Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam:

 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi báo chí là thứ vũ khí sắc bén để động viên, giáo dục quần chúng và chiến đấu với kẻ thù. Động lực làm cho ngòi bút báo chí của Người ngày càng sắc bén, linh hoạt chính là sự giác ngộ từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa quốc tế vô sản. Vì mục đích rõ ràng nên Bác không ngừng rèn luyện cách viết, không ngừng nâng cao trình độ. Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên Tâm địa thực dân, khoảng tháng 7.1919 đến tác phẩm cuối cùngThư trả lời Tổng thống Mỹ(đăng trên báo Nhân dân số 25.8.1969) thì trong 50 năm hoạt động liên tục, Người đã viết hơn 2.000 bài báo các loại, ở hàng trăm tờ báo. Hồ Chí Minh cũng đã sáng lập 9 tờ báo: Người cùng khổ (Le Paria, năm 1922), Quốc tế nông dân(1924); Thanh niên(1925); Công nông(1925); Lính Kách mệnh(1925); Thân ái(1928);Đỏ (1929), Việt Nam độc lập(1941); Cứu quốc(1942), Hồ Chí Minh đã sử dụng khoảng 150 bút danh bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hoa, tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác.

Ngày 20.9.1919, Nguyễn Ái Quốc (dường như) đã có lần trả lời phỏng vấn đầu tiên, với báo Yiche Pao, xuất bản tại Thiên Tân, Trung Quốc. Đó là cuộc trao đổi giữa Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, một đại biểu của Triều Tiên là Tchong Wen và một phóng viên người Mỹ tại nhà phóng viên này. Phóng viên hỏi: “Ông đến Pháp với mục đích gì?”. Đáp: “Để đòi những tự do mà chúng tôi phải được hưởng”. Khi được hỏi về những hoạt động từ khi đến Pháp, Nguyễn Ái Quốc cho biết: “Ngoài việc vận động các thành viên Nghị viện, tôi đã tìm cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng Xã hội tỏ ra ít thỏa mãn với các biện pháp của Chính phủ và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi. Về hoạt động của chúng tôi ở các nước khác, lính ở nước ông (Mỹ) chúng tôi có nhiều thành công hơn”.  Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã có ý thức rõ ràng về việc sử dụng báo chí làm công cụ tuyên truyền, tác động đến các tầng lớp, các giới để phục vụ cho nhiệm vụ chính của mình là đấu tranh vì nền độc lập, tự do cho dân tộc mình.

Nguyễn Ái Quốc có cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên Giovanni Germaneto, đăng trên báo L’ Unità của Đảng Cộng sản Ý ngày 15.3.1924. Lúc này, Nguyễn Ái Quốc đang học tại Trường Đại học Phương Đông ở Moscow. Trong bài trả lời phỏng vấn ít nhiều có tính cởi mở này, Nguyễn Ái Quốc đã nói nhiều về mục đích học tập và tình hình học tập, ăn ở của các sinh viên tại trường. Trả lời câu hỏi “Khi học xong, anh dự định làm gì”, Nguyễn Ái Quốc đáp: “Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế cho mẫu quốc Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật nhất là như thế này: chúng tôi là những người bị đô hộ, như đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. Ở nước Nga, “cái nước của những người dã man” – giai cấp tư sản dân chủ gọi các đồng chí Nga như thế – chúng tôi có đầy đủ những quyền như công dân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi do Xô Viết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy sự đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ công nhân đối với chúng tôi! Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hóa” các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều người còn rất trẻ đã có một trình độ mácxít ít có thể tưởng tượng là có thể có được vào độ tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các dân tộc thuộc địa tùy thuộc vào sự tuyên truyền, tinh thần hy sinh của chúng tôi. Ở phương Đông, từ Syria đến Triều Tiên, tôi chỉ nói đến các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm dưới ách thống trị của đế quốc tư bản chủ nghĩa. Các dân tộc ở đó không bao giờ ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị quyết của phái dân chủ xã hội tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến đâu cũng không có sức nặng”. Trong bài phỏng vấn khá dài này, Nguyễn Ái Quốc đã tỏ rõ quan điểm chính trị về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa, đó là không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc cũng ít nhiều cảnh báo tinh thần cải lương, thỏa hiệp của một số người đối với những người thuộc giai cấp dân chủ tư sản.

Sau khi trở thành Chủ tịch Nước, là một nhà báo có nhiều kinh nghiệm, Hồ Chí Minh tôn trọng và có mối quan hệ rất tốt đẹp với các nhà báo. Chỉ tính từ ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, cho đến ngày qua đời, Người đã có khoảng 150 cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, trả lời phỏng vấn với các nhà báo. Ngay ngày 7.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã có buổi tiếp các phóng viên báo chí trong nước. Trả lời câu hỏi của các nhà báo về tiểu sử và hoạt động cách mạng của mình, Người nói: “Từ khi ra đời, tôi đã thấy nước mình là nô lệ. Không muốn sống cảnh nô lệ nữa, ngay từ thuở niên thiếu, tôi đã đấu tranh để giải phóng đất nước. Có lẽ đó là công lao duy nhất của tôi”. Nội dung của cuộc gặp gỡ này đã được đăng tải trên tạp chí Tri Tân số 205, ngày 20.9.1945 và báo La République số 9, ngày 2.12.1945.

Đối với Hồ Chí Minh, tiếp xúc với báo chí là một cách để giới thiệu đường lối, chủ trương đúng đắn của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Qua đó, lên án chính sách hiếu chiến của kẻ thù, sự phá hoại của các thế lực chống phá. Người đã gặp gỡ, tiếp, thăm, trả lời phỏng vấn (cả trực tiếp và qua điện tín) của phóng viên nhiều nước trên thế giới, cả Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Ý, Ấn Độ, Indonesia, Uruguay, sau này còn có Cuba, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary… tất nhiên có cả các nhà báo trong nước. Bên cạnh nhiều trường hợp các nhà báo xin được gặp Bác để phỏng vấn  thì cũng không ít lần Người đến tòa soạn thăm hoặc mời các phóng viên đến để thông tin. Thái độ của Người đối với các nhà báo là cởi mở, thân tình và cũng hết sức khéo léo.

Cuối tháng 10.1945, trả lời các nhà báo về thái độ hiện thời của Chính phủ Việt Nam đối với Trung Hoa và Pháp, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nước Việt Nam được thắng lợi trong sự độc lập, thì sự thắng lợi ấy sẽ làm một điều lợi cho Trung Hoa. (…) Trung Hoa và Việt Nam có quan hệ như răng với môi vậy. (…) Các chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa lúc này tóm lại là phải thân thiện… Đối với bọn thực dân pháp cố tâm dùng vũ lực lập lại chủ quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định sẽ phải thắng lợi. Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam Bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sỹ tự tẩm xăng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bậc ấy thì sức mạnh nào đó có thể đè bẹp được”. Qua báo chí, Người đã khẳng định một cách đanh thép khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam đồng thời thể hiện quyết tâm sắt đá sẽ chống giặc đến cùng.

Cuối tháng 12.1945, Hồ Chí Minh trả lời phóng viên các báo hàng ngày và hàng tuần của Việt Nam về vấn đề đoàn kết. Trước đó ngày 24.12.1945, Việt Minh, Việt Nam Cách mạng đồng minh (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) đã ký kết văn bản thỏa thuận hợp tác nhằm tăng cường sự đoàn kết, củng cố mặt trận Liên Hợp quốc dân để tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phóng viên hỏi: “Tại sao có 70 ghế đặc cách (dành cho Quốc dân Đảng) trong Quốc hội?”. Người nói: “Vì anh em Quốc dân đảng không ra ứng cử”. Phóng viên hỏi: “Sao lại trái nguyên tắc dân chủ vậy?”. Bác đáp: “Muốn đi tới dân chủ, nhiều khi phải làm trái lại. Thí dụ muốn đi tới hòa bình có khi phải chiến tranh”. Cách trả lại ngắn gọn mà hết sức thuyết phục, không chỉ giải quyết ngay vấn đề các phóng viên đặt ra mà còn hàm chỉ một vấn đề khác: muốn có hòa bình, bên cạnh những cách hòa bình, đôi khi phải dùng đến sức mạnh của vũ lực. Nhà báo cònvặn vẹo: “Cần làm trái dân chủ? Thế sao Cụ không tự chỉ định Cụ ra làm Chủ tịch Việt Nam, Cụ còn phải ra ứng cử lôi thôi?”. Thay vì trả lời thẳng vào câu hỏi, Bác đáp đầy hàm ý:  “Vì tôi không muốn làm như vua Louis thập tứ”. Những ai biết lịch sử nước Pháp đều không lạ gì Louis XIV (1638 – 1717), người giữ ngôi hoàng đế nước Pháp những năm 1664 – 1715 là một ông vua chuyên quyền độc đoán.

Cũng bằng tư duy ấy, trong buổi tiếp nhà báo Pháp Jean Michel Hetrich cuối năm 1945, Hồ Chí Minh nói:  “Nước Pháp thật là một xứ sở kỳ lạ. Nước Pháp sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu, nhưng khi xuất cảng, chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng ấy”.

Giữa tháng 1.1946, trả lời phỏng vấn các báo nước ngoài Hồ Chí Minh nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Tôi chỉ có một điều ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Tháng 7.1947, trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh gần như tâm sự: “Tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ  trở về làm một công dân du ngoạn sơn thủy, đọc sách làm vườn”. Đó gần như là một quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh về mục tiêu làm cách mạng của mình.

Trong khi tiếp xúc với các nhà báo, Hồ Chí Minh luôn chủ động thẳng thắn không để người hỏi cuốn vào ý đồ của họ. Cách trả lời của Người luôn dứt khoát rõ ràng, sắc sảo. Ngày 20.2.1946, Pháp và Trung Quốc (của Tưởng Giới Thạch) ký hiệp ước Hoa – Pháp, Pháp đã có những nhượng bộ cho Quốc dân đảng Trung Quốc tại Việt Nam, tiến tới độc chiếm Đông Dương. Ngày 23.2, các nhà báo gặp và phỏng vấn Hồ Chí Minh. Có nhà báo hỏi: “Có phải nước ta không cho nước Trung Hoa đủ những quyền lợi về kinh tế như Pháp đã cho Trung Hoa nên mới có bản hiệp ước Hoa – Pháp?”. Bác trả lời: “Vấn đề đó không thành câu hỏi”. Nói câu này, Người có hàm ý không bằng lòng. Rõ ràng, nếu không phải người có ý đồ gài bẫy thì câu hỏi này cũng cho thấy người hỏi non về chính trị. Vì vậy trong phần trả lời tiếp theo sau đó, Người ca ngợi chủ nghĩa Tam dân của Trung Quốc, khẳng định quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc mà không đả động gì đến nội dung chính của câu hỏi.

Ngày 12.7.1946, trả lời câu hỏi của các nhà báo tại Pháp “Nếu Nam Kỳ từ chối không sáp nhập vào Việt Nam, Chủ tịch sẽ làm gì?”. Hồ Chí Minh nói: “Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam? Người Basques, người Breton, không nói tiếng Pháp vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất đất nước Việt Nam?”. Không dùng đao to búa lớn để trả lời ý: “Chủ tịch sẽ làm gì?”, Hồ Chí Minh dùng những lý lẽ không thể bác bỏ được để đập tan ý đồ chia rẽ Nam Bộ khỏi Việt Nam bằng cái gọi là Nam Kỳ quốc tự trị.

Liên quan đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 2.1.1947, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam không muốn chiến tranh chống nước Pháp và nhân dân Pháp vì ta muốn hai dân tộc Việt – Pháp cộng tác thật thà. Nhưng tự do độc lập là quyền trời cho mỗi dân tộc. Bọn thực dân phản động dùng vũ lực phá hoại quyền thống nhất và độc lập của dân tộc ta, cho nên nhân dân ta phải kháng chiến để giữ gìn đất nước”. Trả lời câu hỏi “Cuộc kháng chiến sẽ kết liễu như thế nào?”, Người nói “Lịch sử thế giới và lịch sử nước ta đã tỏ cho ta biết rằng, hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ. Dân Việt Nam muốn được hòa bình, nhưng vì vận mệnh của Tổ quốc, của giống nòi thì sẽ kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến thắng lợi”. Hơn 4 tháng sau, vào tháng 5.1947, Hồ Chí Minh lại có những khẳng định tương tự khi trả lời phỏng vấn của thông tín viên Vasidep Rao (Hãng tin Reuters): “Nếu không hòa bình được, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Toàn dân Việt Nam cương quyết đấu tranh cho thống nhất và độc lập”. Trong bài trả lời khá dài này, Hồ Chí Minh đã khéo léo sử dụng điển tích nổi tiếng Con chó sói và con cừu trong Truyện ngụ ngôn La Fontanie để khẳng định một thực tế là thực dân Pháp đang thể hiện “chân lý của kẻ mạnh”, bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự đè bẹp khát vọng và tinh thần của nhân dân ta.

