Thư viện

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 4)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bộ đội Không quân Nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công xuất sắc bắn hạ các máy bay hiện đại của địch.

Dưới đây là một vài hình ảnh tư liệu về bộ đội không quân:


Biên đội MiG-21 của phi công Nguyễn Nhật Chiêu và Nguyễn Văn Cốc xuất kích chiến đấu. Ngày 23/8/1967, hai phi công đã bắn hạ 3 chiếc máy bay địch.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phi công Nguyễn Nhật Chiêu (bên trái) đã bắn rơi 6 máy bay địch còn phi công Nguyễn Văn Cốc (bên phải) bắn rơi 9 máy bay Mỹ – người bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất của bộ đội không quân.


Trong ngày 23/8/1967, phối hợp với biên đội MiG-21 của trung đoàn 921 là biên đội 4 MiG-17 (trung đoàn 932) do các phi công: Cao Thanh Tịnh, Lê Văn Phong, Nguyễn Văn Thọ, Lê Hồng Điệp cùng đánh địch tiêu diệt hai máy bay Mỹ.


Biên đội tiêm kích MiG-17 xuất kích.


Phi công Hà Văn Chúc (trái) và chiếc MiG-21 (số hiệu 4320) đã cùng ông lập công xuất sắc bắn rơi chiếc F-105 ngày 3/1/1968 trong điều kiện hết sức khó khăn “1 chọi 36”.


Biên đội Nguyễn Đức Soát – Ngô Duy Thư (trung đoàn 927) và biên đội Phạm Phú Thái – Bùi Thanh Liêm (trung đoàn 921) sau trận đánh bắn rơi 4 máy bay Mỹ trên vùng trời Sơn Lan, ngày 27/6/1972.

Trong kháng chiến chống Mỹ, phi công Nguyễn Đức Soát (bên trái) đã bắn rơi 6 máy bay  và phi công Ngô Duy Thư (bên phải) bắn hạ 3 máy bay.


Phi công Phạm Phú Thái (bên trái) bắn rơi 4 máy bay và Bùi Thanh Liêm bắn rơi 3 máy bay trong kháng chiến chống Mỹ.


Trong trận đánh ngày 5/7/1972, phi công Nguyễn Tiến Sâm (bên trái) đã lập chiến công đặc biệt. Sau khi bắn trúng máy bay địch, do bay quá gần cả chiếc MiG-21 đã lao vào điểm nổ. Do thiếu oxy, động cơ MiG-21 bị tắt, đồng chí đã bình tĩnh mở máy trên không về hạ cánh an toàn.

Phi công Hạ Vĩnh Thành (bên phải) bắn hạ một F-4 trong trận ngày 5/7/1972. Đồng chí sau này chuyển sang công tác tại cục hàng không dân dụng Việt Nam.


Kíp sĩ quan dẫn đường cho biên đội Nguyễn Tiến Sâm – Hạ Vĩnh Thành đánh địch ngày 5/7/1972.


Máy bay A-37 trên đường vào ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, chiều ngày 28/4/1975.

Phi đội Quyết Thắng sau khi chiến thắng trở về.


Quang cảnh sân bay Tân Sơn Nhất đổ nát, đầy xác máy bay bị phá hủy sau trận ném bom của phi đội Quyết Thắng ngày 28/4/1975.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 3)

Lê Quân
baodatviet.vn

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 3)

Bộ đội tên lửa đã lập nhiều công lớn bắn hạ hàng trăm loại máy bay hiện đại của địch, đặc biệt là “pháo đài bay” B-52 tạo nên chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”.

(ĐVO) Dưới đây là một số hình ảnh tư liệu:


“Chim ưng nhà trời” A-4E xuất kích từ tàu sân bay Mỹ vào đánh phá miền Bắc Việt Nam.


Chiến sĩ tiểu đoàn tên lửa 61 luyện tập chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Ngày 26/10/1967, đơn vị lập công bắn rơi A-4E trên “vùng cấm”.


Thiếu tá Hải quân John McCain lái chiếc A-4E bị bắn rơi ngày 26/10/1967.


Mũ bay của phi công John McCain.

Máy bay cường kích A-6A mà quân Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam.


Và mảnh xác A-6A bị bộ đội tên lửa tiểu đoàn 77 (trung đoàn 257) bắn rơi ngày 24/3/1967.


Bộ đội tiểu đoàn tên lửa 77 làm công tác bảo quản vũ khí đảm bảo cho trận đánh.


Tiểu đội đạn tiểu đoàn 77 góp phần lập công bắn rơi máy bay Mỹ A-6A.


Chiến sĩ tiểu đoàn 67 (trung đoàn 275) sẵn sàng chiến đấu, đơn vị đã bắn rơi “bóng ma” AC-130 ngày 29/10/1972.


Xác AC-130 bị bắn rơi tại chỗ lúc 3h chiều ngày 29/10/1972.


Kíp trắc thủ tiểu đoàn 67 (trung đoàn 257) tham gia bắn rơi AC-130.


Sĩ quan điều khiển – Trung úy Nguyễn Đình Kiên (đứng đầu bên phải) và kíp trắc thủ thuộc tiểu đoàn 57 (trung đoàn 261) lập công bắn rơi 4 B-52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972. Đặc biệt là trận đánh tiêu diệt 2 B-52 trong 5 phút.


Đồng chí Thượng úy Nguyễn Văn Phiệt (tiểu đoàn 57) họp rút kinh nghiệm cùng kíp trắc thủ.


Đơn vị radar P-12 thuộc tiểu đoàn 57 vào lệnh chiến đấu cấp 1.


Tiểu đoàn tên lửa 72 (trung đoàn 285) huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao.


Kíp trắc thủ tiểu đoàn 72 trực tiếp bắn rơi B-52 còn mang nguyên bom đêm 27/12/1972.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)
>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)

>> Kỳ 1: Đạn pháo đan lưới lửa
>> Kỳ 2: “Mắt thần” canh giữ bầu trời

Lê Quân
baodatviet.vn

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 2)

Bộ đội radar không chỉ đóng vai trò “con mắt” canh giữ, mà còn làm nhiệm vụ dẫn đường cho phi công ta tiêu diệt địch trên vùng trời, vùng biển.

>> Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)

Dưới đây là một vài hình ảnh về 3 trận đánh tiêu biểu của bộ đội radar:

Đài radar trung đoàn 291 dẫn đường cho biên đội MiG-17 ném bom tàu khu trục Mỹ ngày 19/4/1972.


Các cán bộ của ta thông qua lần cuối kế hoạch đánh tàu chiến Mỹ.


Đại đội trưởng Lê Xuân Dị và phi công Nguyễn Văn Bảy B tham gia đánh tàu chiến Mỹ ngày 19/4/1972.


Tháp pháo 127mm trên tàu USS Higbee sau khi trúng bom từ MiG-17.


Tiêm kích MiG-17 (số hiệu 2047) do phi công Nguyễn Văn Bảy B điều khiển ném bom tàu USS Oklahama City.


Đài radar P-35 của trung đoàn 291 phát hiện B-52 vào đánh phá miền Bắc trước 35 phút, ngày 18/12/1972.


Các chiến sĩ radar đã góp công lớn trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972.


Đài radar đại đội 25 (trung đoàn 291) phát hiện, bám bắt UAV 147SRE-16 phục vụ cho đơn vị hỏa lực bắn rơi ngày 6/8/1969.


Vọng quan sát mắt đại đội 25 (trung đoàn 291) luôn cảnh giác bổ trợ phát hiện UAV bay thấp.


Đồng chí Nguyễn Văn Giằng – trắc thủ giỏi của binh chủng radar đang trao đổi kinh nghiệm bắt mục tiêu bay thấp.

Lê Quân
baodatviet.vn

Truyền thống bộ đội PKKQ qua ảnh (kỳ 1)

Bộ đội pháo phòng không trong 2cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã lập nhiều công lớn góp phần tạo nên chiến thắng toàn thể dân tộc trước giặc xâm lăng.

Dưới đây là một vài hình ảnh tư liệu về các trận đánh của bộ đội pháo phòng không:

Máy bay B-24 cùng loại với chiếc bị bắn rơi tại tại Điện Biên Phủ (ngày 12/4/1954). Nó có khả năng mang tối đa 3.600kg nhưng tầm hoạt động chỉ có 650km. Nếu mang 1.200kg bom thì tầm bay tăng lên gần 2.000km.

B-24 đền tội ở lòng chảo Điện Biên Phủ, bức ảnh được các phóng viên báo Quân đội Nhân dân có mặt tại đó ghi lại.

Hiện vật băng đạn và vỏ đạn pháo 37mm, đại đội 828 (trung đoàn 367) dùng để bắn hạ B-24.

Khẩu đội 4, đại đội 82 (tiểu đoàn 8 – Trường sĩ quan cao xạ) tham gia trận đánh ngày 26/3/1965 bảo vệ trận địa radar ở Rú Nài, Hà Tĩnh.

Đại đội trưởng và chính trị viên đại đội 82 đang xử lý tình huống chiến đấu.

Tên lửa “giả” bằng cót, tre tham gia nghi binh trong trận đánh ngày 27/7/1965 bắn rơi 5 máy bay Mỹ.

Cán bộ, chiến sĩ khẩu đội 2, đại đội 1, tiểu đoàn 1 pháo phòng không tự hành AM trên vị trí chiến đấu (trận ngày 27/7/1965).

Các khẩu đội pháo thuộc tiểu đoàn 18 bảo vệ Đáp Cầu (Hà Bắc). Trong trận đánh 17/10/1965, toàn bộ tiểu đoàn trong vòng 2 phút đã bắn rơi 5 máy bay địch.

