Thư viện

Bác Hồ và Phật giáo

 Xuất thân trong các cuộc vận động của Phật giáo (1963-1966), thời đi theo kháng chiến (1966-1975), tôi có nhiều dịp chuyển thư từ, hình ảnh của Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà con Phật tử tập kết ngoài miền Bắc vào cho các chùa và đồng bào theo Đạo Phật ở Huế.

Nhờ thế, sau ngày thống nhất đất nước (1975), nhiều lần tôi được các Sư bà Thích nữ Diệu Không, Sư bà Thích nữ Cát Tường, Sư cô Tịnh Giải (thế danh là Trương Thị Bích Vân) tiếp tại chùa Hồng Ân và chùa Kiều Đàm (Huế). Sư bà Cát Tường cho tôi chiếc xe Jeep của trường Mẫu giáo Kiều Đàm trước năm 1975.

Tôi không được dùng xe riêng nên đã chuyển cho anh Võ Đông – Trưởng phòng TTVH TP Huế sử dụng vào việc công. Chiếc xe ấy đã giúp nhiều việc cho phòng, mãi đến thời gian gần đây mới cho “giải nghiệp”.

aẢnh IE

Biết tôi là người rất lịch sử, thích chuyện cũ và thơ văn, Sư bà Thích nữ Diệu Không đã kể cho tôi nghe chuyện các gia đình Hồ Đắc – Cao Xuân của Sư bà quan hệ với gia đình Bác Hồ, chuyện Phật giáo cứu dân và đặc biệt chuyện Sư bà làm thơ Kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ mừng Ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.

1. Chuyện ông Tư Sinh

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi quan tâm ngay việc nghiên cứu Huế để giải toả những thắc mắc về lịch sử Huế mà suốt thời gian theo kháng chiến, tôi không tự trả lời cho mình được.

Một trong những thắc mắc đó là thời gian gần mười năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và học hành ở Huế. Nhờ có ý thức sớm như vậy, tôi đã may mắn gặp được những người bạn học, những “người cùng thời” với Bác ở Huế.

Một trong những “người cùng thời” đó là Sư bà Thích nữ Diệu Không. Sư bà không những là người cùng thời mà còn từng làm dâu trong gia đình Cao Xuân Nghệ An – gia đình có mối quan hệ sâu sắc với gia đình thân sinh của Bác.

Sư bà Diệu Không nhũ danh Hồ Thị Hạnh, ái nữ của cụ Thượng Hồ Đắc Trung, lúc chưa xuất gia là vợ ông Cao Xuân Xang (con trai thứ của cụ Cao Xuân Dục). Sư bà tiếp tôi trong phòng khách của chùa Kiều Đàm (Huế).
[…]

Sư bà kể:

-“Năm lên 10 tuổi, tôi theo thầy tôi là cụ Hồ Đắc Trung vào ở trong Bộ Học. Lúc ấy tôi mới học chữ Hán nên hễ thấy đâu có chữ Hán là để mắt đọc, đọc không hiểu thì hỏi. Bỗng tôi thấy trên tường vừa quét vôi trắng có chừa một khoảng tường cũ ám khói.

Trong khoảng ấy có ghi một câu cách ngôn bằng chữ Hán nét chữ đã cũ nhưng rất đẹp. Tôi đọc lõm bõm được vài chữ những không hiểu hết ý nghĩa nên hỏi thầy tôi. Thầy tôi đáp:

-“Nghe nói trước đây, gian phòng này dành cho ông Tư Sinh ở. Ông hay đặt cách ngôn và viết lên vách để dạy con. Ông viết nhiều lắm nhưng thợ bên Bộ Công qua sửa nhà bôi hết. Còn câu ấy chữ đẹp và có ý nghĩa răn dạy con cái rất tốt nên thầy truyền cho thợ phải để lại.”

Bà kể tiếp:

– “Sau đó, thầy tôi không làm ở Bộ Học nữa. Tôi lớn lên, lấy chồng là ông Cao Xuân Xang – con trai cụ Cao Xuân Dục – bạn với thầy tôi (1). Nhớ chuyện cũ, có lần tôi hỏi nhà tôi:

– “Anh có biết ông Tư Sinh đã từng ở trong Bộ Học – nơi anh ở trước đây không?”

Ông nhà tôi đáp:

– “Biết rõ. Ông Tư Sinh là người cùng quê Nghệ An với mình, năm Ất mùi (1895) ông có nhận học điền của họ Cao Xuân (Diễn Châu) để vào Kinh thi Hội, đi một lần với anh Cả (2). Nhưng khoa đó ông không đậu. Cho mãi đến khoa Tân Sửu (1901), ông mới đỗ Phó bảng. Sau này, con ông là Nguyễn Sinh Côn, học sinh trường Đông Ba và trường Quốc Học cũng được họ Cao Xuân cấp học điền. Gia đình ông Phó bảng có nhiều ân nghĩa với gia đình mình”.

Tôi (Sư bà Diệu Không) có cái tính hay hỏi nên hôm đó đã hỏi ông nhà tôi: “Ai là người Nghệ có chí học hành thì được họ Cao Xuân cấp học điền, chứ có riêng chi cha con ông Tư Sinh mà anh nói nhiều ơn nghĩa?”. Ông nhà tôi không muốn kể nhưng biết tính tôi cứ đeo hỏi nếu chưa được trả lời đầy đủ.

Để khỏi bị “quấy rầy”, ông đã giải thích tiếp: “Năm ấy, ông mình (3) đang chuẩn bị thành lập Bộ Học cho Triều đình thì một hôm, ông Phó bảng từ Nghệ An vào thăm ông.

Ông hỏi Phó bảng: “Chú Bảng vào Kinh làm chi?”

Ông Phó bảng đáp: “Xin thú thật với cụ, từ ngày mẹ các cháu mất, tôi phải nuôi dạy các cháu một mình. Nuôi dạy và thương yêu các cháu cũng là một cách làm vừa lòng mẹ các cháu dưới suối vàng. Tôi không rõ các cháu nghe ai xúi giục, các cháu muốn học chữ Tây. Ngoài quê mình ngặt một điều không có ai dạy và cũng chẳng ai trọng nể việc học chữ Tây, nên tôi phải vào Kinh”.

Ông cười rồi vặn hỏi ông Bảng: “Thế chú có biết dưới mắt người Tây, những người đỗ đại khoa như chú mà không làm quan thì làm chi không?” – Ông Phó bảng ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không tìm được câu trả lời.

Ông mới nói tiếp: “Không làm quan thì làm giặc đó. Đời nào người Tây để cho chú yên để dạy con ở giữa chốn Kinh kỳ này”.

Ông Bảng lo lắng: “Thế cụ bảo cháu phải làm gì?” Ông dạy: “Chú phải làm quan”. Ông Phó bảng phân trần: “Cái đời làm quan vào lòn ra cúi, cháu không muốn!”. Ông bảo: “Thế thì chú không ở đây được”. Ông Bảng van nài: “Thế thì cụ cho cháu một chức quan mà chẳng ai thèm làm để cháu được ở đây!”.

Thế là ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy được bổ làm Tư vụ Học chánh (tùng bát phẩm 7-2) và được đến ở ngay trong nhà của Bộ. Ông Bảng làm Tư vụ nhưng chẳng mấy khi ông chịu làm việc. Suốt ngày ông uống rượu, ngâm thơ và đặt cách ngôn viết lên vách dạy con cái thôi. Quan lại và nhân viên chung quanh ông rất khó chịu trước thái độ của ông. Sở dĩ không ai dám nói ra điều gì vì họ nể ông.

