Tag Archive | Chính trị – Xã hội

’12 ngày đêm máu lửa’ qua bài giảng Thiếu tướng

– Sáng 3/12, Thiếu tướng Vũ Anh Thố cùng thầy trò Trường THPT Đống Đa (Hà Nội) đã có buổi trò chuyện ôn lại chiến thắng Điện Biên Phủ trên không của quân dân thủ đô năm 1972.

THÔNG TIN LIÊN QUAN

Điện Biên Phủ trên không: Ngày phán xét
Lầu Năm Góc: Lẩn tránh và Giấu diếm
Lầu Năm Góc ồ ạt gửi điệp viên ra nước ngoài
Chặn đứng ‘pháo đài bay’

Thiếu tướng Vũ Anh Thố và hồi ức về một thời đạn bom năm 1972.

Nói chuyện với các học trò THPT về 12 ngày đêm máu lửa, Thiếu tướng Vũ Anh Thố – Nguyên Phó Tư lệnh quân chủng phòng không không giấu được xúc động: “Chúng ta chiến thắng nhưng hàng ngàn quân dân thủ đô đã ngã xuống. Riêng Khâm Thiên 1 đêm thôi đã có 577 người chết và bị thương, 534 ngôi nhà bị phá hủy”.

Bài giảng về một thời đạn bom

Lúc B52 đánh vào Hà Nội là khi ông đang làm cán bộ tiểu đoàn tên lửa. Tiếng gầm thét của máy bay B52, sự đáp trả của nhân dân ta trên các mặt trận lại có dịp trở về trong kí ức của vị thiếu tướng quân sự.

4 vấn đề được trình bày, theo Thiếu tướng Vũ Anh Thố: “Cũng là những điều tôi nghe, tôi thấy bạn bè, thầy cô và học trò hay hỏi: Nguyên nhân gì Mỹ dùng B52 đánh Hà Nôị? B52 là gì? Ta đánh B52 như thế nào? Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng là gì?”

“Khi ấy Mỹ đang thất thế ở chiến trường miền Nam nước ta với 48.000 quân bị chết (có tài liệu nói 58.000), 300.000 bị thương, thiệt hại đến 130 tỷ USD. Mỹ đánh Hà Nội nhằm cứu vãn tình thế nhằm bóp nát chúng ta, bắt VN phải theo ý định của chúng trên bàn hội nghị. Đánh Hà Nội, Mỹ muốn cắt đứt chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Đây cũng là đòn giáng vào phong trào giải phóng dân tộc, ủng hộ VN của nhân dân thế giới đang lên cao” – Vị thiếu tướng dẫn giải.

Một nửa lực lượng không quân chiến lược Mỹ có và toàn bộ không quân chiến lược ở Đông Nam Á, 2 tàu sân bay, toàn bộ lực lượng ở Philippines với tổng cộng 270 tàu lái sẵn sàng thay thế nhau đánh Hà Nội.

Loại máy bay chiến lược tối tân B52 với 6 cái nhất đã được lính Mỹ sử dụng, đặc biệt là khả năng chở tối đa 45 tấn bom/lần. B52 được trang bị chống đối về kỹ thuật tối tân nhất và bay cao, bay xa nhất.

“Cứ hình dung họ dùng một đèn pha lớn chiếu thẳng vào mắt để ta không nhìn được. Chúng muốn đem sức mạnh bom đạn và chiến thuật nhằm bịt mắt ta nhằm hủy diệt thủ đô Hà Nội” – Thiếu tướng Thố ví von.

Dẫu gặp nhiều khó khăn nhưng quân dân Hà Nội và miền Bắc đã mưu trí đáp trả bằng những đòn đích đáng. Ông nhắc lại việc Bác Hồ đã lường trước việc Mỹ có thể đánh Hà Nội từ những năm 1966, 1967 để quân chủng phòng không không quân chuẩn bị kỹ lưỡng. 6 năm thử thách trên chiến trường với 3 trung đoàn tên lửa, khí tài, hàng nghìn cán bộ chiến sĩ hi sinh ta đã tìm ra cách đánh và thành công.

Thầy trò Trường THPT Đống Đa hát mừng kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ
trên không (tháng 12/1972-tháng 12/2012).

“14/12 ta phê duyệt kế hoạch thì 18/12 máy bay của Mỹ đánh vào Hà Nội.

Ta chỉ có tên lửa SAM2, pháo cao xạ,.. “thường thường” nhưng với chiến thuật “địch dùng đèn chiếu thẳng, ta khôn khéo tránh và đứng sang bên sườn, đánh kiểu “móc họng”, đánh từ sau gáy, đánh knock out”.

Thế trận được quân dân Hà Nội chuẩn bị như cách nói của Thiếu tướng Thố: “Ta dùng “đơm đó” đón địch vì dự đoán địch bay vào đâu, bay như thế nào, chiến thuật ra sao, chỗ nào đánh được, đánh B52 ra sao,…”

Hai trận chiến ác liệt nhất là đêm 20/12 rạng sáng 21/12 và đêm 26/12 rạng ngày 27/12. Xác máy bay rơi, xác pháo, tên lửa sáng rực bầu trời đêm Hà Nội.

16.000 tấn bom đã rơi trên đất Hà Nội, hàng ngàn quân dân của chúng ta ngã xuống. Riêng Khâm Thiên thôi 1 đêm đã có 577 người chết và bị thương, 534 ngôi nhà bị phá hủy” – Vị Thiếu tướng xúc động.

Muốn trò hay Sử phải bắt đầu từ lãnh đạo

Bản thân vị thiếu tướng cũng buồn khi có vị lãnh đạo nói về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không nói “chúng ta nối dài tên lửa để đánh được máy bay” trên ti vi. Ông đi truy tìm, có người bảo do cô giáo dạy, trong sách Lịch sử lớp 11. Ông tìm mãi không ra.

Giọng ông trầm buồn: “Đó là điều không đúng, không chính xác. Thế nên lịch sử chỉ có một mà viết mãi vẫn không đúng. Có người vẫn nói sai”.

Nhân câu chuyện chiến thắng năm xưa, Thiếu tướng Thố cho rằng: “Có nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề ý thức hiểu biết lịch sử của thế hệ trẻ ngày nay. Với tư cách là giáo viên quân sự, nhà khoa học quân sự và người chỉ huy tôi tin tưởng vào thế hệ trẻ.

Lịch sử là truyền thống của dân tộc, đất nước và của một lớp người. Khi đất nước có xâm lăng thì cành cây ngọn cỏ, con ong cái kiến cũng trở thành lực lượng để chống ngoại xâm. Lắm lúc đánh giá chưa chính xác về thế hệ trẻ. Họ sẽ làm được những điều chúng ta đang suy nghĩ và trăn trở”.

Muốn thổi tình yêu lịch sử, theo Thiếu tướng Thố: “Phải bắt đầu từ gia đình và những người lãnh đạo. Xây dựng xã hội tốt đẹp phải chọn người lãnh đạo giỏi, đất nước phải có phong tục tập quán, nề nếp gia phong và có nhiều gia đình tốt”.

Dạy Lịch sử theo ông có thể bằng nhiều cách, đơn giản nhất là qua thơ ca, ca dao, văn chương hay những điệu múa. “Trẻ từ 10 tuổi trở xuống nhớ rất lâu. Hãy gieo vào lòng các cháu tình yêu ấy từ nhỏ. Học Lịch sử cũng như “năng nhặt chặt bị”, cuốc cày rèn rũa mãi cũng sáng nhưng không thể nhồi nhét kiểu học vẹt”.

Thiếu tướng Vũ Anh Thố trăn trở: “Dạy học và dạy học Lịch sử hiện nay không toàn diện, thiếu gắn kết vai trò của gia đình nên hiệu quả chưa cao”.

  • Văn Chung

vietnamnet.vn

Sư đoàn 361 kỷ niệm chiến dịch Điện Biên Phủ trên không

(VOV) -Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ chiến sĩ sư đoàn 361 tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Hòa chung khí thế của quân và dân cả nước, sáng 20/12, Sư đoàn phòng không 361 (Sư đoàn phòng không Hà Nội) tổ chức Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Diễn văn của Đại tá Nguyễn Quang Tuyến – Sư đoàn trưởng Sư đoàn 361 đã ôn lại mốc son chói lọi của thắng lợi trong chiến dịch Hà Nội 12 ngày đêm và khẳng định “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là thắng lợi của ý chí dám đánh, quyết đánh và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, riêng Sư đoàn Phòng không Hà Nội bắn rơi 25 chiếc B52 (16 chiếc rơi tại chỗ), diệt và bắt sống nhiều giặc lái.

Trong thắng lợi vĩ đại đó, nhiều tập thể, cán bộ, chiến sỹ của Sư đoàn đã nêu cao tinh thần đoàn kết, sáng tạo, vượt lên mọi hy sinh mất mát để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Đó là Trung đoàn 257, Trung đoàn 261 với nhiều tiểu đoàn tên lửa lập công xuất sắc, đánh giỏi, bắn rơi nhiều máy bay; là tấm gương hy sinh anh dũng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của trắc thủ kính ngắm quang học Nghiêm Xuân Danh của Tiểu đoàn 77.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại tá Nguyễn Quang Tuyến nói: Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cán bộ chiến sĩ sư đoàn đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vu sẵn sàng chiến đấu…/.

Huy Nam/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Nước Mỹ 2012: Hoa hồng, súng đạn và chiếc bánh xe bị khô dầu

*Nói về  nước Mỹ năm 2012, nhiều nhà phân tích đã thốt lên: Súng đạn và hoa hồng 

QĐND – Chiến thắng giòn giã của đương kim Tổng thống Ô-ba-ma (Obama) trong cuộc bầu cử đầy kịch tính hồi tháng 11 đã cho thấy, cử tri Mỹ một lần nữa lại hy vọng đất nước sẽ tốt đẹp hơn trong 4 năm tới với người đã hứa tạo ra “thay đổi”. Nhưng vụ thảm sát tại Trường Tiểu học Sandy Hook nơi thị trấn nhỏ Newtown  khi chỉ còn chưa đầy tháng là khép lại năm 2012 đã như một vết cắt trực tiếp vào sự lạc quan đó, có lẽ đến hàng chục năm sau cũng chưa thể lành da.

Còn nhớ, chia tay năm cũ 2011 đầy âu lo, nước Mỹ bước vào năm tổng tuyển cử 2012 với nhiều kỳ vọng. Kỳ vọng vào một nền kinh tế phục hồi đà tăng trưởng. Kỳ vọng về một xã hội yên bình. Quan trọng hơn cả là kỳ vọng vào những khuôn mặt xứng đáng sẽ đưa chính trường Mỹ vào một nhiệm kỳ hoạt động hiệu quả hơn.

Thông điệp Liên bang ông Ô-ba-ma đọc trên cương vị Tổng thống Mỹ hồi tháng 1-2012 từng nhấn mạnh rằng, sẽ làm mọi cách để đưa những điều tốt đẹp nhất đến với nước Mỹ.  11 tháng sau, nhìn lại, về mặt nào đó, người ta thấy một nước Mỹ đang trên đà “bình phục”.  Những tổn thương về kinh tế, xã hội hay chính trị đã dần được chữa trị: Nước Mỹ đã và đang thoát dần khỏi những cuộc chiến ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan; cuộc khủng hoảng tài chính – ngân hàng dần được khắc phục; nền kinh tế tiếp tục đà hồi phục dù chưa chắc chắn; vị thế và uy tín của Mỹ trên thế giới cũng đang dần được cải thiện.

Nhưng nếu chỉ có thế thì năm 2012 đối với nước Mỹ cũng không hẳn đáng nhớ.