Đồng chí Nguyễn Xuân Đạo, trắc thủ đại đội 4, tiểu đoàn 18 tham gia đánh địch ngày 17/10/1967 bảo vệ Đáp Cầu (Hà Bắc).

Cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 18 trên mâm pháo sẵn sàng chiến đấu.

>> 17 trận đánh độc đáo của bộ đội PK-KQ (kỳ 1)

Lê Quân
baodatviet.vn

Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào (kỳ 2)

Đến nay, dù đã nhận câu trả lời về việc một quả tên lửa cũ kỹ từ những năm 1960 lại có thể kết liễu “kỳ quan kỹ thuật” ngốn hàng tỷ đô la để chế tạo, giới quân sự Mỹ vẫn chưa hết lo lắng.

Ngày 27/3/1999, giới quân sự Mỹ bàng hoàng khi nhận được tin: 20h42 (giờ Belgrade), cách phía Tây Belgrade 30 km, những mảnh vụn của một chiếc máy bay F-117A rơi xuống đất sau khi bị lực lượng phòng không Serbia xé bỏ tấm áo tàng hình “huyền thoại” và giáng đòn trừng phạt.

Đơn vị lập chiến công vang dội trên là tiểu đoàn 3, lữ đoàn tên lửa phòng không 250, có nhiệm vụ bảo vệ bầu trời thủ đô Belgrade, do đại tá Dani Zoltán chỉ huy.

Xác F-117A bị bắn rơi ở ngoại ô Belgrade. Ảnh: serbnews.com

Tiểu đoàn 3 có hơn 200 người, được trang bị các radar sục sạo và điều khiển, 4 bệ phóng tên lửa phòng không S-125 Neva (SA-3 Goa), mỗi bệ lắp 4 tên lửa.

Ngoài thành tích vang dội kể trên, tiểu đoàn 3 còn bắn rơi một chiếc F-16 và nhiều lần chiến đấu xuất sắc trong cuộc chiến 78 ngày, bẻ gãy nhiều cuộc tập kích của máy bay NATO. Trong khi đó, không quân NATO không tiêu diệt nổi một radar hay bệ phóng nào của tiểu đoàn 3.

Tàng hình không có nghĩa là vô hình

Sau 6 năm loay hoay tìm hiểu nguyên nhân, Mỹ đã nhận được câu trả lời từ đại tá Dani Zoltán, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3. Thế nhưng, sự đơn giản trong câu trả lời từ phía Dani Zoltán khiến giới quân sự Mỹ càng thêm lo lắng.

Hệ thống tên lửa phòng không S-125 tuy cũ, song các radar bước sóng dài (tần số thấp) của nó lại phát hiện F-117A tốt hơn các radar hiện đại bước sóng ngắn (tần số cao), nhưng đó không phải là tất cả.

Theo đại tá Dani Zoltán, bí quyết hạ F-117A không chỉ gồm các biện pháp kỹ thuật mà còn ở khâu chuẩn bị chiến dịch. Đây cũng là bài học mà Việt Nam đúc rút trong quãng thời gian hơn 7 năm đối đầu với Không lực Mỹ.

Xác B-52 bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội. Ảnh tư liệu

Trí tuệ, nghệ thuật quân sự và ý chí của các dân tộc khao khát độc lập tự do, có thể, đã không nằm trong tính toán của người Mỹ khi họ thiết kế những máy bay hiện đại như B-52 hay F-117A.

Năm 2005, sau khi về hưu, Dani Zoltán đã tổng kết những nguyên nhân góp phần vào chiến thắng hạ gục F-117A:

– Chú trọng huấn luyện bộ đội sử dụng vũ khí, khí tài

Zoltán biết rõ từng người lính dưới quyền và hoàn toàn tin tưởng họ. Một thời gian dài trước khi NATO bắt đầu không kích, ông thường xuyên cho binh sĩ luyện tập sử dụng thành thục vũ khí, khí tài trong biên chế.

– Bảo mật thông tin liên lạc

Zoltán tổ chức hệ thống liên lạc qua cáp hữu tuyến (không dùng vô tuyến điện và điện thoại di động) và dùng giao liên chạy bộ hay đi ô tô để liên lạc nhằm tránh trinh sát điện tử của NATO nghe lén nội dung điện đàm. Vì thế, NATO không thể xác định được vị trí của tiểu đoàn 3 để chế áp bằng tên lửa chống radar HARM và bom thông minh.

– Các radar và bệ phóng liên tục thay đổi trận địa

Zoltán sử dụng một bộ phận quân số thường xuyên đi tìm kiếm các trận địa mới để triển khai đơn vị, thực hành triển khai, thu hồi và di chuyển vũ khí, khí tài.

Trong 78 ngày không kích, đơn vị đã di chuyển hơn 100.000 km. Mỗi lần rút đi, đơn vị để lại các bộ tạo giả radar và các mô hình làm bằng vật liệu sẵn có để nhử máy bay NATO đến đánh phá.

Zoltán không công khai đối đầu với máy bay ném bom để tránh bộc lộ vị trí các radar và tên lửa của đơn vị mà nằm im phục kích đón lõng để chờ cơ hội bắn rơi F-117A.

Mảnh kính buồng lái F-117 bị bắn rơi ở Serbia. Ảnh: serbnews.com

– Tổ chức hoạt động tình báo và trinh sát

Nam Tư đã cho tình báo giám sát căn cứ không quân Aviano (Italia), nơi xuất phát của đa số máy bay ném bom NATO. Khi máy bay ném bom cất cánh, các điệp viên ở gần căn cứ liền gọi điện thoại về Belgrade thông báo chủng loại, số lượng máy bay cất cánh.

Tại Serbia, mạng lưới đài quan sát được triển khai để theo dõi, thông báo máy bay NATO xâm nhập và đường bay của chúng. Nhờ vậy, Zoltán không cần bật liên tục các radar mà chỉ bật trong thời gian ngắn vào thời điểm cần thiết để tránh bị các máy bay AWACS của NATO phát hiện và điều máy bay tiêm kích tới đánh phá.

Phía Nam Tư cũng chặn thu và nghe lén được phi công NATO trao đổi với các máy bay AWACS nên biết được đường bay và kế hoạch ném bom của chúng.

– Tổ chức nghiên cứu sớm về F-117A

Khoảng 10 năm trước khi cuộc không kích của NATO, Zoltán đã cố gắng thu thập và nghiên cứu tất cả những thông tin trên báo chí và dư luận về công nghệ tàng hình của Mỹ, F-117A. Zoltán đi đến kết luận “không có máy bay nào là vô hình cả mà chỉ khó phát hiện hơn thôi”.

Trên cơ sở đó, ông bố trí và sử dụng các radar để có thể phát hiện MBTH. Trước khi chiến tranh nổ ra, Nam Tư đã tổ chức các đoàn quân sự sang Iraq học hỏi kinh nghiệm đối phó với máy bay Mỹ và liên quân.

– Xác định mục tiêu và phóng tên lửa vào thời điểm cuối cùng

Tuy có khả năng tàng hình, F-117 lại bay chậm, không thể cơ động đột ngột để tránh tên lửa phòng không phóng từ tầm gần. Vì vậy, khi F-117 bị bất ngờ khi bay gần trận địa phòng không, không còn cơ hội cơ động tránh đạn tên lửa. Zoltán cho biết, tên lửa của tiểu đoàn 3 chỉ bay 13km đã hạ gục được F-117A.

– Cải tiến đối với hệ dẫn tên lửa

Dù không tiết lộ cụ thể những cải tiến này vì đây là bí mật quốc gia nhưng Zoltán hé lộ, đơn vị của ông được trang bị thiết bị bám quang-điện tử truyền hình hoặc ảnh nhiệt, những thiết bị giúp tên lửa tự dẫn tốt hơn.

– Khai thác sai lầm chiến thuật của NATO

F-117A xuất kích không có yểm hộ và không thay đổi đường bay. Chiếc F-117A bị bắn rơi đã bay theo cùng một đường bay lần thứ tư liên tục, nhờ vậy lực lượng phòng không Nam Tư đã có cơ hội chuẩn bị kỹ càng cho cuộc đi săn.

Ngay sau khi chiếc F-117A bị bắn rơi, NATO đã áp dụng ngay các biện pháp đối phó. F-117A luôn được các máy bay tiêm kích trang bị tên lửa chống radar cao tốc HARM hộ tống và thay đổi đường bay. Do đó, Zoltán không thể bắn hạ thêm chiếc F-117A nào. Tuy nhiên, ông đã đi vào lịch sử với tư cách người đầu tiên bắn rơi máy bay tàng hình.

Người hùng trở thành ông chủ cửa hàng bán bánh mì

Đại tá Dani Zoltán khi về hưu.

Vụ bắn rơi F-117A ngày 27/3/1999 làm bùng lên sự nghi ngờ không chỉ đối với F-117A mà cả toàn bộ khái niệm công nghệ tàng hình vốn là cơ sở cho thế hệ máy bay chiến đấu tối tân nhất của không quân Mỹ.

Khả năng bí mật công nghệ tàng hình của F-117A đã lọt vào tay Nga có lẽ là một trong những nguyên nhân để không quân Mỹ loại bỏ các máy bay này khỏi trang bị năm 2008.

Ngay sau khi bắn rơi F-117A, Nga đã cứ một viên tướng và công trình sư tên lửa S-125 trực tiếp đến hiện trường bắn rơi F-117A và thăm đơn vị của Zoltán. Khi đó, vị công trình sư này đã cởi đồng hồ đeo tay của mình tặng Zoltán.