Trong số những nhà báo nổi tiếng thế giới được Bác Hồ tiếp kiến, có thể kể nhà báo người Úc Wilfred Burchett. Giữa đợt 1 (bắt đầu từ ngày 13.3.1954) và đợt 2 (bắt đầu từ ngày 30.3.1954) của chiến dịch Điện Biên Phủ, tại căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên tiếp Wilfred Burchett, người sau này tiếp tục gắn bó, phản ánh và ủng hộ nhân dân ta cho đến cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong hồi ức của mình, nhà báo Úc đã thuật lại cách giải thích của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam kháng chiến: “Bác Hồ đặt ngửa chiếc mũ trên bàn. Đưa những ngón tay gầy guộc theo vành mũ và nói: Tình hình thế này, đây là những ngọn núi mà lực lượng chúng tôi nắm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương… Và họ sẽ không bao giờ rút ra được”. “Vậy đây chính là Stalingrad ở Đông Dương?” – Burchett hỏi, và Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn thì đó là một điều gì đó giống như thế”. W. Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm, ngay từ khoảng khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy, và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức như người trong nhà của Chủ tịch”.

Trong chuyến thăm Indonesia tháng 3.1959, trả lời các nhà báo nước bạn, Hồ Chí Minh có những lời đáp rất tế nhị. Chẳng hạn, có nhà báo hỏi “Xin Chủ tịch cho biết ý kiến của Chủ tịch về tình hình chính trị ở Indonesia?”. Người hỏi ngược lại: “Tôi đến đây mới ba ngày. Làm thế nào tôi có thể có ý kiến về tình hình ở đây được?”. Một nhà báo khác hỏi: “Giữa Chủ tịch và Tổng thống Soekarno có cuộc thảo luận chính trị nào không?”. Người trả lời rất chặt chẽ về ngôn ngữ: “Có thể nói là có. Nhưng chúng tôi gọi đó là cuộc trao đổi ý kiến, chớ không phải là cuộc thảo luận. Chúng tôi nói chuyện với nhau một cách thân mật anh em”. Những câu trả lời này vừa thể hiện sự dí dỏm mà cũng hết sức thông minh, khéo léo của Người đối với những vấn đề ngoại giao…

Sự trân trọng của Hồ Chí Minh đối với các nhà báo còn được thể hiện rõ trong cuộc tiếp nữ nhà báo Cuba Marta Rojas (báo Granma) vào ngày 14.7.1969. Đây là lúc sức khỏe của Bác Hồ không được tốt, nhưng với một nhà báo đến từ một nước xã hội chủ nghĩa anh em, Người đã dành thời gian tiếp chuyện mà đến hơn 40 năm sau vẫn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người được tiếp. Bà Marta Rojas hồi tưởng: “Những lần ở Hà Nội tôi đều tới thăm báo Nhân dân và nói với nhà báo Hoàng Tùng rằng tôi muốn có một cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một buổi, đồng chí Hoàng Tùng  gọi cho tôi: 6 giờ sáng mai tôi qua đón chị vào phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là buổi sáng một ngày khoảng giữa tháng 7.1969, tôi, nhà báo Hoàng Tùng và người phiên dịch bước vào  Phủ Chủ tịch thì gặp một cụ già mặc một bộ quần áo màu trắng tươi cười đi tới và chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha: “Chào buổi sáng đồng chí Marta”. Tôi đã nghe nói nhiều về Bác Hồ, nhưng không nghĩ Người lại giản dị, thân tình đến thế”. Marta Rojas nói tiếp: “Tôi chỉ định phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng thật bất ngờ và thú vị là Người đã phỏng vấn lại tôi. Người hỏi tôi về những cảm nhận, những trải nghiệm của tôi ở Tây Ninh… Rồi Người hỏi thăm Fiel và nói: “Tôi đã đọc rất nhiều bài phát biểu của Fiel và rất thích những bài phát biểu đó”. Marta Rojas cho biết, câu hỏi tuyệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bà lúc đó là nhà báo nhìn nhận thế nào về những lá cờ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Marta trả lời Bác: “Miền Nam mưa, nắng nhiều, nhưng lá cờ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc nào cũng như mới”. Sau đó, lý giải của Bác khiến Marta không thể nào quên: “Vì mục tiêu đấu tranh của  mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam là bảo vệ cho lá cờ đỏ ở đúng vị trí mà nó cần phải có. Đó là biểu tượng của Việt Nam. Chắc chắn chúng tôi sẽ chiến thắng người Mỹ. Tất cả sự chịu đựng và nỗi đau của người dân miền Nam cũng là sự chịu đựng và nỗi đau của tôi”.

Dĩ nhiên còn rất nhiều chuyện khác liên quan đến thái độ, tình cảm ứng xử của Hồ Chí Minh đối với nhà báo. Lược qua những cuộc trao đổi giữa Hồ Chí Minh với các nhà báo ta dễ dàng nhận ra một Hồ Chí Minh chính khách đầy quyết đoán, sắc sảo; một Hồ Chí Minh nhà báo luôn quan tâm, thông cảm và cũng hiểu rõ những thủ thuật của các phóng viên. Hồ Chí Minh sử dụng vũ khí báo chí và sử dụng ngôn từ trên báo chí đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao, cả khi Người trả lời phỏng vấn.

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Vân Tâm

daibieunhandan.vn

Tinh thần cùng với người dân


Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890/19-5-2011)

QĐND – “Nói về lịch sử Việt Nam, thì tinh thần yêu nước, thương dân, yêu dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – một nhân vật vĩ đại xứng đáng là tấm gương cho các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới”.

Lời khẳng định trên là của Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, thuộc Trường Đại học Chosun Hàn Quốc, khi nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà ông đã dành hơn 20 năm để nghiên cứu, tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-2010), ở Hà Nội.

Vị Chủ tịch gần gũi nhân dân

Trong bài viết của mình, Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan nhấn mạnh: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nói một cách tóm tắt là Tinh thần cùng với người dân. Cả đời Người hiến thân vì sự nghiệp độc lập và tự do cho Tổ quốc Việt Nam, và thực hiện ba tinh thần là tinh thần cùng sống với người dân, tinh thần cùng ăn với người dân và tinh thần cùng làn việc với người dân”.

Tại sao lại có sự khẳng định như vậy? Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan phân tích: Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã không thần tượng hóa hay thần thánh hóa về mình. Người được nhân dân thân thương gọi là Bác Hồ. Cả đời Người sống thanh bần, không lập gia đình riêng. Người không màng tới địa vị của mình. Người được thừa nhận là nhà lãnh đạo mang tầm cỡ thế giới và là một người yêu nước, sống như cuộc sống của một người dân bình thường, hiến thân phục vụ vì đại nghĩa, luôn chăm lo cải thiện cuộc sống của đồng bào Việt Nam. Chính những tư tưởng trên của Người đã đưa Người tới gần nhất với đời sống của nhân dân.

Các đại biểu và học giả trao đổi bên lề Hội thảo diễn ra vào tháng 5-2010.
Ảnh: Hoa Huyền

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, khi một nhà lãnh đạo chính trị hành động với tinh thần tập thể cùng sống, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với người dân thì tập hợp được sức mạnh của toàn dân, đất nước dù có gặp những khó khăn thế nào cũng khắc phục và tìm được con đường giải quyết, đưa đất nước khỏi con đường bế tắc. “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã cùng sống, cùng ăn và cùng làm việc với người dân. Ngay cả khi ở địa vị tối cao của một nhà lãnh đạo, Người cũng không đòi hỏi đặc quyền gì cho bản thân mình. Một nhân vật đã cùng khổ, cùng sướng với người dân và qua đó đã có được một cơ sở vững chắc là sự tin cậy của người dân – nguồn sức mạnh để giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp”, Giáo sư Ahn Kyong Hwan nói.

Suốt đời hy sinh cho dân tộc Việt Nam

Trong bài viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cảm nghĩ của một người Hàn Quốc” mà Giáo sư-Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan trình bày tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, Giáo sư đã nhấn mạnh, cho dù có sự khác biệt về tư tưởng hay tôn giáo với các vĩ nhân khác trên thế giới, nhưng về nhân cách của Người, đáng để cho tất cả mọi người trên thế giới tôn kính. Giáo sư Ahn Kyong Hwan cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc và là nhà yêu nước xuất sắc. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới phải noi gương tinh thần yêu nước, yêu đồng bào vĩ đại của Người.

Phân tích luận điểm trên, Giáo sư Ahn Kyong Hwan đã dẫn giải rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước chân chính, tuyệt đối không mang tinh thần chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Chủ nghĩa dân tộc của Người là “chủ nghĩa dân tộc mở”, luôn hướng về thế giới. Chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc bao gồm thế giới, đâu phải là chủ nghĩa dân tộc bị trói buộc trong một vòng chật hẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn lựa chiến lược vận động cho độc lập, thống nhất đất nước bằng đấu tranh vũ trang, bằng chiến tranh nhân dân, nhưng về cơ bản Người là một người theo chủ nghĩa hòa bình, một nhà văn hóa.

Trong 79 năm cuộc đời mình, Người đã cùng dân tộc trải qua con đường chông gai trong suốt cuộc đấu tranh giành độc lập. Người đã cùng dân tộc Việt Nam làm nên nhiều thắng lợi lịch sử. Người đã vì Tổ quốc và dân tộc mà sống một cuộc đời đầy gian khổ. Người là một nhân vật luôn tuân theo mệnh lệnh tối cao của dân tộc mà đấu tranh để giành độc lập-tự chủ. Những con người đi theo con đường vì Tổ quốc, vì dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là niềm tự hào, là vĩ nhân bất diệt của nhân dân Việt Nam. Hiểu về Người, là đã hiểu một phần về Việt Nam. Khi tinh thần của Người được kế thừa và phát huy, chắc chắn thắng lợi của Việt Nam là đời đời bền vững. Người luôn sống mãi trong lòng người dân Việt Nam.

NGUYỄN HÒA (ghi)

qdnd.vn

Hành trình 40 ngày trên biển của Bác qua ảnh vệ tinh

(GDVN) – 100 năm kể từ ngày chàng trai trẻ Nguyễn Văn Ba lên tàu Amiral Latouche Tréville rời Bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Nhân sự kiện này, GDVN vẽ lại hành trình 40 ngày lên đênh trên biển của Người qua những hình ảnh vệ tinh.

a

Thương cảng Sài Gòn năm 1911 khá tấp nập, chỉ dài 600m. Có nhiều tuyến đường lớn chạy qua thương cảng này, đó là các đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng),
Catinat (nay là đường Đồng Khởi), Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), Krantz và Duperré (nay là đường Hàm Nghi). (Trong ảnh là Bến cảng Nhà Rồng với mô hình 3D của Google Earth ngày nay)

a

Thương cảng Sài Gòn khi ấy có 5 cầu tàu: 3 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Đồng Khởi dành cho các hãng chuyên chở đường sông, 1 cầu tàu lớn ở đầu đường Nguyễn Huệ dành cho các tàu viễn dương và 1 cầu tàu nhỏ ở đầu đường Hàm Nghi dành cho hãng tàu người Hoa. Brébion đã mô tả Thương cảng Sài Gòn hồi 1911: “Trên bến Francis Garnier (nay là bến Bạch Đằng), phía bờ sông có nhiều loại cầu tàu chiếm chỗ. Một trong số cầu tàu lớn nhất là nơi cập bến các tàu
lớn thuộc hãng Chargeurs Resunis (hãng Năm Sao).
Trong ảnh là hình ảnh tư liệu về Bến cảng Nhà Rồng xưa.

a

Trưa 2/6/1911, chiếc tàu Amiral Latouche Tréville của hãng Năm Sao từ Hải Phòng cập cảng Sài Gòn. Bác xuống tàu và gặp viên thuyền trưởng Lui E-du-a Mai-sen. Ngày 3/6/1911, Bác chính thức xuống tàu làm phụ bếp với mức lương 50 phơ-răng Pháp. Đây là một trong những tàu lớn hồi đó vừa chở hàng, vừa chở khách. Tàu Latouche dài 124,1m, rộng 15,2m, chạy máy hơi nước, 2.800 mã lực với tốc độ 13 hải lý/giờ, trọng tải 5.572 tấn và có đủ nhiên liệu để chạy một mạch 12.000 hải lý.

a

Trưa 5/6/1911, con tàu Amiral Latouche Tréville đã rời bến sông Sài Gòn với 72 thủy thủ trên tàu. Trong ảnh, điểm chấm đỏ là cảng Nhà Rồng, mũi tên đỏ chỉ hướng tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville di chuyển từ Sài Gòn tới Singapore trong 3 ngày (trong ảnh chấm đỏ chỉ đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville. Đường di chuyển của tàu Amiral Latouche Tréville bằng chấm đỏ chỉ mang tính tương đối)

a

Ngày 8/6/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Keppel của Singapore. Trong ảnh là cảng Keppel ngày nay được chụp bằng Google Earth.

a

Toàn cảnh về đêm trên cảng Keppel của Singapore ngày nay.

a

Từ cảng Keppel, Singapore, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình của mình trên Ấn Độ Dương để tới Quốc đảo Sri Lanka.

a

Ngày 14/6/1911 tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Colombo, Sri Lanka sau 6 ngày lênh đênh trên biển. Trong ảnh là cảng Colombo, Sri Lanka được chụp bằng Google Earth.