Về sau ông Phan Châu Trinh đi hoạt động cách mạng, bỏ trống chức Thừa biện ở Bộ Lễ lâu ngày, ông Bảng bị chuyển sang điền khuyết. Từ đó ông được Triều đình cấp cho một gian nhà ở dãy trại đường Đông Ba”.

Chuyện kể của Sư bà đã giúp tôi thông tin để viết về chuyện cụ Nguyễn Sinh Huy vào Huế làm quan. Thông tin này chưa từng được phát hiện nên tôi đã phải ghi chép xong rồi đem đọc lại cho Sư bà nghe. Sư bà sửa chữa nhiều lần rồi tôi mới dám đưa vào cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế (Nxb Văn Học tái bản năm 2003).

2. Phật giáo cứu dân

Và Sư bà cũng kể những hoạt động của Phật tử Sài Gòn trước và sau ngày 30/4/1975 để tôi viết báo.

Sư bà dạy tôi:“Kháng chiến lo cứu nước, mình là Phật giáo còn phải hoạt động cứu dân. Không những cứu bớt đổ máu, cứu những đổ nát mà còn phải cứu thoát ra khỏi sự sợ hãi để hưởng thống nhất hoà bình an lạc!

Tôi rất thấm thía lời dạy của Sư bà. Đây không phải là một lời nói, một khẩu hiệu suông mà cả một thực tế rất quý báu. Suốt những năm chiến tranh, sau các cuộc giao tranh diễn ra ở vùng nông thôn, nhiều xác cán bộ, bộ đội du kích cách mạng…không may nằm lại giữa ruộng đồng, dân chúng, và người thân của liệt sĩ ít người dám ra mặt nhận xác về chôn.

Gặp những tình huống như thế, các Khuôn hội Phật giáo chắp tay trước mọi hiểm nguy đứng ra đảm nhận việc chôn cất. Một số nơi còn dựng cả am miếu để thờ người chết trận. Sau chiến dịch Huế xuân 1968, nhiều người Huế bị chính quyền VNCH bắt giam vào lao Thừa Phủ vì bị tình nghi đã cộng tác với Mặt trận Giải phóng.

Đến ngày Rằm tháng bảy năm Mậu Thân (1968), Sư bà Diệu Không tổ chức ngày “Xá tội vong nhân”, đứng ra xin Chính quyền VNCH trả tự do cho hàng trăm tù chính trị chưa xác định được “tội danh” – một trong những người được trả tự do năm ấy là anh Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nếu không được Sư bà “cứu” thì địch đã phát hiện ra Hoàng Phủ Ngọc Phan  một người Cộng sản thứ thiệt ở Huế, và chắc chắn không làm gì còn có nhà báo viết chuyện cười Hoàng Thiếu Phủ sau này. Và, anh của Phan là Hoàng Phủ Ngọc Tường và tôi – ba anh em cùng thoát ly và cùng hoạt động ở chiến khu Huế – khó lòng được yên ổn để đi cho đến tận cùng cuộc kháng chiến cứu nước.

Thời gian cuối tháng 4/1975, Sư bà Diệu Không đang ở Sài Gòn. Ngày nào Phật tử cũng đem đến cho Sư bà những tin tức chiến sự nghe được qua các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội, BBC, VOA…

Sau khi nghe tin vùng cao nguyên và các tỉnh dọc bờ biển miền Trung phần từ Huế vô đến Xuân Lộc đã được giải phóng, đêm 29/4, sân bay Tân Sơn Nhất lại bị pháo kích dữ dội, Sư bà nghĩ thế nào ngày mai Quân giải phóng cũng vào đến Sài Gòn.

Trưa ngày 30/4/1975, Sư bà cho tổ chức các xe phóng thanh chạy khắp thành phố kêu gọi binh lính Sài Gòn bỏ súng. Tại Đại học Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), thanh niên sinh viên Phật tử đeo băng xanh đỏ thiết lập trạm tiếp nhận súng ống bên cạnh các xe tải cắm cờ Ngũ sắc của Phật giáo.

Những binh lính ở xa nhà, lỡ đường có thể vào tá túc trong các chùa Phật. Bà vận động các chùa nấu cơm tiếp tế cho dân chúng đang tham gia công tác trên các đường phố và binh lính Sài Gòn vừa giải giáp. Những việc này chưa hề được ghi lại trong trang sử Giải phóng Sài Gòn 30/4/1975.

Tôi hỏi cảm tưởng của Sư bà trước sự kiện 30/4/1975, Sư bà trả lời bằng một bài thơ ngắn nói về công ơn Hồ Chủ tịch :

Tặng Việt Nam Độc lập

Trăm tám năm rồi mới thấy đây,
Tên Người vang dội cả thời nay.
Non sông là vợ bao tình nghĩa,
Cha của con dân nước Việt nầy.

3. Thơ kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi được Thành ủy Huế mời đóng góp bài cho cuốn sách Bác Hồ trong lòng dân Huế. Trong tay tôi đã có sẵn bài Ba lần được gặp Cụ Hồ của Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã ghi được ngay sau ngày Việt Nam thống nhất, tôi xin bà Tâm Hải Đào Thị Xuân Yến (tức bà Nguyễn Đình Chi), đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu bổ sung thêm bài Vinh dự lớn lao.

Bà Tâm Hải bảo tôi: “Sư bà Thích nữ Diệu Không” rất quý trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên xin gặp bà và đề nghị bà viết cho một bài”.

Tôi thực hiện ý kiến của bà Tâm Hải ngay. Nhưng lúc Sư bà Diệu Không lại đi Thành phố Hồ Chí Minh nên chuyện “xin bài” của Sư bà chưa thành. Sau này có dịp lên thăm Sư bà ở chùa Hồng Ân, tôi kể lại chuyện cũ, Sư bà rất tiếc.

Để chứng tỏ gợi ý của bà Tâm Hải là đúng, Sư bà Diệu Không đứng dậy mở tủ lục trong cặp tư liệu lấy đưa cho tôi bài thơ Kỷ niệm Hồ Chủ tịch 3 khổ, đánh máy trên nửa trang giấy Ronéo vàng rộm và một chùm thơ đánh máy trên giấy pơ-luya mỏng. Chùm thơ 16 bài vừa sáng tác vừa dịch, mang tựa đề Thăng Long ký sự. 

Kỷ niệm Hồ Chủ tịch

Giải phóng quê hương khỏi đọa đày
Chí Người như núi vững không lay.
Tình người như nước lan tràn cả,
Kỷ niệm người như một bậc Thầy.
Bậc Thầy cao cả của non sông
Cùng với Thuyền Sư đôi điểm đồng
Cách mạng tình người về nẻo chánh,
Phá vòng nô lệ thoát lao lung.
Lao lung vì chẳng rõ đường ra,
Dẹp hết ma tâm, sạch giống tà.
Cần kiệm thanh cao nuôi chí lớn,
Lòng thành trong sạch nước Nam ta.

Tác giả không ghi thời điểm sáng tác bài thơ này. Theo văn cảnh và ý tứ trong thơ, có lẽ Sư bà đã sáng tác bài Kỷ niệm Hồ Chủ tịch ngay trong những ngày vui đất nước được giải phóng và thống nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1975.