Dani Zoltán là người Serbia, gốc Hung, tốt nghiệp trường Tên lửa phòng không Minsk. Sau khi về hưu, ông là chủ một lò bánh mì nhỏ ở làng Skorenovac yên tĩnh ngay phía Bắc Belgrade.

Kể từ năm 1999, Dani Zoltán thường gặp lại nhau vào ngày 27/3 ở Belgrade để ôn lại chiến công năm xưa. Đúng 20h42, đèn ở nhà hàng sẽ được tắt hết, sau đó, một chiếc máy bay F-117A làm bằng chocolate được mang ra thết đãi những người có mặt.

Nhân Vũ
baodatviet.vn

Bắn hạ B-52 và F-117A: Hai chiến công, một niềm tự hào

Chiến thắng B-52 của Việt Nam năm 1972 và việc Nam Tư bắn hạ máy bay tàng hình F-117A (1999) cho thấy, con người vẫn là yếu tố quyết định trong chiến tranh.

37 năm trước, bộ đội Phòng không – không quân (PK-KQ) Việt Nam lập nên một chiến công lịch sử có tên “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược Linebacker II của đế quốc Mỹ nhằm vào Hà Nội và Hải Phòng (18 – 30/12/1972), quật ngã hàng chục pháo đài bay B-52 Stratofortress, biểu tượng sức mạnh không lực Mỹ, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris 1973 rút quân khỏi Việt Nam.

27 năm sau chiến công của Việt Nam, trong 78 ngày đêm chiến đấu chống lại không quân Mỹ và NATO (27/3-10/6/1999), Nam Tư dũng cảm chiến đấu và lập thành tích chấn động, lần đầu tiên bắn hạ máy bay tàng hình (MBTH) F-117A Nighthawk của Mỹ.

Hai chiến công khẳng định một chân lý: con người vẫn là yếu tố quyết định trong chiến tranh, nếu có quyết tâm, cách đánh đúng và sự thông minh, mưu trí, sáng tạo, vẫn có thể đánh thắng kẻ thù vượt trội về vũ khí và công nghệ kể cả bằng vũ khí lạc hậu.

Điều lý thú là qua lời kể của đại tá Zoltán Dani, người chỉ huy đơn vị phòng không Nam Tư đã bắn rơi F-117A, có thể thấy thấy chiến công này mang đậm dấu ấn kinh nghiệm của các cuộc chiến ở Trung Đông và trên hết là của nghệ thuật phòng không Việt Nam.

F-117A Nighthawk (Chim ưng đêm), là máy bay chiến đấu tàng hình sản xuất loạt đầu tiên trên thế giới, do hãng Lockheed (Mỹ) phát triển theo chương trình bí mật Aurora năm 1974, thực hiện chuyến bay đầu ngày 18/6/1981, đưa vào trang bị cho không quân Mỹ ngày 15/10/1983 và loại khỏi trang bị ngày 22/4/1988.

Tổng cộng đến năm 1990, Mỹ đã chế tạo 64 máy bay loại này, 5 mẫu chế thử YF-117A và 59 chiếc sản xuất loạt F-117A.

Trong 25 năm, Nighthawk đã tham gia 5 chiến dịch: xâm lược Panama năm 1989, chống Iraq năm 1991 và 2003, không kích Nam Tư năm 1999, xâm lược Afghanistan năm 2001.

Điều thú vị người được coi là cha đẻ của công nghệ máy bay tàng hình hiện đại lại là nhà vật lý và nhà toán học của… Liên Xô P.Ya. Ufimtsev.

Chính Lý thuyết tán xạ của ông đã giúp các kỹ sư của Lockheed (Mỹ) trong thập niên 1970 xây dựng khái niệm máy bay có độ bộc lộ radar thấp và chế tạo F-117A (công nghệ tàng hình thế hệ 1), đặc biệt là phát triển máy bay ném bom chiến lược B-2 Spirit (công nghệ tàng hình thế hệ 2) của hãng Northrop.

F-117A Nighthawk. Nguồn: internet

Trong cuộc chiến chống Iraq năm 1991, F-117A trở thành ngôi sao sáng chói với hiệu quả chiến đấu rất cao. F-117A đã thực hiện 1.271 phi vụ dài 7.000 giờ và thả 2.087 quả bom dẫn bằng laser GBU-10 và GBU-27 tổng trọng lượng gần 2.000 tấn, gần 1% tổng số phi vụ của không lực liên quân (và dưới 4% tổng số phi vụ chiến đấu).

Hiệu quả (số lượng phi vụ/số mục tiêu chỉ định bị diệt) là 80-95%, đánh trúng 1.669 lần, chỉ đánh trượt 418 lần. Trong khi đó, lượng máy bay F-117A chỉ chiếm 2,5% số máy bay Mỹ và đồng minh tại vùng Vịnh, F-117A tiêu diệt gần 40% số mục tiêu mặt đất ưu tiên mà không bị tổn thất nào.

Tại Quốc hội Mỹ, trung tướng Charles Horner, tư lệnh không quân liên quân tuyên bố các máy bay tàng hình như F-117A và В-2 sẽ là không thể thay thế trong các cuộc xung đột tương lai như chiến tranh ở vùng Vịnh.

Trong cuộc chiến 78 ngày chống Nam Tư, 24 chiếc F-117A được triển khai đến châu Âu và đã thực hiện gần 850 phi vụ. Tuy nhiên, khác với Iraq, phòng không Nam Tư đã kiên cường đánh trả bắn rơi tại chỗ 1 F-117 ở gần làng Budanovci, ngoại ô Belgrade ngày 27/3/1999 (ba ngày sau khi chiến dịch được mở màn) và 1 chiếc khác bị bắn bị thuơng ngày 30/4/1999, phải hạ cánh xuống căn cứ Aviano, Italy.

Đánh trả chiến dịch Sức mạnh đồng minh (Operation Allied Force)

Ngày 24/3/1999, không quân NATO bắt đầu chiến dịch không kích dài 78 ngày chống Nam Tư, cuộc chiến tranh lớn đầu tiên ở châu Âu sau Thế chiến II và một cuộc chiến tranh công nghệ cao điển hình.

Trong cuộc chiến này, trước ưu thế gần như tuyệt đối của không quân đối phương, quân đội Nam Tư đã chiến đấu kiên cường và lập công xuất sắc. Thành công nhất là họ đã cơ bản bảo toàn được lực lượng và khả năng chiến đấu.

Bất chấp những cuộc đánh phá ác liệt của kẻ thù, các tên lửa của Serbia vẫn là mối đe dọa lớn trong suốt cuộc chiến, buộc máy bay NATO phải bay ở độ cao trên 4.500 m.

Tên lửa phòng không S-125 của Nam Tư. Ảnh: http://www.vs.rs

Theo NATO, trong thời gian không kích, tại Kosovo họ đã tiêu diệt: gần 60% pháo binh và gần 40% xe tăng Nam Tư và ở sân bay Slatina tại thủ phủ Pristina của Kosovo chỉ còn 4 MiG-21 của phía Nam Tư.

Vì thế, lực lượng NATO kinh ngạc khi đếm được 60.000 quân Serbia rút khỏi Kosovo (chứ không phải 40.000 quân như họ từng nghĩ), gần 250 xe tăng, ít nhất 450 xe bọc thép chở quân, gần 600 khẩu pháo các loại, các bệ phóng tên lửa.

Họ cũng sửng sốt chứng kiến 11 chiếc MiG-29 và 21 chiếc MiG-21 lần lượt bay khỏi sân bay Slatina ở Pristina về phía Bắc, tới Belgrade ngày 12/6/1999.

Một số nhà bình luận nói, các máy bay “tàng hình” trong cuộc chiến 78 ngày không phải F-117A của Mỹ, mà chính là MiG của Serbia. Trong chiến dịch ném bom tàn bạo, NATO chỉ tiêu diệt được ba MiG-29

Theo số liệu của Nam Tư, quân đội Nam Tư đã bắn rơi tổng cộng 128 máy bay, 14 trực thăng, 60 máy bay không người lái, 454 tên lửa hành trình. Theo thông tin của NATO, trong số hơn 1.000 máy bay tham chiến, chỉ còn lại hơn 80%.

(còn tiếp)

Nhân Vũ
baodatviet.vn

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 4)

Bên cạnh súng phòng không và pháo cao xạ, “én bạc” MiG-21 và “rồng lửa Thăng long” SA-2 là hai loại vũ khí chủ lực đập tan niềm tự hào của không lực Mỹ, làm nên chiến thắng vang dội địa cầu.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)

Tiêm kích đánh chặn MiG-21

MiG-21 là máy bay tiêm kích phản lực siêu âm do Liên Xô thiết kế phát triển vào những năm 1950. Vào thời điểm bấy giờ, MiG-21 là một trong những tiêm kích cơ hiện đại nhất thế giới. Chúng đã tham gia phục vụ ở gần 50 quốc gia trên thế giới, cho tới ngày nay vẫn có nhiều nước tiếp tục sử dụng MiG-21 như Việt Nam, Ấn Độ, Cu ba, Trung Quốc (biến thể J-7 do Trung Quốc tự sản xuất).

Liên Xô viện trợ loại tiêm kích này cho Việt Nam vào năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại miền bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ đang ở giai đoạn rất quyết liệt.

Tiêm kích MiG-21 của không quân nhân dân Việt Nam. Ảnh: Tuấn Linh

Tiêm kích MiG-21 thiết kế theo kiểu cánh tam giác, có hình dáng gần giống một mũi tên, được trang bị hệ thống điện tử khá đơn giản bao gồm:

– Thiết bị nhận diện bạn và thù (identification, friend or foe – IFF) dùng để nhận biết các loại máy bay, xe cộ thuộc quân ta hay đối phương. IFF xác định vị trí khoảng cách. MiG-21 hầu hết trang bị IFF SRZO-2 “Khrom-Nikel”.