A

Toàn cảnh cảng Colombo Sri Lanka ngày nay

a

Vượt qua phần còn lại của Ấn Độ Dương, tàu Amiral Latouche Tréville đi vào vùng biển đỏ, qua tiếp kênh đào Suez tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Said phía Bắc Ai Cập.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville đã cập cảng Said, Ai Cập ngày 30/06/1911. Trong ảnh là cảng Said chụp bằng Google Earth

a

Một phần cảng Said, Ai Cập ngày nay

Said, Ai Cập

Từ cảng Said, Ai Cập, tàu Amiral Latouche Tréville tiếp tục hành trình vượt qua Địa Trung Hải để tới cảng Mác Xây (Marseille) Pháp ngày 06/07/1911.

a

Bến Đa – Răng trong cảng Mác Xây. Ngày 06/07/1911, Bác đã lần đầu tiên tới nước Pháp. Cũng chính nơi đây lần đầu tiên trông đời Bác thấy có những người Pháp gọi anh bằng “ông”. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Mác Xây, Pháp chụp bằng Google Earth.

a

Một ngày ở lại Mác-xây, đi thăm phố xá, Bác nhận xét: Thì ra, người Pháp ở bên Pháp không ác như thực dân Pháp ờ Việt Nam. Thì ra, bên Pháp cũng có người nghèo như bên ta. Trong ảnh là một phần cảng Mác Xây, Pháp ngày nay.

a

Tàu Amiral Latouche Tréville không dừng lại ở Mác Xây, nó phải tiếp tục hành trình về phía Bắc của nước Pháp. Đó là cảng Le Havre

a

Ngày 15/07/1911, tàu Amiral Latouche Tréville cập cảng Le Havre, cảng chính ở phía Bắc nước Pháp kết thúc 40 ngày lên đênh trên biển. Do công việc dưới tàu cực khổ, 14 thủy thủ, nhân viên đã bỏ nghề lên các bến dọc đường. Khi tàu đến Le Havre, tổng số người làm trên tàu chỉ còn có 58 người, trong đó có Bác.

a

Bác đã thắng sóng gió và điều kiện làm việc cực nhọc dưới tàu biển để khởi đầu cho cuộc dấn thân trường chinh tìm đường cứu nước. Trong ảnh là toàn cảnh cảng Le Havre, Pháp ngày nay.

Nam Chấn (Hình ảnh chụp từ Google Earth)

giaoduc.net.vn

Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc

Tìm đường đi cho dân tộc

(VOV) – Đây là sự khởi đầu đúng đắn để từ đó Người đã dẫn dắt ngọn cờ cách mạng của dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc với lòng yêu nước nồng nàn, lên đường bôn ba 5 châu, 4 biển, tìm con đường giải phóng dân tộc.

Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi

Với ý chí, nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu cho hành trình tìm đường giải phóng dân tộc với chân làm thuê trên tàu Đô đốc L’Amiral Latouche Tréville, rời Tổ quốc vào tháng 6/1911, ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác đã làm thế nào để có được độc lập, tự do, rồi “trở về giúp đồng bào mình”. 30 năm sau, Người trở về, tạo nên sự thay đổi của vận mệnh và tương lai cả dân tộc.

Theo ông Bùi Kim Hồng – Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, quyết định ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi hoàn toàn đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Người trực tiếp sang miền đất của chính kẻ thù đang cai trị dân tộc mình để hiểu được bản chất của vấn đề, bản chất của xâm lược, và khẳng định được rằng, ở bất cứ nước nào, người dân nô lệ cũng đều phải sống cuộc đời lầm than. Muốn giải phóng được dân nô lệ phải giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đấy không chỉ là con đường đối với dân tộc Việt Nam, mà là con đường đi của tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Sau năm 1911, trong vòng 10 năm tiếp theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn, Người đã sống cuộc đời của người lao động, hòa mình vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức bóc lột ở thuộc địa.

Qua những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm thực tế đó, chủ nghĩa yêu nước ở Người có những chuyển biến mới. Sự đồng cảm với đồng bào mình đã được nâng lên thành sự đồng cảm với nhân dân lao động, với các dân tộc cùng cảnh ngộ bị áp bức như dân tộc mình. Quá trình thâm nhập vào những xã hội văn minh rộng lớn đã giúp Người nhận thức rõ hơn, khái quát hơn diện mạo của kẻ thù: không chỉ đối với thực dân Pháp mà cả chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc nói chung.

Với tinh thần ham hiểu biết và học hỏi, với tư duy độc lập sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành chí hướng lớn lao và quyết tâm tìm con đường đi cho riêng mình. Người trân trọng và khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của những chí sĩ yêu nước trước đó, nhưng không đi theo con đường của các bậc tiền bối đã đi, mà có suy nghĩ, cách thức khác. Trong 30 năm xa Tổ quốc, Người mất gần 10 năm để tìm lời giải cho bài toán khó: làm thế nào để giải phóng Tổ quốc và nhân dân thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, để nước nhà được độc lập, dân được tự do, hạnh phúc.

PGS, TS Bùi Đình Phong (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) phân tích: “Trong 10 năm ấy, Bác đã phải nghiên cứu, khảo nghiệm, chắt lọc đối chiếu từ cách mạng tư sản pháp 1779, cách mạng tư sản Mỹ 1776… Cuối cùng khi đọc Luận cương của Lênin, Người mới tìm thấy được lời giải thực sự cần thiết. Như vậy, Bác Hồ đến với chân lý cách mạng của thời đại không chỉ  để giải quyết nhu cầu giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam mà còn đáp ứng cả xu thế của thời đại. Tức là phong trào giải phóng dân tộc phải đi vào quỹ đạo của phong trào cách mạng vô sản”.

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Nguyễn Tất Thành nhận làm bồi tàu, thủy thủ để có điều kiện được tiến hành cuộc khảo sát rộng lớn thế giới tư bản, nhưng tâm hồn Người luôn hướng về Tổ quốc, luôn đau đáu về mục tiêu cao cả: giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ cảng Nhà Rồng, Người đã đi qua Singapore, Colombo, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Marseille, Le Havre. Từ Pháp, Người trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Algeria, Tunisia, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Congo, Dahomey, Guinée, Sénégal, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Argentina… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan…

Suốt thời thanh niên, Nguyễn Tất Thành vừa lao động kiếm sống, vừa tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội ở các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục.

Đặc biệt, từ năm 1921 – 1923, giữa mùa đông giá lạnh ở Paris, căn phòng không điện, không nước trong ngôi nhà số 9, ngõ Compoint đã nuôi dưỡng một con người có trái tim luôn khát khao cháy bỏng để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Căn phòng này còn là nơi tụ họp rất nhiều người Việt Nam yêu nước đang sinh sống tại Paris để tìm ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam.

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc điạ, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản ở chính quốc, có gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức – từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ La tinh, nên Người có hiểu biết về bản chất chung và màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa. Nhờ vốn hiểu biết thực tế đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Người không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là ở phương Đông.

Cảm phục trước cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Australia, Allan Asbolt đã viết: “Một trong những nét nổi bật về cuộc đời Hồ Chí Minh là Người đã sống nhiều năm ở nước ngoài – ở châu Âu, Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc, nhưng Người không có tham vọng cá nhân, phù phiếm; không cố công để trở thành một nhân vật xuất chúng, theo ngôn ngữ của các nhà xã hội tư bản. Người dành thời gian chủ yếu cho việc nghiên cứu và học hỏi, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thực tế có phần dựa vào kinh nghiệm hàng ngày của bản thân trong giai cấp công nhân. Người luôn luôn có suy nghĩ làm thế nào để giải phóng nhân dân nước mình khỏi ách đô hộ và bóc lột thực dân. Người cũng nhận thức sâu sắc rằng cần phải kết hợp sức mạnh chiến đấu của ý thức dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy với những mục tiêu đồng cảm về cơ bản là hòa bình và nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Trong gần 3 thập kỷ, Người đã sống và làm việc ở nước ngoài nhưng về ý thức, Người không hề xa Tổ quốc”./.

Tìm lời giải cho “Bài toán thế kỷ” của dân tộc

(VOV) – Nhà sử học Italia, Perugia: “Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác”.

Trong cuộc viễn du 30 năm, qua 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy cẩm nang thần kỳ của Lênin, tạo ra bước ngoặt cơ bản trong tư tưởng cách mạng, giúp Người đưa ra một kết luận quan trọng: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản.

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn – Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, điều này ngày càng chứng minh tư duy độc lập, sáng tạo của Bác Hồ. Người đã đi suốt từ châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, nghiên cứu các nước phát triển nhất của hệ thống Tư bản chủ nghĩa lúc bây giờ. Đồng thời bằng trải nghiệm qua thực tiễn quê hương mình, Người đã nghiên cứu cuộc sống của người dân ở những thuộc địa khốn khổ ở Châu Phi. Từ đó Người cân nhắc tìm con đường và khi tiếp cận luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa, Bác Hồ đã nhận ra con đường cứu nước cứu dân tộc. Toàn bộ việc đi tìm đường cứu nước của Người là có chủ ý, đã có những điều kiện nền tảng về tư tưởng và Bác đã chọn con đường rất mới, sang châu Âu để tìm con đường cứu nước, để hướng tới những tư tưởng hiện đại nhất thời đại lúc bấy giờ.

Theo PGS, TS Lê Văn Yên (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), Nguyễn Tất Thành chọn cho mình hướng đi mới, đó là tìm đến các nước phương Tây, nơi có trào lưu Tự do, Bình đẳng, Bác ái để tìm cách làm mới, phương pháp mới, rồi trở về nước giúp Tổ quốc, giúp đồng bào. Trong lúc đất nước còn khủng hoảng, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc vượt trùng dương đi tìm chân lý cách mạng. Có thể nói, đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ từ trong bản chất giai cấp, trên tinh thần đấu tranh vì lợi ích nhân loại.

PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí minh) nhấn mạnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tư tưởng, học thuyết đã có sẵn và luôn luôn mở rộng tầm nhìn, khai thác tư tưởng mới của nhân loại. Đây là sự gặp gỡ giữa tư tưởng của một con người có tầm trí tuệ với các vấn đề khách quan của thời đại đặt ra. Sự gặp gỡ giữa một trí tuệ lớn, một nhân cách lớn, một khát vọng lớn của một con người với những vấn đề nóng bỏng của thời đại đã hun đúc nên tư tưởng và đường hướng phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua năm 1920

Ra đi tìm đường cứu một quốc gia là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, nhưng tìm thấy con đường ấy là việc khó gấp bội phần. PGS, TS Lê Văn Tích (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định: Sau nhiều thất bại của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tìm ra lời giải cho “Bài toán thế kỷ” đặt ra trước dân tộc.

Từ việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo ông Nguyễn Huy Hoan – nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng ta rút ra được rất nhiều bài học. Bài học đầu tiên, đó là có lòng yêu nước sâu sắc nhưng phải biến lòng yêu nước đó thành hành động cụ thể. Hành động cụ thể của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc từ khi ra đi tìm đường cứu nước là sự toàn tâm, toàn ý tập trung vào việc tìm cho dân tộc con đường giải phóng đúng đắn.

Bài học thứ hai là phải có trí tuệ sáng suốt, phải biết lựa chọn con đường đúng đắn. Ở giai đoạn Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, các quan điểm của thế giới về con đường giải phóng dân tộc rất nhiều, cũng như lúc bấy giờ chưa có một mô hình nào cụ thể về con đường giải phóng dân tộc. Nhưng sự thiên tài của Bác Hồ là đã chọn được mô hình rất đúng đắn để giải phóng dân tộc và chúng ta hoàn toàn có thể tự hào là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thực dân là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới và chúng ta cũng lập ra chính quyền của dân đầu tiên trên thế giới từ một nước thuộc địa.

Bài học thứ ba chính là tấm gương học tập, nghiên cứu của Người. Người học suốt ngày, học cho đến 11 giờ đêm. Đi đâu cũng học và gặp ai cũng học.

Bài học thứ tư là sự sáng tạo của Người khi tìm lời giải cho bài toán khó của đất nước. Nhờ sáng tạo ấy Bác Hồ của chúng ta đã tìm được con đường giải phóng có hiệu quả. Luận cương Lênin chỉ nêu những vấn đề cơ bản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo, mà hai luận điểm sáng tạo nhất của Bác là: Muốn giải phóng dân tộc phải dựa vào sức của nhân dân mình là chính; Và, cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến hành trước chính quốc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã diễn ra theo đúng tư tưởng chiến lược đó của Bác./.