Đối với chùm thơ Thăng Long ký sự, Sư bà ghi rõ thời gian sáng tác “Mùa thu Bính Thìn 1976”, trong dịp Sư bà đi thăm miền Bắc. Trong 16 bài trong Thăng Long ký sự có hai bài thơ dịch: Bài Cảm thời  của Nguyễn Trãi do cụ Cao Xuân Huy (Giáo sư Bác Cổ Hà Nội) sao lục và bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch do cán bộ Phật giáo Vũ Ngọc Hồng sao lục tặng Bà. Xin trích bài Đi chùa của Hồ Chủ tịch

Sơn trung tiều phu xướng
Thủy thượng khách thuyền quy.
Như thi trung họa họa
Trung thi kỳ họa thi             

Thích nữ Diệu Không dịch,

Chú tiều trong núi hát
Khách Thuyền trên sông về.
Như thơ trong bức vẽ
Bức vẽ trong lời thi

(Mùa thu Bính Thìn 1976).

Trong chuyến đi thăm Thăng Long Hà Nội cuối năm 1976 ấy, bà đã đến viếng nhiều cảnh, nhiều người như Thăm chùa xưa, Thăm tháp Quảng Đức (chùa Hòa Giai Hà Nội), Thăm tháp Bổn Sư Hồ Chủ tịch, Thăm trường Quảng Bá, Đêm thu trên Hồ Tây, Đi thăm mộ.v.v. và đặc biệt, xin trích bài Sư bà đi:

Thăm lăng Hồ Chủ tịch
Dù người còn mất chẳng hề chi,
Thống nhất non sông mới lạ kỳ.
Bất diệt muôn đời đều nhớ rõ,
Những lời di chúc lúc ra đi.

Tâm và ý của Sư bà đối với Hồ Chủ tịch thể hiện đầy đủ trong thơ của Sư bà. Qua đó ta thấy tâm và ý của một Ni trưởng Phật giáo khác với tâm và ý của các nhà yêu nước khác, khác với các vị lãnh đạo cách mạng đối với Hồ Chủ tịch.

Sư bà là một trong những người biết gia đình Bác từ thuở ấu thơ. Sư bà không những viết về sự nghiệp cứu nước của Bác mà Sư bà cùng đồng hành hoạt động yêu nước, yêu dân với Bác. Tuy nhiên, Bác là người đứng đầu Cách mạng Việt Nam, Sư bà là một Ni trưởng của Phật giáo Việt Nam. Sư bà không phải là người của Bác.

Theo Sư bà, Bác Hồ có “đôi điểm đồng” với Phật giáo. Đôi điểm đồng đó là khát vọng “Giải phóng quê hương khỏi đọa đày”, là “Cách mạng tình người về nẻo chánh/ Phá vòng nô lệ thoát lao lung”. Cách mạng Việt Nam đã thỏa mãn được khát vọng của dân tộc. Bác Hồ trở thành “Bậc Thầy cao cả của non sông“. Dân tộc Việt Nam, trong đó đa số là Phật tử “muôn đời đều nhớ rõ” ơn Bác, ơn Cách mạng Việt Nam.

Gác Thọ Lộc (Huế), tháng 12/2007    
bee.net.vn

Chú thích:

1.Sư bà Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh,  sinh năm 1905 (có nơi ghi 1906) em gái út trong gia đình 9 anh chị em con của cụ Hồ Đắc Trung.

Năm 1930, cô Hạnh lập gia đình với Cử nhân Cao Xuân Xang, sinh được một người con trai (Cao Xuân Chuân), hương lửa chưa quá một năm thì phu quân của bà mất vì bệnh lao.

Từ đó, bà lao vào việc từ thiện xã hội, rồi gởi con cho chị nuôi, bà xuất gia đầu Phật với pháp hiệu Thích nữ Diệu Không. Sư bà đã thành lập nhiều chùa Sư nữ ở miền Nam VN, ba ngôi nổi tiếng nhất  Diệu Đức, Hồng Ân, Kiều Đàm ở Huế.

2.Tức Cao Xuân Tiếu (1865-1939)

3.Tức Cụ Cao Xuân Dục thân sinh của Cao Xuân Tiếu và Cao Xuân Xang.

Advertisements

Người bạn linh mục chí cốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh

– Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

“Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”

Những sải chân bước rảo trên con đường dẫn sang núi Hồng, người có tên gọi Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) giục bạn đồng hành: “Bệnh tình của Ông Cụ đã thuyên giảm, sốt cao đã hạ xuống bình thường. Ông Cụ hỏi tôi về tình hình nhân sĩ trí thức của Hà Nội và Bắc Hà đấy, tôi nói cái này không rành, sẽ có đồng chí khác báo cáo. Giờ anh lên, anh tới gặp Ông Cụ đi. Tôi đã trao đổi trước với đồng chí Hưng (Võ Nguyên Giáp) rồi.

Lội qua con suối, hai người tới một cái lán. Khi bước vào, khách trông thấy có Ông Cụ đang ngồi chăm chú đọc một cuốn sổ tay nhỏ. Gầy còm nhưng rắn rỏi, đôi mắt sáng và linh lợi, với chòm râu thưa, mới tiếp xúc lần đầu tiên khách đã nhận ra Ông Cụ cởi mở và giản dị. Với giọng trầm và ấm, từ trong ngực phát ra, Ông Cụ đề nghị khách nói cho nghe tình hình trí thức trong nước.

Giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).Giáo sư, bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951).

Vị  khách đó là Vũ Đình Huỳnh, một nhà hoạt động lâu năm có uy tín lớn trong giới trí thức, công chức, công thương gia, tôn giáo của Hà Nội và Bắc Kỳ nói chung. Khi mặt trận Việt Minh phát hành tờ tín phiếu để quyên góp tài chính của các nhà “hằng tâm hằng sản” có tên và chữ ký của Triệu Hải, Triệu Vân. Triệu Hải là biệt danh của Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) và Triệu Vân là Vũ Đình Huỳnh. Trước ngày khai mạc Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Triệu Hải – Triệu Vân bí mật sắm sửa lễ vật chuẩn bị.

Sau khi nghe Ông Cụ hỏi, ông Vũ Đình Huỳnh đã báo cáo với Ông Cụ những gì ông biết, từ phong trào Cần Vương trở đi, ai còn, ai mất trong Đông Kinh nghĩa thục; Phục Việt là gì, nhóm Thanh Nghị, Tự Lực văn đoàn… và thái độ của từng người đối với Việt Minh và cách mạng dân tộc thế nào…

Ông Cụ nghe chăm chú, thỉnh thoảng mới ngắt lời để hỏi kỹ thêm về một người nào đó như cụ Huỳnh Thúc Kháng; hay cụ Nguyễn Văn Tố tại sao lại gọi là ông Phán Men, có phải vì cụ nghiện rượu. Khi biết cụ Nguyễn Văn Tố hàng ngày đi làm, không đi xe kéo mà chỉ đi bộ, lúc nào cũng cầm ô đi sát đường, đi men tường nên mới thành biệt hiệu ông Phán Men. Ông Cụ cười thành tiếng, giọng cười ấm áp, thư thái và truyền cảm.

Thế còn linh mục Phạm Bá Trực?

Ông Vũ Đình Huỳnh báo cáo để Ông Cụ rõ: Linh mục Phạm Bá Trực sinh năm 1898 tại Bách Nguyên, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Linh mục là một trong những khuôn mặt nổi bật nhất, nổi tiếng là một người yêu nước chống Pháp kiên quyết nhất.