– Thiết bị thông tin liên lạc RSIU-5, trừ một số phiên bản đời đầu như MiG-21F-13 trang bị R-802.

– Radar cảnh báo trên MiG-21 chủ yếu là SPO-2.

– Kính ngắm cho súng máy ASP-5 (phiên bản đời đầu MiG-21F-13, MiG-12F), PKI cho các bản tiếp sau.

Ngoài ra, một thiết bị không thể thiếu trên máy bay chiến đấu là radar điều khiển hỏa lực. Các máy bay MiG ngoài các mẫu đời đầu, thường được trang bị radar RP-21 “Saphir”. Trên lý thuyết loại radar này phát hiện mục tiêu ở khoảng cách 20km và khóa mục tiêu ở cực ly 10 km. Tuy nhiên, thực tế con số này lần lượt ở mức 13 km và 7 km.

Các phiên bản MiG-21 trang bị vũ khí chủ yếu là hai tên lửa không đối không tầm nhiệt Vympel K-13 có tầm bắn khoảng 8 km. Vũ khí phụ là pháo 23 hoặc 30 mm.

MiG-21 sử dụng động cơ phản lực đốt nhiên liệu hai lần Tumansky R-11-300, cho phép tiêm kích này đạt tốc độ lên tới 2.500 km/h (Mach 2,5), tầm hoạt động khoảng 1.500 km, trần bay gần 20.000m.

Không quân nhân dân Việt Nam lúc đó được viện trợ các loại MiG-21F-13/PF/PFM/MF. Trong chiến dịch Linebacker II, không quân Việt Nam đã lập nên kỳ tích bắn rơi hai pháo đài bay B-52. Một “kỷ lục” mà cho tới tận ngày nay vẫn chưa có quốc gia nào trên thế giới làm được.

MiG-21 số hiệu 5121 do phi công Phạm Tuân lái bắn rơi “Pháo đài bay” B-52.
Ảnh: Tuấn Linh

Hai người anh hùng đó là phi công Phạm Tuân lái một chiếc Mig-21MF (trang bị radar RP-22) bắn rơi B-52 vào đêm 27/12/1972. Phạm Tuân sau này đã trở thành người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên vũ trụ cùng với nhà du hành vũ trụ Gorbatko trên con tàu Soyuz 37.

Người phi công thứ hai là Vũ Xuân Thiều, bắn hạ một chiếc B-52 đêm 28. Anh anh dũng hy sinh khi dùng máy bay làm “viên đạn thứ ba” đâm thẳng vào B-52, sau khi bắn hai tên lửa mà chưa tiêu diệt được địch.

Ngoài ra, trước đó, phi công Vũ Đình Rạng từng bắn bị thương một B-52 vào ngày 20/11/1971. Tổng kết sau 12 ngày đêm, không quân MiG-21 đã xuất kích 24 lần bắn rơi 7 máy bay địch (trong đó có hai B-52)

Hệ thống tên lửa đất đối không SA-2

SA-2 (theo tiếng Nga gọi là C-75) là hệ thống tên lửa đất đối không tầm trung, tầm cao do Liên Xô phát triển từ những năm 50. SA-2 được triển khai chủ yếu ở các quốc gia thuộc khối Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới.

Tên lửa đất đối không SA-2. Ảnh: Tuấn Linh

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Việt Nam được Liên Xô viện trợ cho loại tên lửa này. Ngày 24/7/1965, bộ đội tên lửa Việt Nam đã tham gia đánh thắng trận đầu bắn rơi một chiếc F-4 trên bầu trời miền Bắc.

Từ đó tới chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, tên lửa phòng không Việt Nam tham gia bắn hạ hàng trăm máy Mĩ.

Hệ thống tên lửa đất đối không SA-2 bao gồm các thành phần:

-Tên lửa V-750 là loại tên lửa hai tầng gồm một tầng phóng chứa nhiên liệu rắn và một tầng chứa nhiên liệu lỏng. Bộ phận phóng hoạt động trong khoảng 4-5 giây, động cơ chính vào khoảng 22 giây. V-750 lắp một đầu đạn 200 kg HE-phá mảnh. Khi cách mục tiêu khoảng 60m thì đầu đạn tự nổ bung ra 12.000 mảnh vụn. Tên lửa có tầm bắn 45km, độ cao bay trên 20 km.

– Radar điều khiển hỏa lực FAN SONG, tầm phát hiện mục tiêu khoảng 60 –120km đối với phiên bản A/B và 75-145km (phiên bản E/F/D). Radar có khả năng quét theo dõi đồng thời sáu mục tiêu cùng lúc. Radar FAN SONG kết hợp với hệ thống tên lửa SA-2 và radar bắt mục tiêu SPOON REST.

– Radar bắt mục tiêu và cảnh báo SPOON REST có tầm hoạt động khoảng 275 km.

– Radar đo độ cao SIDE NET, độ cao tìm kiếm từ 28 – 32 km.

– Radar cảnh báo sớm KNIFE REST, tầm hoạt động khoảng 250 km. Loại này chỉ được trang bị ở một số phiên bản đời đầu của hệ thống SA-2.

Tên lửa SAM-2 Radar điều khiển hỏa lực FAN SONG. Ảnh: Tuấn Linh

Radar bắt mục tiêu và cảnh báo SPOON REST. Ảnh: Tuấn Linh

Radar đo độ cao SIDE NET. Ảnh: Tuấn Linh

Radar cảnh báo sớm KNIFE REST.

Một tiểu đoàn tên lửa SA-2 thường được bố trí theo kiểu hình hoa, 6 bệ phóng bố trí ở xung quanh các hệ thống radar điều khiển và dẫn đường.

Một điểm đáng lưu ý nữa, có một số nguồn tin lâu nay cho rằng tên lửa SA-2 trong chiến tranh Việt Nam đã được cải tiến nối tầng nâng tầm bắn. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải, bởi tên lửa SA-2 có thể hạ mục tiêu ở độ cao trên 20.000m trong khi trần bay tối đa của B-52 chỉ là 15.000 – 17.000m (khi bay ném bom độ cao bay 10.000m). Trên thực tế, chất bộ đội ta đã cải tiến các thiết bị radar để “vạch nhiễu tìm thù” bắt B-52 đền tội.

Xác B-52 rơi tại hồ Hữu Tiệp, làng Ngọc Hà (Hà Nội). Ảnh: Tuấn Linh

Trong chiến dịch cuối năm 1972, tên lửa SA-2 đã bắn rơi được 29 chiếc B-52, riêng Hà Nội bắn rơi 25 chiếc. Đây là một “cú sốc” đối với không lực Mỹ, bởi chúng coi B-52 là pháo đài bay không thể xâm phạm, được bảo vệ bởi nhiều loại máy bay gây nhiễu chủ động, bị động.

Với ý chí kiên cường, sáng tạo, anh dũng, quân và dân Thủ đô đã hạ đo ván con “ngáo ộp” này trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Buộc đế quốc Mỹ phải quay trở lại bàn đám phán ở Paris để ký kết hiệp định lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Lê Nam (tổng hợp)
baodatviet.vn

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 3)

Để đối phó với Linebacker II, quân và dân thủ đô Hà Nội đã thiết lập lưới lửa phòng không để bảo vệ Thủ đô cùng các thành phố lớn ở miền Bắc.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)
>> Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52’ trong bảo tàng Hà Nội

Các loại pháo phòng không ta sử dụng trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không:

Súng máy phòng không tầm thấp (cỡ 12,7mm và 14,5mm)

Ngay từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã được Liên Xô viện trợ cho súng máy phòng không tầm thấp DShK 12,7mm và đã lập chiến công bắn hạ nhiều máy bay quân Pháp ở chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Song, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 1972, DShK 12,7mm lần nữa tham gia bảo vệ bầu trời Hà Nội chống lại không quân Mỹ.

DShK 12,7mm được Liên Xô phát triển từ cuối những năm 1930, với mục đích tạo ra loại súng có khả năng chống thiết giáp hạng nhẹ và máy bay tầm thấp. Súng máy phòng không 12,7mm hoạt động theo cơ chế trích khí, được làm mát bằng không khí; nặng khoảng 137kg (tính cả giá đỡ ba chân), được điều khiển bởi một tổ ba người và cả ba người này sẽ phụ trách tháo lắp di chuyển từng phần súng khi cần; được lắp một hộp tiếp đạn cỡ 50 viên. Tầm bắn tối đa 2000m tuy nhiên tầm bắn hiệu quả chỉ là 1.000m. Sơ tốc đầu đạn 850 viên/phút, tốc độ bắn 600 viên/phút.

Súng máy phòng không DShK 12,7mm đặt trên giá ba chân.

Kết hợp với các đơn vị trang bị DShK 12,7mm lực lượng phòng không tầm thấp của ta còn được viện trợ loại súng máy phòng không ZPU-1/2/4 sử dụng cỡ nòng 14,5mm.