Ngày 6-11 vừa qua, đa số người dân Mỹ đều vui mừng đón tin đương kim Tổng thống Ô-ba-ma tái đắc cử, tiếp tục lãnh đạo nước Mỹ thêm bốn năm nữa. Với khẩu hiệu “Tiếp tục thay đổi để tiến về phía trước”, ông Ô-ba-ma đã giành chiến thắng không quá vất vả trước đối thủ giàu tiềm năng Mít Rôm-ni (Mit Romney). Dù cách giải quyết vấn đề đôi chỗ vẫn còn phải bàn,  nhưng ông Ô-ba-ma đã đánh trúng tâm lý của những người Mỹ vốn đã quá sợ hãi và chán chường với di sản 8 năm cầm quyền trước đó của Tổng thống Bu-sơ. Đó là vũng lầy hao người tốn của ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, là sự tan tác của phố Uôn, là sự suy giảm về kinh tế cũng như uy tín và vị thế của nước Mỹ. Có lẽ là vì thế, lần thứ hai trong lịch sử bầu cử Mỹ, “con bài an ninh” của đảng Cộng hòa đã không còn đủ sức nặng buộc những người dân Mỹ phải phân tâm trước phòng bầu cử. Hình ảnh cơn lốc tài chính cuốn phăng cả những “người khổng lồ” trên phố Uôn năm nào đã làm thay đổi mối quan tâm của người Mỹ, buộc người ta phải bận tâm trước hết đến câu chuyện về “bát cơm manh áo”.  Nhiều cử tri lựa chọn tiếp tục ủng hộ ông Ô-ba-ma với niềm tin là ông có khả năng vực dậy nền kinh tế và đưa nước Mỹ “tiến lên”.

Nhìn lại nhiệm kỳ trước của ông Ô-ba-ma, sau 4 năm cầm quyền, nền kinh tế Mỹ đã từng bước thoát ra khỏi cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong vòng 70 năm qua, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm dần mặc dù đà phục hồi vẫn chưa thực sự vững chắc. Trên lĩnh vực đối ngoại, thành công trong chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố Bin La-đen (bin Laden), quyết định kết thúc hai cuộc chiến tại Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, duy trì sự hiện diện của Mỹ ở khắp các khu vực thông qua mạng lưới đồng minh quân sự rộng khắp – đã ghi nhận những điểm cộng cho chính quyền Ô-ba-ma.

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11 vừa rồi là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy sự tin tưởng và kỳ vọng của người dân Mỹ vào tổng thống của mình. Trên hết, nó cho thấy nước Mỹ đang thúc giục việc hiện thực hóa những cam kết đã hứa, cả về đối nội và đối ngoại.

Nhưng nước Mỹ không chỉ có “hoa hồng chiến thắng”.

Những ngày đầu tháng 12, khi chỉ còn non tháng nữa là khép lại năm 2012 đầy sôi động, cả nước Mỹ đã bàng hoàng và phẫn nộ khi một kẻ cuồng sát xả súng giết chết 28 người, trong đó có 20 trẻ em, tại một trường tiểu học ở thị trấn nhỏ Newtown. Vụ việc khiến những ngày cuối năm đáng trông đợi nhất của nước Mỹ trở nên buồn thảm và khiến chính giới nước này phải giật mình nhìn lại: Tại sao thảm kịch kiểu này lại tái diễn quá nhiều lần trên đất Mỹ?

Không tính những năm trước, chỉ tính riêng năm 2012, tại Mỹ đã có ít nhất 7 vụ sát hại hàng loạt, tước đi mạng sống của 65 người. Thậm chí chỉ vài ngày sau vụ thảm sát ở Trường Tiểu học Sandy Hook, nước Mỹ còn chứng kiến thêm vài vụ xả súng nữa. Một nguyên nhân được nêu ra là trên thế giới không nước nào người dân sở hữu súng nhiều như nước Mỹ. Theo thống kê, với dân số hiện tại khoảng 315 triệu người, ở Mỹ hiện có tới hơn 270 triệu khẩu súng các loại cùng cơ số đạn đủ để phục vụ cho một cuộc chiến có quy mô tương đương Thế chiến 2.

Nhưng tại sao người Mỹ lại dễ dàng sở hữu súng đạn đến vậy? Điều 2 của Hiến pháp Mỹ quy định người dân nước này có quyền sở hữu súng để phòng thân và bảo vệ quốc gia. Nguy hiểm là thế, nhưng không một chính khách hay Tổng thống nào đủ can đảm để ban hành những điều luật kiểm soát chặt chẽ súng đạn đi kèm với nó. Không khó hiểu khi trong nhiều năm trở lại đây, luật sở hữu súng tư nhân vẫn được xem là một “chủ đề nhạy cảm” đối với nước Mỹ và thậm chí còn được xem là “một tử địa” đối với nhiều nhà chính trị Mỹ. Trong quá khứ, bản thân đảng Dân chủ của Tổng thống Ô-ba-ma đã phải trả một cái giá đắt khi theo đuổi những nỗ lực nhằm kiểm soát súng tại Mỹ. Và quan trọng hơn, không ai có thể làm ngơ với doanh thu khổng lồ từ việc mua bán súng đạn, nhất là khi những tấm chi phiếu đó lại được “quyên góp” cho những chiến dịch tranh cử công phu của các chính khách.

Nhiều nhà phân tích đã nói rằng “hãy mơ đi” khi Tổng thống Ô-ba-ma rơi lệ cam kết về một quyết tâm đẩy mạnh việc kiểm soát súng đạn sau vụ thảm sát ở thị trấn Newtown. Những tranh cãi dai dẳng về việc cấm hay cho phép sử dụng súng tại Mỹ vốn đã diễn ra từ năm 1981 sau vụ ám sát hụt cố Tổng thống R. Ri-gân (R. Reagan). Để thay đổi điều 2 Hiến pháp Mỹ cần phải có sự chấp thuận của 2/3 nghị sĩ Quốc hội và phải tiến hành trưng cầu dân ý cho Hiến pháp mới. Đó thật sự không phải là việc dễ dàng khi nước Mỹ bị chia rẽ với một Quốc hội mà quyền lực vẫn chia đều cho hai đảng còn nghị sĩ thì đã và đang tiếp tục chịu áp lực nặng nề từ lá phiếu của các thành viên Hiệp hội súng đạn Mỹ (NRA).

Nước Mỹ năm 2012 có quá nhiều thứ  để nhắc người ta nhớ.  Vụ tấn công tòa nhà lãnh sự Mỹ ở Tri-pô-li khiến Đại sứ Mỹ tại Li-bi thiệt mạng được ví như “vụ 11-9 năm 2012” một lần nữa cho thấy, mối đe dọa của bóng ma khủng bố chưa bao giờ rời xa nước Mỹ. Tổn thất về người và của ở mức kỷ lục khi “cái đuôi” của cơn bão Sandy quét qua nước Mỹ cũng khiến người ta nhận ra sự chênh lệch giàu nghèo nơi xứ cờ hoa vẫn đang ở mức báo động. Và mối đe dọa “vách đá tài chính”, với hàng tỷ USD tăng thuế và cắt giảm chi tiêu chính phủ sẽ được thực hiện vào đầu năm tới, dẫn tới nguy cơ đẩy nền kinh tế lớn nhất thế giới tái rơi vào suy thoái, vẫn đang hiện hữu khi kim đồng hồ đếm ngược sắp chạm đến thời khắc quyết định.

Ngần ấy thứ ở nước Mỹ đã khiến cho nhiều nhà kinh tế học đưa ra một hình ảnh đầy mỉa mai: “Nước Mỹ vẫn kẹt trên chiếc bánh xe bị khô dầu”.

Nhưng trên hết, nước Mỹ vẫn cần phải thay đổi để tiến lên phía trước. Nước Mỹ phải khắc phục tối đa những tổn thương từ hai cuộc chiến tranh. Nền kinh tế Mỹ phải lấy lại sức sống với tốc độ nhanh nhất để hầu bao mỗi người dân không bị vơi đi. Món nợ ngân sách 16 nghìn tỷ USD phải được giải quyết sao cho không ảnh hưởng đến “bát cơm manh áo” của từng người. Đó đang là mối quan tâm lớn nhất của người dân Mỹ hiện nay. Tương lai nằm trong tay của chính quyền Tổng thống tái đắc cử B.Ô-ba-ma.

THU TRANG
qdnd.vn

Tiếp nối khúc quân hành

(VOV) – Chương trình nhằm kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Tối 21/12, tại Hà Nội, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức chương trình nghệ thuật “Tiếp nối khúc quân hành”. Chương trình nhằm kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2012) và kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Chương trình nghệ thuật mở màn bằng bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” và “Khát vọng tuổi trẻ” đã nêu bật truyền thống vẻ vang của Quân đội thể hiện sự tiếp nối giữa hai thế hệ để tiếp tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, vì Tổ quốc giàu mạnh, văn minh.

Mưu đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá của Nixon đã bị đập tan bởi sự anh dũng và quật cường của quân và dân ta. Trong ảnh, các chiến sỹ tên lửa bên “Rồng lửa” SAM 2

Tại chương trình còn diễn ra buổi giao lưu giữa những cựu chiến binh trong hai cuộc chống Mỹ với thanh niên hôm nay thông qua những câu chuyện thời chiến, thời bình.

Có mặt tại chương trình nghệ thuật, Đại tá Nghiêm Đình Tích, bồi hồi nhớ lại những ngày này cách đây 40 năm, khi đó, ông đang công tác tại Đại đội Ra-đa 45 ở Nghệ An. Chính ông là người phát thông báo đầu tiên “B52 đang hướng về Hà Nội”. Đó là thông báo quý báu và kịp thời, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử.

Chia sẻ những cảm xúc khi được chứng kiến sự tiếp nối thế hệ trẻ, Đại tá Nghiêm Đình Tích nói: “Giây phút này tôi bồi hồi nhớ lại thời trẻ của chúng tôi được tiếp bước cha anh lên đường đi đánh Mỹ, hy sinh tuổi trẻ của mình vì dân, vì nước, mọi sự riêng tư để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tự hào kế tục cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Chúng tôi đã phát hiện được B52 từ xa để báo cho Hà Nội. Như vậy, Bộ đội Ra-đa của chúng tôi không để Tổ quốc bị bất ngờ trước chiến dịch tập kết đường không quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng”./.

Lại Hoa/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

“Em bé Hà Nội” và ký ức ám ảnh về năm 1972

(VOV) -Những kỷ niệm về Hà Nội trong 12 ngày đêm hứng chịu bom B52 vẫn sống động trong tâm trí NSND Lan Hương dù khi ấy chị mới gần 10 tuổi.

PV: Là nhân vật chính trong phim “Em bé Hà Nội”, cũng đã từng trải qua những ngày tháng Hà Nội bị ném bom B52, chị nhớ gì về những ngày tháng ấy?

NSND Lan Hương: Năm 1972 tôi mới 9 tuổi, đang học lớp 4 trường tiểu học Thụy Khuê. Không biết với đứa trẻ 9 tuổi khác thế nào chứ tôi thì rất sợ hãi. Bà ngoại tôi chỉ có 2 người con là mẹ và bác ruột tôi. Bà đẻ 9 người chết 7 nên cả nhà luôn luôn ko rời  nhau, có một quan điểm chết là chết cùng. Gia đình tôi đi sơ tán rất gần, chỉ ngay qua Hà Đông một tí thôi, có hiện tượng gì là chạy về Hà Nội ngay. Nhưng không được phép ở Hà Nội vì lúc đấy người già, trẻ con ở lại Hà Nội là bị kỷ luật nên nhà nán nán ở HN, thỉnh thoảng lại về quê.

Đêm đầu tiên bị ném bom B52 là cả nhà đang ở Hà Nội, ở 72 Hoàng Hoa Thám. Phải nói là mưa bom chớp giật kinh hoàng, chỉ nghe thấy tiếng rú, tiếng hét xung quanh. Lúc bấy giờ Hà Nội rất nhỏ, chỉ loanh quanh mấy phố, tiếng hét ở đâu cũng có cảm giác nghe thấy rất rõ. Hôm sau, 4h sáng, cả nhà cơm đùm cơm nắm quấn vội mấy cái quần áo chạy về Hà Đông, Bình Đà. Không được chứng kiến cảnh bom đạn ở mấy địa điểm như Khâm Thiên nhưng tôi nghe thấy, nhìn thấy bom trên trời. Lúc bấy giờ ở đấy chỉ có mấy cái hầm cá nhân nhỏ nhỏ, lúc xuống là nhảy bổ vào đầu nhau mà xuống, còn chả kịp kéo nắp hầm lại đâu, cứ người lớn ôm lấy trẻ con như thế.