Những năm đầu 1930, sau khi học xong tại Roma – đã đậu bằng Tiến sĩ triết học và Thần học – trở về nước, Linh mục càng thấy rõ hơn ai hết, những cảnh bất công đồng bào mình phải chịu cũng như cả Giáo hội Việt Nam phải chịu. Ai cũng nghĩ Phạm Bá Trực sẽ được phong giám mục, vậy mà giáo chức người Pháp lại đưa về thị xã Hà Đông giữ một xứ đạo nhỏ, chỉ vì Phạm Bá Trực bướng bỉnh chống lại những lề thói phân biệt đối xử giữa các linh mục Tây và Việt Nam. Thấy cố đạo Tây lộng hành, cha mắng. Thấy linh mục người Việt không được phép ăn chung với linh mục Tây, cha chống. Linh mục Phạm Bá Trực chống cả việc linh mục tây vào gặp giám mục thì bắt tay mà linh mục ta thì phải tụt giày, vái lễ. Linh mục Phạm Bá trực có câu nói nổi tiếng: “Đứng trước Chúa, không có sự phân biệt màu da”.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, bốn giám mục Việt Nam lúc đó (hơn 80 năm kể từ khi chính thức xác lập năm 1862, Va-ti-căng chỉ phong phẩm và bổ nhiệm bốn giám mục người Việt Nam) đã gửi hai điện văn cho Toà thánh và tín hữu toàn cầu, đề nghị ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu cử đại biểu Quốc hội lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những nhà tu hành như: Thượng toạ Thích Mật Thể, Chưởng quản Cao Đài Cao Triều Phát, linh mục Phạm Bá Trực…đều trúng cử. Linh mục Phạm Bá Trực, đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Nam, được cử vào Uỷ ban Thường trực rồi Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội.

“Vua Hùng kén rể”

Được sự uỷ nhiệm của Quốc hội, trong “Lời tuyên bố sau khi thành lập Chính phủ mới” – Chính phủ Liên hiệp tháng 11 năm 1946 – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chính phủ mới phải tỏ rõ tinh thần đại đoàn kết, không phân đảng phái… Kết quả là, có những vị có tài năng nhận lời tham gia Chính phủ:  như Cụ Huỳnh, vì tuổi già sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu Cụ, Cụ cũng gắng ở lại. Lại có nhiều vị đứng ngoài sẵn sàng ra sức giúp đỡ: như Cụ Bùi Bằng Đoàn, linh mục Phạm Bá Trực… Dầu ở trong hay ngoài Chính phủ, ai nấy đều hứa sẽ cố gắng làm việc, một lòng vì nước,vì dân…

Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia”.

Nhờ chính sách đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đa số người Công giáo Việt Nam đã tin tưởng đi theo cách mạng. Những ngày đầu kháng chiến gian khổ, giám mục Hồ Ngọc Cẩn (Bùi Chu) đã ủng hộ cả dây chuyền vàng cho chính phủ Việt Minh.

Trong nhiều chức vụ quan trọng của Chính phủ, Quốc hội, người ta thấy có mặt người Công giáo như linh mục Phạm Bá Trực, cụ Ngô Tử Hạ – Thứ trưởng Bộ Cứu tế, luật sư Nguyễn Mạnh Hà – Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế đầu tiên, bác sĩ Vũ Đình Tụng – Thứ trưởng Bộ Y Tế.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949) Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10/1949)

Tại miền Nam có nhà cả 3 linh mục, 2 nữ tu đều theo kháng chiến như gia đình linh mục liệt sĩ Nguyễn Bá Luật. Liên đoàn công giáo kháng chiến Nam bộ đã ra đời sau đó là Uỷ ban liên lạc Công giáo kháng chiến đã tập hợp nhiều tên tuổi như các linh mục Võ Thành Trinh, Hồ Thành Biên, luật sư Nguyễn Thành Vĩnh…

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, các Uỷ viên trong Ban thường trực được phân đi các địa phương ở Liên Khu III, Liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến. Sau đó các uỷ viên tuỳ theo khả năng và yêu cầu mà tham gia hoạt động kháng chiến ở địa phương, như Uỷ ban kháng chiến hành chính, làm phái viên của Chính phủ ở các khu… Cụ Bùi Bằng Đoàn được phân công sát bên cạnh Chính phủ để tiếp tục nhiệm vụ của Ban Thường trực. Cụ Tôn Đức Thắng và linh mục Phạm Bá Trực được mời về cùng Trưởng ban điều hành công việc của Ban.

Sau khi đập tan cuộc tập kích của thực dân Pháp lên chiến khu Việt Bắc với mưu đồ bắt sống toàn bộ Trung ương Đảng và Chính phủ ta, Hồ Chủ tịch quyết định họp Hội đồng Chính phủ để mừng chiến thắng đồng thời vui Tết, đón Xuân Mậu Tý (1948). Phiên họp “tất niên” của Hội đồng Chính phủ diễn ra giữa núi rừng Việt Bắc khi rét đậm tràn về, nhưng các thành viên đều có mặt đông đủ. Trừ ông Đặng Phúc Thông vì ốm, còn các cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban, Linh mục Phạm Bá Trực – Phó Trưởng ban thường trực Quốc hội… là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc, dù tuổi già sức yếu đều tới dự. Có chiến sĩ, có quan thượng thư, có đức linh mục, có trí thức, có Việt minh, những người tóc đã bạc bên những người mái đầu xanh tuổi mới ba mươi… Tất cả cùng chung một ý chí “Tổ quốc trên hết, Kháng chiến trước hết”.

Cuối buổi, anh em phục vụ bưng lên mấy đĩa cam sành Bố Hạ vàng mọng của đặc uỷ đoàn do Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hoè mua về đãi quà Tết. Hội đồng Chính phủ vừa ăn cam vừa nghĩ, đóng góp một trò vui để cùng ăn Tết thật vui vẻ. Cụ Hồ giới thiệu cụ Bùi Bằng Đoàn sẽ mở đầu cuộc vui Xuân mừng chiến thắng…. Sau đó là màn diễn “Vua Hùng kén rể”.

Diễn viên đầu tiên Vở kịch “Vua Hùng kén rể” bước lên sân khấu trong tiếng hò la và vỗ tay rầm rộ của khán giả. Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội, linh mục Phạm Bá Trực, vai vua Hùng lụng thụng trong chiếc áo dạ to xù của lính Pháp mà Quân nhu mới cấp, và chiếc mũ dạ to tướng thường ngày để thay mũ bình thiên. Tiếp đó là Sơn Tinh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp luật sư Vũ Đình Hoè – nhảy ra múa mấy vòng, rồi khuỳnh khuỳnh tay tâu với Vua Hùng về chiến công đuổi được Thuỷ Tinh ra tận ngoài biển.

“Vua Hùng“ vểnh râu lên, khoái trá vuốt, rồi gọi to: “Bớ Mỵ Nương ! Con gái ta, mau mau ra mắt…”. Lời vừa dứt, công chúa choàng chiếc áo ca-pốt cũ của lính lê dương yểu điệu, da trắng nõn, đôi bờ vai hơi rộng, ra trình Vua cha. Khán giả cười lăn, cười bò vì công chúa có râu lún phún đó là luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế. Vua cha, chàng rể, công chúa cùng nhau ôm bụng cười… Cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban ôm chặt lấy cụ linh mục Phó ban của mình, đấm thùm thụp vào lưng và nói: “Giỏi quá! Giỏi quá! Thật là vui như Tết, vui hơn Tết!”.