Tất cả seri ZPU đều được Liên Xô phát triển trong khoảng thời gian 1945-1947, đến đầu năm 1950 chúng được đưa vào biên chế của Hồng Quân. Mặc dù ra đời từ cách đây nửa thế kỉ, nhưng tới tận ngày nay, chúng vẫn nằm trong thành phần trang bị của hàng chục quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Các seri của ZPU bao gồm:
-ZPU-1 được lắp một nòng cỡ 14,5mm
-ZPU-2 được lắp hai nòng cỡ 14,5mm
-ZPU-4 lắp bốn nòng cỡ 14,5mm

Pháo phòng không ZPU-1 14,5mm. Ảnh: Lê Nam

Pháo phòng không ZPU-2 14,5mm (hai nòng). Ảnh: Lê Nam

Pháo phòng không ZPU-4 14,5mm (bốn nòng). Ảnh: Lê Nam

Tất cả các series ZPU trên đều bắn loại đạn API (BS41) trọng lượng 64,4gram. Sơ tốc đầu đạn 1000m/s, tầm bắn tối đa chống máy bay 5000m, tuy nhiên thật sự hiệu quả ở cự ly 1400m. Tốc độ bắn trên lý thuyết 600 viên/phút còn thực tế chỉ là 150 viên/phút.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, DShK 12,7mm kết hợp với các khẩu đội ZPU-1/2/4 với nhiệm vụ chống máy bay địch bay thấp đã phát huy tác dụng bắn rơi nhiều máy bay quân địch, đặc biệt là chiến công bắn hạ 5 máy bay cánh cụp cánh xòe F-111 “con lợn đất”.

Pháo phòng không 37mm M1939 (61-K)

M1939 (61-K) là pháo phòng không cỡ nòng 37mm được Liên Xô phát triển từ cuối những năm 1930 và sử dụng trong suốt cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Pháo 37mm được thiết kế chủ yếu để chống lại máy bay ném bom bổ nhào, các mục tiêu tầm thấp, tầm trung hoặc chống lại các loại xe thiết giáp hạng nhẹ. Đây là loại pháo nòng dài rãnh xoắn, được đặt trên xe kéo bốn bánh ZU-7l; có tầm bắn chống máy bay 2500m, tốc độ bắn khoảng 180 viên/phút. Khẩu đội bao gồm 8 người. Pháo được ngắm bắn bằng kính ngắm quang học.

Pháo phòng không 37mm M1939. Ảnh: Lê Nam

Ngay từ trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, quân đội ta đã được viện trợ loại vũ khí này để chống máy bay quân Pháp ở Điện Biên Phủ.

Năm 1972, pháo 37mm tiếp tục tham gia vào chiến dịch Điện Biên Phủ trên không với vai trò phòng không bảo vệ cầu cống, kho tàng, bến bãi,… và các trận địa tên lửa chống máy bay địch bay tầm thấp.

Pháo phòng không 57mm AZP S-60

57mm AZP S-60 là loại pháo phòng không tầm thấp, tầm trung do Liên Xô phát triển từ những năm 1950.

Cũng giống như pháo 37mm, S-60 được sử dụng để chống lại các loại xe thiết giáp hạng nhẹ và bắn máy bay tầm thấp. Thông thường, 57mm S-60 được kéo bởi một xe Ural-375.

Một sự khác biệt lớn với 37mm M1939 (61-K) trong hệ thống ngắm bắn, 57mm S-60 được triển khai cùng với hệ thống điều khiển với máy chỉ huy PUAZO-6/60 và radar SON-9/9A, hoặc tương tự pháo 57mm cũng sử dụng máy chỉ huy PUAZO-5 và radar SON-4.

Trong tác chiến phòng không, pháo 57mm có tầm bắn 4.000m nếu dùng kính ngắm quang học và 6.000m nếu có radar dẫn đường. Trong một trung đoàn trang bị 57mm thường được bố trí thành bốn khẩu đội. Mỗi khẩu đội gồm 6 pháo, radar điều khiển hỏa lực, máy chỉ huy.

Pháo phòng không 57mm AZP S-60. Ảnh: Lê Nam

Sau này, các chuyên gia còn cải tiến lắp pháo 57mm lên thân xe tăng T-54 để tăng khả năng cơ động. Mẫu cải tiến này được đặt tên là ZSU-57-2 (pháo 57mm hai nòng). Loại này cũng được trang bị cho quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Pháo 57mm AZP S-60 nằm trong thành phần lực lượng phòng không tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

Pháo phòng không 100mm KS-19

100mm KS-19 là loại pháo phòng không tầm trung, tầm cao của Liên Xô viện trợ cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Pháo phòng không tầm cao 100mm KS-19. Ảnh: Lê Nam

Pháo 100mm được điều khiển bởi một tổ 15 người, khi cần thiết chúng được di chuyển bởi xe kéo bánh xích hạng trung AT-S và hạng nặng AT-T.

Trong tác chiến chống máy bay, 100mm KS-19 có khả năng tiêu diệt mục tiêu ở độ cao 10000m. Các loại đạn sử dụng cho KS-19 bao gồm: đạn HE (thuốc nổ mạnh), đạn HE-nổ mảnh, đạn nổ mảnh.

KS-19 sử dụng kính ngắm quang học hoặc dùng hệ thống điều khiển bảo gồm radar SON-9A và máy chỉ huy PUAZO-6/19 tăng thêm độ chính xác. Tuy nhiên, tốc độ bắn của KS-19 khá chậm (15 viên/phút).

Máy chỉ huy PUAZO-6. Ảnh: Lê Nam

Radar điều khiển SON-9 có thể dùng chung pháo 57mm và 100mm. Ảnh: Lê Nam

Tương tự pháo 37, 57mm, KS-19 cũng được dùng để chống lại xe thiết giáp hạng nhẹ. Chúng có thể xuyên giáp dày 185mm ở khoảng cách 1000m.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, pháo 100mm KS-19 trang bị hạn chế trong các đơn vị pháo cao xạ.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm lịch sử cuối năm 1972, lực lượng phòng không quân ta với trang bị từ súng máy phòng không 12,7mm, ZPU-1/2/4 14,5mm tới pháo 37mm, 57mm, 100mm đã tạo thành lưới lửa tầm thấp, tầm trung, tầm cao phủ khắp miền bắc. Tập trung đánh địch từ mọi hướng, bảo vệ an toàn cho các kho tàng, bến bãi, sân bay, trận địa tên lửa (át chủ bài của nhân dân ta chống “ngáo ộp” B-52)…

Tính riêng từ ngày 18 đến 30 tháng 12, bộ đội phòng không đã bắn rơi hàng chục chiếc máy bay hiện đại của quân Mỹ, trong đó có cả loại mới nhất F-111.

Lê Nam (tổng hợp)
baodatviet.vn

Thăm lại xác ‘Pháo đài bay B-52’ trong bảo tàng Hà Nội

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày quân dân Hà Nội đập tan chiến dịch Linebacker II của Mỹ, tạo nên  chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, Đất Việt giới thiệu một số hình ảnh về số phận những chiếc B52 – niềm tự hào của Không lực Mỹ – bị bắn rơi ngày ấy.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)
>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)

Những mảnh của B-52 rơi trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972 được quy tập tại nhiều bảo tàng ở Hà Nội. Tuy không được nguyên vẹn như đồng đội của chúng đang “nghỉ hưu” tại Boneyard, Mỹ, nhưng những mảnh B-52 được trưng bày tại Hà Nội lại có sứ mạng riêng: là minh chứng ấn tượng nhất về sức mạnh quật cường của quân và dân Thủ đô Hà Nội yêu chuộng hòa bình.

Được sản xuất từ các nhà máy Boeing, nước Mỹ, nhưng bãi đỗ cuối cùng của nhiều chiếc B-52 này lại là Hà Nội, nơi diễn ra cuộc đọ sức ác liệt giữa trí tuệ Việt Nam và kỹ thuật giết chóc tối tân của Mỹ, cách đây 37 năm.

Người Hà Nội đã trưng bày những chiếc B-52 bị bắn rơi tại ba Bảo tàng quân sự lớn: Bảo tàng Chiến thắng B-52, Bảo tàng Phòng Không – Không quân và Bảo tàng Lịch sử Quân sự. Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới từng bắn hạ pháo đài bay B-52.

Người Mỹ từng hùng hồn tuyên bố: “Nếu cộng sản bắn rơi một chiếc B-52 giá 9 triệu USD và có bằng cớ, thì trị giá của chiến công đó ngang với việc đánh chìm một tàu chiến của hải quân Mỹ”. Vậy mà, trong tháng 12/1972, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (người Mỹ gọi là Linebacker II), có tất cả 34 máy bay B-52 bị bắn rơi, nâng tổng số B-52 bị hạ ở chiến trường Việt Nam lên 88 chiếc.

Trong 34 chiếc máy bay bị hạ, 18 chiếc bị bắn rơi tại miền Bắc, 1 chiếc phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Đà Nẵng, 4 chiếc rơi trên Vịnh Bắc Bộ, 11 chiếc rơi ngoài lãnh thổ Việt Nam. Tại Bảo tàng Chiến thắng B-52, mảnh vỡ của nhiều chiếc B-52 đã được ghép lại theo đúng hình dạng ban đầu với tỷ lệ 1:1.

Phòng trường hợp bị bắn rơi, phi công Mỹ được trang bị “tận răng” gồm: vũ khí cá nhân, sách hướng dẫn sinh tồn, lưới bắt cá,… và cả mũ tai bèo của quân giải phóng để ngụy trang. Đặc biệt, mỗi phi công còn được phát “cờ xin ăn” viết bằng nhiều thứ tiếng, có nội dung nhờ người địa phương cưu mang và hứa hẹn sẽ trả công.

Chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không là đoạn kết của công cuộc chống chiến tranh phá hoại kéo dài suốt từ 1964 đến 1972. Có tất cả 4.181 máy bay Mỹ các loại bị bắn rơi trong giai đoạn này trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Ngày nay, xác máy bay B-52 là di tích lịch sử thu hút sự quan tâm đặc biệt của khách du lịch muốn tìm hiểu lịch sử Việt Nam.

