – đã đậu bằng Tiến sĩ triết học và Thần học – trở về nước, Linh mục càng thấy rõ hơn ai hết, những cảnh bất công đồng bào mình phải chịu cũng như cả Giáo hội Việt Nam phải chịu. Ai cũng nghĩ Phạm Bá Trực sẽ được phong giám mục, vậy mà giáo chức người Pháp lại đưa về thị xã Hà Đông giữ một xứ đạo nhỏ, chỉ vì Phạm Bá Trực bướng bỉnh chống lại những lề thói phân biệt đối xử giữa các linh mục Tây và Việt Nam. Thấy cố đạo Tây lộng hành, cha mắng. Thấy linh mục người Việt không được phép ăn chung với linh mục Tây, cha chống. Linh mục Phạm Bá Trực chống cả việc linh mục tây vào gặp giám mục thì bắt tay mà linh mục ta thì phải tụt giày, vái lễ. Linh mục Phạm Bá trực có câu nói nổi tiếng: “Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, bốn giám mục Việt Nam lúc đó (hơn 80 năm kể từ khi chính thức xác lập năm 1862, Va-ti-căng chỉ phong phẩm và bổ nhiệm bốn giám mục người Việt Nam) đã gửi hai điện văn cho Toà thánh và tín hữu toàn cầu, đề nghị ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu cử đại biểu Quốc hội lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những nhà tu hành như: Thượng toạ Thích Mật Thể, Chưởng quản Cao Đài Cao Triều Phát, linh mục Phạm Bá Trực…đều trúng cử. Linh mục Phạm Bá Trực, đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam, được cử vào Uỷ ban Thường trực rồi Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.

“Vua Hùng kén rể”

Được sự uỷ nhiệm của Quốc hội, trong “Lời tuyên bố sau khi thành lập Chính phủ mới” – Chính phủ Liên hiệp tháng 11 năm 1946 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chính phủ mới phải tỏ rõ tinh thần đại đoàn kết, không phân đảng phái… Kết quả là, có những vị có tài năng nhận lời tham gia Chính phủ:  như Cụ Huỳnh, vì tuổi già sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu Cụ, Cụ cũng gắng ở lại. Lại có nhiều vị đứng ngoài sẵn sàng ra sức giúp đỡ: như Cụ Bùi Bằng Đoàn, linh mục Phạm Bá Trực… Dầu ở trong hay ngoài Chính phủ, ai nấy đều hứa sẽ cố gắng làm việc, một lòng vì nước,vì dân…

Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia”.

Nhờ chính sách đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đa số người Công giáo Việt Nam đã tin tưởng đi theo cách mạng. Những ngày đầu kháng chiến gian khổ, giám mục Hồ Ngọc Cẩn (Bùi Chu) đã ủng hộ cả dây chuyền vàng cho chính phủ Việt Minh.

Trong nhiều chức vụ quan trọng của Chính phủ, Quốc hội, người ta thấy có mặt người Công giáo như linh mục Phạm Bá Trực, cụ Ngô Tử Hạ – Thứ trưởng Bộ Cứu tế, luật sư Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế đầu tiên, bác sĩ Vũ Đình Tụng – Thứ trưởng Bộ Y Tế.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949) Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10/1949)

Tại miền Nam có nhà cả 3 linh mục, 2 nữ tu đều theo kháng chiến như gia đình linh mục liệt sĩ Nguyễn Bá Luật. Liên đoàn công giáo kháng chiến Nam bộ đã ra đời sau đó là Uỷ ban liên lạc Công giáo kháng chiến đã tập hợp nhiều tên tuổi như các linh mục Võ Thành Trinh, Hồ Thành Biên, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh…

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các Uỷ viên trong Ban thường trực được phân đi các địa phương ở Liên Khu III, Liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến. Sau đó các uỷ viên tuỳ theo khả năng và yêu cầu mà tham gia hoạt động kháng chiến ở địa phương, như Uỷ ban kháng chiến hành chính, làm phái viên của Chính phủ ở các khu… Cụ Bùi Bằng Đoàn được phân công sát bên cạnh Chính phủ để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Thường trực. Cụ Tôn Đức Thắng và linh mục Phạm Bá Trực được mời về cùng Trưởng ban điều hành công việc của Ban.