Linh mục Phạm Bá Trực là một người yêu nước, kính Chúa. Được gặp Cụ Hồ, do sức cảm hóa đặc biệt của Người, Cụ Trực đã kiên quyết một lòng đi theo cách mạng và kháng chiến.

Là  Phó trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I, Cụ Trực được mời tham dự các phiên họp của Hội đồng Chính Phủ do Cụ Hồ chủ trì. Nhiều buổi họp khuya, Cụ thường được ở lại cùng Cụ Hồ.

Có  lần, dưới ngọn đèn khuya Cụ Trực ngồi yên lặng, ngắm Cụ Hồ làm việc, cảm thấy Cụ Hồ như là hiện thân của Chúa, mang đức độ nhân từ, bác ái, vị tha của một bậc thánh, Cụ Trực bỗng thốc lên: “Vous – êtes surnaturel!” (Người đúng là siêu nhiên!). Cụ Hồ mỉm cười, phủ nhận: “Non, nous sommes contre – naturel!”.

Bài điếu văn do Bác Hồ viết

Kháng chiến chín năm, Hồ Chủ tịch nhiều lần rơi lệ  khóc những bậc tài đức đã ra đi mà chưa  được nhìn thấy nước nhà độc lập. Đầu năm 1947, Người gửi điện văn vào Trung Bộ khóc cụ  Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nôi vụ, Đặc phái viên của Chính phủ kinh lý miền Trung đã từ trần ngày 21/4/1947. Buổi khai mạc phiên họp tất niên 1947 của Hội đồng chính phủ giữa núi rừng Việt Bắc, Hồ Chủ tịch đã bật khóc nhắc tới cụ Nguyễn Văn Tố – vị Bộ trưởng cứu tế xã hội trong Chính phủ lâm thời, Trưởng ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ, hy sinh khi Pháp tấn công lên Việt Bắc ngày 7/10/1947. Năm 1951, cụ Hồ Tùng Mậu, một người bạn thân thiết nữa của Hồ Chủ tịch ngã xuống. Lần này…

Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, Hiệp định Giơnevơ đã ký kết, miền Bắc được giải phóng, Chính phủ sắp trở về Thủ đô. Nhưng cuộc sống vất vả trong chiến khu vắt kiệt sức và cụ linh mục Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội đã tạ thế hồi 12 giờ 55 phút ngày 5 tháng 10 năm 1954 hưởng thọ 56 tuổi. Lại thêm một đêm Người thức trắng, từng dòng lệ rơi trên trang giấy đọng lại trong lời ai điếu. Viết xong điếu văn, không thể đến nổi nơi hành tang cụ linh mục Phạm Bá Trực, Hồ Chủ tịch dặn ông Vũ Đình Huỳnh: “Chú vốn là đạo hữu của cụ linh mục. Chú thay mặt tôi đặt vòng hoa lên mộ phần cụ…”

Hồi 9 giờ 30 ngày 7 tháng 10 năm 1954 lễ an táng linh mục Phạm Bá Trực được tổ chức tại nhà thờ An Huy, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (Theo Thông cáo của Uỷ ban Thường trực Quốc hội – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vòng hoa viếng kèm lời điếu. Người phải cậy nhờ Bộ trưởng Phan Anh thay mặt Người đọc lời điếu:

“Tôi xin thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Cụ.

Từ  ngày nhân dân tin cậy cử  Cụ làm đại biểu Quốc hội và Quốc hội cử Cụ vào Ban thường trực, Cụ đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chính phủ trong mọi vấn đề quan trọng. Trong mọi việc, Cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy, với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt nam.

Nay Cụ mất đi, Chính phủ và nhân dân vô cùng thương xót.

Trong lúc ốm nặng Cụ thường nói với tôi: Mong trông thấy kháng chiến thắng lợi thì dù chết Cụ cũng thoả lòng.

Nay hoà bình đã trở lại Cụ đã thoả lòng.

Nhưng tiếc rằng Cụ không còn nữa để giúp nước, giúp dân.Với lòng vô cùng thương tiếc một nhà tận tuỵ ái quốc và một người bạn thân mến, trước linh hồn Cụ, chúng tôi nguyện kiên quyết một lòng, đoàn kết toàn dân để làm tròn sự nghiệp mà suốt đời Cụ mong muốn là: củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn nước Việt Nam yêu quí của chúng ta.

Hồ  Chí Minh”.

Ngày 28/11/2009 tại Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên và Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tổ chức Hội thảo Khoa học “Linh mục Phạm Bá Trực và đường hướng Công giáo đồng hành cùng dân tộc trong thời kỳ Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)”.

Trong tham luận “Một số tư liệu về linh mục Phạm Bá Trực (1946-1954): Giới thiệu, đính chính, những vấn đề cần làm rõ”, Thạc sĩ Ngô Quốc Đông công tác tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) có nhắc đến một thực tế hiện nay là hình ảnh về linh mục Phạm Bá Trực rất hiếm thấy. Anh có dẫn ra 5 tấm ảnh từ năm 1946 đến khi linh mục qua đời (1954).

Để kết thúc bài viết này, tôi xin đăng kèm hai tấm ảnh về linh mục Phạm Bá Trực tại Chiến khu Việt Bắc. Tấm thứ nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhân sĩ, trí thức trong chiến khu Việt Bắc (tháng 10 năm 1949); tấm thứ hai là giáo sư bác sĩ Hồ Đắc Di hỏi thăm sức khỏe linh mục Phạm Bá Trực (năm 1951). Còn một số ảnh khác, trong đó có ảnh chân dung kèm bút tích của linh mục Phạm Bá Trực xin hẹn vào một dịp khác.


Kiều Mai Sơn
bee.net.vn

“Tìm người tài đức”

 –  Một bài báo, đúng hơn là một bản thông báo “Tìm người tài đức” ký tên “Chủ tịch Chính phủ Việt Nam-Hồ Chí Minh” đăng trên báo Cứu Quốc” ngày 20/11/1946.

Nội dung bản thông báo như sau: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”. 

dBác Hồ năm 1946.

Cách đó hơn 1 năm, ngày 14/11/1945, báo “Cứu Quốc” đăng bài “Nhân tài và Kiến quốc” ký tên Hồ Chí Minh với lời kêu gọi: “Sau 80 năm bị bọn thực dân Pháp giày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là cao quý. Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái đó vào đường kiến quốc. Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kiến quốc có chắc thành công thì kháng chiến mới mau thắng lợi.  Kiến thiết thì phải có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều.

Chúng ta cần nhất bây giờ là: Kiến thiết ngoại giao – Kiến thiết kinh tế – Kiến thiết quân sự – Kiến thiết giáo dục. Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành”. Để tập hợp nhân tài, Bác đề nghị cử ra một Ban cố vấn cho Chủ tịch gồm 10 người trong đó có: Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, giám mục Lê Hữu Từ, Bùi Bằng Đoàn, Ngô Tử Hạ, Lê Tạ, Bùi Kỷ…

Muốn phát động quần chúng cho tốt thì trước hết cán bộ công đoàn phải guơng mẫu, phải được phát động trước thì công nhân mới động…Phải tin vào sáng kiến và lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, nếu không thì phát mấy cũng không động”. Lời căn dặn của Bác khi đến thăm Trường Cán bộ Công đoàn ngày 20/11/1958.