Bộ phim “Em bé Hà Nội” là viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp nghệ thuật của NSND Lan Hương

PV: Gia đình đi sơ tán gần, lại thường xuyên quay về Hà Nội, chắc là trong 12 ngày đêm Hà Nội bị thả bom chị đều sống trong cảnh nguy hiểm cận kề?

NSND Lan Hương: Trong những ngày đó bom thả liên tục, chỉ ngưng 1,2 ngày gì đó. Hồi đó tôi rất sợ nên thấy người lớn bàn luận gì là ngồi nghe. Tôi không giống những đứa trẻ con khác quên được ngay những chuyện đấy, đi ra chơi đâu. Tôi nghe ông ngoại nói hôm nay không đánh đâu thì hôm đó chỉ nghe thấy ì ì từ xa, mọi người thở phào nhẹ nhõm, coi như thoát được một hôm.

Nhà tôi sơ tán ở đường Bình Đà, chỗ ấy bộ đội đóng rất nhiều: cao xạ pháo, cao xạ tầm cao, kho xăng, quân nhu. Mọi người bảo dại thế đi sơ tán phải tránh xa  nơi quân đội đóng vì rất nguy hiểm nhưng cả nhà bảo thôi cứ gần nhà, đây là quê từ thời xa xưa, đây là một dịp quay trở về quê, cho nên sống chết cứ ở đây.

Hôm ấy nghe nói đánh bom ở chỗ đường này, cả nhà vào nhà họ hàng ở chỗ sông Đáy, cách mặt đường đấy dăm bảy cây. Đi bộ vào đấy tưởng yên tâm, tối hôm đấy nó đánh đúng đê sông Đáy. Thì ra là nó ném bom lệch, định ném bom ở tâm điểm này thì ném vào đúng chỗ mình chạy đến đấy.  Hầm chữ A tốc hết, cây chuối cây xoan phạt ngổn ngang, che kín cả hầm mình. Khói khét mù mịt, tiếng hét, tiếng khóc kinh hoàng.

Mỗi khi vào hầm bà ngoại tôi có cái dây thừng buộc chặt cả 5 người vào với nhau gồm hai ông bà ngoại, 2 anh trai con ông bác ruột và tôi. Khi hết bom, khói còn nghi ngút, mọi người đang nhốn nháo thì cả nhà gỡ dây, chạy về chỗ sơ tán, cách dăm bẩy cây, hai bên là bom nổ chậm, cứ thế là chạy. Tôi không bao giờ quên được nỗi kinh hoàng đấy.

Đôi mắt biết nói là dấu ấn mạnh mẽ nhất trong diễn xuất của “em bé Hà Nội”

PV: Những trải nghiệm đó giúp ích gì cho chị trong quá trình đóng phim “Em bé Hà Nội”?

NSND Lan Hương: Khi đóng phim, chỉ cần đạo diễn bảo nhớ lại những ngày tháng ấy, những lúc Hà Nội bị ném bom thì nỗi sợ hãi và giận dữ sống lại trong tôi, rất thật. Tôi cũng đã trải qua chiến tranh những năm 1965, 1966, khi ấy mới 3,4 tuổi nhưng tôi vẫn nhớ nỗi sợ hãi luôn thường trực. Từ bé tôi đã nghĩ tại sao mình phải trốn, trốn tránh suốt ngày, ngày ngủ đêm thức để chạy như thế.

PV: Bộ phim được quay trong gần 2 năm trời, kỷ niệm nào khiến chị nhớ nhất?

NSND Lan Hương: Đóng phim rất vất vả vì mùa hè nắng gắt mà lại mặc đồ mùa đông vì bối cảnh của phim vào tháng 12 mà. Nhưng mùa hè mới có nắng, quay cảnh ngoài trời mới đẹp, mùa đông chỉ quay nội cảnh. Tôi bệnh phổi, bệnh phế quản, cứ nóng quá, mồ hôi ra là ho. Mấy năm đấy ho liên tục nhưng đi quay thì hết ho, về nhà lại ho. Tinh thần mà, yêu việc diễn lắm, cứ như lên đồng. Ngay từ bé mọi người đã nhận xét bình thường lười lắm, không bao giờ tự làm gì, nhưng trước ống kính bảo ngã là ngã, bảo chạy là chạy. Giờ lên sân khấu cũng thế, diễn như lên đồng, nhưng không lười nữa (cười)

Gần 50 tuổi, NSND Lan Hương vẫn thường được gọi là “em bé Hà Nội”

PV: Có cảnh quay nào ám ảnh chị cho đến bây giờ không?

NSND Lan Hương: Có một cảnh rất xúc động là khi Ngọc Hà năn nỉ người bán hàng đừng gạch tên mẹ và em mình trong sổ tem phiếu. Thực ra lúc ấy bác Hải Ninh bảo khóc thì tôi khóc chứ thực ra chả hiểu lắm, thật tình không hiểu. Bác Hải Ninh cũng giải thích cắt thế này là mẹ chết rồi thì mình bảo chết rồi thì cứ cắt chứ có sao. Thực sự không hiểu lắm, nếu giờ ba hoa là lúc đấy xúc động nọ kia là nói dối. Chỉ hiểu là mẹ Ngọc Hà chết rồi nhưng đừng xóa tên, có cái tên bên cạnh là được rồi. Sau này mới thấu hiểu.

Khi con gái tôi 5 tuổi, tôi gửi cháu đi nước ngoài. Khi ấy tôi rất nghèo nhưng gia đình có thể đi nước ngoài, tôi không đi, chỉ gửi con sang với chồng. Hồi ấy kiểm tra nhân sự, hộ khẩu rất khắt khe nhưng tôi vẫn cố gắng giữ tên con bé ở hộ khẩu cho đến bây giờ, gần 30 năm rồi. Tôi cố giữ vì khi có tên con trong sổ nhà mình, có cảm giác con đang đi đâu xa mấy ngày, chứ không có cảm giác nó đi lâu lâu, mãi không thấy về.

Tôi mới vận lại mới hiểu được à, Ngọc Hà bảo không gạch tên mẹ nó, em nó vì nếu còn cái tên thì cảm giác giống như mẹ nó, em nó còn tồn tại bên cạnh mình, vẫn có thể trở về…

PV: Xin cảm ơn NSND Lan Hương về cuộc trò chuyện này./.

Việt Hòa/VOV online
vov.vn


Vkyno hân hạnh giới thiệu tới bạn đọc bộ phim: Em bé Hà nội

Chuyên gia Mỹ nói về thất bại trên không ở Hà Nội năm 1972

(VOV) -Mỹ đã sai lầm trong chiến thuật cũng như xem thường khả năng phòng không của không quân Việt Nam.

TS John Prados – Giám đốc các dự án tư liệu Việt Nam và Tình báo thuộc Trung tâm Lưu trữ An ninh Quốc gia Mỹ trả lời phỏng vấn phóng viên Đài TNVN về góc nhìn của ông về thất bại của Mỹ trong chiến dịch 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”.PV: Thưa TS Prados, lý do nào khiến Chính phủ Mỹ quyết định ném bom tàn phá miền bắc Việt Nam vào cuối tháng 12/1972?

TS John Prados: Vào đầu năm 1965, Chính phủ Mỹ bắt đầu hình thành ý tưởng ném bom khu vực Hà Nội, nhưng không nhất thiết phải sử dụng B52. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1965-1966, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ lên tiếng đề xuất cái gọi là một “đòn nặng” vào thủ đô của Việt Nam.

Mặc dù không được cụ thể hóa bằng văn bản nhưng đề xuất này có thể được hiểu hoặc suy luận rằng, họ đang ám chỉ các vụ tấn công bằng B52.

Tiến sỹ John Prados:

Dù phương án này bị bác bỏ vào thời điểm đó nhưng ý định ném bom Hà Nội, Hải Phòng luôn bất biến trong các quyết định của Chính phủ Mỹ, thể hiện qua chiến dịch không kích mang tên “Sấm Rền” xuống miền bắc Việt Nam kéo dài cho đến năm 1968.

Sau chiến dịch “Nguyễn Huệ” của quân giải phóng miền Nam đầu năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã lần đầu tiên đề cập đến kế hoạch ném bom Hà Nội.

Ông Nixon nêu vấn đề này vào đầu tháng 4/1972, thời điểm giao tranh trên bộ ở miền nam Việt Nam đang lên đến đỉnh điểm.

Lúc này cũng đang diễn ra tiến trình đàm phán giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với một loạt các cuộc thảo luận giữa Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger và phái đoàn Việt Nam do ông Lê Đức Thọ dẫn đầu.

Vào mùa thu năm 1972, cuộc đàm phán này gần như đã mang lại một thỏa thuận, trong đó bao gồm một lệnh ngừng bắn, chấm dứt giao tranh ở miền nam Việt Nam.

Thời điểm đó, người Mỹ đang ở trong tình thế vừa đang tiến gần tới một hiệp định với miền bắc Việt Nam, vừa bất đồng với đồng minh ở miền nam Việt Nam. Trong bối cảnh đó, kế hoạch ném bom Hà Nội bằng B52 được khôi phục lại.

PV: Trong chiến dịch ném bom miền bắc Việt Nam, không quân Mỹ đã thiệt hại nặng với hàng chục “Pháo đài bay” B52 bị bắn rơi – điều chưa từng xảy ra đối với loại máy bay này cho đến thời điểm đó. Ông có thể đánh giá những nguyên nhân dẫn đến thất bại của phía Mỹ? 

Tiến sỹ John Prados: Tôi cho rằng, miền bắc Việt Nam đã đánh giá một cách hợp lý về những hành động mà người Mỹ có thể thực hiện.

Họ đã chuẩn bị phòng thủ khu vực Hà Nội và tiến hành sơ tán dân thường, góp phần hạn chế thương vong trong chiến dịch ném bom cuối năm 1972.

Lực lượng phòng không miền bắc Việt Nam đã luyện tập kỹ lưỡng với tình huống Mỹ có thể sẽ đánh phá khu vực Hà Nội, Hải Phòng.

Ngoài ra, hệ thống phòng không của miền Bắc khá mạnh vào thời điểm đó và ứng phó hiệu quả với máy bay Mỹ.

Về phía Mỹ, các chỉ huy quân đội đã phạm nhiều sai lầm trong chiến dịch ném bom Hà Nội. Họ đã không xây dựng được một kế hoạch thấu đáo, không tính toán được khả năng phòng thủ mạnh đến như vậy của miền bắc Việt Nam.

Một vấn đề nữa là việc sử dụng lẫn lộn các loại máy bay chiến đấu. Mỹ đã sử dụng hai loại máy bay B52 và một trong số đó dễ bị tổn thương trước mạng lưới phòng không của Việt Nam hơn loại kia. Ngoài việc sử dụng lẫn lộn các loại máy bay thì phía Mỹ còn để đối phương dễ đoán được ý đồ khi không thay đổi phương thức tấn công trong các vụ oanh kích.

PV: Dù thiệt hại nặng nhưng phía Mỹ khi đó vẫn cho rằng chiến dịch ném bom Hà Nội đã thành công. Ông nhận xét thế nào về quan điểm này?

Tiến sỹ John Prados: Người Mỹ cho rằng, chiến dịch ném bom miền Bắc là một thắng lợi quân sự của họ. Một số quan chức và nhà quan sát quân sự Mỹ còn lập luận rằng, hệ thống phòng không của miền bắc Việt Nam đã tự hủy hoại mình bằng cách sử dụng toàn bộ kho tên lửa đất đối không.

Tôi cho rằng, việc miền bắc Việt Nam đã sử dụng toàn bộ tên lửa SAM hay chưa thì cũng không quan trọng vì ném bom Hà Nội không phải là điều mà người Mỹ có thể dễ dàng lặp lại hoặc tiến hành trong một khoảng thời gian dài như đã làm trong giai đoạn 1965-1968.

Ngoài ra, Mỹ không có đủ dữ liệu cụ thể để chứng tỏ rằng lực lượng phòng không miền bắc Việt Nam đã sử dụng hết tên lửa trong chiến dịch ném bom Giáng sinh (Linebacker II).