Những bài học lớn

(VOV) – Vận dụng sáng tạo, phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta giành được nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước ngày nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở ra con đường mới và dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với trái tim đầy nhiệt huyết, bộ óc sáng suốt, Người luôn luôn vươn tới những giá trị của Chân, Thiện, Mỹ. Sự nghiệp của Hồ Chí Minh, con đường Hồ Chí Minh tìm thấy và dẫn dắt mọi người dân Việt Nam yêu nước dựa vào nền văn hóa mà ở đó biểu đạt những giá trị toàn cầu, những khát vọng của con người, của các dân tộc khác nhau, có bản sắc, cốt cách, đặc tính khác nhau nhưng thống nhất, hài hòa trong những giá trị chung nhất, tốt đẹp nhất mà con người toàn nhân loại và các dân tộc trên thế giới khát khao vươn tới.

Theo PGS-NGND Lê Mậu Hãn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta một bài học lớn: mọi quyết định đều phải dựa vào thực tiễn của thời đại và sức mạnh của dân tộc.

PGS-TS Vũ Quang Hiển (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, bài học lớn mà chúng ta luôn luôn khắc ghi đó là phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nói đến độc lập dân tộc, độc lập tự do  không thể tách rời với thống nhất đất nước. Vì một đất nước độc lập đồng thời phải là một đất nước thống nhất quốc gia một cách toàn diện.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vấn đề độc lập dân tộc càng được coi trọng. Sự hội nhập của các quốc gia đều là trên nền tảng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Cũng theo PGS-TS Vũ Quang Hiển, bản sắc văn hóa đó thể hiện qua ngôn ngữ, tiếng nói, phong cách ứng xử, mà phong cách đó biểu hiện ở mọi người Việt Nam, từ những người có chức có quyền cho đến những người bình thường, một anh lái xe taxi, một người đạp xích lô, một chị bán hàng ở một kiốt ở Bờ Hồ, hay một chị lao công quét rác… Trong con mắt bạn bè quốc tế, người ta thấy ở họ một con người hiền lành trong đời thường, chăm chỉ trong lao động sản xuất và dũng cảm, quyết liệt trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Nhìn vào họ, người ta thấy được hình ảnh tiêu biểu của con người Việt Nam.

Giới trẻ Việt Nam rất năng động, và trong điều kiện hiện tại, sự năng động và thông minh của giới trẻ có điều kiện phát huy. Giới trẻ một mặt hướng tới cái mới, năng động tìm kiếm cái mới, nhưng phải luôn luôn giữ gìn các giá trị đã đi vào bản chất của con người Việt Nam, tiếp tục nắm vững và phát huy ngọn cờ độc lập dân tộc.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta nhớ bài học quí giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đó là: “có cái gì tốt của Đông phương và Tây phương thì ta phải học lấy để làm giàu cho văn hóa Việt Nam”. Ngày nay, chúng ta càng phải nâng cao chủ nghĩa yêu nước, không chấp nhận nghèo nàn lạc hậu, làm cho con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Chúng ta phải luôn luôn nung nấu mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đó cũng là những bài học được GS-TS Tạ Ngọc Tấn (Giám đốc Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nhấn mạnh: “Từ sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sẽ là những bài học rất lớn cho chính bản thân cách mạng nước ta, đó là trong điều kiện thực tiễn thế nào chúng ta tìm ra những giải pháp, những con đường giải quyết những vấn đề trong đất nước. Bài học cho thế hệ trẻ là tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường và thái độ trách nhiệm với đất nước…”.

Theo GS,TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), để đất nước phát triển ngày càng vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế, chúng ta luôn luôn phải học Bác vừa kiên định, vừa sáng tạo. “Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta thông điệp cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam là con đường đi tới Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa cộng sản. Thông điệp đó là thông điệp quan trọng nhất hiện nay và tôi cho rằng phải kiên định con đường đó. Nhưng phải vừa kiên định vừa sáng tạo”.

PGS, TS Nguyễn Bá Linh (Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) nêu hai bài học để phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: Thứ nhất, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình chỉ đạo sự nghiệp đổi mới để đạt mục tiêu mà Đảng đã đề ra: Xây dựng nước ta thành một nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thứ hai, luôn luôn kết hợp lý luận với thực tiễn, nói đi đôi với làm, đã nói là phải làm, không đánh trống bỏ dùi để làm gương cho toàn dân tộc theo phương châm: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau như Bác thường răn dạy.

Tròn một thế kỷ đã trôi qua nhưng sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại. Đây là dịp để mỗi chúng ta học tập và noi gương Bác Hồ, kiên định con đường mà Bác đã lựa chọn.

Một nhà báo nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì Người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những ước mơ của mình. Chúng ta thật hạnh phúc khi được học theo Bác, để biết khởi đầu đúng và đi tới đích./.

Mai Hồng

vov.vn

Bến cảng Sài Gòn – nơi mở đầu hành trình vĩ đại của Người

(Dân trí) – Từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao. Suốt 30 năm bôn ba Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 31/5, Thành ủy TPHCM đã phối hợp với Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch tổ chức hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”.

Hơn 500 đại biểu là cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, cán bộ lão thành cách mạng, đại diện các tầng lớp nhân dân đến tham dự hội thảo

Tham dự hội thảo có ông Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng; ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; ông Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TPHCM; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an…

Khai mạc hội thảo, ông Đinh Thế Huynh phát biểu: “Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Sài Gòn, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Đó là thời điểm sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta bế tắc về đường lối, như trong đêm tối không có đường ra. Biết bao cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước bị thực dân đàn áp, bị dìm trong bể máu và đều thất bại”.

Trong bối cảnh lịch sử đó, Bác Hồ đã ra đi với đôi bàn tay trắng, ra đi để tìm kiếm một con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Ông Đinh Thế Huynh nhìn nhận: “Đó là sự mở đầu cho một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao, quả cảm và sáng tạo suốt 30 năm đi tìm chân lý, tìm con đường giải phóng cho cả dân tộc Việt Nam”.

Từ bến cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước (ảnh tư liệu)

Phát biểu báo cáo đề dẫn hội thảo, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Đua cho biết: “Mục đích của hội thảo là nhằm nâng cao nhận thức và tôn vinh công ơn trời biển của Bác Hồ, khẳng định ý nghĩa lịch sử và thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi ngày 5/6/1911 như một mốc son trong lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng; khẳng định lựa chọn sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam”.

Ông Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tương Văn hóa Trung ương cũng đồng tình với ý kiến trên. Theo ông thì ngày 5/6/1911 là ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại, bởi vì “đó là ngày từ cảng Sài Gòn, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm được con đường đúng”.

Với ý nghĩa quan trọng này, hội thảo đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các cán bộ lãnh đạo Đảng và nhà nước, các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà khoa học… Đến ngày hội thảo khai mạc, ban tổ chức đã nhận được 137 bài tham luận, trong đó có tham luận của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười và nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu.

Các tham luận xoay quanh 4 nội dung chính là: Bối cảnh lịch sử của đất nước và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Sự lựa chọn của Người khi Người chọn ra đi từ thành phố Sài Gòn; Hành trình tìm đường cứu nước vĩ đại trong suốt 30 năm của Người; Quyết tâm vững bước theo con đường cách mạng mà Người đã chọn.

Bác bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước bằng chính sức lao động của đôi bàn tay mình trên con tàu Amiral Latouche Tre1ville (ảnh tư liệu)

Trong tham luận của mình, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhấn mạnh, chúng ta phải kiên trì đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân lựa chọn; để kiên định và kiên trì con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn thì trong mọi hoạt động của Đảng, phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam.

Ông cho rằng: “Đi theo con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là một cuộc đấu tranh để xây dựng cái mới và loại trừ cái cũ không còn phù hợp, là sự nghiệp mãi mãi của các thế hệ Việt Nam. Chúng ta khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi, tiếp tục thực hiện con đường cách mạng vinh quang đó tới đích”.

Trong tham luận “Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Ngay sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người khẳng định, đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất thật rộng rãi, dùng máy móc trong công nghiệp và trong nông nghiệp… Đó là con đường phải đi của chúng ta, con đường công nghiệp hóa nước nhà”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi cùng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu bên lề hội thảo
Cũng trong tham luận này, Thủ tướng chia sẻ: “Lịch sử có những sự trùng hợp thú vị. Từ thành phố này, Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước. Và Thành phố này cũng là một nơi khởi phát mạnh mẽ những tìm tòi con đường đổi mới, đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dẫn đến quyết định lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI. Trong 25 năm qua, TPHCM luôn giữ được vai trò tiên phong trong tiến trình đổi mới theo đường lối của Đảng”.

Và Thủ tướng gửi gắm nhiệm vụ cho lãnh đạo TPHCM: “Cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, các dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, xây dựng nền nông nghiệp sạch, đi đôi với đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng và tăng cường chất lượng quản lý đô thị, tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Đồng thời, Thành phố phải rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đi đầu trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tri thức.”.

Thủ tướng tin tưởng từ thành công đó của TPHCM sẽ tạo tác động lan tỏa góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở cả khu vực phía Nam và trong cả nước. Ông cho rằng: “Đây là sứ mệnh rất vẻ vang của Đảng bộ và quân dân Thành phố mang tên Bác. Chúng ta tin tưởng rằng Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp, làm tốt hơn nữa vai trò tiên phong của mình trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Khi đọc tham luận của mình, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải xúc động: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả cuộc đời Người hiến dâng trọn vẹn cho tổ quốc, cho nhân dân. Lúc ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng, lúc trở về gây dựng cả một giang sơn gấm vóc, nhưng là để lại cho muôn đời con cháu mai sau. Còn đối với người thì “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức phúng điếu linh đình để lãng phí tiền bạc và thời giờ của nhân dân”. Nguyễn Tất Thành – Nguyển Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người vô cùng bình dị và thật là vĩ đại”.

Ông thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP hứa: “TP nguyện xây dựng đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh để vững bước theo con đường Người đã chọn, để xứng đáng được mãi mãi là thành phố mang tên Hồ Chí Minh”.

Tùng Nguyên
dantri.com.vn

Nhớ Bác trong ngày hội lớn

KỶ NIỆM 121 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, 100 NĂM NGÀY NGƯỜI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Thật đặc biệt, trong những ngày tháng năm lịch sử, khi toàn dân đang nô nức chuẩn bị cho ngày bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp cũng là những ngày cả dân tộc Việt Nam hướng tới kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890) và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước (5.6.1911).

Bằng tất cả tấm lòng biết ơn vô hạn, nhân dân trên mọi miền đất nước đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm trang trọng, phong phú, thiết thực.

Sáng 18.5, đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đặt vòng hoa và vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dự lễ viếng vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc có các đồng chí: Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Các đồng chí nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch Nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt và các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo một số bộ, ngành trung ương và các đồng chí lão thành cách mạng cùng dự lễ viếng.  Vòng hoa của đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Nhân dân Nghệ An long trọng kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.     Ảnh: Đ.LNhân dân Nghệ An long trọng kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Đ.L

Cũng trong ngày 18.5, đoàn đại biểu Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng; Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ Công an; Thành uỷ, HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc TP.Hà Nội và các bộ, ngành, đoàn thể trung ương, địa phương đã đến đặt vòng hoa, vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tầng lớp nhân dân thủ đô và các địa phương trong cả nước đã vào lăng viếng Bác, tỏ lòng thành kính nhớ ơn Người.

Sáng 18.5, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Nghệ An đã về Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên nằm trên địa bàn xã Kim Liên, huyện Nam Đàn và đến Quảng trường Hồ Chí Minh ở thành phố Vinh dâng hương, dâng hoa, báo công với Bác. Tại Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên và Quảng trường Hồ Chí Minh, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã thắp hương, dâng hoa lên bàn thờ và báo công với Bác; bày tỏ lòng thành kính với công lao trời biển của Bác và hứa sẽ tiếp tục đi theo con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng 18.5.     Ảnh: TTXVNLãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng 18.5. Ảnh: TTXVN

Cùng ngày, tại đền tưởng niệm các Vua Hùng – công viên Lịch sử văn hóa dân tộc (phường Long Bình, quận 9), Thành ủy, UBND TP.Hồ Chí Minh đã tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ 19.5”. Phát biểu tại lễ phát động, ông Lê Hoàng Quân – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh – nhấn mạnh: Phong trào trồng cây, trồng rừng, bảo vệ rừng đã mang lại lợi ích to lớn và trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là hoạt động thiết thực kỷ niệm Ngày sinh của Bác, góp phần nâng cao độ che phủ rừng và cây xanh thành phố, bảo vệ môi trường, xây dựng thành phố xanh – sạch – đẹp, văn minh giàu đẹp.

Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế đã tổ chức lễ dâng hoa và triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân”. Triển lãm trưng bày gần 200 tư liệu, hình ảnh, hiện vật với 4 nội dung chính: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945 – 1946); Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp (1946 – 1969); Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục cổ vũ nhân dân cả nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội và HĐND các cấp…

Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum vừa khai mạc triển lãm ảnh với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân”…

Cùng ngày, khắp cả nước đã diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm sinh nhật Bác bên cạnh nhiều hoạt động chuẩn bị bầu cử.