X&N
bee.net.vn

“Tôi là người học trò nhỏ của Tônxtôi vĩ đại”

– Một hôm, một bạn cùng nghề đưa cho tôi một cuốn truyện nhỏ của Tônxtôi…”.

“Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường/ Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương/ Giận kẻ gian kia gây cách biệt/ Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương”.

Đó là bản dịch (của nhà thơ Nam Trân) bài thơ chữ Hán “Ngụ đinh thiết ngã chi sĩ đích” (Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy của ta) mà Bác sáng tác trong thời gian bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa cầm giữ. Bài thơ được sáng tác vào ngày 19/11/1942 trong tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù).

“Quân đội ta là quân đội của nhân dân, cho nên nhân dân rất thương yêu quân đội…Vì đồng bào muốn cho quân đội của mình gương mẫu về mọi mặt không những chiến đấu dũng cảm mà lại có thái độ nghiêm trang…Vậy rất mong các đồng chí chiến sĩ và cán bộ ta hết sức cẩn trọng trong mọi cử chỉ, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác!” là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Nhân dân với Quân đội” đăng trên báo “Quân đội Nhân dân” ngày 19/11/1954.

Ngày 19/11/1955, Bác dự lễ khai giảng trường Đại học Nhân dân, lớp bồi dưỡng chính trị ở Hà NộiNgày 19/11/1955, Bác dự lễ khai giảng trường Đại học Nhân dân, lớp bồi dưỡng chính trị ở Hà Nội

Ngày 19/11/1960, báo “Văn học Xô viết” đăng bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của đại văn hào Nga L.N.Tônxtôi” trong đó tác giả “xin kể chuyện tôi trở thành người học trò của nhà văn Nga vĩ đại như thế nào?”…

“Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, tôi làm thợ sửa ảnh ở Pari. Hàng ngày tôi đến xưởng, chiều tối tham gia các buổi họp của Đảng hoặc dự mít tinh của công nhân. Cuối ngày làm việc, tôi đọc vài trang tiểu thuyết để trau dồi tiếng Pháp và giải trí một chút. Một hôm, một bạn cùng nghề đưa cho tôi một cuốn truyện nhỏ của Tônxtôi…”.

Từ đó tôi rút ra kết luận: Sự chỉ trích đạo đức phong kiến. Cách viết của Tônxtôi  rất giản dị, rõ ràng và dễ hiểu, làm tôi rất thích Tuổi trẻ bồng bột, tôi nhảy vùng dậy khỏi giường, mặc dù mùa đông rất lạnh, nhất là trong căn phòng bé nhỏ của tôi lại không có lò sưởi. Tôi nói to: “Viết một cuốn truyện ngắn chẳng có gì là khó. Mình cũng có thể viết được”…

Mỗi ngày tôi phải viết từ năm đến sáu giờ rưỡi sáng, là vì bẩy giờ tôi phải đến xưởng. Thường thường ngón tay tôi tế cóng lại. Sau một tuần vất vả tôi đã viết xong tác phẩm của mình…Các đồng chí nghĩ xem tôi vui mừng xiết bao, khi mấy ngày sau, mở xem báo buổi sáng, tôi thấy có đăng tác phẩm của tôi, tác phẩm yêu quý của tôi… các đồng chí có cho rằng tôi có quyền nói tôi là người học trò nhỏ của nhà văn vĩ đại Tônxtôi không?”.

X&N
bee.net.vn

“Nghệ thuật đánh địch của Việt Nam rất độc đáo”

–  Đây là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa… Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêmkhiết, công bình của các giai cấp”. Phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, ngày 9/11/1946 nhân sự kiện Quốc hội thông qua Hiến Pháp đầu tiên.

“Gặp hoàn cảnh khó khăn hơn, kẻ địch mạnh hơn ta mà tổ tiên ta, với sự lãnh đạo của ông Trần Quốc Tuấn đã đánh thắng giặc Nguyên, đã để lại cho chúng ta một nước tự do, độc lập. Thì ngày nay chúng ta quyết noi theo tinh thần quật khởi ấy, quyết đánh tan giặc Pháp, quyết tranh lại thống nhất và độc lập thực sự cho Tổ quốc ta… Luyện tập thân thể cho mạnh mẽ. Nghiên cứu kỹ thuật cho thông thạo. Trau dồi tinh thần cho vững chắc. Hun đúc đạo đức của người quân nhân cách mạng cho vững vàng…”. Trích thư của Bác gửi Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn  ngày 9/11/1949 nhân khai giảng khoá học mới.

c “Gửi họ Nguyễn Sinh. Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi xin chịu tội “bất đễ” trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”. Nội dung bức điện văn ký ngày 9/11/1950 của Bác gửi từ Chiến khu Việt Bắc gửi cho dòng họ “Nguyễn Sinh” sau khi nhận đuợc tin anh trai là ông Nguyễn Sinh Khiêm đã qua đời tại quê nhà.

“Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử; trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm ấy trước hết là các chú” và căn dặn: “Nghệ thuật đánh địch của Việt Nam rất độc đáo. Vũ khí trong tay người Việt Nam dù thô sơ cũng giành được hiệu suất cao. Phải phát huy cách đánh truyền thống của ta. Không ngại không quân địch hiện đại. Hãy bắt chước chiến sĩ đồng bào miền Nam, nắm thắt lưng địch mà đánh”. Lời dộng viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm Trung đoàn Không quân 921, Đoàn Sao Đỏ anh hùng, ngày 9/11/1964.

X&N
bee.net.vn

“Nhân dân Việt Nam rất quý trọng nhân dân Mỹ”

 – Ngày 8/11/1966, báo “Nhân Dân” đăng “Thư trả lời một công dân Mỹ”.

Trong lá thư gửi ông Gíptơcnơ, một công dân bang California đã gửi thư cho người đứng đầu nhà nước Việt Nam, Bác viết: “Tôi rất cảm động khi đọc thư ông. Đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam đã gây nên những tội ác hết sức dã man đối với nhân dân đất nước chúng tôi. Chúng đã bôi nhọ danh dự nước Mỹ và làm cho nhân dân Mỹ phải chịu nhiều tổn thất nặng nề. Tôi rất hiểu nỗi đau buồn của ông cũng như của nhân dân lương thiện Mỹ… Nhân dân Mỹ có truyền thống yêu chuộng công lý, tự do và hoà bình. Nhân dân Việt Nam rất quý trọng nhân dân Mỹ đang đấu tranh cho các quyền dân chủ và chống chiến tranh xâm lược Việt Nam”.

Trước đó, trong lời “Hô hào nhân dân chống nạn đói” đăng rên báo “Cứu Quốc”ngày 8/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác viết: “Cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm, ta nhất định thành công, vì đồng bào ta ai cũng sẵn lòng hăng hái. Nhưng các bạn phụ trách các địa phương phải biết cách tuyên truyền, biết cách giải thích cho ai nấy đều hiểu rõ, đều thực hành. Các bạn phải có sáng kiến để tìm ra cách làm được việc mà không mất lòng dân. Nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”.

d Một bức tranh khắc gỗ chân dung Bác thời kháng chiến chống Pháp.

“Không riêng gì ở nước ta, mà ở các nước khác cũng vậy, hình như sự không đủ ăn là số phận chung của các giáo viên. Khi nào tài chính dồi dào, Chính phủ phải nghĩ ngay đến giáo viên là những người từ tầng dưới đến tầng trên, lãnh trách nhiệm đào tạo nhân tài cho Tổ quốc. Trong lúc này, về quyền lợi, Chính phủ chưa làm thoả mãn giáo viên, nhưng về nhiệm vụ đòi anh chị em cùng sống trong một nhà, chúng ta chẳng còn lạ gì nhau, chúng ta phải chịu khổ gánh vác với nhau công việc chung”. Lời chia sẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tiếp Liên đoàn giáo giới Việt Nam ngày 8/11/1946.