Một điểm đáng chú ý nữa là hành động mang tính chiến lược của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong việc chuyển nhiều máy bay chiến đấu xuống miền Nam trước khi chiến dịch ném bom xảy ra cũng có nghĩa là Hà Nội vẫn còn các nguồn lực dự phòng để có thể sử dụng trong trường hợp cần thiết. Vì vậy, chiến dịch ném bom này chỉ mang lại một hiệu quả hạn chế về chiến thuật chứ không tạo ra một tác động lớn về chiến lược.

PV: Ông có thể cho biết về phản ứng của dư luận Mỹ đối với chiến dịch ném bom Hà Nội khi đó?

Tiến sỹ John Prados Không lâu trước khi qua đời, ông Alexander Haig, cấp phó kỳ cựu của Henry Kissinger và cũng là người rất gần gũi với Tổng thống Nixon đã nói rằng, ông ta nhận thấy triển vọng thắng lợi tại Việt Nam vào thời điểm chiến dịch ném bom Giáng sinh.

Theo ông Haig, lúc đó, Hà Nội đang gục ngã và sẽ bị khuất phục hoàn toàn nếu Mỹ tiếp tục kéo dài chiến dịch này cho đến mùa Xuân năm 1973.

Lập luận của ông Haig là không khả thi chút nào trong bối cảnh nước Mỹ khi đó, chưa nói đến sức mạnh của miền bắc Việt Nam.

Quốc hội Mỹ đã bắt đầu quay lưng lại với cuộc chiến tranh Việt Nam và đang chuẩn bị cắt giảm ngân sách cho cuộc chiến.

Hơn nữa, chiến dịch ném bom Hà Nội, Hải Phòng đã châm ngòi cho một làn sóng chỉ trích chính quyền Nixon trong giới truyền thông Mỹ. Cơn bão chỉ trích ngày càng mạnh và ảnh hưởng tới dư luận Mỹ vốn đang phản đối cuộc chiến ở Việt Nam và ủng hộ thỏa thuận ngừng bắn.

Công chúng Mỹ đang rất hy vọng vào một hiệp định hòa bình khi Kissinger tuyên bố “Hòa bình đã ở trong tầm tay” nên chiến dịch ném bom chính là cái tát thẳng vào mặt người dân Mỹ.

PV: Chiến dịch ném bom Hà Nội đã gây ra hai luồng ý kiến trái chiều về ảnh hưởng của chiến dịch này đối với Hiệp định Paris năm 1973. Một số người cho rằng cuộc không kích đã buộc Hà Nội trở lại bàn đàm phán trong khi một số khác lại có quan điểm trái ngược, ông nhận xét thế nào về vấn đề này?  

Tiến sỹ John Prados: Đây là vấn đề trọng tâm của lịch sử trong giai đoạn này. Phần lớn các sử gia Mỹ cho rằng chiến dịch ném bom B52 đã buộc miền bắc Việt Nam quay trở lại bàn đàm phán.

TS John Prados là Giám đốc các dự án tư liệu Việt Nam và Tình báo thuộc Trung tâm Lưu trữ An ninh Quốc gia Mỹ. Ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam vào năm 1967 và là tác giả của nhiều cuốn sách viết về cuộc chiến tranh Việt Nam như “In Country: Remembering the Vietnam War”, “Vietnam: The History of an Unwinnable War”, “The Hidden History of the Vietnam War”, “Valley of Decision: The Siege of Khe Sanh”.

Nhưng theo quan điểm của tôi, trước khi vụ ném bom xảy ra, Washington và Hà Nội đã khá thống nhất với nhau về những bước đi tiếp theo đối với Hiệp định hòa bình.Nếu nhìn vào nội dung bản dự thảo thỏa thuận mà hai bên đã thống nhất vào tháng 10/1972 và Hiệp định được ký kết tại Paris vào tháng 1/1973, chúng ta có thể thấy rằng chúng khá giống nhau.

Tôi nghĩ chính sự cần thiết phải củng cố lòng tin của chính quyền Sài Gòn đối với Mỹ đã dẫn đến việc Washington quyết định ném bom miền bắc để chứng tỏ sức mạnh mà họ sẵn sàng sử dụng nếu Hà Nội vi phạm thỏa thuận ngừng bắn mà hai bên đang thúc đẩy.

Vì vậy, ảnh hưởng thực chất của chiến dịch ném bom Giáng sinh đối với phương thức tiếp cận của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong vấn đề hiệp định hòa bình là rất nhỏ, nếu không muốn nói là không hề có./.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nhật Quỳnh-Huy Hoàng/VOV-Washington
vov.vn

Lời tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ năm 1967, ta chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

E.Tinpho, trong “Gió ngang: Những điều không thể thiếu về mặt văn hóa của chiến tranh đường không” (Tạp chí Quốc phòng toàn dân) nhận định: “Cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã thất bại từ lâu. Nó thất bại vì đối phương đã đề ra chiến lược quân sự giỏi hơn, một chiến lược nhận thức chiến tranh ở phạm vi rộng lớn hơn, coi như một hiện tượng văn hóa kết hợp chặt chẽ các mặt xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao cũng như quân sự… đã loại bỏ những lợi thế và làm tê liệt không lực – sức mạnh lớn nhất của Mỹ.

Bắc Việt huy động toàn bộ nguồn tài lực phòng không, tên lửa phòng không buộc các máy bay tiến công của Mỹ phải bay thấp để súng trường cùng các vũ khí tự tạo của dân quân phát huy được hiệu quả; máy bay MIG nhỏ bé ngăn trở Mỹ giành và khai thác quyền khống chế trên không. Không quân cùng với không quân hải quân Mỹ không giành được ưu thế trên không theo ý nghĩa cổ điển”.

Để có được những đòn tên lửa bất ngờ giáng vào sức mạnh không lực vốn là niềm tự hào của quân đội Mỹ năm 1972, từ năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Thượng tướng Phùng Thế Tài: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đưa “rồng lửa” vào tuyến lửa

Vĩnh Linh, Quảng Trị, 1967. Mảnh đất này vốn hẹp, với dòng Bến Hải chạy cắt ngang dẫn nguồn nước từ đại ngàn Trường Sơn đổ ra biển Đông tại cửa Tùng, ngắm ra xa là đảo Cồn Cỏ như một con tàu chiến neo cố định án ngữ tiền tiêu. Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, ở giữa có một vạch trắng, cũng là vạch cắt đôi dải đất hình chữ S theo hiệp định Gieneva từ năm 1954.

Phía bờ Nam Bến Hải là địa danh Gio Linh, với những điểm cao Cồn Tiên – Dốc Miếu đặt trận địa pháo liên hoàn án ngữ con đường vào Nam. Phía bờ Bắc Bến Hải là Vĩnh Linh, mảnh đất thành đồng với hệ thống địa đạo liên hoàn chui sâu vào lòng đất, vươn lên núi và ngược ra phía biển. Quân và dân Vĩnh Linh phải đào địa đạo, đến nay dấu tích vẫn còn, để tìm kiếm sự sinh tồn trong lòng đất mẹ, khi mà hằng ngày mảnh đất này bị cày qua xới lại bởi bom và pháo bắn từ bờ Nam qua, hay từ ngoài biển dội vào.

Chạy dọc sông Bến Hải, từ giữa sông tính sâu vào cả 2 bờ là vùng đất rộng 5km mỗi bên, cấm mọi hoạt động quân sự trên diện tích này, vì theo hiệp địnhGieneva là khu DMZ (khu vực phi quân sự – Demilitarized Zone), nhưng máu chưa bao giờ ngừng đổ xuống ở đây suốt những năm chiến tranh phá hoại.

Ảnh Corbis

Đại tá Nguyễn Văn Hội, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 238, dẫu hơn 45 năm đã trôi qua, vẫn còn ghi nhớ: “Vào giữa năm 1966, Mỹ đã dùng B.52 ném bom quanh khu vực Quảng Bình. Bác Hồ chỉ thị cho Lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ): “B.52 đã đánh ra miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú PK-KQ”.

Hiểu ý Bác, ta thực hiện chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

Tại thời điểm bấy giờ, tên lửa SAM 2 vốn là loại vũ khí nặng nề, cồng kềnh nhất. Để tránh tai mắt cú vọ của đối phương, cả khối xe cộ, binh khí, kỹ thuật khổng lồ lặng lẽ cơ động trong đêm. Đơn vị ông Hội hành quân qua dải đất hẹp Quân khu 4: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vào Vĩnh Linh (Quảng Trị) trong sự hy sinh chở che, cưu mang của bộ đội và nhân dân miền Trung ruột thịt.

Trên địa bàn Quân khu 4, trong thời điểm đó, có 12 “cửa tử”: Hoàng Mai (Quỳnh Lưu, Nghệ An) – cầu Cấm (Nghệ An) – Nam Đàn (Nghệ An) — Truông Bồn (Nghệ An) – Quán Hàu (Nghệ An) – Bến Thủy (Nghệ An) – Chu Lễ (Hà Tĩnh) – Đồng Lộc (Hà Tĩnh) – Thác Cóc (Quảng Bình) – Long Đại (Quảng Bình)… Nếu chẹt (chặn đứng) được 12 “cửa tử” này thì tuyến đường chi viện cho miền Nam sẽ hoàn toàn bị cắt đứt. Hiểu rõ tuyến đường huyết mạch này, nên máy bay Mỹ tập trung đánh phá. Có những nơi vào lúc cao điểm, bom Mỹ đánh xuống 24/24 giờ mỗi ngày.

Không thể đo đếm được sự hy sinh thầm lặng của hàng chục ngàn thanh niên xung phong, bộ đội công binh đã ngày đêm lo ngụy trang, đào công sự, làm cọc tiêu sống, chống lầy, hộ tống “Rồng lửa” qua sông, qua những chặng đường bom Mỹ đánh phá ác liệt. Dọc đường hành quân, đã có hàng trăm người ngã xuống hoặc mất một phần xương máu mới đưa Trung đoàn 238 và 9 Tiểu đoàn cao xạ đến đích.

Vào tới đất lửa Vĩnh Linh, khi triển khai trận địa, khó khăn gian nan vẫn chồng chất. Trong cái nắng nóng thiêu da đốt thịt của dải đất hẹp miền Trung mùa hè, lá ngụy trang vừa thay đã héo quắt. Để giữ được bí mật tuyệt đối, bộ đội và nhân dân Vĩnh Linh phải vào rừng cách xa hàng chục cây số chặt cây đem về ngụy trang trận địa cao xạ, tên lửa.

Tiếp đó là những ngày đọ trí, đọ sức và chiến đấu quyết liệt. Vĩnh Linh là dải đất hẹp, đối phương lại thường xuyên thay đổi trang bị vũ khí gây cho trung đoàn 238 nhiều khó khăn. Có trận, đối phương dùng một máy bay từ xa lượn vòng chiếu laze vào mục tiêu, để nhiều chiếc tiêm kích khác tiếp cận phóng tên lửa tấn công. Ta chưa phát hiện máy bay địch, tên lửa đã nổ giữa mục tiêu khiến đơn vị thương vong rất lớn.

Cả 4 tiểu đoàn hỏa lực là 81, 82, 83… đều bị thiệt hại. Tiểu đoàn 5 lắp ráp tên lửa cũng bị oanh kích. Chính ông Hội cũng bị thương trong trận này. Tuy vậy, với quyết tâm tiêu diệt bằng được B.52, Trung đoàn 238 quyết định dồn sức cho Tiểu đoàn 84. Vũ khí, khí tài được gom về, lắp ráp thành một bộ hoàn chỉnh.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên cùng sĩ quan điều khiển Lê Hỷ thuộc Tiểu đoàn 82 và một số đồng chí khác của Tiểu đoàn 81, 83 cũng được điều về bổ sung cho Tiểu đoàn 84. Khi khí tài và quân số đã ổn định, Tiểu đoàn 84 (ghép) được lệnh cơ động về trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh) chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

“Sách đỏ” viết ở tuyến lửa

Khi trận địa hoàn thành, đích thân Đại tá Đặng Tính (Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng PK-KQ) vào tận Vĩnh Linh thị sát chiến trường của Trung đoàn 238. Đại tá Hội xúc động: “Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên được lời của Đại tá Đặng Tính khi ông vào thăm trận địa:

“Đưa được cả trung đoàn cùng khối binh khí, kỹ thuật khổng lồ này vào tới chiến trường “lửa” an toàn là một huyền thoại. Triển khai chiến đấu, đem được cả khối binh khí, khí tài xuống lòng đất mà kẻ thù không hay biết là hai huyền thoại. Giấu được quân, giấu được binh khí, khí tài, xe cộ là ba huyền thoại. Chỉ còn một huyền thoại nữa là chờ các đồng chí bắn rơi B.52 trên đất lửa”.