X.H (tổng hợp)

laodong.com.vn

Những thành phố anh hùng của Liên Xô

Kỷ niệm 66 năm Ngày Chiến thắng phát xít Đức (9-5-1945/9-5-2011)

QĐND – Để ghi nhớ Chiến thắng phát xít Đức, Đoàn Chủ tịch Xô-viết Tối cao Liên Xô đã ra Sắc lệnh về phong tặng danh hiệu vinh dự “Thành phố anh hùng” cho 13 thành phố. Danh hiệu vinh dự này được phong tặng cho những thành phố mà những người bảo vệ nó đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng dũng cảm và kiên cường trước quân thù trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược…

Ngày 8-5-1965, 7 thành phố: Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát, Xta-lin-grát, Ki-ép, Ô-đe-xa, Xê-va-xtô-pôn và Pháo đài Brét đã được Đoàn Chủ tịch Xô-viết Tối cao Liên Xô ra Sắc lệnh phong tặng danh hiệu Anh hùng. Ngày 14-9-1973, hai thành phố: Nô-vô-rô-sích và Kerch; ngày 26-6-1974: thành phố Min-xcơ, ngày 7-12-1976: Thành phố Tu-la, ngày 6-5-1985: Hai thành phố Múc-man-xcơ và Xmô-len-xcơ tiếp tục được xét tặng danh hiệu cao quý này.

Quần thể tượng đài kỷ niệm trên đồi Ma-mai-ép tại thành phố Vôn-ga-grát.

Sau đây là 4 trong số 13 thành phố Anh hùng tiêu biểu:

* Thành phố-Pháo đài Anh hùng Brét

Pháo đài Brét được xây dựng vào năm 1833-1842 thời nước Nga Sa hoàng, cách thị trấn Brét 2km về phía Tây, bên hữu ngạn sông Buga-Tây, sát biên giới với Ba Lan. Thời Liên Xô đây là nơi đồn trú của quân đội biên phòng Xô-viết.

Ngay từ ngày đầu quân Đức bội ước tấn công Liên Xô (22-6-1941), quân số của quân đội Xô-viết ở đây kể cả lực lượng thuộc Bộ Nội vụ không tới 3,5 nghìn chiến binh. Quân phát xít với lực lượng vượt xa cả về quân số và vũ khí-quân đoàn 12 thuộc “Cụm quân Trung tâm” cùng 3 trung đoàn pháo binh phối hợp, đã hùng hổ tấn công tưởng rằng nhanh chóng nuốt chửng pháo đài này. Trước sức tấn công của bộ binh, pháo binh, xe tăng và không quân Đức, Brét bị rơi vào vòng vây chặt của quân thù. Trong tình thế hiểm nghèo, các chiến sĩ bảo vệ Brét đã thành lập Bộ chỉ huy phòng thủ, đứng đầu là Đại úy I.N. Giu-ba-chốp và chính ủy E.M. Pô-min. Từ ngày 22 cho tới 30-6-1941, quân địch với lực lượng đông gấp rất nhiều lần và vũ khí đủ loại đã nhiều đợt tấn công đồng loạt từ các hướng vào Brét.

Các chiến sĩ Xô-viết với tinh thần quả cảm và mưu trí đã giữ vững được trận địa nhiều ngày, đồng thời mở những đợt phản công quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại lớn. Tuy nhiên ở vào thế bị cô lập và không được bổ sung quân số, đạn dược cũng như thiếu thức ăn, nước uống, thuốc men… do những khó khăn lớn và thiệt hại nặng nề của quân đội Xô-viết những ngày đầu chiến tranh, pháo đài Brét dần dần bị quân thù đánh lấn. Các chiến sĩ bảo vệ phải chia lẻ lui dần vào các hang hốc, hầm ngầm để chống cự cho đến hơi thở cuối cùng. Tới ngày 20-7-1941, nhiều chiến sĩ đã hy sinh, một số vì kiệt sức và bị thương đã rơi vào tay giặc, số ít còn lại thoát được vòng vây trở về tham gia phong trào du kích.

* Thành phố anh hùng Mát-xcơ-va – trái tim của đất nước Xô-viết

Từ ngày 30-9-1941, bắt đầu trận chiến ngoại ô thủ đô Mát-xcơ-va, một trong những chiến dịch lớn nhất của Chiến tranh thế giới thứ II. Với ý đồ chiến lược là chiếm cho được Mát-xcơ-va, theo kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng”, Bộ Tổng chỉ huy Đức đã tung vào đây một lực lượng vượt trội so với quân đội Xô-viết: Quân số gấp 1,4 lần (1,8 triệu so với 1,25 triệu); Vũ khí lớn gấp 1,8 lần (14.000 đơn vị so với 7.600); Xe tăng gấp 1,7 lần (1.700 chiếc so với 990); máy bay gấp 2 lần (1.390 chiếc so với 677).

Các đơn vị của Phương diện quân miền Tây, Quân khu Mát-xcơ-va, nhân dân lao động nội và ngoại thành đã kiên cường đánh trả quân thù. Từ các vùng, miền, các nước Cộng hòa trong Liên bang đã nhanh chóng đưa tới mặt trận này những đội quân, những đoàn tàu, xe chở vũ khí để góp sức cùng quân, dân Mát-xcơ-va đánh địch. Dựa vào hậu phương vững chắc, với tinh thần quả cảm, các chiến binh Xô-viết hết đợt này tới đợt khác giành giật với quân thù từng tấc đất, ngôi nhà, từng thôn xóm, làng mạc ở ngoại ô thành phố.

Báo “Sự thật” – Cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô ra lời kêu gọi: “Không để quân thù tiến thêm một bước tới Mát-xcơ-va!”. Ngày 5 đến 6-12-1941 bắt đầu cuộc phản công của các lực lượng vũ trang Xô-viết. Khắp nơi trên ngoại thành Mát-xcơ-va mịt mù lửa đạn. Các phương diện quân Miền Tây, Ka-li-nin, Bri-an-xcơ, Tây-Nam, các tập đoàn không quân đã phối hợp chiến đấu, từng bước đẩy lùi quân phát xít ra khỏi ngoại ô Thủ đô và các vùng rộng lớn bao quanh hơn 11 nghìn điểm dân cư. 38 sư đoàn thiện chiến thuộc “Cụm quân Trung tâm” của địch bị đánh tan. Hơn nửa triệu lính và sĩ quan Đức bị tiêu diệt. 1.300 xe tăng, 2.500 đại bác, hơn 15 ngàn xe quân sự, 1.600 máy bay địch bị phá hủy và bắn rơi. Quân Đức bị đẩy lùi khỏi vùng Mát-xcơ-va từ 100 đến 350km.

* Thành phố mang tên Lê-nin – cái nôi của cách mạng Tháng Mười Nga

Là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học và văn hóa lớn nhất của Liên Xô, do vậy khi vạch kế hoạch tấn công Liên Xô, phát xít Đức đã đặt mục tiêu xâm chiếm Lê-nin-grát (Xanh Pê-téc-bua) trong thời gian gần và nhanh nhất. Với mục tiêu chính trị và chiến lược: xóa bỏ khỏi bản đồ thế giới “cái nôi” cách mạng này, Hít-le đã đưa vào chiến dịch “Cụm quân Bắc” gồm 23 Sư đoàn bộ binh, 6 Sư đoàn xe tăng-cơ giới và Tập đoàn không quân số 1 (760 máy bay chiến đấu các loại). Ngoài ra, một lực lượng hùng hậu của quân đội Phần Lan và Na Uy cũng phối hợp với quân Đức tập kích từ phía Bắc và Tây Bắc thành phố. Bộ Tổng tư lệnh Tối cao Xô-viết đã dùng một lực lượng lớn không-hải-lục quân phía Bắc đất nước cho chiến dịch phòng thủ đặc biệt. Toàn thể cư dân thành phố, từ trẻ em, phụ nữ, người già đến công nhân, viên chức nhà nước… đều dũng cảm chịu đựng mọi hy sinh gian khổ để bảo vệ thành phố.

Trong 900 ngày đêm bao vây Lê-nin-grát, quân phát xít đã trút xuống thành phố hơn 100.000 quả bom cháy, bom na-pan, hơn 4000 quả đạn phá, gần 150 nghìn đạn đại bác; hơn 16.000 người bị giết, hơn 33.000 người bị thương; hơn 10 nghìn ngôi nhà bị phá hủy và hỏng nặng, song quân và dân của thành phố mang tên Lê-nin đã dũng cảm, kiên cường đánh trả kẻ thù, từ phòng thủ dần chuyển sang thế chủ động phản công.

Người chiến sĩ giải phóng” – tượng của Vút-xê-tích. Ảnh tư liệu

Từ ngày 12-1-1943, các cánh quân của Phương diện quân Lê-nin-grát, Phương diện quân Vôn-khốp cùng Hạm đội Ban-tích và Giang đoàn hồ La-đôi bắt đầu phản công để giải vây thành phố. Vào cuối tháng 1-1944, thành phố đã hoàn toàn được giải phóng sau 900 ngày đêm bị quân thù bao vây phong tỏa.

* Thành phố Anh hùng Xta-lin-grát (Vôn-ga-grát) – nơi diễn ra trận thắng tạo bước ngoặt quyết định

Là trung tâm công nghiệp và văn hóa, đầu mối giao thông nối miền Nam với vùng Trung tâm của Liên Xô, Xta-lin-grát là một vị trí chiến lược rất quan trọng. Do vậy, trong lúc đang bao vây Lê-nin-grát và đang bị đánh trả quyết liệt ở ngoại ô Mát-xcơ-va, Bộ Tổng chỉ huy Đức vẫn dùng một lực lượng rất lớn là “Cụm tập đoàn quân B”, trong đó có Tập đoàn quân số 6 thiện chiến do Thống chế F. Paulus chỉ huy hòng mau chóng chiếm được thành phố này, để từ đó làm chủ được vùng rộng lớn phía Nam Liên Xô.

Sau 125 ngày phòng thủ, cầm cự, từ 19-11-1942, quân đội Xô-viết chuyển sang phản công, chia cắt và bao vây quân địch từng cụm để tiêu diệt chúng. 75 ngày đêm tiếp theo là cuộc phản công chiến lược của quân đội Liên Xô. Cho tới ngày 2-2-1943, quân dân Xta-lin-grát đã đánh tan Tập đoàn quân số 6, Tập đoàn xe tăng số 4 của Đức, Tập đoàn quân số 3 và 4 Ru-ma-ni, Tập đoàn quân số 8 I-ta-li-a. Kết quả là 1,5 triệu binh lính, sĩ quan và tướng tá Đức, Ru-ma-ni và I-ta-li-a bị tiêu diệt và bắt sống (trong đó có Thống chế Paulus); phá hủy 2 ngàn xe tăng, hơn 10 ngàn đại bác vào pháo; bắn rơi gần 3000 máy bay các loại.

Chiến thắng Xta-lin-grát đã tạo bước ngoặt lịch sử quyết định của cuộc chiến. Từ đây, quân đội Liên Xô chuyển sang tấn công toàn diện quân xâm lược Đức trên khắp các mặt trận. Ngày 28-11-1943, tại Tê-hê-ran (thủ đô I-ran) đã diễn ra hội nghị các nguyên thủ của 3 cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh. Tại đây, Thủ tướng Anh Sớc-sin (Churchill) đã chuyển món quà đặc biệt – là thanh kiếm danh dự của nhà vua Anh Gê-oóc-ghi (Gheorghi) VI tặng quân và dân Xta-lin-grát. Trên thanh kiếm khắc dòng chữ: “Quà của vua Gheorghi VI tặng những người có trái tim thép, các công dân Xta-lin-grát với lòng kính trọng của nhân dân Anh dành cho họ”. Xta-lin đã nhận và chuyển món quà đầy ý nghĩa đó cho các công dân thành phố Anh hùng này ngay sau khi từ hội nghị trở về.

Xuân Hữu
qdnd.vn

Sáng mãi con đường vì dân, vì nước

Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011)

oOo

(GD&TĐ) – Năm nay chúng ta kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 –5/6/2011). 100 năm trước đây, trên con tàu L’Amiral Latauche Trasvill, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng với hoài bão mãnh liệt ra đi tìm đường giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân. Sự kiện này là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc. Tuy sớm thể hiện lòng yêu nước thương dân từ thuở còn đi học, nhưng đến thời điểm quyết tâm rời xa Tổ quốc tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước có chí lớn và đầy nhiệt huyết Nguyễn Tất Thành đã dứt khoát chọn lẽ sống của đời mình là vì dân vì nước. Và Người đã dâng trọn đời mình cho lẽ sống cao đẹp này. Có thể nói ngày Bác Hồ rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước là điểm khởi đầu sự nghiệp cách mạng to lớn của Người – sự nghiệp của một lãnh tụ cách mạng, người anh hùng giải phóng dân tộc.