Sau khi đập tan cuộc tập kích của thực dân Pháp lên chiến khu Việt Bắc với mưu đồ bắt sống toàn bộ Trung ương Đảng và Chính phủ ta, Hồ Chủ tịch quyết định họp Hội đồng Chính phủ để mừng chiến thắng đồng thời vui Tết, đón Xuân Mậu Tý (1948). Phiên họp “tất niên” của Hội đồng Chính phủ diễn ra giữa núi rừng Việt Bắc khi rét đậm tràn về, nhưng các thành viên đều có mặt đông đủ. Trừ ông Đặng Phúc Thông vì ốm, còn các cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban, Linh mục Phạm Bá Trực – Phó Trưởng ban thường trực Quốc hội… là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc, dù tuổi già sức yếu đều tới dự. Có chiến sĩ, có quan thượng thư, có đức linh mục, có trí thức, có Việt minh, những người tóc đã bạc bên những người mái đầu xanh tuổi mới ba mươi… Tất cả cùng chung một ý chí “Tổ quốc trên hết, Kháng chiến trước hết”.

Cuối buổi, anh em phục vụ bưng lên mấy đĩa cam sành Bố Hạ vàng mọng của đặc uỷ đoàn do Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hoè mua về đãi quà Tết. Hội đồng Chính phủ vừa ăn cam vừa nghĩ, đóng góp một trò vui để cùng ăn Tết thật vui vẻ. Cụ Hồ giới thiệu cụ Bùi Bằng Đoàn sẽ mở đầu cuộc vui Xuân mừng chiến thắng…. Sau đó là màn diễn “Vua Hùng kén rể”.

Diễn viên đầu tiên Vở kịch “Vua Hùng kén rể” bước lên sân khấu trong tiếng hò la và vỗ tay rầm rộ của khán giả. Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội, linh mục Phạm Bá Trực, vai vua Hùng lụng thụng trong chiếc áo dạ to xù của lính Pháp mà Quân nhu mới cấp, và chiếc mũ dạ to tướng thường ngày để thay mũ bình thiên. Tiếp đó là Sơn Tinh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp luật sư Vũ Đình Hoè – nhảy ra múa mấy vòng, rồi khuỳnh khuỳnh tay tâu với Vua Hùng về chiến công đuổi được Thuỷ Tinh ra tận ngoài biển.

“Vua Hùng“ vểnh râu lên, khoái trá vuốt, rồi gọi to: “Bớ Mỵ Nương ! Con gái ta, mau mau ra mắt…”. Lời vừa dứt, công chúa choàng chiếc áo ca-pốt cũ của lính lê dương yểu điệu, da trắng nõn, đôi bờ vai hơi rộng, ra trình Vua cha. Khán giả cười lăn, cười bò vì công chúa có râu lún phún đó là luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế. Vua cha, chàng rể, công chúa cùng nhau ôm bụng cười… Cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban ôm chặt lấy cụ linh mục Phó ban của mình, đấm thùm thụp vào lưng và nói: “Giỏi quá! Giỏi quá! Thật là vui như Tết, vui hơn Tết!”.

Linh mục Phạm Bá Trực là một người yêu nước, kính Chúa. Được gặp Cụ Hồ, do sức cảm hóa đặc biệt của Người, Cụ Trực đã kiên quyết một lòng đi theo cách mạng và kháng chiến.

Là  Phó trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I, Cụ Trực được mời tham dự các phiên họp của Hội đồng Chính Phủ do Cụ Hồ chủ trì. Nhiều buổi họp khuya, Cụ thường được ở lại cùng Cụ Hồ.

Có  lần, dưới ngọn đèn khuya Cụ Trực ngồi yên lặng, ngắm Cụ Hồ làm việc, cảm thấy Cụ Hồ như là hiện thân của Chúa, mang đức độ nhân từ, bác ái, vị tha của một bậc thánh, Cụ Trực bỗng thốc lên: “Vous – êtes surnaturel!” (Người đúng là siêu nhiên!). Cụ Hồ mỉm cười, phủ nhận: “Non, nous sommes contre – naturel!”.