Ảnh Corbis

Ngày 15/9/1967, vì trời mưa quá lớn, trận địa bị ngập nước nên đã thấy B.52 mà không thể đánh được. Hôm sau, B.52 lại xuất hiện nhưng ra-đa không bắt được mục tiêu. Đến cuối buổi chiều ngày 17/9/1967, khi đối phương ngỡ rằng bom, pháo đã đè bẹp được lực lượng của ta thì bất ngờ “rồng lửa” xuất hiện.

Kíp chiến đấu gồm có sĩ quan điều khiển Lê Hỷ và ba trắc thủ là Ngoạn, Thính, Ngận, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên đã tách được nhiễu, nhận dạng mục tiêu và phóng hai quả đạn tên lửa. Chiếc máy bay B.52 đầu tiên bị hạ gục. 30 phút sau, chỉ còn một quả đạn, đơn vị quyết đánh và bắn rơi thêm một B.52 nữa.

Vậy là từ khi có mặt ở tuyến lửa, phải mất 5 tháng sau trung đoàn 238 mới bắn rơi được chiếc B.52 đầu tiên. Cũng do đã tìm được cách đánh B.52 nên sau đó Trung đoàn 238 tiếp tục bắn rơi thêm 4 chiếc nữa, nâng tổng số 6 chiếc pháo đài bay bị hạ gục tại đất Vĩnh Linh.

Đại tá Hội cười tươi: “Hạ gục được B.52, chúng tôi đã thực hiện được ý nguyện của Bác Hồ: “Muốn bắt cọp, phải vào hang cọp”. Nhưng, hiệu quả và ý nghĩa hơn chính là từ kinh nghiệm bắn B.52 ở tuyến lửa Vĩnh Linh năm 1967 mà bộ đội tên lửa sau này đã xây dựng và hoàn thiện được cẩm nang chiến đấu vô cùng giá trị. Đó là “Phương án đánh máy bay B52” hay còn gọi là “Sách đỏ”.

Trong tháng 10/1972, cuốn Cẩm nang này được chuyển đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu luyện tập phương án đánh B52 nếu chúng tấn công quy mô lớn vào Hà Nội.

Cho đến khi đó, hệ thống ra-đa của SAM 2 đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để có thể đối đầu hiệu quả với cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ. Các “miếng” đánh kỹ thuật chống tên lửa shrike từ các máy bay tiêm kích hộ tống B.52 phóng vào các trạm ra-đa cũng được hoàn thiện và luyện tập thành thục.

Sách đỏ cũng hướng dẫn cho các cấp chỉ huy tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

Những kinh nghiệm ấy đã góp phần quan trọng để “rồng lửa Thăng Long” tả xung, hữu đột cùng quân dân Miền Bắc hạ gục 34 chiếc B.52, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu tháng 12/1972.

Ngày nay, trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng), nơi trung đoàn 238 bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên ở Việt Nam là một trong những địa chỉ di tích lịch sử-văn hóa của tỉnh Quảng Trị.

Nội dung Sách đỏ:

* Tuy không quân địch gây nhiễu dày đặc nhưng trong mớ hỗn loạn các loại tín hiệu nhiễu trên màn hiện sóng, B-52 không phải là hoàn toàn vô hình nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu B-52 một cách gián tiếp đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy các đám nhiễu này kích thước to không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu chính xác và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: bắn một loạt các quả đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được “cẩm nang” gọi là “phương án P”.

* Đồng thời “cẩm nang” cũng chỉ ra khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên nhưng tín hiệu mục tiêu sẽ tăng mạnh hơn, mục tiêu sẽ hiển thị khá rõ nét, đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác theo “phương án T” khi đó chỉ cần 1 đến 2 quả tên lửa B-52 sẽ phải rơi tại chỗ.

* Trong “cẩm nang” đồng thời cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn giải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

  • Trường Minh

Còn tiếp
vietnamnet.vn

Điện Biên Phủ trên không: Một dự báo tài tình của Bác

Một trong những lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó là theo đuổi chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”.

Trước khi Mỹ mở chiến dịch Linebacker II tấn công ra miền Bắc năm 1972, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó đã sớm dự đoán được âm mưu này của địch nên đã chuẩn bị kỹ lưỡng các giải pháp cả trên chiến trường và “mặt trận” ngoại giao đang diễn ra ở Paris.

Một trong những lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ta lúc đó là theo đuổi chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”, lấy thắng lợi trên chiến trường để chiếm ưu thế trên bàn đàm phán ở Paris.

“Lời tiên đoán” kẻ địch sẽ thua

Vào buổi chiều 18/12 cách đây 40 năm, khi máy bay chở đoàn đồng chí Lê Đức Thọ từ Paris qua Moscow và Bắc Kinh về gần tới không phận Việt Nam, đồng chí Lê Đức Thọ đã bước tới buồng lái, thoáng lặng nhìn rồi thân mật hỏi: “Gia đình các cháu sơ tán ở đâu? Nếu sơ tán thì sơ tán càng xa càng tốt. Chưa yên đâu, còn căng thẳng đấy các cháu ạ”.

Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Khi về tới nhà số 6 Nguyễn Cảnh Chân, chúng tôi đang chuyển hồ sơ, tài liệu vào tủ bảo mật và chuẩn bị về thăm gia đình như mọi khi, thì đồng chí Lê Đức Thọ tới dặn chúng tôi: “Tình hình như các cậu đã biết, nên bây giờ phải ở lại đây đã”. Khoảng 2 tiếng sau, B52 Mỹ đã rải bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác.

Lưới lửa phòng không của chiến tranh nhân dân đã giăng kín trời Hà Nội và các nơi khác. Quân và dân ta đã sẵn sàng đối mặt với B52 Mỹ. Một kế hoạch khả thi với những phương án độc đáo và sáng tạo đánh trả máy bay B52 ném bom Hà Nội đã được Đảng và Bác Hồ chỉ đạo chuẩn bị chu đáo từ trước.

Năm 1947, trong lời giới thiệu 13 chương Binh pháp Tôn Tử, Bác Hồ nhấn mạnh: “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc”. Cuối năm 1967, Bác Hồ đã nói với tướng Phùng Thế Tài, lúc này là Phó Tổng tham mưu trưởng, lời dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm ký hiệp định đình chiến ở Triều Tiên, Mỹ đã cho không quân hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Chớp thời cơ có một không hai

Chủ trương kết hợp đánh với đàm trong kháng chiến chống Mỹ đã được Bác Hồ và Đảng tính tới từ cuối năm 1965. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của BCH TW khóa III, tháng 1/1967 khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh… Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động…”.

Ngày 28/12/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định kế hoạch Tổng tấn công mùa Xuân 1968. Lời chúc Tết của Bác đêm Giao thừa mùa Xuân 1968: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” – vừa là hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công này, vừa là tư tưởng chiến lược chỉ đạo kết hợp giữa đánh với đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của Mỹ và buộc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố trên truyền hình ngày 31/3/1968 về việc Mỹ sẵn sàng đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13/5/1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên tại tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở Thủ đô Paris của Cộng hòa Pháp, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Mục tiêu trước mắt của ta là, tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 13/10/1968, Đoàn ta ở Paris nhận được chỉ thị của Bộ Chính trị mà nếu thực hiện theo thì có thể bỏ lỡ thời cơ buộc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và họp 4 bên.

Thấy tình thế rất phức tạp, có thể không kịp thời gian nếu trao đổi qua mật điện, nên sáng hôm sau, sau khi trao đổi kỹ trong Đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ đã quyết định về ngay Hà Nội.

Ngày 16/10/1968, đồng chí về tới Hà Nội. Bộ Chính trị đã họp liên tục trong 3 ngày từ 17 đến 19/10 để nghe báo cáo và thảo luận về tình hình đàm phán ở Paris, cuối cùng đã thống nhất với nhận định của Đoàn ta ở Paris trước đó. Kết quả là Mỹ đã chấm dứt ném bom miền Bắc không điều kiện vào ngày 31/10/1968 và sau đó tiến hành họp 4 bên. Đây là một thắng lợi bước đầu quan trọng của sự kết hợp đánh với đàm, có tác động hỗ trợ lớn cho chiến trường miền Nam.

Tấn công trên ba mặt trận

Từ tháng 3/1970, Bộ Chính trị đã quyết định đẩy mạnh tấn công trên 3 mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao theo chỉ đạo của Bác Hồ: “Thực lực là cái chiêng – ngoại giao là cái tiếng. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi”. Thất bại trong cuộc tấn công của địch sang vùng Mỏ Vẹt ở Campuchia hòng “cất vó” Trung ương Cục miền Nam và phá hủy hậu cứ của ta (tháng 4/1970) và sự phá sản của cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang đường 9 Nam Lào (tháng 2/1971) nhằm triệt phá đường chi viện huyết mạch của ta, đã làm tan vỡ một mảng lớn kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn, buộc Mỹ phải xuống thang, không đòi cả hai bên cùng rút quân nữa.

Sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Mỹ R.Nixon vào tháng 2/1972, ngày 22/3/1972, Mỹ tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô điều kiện. Ngày 30/3/1972, quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch Xuân Hè tấn công địch từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Ngày 6/4/1972, Tổng thống Mỹ R.Nixon ra lệnh ném bom lại miền bắc Việt Nam. Sau chuyến thăm Moscow vào tháng 5/1972 của Tổng thống Mỹ Nixon, ngày 11/6/1972, đoàn Mỹ gửi công hàm cho đoàn ta ở Paris đề nghị nối lại cuộc gặp riêng vào ngày 28/6/1972.

Ta đã giải phóng được Quảng Trị và Lộc Ninh. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng, so sánh thế và lực giữa ta với địch trên chiến trường, quan hệ Mỹ – Xô – Trung và tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ, Bộ Chính trị quyết định đã tới lúc có thể đi vào giải pháp ở đàm phán Paris. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp riêng tiến sĩ Kít-xinh-giơ chậm nhất là ngày 15/7/1972.

Những cuộc gặp riêng căng thẳng

Từ ngày 19/7 tới đầu tháng 10/1972, các cuộc gặp riêng đã có những tiến triển khả quan. Trong phiên họp riêng kéo dài lâu nhất trong suốt gần 5 năm đàm phán, từ 9h30’ ngày 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau, nội dung Hiệp định về cơ bản đã được hai bên chấp nhận.

Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ R.Nixon đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31/10/1972 tại Paris. Kít-xinh-giơ thông báo với báo giới: “Hòa bình trong tầm tay”!

Tuy nhiên, đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã dự kiến những diễn biến phức tạp do các nhân tố khách quan, trong đó có mối quan hệ Mỹ-ngụy. Đúng là phía Mỹ đã lật lọng, không thực hiện điều đã cam kết.

Ngày 22/10, Tổng thống R.Nixon lại gửi công hàm cho ta, nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu nên chưa có thể ký Hiệp định như đã thỏa thuận. Sau khi Tổng thống Nixon được tái cử ngày 7/11, trong cuộc họp ngày 23/10/1972, Kít-xinh-giơ đòi sửa lại 69 điều trong văn bản đã thỏa thuận.

Trong cuộc họp hẹp với Kít-xinh-giơ sáng 4/12/1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính là nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể là các ông sẽ đem B-52 đánh bom ồ ạt đất nước chúng tôi… Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ. Cho nên những lời đe dọa của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông “không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh””.

