Bước ngoặt 1972: Thành công của sự chỉ đạo chiến lược

Ngay từ đầu năm 1972, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã đề ra chủ trương kiên quyết đánh bại địch bằng kết hợp ba đòn chiến lược: Đẩy mạnh tiến công của bộ đội chủ lực ở những hướng và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng; đẩy mạnh đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân ở thành thị. Ba đòn chiến lược này cũng chính là ‘bàn đạp” giúp chúng ta khẳng định vị trí của mình tại bàn đám phán Paris.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình
trả lời phỏng vấn báo chí bên lề Hội nghị Paris

Đồng loạt tấn công

Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11-1972 về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris

“Cuộc đấu tranh của ta trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao còn quyết liệt. Nhiệm vụ của ta là phải giữ vững và mở rộng thắng lợi trong đàm phán, phải giữ vững nội dung bản Hiệp định. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta quyết chiến đấu đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn mới của địch để giành thắng lợi hoàn toàn, chứ nhất định không chịu khuất phục”

Sau hơn 2 tháng (kể từ tháng 3) mở cuộc tiến công chiến lược, quân và dân ta ở Trị Thiên, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã vượt qua khó khăn gian khổ, hy sinh, chiến đấu ngoan cường, giành được những thắng lợi có ý nghĩa, đánh dấu sự phát triển mới cả về thế và lực của cách mạng miền Nam, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường, làm thất bại thêm một bước nghiêm trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Mặc dù sau đó, trong trận chiến khốc liệt, bi hùng để giữ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ 25-6 đến 16-9-1972) không thành công và bộ đội ta bị tổn thất nặng phải lui vào thế phòng ngự, nhưng đánh giá một cách tổng thể, cuộc chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã tạo ra bước chuyển biến căn bản tình hình chiến trường có lợi cho ta. Đây chính là lợi thế quân sự trên chiến trường, hỗ trợ hiệu quả và trực tiếp cho cuộc đấu tranh của ta trên bàn đàm phán ở Paris.

Trả lời nhận xét của Kissinger – Cố vấn của phái đoàn Mỹ sau khi kết thúc trận chiến ác liệt ở Quảng Trị, khi Kissinger cho rằng đứng về mặt quân sự mà nói, để giữ một cái Thành cổ, thì không ai lại đánh như thế cả – Cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Hội nghị Paris Lê Đức Thọ cho rằng “Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi chứ còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”.

Mặt khác, do quân và dân ta đánh mạnh ở các chiến trường miền Nam nên để hỗ trợ chính quyền và quân đội Sài Gòn, cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ phá sản, Tổng thống Mỹ Nixon đã quyết định “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh, huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ngăn chặn cuộc tiến công của ta đồng thời đánh phá trở lại miền Bắc. Trong bối cảnh ấy, phía Mỹ tiến hành chuyến thăm hai nước lớn trong phe XHCN là Trung Quốc (2-1972) và Liên Xô (5-1972) nhằm gây chia rẽ, cô lập, ngăn chặn, hạn chế sự chi viện to lớn của hai nước này đối với chúng ta.