Bài điếu văn do Bác Hồ viết

Kháng chiến chín năm, Hồ Chủ tịch nhiều lần rơi lệ  khóc những bậc tài đức đã ra đi mà chưa  được nhìn thấy nước nhà độc lập. Đầu năm 1947, Người gửi điện văn vào Trung Bộ khóc cụ  Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nôi vụ, Đặc phái viên của Chính phủ kinh lý miền Trung đã từ trần ngày 21/4/1947. Buổi khai mạc phiên họp tất niên 1947 của Hội đồng chính phủ giữa núi rừng Việt Bắc, Hồ Chủ tịch đã bật khóc nhắc tới cụ Nguyễn Văn Tố – vị Bộ trưởng cứu tế xã hội trong Chính phủ lâm thời, Trưởng ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ, hy sinh khi Pháp tấn công lên Việt Bắc ngày 7/10/1947. Năm 1951, cụ Hồ Tùng Mậu, một người bạn thân thiết nữa của Hồ Chủ tịch ngã xuống. Lần này…

Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, Hiệp định Giơnevơ đã ký kết, miền Bắc được giải phóng, Chính phủ sắp trở về Thủ đô. Nhưng cuộc sống vất vả trong chiến khu vắt kiệt sức và cụ linh mục Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội đã tạ thế hồi 12 giờ 55 phút ngày 5 tháng 10 năm 1954 hưởng thọ 56 tuổi. Lại thêm một đêm Người thức trắng, từng dòng lệ rơi trên trang giấy đọng lại trong lời ai điếu. Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

Hồi 9 giờ 30 ngày 7 tháng 10 năm 1954 lễ an táng linh mục Phạm Bá Trực được tổ chức tại nhà thờ An Huy, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Theo Thông cáo của Uỷ ban Thường trực Quốc hội – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vòng hoa viếng kèm lời điếu. Người phải cậy nhờ Bộ trưởng Phan Anh thay mặt Người đọc lời điếu:

“Tôi xin thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ.

Từ  ngày nhân dân tin cậy cử  Cụ làm đại biểu Quốc hội và Quốc hội cử Cụ vào Ban thường trực, Cụ đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chính phủ trong mọi vấn đề quan trọng. Trong mọi việc, Cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy, với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt nam.

Nay Cụ mất đi, Chính phủ và nhân dân vô cùng thương xót.

Trong lúc ốm nặng Cụ thường nói với tôi: Mong trông thấy kháng chiến thắng lợi thì dù chết Cụ cũng thoả lòng.

Nay hoà bình đã trở lại Cụ đã thoả lòng.

Nhưng tiếc rằng Cụ không còn nữa để giúp nước, giúp dân.Với lòng vô cùng thương tiếc một nhà tận tuỵ ái quốc và một người bạn thân mến, trước linh hồn Cụ, chúng tôi nguyện kiên quyết một lòng, đoàn kết toàn dân để làm tròn sự nghiệp mà suốt đời Cụ mong muốn là: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn nước Việt Nam yêu quí của chúng ta.

Hồ  Chí Minh”.

Ngày 28/11/2009 tại Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên và Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tổ chức Hội thảo Khoa học “Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)”.

Trong tham luận “Một số tư liệu về linh mục Phạm Bá Trực (1946-1954): Giới thiệu, đính chính, những vấn đề cần làm rõ”, Thạc sĩ Ngô Quốc Đông công tác tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) có nhắc đến một thực tế hiện nay là hình ảnh về linh mục Phạm Bá Trực rất hiếm thấy. Anh có dẫn ra 5 tấm ảnh từ năm 1946 đến khi linh mục qua đời (1954).

Để kết thúc bài viết này, tôi xin đăng kèm hai tấm ảnh về linh mục Phạm Bá Trực tại Chiến khu Việt Bắc. Tấm thứ nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949); tấm thứ hai là giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951). Còn một số ảnh khác, trong đó có ảnh chân dung kèm bút tích của linh mục Phạm Bá Trực xin hẹn vào một dịp khác.


Kiều Mai Sơn
bee.net.vn

“Tìm người tài đức”

 –  Một bài báo, đúng hơn là một bản thông báo “Tìm người tài đức” ký tên “Chủ tịch Chính phủ Việt Nam-Hồ Chí Minh” đăng trên báo Cứu Quốc” ngày 20/11/1946.

Nội dung bản thông báo như sau: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”. 

dBác Hồ năm 1946.

Cách đó hơn 1 năm, ngày 14/11/1945, báo “Cứu Quốc” đăng bài “Nhân tài và Kiến quốc” ký tên Hồ Chí Minh với lời kêu gọi: “Sau 80 năm bị bọn thực dân Pháp giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là cao quý. Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái đó vào đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kiến quốc có chắc thành công thì kháng chiến mới mau thắng lợi.  Kiến thiết thì phải có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều.