Tới cuộc gặp riêng ngày 6/12/1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đề nghị: “Nếu sửa thì chỉ sửa một số chi tiết không thuộc thực chất và nguyên tắc; hai là hai bên đều sửa đổi. Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn, bên kia cũng sửa lớn; bên này sửa nhỏ, bên kia cũng sửa nhỏ; không thể chỉ một bên sửa, một bên không sửa. Cứ như thế sửa đi, sửa lại mãi không thể hoàn thành được. Trong hai cách đó, phía Mỹ chọn cách nào tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ hiệp định”. Đến phiên gặp riêng ngày 12/12/1972, chỉ còn hai vấn đề sẽ giải quyết bằng trao đổi công hàm: Cách ký văn kiện và vấn đề khu phi quân sự. Nhưng tới cuộc gặp riêng sáng hôm sau, ngoài hai vấn đề trong văn bản, quan điểm của hai bên trong các nghị định thư cũng xa nhau. Ngày 14/12/1972, Kít-xinh-giơ về Mỹ. Ngày hôm sau, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rời Paris về Hà Nội.

Từ chiến thắng trên bầu trời Hà Nội đến thắng lợi ở Pa-ri

Đúng như dự báo của Bác Hồ, tối 18/12/1972, Mỹ đã dùng B52 không kích Hà Nội. Đồng thời cũng trong ngày hôm đó, Mỹ lại gửi công hàm tới Đoàn ta ở Paris đề nghị nối lại đàm phán sau ngày 26/12/1972.

Dùng B52 tấn công là “canh bạc” cuối cùng của Nixon. Hình ảnh “con bồ câu” của Nixon trong khi vận động tái tranh cử đã lộ nguyên hình “con diều hâu” hiếu chiến điên rồ sau khi vừa tái cử. R.Nixon và giới quân sự chóp bu Lầu Năm góc đã quá ảo tưởng về sức mạnh của pháo đài bay B52 “bất khả chiến bại”.

Đây là một chiến dịch đã được chuẩn bị sẵn từ trước với cái tên “Linebacker II”. Nhưng có một điều mà ông ta và các chiến lược gia Hoa Kỳ chưa biết rõ. Đó là Thăng Long địa linh, Thăng Long bất khuất và kiên cường đã chôn vùi nhiều mộng tưởng ngoại xâm.

Trong 12 ngày đêm của trận “Điện Biên Phủ trên không” ấy, đã có 81 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B52 và 5 chiếc F111, hàng chục giặc lái đã bị bắt.

Mưu đồ của R.Nixon nhằm khuất phục ý chí sắt đá của Hà Nội bằng tham vọng “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” đã thất bại hoàn toàn. Mơ mộng của Kít-xinh-giơ về “Không lực của nước Mỹ… mạnh tới mức trong vấn đề Việt Nam từ “thất bại” không bao giờ thuộc về chúng ta” đã tan thành mây khói. R.Nixon cũng không còn gì để trấn an chính quyền Thiệu được nữa và nội bộ càng mâu thuẫn, rối ren. Dư luận thế giới phê phán và phản đối kịch liệt. Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải ngừng ném bom để quay lại bàn đàm phán.

Bộ Chính trị đã thảo luận suốt 3 ngày trong hầm nhà Rồng ở trong thành, nhiều ý kiến lật đi, lật lại, nhưng cuối cùng đã nhất trí cao với ý kiến do các đồng chí Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đề xuất là phía ta nên gặp lại phía Mỹ để giải quyết vấn đề. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký tắt ngày 23/1/1973 và được ký chính thức ngày 27/1/1973 với nội dung cơ bản như dự thảo của ta chủ động đưa ra hồi tháng 10/1972.

Trong cuộc gặp mặt cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tên lửa 77 Sư đoàn phòng không Hà Nội, Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy sư đoàn, thay mặt đơn vị chào mừng “lão tướng chiến thắng từ mặt trận ngoại giao trở về”. Đồng chí Lê Đức Thọ xua tay nói: “Không dám, không dám! Cán bộ, chiến sĩ phòng không không quân anh hùng mới chính là người chiến thắng. Không có chiến thắng B52 của các đồng chí trên bầu trời Hà Nội, làm gì có thắng lợi ở Hội nghị Paris. Chính chiến thắng đó đã buộc Mỹ ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973”…/.

Lưu Văn Lợi
Nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris.

Theo Quân đội nhân dân
vov.vn

“Không đánh giỏi là… chết!”

(Dân trí) – “Trước hết phải có lòng yêu nước, nhưng ở chiến trường, đánh giỏi là điều kiện tiên quyết để sống. Bộ đội ta đã làm được”, PGS. TS Nguyễn Đình Lê nhấn mạnh khi nói về điều “chỉ Việt Nam làm được” qua chiến thắng Điện Biên Phủ trên không.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê hiện là Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Cận – hiện đại, trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia Hà Nội.

Sau những thất bại trên chiến trường miền Nam, Hoa Kỳ đã quyết định dùng đến quân bài chiến lược là B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Ông có thể nói gì về tham vọng của đế quốc Hoa Kỳ trong trận chiến quyết định này?

Theo tôi, đánh phá Hà Nội bằng B52 với Hoa Kỳ là cuộc thử lớn, với mục tiêu đánh cho chúng ta kiệt quệ đi chứ không hẳn đánh để tạo điều kiện cho việc ký hiệp định, bởi lẽ nếu không đánh, ta vẫn tiến lên giành thắng lợi cuối cùng… Và trước sau Hoa Kỳ cũng vẫn ký hiệp định Paris. Hoa Kỳ đánh để “Hà Nội không còn 2 viên gạch dính vào nhau”, để 2 thập kỷ sau cũng chưa khôi phục lại được. Sau nữa, đánh để lên dây cót cho chính quyền Sài Gòn, để bảo lãnh cho Thiệu với nghĩa “cứ ký hiệp định đi, có gì còn Hoa Kỳ đằng sau” nữa.

Có thể có 1 khả năng nữa là Hoa Kỳ đánh trận này như một trận phục thù. Tôi mới đi Hawai để xem xét lại trận Trân Châu Cảng thì trong chừng mực nào đó thấy có điểm tương tự. Nhật đánh Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ mang bom nguyên tử trả thù.

Không kể Tổng thống Gerald Ford, đã có 4 đời Tổng thống Hoa Kỳ sa lầy trong cuộc chiến tại Việt Nam và Hoa Kỳ gần như đã huy động hết tiềm lực của mình. Một nước Hoa Kỳ lớn như thế, chưa từng thua ai trong 200 năm lịch sử, một đất nước cao ngạo, ngay cả khi thương lượng với Liên Xô, với Trung Quốc bao giờ cũng muốn ở thế thượng phong, vậy mà 20 năm sa lầy ở Việt Nam, không thể thắng được. Vì thế, Hoa Kỳ muốn rửa nhục, phục thù.

PGS.TS Nguyễn Đình Lê: Nếu chỉ bắn rơi 10 chiếc B52 thì cũng đã là chuyện động trời.PGS.TS Nguyễn Đình Lê: “Nếu chỉ bắn rơi 10 chiếc B52 thì cũng đã là chuyện động trời”.

Đối diện với âm mưu đánh phá Hà Nội bằng B52, phía ta có hoàn toàn chủ động không, thưa ông?

Khi Hoa Kỳ bắt đầu đánh phá lại miền Bắc là ta có phần bị động – có lý do chắc chắn để nói vậy. Ta đánh 3 chiến dịch lớn ở miền Nam vào cuối tháng 3/1972 thì chỉ mấy ngày sau Hoa Kỳ đánh phá miền Bắc. Thực sự là ta bất ngờ. Tất cả hệ thống phòng thủ lớn nhất của Bắc Bộ rút hết vào khu 4. Tháng 6 ta mới bắt đầu bố trí lại lực lượng phòng không bảo vệ Hà Nội

Có điều chắc chắn là Hoa Kỳ tin Việt Nam không bắn được B52. Có 2 sự kiện để Hoa Kỳ tin điều này: Năm 1970, khi lính biệt kích Hoa Kỳ nhảy dù xuống thị xã Sơn Tây – trung tâm “thủ đô bộ đội” ở đó – hòng cứu phi công, thì lực lượng ra đa cảnh vệ quốc gia của ta không phát hiện kịp; Vụ Hoa Kỳ dùng B52 rải thảm Hải Phòng (16/4/1972) ta không đối phó được, không bắn rơi máy bay nào dù đã sử dụng rất nhiều SAM 2.

Từ ngày 18/12/1972, khi ta chủ động thực sự nhiều thứ thì mọi chuyện đã khác. Khi đó, Bộ Chính trị đặt quyết tâm cần ít nhất bắn rơi tại chỗ một máy bay B52. Nhưng trong chiến dịch Line Backer II, cục diện đã khác. Ta đã bắn rơi hàng chục máy bay B52. Hoa Kỳ nói không phải 34 chiếc đâu, mà 15 chiếc. Nhưng nếu rơi 15 máy bay chiến lược của Hoa Kỳ như họ nói thì lực lượng phòng không của miền Bắc đã quá giỏi rồi. Thế giới khi đó chưa ai bắn được B52. Chỉ ở Việt Nam mới làm được điều đó – khủng khiếp đấy chứ.

Sau những “lỗ hổng chết người” ở các trận Sơn Tây, Hải Phòng như ông nói ở trên, tại sao ta có sự thay đổi nhanh đến như vậy trong trận Điện Biên Phủ trên không?

Đó là cái giỏi vượt bậc của lực lượng vũ trang của ta. Trận ở Hải Phòng, có thể nói chiến tranh từ xa của ta không tốt, biển ta không giữ được. Nhưng khi Hoa Kỳ đưa máy bay vào Hà Nội, đi sâu vào đất liền hàng trăm cây số, ra đa hoàn toàn có thể biết được. Sau này có thể nói đơn giản, ta kết hợp giữa phương tiện hiện đại và thô sơ để có thể phát hiện máy bay địch.

Và một sự thật, 4 ngày sau khi B52 ném bom, ta phát hiện ra 1 quy luật, máy bay Hoa Kỳ xuất phát từ 2 nơi, từ Udon và Guam, tập kết ở một số địa bàn cố định sau đó sử dụng chế độ lái tự động để thả bom. Bộ tội ta phát hiện ra những điểm đường chéo giao nhau và dồn hỏa lực phòng không vào “tọa độ chết”. Ngày lực lượng phòng không của ta bắn rơi nhiều B52 nhất là nhờ có “bí quyết” này. Đó là chuyện rất mẹo mà chỉ Việt Nam mới làm được.

Với sức hủy diệt của B52 cùng lực lượng hùng hậu mà Hoa Kỳ huy động, hẳn người dân miền Bắc ở thời điểm đó cũng “tâm trạng”, thưa ông?

Lo thì ai… chẳng lo. Trước đó địch còn rải truyền đơn nói rằng máy bay này ở tít trời cao, trên 11 km vẫn không ai thấy được, không ai nghe tiếng động cơ mà chỉ biết B52 đến bởi khói và bom dày đặc. Sau này ở chiến trường, chứng kiến B52 đánh thực sự thì kinh khủng vì khoảng 30 tấn bom cùng nổ trong khoảng 3-10 giây, trong khi phải 7-8 chiếc tiêm kích muốn ném 30 tấn bom phải cần khoảng 1 giờ. Tôi chứng kiến một đợt ném ở khoảng cách 3km mà thấy vô cùng khủng khiếp.

Nhưng với thắng lợi đầu tiên, khi chiếc máy bay rơi ở Bắc Hà Nội thì dân rất tin vì một loại mà chưa ai bắn được, chưa từng chiếc nào rơi trên thế giới mà ta đã bắn được.

Phi công Hoa Kỳ thừa nhận, sau một vài ngày đánh phá Hà Nội, khi xuất phát tại sân bay để tham chiến, họ rất hoang mang vì những máy bay xuất phát trước đó đã không trở về nữa?

Mới đầu thì họ không tin việc B52 bị bắn hạ, nhưng sau đó thì phải tin. Lúc ấy, chính những người lính này trở thành những người lính phản chiến cuối cùng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Trong các hội thảo vừa qua ông có đề cập việc con số B52 rơi ta công bố có khác với Hoa Kỳ, nhưng không kể đến sự khác nhau về con số thì các học giả Hoa Kỳ và quốc tế đánh giá thế nào về trận chiến này?