(ảnh minh họa: Internet)(ảnh minh họa: Internet)

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người Việt Nam chúng ta không bao giờ quên được trang đen tối cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi đất nước ta chìm đắm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Không chịu khuất phục, bao người con ưu tú của đất nước như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… bằng cách lựa chọn của mình, đều đã tìm đường cứu nước nhưng đã không thành công. Bài học thất bại của những nhà yêu nước lớp trước đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm hiểu để lựa chọn, xác định một con đường đúng đắn có thể đập tan xích xiềng nô lệ của thực dân, giải phóng đất nước, mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình, mang lại ấm no hạnh phúc cho đồng bào mình.

Trên hành trình tìm đường cứu nước của mình, nhà yêu nước Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba qua châu Âu, châu Mỹ, châu Á, châu Phi, đã sống, làm việc, hoạt động ở gần 30 nước. Chính sự trải nghiệm và tầm nhìn được mở rộng như vậy cộng với tài năng thiên phú, khả năng tự học, tự nghiên cứu cao và trái tim vốn giàu tình thương yêu con người, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến một nhận thức quan trọng: Chính chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân đẩy người lao động cần lao ở các nước thuộc địa cũng như chính quốc rơi vào cuộc sống lầm than. Từ đó Người đã tìm đến với Chủ nghĩa Mác – Lê nin, xác định được con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn. Sau này, Nguyễn Ái Quốc, khi đó đã là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhớ lại: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với việc tìm đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã phất lên ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho cách mạng Việt Nam.

Tìm hiểu sâu thêm tư tưởng, tình cảm và con đường mà Hồ Chí Minh đã đi, chúng ta có thể hình dung chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh đã được hình thành và dựa trên nền tảng của một chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, một tình yêu thương con người bao la như biển cả. Người nói nhiều đến nhân dân, nhân dân đất nước mình và nhân dân thế giới. Đối với nhân dân đất nước mình, Người hay dùng từ “đồng bào” rất đỗi thân thương. Khi đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Lễ Quốc khánh đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945, Người dừng giữa chừng và bằng giọng trầm ấm thân thiết hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Kể cả khi nói và khi viết về nước hoặc về dân, Người thường gắn liền nước với dân, dân với nước, yêu nước gắn với thương dân, thương dân nước mình và yêu thương nhân loại với cái tâm hướng tới một thế giới đại đồng, thế giới xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Yêu nước thương dân nên phải làm cách mạng để giành độc lập tự do cho đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó là mục đích, là lẽ sống, là con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn, đã đi và đã truyền lửa cho lớp lớp cháu con tiếp bước. Chúng ta có thể điểm qua những dấu ấn, những sự kiện quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh kể từ khi Người tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, nghĩa là sau khi Người đã xác định được con đường đúng đắn cứu dân, cứu nước. Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp. Ngày 21/6/1925 Báo Thanh niên được thành lập; Báo do Người sáng lập nhằm chuẩn bị đường lối chính trị cho một tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Năm 1925, Người lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; và khi điều kiện chín muồi, ngày 3/2/1930, Người đã chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản thành một Đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa xuân năm 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Tháng 8/1945, Cách mạng thành công thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Sau thành công của Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta tiếp tục tiến hành thắng lợi kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Hồ Chủ tịch. Các sự kiện nêu trên đã ghi dấu trong lịch sử dân tộc và khẳng định tính đúng đắn của con đường cứu nước, cứu dân mà Hồ Chí Minh đã chọn và sau đó đã suốt đời đi theo hy sinh, phấn đấu để biến ước mơ, hoài bão, lý tưởng vì nước, vì dân của mình trở thành hiện thực.

Đã 100 năm kể từ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 42 năm kể từ ngày Người mãi mãi đi xa. Xin kính dâng Người một nén tâm nhang. Tháng 5 đến rồi, khắp đất nước mình, khói hương đang mang mang dâng lên tưởng nhớ Người. Với công lao như trời biển với dân, với nước, Người đã hiển thánh trong lòng dân tộc. Dù Người đã đi xa nhưng hình ảnh của Người, sự nghiệp của Người vẫn còn mãi mãi. Chúng con vẫn hằng soi vào tấm gương trong của Người để tâm hồn mình thêm trong sáng và để được tiếp thêm sức mạnh bước tiếp trên con đường mà Người đã tìm ra và đi trọn cuộc đời. Con đường vì dân vì nước của Người sẽ sáng mãi, cuốn hút, thúc giục toàn dân tộc bước tiếp, hướng tới một ngày mai tươi sáng, vì một Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng  văn minh, có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châu như điều Người hằng mong ước.

TS. NGUYỄN DANH BÌNH

gdtd.vn

Bác Hồ luôn là đề tài lớn, tạo cảm hứng mãnh liệt cho các tác giả

Nhà hát Âu Cơ (Hà Nội) tối 14/5 tưng bừng cờ hoa của buổi Lễ sơ kết và tặng thưởng các tác phẩm văn học, nghệ thuật (VHNT) và báo chí xuất sắc trong năm 2009 hưởng ứng Cuộc vận động sáng tác, quảng bá về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, do Ban Chỉ đạo (BCĐ) TW Cuộc vận động tổ chức. Đây cũng là hoạt động kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tới dự, có đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng ban Thường trực BCĐ TW Cuộc vận động; đồng chí Ngô Văn Dụ, Bí thư TW Đảng, Chánh văn phòng TW Đảng, thành viên BCĐ TW Cuộc vận động; đồng chí Huỳnh Đảm, Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên BCĐ TW Cuộc vận động; đồng chí Trần Văn Tuấn, Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ; đồng chí Phùng Hữu Phú, Ủy viên TW Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo TW, Trưởng BCĐ Cuộc vận động sáng tác, quảng bá về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và nhiều đồng chí Ủy viên TW Đảng, các thành viên BCĐ Cuộc vận động sáng tác, quảng bá về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; lãnh đạo các Bộ, ban, ngành, các văn nghệ sĩ, các nhà báo…

Mở đầu buổi lễ là một chương trình nghệ thuật đặc sắc, gồm những nhạc phẩm tiêu biểu viết về Bác trong những năm qua và các tác phẩm được tặng thưởng trong dịp này. Buổi lễ được mở đầu bằng liên khúc hợp xướng “Vinh quang Tổ quốc Việt Nam” (nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân), “Người là niềm tin tất thắng” (nhạc sĩ Chu Minh) và “Lời Bác, lời của non sông” (Thiếu tướng Hữu Ước) do NSND Quang Thọ, ca sĩ Đăng Thuật và các diễn viên Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội biểu diễn. Các tác phẩm “Viên gạch hồng trên phố Compoint” (nhạc sĩ Tôn Thất Lập), “Dưới cờ đoàn kết” (Lê Anh) và “Pác Bó hát mãi tên Người” (An Thuyên)… tiếp nối chương trình. Chương trình nghệ thuật khép lại bằng màn múa hát sôi nổi “Quà tháng 5 dâng Bác” (nhạc sĩ Hồng Đăng), “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (nhạc sĩ Phong Nhã) và “Mừng sinh nhật Bác” (nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân).

Đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư và đồng chí Ngô Văn Dụ, Bí thư TW Đảng, Chánh văn phòng TW Đảng trao giải thưởng cho 10 đơn vị báo chí Trung ươngvà các tỉnh, thành phố. Ảnh: Công Gôn.

Tại buổi lễ, đánh giá kết quả Cuộc vận động trong năm 2009, đồng chí Phùng Hữu Phú nhấn mạnh: “So với năm 2008, số lượng tác phẩm hưởng ứng Cuộc vận động tăng đáng kể. Cuộc vận động tiếp tục thu hút anh chị em văn nghệ sĩ, báo chí tham gia sáng tạo với các loại hình hết sức đa dạng, phong phú và hàng nghìn tác giả thuộc nhiều thế hệ, nhiều địa phương, nhiều dân tộc; trong đó, có nhiều văn nghệ sĩ, nhà báo tiêu biểu. Trong nhiều tác phẩm nghệ thuật, chân dung, hình tượng Bác Hồ được thể hiện một cách sinh động, sâu sắc, giàu mỹ cảm, có sức rung động mạnh mẽ đối với công chúng”.

Phát biểu ý kiến, đồng chí Trương Tấn Sang khẳng định: Những tác phẩm VHNT, báo chí được sáng tạo, quảng bá bằng tài năng, tấm lòng của anh chị em văn nghệ sỹ, báo chí hai năm qua đã góp phần đưa Cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, thu được kết quả quan trọng, có sức lan toả mạnh mẽ trong đời sống xã hội, góp phần giữ gìn, bồi đắp các giá trị đạo đức, lối sống, đạo lý dân tộc; lòng yêu đất nước, yêu nhân dân, yêu CNXH; trau dồi phẩm chất “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”; “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; gắn kết việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cả nước, của các cấp, các ngành, các địa phương và từng cơ quan, đơn vị. Thông qua tấm gương phản chiếu sinh động của báo chí, VHNT, nổi lên rất rõ một điều, bình dị mà sâu sắc: Bác Hồ luôn là đề tài lớn, tạo cảm hứng mãnh liệt cho các nhà văn, nghệ sỹ, nhà báo.

Đồng chí Vũ Văn Hiến, Ủy viên TW Đảng, Tổng Giám đốc Đài THVN và đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hòa, Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trao thưởng cho các tác phẩm, tác giả thuộc lực lượng vũ trang. Ảnh: Trang Dũng

Đồng chí Trương Tấn Sang cũng chỉ đạo: Để có nhiều tác phẩm tốt, các cơ quan làm công tác chỉ đạo, quản lý báo chí, văn hóa, văn nghệ, các cấp ủy Đảng, chính quyền cần định hướng tư tưởng, nội dung và tạo điều kiện để anh em văn nghệ sỹ, báo chí gắn bó chặt chẽ với hiện thực đời sống xã hội; nắm bắt, phát hiện, tuyên truyền, cổ vũ kịp thời nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt nổi lên trong Cuộc vận động. Các nhà báo, nhà văn, nghệ sỹ cũng cần tích cực, chủ động, thường xuyên bám sát thực tiễn của Cuộc vận động, nâng cao nhận thức, cảm hứng thẩm mỹ và năng lực chuyên môn, sáng tạo nhiều tác phẩm có chất lượng tốt, vươn tới tầm cao, chiều sâu tư tưởng và nghệ thuật, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tại buổi lễ, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã trao thưởng cho 72 tác giả, nhóm tác giả, nghệ sỹ và 14 cơ quan báo chí, đơn vị nghệ thuật có thành tích xuất sắc. Kết quả này ghi nhận nỗ lực của giới báo chí và văn nghệ sĩ, đồng thời, một lần nữa khẳng định, đề tài về Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận với báo giới và văn nghệ sĩ. Dù đã có nhiều tác phẩm đoạt giải, nhưng ai cũng đều hiểu rằng, tác phẩm đỉnh cao về Hồ Chí Minh vẫn luôn ở phía trước, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của mỗi người.

* Báo CAND là một trong 10 cơ quan báo chí được tặng thưởng của cuộc vận động.

* Hợp xướng “Lời Bác – Lời của non sông” của Thiếu tướng – Nhà văn Hữu Ước; Phim tài liệu “Vì nhân dân phục vụ” của điện ảnh CAND và Tác phẩm Acappelia “Rừng thông Đông Sơn mãi vọng vang lời Bác” của nhạc sĩ Trương Hùng được tặng thưởng của cuộc vận động.

Thanh Hằng

cand.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, ngọn cờ chỉ đường chiến thắng của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Tư tưởng chiến tranh nhân dân là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Ðó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ lãnh đạo, ngọn cờ tập hợp, ngọn cờ động viên, cổ vũ nhân dân ta, quân đội ta làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, những chiến công lừng lẫy suốt 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân được phát huy lên những đỉnh cao mới. Tư tưởng ấy xuất phát từ tính chất cuộc chiến tranh chống xâm lược, chiến tranh yêu nước, chính nghĩa, cách mạng của thời đại. Ðó là chiến tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam.

Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Bác Hồ viết: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đề ra hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, xây dựng quyết tâm giành độc lập cho dân tộc, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân. Trước tội ác “trời không dung, đất không tha” của giặc Mỹ – tay sai, Bác Hồ khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”, “Vì độc lập, Vì tự do,/ Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Với quyết tâm ấy, dưới ngọn cờ của Ðảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã xốc tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 lịch sử.