Ông Mon Trima, thương nhân 55 tuổi, người Thái Lan đang du lịch tại Việt Nam cùng gia đình. Ông  rất ấn tượng với bức ảnh người nữ dân quân kéo mảnh xác máy bay Mỹ trên biển. Dù đã nghe nói về chiến tranh Việt Nam nhưng ông không thể tin được rằng những người phụ nữ Việt Nam cũng tham gia chiến đấu cho đến khi tận mắt những hình ảnh này tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN.

Trong số các máy bay B-52 rơi tại Hà Nội, có một chiếc đến nay vẫn được trưng bày ngay tại chỗ nó rơi xuống. Đó là chiếc B-52G thuộc tốp 491, bị Đơn vị D72, Đoàn Nam Triệu, Sư đoàn phòng không Hải Phòng tăng cường  bảo vệ Hà Nội bắn rơi trên bầu trời Đại Chu, Bắc Ninh, lúc 23h ngày 27/12/1972.  Chiếc máy bay bị bắn hạ mà chưa kịp cắt bom, bay tới đúng hồ Hữu Tiệp, làng hoa Ngọc Hà thì rơi xuống. Địa điểm rơi máy bay chỉ cách Phủ Chủ tịch và trụ sở Chính phủ chưa đầy 1km.

Sau 37 năm, khung cảnh quanh hồ Hữu Tiệp đã có nhiều đổi thay nhưng xác chiếc máy bay B-52 vẫn được giữ nguyên vẹn. Nhân dân làng hoa truyền thống này đã đề nghị giữ nguyên xác máy bay tại hồ. Đến nay, Hồ Hữu Tiệp và xác máy bay được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử.

Học sinh trường THCS Nghĩa Dân, Kim Động, Hưng Yên ngắm nhìn những mảnh xác máy bay tại Bảo tàng. Với người Việt Nam, đằng sau những chứng tích lịch sử này là niềm tự hào dân tộc, là bài học quý giá về tinh thần dựng nước và giữ nước.

Xuân Kiên
baodatviet.vn

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 2)

Trong chiến dịch Linebacker II, Mỹ đã đưa lượng lớn “pháo đài bay” B-52, được coi là “thần tượng của không lực Mỹ” có tầm bay xa, mang nhiều bom, với sức hủy diệt lớn.

>> Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)

B-52 Stratofortress (Pháo đài bay) là máy bay ném bom chiến lược tầm xa của không quân Mỹ. Đi vào hoạt động năm 1955, B-52 đã trở thành niềm tự hào của ngành công nghiệp quốc phòng của siêu cường này.

Với chiều dài gần 50m, cao 12,4m, sải cánh 56,4m, trọng lượng cất cánh tối đa trên 200 tấn. B-52 được xem là máy bay ném bom lớn nhất trên thế giới lúc đó.

Hình dáng của B-52 khá giống với mẫu máy bay ném bom chiến lược B-47 Stratojet. Tất cả bộ phận cánh, vị trí đặt động cơ, bộ phận bánh đáp đều gợi cho người ta nhớ tới những chiếc B-47. Tuy nhiên, xét trên mọi mặt, B-52 vẫn to lớn hơn và nặng hơn “người tiền nhiệm”.

Để nâng “con quái vật” này lên bầu trời, Boeing đã trang bị cho nó 8 động cơ phản lực cánh quạt đẩy Pratt & Whiteney TF33-P-3/103 giúp B-52 đạt tốc độ 1.000km/h, tầm hoạt động 12.000km, trần bay 15.000m.

“Ngáo ộp” B-52 trang bị tám động cơ TF-33, chiều dài máy bay gần 50m, chiều cao 12,4m, sải cánh 56,4m.

B-52 được điều khiển bởi một kíp lái 6 người gồm: chỉ huy, phi công, sĩ quan phụ trách radar, sĩ quan dẫn đường, sĩ quan tác chiến điện tử và một xạ thủ súng máy ở phía đuôi máy bay.

Mỗi chiếc B-52 có thể chứa khoảng 100 quả bom đặt trong khoang bom và giá treo trên cánh. Số lượng đó tương đương với 30 tấn. Ngoài ra, còn có tháp pháo đuôi trang bị pháo M 61 “Thần lửa” cỡ 20mm dùng để bắn máy bay hoặc tên lửa.

Tháp pháo đuôi của B-52

Tất cả những điều trên đã làm cho B-52 trở thành “thần tượng của không lực Mỹ”. Vì thế, với tham vọng đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Từ năm 1965, Mỹ đã đem B-52 tới Việt Nam tham chiến. Hầu hết các máy bay B-52 đều cất cánh từ hai sân bay Utapao (Thái Lan) và Anderson (Guam).

Trong chiến dịch Linebacker II năm 1972, bên cạnh các loại máy bay chiến đấu chiến thuật thì B-52 chính là “quân át chủ bài” mà Tổng thống Nixon tung ra hòng “đưa miền bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá”, tạo thế thuận lợi trên bàn đàm phán hiệp định Paris. Để thực hiện mưu đồ này, chúng đã huy động 193 chiếc B-52D/G (chiếm gần 50% số B-52 mà Mỹ có).

Trong đó:

– Phiên bản B-52D không có quá nhiều sự thay đổi, ngoài việc nó đã được cải tiến để mang được một lượng bom lớn hơn thông thường phục vụ cho các chiến dịch ném bom rải thảm.

B-52D ném bom rải thảm.

– Phiên bản B-52G có hai sự thay đổi lớn nhất là: trọng lượng tăng thêm từ 200 tấn lên 221 tấn và thay thế động cơ mới Pratt & Whiteney J57-P-43W.

Ngoài ra, có một số điểm thay đổi là thiết kế lại phần cánh cung cấp thêm giá treo bên ngoài cho hai thùng nhiên liệu 2.650 lít; phần đầu máy bay chứa radar được mở rộng. Đối với hệ thống điện tử trên máy bay, ngoài các thiết bị tiêu chuẩn thì nó trang bị mới radar điều khiển hỏa lực AN/ASG-15, cải tiến công nghệ gây nhiễu điện tử.

Phiên bản cải tiến B-52G mang một vài điểm cải tiến mới.

Về trang bị vũ khí, ngoài khối lượng bom thông thường, những chiếc B-52G được trang bị một động cơ phản lực Pratt & Whiteney J52, sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính và mang thêm loại tên lửa hành trình không đối đất AGM-28 Hound Dog (chó săn).

Nếu AGM-28 bay tầm cao ở tốc độ siêu âm thì tầm bắn lên tới 800km, còn bay ở tầm thấp và tốc độ cận âm thì tầm bắn giảm xuống còn trên 300km. Tên lửa AGM-28 có khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân.

Tên lửa hành trình không đối đất AGM-28.

Lớp hỏa mù che đậy hành tung B-52

B-52G mang được bốn quả tên lửa “mồi bẫy” ADM-20 Quail (chim cút). Đây là loại vũ khí có khả năng đánh lừa được radar địch, thu hút tên lửa tầm nhiệt K-13 của MiG-21 về phía mình bảo vệ cho B-52G. Tên lửa sử dụng một động cơ phản lực Pratt & Whiteney J85, tầm bắn khoảng 700km, tốc độ Mach 0.9.

Tên lửa “mồi bẫy” AMD-20

B-52 đang thả tên lửa “mồi bẫy” AMD-20

Tuy nhiên, những trang bị trên chưa đủ để B-52 vượt qua được lưới lửa phòng không miền Bắc hay “rồng lửa” SAM-2. Không quân Mỹ đã trang bị thêm cho “con ngáo ộp” này 16 máy gây nhiễu điện tử tích cực, hai máy gây nhiễu tiêu cực và hai máy thu tần số radar đối phương.

Toàn bộ hệ thống máy gây nhiễu điện tử tích cực của B-52 đều do sĩ quan tác chiến điện tử phụ trách, các thiết bị này sẽ tự động thu và phân tích tần số sóng radar đối phương, sau đó sĩ quan phụ trách sẽ lựa chọn phát tần số sóng để chế áp đài radar đối phương.

Bên cạnh đó, B-52 còn nhận được sự hỗ trợ từ các máy bay trinh sát điện tử EA-6A, EB-66, EC-121 và kể cả từ các chiến đấu cơ F-4, F-105, A-6, A-7 đều được lắp đặt thiết bị gây nhiễu điện tử tích cực.

Ngoài ra, không quân Mỹ còn áp dụng cả phương thức gây nhiễu tiêu cực là các “quả bom” chứa hàng triệu triệu sợi kim loại màu bạc, rất mỏng, nhẹ (mỗi quả bom chứa 450 bó nhiễu).  Những sợi nhiễu này còn được thả từ các tốp F-4,  khi gặp sóng radar sẽ phản xạ hiển thị trên màn hình theo dõi thành các chấm nhỏ li ti che giấu mục tiêu thật. Tất cả được kỳ vọng sẽ hình thành một hành lang an toàn cho B-52 xâm nhập bầu trời thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam.

Đắc ý với những vũ khí siêu hiện đại như vậy, không quân Mỹ hoàn toàn tự tin cho một chiến thắng. Nhưng chúng đã lầm, với ý chí quật cường, lòng quyết tâm cao độ quân dân miền bắc đã bẻ gãy chiến dịch Linebacker II làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ trên không lẫy lừng.

Trong 12 ngày đêm (từ 18 tới 30/12), lực lượng phòng không – không quân miền bắc đã bắn hạ 81 máy bay. Trong đó, có 34 chiếc B-52. Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới từng bắn hạ pháo đài bay B-52.