“Chỉ có Việt Nam làm được như vậy” là nhận định của nhiều người. Cụm từ “Điện Biên Phủ trên không” chính là do một nhà báo nói ra và đó là một khái quát rất đúng. Báo chí Hoa Kỳ thừa biết B52 hiện đại đến mức nào và khi Tổng thống Hoa Kỳ hay Bộ Tư lệnh không quân Hoa Kỳ nói đây chỉ là cuộc “dạo chơi” thì không phải không có lý. Nếu ta bắn rơi chỉ 10 chiếc thì cũng đã là chuyện động trời. Máy bay do thám U2 mà mãi Liên Xô mới bắn hạ được 1 chiếc, vậy mà không ngờ B52 lại bị bắn nhiều như thế. Họ phải thừa nhận điều đó, nhưng số liệu họ công nhận ít hơn.

Điều cốt lõi nào làm nên chiến thắng của Điện Biên Phủ trên không và có phải Hoa Kỳ đã không đánh giá hết khả năng của bộ đội ta?

Suy đến cùng, trụ cột trong trận này là của lực lượng phòng không – không quân, đây là lực lượng sống còn thực sự. Không thể nói Hoa Kỳ không tài, nhưng đối phương của họ vẫn tài hơn. Bộ đội ta không phải chỉ dũng cảm mà muốn sống nhất định phải giỏi. Trước hết phải có lòng yêu nước nhưng ở chiến trường, đánh giỏi là điều kiện tiên quyết để sống. Bộ đội ta đã làm được. Mà dường như đó là văn hóa của ta, bị chèn ép đến cùng đường thì làm được những việc phi thường. Trong hoàn cảnh cuối cùng nhất định phải nghĩ ra cách đánh không thì chết.

Chuyên gia Liên Xô xem xét xác máy bay B52 bị bắn rơi tại Hà Nội.
Chuyên gia Liên Xô xem xét xác máy bay B52 bị bắn rơi tại Hà Nội.

Có khi nào ông chia sẻ, cắt nghĩa với học giả Hoa Kỳ về thất bại của Hoa Kỳ trong trận Điện Biên Phủ trên không?

Có đồng nghiệp Hoa Kỳ yêu cầu tôi trả lời thẳng thật câu hỏi vì sao họ thua. Tôi nói, Hoa Kỳ quá kiêu ngạo, nghĩ mình quá văn minh. Máu kiêu ngạo của Hoa Kỳ làm cả Sài Gòn tin. Tận mùa xuân 1975, khi ta đã giải phóng toàn bộ Tây Nguyên mà họ vẫn tin, bảo ta không đánh nổi Đà Nẵng, không đánh nổi Sài Gòn đâu. Như vậy là rất không hiểu đối phương. Nixon, Hoa Kỳ đã phải trả giá rất đau vì 4 đời tổng thống sa lầy và thất bại ở Việt Nam, cho cả danh dự của nước Hoa Kỳ.

Nếu không có chiến thắng này, diễn biến bàn đàm phán ở Hội nghị Paris sẽ thế nào, thưa ông?

Hoa Kỳ vẫn sẽ ký thôi. Nixon định làm cú lừa cả 2 bên sau hiệp định, Sài Gòn bị lừa, Hà Nội bị lừa. Hoa Kỳ lấy được tù binh ra rồi đánh tiếp. Đến khi đón được hơn 400 phi công trong đợt 2 ở Gia Lâm, Hoa Kỳ làm chiến dịch Duck Hook (Vịt đá). Hoa Kỳ ký Hiệp định nhưng với Tổng thống R.Nixon thì chưa chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đâu.

Tư liệu mới tiết lộ gần đây cho thấy Tổng thống R.Nixon muốn thực hiện chiến dịch Duck Hook ngay sau khi Hoa Kỳ nhận hết số tù binh ta trao trả ở Gia Lâm (29/3/1972). H.Kissinger muốn phát động chiến dịch đó muộn hơn vào dịp ông ta nhận xong giải thưởng Nô-ben hòa bình! Đấy, ý đồ của người đứng vị trí cao nhất trong hệ thống quyền lực của Hoa Kỳ lúc đó tính toán như vậy đấy.

Còn nếu Hoa Kỳ muốn gây sự đánh miền Bắc thì dễ lắm, không thiếu gì lý do! Có điều tại sao Hoa Kỳ không thực hiện được là vì vụ Watergate đã nhấn chìm R. Nixon. Và vụ đó cũng nhấn chìm luôn một tham vọng muốn đánh lại miền Bắc.

Xin cảm ơn ông!

Cấn Cường – Phương Thảo (thực hiện)
dantri.com.vn

Người lính già với vở rối nước “đánh B52”

Đào Thục – một làng quê ở ngoại ô Hà Nội thuộc huyện Đông Anh – có phường rối nước trên 300 năm tuổi. Bên cạnh các vở diễn truyền thống của làng như “Ba khí giáo trò”, “Lên võng xuống nước”, “Trâu chui ống”… từng mê hoặc bao lớp người, nay có thêm vở mới: “Đánh B52”.

Người lính già với vở rối nước “đánh B52”Tiểu Đoàn trưởng Đinh Thế Văn (đội mũ) đang thuyết minh cách đánh B.52 với Chủ tịch Tôn Đức Thắng (ngoài cùng bên trái) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Tư liệu gia đình ông Đinh Thế Văn.

Tác giả của vở rối mới toanh này là ông Đinh Thế Văn – vị Tiểu Đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 bộ đội tên lửa từng hạ B52 trong chiến dịch 12 ngày đêm Hà Nội bằng cách đánh độc đáo của mình.

Hai lần đánh “Điện Biên Phủ”

Nhà có hai anh đầu tham gia kháng chiến chống Pháp nhưng năm 16 tuổi (1953), Đinh Thế Văn cũng xung phong vào bộ đội. Chàng trai “chưa đủ tuổi” ấy theo đoàn quân lên Tây Bắc để tham gia trận đánh cuối cùng với quân viễn chinh Pháp ngay tại lòng chảo Điện Biên. Kết thúc trận đánh lịch sử ấy, Văn cũng vừa tròn 17 tuổi đời với 2 tuổi lính, huân chương chưa “đầy ngực” nhưng hai năm “cơm vắt ngủ hầm” cũng đủ để  cho chàng trai trẻ nếm trải mùi chiến trận. Đó là trận đánh Điện Biên Phủ lần đầu của Văn.

Những tưởng được trở về làng và tiếp tục với nghề nông của gia đình, để mỗi tháng một lần, Văn sẽ theo cha ra đình làng tham gia diễn rối nước như bao bậc tiền bối của Đào Thục đã từng diễn rối từ thời Vua Lê Ý Tông (1735), nhưng cuộc chiến tranh chống Mỹ đã khép lại nhiều dự định của Văn. Ông tiếp tục đời quân ngũ rồi trở thành vị Tiểu Đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 bộ đội tên lửa khi vừa mới ngoài ba mươi.

Nếu như bắn máy bay các loại F của Mỹ là điều còn khá mới mẻ của lính phòng không ngày ấy thì việc đánh B52 còn lạ lẫm hơn. Để chuẩn bị cho trận quyết chiến trên bầu trời Hà Nội này, toàn binh chủng đã phải luyện tập không ngừng nghỉ suốt ngày đêm với bao gian khổ, nhưng tất cả đều hướng về mục tiêu là phải “hạ gục” cho bằng được pháo đài bay của không lực Mỹ ngay trên bầu trời thủ đô.

Đã 40 năm rồi mà ông Văn vẫn không quên cái đêm 18/12/1972 trước khi bước vào trận đánh để đời ấy: “Chúng tôi hồi hộp vô cùng. Tim như muốn vỡ ra khi nghe còi báo động vang lên và tiếng của những chàng trắc thủ báo cáo về tọa độ của từng tốp B52 lừ lừ tiến vào Hà Nội. Chúng tôi như những cậu học trò bước vào phòng thi, dù “ôn tập” đã khá nhuần nhuyễn và tự tin, song thật khó để biết rằng “đề thi” ấy liệu chúng tôi có giải được không? Và rồi, từng “bài toán” một, chúng tôi lần lượt tìm ra đáp số”.

Ông Đinh Thế Văn trước thủy đình. Ảnh: Trà BanÔng Đinh Thế Văn trước thủy đình. Ảnh: Trà Ban

“Đáp số” mà ông Văn nói ấy chính là một trong hai chiếc máy bay B52 đầu tiên rơi ngay trong đêm 18/12/1972 mà Tiểu đoàn 77 của ông bắn rơi một chiếc. Ông Văn nhớ lại: “Lúc ấy là 23h9, một tốp B52 hiện lên màn hình ngày càng rõ. Bộ phận giải nhiễu cho hay, đích thị là con “ngáo ộp” ấy rồi. Đến cự ly 32km, tôi cho phát lệnh, 2 quả tên lửa lao vào trời đêm, đạn gặp mục tiêu ở cự ly 23km, nổ tung. Trắc thủ báo cáo “mục tiêu cháy rất to. Cả tiểu đoàn vỡ òa! Đó chính là chiếc B52  rơi ở xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây – một trong hai pháo đài bay đã bị bắn hạ ngay trong đêm đầu tiên “khai hỏa” chiến dịch 12 ngày đêm Hà Nội”.

Cũng cần nhắc lại rằng, trước khi Mỹ mở chiến dịch “đưa Hà Nội trở về thời đồ đá”, bộ đội tên lửa của ta cũng đã từng bắn B52 nhưng chỉ nghe nói “lúc thì chúng rơi bên rừng Lào, khi thì chúng lê lết về sân bay Đà Nẵng”, riêng lần này thì có thể sờ tận tay, nhìn tận mắt “niềm kiêu hãnh” của không lực Mỹ rơi rụng xuống các cánh đồng miền Bắc Việt Nam. Đấy là lần thứ hai, ông Văn tham gia đánh Điện Biên Phủ, nhưng lần này là “Điện Biên Phủ trên không”.

Đánh theo cách của Văn

Trong Bảo tàng Binh chủng Phòng không-Không quân hiện còn lưu giữ cuốn “sổ đỏ” nói về cách đánh B.52. Tiểu đoàn 77 của ông Đinh Thế Văn đã góp vào đấy những trang rất độc đáo mà không một giáo án nào trước đó đề cập đến. Đó là “đánh theo cách của Văn”.

Ông Văn nói với tôi rằng, cuốn “sổ đỏ” ấy, khách tham quan chỉ nhìn thấy cái bìa, còn ruột của nó thì vẫn còn là điều “bí mật”. Ông chỉ diễn nôm để cho người ngoại đạo chuyện súng ống là tôi hiểu thế này: “Bám theo B52 là hàng loạt các loại máy bay khác, lại còn nhiễu giả chúng giăng mắc dày đặc vây quanh nhằm đánh lạc hướng rađa của ta. Đã vậy, các loại máy bay tiêm kích của chúng có thể bắn trả vào bộ phận phát sóng dưới đất của ta một cách chính xác nhất nếu như mình không khôn ngoan “lúc ẩn lúc hiện”. Vì việc phát sóng ấy của rađa vô tình trở thành mục tiêu cho địch.

Khi chúng bay vào tầm 32km, xác định được hướng bay của chúng, ta tắt rađa và phát lệnh cho tên lửa lao lên. Bắn như thế, thuật ngữ quân sự gọi là “vượt trước nửa góc”, giống như bắn đón đầu. Nói thì có vẻ dông dài nhưng tất tật các thao tác ấy chỉ diễn ra chưa đến 10 giây vì vận tốc B52 là 1.000km/h nên chỉ trong tích tắc, hoặc là tên lửa trúng mục tiêu, hoặc là chỉ “vuốt đuôi” chúng mà thôi”.

Cách đánh “vượt trước nửa góc” của Tiểu đoàn 77 đã thành một trong những cách đánh ưu việt của bộ đội tên lửa trong chiến dịch 12 ngày đêm Hà Nội. Không phải ngẫu nhiên mà cả Chủ tịch Nước Tôn Đức Thắng lẫn Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có mặt tại trận địa Chèm của Đinh Thế Văn ngay khi khói bom vừa dứt để nghe vị tiểu đoàn trưởng này báo cáo cách đánh B.52 khá kỳ lạ ấy.