X&N
bee.net.vn

Bác với tấm Huân chương Lênin

 “Nhân ngày Quốc khánh của quý quốc, một ngày vui mừng chung của tất cả nhân dân lao động trong thế giới, tôi kính thay mặt nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi lời sốt sắng chúc mừng Ngài, Chính phủ cùng nhân dân Liên Xô…”

Đây là bức điện văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Nguyên soái Xtalin ngày 6/11/1950 nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga và cũng là văn kiện đầu tiên Bác gửi tới Chính phủ Liên Xô kể từ sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới.

Tranh cổ động về Đoàn kết Việt-Xô-Trung trong kháng chiến chống Pháp.Tranh cổ động về Đoàn kết Việt-Xô-Trung trong kháng chiến chống Pháp.


“Đi nhưng phải tự nguyện, không ép buộc. Đi, nhưng phải sống như người nông thôn chứ đi theo kiểu làm khách là không được. Không để lao động quá sức, nhưng cũng nên thử để thấy người nông dân khổ như thế nào, khoẻ như thế nào”.

Đó là ý kiến của Bác tại buổi họp của Bộ Chính trị ngày 6/11/1962 bàn về việc chỉ đạo nội dung Đại hội Văn nghệ sắp tổ chức.

Nhận xét về tình hình văn nghệ, Bác nói: “…Không có cách mạng, không có kháng chiến thì không có văn nghệ như bây giờ… Hướng dẫn khen, phê bình phải cho đúng đắn, có cái phải nghiêm khắc. Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời , “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục… Văn chương phải hùng hồn, tình cảm phải sâu sắc, lý lẽ cho đích xác…”.

Ngày 6/11/1967, Bác gửi điện cảm ơn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô nhân dịp Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô quyết định tặng Huân chương Lênin,  nhưng bày tỏ ý nguyện: “Lúc này giặc Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Tổ quốc Việt Nam chúng tôi. Chúng đang giết hại một cách cực kỳ dã man hàng vạn đồng bào tôi ở miền Nam cũng như ở miền Bắc.

Toàn quân và toàn dân Việt Nam chúng tôi đang phải hy sinh xương máu để đánh Mỹ, cứu nước. Trong lúc đó riêng tôi lại được vinh dự đặc biệt to lớn là nhận Huân chương Lênin thì lòng tôi không yên chút nào.

Vì lẽ đó, tôi vô cùng cảm ơn các đồng chí, nhưng xin các đồng chí hãy tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại.

Kính gửi các đồng chí lời chào cộng sản”.

X&N
bee.net.vn

“Hồ Chí Minh không phải là kẻ ham quyền cố vị”

 “Hồ Chí Minh không phải là kẻ ham quyền cố vị” – Đây là phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 31/10/1946, tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I sau khi được Quốc hội  nhất trí uỷ quyền thành lập Chính phủ.

“Lần này là lần thứ hai Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ ham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.

Ngày 31/10/1955, Bác thăm hội nghị các Đoàn uỷ Cải cách ruộng đấtNgày 31/10/1955, Bác thăm hội nghị các Đoàn uỷ Cải cách ruộng đất

Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam. Tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết… phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích, trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà…”

Ngày 31/10/1949, bài báo “Rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm” của Bác đăng trên báo “Sự Thật” có nội dung:

“Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm. Kinh nghiệm riêng của từng cán bộ địa phương. Kinh nghiệm chung của tất cả các cán bộ và các địa phương. Kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công. Rồi tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm ấy cho khắp tất cả cán bộ, tất cả địa phương.

Mỗi cán bộ, mỗi địa phương sẽ học những kinh nghiệm hay; tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới. Như vậy khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm, công việc sẽ rất mau tiến bộ”.

“Cách đây độ 100 năm, Các Mác đã nói: Người cộng sản hiểu biết thiên nhiên để buộc thiên nhiên phục vụ hạnh phúc loài người và hiểu biết xã hội để cải tạo xã hội cũ, xấu xa, thành một xã hội mới tốt đẹp…Lời nói ấy đã thực hiện dần dần…”.

Quan điểm của Bác thể hiện trong bài viết “Hoan hô thắng lợi vẻ vang của khoa học Liên Xô vĩ đại” đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 31/10/1959 nhân sự kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh chụp ảnh mặt trăng.

X&N
bee.net.vn

“Mình vì mọi người và mọi người vì mình”

 “Chúng ta chớ thấy thắng lợi mà kiêu căng, chủ quan khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng: trong cuộc trường kỳ kháng chiến thì thắng lợi này chỉ mới là một bước đầu. Chúng ta còn phải đánh và phải thắng nhiều trận gay go hơn, to tát hơn nữa mới đi đến thắng lợi hoàn toàn”.

Đó là “Lời khuyên nhủ các chiến sĩ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đăng trên báo “Nhân Dân” ngày 30/10/1950 sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới. Về thắng lợi này, theo  tác giả phân tích “Thắng lợi thứ nhất, chúng ta đã tiêu diệt địch và giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Thắng lợi thứ hai là ta đã thấy rõ những ưu điểm và khuyết điểm của ta”.

Bức ảnh chụp chung của Bác Hồ, ông NikitaKruschev và ông MaoTrạch Đông ngày 30/10/1959Bức ảnh chụp chung của Bác Hồ, ông NikitaKruschev và ông MaoTrạch Đông ngày 30/10/1959

Trao đổi cùng thầy trò Trường Mỹ Nghệ Việt Nam cũng trong ngày 30/10/1958, Bác nói về tư tưởng xã hội chủ nghĩa: “Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là phải vì tất cả mọi người trong xã hội mà làm việc mà phục vụ, bởi vì xã hội đã nuôi dạy mình. Thế là mình vì mọi người, mọi người vì mình. Toàn tâm, toàn ý phục vụ chủ nghĩa xã hội. Đó là bên sáng. Bên tối là tư tưởng cá nhân chủ nghĩa với những biến chứng như quan liêu, lãng phí, tham ô… Hai bên bao giờ cũng xung đột nhau, một mất một còn. Phải trau dồi tư tưởng xã hội chủ nghĩa đến khi nào bên sáng thắng hẳn bên tối”.

Cùng ngày, Bác tham dự Hội nghị Cán bộ Văn hóa. Bài phát biểu của Bác nêu rõ: “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra …Cán bộ văn hoá nói riêng, cũng như tất cả cán bộ chúng ta nói chung phải rèn luyện tư tưởng, chính trị, ý chí phấn đấu và tinh thần trách nhiệm… Muốn thật sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm mới biết sinh hoạt của quần chúng như thế nào, mới biết khó khăn, mới biết ý chí của quần chúng như thế nào, mới biết nguyện vọng quần chúng như thế nào”.

X&N
bee.net.vn

“Quyết chiến đến giọt máu cuối cùng”

– “Quân Pháp nấp đuôi bọn quân đội Anh đang tàn sát đồng bào ta trong xứ. Ở Mỹ Tho, ở Tân An, ở Biên Hoà, Nha Trang, quân Pháp đã xâm phạm đến nền độc lập của chúng ta. Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu. Đồng bào trong Nam, trong một tháng nay, đã tỏ tinh thần vững chắc, hùng dũng, đáng làm gương cho lịch sử thế giới.