(còn tiếp)

Lê Nam
baodatviet.vn

Cán cân quân sự trong chiến dịch ĐBP trên không (kỳ 1)

Linebacker II là cuộc tập kích đường không chiến lược của quân đội Mỹ vào miền bắc Việt Nam, với âm mưu “đưa miền bắc Việt Nam trở về thời kì đồ đá”. Đây là bước phiêu lưu quân sự lớn nhất của tập đoàn Nixon. Về mặt khoa học quốc phòng, Linebacker II còn là chiến dịch tập trung những gì tinh hoa nhất của nền công nghiệp quốc phòng Mỹ giai đoạn bấy giờ.

Trong chiến dịch này, Mỹ đã huy động 193 B-52 (chiếm gần một nửa trong tổng số 400 B-52), 1077 máy bay chiến thuật chiến đấu hiện đại trong tổng số trên 3000 chiếc.

Lực lượng hải quân huy động sáu tàu sân bay (trong tổng số 24 chiếc) cùng với đội tàu khu trục, tàu hộ tống, tàu cấp cứu của hạm đội Thái Bình Dương. Ngoài ra, còn có một đội bay tiếp dầu trên không, trinh sát chiến thuật, trinh sát chiến lược, gây nhiễu điện tử…hùng hậu.

Có thể nói, Mỹ đã đưa vào chiến dịch này những vũ khí hiện đại nhất thời bấy giờ vào “canh bạc cuối cùng” này. Đó là những chiến đấu cơ mới nhất, hiện đại nhất, những tổ hợp chiến đấu tinh vi, phức tạp nhất.

Sau đây là một số loại máy bay hiện đại quân đội Mĩ sử dụng trong chiến dịch Linebacker II:

Tiêm kích – bom F-4 Phantom II (Con ma)

F-4 “Con ma” là máy bay tiêm kích – bom siêu âm, hai động cơ, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. F-4 là một trong những thiết kế thành công nhất của tập đoàn Mcdonell.

Bắt đầu phục vụ Hải quân Mỹ từ năm 1961, nhưng vai trò của F-4 lúc đó lại là tấn công mặt đất hỗ trợ cho các chiến dịch của lính thủy đánh bộ (United states marine corp – USMC).

Máy bay chiến đấu F-4 tham gia hoạt động với nhiều vai trò khác nhau ví dụ như: chiến đấu chiếm ưu thế trên không, đánh chặn trên không, hỗ trợ tấn công tầm cực ngắn, tấn công tầm xa và trinh sát chiến thuật.

Tiêm kích – bom F-4 “con ma” là máy bay chiến đấu có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ.

Cấu trúc thân của F-4 sử dụng nhiều hợp kim Titan, dài tới 19m, tổng trọng lượng cất cánh tối đa 27 tấn. F-4 có một thân hình khá đồ sộ, to lớn khác hẳn với những tiêm kích cùng thời. “Con ma” này đạt được tốc độ Mach 2.23 (2.370km/h) đáng nể , tốc độ lên cao 210m/s, tầm bay 2.600km và trần bay trên 18.000m.

Buồng lái được thiết kế dành cho hai phi công (một phi công điều khiển và một phi công phụ trách vũ khí hoặc theo dõi radar). Các hệ thống điện tử trên máy bay gồm radar điều khiển hỏa lực, thiết bị hỗ trợ ném bom, thiết bị dẫn đường quán tính…

Đối với hệ thống vũ khí của F-4 được mang trên chín giá treo, tùy vào từng nhiệm vụ khác nhau chúng có thể linh động thay đổi phù hợp. Về cơ bản, chúng trang bị các tên lửa không đối không AIM-7 Sparrow (chim sẻ) và AIM-9 Sidewinder (rắn đuôi chuông), tên lửa không đối đất AGM-65 Maverick và các loại bom thông thường, bom dẫn đường bằng laze, bom chùm…

Tuy nhiên, có một thiếu hụt mà trở thành điểm yếu lớn của F-4 trong thời gian tham chiến ở Đông Nam Á. Chúng không được lắp đặt pháo dùng cho không chiến tầm gần, mãi đến phiên bản F-4E ra đời điểm yếu này mới được khắc phục khi máy bay có thêm pháo M61 “Thần lửa” (có thể bắn 639 viên đạn).

Đi vào phục vụ không lâu, F-4 bắt đầu tham gia vào cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Chúng hoạt động với nhiệm vụ chủ yếu không chiến chiếm ưu thế trên không, cường kích.

F-4 “con ma” đang ném bom.

Sau này, F-4 còn được đưa vào tham gia chương trình Wild Weasel (chồn hoang). Đây là một dự án đặc biệt của quân đội Mĩ nâng cấp cải tiến máy bay thực hiện nhiệm vụ khống chế hệ thống phòng không đối phương (suppression of enemy of air defenses-SEAD).

Vũ khí trang bị chủ yếu là tên lửa chống radar AGM-88 HARM (tên lửa có thể phát hiện, tấn công và phá hủy trạm radar, ăng ten). Cùng với các thiết bị gây nhiễu điện tử.

Trong chiến dịch Linebacker II (1972), Không quân và Hải quân Mỹ đã huy động hàng trăm chiếc thuộc ba phiên bản F-4D/E/J tham chiến. Vai trò của F-4 trong chiến dịch là hộ tống “pháo đài bay” B-52, khống chế hệ thống phòng không của ta, đặc biệt là các trận địa tên lửa SAM.

Tiêm kích – bom F-105G Thunderchief (Thần sấm)

F-105 “Thần sấm” là máy bay tiêm kích – bom siêu âm của không quân Mĩ. F-105 cũng là một trong những chiến đấu cơ được quân đội Mỹ sử dụng rộng rãi trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

F-105 được thiết kế với một chỗ ngồi duy nhất, nó có chiều dài 19,6m. Trang bị một động cơ phản lực Pratt & Whitney J75-P-19W cho phép F-105 đạt tốc độ Mach 2.08 (2208km/h), tầm bay tối đa 3.500km, trần bay trên 14.000m.

F-105 được lắp đặt một pháo M-61 “Thần lửa” (1.208 viên đạn) cùng với đó là bom và tên lửa mang trên giá treo bên ngoài. Máy bay có khả năng sử dụng tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinder (Rắn đuôi chuông) và AIM-12 Bullput cho các nhiệm vụ không chiến. Tuy nhiên, vai trò chính của “thần sấm” trong cuộc chiến tại Việt Nam lại là ném bom đánh phá. Chúng thường được các đơn vị F-4 hộ tống.

F-105 “thần sấm” mang đầy đủ bom.

Trong chiến dịch Linebacker II, không quân Mỹ đã đưa F-105G tham gia. Đây là phiên bản nâng cấp cải tiến của F-105 sử dụng cho mục đích áp chế hệ thống phòng không đối phương.

F-105G được lắp đặt thiết bị tác chiến điện tử AN/ALQ-105, một số chiếc còn được trang bị tên lửa chống radar AGM-78 (tầm bắn 90km) có khả năng phát hiện, tiêu diệt các trạm radar của hệ thống tên lửa đối không.

F-105 “thần sấm” thực hiện phi vụ áp chế hệ thống phòng không đối phương (trang bị tên lửa chống radar AGM-78 và AGM-45).

Các máy bay làm nhiệm vụ áp chế hệ thống phòng không luôn là những người đến sớm nhất và “ra về” muộn nhất. Đến sớm là để khống chế hệ thống phòng không hỗ trợ các máy bay ném bom vào đánh phá, và rút ra muộn nhất là để hỗ trợ việc rút lui an toàn các đơn vị ném bom. Những chiếc F-105G thường được KC-135 tiếp dầu trên không để có đủ thời gian hoạt động hỗ trợ.

Phi đội “thần sấm” đang được tiếp nhiên liệu từ máy bay tiếp dầu trên không KC-135.

Máy bay ném bom cánh cụp – cánh xòe F-111 Aardvark (Lợn đất)

F-111 là máy bay ném bom siêu âm của không quân Mĩ. F-111 cũng là loại máy bay mang thiết kế độc đáo cánh cụp cánh xòe đầu tiên trên thế giới.

“Lợn đất” F-111 được thiết kế với hình dạng cánh có thể thay đổi, chính điểm đặc biệt này cho phép phi công có thể bay tầm thấp với vận tốc siêu âm và đạt tốc độ gấp hai lần vận tốc âm thanh ở tầm bay cao.

Khi cánh xòe hết cỡ thì lực nâng của cánh tăng lên cho phép máy bay cất hạ cánh đường băng ngắn.

Máy bay “cánh cụp cánh xòe” F-111.

Hệ thống điện tử của F-111 bao gồm: hệ thống dẫn đường, thông tin liên lạc, hệ thống áp chế hỏa lực phòng không và radar điều khiển ném bom giúp tấn công chính xác mục tiêu trong điều kiện ban đêm hoặc thời tiết xấu.

Một điểm mới của F-111 so với các loại máy bay khác, nó được trang bị radar theo dõi địa hình cho phép máy bay bay trong khu vực thung lung, đồi núi, bất kể ngày hay đêm hay trong điều kiện thời tiết xấu ở tốc độ cao.

F-111 khi cụp cánh hết cỡ.

Vũ khí của F-111 gồm pháo M-61 “Thần lửa” và 14.000 kg bom mang trên bốn giá treo bên ngoài cánh và hai giá treo nằm trong khoang vũ khí máy bay. F-111 mang được các loại bom thông thường và bom hạt nhân.

F-111 trang bị hai động cơ Pratt & Whitney TF30-P-100 cho phép nó đạt tốc độ vượt âm Mach 2.5 (2.665km/h), tầm bay trên 5000km.