Từ khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta hiểu sâu hơn tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của quần chúng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại. Trước thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với sự tham gia của nhân dân ở mức độ khác nhau, đã đánh bại nhiều thế lực xâm lược hung bạo, trong đó có cả kẻ thù sừng sỏ Mông – Nguyên. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, dân tộc ta lại phải lần lượt đương đầu với những kẻ thù hoàn toàn mới, khác hẳn với các kẻ thù thời trước. Ðiều kiện lịch sử mới phải có lý luận mới về chiến tranh nhân dân hiện đại, trong đó việc xác định đặc điểm thời đại, tính chất chiến tranh, nguồn lực cơ bản để tiến hành kháng chiến được đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, ngay trong thời kỳ chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong phạm vi cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự khác nhau giữa chiến tranh hiện đại và chiến tranh trước đây, qua đó xác định vai trò và nguồn lực chủ yếu trong chiến tranh hiện đại.

Người viết “Trước kia, chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay, đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia, chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể thắng lợi được”(1).

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Người phát triển quan điểm trên và nhấn mạnh: Phải nâng cao kiến thức quân sự cho toàn dân, “Giáo dục nhân dân từ các cháu đến ông già, bà cả về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân”, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu. Người còn căn dặn: Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến giữ sức dân, người của kiệt thì quân nhiều không đánh được.

Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Ðảng và Nhà nước ta hết sức chăm lo cho nhân dân về đủ mọi mặt. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân cả nước trở thành một khối thống nhất, cao trào cách mạng dâng cao trong mọi giới, mọi ngành. Ðó là phong trào hành động cách mạng: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt”, “Chắc tay súng, vững tay cày”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Làm nghìn việc tốt”. Nhờ vậy, sức mạnh chiến đấu của toàn dân Việt Nam trên cả hai miền nam – bắc được nhân lên gấp bội, phát triển mạnh mẽ. Sự đóng góp sức của, sức người “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của nhân dân miền bắc là tấm lòng, là quyết tâm của cả nước đối với sự nghiệp giải phóng miền nam.

Trong giai đoạn cuối chiến tranh “toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt” được phát huy cao độ, kết hợp với sức mạnh của thời đại, thực lực cách mạng ngày càng lớn mạnh. Nhờ có thực lực cách mạng mạnh, ta đã tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến, ta nhanh chóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ hai, Người nhấn mạnh phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ động trong chiến tranh: Ðộc lập, tự chủ và giữ vững chủ động là hai quan điểm nổi tiếng mà Người đã nêu ra. Từ quan điểm đó, Người xác định sức mạnh của công cuộc giải phóng: “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân anh em.”

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó của Người, trong các chặng đường cách mạng, Ðảng ta luôn luôn chủ động, độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối cách mạng cũng như trong việc tổ chức lực lượng và chỉ đạo thực tiễn sắc bén để giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước.

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, phát biểu tại Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ sáu (7-1954), Người khẳng định: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(2). Năm 1956, viết bài đăng trên báo Sự Thật (Liên Xô) Người nêu rõ là trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi Ðảng cộng sản. Người giải thích với bạn bè quốc tế: “Dân tộc Việt Nam phải vạch ra những phương pháp và biện pháp riêng của mình để chống âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước cũng như để quá độ dần dần lên chủ nghĩa xã hội là điều thật rõ ràng…”(3).

Cân nhắc tất cả những nhân tố liên quan, theo định hướng lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định là con đường giải phóng miền nam chỉ là con đường cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 15 đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Dưới ánh sáng Nghị quyết của Ðảng, phong trào “đồng khởi” của nhân dân đã nổ ra, phát triển thành chiến tranh cách mạng; vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh quân sự, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Hòng cứu vãn tình thế thất bại, đầu năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở miền nam, đồng thời dùng không quân, hải quân mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đứng trước thử thách nghiêm trọng chưa từng thấy. Nhiều nước lo ngại Việt Nam khó có thể đương đầu nổi với Mỹ. Song, với tư duy biện chứng, khoa học, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá đúng sức mạnh của Mỹ, đồng thời cũng nhận rõ những hạn chế và chỗ yếu của đối phương, nên đã nhận định: Ðế quốc Mỹ đưa vào miền nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Từ nhận định đó, Ðảng ta chủ trương động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào.

Sau thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công vang dội của quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, giới cầm quyền Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất cực kỳ tàn bạo và ngoan cố, đối phương đã phá hoại Hiệp định Paris một cách hệ thống. Trước tình hình đó, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ 21 BCH T.Ư Ðảng (10-1973) khẳng định: “Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, nắm vững đường lối chiến lược tiến công”.

Với tư tưởng chỉ đạo đó, từ cuối năm 1973, Quân khu 9 đã phản công địch lấn chiếm và đầu năm 1975, ta chủ động tiến công và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng gần Sài Gòn. Thắng lợi đó giúp cho ta có thêm căn cứ thực tiễn quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên. Tây Nguyên thắng lợi tạo thời cơ thuận lợi cho quân dân ta giải phóng Huế – Ðà Nẵng và hội tụ lực lượng giải phóng Sài Gòn.

Sau này, trên cơ sở phân tích những tài liệu thu thập được, giới nghiên cứu chiến lược Mỹ đã phải chua chát thừa nhận: “Ưu thế hơn hẳn của chiến tranh cách mạng Việt Nam là nằm trong thế chiến lược chủ động. Mỹ như phải nhảy theo điệu nhạc chiến lược của Bắc Việt Nam. Chiến lược chủ động của Bắc Việt có một giá trị đặc biệt. Chúng ta thừa nhận chiến lược chủ động của Việt cộng”(4).

Chiến lược chủ động của chiến tranh cách mạng Việt Nam “có giá trị đặc biệt” như đối phương thừa nhận, có cơ sở tư tưởng là quan điểm về tính chủ động “nắm vững chủ động” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Người khẳng định rằng chiến tranh nhân dân phải có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, có hậu phương vững mạnh. Căn cứ vào mục tiêu và động lực của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại, tư tưởng chiến tranh nhân dân của Người đã đề cập một cách hệ thống các quan điểm về đoàn kết toàn dân, động viên sức mạnh toàn dân đánh giặc; vũ trang toàn dân đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân; phát huy ưu thế của chế độ mới và mọi nguồn lực của quốc gia, tranh thủ các nguồn lực quốc tế… Với hệ thống các quan điểm đó, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp  phát triển mạnh.

Ðến thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, do đối tượng của cách mạng khác trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thêm các quan điểm ở những khâu chủ yếu như: phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng du kích và các hình thức đấu tranh của các lực lượng đó ở miền nam; sự phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền bắc, Người quan tâm nhiều đến hai khâu then chốt. Một là, phải xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Hai là, phải xây dựng hậu phương thật vững chắc.

Ở hai khâu then chốt này, Người lưu tâm việc xây dựng và phát triển các quân chủng, binh chủng kỹ thuật, nhất là không quân để “mở mặt trận trên không”, đến lực lượng cơ động và bộ đội tinh nhuệ, đến đội ngũ cán bộ cấp cao quân đội và cử những cán bộ có kinh nghiệm tác chiến tập trung vào chiến trường “cùng đồng bào miền nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi”. Người nhiều lần dặn dò các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt ở chiến trường ra bắc họp là phải hết sức chăm lo xây dựng hậu phương tại chỗ ở miền nam. Người căn dặn các đồng chí hoạt động đối ngoại, nêu rõ là ta cần phát huy ưu thế chiến tranh chính nghĩa của ta, làm cho bạn tin vào cuộc chiến đấu của ta nhất định thắng lợi, để qua đó tranh thủ sự ủng hộ vật chất, tinh thần cao hơn trước. Người nhắc nhở các cấp ủy Ðảng phải quan tâm đến giao thông vận tải. Bởi vì, giao thông vận tải thắng lợi, tức là chiến tranh đã thắng lợi một phần rồi.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, Ðảng ta đã đưa cuộc chiến tranh nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước phát triển nhảy vọt chưa từng thấy với nhiều nội dung và hình thức mới. Thêm vào đó, qua thực tiễn chiến đấu, quần chúng lại sáng tạo thêm nhiều  cách đánh hay, thắng gọn, làm cho cuộc chiến đấu của quân dân ta càng đa dạng về loại hình tác chiến, sâu đậm về tính nhân dân, phong phú về sự kết hợp giữa thô sơ với hiện đại. Quân Mỹ rơi vào thế trận đó, bị tiêu hao, bị tiêu diệt ngày càng nhiều, ý chí ngày càng suy sụp. Giới cầm quyền Mỹ, mặc dù nhiều cuồng vọng và mưu đồ, nhưng cuối cùng cũng nhận thấy Mỹ không thể thắng nổi đối phương, buộc phải rút quân về nước. Rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân, quân ngụy bị đánh từ mọi phía, mọi nơi, tinh thần chiến đấu ngày càng giảm sút. Trong khi đó, ta càng đánh càng mạnh. Giai đoạn cuối chiến tranh, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chất lượng chiến đấu của quân ta hơn hẳn quân địch. Các quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược của ta đã đứng chân ở những địa bàn trọng yếu. Hệ thống đường giao thông vận tải, đường ống xăng dầu được nối thông suốt từ hậu phương đến tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu chiến tranh hiện đại.

Xây dựng hậu phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh, miền bắc đã phát huy sức mạnh to lớn của mình trong chiến tranh cách mạng. Vượt qua hai lần chiến tranh phá hoại khốc liệt của quân thù, miền bắc vẫn đứng vững và có bước phát triển mới. Trong chặng đường chống Mỹ, cứu nước, hợp tác xã nông nghiệp ở miền bắc giữ vững sản xuất và cung cấp hai triệu lao động cho lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu. Trước khi vào Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, theo kế hoạch Bộ Chính trị thông qua, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn 56 vạn tấn vật chất. Bằng sự cố gắng cao độ, hậu phương miền bắc đã hoàn thành vượt chỉ tiêu đó.

Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các đơn vị bộ đội chủ lực đã được trang bị đầy đủ về mọi mặt. Các trang bị chủ yếu như: vũ khí, xe cộ, lương thực, thực phẩm… đều vượt mức yêu cầu. Ðược như thế là do miền bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng cả nước. Từ sức mạnh đó, quân dân ta đánh địch trên thế mạnh, áp đảo, kết thúc chiến tranh hợp với quy luật mạnh thắng, yếu thua.

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về nguồn sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Ðó là sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Dưới ánh sáng tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từng bước xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh như lời dặn của Bác Hồ kính yêu.

———————-

1. Q.Th: “Hình thức chiến tranh ngày nay”. Báo Cứu quốc ngày 20-09-1946.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sdd, 1996, trang 317.

3. Nghiên cứu Văn kiện Ðảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự Thật, H, 1986, trang 325.

4. Davidson, Những bí mật của chiến tranh Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 12-1994, trang 46.

LÊ VĂN THÁI
(Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

nhandan.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sinh khí của một học thuyết

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến…

…………………………………………..

1. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi nghĩ, là nghiên cứu đồng thời ba bộ phận hợp thành một tổng thể:

– Trước tác.

– Cuộc đời.

– Diễn biến của đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ khi tư tưởng Hồ Chí Minh tác động tại đây cho đến hôm nay.

Cả ba bộ phận hợp thành đều mang tầm quan trọng như nhau, bổ sung cho nhau, cả ba cộng lại mới đủ sức vẽ lên trung thực toàn bộ và hệ thống một tư tưởng lớn của Việt Nam và thời đại.

Trước tác là mặt biểu thị trực tiếp nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua các bài báo, phát biểu, sách, sáng tác văn học, lời kêu gọi… suốt 5 thập kỷ (1919 – 1969), chúng ta biết được quan điểm của Người trước các vấn đề đặt ra cho vận nước và một số vấn đề đặt ra cho loài người. Tuy nhiên, sẽ chỉ tiếp cận một phần tư tưởng Hồ Chí Minh nếu chúng ta chủ yếu nghiên cứu tư tưởng của Người qua trước tác, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng gắn chặt tư duy với hành động thực tiễn.

Cuộc đời của Người từ buổi thanh niên đến khi vĩnh biệt chúng ta nối dài một chuỗi hoạt động cách mạng không ngơi nghỉ. Tư tưởng của Người hóa thân vào các ứng xử cả tầm chiến lược lẫn trong giao tiếp đời thường. Chính phạm vi hoạt động của Người, công tác mà Người đảm trách, mối quan hệ của Người với đủ đối tượng và nhất là chính với tư cách con người mà Người sống với chung quanh đã nói thậm chí nhiều hơn những gì Người lưu lại cho chúng ta trong Toàn tập.

Cái mà có người gọi là tác phong Hồ Chí Minh phản ánh một lối sống gần với tự nhiên, xuất phát từ sự chân thật trong cốt cách. Trước tác và cuộc đời của Hồ Chí Minh rất phong phú, song cũng chưa phản ánh trọn vẹn tư tưởng của Người. Không thể xem quá trình diễn biến của cách mạng, đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ 1920, 1930, đặc biệt từ 1945 và nhất là hiện nay như ngoại biên của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm sao hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không hiểu cái gì là trung tâm dẫn đồng bào ta thực hiện toàn thắng cuộc cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến và đang thực hiện thắng lợi bước đầu sự nghiệp Đổi mới. Sự đứng vững của Việt Nam trước cơn khủng hoảng cực kỳ gay gắt dẫn đến sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Liên Xô, cơn thoái trào cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới và ngay những thành tựu kinh tế hiện nay của nước ta cũng không ra khỏi sự hướng dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh – có những thoát ly đấy và đã thoát ly tư tưởng Hồ Chí Minh thì không phải là thành tựu mà trái lại hoặc dự báo cho cái rất xấu khó tránh khỏi dù với toàn cục hay với từng cá nhân.