Ngày nay, trước tình trạng khó khăn, toàn thể quốc dân Việt Nam hồi hộp theo cuộc chiến đấu ở Nam Bộ. Mặc dầu quân Pháp có đủ khí giới tối tân, tôi biết chắc không bao giờ chúng cướp được nước ta đâu. Từ Nam chí Bắc đồng bào ta luôn lôn sẵn sàng. Mấy triệu người như một, quyết tâm đánh tan quân cướp nước. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc. Nhưng thời cuộc càng khó khăn chừng nào, tôi chắc rằng tinh thần anh chị em càng cương quyết hơn chừng ấy. Trước nạn ngoại xâm, toàn thể quốc dân đã đoàn kết chặt chẽ thành một khối kiên cố, thành một lực lượng thống nhất mà không đội xâm lăng nào đánh ta được”. Trích “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 29/10/1945, hơn một tháng sau khi Nam Bộ kháng chiến.

c29/10/1966 HCM đọc diễn văn chào mừng đoàn đại biểu CP Cộng hòa Cu Ba thăm VN.

Ngày hôm sau, Bác dành một lời kêu gọi riêng cho “Thanh niên Nam Bộ: “Đã hơn một tháng nay, anh chị em đã phấn đấu cực kỳ anh dũng. Toàn thể đồng bào Việt Nam đều cảm động. Tuy máu đã đổ nhiều, nhưng tôi chắc và toàn thể đồng bào cũng chắc rằng anh chị em thanh niên Nam Bộ quyết hy sinh kháng chiến để giữ vững nền độc lập của nước nhà. Trong cuộc chống xâm lăng này, các bạn là bức Vạn Lý Trường Thành vững chắc. Các bạn phải thống nhất mặt trận thanh niên, đoàn kết, nêu cao tinh thần tin tưởng ở sức mạnh của dân tộc. Những gương hy sinh anh dũng của các bạn đã làm cho toàn thể đồng bào thêm kiên quyết. Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ! Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam… Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.

X&N
bee.net.vn

Bác trả lời chất vấn của các ĐBQH

 Chính tại kỳ họp này trong phiên chất vấn Chính phủ, một số đại biểu của các đảng đối lập đưa ra yêu cầu xem xét lại quốc kỳ và đòi thay đổi, người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên tiếng một cách đanh thép.

“Ông Nguyễn Văn Tạo, đại biểu Quốc hội tỉnh Rạch Giá  vừa ở Nam Bộ mới ra phát biểu ý kiến. Sau khi trình bày tình hình kháng chiến ở Nam Bộ, ông kêu gọi:

“Đồng bào Nam Bộ đoàn kết, sẵn sàng tin tưởng vào vị Cha già thì một ngày mai lá cờ đỏ sao vàng sẽ trở lại phất phới toàn cõi Nam Bộ”. Khi ông Tạo ở diễn đàn bước xuống, Hồ Chủ tịch bắt tay rồi ôm lấy ông hôn, nước mắt của Hồ Chủ tịch lăn trên gò má, nhiều người bùi ngùi ứa lệ”.

Đó là mô tả phiên họp ngày 28/10/1946 của kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I, với sự bổ sung của 70 đại biểu của các tổ chức đảng phái chống đối Việt Minh như VN Quốc dân đảng, Đại Việt, Việt Nam Cách mạng Đảng…

 Chủ tịch Hồ Chí Minh bên lá cờ tổ quốc, ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946Chủ tịch Hồ Chí Minh bên lá cờ tổ quốc, ảnh do một sĩ quan Anh chụp đầu năm 1946

Chính tại kỳ họp này trong phiên chất vấn Chính phủ, một số đại biểu của các đảng đối lập đưa ra yêu cầu xem xét lại quốc kỳ và đòi thay đổi, người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên tiếng một cách đanh thép:

“Chính phủ không bao giờ dám thay đổi quốc kỳ, chỉ vì một vài người trong Chính phủ  đề nghị viêc ấy lên, nên Chính phủ phải để qua Ban Thường trực Quốc hội xem xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ sao vàng đó nhuộm bao nhiêu máu chiến sĩ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Âu sang Á, tới đâu cũng đuợc chào kính cẩn. Bây giờ trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ra không ai có quyền gì mà thay đổi nó”.

Nhận xét chung về những vấn đề các đại biểu chất vấn, Chủ tịch Hồ Chi Minh phát biểu: “Chính phủ hiện thời mới thành lập được hơn một năm  hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng lại còn thanh niên hơn nữa. Vậy mà Quốc hội đã đặt những câu hỏi thật già dặn, sắc mắc khó trả lời, đề cập tới tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập?”.

“Không được xem nhẹ chính sách giá cả và ổn định giá cả, phải đẩy mạnh việc chống  tham ô, lãng phí, phải củng cố các chi bộ cơ sở, công tác xây dựng kế hoạch tài chính phải dựa trên nguồn vốn tự có trong ngân sách, không thể làm tuỳ tiện và phải chú ý thực hành tiết kiệm ở tất cả các ngành” – Ý kiến của Bác tại cuộc họp của Bộ Chính trị ngày 28/10/1958, bàn về vấn đề kinh tế và tài chính

Ngày 28/10/1963, dự khai mạc kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khoá II và đón tiếp Đoàn đại biểu Hội Lao động giải phóng miền Nam Viêt Nam, Bác bày tỏ tình cảm đối với miền Nam ruột thịt khi tặng hoa và ôm hôn thắm thiết Trưởng đoàn Trần Văn Thành sau khi phát biểu tại diễn đàn Quốc hội.

X&N
bee.net.vn

“Quyết giữ độc lập bằng mọi giá”

– Trong cuộc họp báo ngày 27/10/1945 về đường lối quốc tế của Nhà nước Việt Nam độc lập, Bác nói: “Đoàn kết toàn dân – quyết tâm vì chính nghĩa, quyết giữ độc lập bằng mọi giá”.

Ngày 27/10/1946, Bác tiếp đoàn đai biểu Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Nội dung cuộc gặp được thể hiện trên báo “Cứu Quốc” dưới một hệ thống quan điểm:

“1. Ở thế giới, công nhân nước nào có tổ chức mạnh thì được địa vị hơn; nếu tổ chức yếu thì địa vị kém;

2. Các công đoàn Việt Nam phải là một tổ chức đơn giản, vững vàng;

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên chiến khu của cuộc kháng chiến chống thực dân PhápChủ tịch Hồ Chí Minh trên chiến khu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

3. Công đoàn có nhiệm vụ giữ gìn quyền lợi cho công nhân và giúp cho Chính phủ trong việc xây dựng nước;

4. Chính phủ Việt Nam là một chính phủ dân chủ, sẽ hết sức giúp đỡ về tinh thần cho Công đoàn. Bộ Luật Lao động Việt Nam sẽ nhận cho công nhân Việt Nam có quyền tự do tổ chức, quyền tự do bãi công. Luật lao động sẽ ấn định giờ làm, tiền công, bảo vệ đàn bà, người già và trẻ con;

5. Viên chức và công nhân đều là những người phải làm mới có ăn;

6. Ở Nam Bộ không những là công nhân có quyền tổ chức mà tất cả các tầng lớp nhân dân đều có quyền tự do tổ chức và các quyền tự do dân chủ khác”.

X&N
bee.net.vn