Rối nước cũng “đánh” B52

Làng rối nước Đào Thục xuất hiện cách nay trên 300 năm và con cháu của làng vẫn giữ “nghề” truyền thống này từ bấy đến giờ. Cha ông Đinh Thế Văn là cụ Đinh Văn Viết, một “ông bầu” của làng múa rối nước Đào Thục, sinh thời có dặn con trai, lúc ông Văn còn tại ngũ: “Nếu sau này con về hưu mà còn mạnh khỏe, con nên tiếp tục truyền thống rối nước của làng, đừng bỏ mai một mà có lỗi với ông bà”.

Năm 53 tuổi (1990), ông Văn “trả súng cho quân đội” về hưu với quân hàm đại tá. Cuộc chiến với ruộng vườn cũng không kém phần gian nan nhưng lời dặn của bố cứ ám ảnh lấy ông. Làng Đào Thục chỉ cách trung tâm Hà Nội 30 cây số nhưng thuộc “vùng sâu vùng xa”, bởi bùn lầy đã vây lấy làng mỗi mùa mưa đến.

Ông Văn kể, có những năm, dân Đào Thục không bán được con lợn, con gà nào vì không một bà buôn nào có thể đưa được heo gà ra khỏi làng do đường quá lầy lội. Khó khăn là vậy nhưng ánh đèn để diễn rối nước nơi thủy đình của làng Đào Thục thì chưa có năm nào tắt.

Ông Văn nghĩ, rối nước với các vở cũ ngày một “mòn”, ông cùng một số nghệ nhân của làng bèn sáng tác ra vở mới: “Đánh B52”. Có lẽ, trận đánh B.52 năm nào vẫn còn cựa quậy trong người lính già này. Nhưng mỗi lần diễn rối nước, ban tổ chức lại phải chạy vạy gõ cửa khắp làng để xin “tài trợ”, nuôi diễn viên. Làm như thế sẽ không bền chặt.

Nghĩ vậy, ông Văn lại xuống Hà Nội gõ cửa Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, gặp ngay Giáo sư Hoàng Chương – Giám đốc Trung tâm – một người rất “máu” với vốn văn hóa cổ truyền. Giáo sư Chương về Đào Thục cùng ông Văn để xem “Đánh B.52” và ông rất tâm đắc.

Sau chuyến đi đó, hễ có đoàn khách nước ngoài nào mà “mê” văn hóa truyền thống của Việt Nam, GS Chương lại dẫn về Đào Thục để thưởng lãm. Dần dà, các tour du lịch cũng đưa rối nước Đào Thục vào chương trình của họ.

Thế rồi, con đường làng lầy thụt năm nào đã thành “bon bon đường nhựa” cùng với hệ thống điện chiếu sáng kéo về đến tận thủy đình vừa mới tân trang, tất cả đều được Nhà nước đầu tư xây dựng. Các diễn viên của làng cũng không còn cảnh “chạy gạo” gõ cửa dân làng vào mỗi đêm diễn nữa mà đã tự nuôi thân bằng vé tham quan của du khách.

“Nếu không có cái cú “đánh B52 bằng rối nước”, chắc không biết đến bao giờ Đào Thục mới thoát được cảnh bùn lầy” – ông Văn kết luận. Hình như những trận đánh B52 từ 40 năm trước vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của người lính già 75 tuổi ấy.

Theo Trà Ban
 Lao Động
dantri.com.vn

Đối đầu với tên lửa Việt Nam, B52 chỉ còn là đống sắt vụn

(Dân trí) – Tung “con át chủ bài” (máy bay B52) cuối cùng ra Bắc, Mỹ toan tính tham vọng lớn. Thế nhưng chỉ sau 12 ngày đêm (18/12 – 29/12/1972), bầu trời Hà Nội đã biến thành tử địa chôn vùi B52.

Đối đầu với tên lửa Việt Nam, B52 chỉ còn là đống sắt vụn

Đối đầu với tên lửa Việt Nam, B52 chỉ còn là đống sắt vụn
Những ngày này, Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ trên không nằm trên đường Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội) thu hút rất đông học sinh đến tham quan.
Các em học sinh đư
Các em học sinh được hướng dẫn tỉ mỉ các khí tài quân sự của ta đã hạ gục B52

Đ
Đối đầu với máy bay, tên lửa của Việt Nam, máy bay B52 chỉ còn là đống sắt vụn.

Gắn động cơ khủng nhưng pháo đài bay - B52

Gắn động cơ khủng nhưng pháo đài bay - B52

Gắn động cơ khủng nhưng pháo đài bay - B52
Gắn động cơ “khủng” nhưng “pháo đài bay” – B52 không thoát được tên lửa của Việt Nam

Phần đầu của pháo đài bay
Phần đầu của “pháo đài bay”

Bên trong máy bay B52 - nơi có thể chứa hàng chục tấn bom
Bên trong máy bay B52 – nơi có thể chứa hàng chục tấn bom

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)

Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 - 12/2012)
Phần còn lại của chiếc B52 sau 40 năm (tháng 12/1972 – 12/2012)

Một số loại bom B52 mang theo khi đánh phá Hà Nội
Một số loại bom B52 mang theo khi đánh phá Hà Nội

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời
Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời

Ra đa  bắt B52 trên bầu trời
Những khí tài quân sự của Việt Nam hạ gục 34 máy bay B52 và hàng loạt máy bay chiến lược đi theo bảo vệ B52 trong 12 ngày đêm

Trúc Linh
dantri.com.vn

Nhớ một thời cả nước hướng về Thủ đô yêu dấu

(Dân trí) – Tháng 12/2012, ký ức về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn hào hùng, oanh liệt như cách đây 40 năm tròn.

Ký ức còn mãi

Với mưu đồ biến miền Bắc trở về với thời kỳ đồ đá, Ních-Xơn đã dốc toàn bộ lực lượng, tiềm lực quân sự để xây dựng những “pháo đài bay” trên không nhằm đánh phá Thủ đô và các tỉnh miền Bắc nước ta. Hơn nữa, để gây sức ép trên bàn đàm phán Paris, không lực Hoà Kỳ đã sử dụng toàn bộ B52 (pháo đài bay chiến lược) hiện đại nhất thời bấy giờ để rải bom nhằm giành thế áp đảo trên mặt trận ngoại giao.

Và, một chiến dịch mà tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Ních-Xơn đưa ra với tên gọi “Linebacker II” nhằm huy động toàn bộ lực lượng đánh trả lại các trung tâm đầu não của Việt Nam như: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên…đã được thực hiện. Tối 18/12/1972, không lực Hoà Kỳ đã dùng máy bay B52 ném bom vào Hà Nội và Hải Phòng.

Đây là loại máy bay tải trọng 30 tấn bom, có sức công phá khủng khiếp nhất thời đó. Trong 12 ngày đêm (18/12 – 29/12/1972), Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta hơn 100 ngàn tấn bom đạn.

Trong đó, tại Hà Nội, Mỹ đã sử dụng 441 lần B52, hơn 1.000 lần máy bay chiến thuật, ném hơn 1 vạn tấn bom đạn, giết hại 2.368 người và làm bị thương 1.355 người. Thậm chí có những gia đình không một ai sống sót. Những con đường, góc phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai, Gia Lâm, Đông Anh… còn đó bao dấu tích của 12 ngày đêm rực trời Hà Nội năm xưa.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng đến bây giờ, ký ức của trận chiến kinh hoàng ấy vẫn vẹn nguyên. “Ngày ấy, B52 thả nhiều lắm, dữ dội lắm. Nhà tôi gần bệnh viện Bạch Mai nên cũng bị máy bay B52 rải bom tàn phá. Ngày đó không đi sơ tán kịp thì cũng bị bom Mỹ sát hại. Sau này, về lại Hà Nội thấy cảnh tan hoang, hàng xóm có người thân mất mát sau 12 ngày đêm ấy mới thấy tội ác của Mỹ không thể tha thứ được. Bây giờ, sống trong cảnh thanh bình nhưng mỗi khi đài báo đưa tin nói về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, tôi vẫn không thể quên được ký ức về hình ảnh của Hà Nội bi thương nhưng oai hùng ngày ấy” – bà Nguyễn Thị Nụ (80 tuổi) hiện nay sống ở phố Phương Mai, quận Đống Đa (Hà Nội) nhớ lại.

Bảng ghi hoạt động của máy bay B52.Bảng ghi hoạt động của máy bay B52.

Cũng như bà Nụ, hàng triệu người dân Thủ đô ngày ấy đã trải qua ký ức 12 ngày đêm khói lửa, từng chứng kiến cảnh đổ nát, điêu tàn trong bom đạn B52 mà giặc Mỹ gây ra. Họ có thể là những cựu quân nhân, là những người phụ nữ ở lại cùng với bộ đội bám trụ để “sống chết với Thủ đô”, là những em bé ra đời đúng vào thời khắc của những ngày tháng mười 12 để rồi phải sống trong mùi bom do Mỹ ném xuống, là những cặp vợ chồng trẻ vừa mới cưới nhau đành phải tạm chia tay để chồng ra mâm pháo canh giữ bầu trời Hà Nội…

Bảo tàng chiến thắng B52 – chứng tích của 12 ngày đêm khói lửa

Ngày chiến thắng, có những người vợ mất chồng, con mất cha rồi côi cút tất cả. Có lẽ, không chỉ thế hệ sau này không được sinh ra trong thời khắc 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 mà còn cả những người từng sống, chiến đấu vào thời kỳ ấy vẫn không quên ký ức tàn khốc mà B52 trải thảm ném bom miền Bắc. Và, hôm nay, những gì còn sót lại sau chiến tranh, những gì được coi là minh chứng tội ác của giặc Mỹ vẫn còn đây giữa lòng Hà Nội.

Một ngày đầu tháng 12, giữa bảo tàng chiến thắng B52, những hiện vật hiện lên trong mắt khách tham quan từ mọi miền Tổ quốc với bao nỗi căm hờn lẫn với khâm phục ý chí của quân và dân Thủ đô một thời. Với bao hiện vật được lưu giữ đầy đủ tại đây là niềm tự hào chiến thắng và cũng là một chút ký ức để lại trong lòng người dân Hà Nội một thời đau thương.

40 năm trước, cả nước thắt lòng hướng về Hà Nội. Mỗi chiếc B52 của không quân Hoa Kỳ rơi là hàng triệu trái tim đồng bào cả nước rung lên hồi chuông hạnh phúc.

Chiếc B52 cuối cùng bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội được lưu giữ tại Bảo tàng chiến thắng B52.Chiếc B52 cuối cùng bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội được lưu giữ tại Bảo tàng chiến thắng B52.

Dịp này, vào thăm bảo tàng chiến thắng B52 trên phố Đội Cấn, du khách sẽ được tận mắt chứng kiến một Hà Nội 40 năm về trước trong 12 ngày đêm với đầy đủ sa bàn điện tử hiện đại tái hiện lại không gian chiến đấu quyết liệt của quân và dân bảo vệ bầu trời Hà Nội bằng gần 9.000 hiện vật được lưu giữ. Mỗi hiện vật, mỗi bức ảnh là một lời nói cho chứng tích những gì đế quốc Mỹ đã gây ra tội ác vào 12 ngày đêm năm 1972, là tiếng cười chiến thắng của quân và dân Thủ đô năm nào giờ vẫn còn nguyên giá trị.

“Mỗi lần vào bảo tàng là thấy thêm yêu Hà Nội, thêm yêu Thủ đô! Dù mình không phải là người con sinh ra ở Hà Nội nhưng vào đây với bảo tàng, tôi như được sống trong không khí cả nước hướng về Thủ đô năm nào. Giờ mình là thế hệ sinh sau nhưng khi được sống và làm việc ở Thủ đô mới thấy quý trọng những gì mình đã gắn bó với Hà Nội gần 10 năm qua, thấy cảm phục tinh thần 12 ngày đêm của thế hệ đi trước đã bám trụ để bảo vệ trái tim của Tổ quốc” – anh Dương Văn Hậu, một người con xứ Nghệ nay sống và làm việc tại Hà Nội tâm sự.

Ngọc Thái – Nguyễn Duy
dantri.com.vn