Như vậy, quỹ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Việt Nam hết sức rộng.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh được ấp ủ lâu dài trong cái nôi chủ nghĩa yêu nước, tẩm mình sâu sắc trong hồn dân tộc, là kết tinh của truyền thống nhiều nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Trên cái nền kiên cố ấy, trên mảnh đất phì nhiêu ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh gạn lọc các hạt giống trí tuệ cổ kim phương Đông, phương Tây và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, sản phẩm khoa học hiện đại vào một đất nước cụ thể. Người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, thủ cựu, hẹp hòi, vị kỷ, cũng như người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc tế không tưởng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh – lúc còn là Nguyễn Ái Quốc – đã nói rõ chủ nghĩa Lênin cung cấp cho Người chủ yếu nhất là điều gì và tại đại hội Tours, một đại hội của những đảng viên xã hội và cộng sản, Người nhấn mạnh quan điểm của mình. Chủ nghĩa quốc tế vô sản đến với Người tức đến với nước Việt Nam thuộc địa, chậm tiến và Người thể hiện sự nghiệp quốc tế qua sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người – giải phóng tập thể dân tộc thoát khỏi ách nô lệ nước ngoài đồng thời giải phóng những “cùng đinh” thoát khỏi “giặc đói, giặc dốt”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Mác-Lênin đã được tiêu hóa vào không gian và thời gian xác định, lấy cái cốt lõi giải phóng con người khỏi ách áp bức, tự do hóa tiềm năng con người bắt đầu từ một đối tượng cụ thể là đồng bào của Người. Để thực hiện nhiệm vụ đó, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên nguyên lý giải phóng con người bị áp bức trong xã hội tư bản, trong các xứ thuộc địa nói chung để tìm ra phương thức giải phóng con người Việt Nam. Tất nhiên, trào lưu giải phóng vốn đa dạng, tư tưởng Hồ Chí Minh chọn khả năng tối ưu hơn cả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chấm dứt ở Việt Nam mặc cảm “nỗi buồn nhược tiểu” và trang bị cho những người dân Việt Nam bình thường niềm tự tin khả năng “đào núi lấp biển, có chí cũng làm nên”.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh tất nhiên là tư tưởng chính trị, định hướng chính trị song mang đặc thù dễ phân biệt với các tư tưởng đương thời khác ở phần lớn biểu hiện của tư tưởng dưới dạng văn hóa. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh tác động vào xã hội như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh hợp chất lý và tình, tổng quát và đơn lẻ, thuyết phục bằng cảm hóa. Đặc thù này bộc lộ rõ và trở thành xuyên suốt từ 1945, tức từ khi nước ta giành được độc lập, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một thành tố quan trọng trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực bổ sung cho nền luân lý truyền thống. Cũng có thể xem tư tưởng Hồ Chí Minh đã hiện đại hóa nền luân lý lâu đời của Việt Nam. Cái đáng lưu ý là tư tưởng Hồ Chí Minh như giáo huấn xã hội chủ nghĩa mà không mâu thuẫn với giáo huấn dân tộc cổ truyền thậm chí dân gian. Gạch nối này tôn tạo văn hóa dân tộc, đồng thời truyền bá các tri thức hiện đại, các khái niệm đạo đức hiện đại.

Tự biểu hiện đến trình độ một nền văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh thâm nhập vào xã hội, ảnh hưởng đến nếp nghĩ, nếp sống hàng chục triệu người, đến quan hệ cộng đồng và đến sự tu thân cá nhân. Đạo đức Hồ Chí Minh, phần kết tinh lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta có thể cắt nghĩa hiện tượng trên ở chỗ tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ chữ “Cứu” – cứu nước, cứu dân, cứu người – và ở chỗ một tư tưởng đạt mức xã hội hóa như thói quen cần phải giữ gìn, vun bồi của mọi người Việt Nam thuộc mọi giới, mọi lứa tuổi…

Theo tôi, về phương diện này, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “đắc đạo”.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi rất trọng đoàn kết dân tộc trong các lĩnh vực đấu tranh. Việt Nam là nước nhỏ, luôn phải đối phó với nạn xâm lược nước ngoài, tồn tại trong điều kiện thiên nhiên có nơi rất khắc nghiệt. Cho nên, những “tình làng, nghĩa xóm”, “đồng bào”, “người chung một nước”, v.v… đã nối liền nhân dân ta suốt nhiều nghìn năm. Đó cũng là cái lẽ sinh tồn của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh thừa kế gia tài đồ sộ, giàu có ấy, mở rộng biên độ khái niệm quần chúng đến tất cả những ai vẫn còn thừa nhận mình là con dân nước Việt Nam.

Sáng tạo này nắm được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp và nhờ đó đã hóa giải khôn ngoan những đối kháng về quyền lợi bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cao nhất cho quyền lợi toàn cục, bởi vì mục tiêu của cách mạng đồng thời phải là mục tiêu của nhân dân lao động và, trong các trường hợp xác định, mục tiêu ấy thống nhất với đòi hỏi của dân tộc và tình thế. Chỉ có như vậy, hành động cho cái chung mới huy động được đông đảo người tham gia.

“Đại đoàn kết” của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tư duy triết học, khác với một số nhà tư tưởng đương thời khi họ có quan điểm cực đoan về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, tách biệt hoặc đối lập một cách siêu hình các tầng lớp xã hội cơ bản với các tầng lớp xã hội khác, khiến quá trình cách mạng vừa chậm vừa khó khăn không đáng có. Tư tưởng Hồ Chí Minh cố tìm mẫu số chung của toàn dân tộc thay vì khoét sâu sự cách biệt, đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của lịch sử trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ.

5. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử: Đưa Đảng Cộng sản trở nên chính đảng đại biểu của dân tộc mà không làm nhòa tính công nhân tiền phong. Chính ý thức thời đại cho phép tư tưởng Hồ Chí Minh thành đạt trong vấn đề mấu chốt này cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn, cả trong quá trình giành độc lập dân tộc lẫn thời kỳ xây dựng xã hội mới.

Xử lý vấn đề mấu chốt này liên quan đến ba trọng điểm: một, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân phải thể hiện cho được ý nghĩa tiền phong chính yếu là đi đầu một đội ngũ quần chúng đông đúc, gồm tuyệt đại đa số dân tộc, không biệt phái, không đứng trên mà đứng trong đội ngũ ấy; hai, chủ nghĩa quốc tế vô sản hòa nhập với dân tộc, cái phổ cập phải được đặc thù hóa, Đảng Cộng sản phải tự trở thành đảng của dân tộc; ba, khi đảng đã cầm quyền, sự thống nhất lên đến mức cao giữa giai cấp, nhân dân, dân tộc, quốc gia và đảng mà lợi ích bao trùm là lợi ích dân tộc – dân tộc không tự tôn, không tham vọng bá quyền, thông cảm và đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ, tán thành, ủng hộ cái đúng, chống cái sai bất kể từ đâu đến, khôn khéo (song tự trọng), tự xếp mình như mọi dân tộc khác trong cộng đồng thế giới.

6. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, nó luôn tiếp nhận sự bồi bổ từ trí tuệ, thực tế phát triển của Việt Nam và thế giới. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vào đầu thế kỷ XXI này tức nghiên cứu một tầng nấc cụ thể của tư tưởng ấy sau nhiều chục năm vận động. Cũng như nghiên cứu các học thuyết Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa, Mác… điều chúng ta quan tâm phát hiện là phương pháp tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không hiếm những giáo huấn đã dân gian hóa.

Giữa một thế giới biến động – và đảo lộn nữa – Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đôi phần khiêm tốn mà chúng ta vừa giành được trong những năm qua khẳng định rằng con đường chúng ta đi dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng. Tuy nhiên, nếu nhìn thực trạng Việt Nam hiện nay, chúng ta dễ dàng thấy sự tuân thủ tư tưởng Hồ Chí Minh chưa nghiêm, nếu không nói là lơi lỏng.

Trong thứ tự: tu thân, tề gia, trị quốc, chúng ta đã vấp hai cái đầu, do vậy, trị quốc rơi vào chỗ khó khăn – sẽ còn khó khăn hơn. Bên ngoài – những người Cộng sản, những người xã hội chủ nghĩa, những người tiến bộ và đương nhiên, luôn kẻ thù – theo dõi chúng ta với niềm tin, nỗi lo và sự đố kỵ. Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta vượt cơn thử thách một cách ngoạn mục, nhưng sự suy thoái đạo đức đe dọa chúng ta. Trong sự suy thoái ấy, óc độc tôn, độc quyền tất nhiên đẻ ra đẳng cấp “ăn trên ngồi trước”, hủy hoại thành quả cách mạng, nguy hiểm hơn mọi âm mưu thâm độc nhất của kẻ thù.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời có nghĩa nghiên cứu về một thời sự: chủ nghĩa xã hội, chế độ định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đất nước trong lúc cả phong trào xã hội chủ nghĩa gặp khó khăn nghiêm trọng ở một nước không đông lắm về dân số, không rộng lắm về đất đai, không phát triển lắm về kinh tế. Tất nhiên, đây là một chủ nghĩa xã hội xét từ thực chất, tức không phải mang trong nó chủ nghĩa bành trướng, không đối địch với nhân quyền, kết hợp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và đạo lý trong một thể hài hòa, nói cách khác, phù hợp với tư trào hiện đại của loài người.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh không thể cho tất cả đáp số của mọi bài toán nảy sinh trong mọi điều kiện lịch sử, đó cũng không phải là thánh kinh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến.

Đến nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã 34 năm. Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống với chúng ta. Nhưng, cần phải nhớ chính hôm nay, ngày mai, chính những người Cộng sản Việt Nam, chính nhân dân Việt Nam là tác giả nối tiếp trên tư duy, trong tình cảm và trên thực địa tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bảo vệ thành công sự nghiệp xây dựng đất nước, xã hội, con người Việt Nam qua bao nhiêu giông tố – không phải lãnh tụ của quốc gia nào cũng làm được như thế.

Đó là một học thuyết đầy sinh khí.

Hạnh phúc đối với dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam có tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng hạnh phúc khi tư tưởng ấy, học thuyết ấy được kế thừa theo tinh thần trung thành các nguyên lý bản chất và luôn được bổ sung, đổi mới.

TRẦN BẠCH ĐẰNG – 3-1993
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ – 2-2007)

Tuổi trẻ Onlnie

Tới Milan tìm lại dấu chân Bác

(Dân trí)- Trong cái lạnh xứ châu Âu, gần 80 năm sau, PV Dân trí có dịp đến quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio tại thành phố Milan, Italia nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Từ Việt Nam, tôi luôn bồi hồi trong suốt chặng đường từ Hà Nội sang Milan- thành phố vốn nổi tiếng là “Kinh đô thời trang thế giới”, cùng tên tuổi lừng danh của hai đội bóng Inter Milan và AC Milan.

Ngay khi đặt chân đến Milan, tôi bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp cổ kính cũng như sự sạch sẽ ngoài sức tưởng tượng của thành phố này. Các cửa hàng thời trang, những trung tâm thương mại luôn tấp nập người mua bán. Những con phố lát đá hàng trăm năm đen thẫm in dấu chân triệu triệu người, đến rồi đi.

Thật bất ngờ và may mắn hơn cả, khi chúng tôi được anh Phan Lến, một Việt kiều đã có thâm niên hơn 30 sinh sống tại Milan dẫn đến thăm quán ăn nhỏ trên con phố Pasubio yên bình tại thành phố Milan, nơi Bác Hồ thường xuyên sống và làm việc trong những năm 1930, khi Người từ Paris sang Milan gặp các đồng chí Quốc tế Cộng sản.

Dưới đây, là một số hình ảnh PV Dân trí ghi lại từ quán ăn trên phố Pasubio, Milan:

Nhà số 10 phố Pasubio

Góc tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân viên của quán tự hào khi nói về lịch sử ngôi nhà với PV Dân trí và một số Việt kiều tại Italia

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính quyền thành phố Milan đã gắn bên ngoài ngôi nhà này một tấm biển bằng đá, ghi rõ “Ngôi nhà này là nơi Hồ Chí Minh thường lui tới trong thời gian ở nước ngoài của Người vào những năm 1930 để bảo vệ tự do cho nhân dân”.

Theo những nhân viên phục vụ tại quán ăn cho biết, ngôi nhà có từ năm 1880. Những năm gần đây, mỗi khi có người Việt Nam đặt chân đến Milan đều ghé thăm địa chỉ này.

Vũ Văn Tiến

dantri.com.vn