Chúng ta cần nhất bây giờ là: Kiến thiết ngoại giao – Kiến thiết kinh tế – Kiến thiết quân sự – Kiến thiết giáo dục. Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành”. Để tập hợp nhân tài, Bác đề nghị cử ra một Ban cố vấn cho Chủ tịch gồm 10 người trong đó có: Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, giám mục Lê Hữu Từ, Bùi Bằng Đoàn, Ngô Tử Hạ, Lê Tạ, Bùi Kỷ…

“Muốn phát động quần chúng cho tốt thì trước hết cán bộ công đoàn phải guơng mẫu, phải được phát động trước thì công nhân mới động…Phải tin vào sáng kiến và lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, nếu không thì phát mấy cũng không động”. Lời căn dặn của Bác khi đến thăm Trường Cán bộ Công đoàn ngày 20/11/1958.

X&N
bee.net.vn

“Tôi là người học trò nhỏ của Tônxtôi vĩ đại”

– Một hôm, một bạn cùng nghề đưa cho tôi một cuốn truyện nhỏ của Tônxtôi…”.

“Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường/ Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương/ Giận kẻ gian kia gây cách biệt/ Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương”.

Đó là bản dịch (của nhà thơ Nam Trân) bài thơ chữ Hán “Ngụ đinh thiết ngã chi sĩ đích” (Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta) mà Bác sáng tác trong thời gian bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa cầm giữ. Bài thơ được sáng tác vào ngày 19/11/1942 trong tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù).

“Quân đội ta là quân đội của nhân dân, cho nên nhân dân rất thương yêu quân đội…Vì đồng bào muốn cho quân đội của mình gương mẫu về mọi mặt không những chiến đấu dũng cảm mà lại có thái độ nghiêm trang…Vậy rất mong các đồng chí chiến sĩ và cán bộ ta hết sức cẩn trọng trong mọi cử chỉ, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác!” là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Nhân dân với Quân đội” đăng trên báo “Quân đội Nhân dân” ngày 19/11/1954.

Ngày 19/11/1955, Bác dự lễ khai giảng trường Đại học Nhân dân, lớp bồi dưỡng chính trị ở Hà NộiNgày 19/11/1955, Bác dự lễ khai giảng trường Đại học Nhân dân, lớp bồi dưỡng chính trị ở Hà Nội

Ngày 19/11/1960, báo “Văn học Xô viết” đăng bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của đại văn hào Nga L.N.Tônxtôi” trong đó tác giả “xin kể chuyện tôi trở thành người học trò của nhà văn Nga vĩ đại như thế nào?”…

“Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, tôi làm thợ sửa ảnh ở Pari. Hàng ngày tôi đến xưởng, chiều tối tham gia các buổi họp của Đảng hoặc dự mít tinh của công nhân. Cuối ngày làm việc, tôi đọc vài trang tiểu thuyết để trau dồi tiếng Pháp và giải trí một chút. Một hôm, một bạn cùng nghề đưa cho tôi một cuốn truyện nhỏ của Tônxtôi…”.

Từ đó tôi rút ra kết luận: Sự chỉ trích đạo đức phong kiến. Cách viết của Tônxtôi  rất giản dị, rõ ràng và dễ hiểu, làm tôi rất thích Tuổi trẻ bồng bột, tôi nhảy vùng dậy khỏi giường, mặc dù mùa đông rất lạnh, nhất là trong căn phòng bé nhỏ của tôi lại không có lò sưởi. Tôi nói to: “Viết một cuốn truyện ngắn chẳng có gì là khó. Mình cũng có thể viết được”…

Mỗi ngày tôi phải viết từ năm đến sáu giờ rưỡi sáng, là vì bẩy giờ tôi phải đến xưởng. Thường thường ngón tay tôi tế cóng lại. Sau một tuần vất vả tôi đã viết xong tác phẩm của mình…Các đồng chí nghĩ xem tôi vui mừng xiết bao, khi mấy ngày sau, mở xem báo buổi sáng, tôi thấy có đăng tác phẩm của tôi, tác phẩm yêu quý của tôi… các đồng chí có cho rằng tôi có quyền nói tôi là người học trò nhỏ của nhà văn vĩ đại Tônxtôi không?”.

X&N
bee.net.vn