Tại Việt Nam, đến tận năm 1972 loại máy bay này mới được đưa vào sử dụng. Lợi dụng ưu thế bay tốc độ cao ở tầm thấp giúp F-111 tránh được sóng radar, không quân Mĩ sử dụng nó với vai trò áp chế hệ thống tên lửa phòng không.

Máy bay cường kích A-4 Skyhawk (Chim ưng nhà trời)

Trong chiến dịch Linebacker II, bên cạnh các chiến đấu cơ của không quân, Hải quân Mỹ cũng được điều động tham chiến với các loại máy bay ném bom hạng nhẹ A-4, A-6 và A-7.

Trong đó, máy bay cường kích A-4 được mệnh danh là “chim ưng nhà trời” tham gia cuộc chiến Việt Nam từ những năm đầu. Chúng được hải quân Mỹ sử dụng rộng rãi trong các phi vụ ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Máy bay cường kích A-4 “chim ó nhà trời”.

Ngoài những tính năng kỹ chiến thuật thông thường, A-4 là loại máy bay đầu tiên áp dụng kĩ thuật tự tiếp dầu trên không, nghĩa là các máy bay cùng loại A-4 có thể tiếp dầu cho nhau mà không cần máy bay chuyên dụng.

Để thực hiện kĩ thuật này, một chiếc  A-4 cải tiến trang bị hệ thống tiếp dầu gồm thùng nhiên liệu phụ và vòi bơm dầu cất cánh với tải trọng tối đa đổ đầy nhiên liệu và sẽ rời khỏi tàu sân bay trước tiên.

Tiếp đó, các máy bay A-4 làm nhiệm vụ chiến đấu mang tối đa vũ khí và chỉ bơm một lượng nhiên liệu đủ dùng, sau khi cất cánh sẽ được tiếp dầu đầy đủ trên không.

A-4 cải tiến mang thùng nhiên liệu và hệ thống bơm dầu đang thực hiện tiếp liệu cho “con ma” F-4

Tham gia Linebacker II, không quân Mỹ đã đưa phiên bản cải tiến A-4E vào tấn công đánh phá miền Bắc Việt Nam. A-4E được cải tiến nhiều về hệ thống điện tử bao gồm: radar dẫn đường Doppler, hệ thống định vị TACAN (Tactical Air Navigation – dẫn đường chiến thuật trên không), radar độ cao, máy tính điều khiển ném bom, thiết bị dẫn đường ném bom tầm thấp AJB-3A. Ngoài ra, A-4E được lắp động cơ mới Pratt & Whitney J52-P-6A.

Trang bị vũ khí của A-4E cũng tương tự các phiên bản khác, chúng lắp đặt một pháo 20mm. Năm giá treo trên cánh có thể mang được tên lửa không đối không AIM-9 “rắn đuôi chuông”, tên lửa chống radar AGM-45, tên lửa không đối đất AGM-65, AGM-12 và các loại bom thông thường, rocket.

Bên cạnh các loại chiến đấu cơ, không quân Mỹ còn huy động các loại máy bay gây nhiễu điện tử tầm xa (EA-6A, EB-66, EC-121); trinh sát tầm cao SR-71 Blackbird (chim hét) có tầm bay cao lên tới 30000m, tốc độ gấp ba lần vận tốc âm thanh; trinh sát tầm thấp RF-4, RA-5 và kể cả các loại máy bay không người lái (BQM-34A).

(còn tiếp)

Lê Nam
baodatviet.vn

‘Có thể thắng trận ĐBP trên không trong 3 ngày’

“Theo tôi, mình có thể thắng trận này chỉ trong ba ngày mà không cần tới 12 ngày”, Trung tướng Trần Nhẫn, nguyên Phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không Hà Nội, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không, chia sẻ với Đất Việt về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không lịch sử.

– Thưa Trung tướng, ba ngày cũng là thời gian mà Mỹ tuyên bố sẽ san phẳng Hà Nội bằng B-52, ý kiến của ông thế nào?

– Đúng. Với cuộc tập kích chiến lược bằng pháo đài bay B-52 vào Hà Nội, giới chóp bu Nhà Trắng khẳng định sẽ kết thúc trong ba ngày và khiến Bắc Việt Nam phải “bò lê bò càng” trở lại bàn đàm phán Paris theo những điều kiện của chúng. Tuy nhiên, trong ngày thứ ba (20/12/1972), càng huy động B-52 ném bom nhằm đánh đòn quyết định thì chúng thất bại càng ê chề. Chúng buộc phải kéo dài ném bom bằng B-52 và đến ngày thứ 12 thì không chịu nổi nữa.

Trung tướng Trần Nhẫn.

– Theo ông, Mỹ đã mắc sai lầm gì?

– Sai lầm của Mỹ là không ngờ ta có thể hạ được loại vũ khí tối tân, chiến lược của họ. Còn nhớ, khi dùng B-52 ném bom Hà Nội, Mỹ chỉ lưu ý phi công quan tâm đến máy bay MIG của ta chứ không phải là tên lửa hay pháo cao xạ. Mỗi chiếc B-52 có tới 11 máy gây nhiễu. Thực tế là đã có lúc, ra-đa của ta không dám phát sóng vì sợ tên lửa Sơ-rai (Shrike) của địch. Mỗi khi ta phát sóng, Sơ-rai lập tức phát hiện, tiêu diệt ngay. Chúng ta bị thiệt hại và rất đau đầu trong việc tìm ra cách tránh, tiêu diệt Sơ-rai, nhưng rồi cũng tìm ra. 11 máy gây nhiễu ở B-52 không thể phát hiện hết ra-đa của ta. Đó là loại ra-đa của pháo cao xạ, khiến tên lửa của chúng bị “mù”.

– Nhưng hồi đó, tên lửa của ta ở Hà Nội không nhiều, trong khi địch tập kích vào Thủ đô nhiều hơn các địa phương khác?

– Theo số liệu tính toán của tôi thì trong 12 ngày đêm, địch đã sử dụng 417 lần B-52 đánh vào Hà Nội, chiếm 62,9%. Tỷ lệ này ở Hải Phòng là 6,3%, Thái Nguyên 15,3%, Lạng Sơn 14%… Khi địch dùng B-52 đánh Hà Nội thì Thủ đô chỉ có hai trung đoàn tên lửa, mãi đến gần cuối mới điều thêm hai tiểu đoàn về. Vậy mà ta vẫn thắng giòn giã.

Nói thế nhưng tôi vẫn không quên cảm giác lo ngại lúc bấy giờ. Ngày 20/12/1972, địch huy động 93 lần B-52 và 151 lần máy bay chiến thuật đánh đòn quyết định. Giữa lúc cuộc chiến đấu đang quyết liệt thì các sở chỉ huy nhận được tin xấu: Tiểu đoàn 77 và 94 hết đạn. Nhưng trong chiến tranh cũng có may mắn hiếm hoi. Khi chúng tôi lo đến thắt tim vì trên bệ phóng của nhiều tiểu đoàn không còn đạn hoặc chỉ còn một, hai quả thì đợt tấn công thứ hai của B-52 Mỹ vào khoảng nửa đêm như hai đêm trước đã không xảy ra, mãi đến rạng sáng chúng mới tiếp tục tấn công. Tranh thủ thời gian quý báu đó, các chiến sĩ trực tiếp sản xuất đạn đã làm nên một chuyện phi thường, bảo đảm đủ đạn cho các tiểu đoàn đánh đợt hai.

Lúc 5h sáng, trong đợt tấn công B-52 cuối cùng của ngày hôm đó, Tiểu đoàn 77 lại hết đạn, Tiểu đoàn 94 trắng bệ, Tiểu đoàn 59 cũng vì hết đạn mà vắng mặt trong đội hình chiến đấu. Trong khi đó, đây là ba trận địa nếu đủ đạn sẽ đánh đường bay này rất hiệu quả. Trong tình hình ấy, nhiệm vụ tiêu diệt B-52 chỉ còn trông chờ vào Tiểu đoàn 57, khi ấy chỉ còn một quả đạn trên bệ, trong khi để tiêu diệt một B-52, ta thường dùng 2-3 quả đạn. Kỳ diệu thay, Tiểu đoàn 57 bắn rơi chiếc B-52 thứ 7 trong ngày bằng quả đạn cuối cùng… Những ngày sau đó, địch càng đánh càng mất tinh thần. Trong 12 ngày đêm, ta bắn rơi 34 chiếc B-52.

– Thưa ông, B-52 được coi là “pháo đài bay” bất khả xâm phạm nhưng tại sao ta vẫn bắn hạ được, tại sao ta vẫn thắng?

– Đó là sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân, là truyền thống hàng nghìn năm, là chiến công, trí tuệ tập thể, từ người lính trong từng kíp trắc thủ đến cán bộ chỉ huy. Chúng ta đã vận dụng sáng tạo cách đánh và đúc kết thành sách đỏ đánh B-52. Tuy nhiên, theo tôi, cũng như vũ khí, cách đánh chỉ là phương tiện, yếu tố quyết định nhất vẫn là con người. Các trắc thủ của ta gan dạ, dũng cảm, thông minh, sáng tạo tuyệt vời. Hồi ấy, bộ đội nói một, làm hai…  Chính vì vậy theo tôi, nếu ta tập trung đúng mức thì chỉ cần ba ngày là ta tiêu diệt được B-52, làm nên Điện Biên Phủ trên không.

– Xin cảm ơn và chúc Trung tướng mạnh khỏe!  

Thế Kỷ – Nam Quốc (thực hiện)
baodatviet.vn