Những chỉ đạo chiến lược

Năm 1972 là năm nhạy cảm trong nền chính trị Mỹ vì diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống và Nixon có ý định tái tranh cử nhiệm kỳ hai. Việc giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam là liều thuốc thử, là thước đo sự tín nhiệm của người Mỹ đối với chiếc ghế của Nixon. Vì thế, đây là điều kiện thuận lợi để ta mở cuộc tiến công về ngoại giao, phối hợp với tiến công quân sự, nhằm đạt tới kết quả có lợi nhất. Trong tình hình ấy, đầu tháng 9, trong lúc chiến sự đang diễn ra ác liệt ở Quảng Trị, Đảng ta chủ trương trên bàn đàm phán: Đưa Mỹ đi dần vào thương lượng thật sự căn cứ vào bối cảnh tình hình quốc tế lúc đó, thế của ta và thế của địch, tình hình Mỹ trong năm bầu cử, cơ hội giải quyết hòa bình đã hé mở. Cần đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao; tranh thủ giải quyết các nội dung đàm phán với Nixon trước ngày bầu cử ở Mỹ, đồng thời tích cực đề phòng khả năng tiếp tục chiến đấu sau kỳ bầu cử Tổng thống ở Mỹ.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Bộ Ngoại giao đã soạn dự thảo Hiệp định và một số nghị định thư kèm theo. Ngày 4-10, Bộ Chính trị điện thông báo cho Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ VNDCCH Xuân Thủy chủ trương: Cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử ở Mỹ, đánh bại âm mưu của Nixon kéo dài đàm phán để vượt qua tuyển cử… Ta cần ép Mỹ ký một hiệp định chính thức, có ngừng bắn tại chỗ, rút quân Mỹ và thả tù binh. Việc chấm dứt sự dính líu về quân sự của Mỹ ở miền Nam và ngừng bắn ở miền Nam đưa đến việc thừa nhận trên thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng ở miền Nam…là một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai miền trong điều kiện so sánh lực lượng hiện nay…ta cần gác lại một số yêu cầu khác của vấn đề nội bộ miền Nam.

Ngày 8-10, bản dự thảo Hiệp định được Đoàn đàm phán của ta đưa ra trong cuộc gặp riêng với phía Mỹ, với những nhân nhượng có tính đột phá. Sau khi nắm được các nội dung chủ yếu và hỏi rõ thêm những vấn đề sẽ tiếp tục thỏa thuận sau khi ký Hiệp định, Henri Kissinger đánh giá đây là “một văn kiện thật là quan trọng và rất cơ bản”. Hai bên đã thỏa thuận lịch làm việc chi tiết cho việc ký Hiệp định dự kiến vào 30 hoặc 31-10.

Sự lật lọng có chủ đích của Mỹ

Mặc dù Việt Nam đã có những nhân nhượng cơ bản, song phía Mỹ đã có mưu đồ mới, bắt đầu đưa ra những đòi hỏi, những yêu cầu mới, cụ thể có lợi cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sở dĩ Mỹ có hành động như vậy vì qua thăm dò dư luận trước bầu cử, Nixon được cử tri Mỹ ủng hộ nhiều hơn ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ Mark Gaven, chắc chắn sẽ vượt qua tuyển cử. Bên cạnh đó, sự phản ứng quyết liệt của chính quyền Sài Gòn về nội dung dự thảo Hiệp định đã làm Nixon lo ngại sẽ khó vượt qua cuộc bầu cử nếu không lưu tâm đến thái độ của Nguyễn Văn Thiệu và bỏ rơi chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Sự tráo trở của Mỹ là điều ta hoàn toàn không bất ngờ. Ngày 23-10, Chính phủ ta gửi công hàm cho Mỹ: “Nếu phía Hoa Kỳ cứ viện cớ này, cớ khác để kéo dài đàm phán, trì hoãn việc ký kết thì nhất định chiến tranh Việt Nam sẽ tiếp tục và phía Hoa Kỳ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Tiếp đó, ngày 26-10, Chính phủ ta ra tuyên bố về tình hình cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam hiện nay, yêu cầu Mỹ phải giữ đúng cam kết ký bản Hiệp định vào ngày 31-10 như đã thỏa thuận. Ngay sau khi Nixon đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2. Mỹ đề nghị họp lại vào ngày 20-11 và đưa ra 69 điểm trong nội dung Hiệp định đề nghị sửa đổi theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn và 16 vấn đề về thực chất nội dung Hiệp định mà Kissinger yêu cầu xem xét lại, mâu thuẫn hoàn toàn với công hàm của Nixon gửi Chính phủ ta ngày 20-10: “Hiệp định bây giờ có thể coi là hoàn thành”.

Đáp lại thái độ lật lọng và đe dọa ném bom của Tổng thống Mỹ được thể hiện rõ trong cuộc gặp ngày 23-11, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đanh thép trình bày quan điểm của Việt Nam và quan điểm ấy sau đó cũng đã được thể hiện rõ trong Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris. Chính vì thái độ kẻ cả của Mỹ mà cuộc đàm phán đã trở nên bế tắc vào ngày 13-12 ngay trước cuộc tập kích B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng.

Đàm phán Paris cuối 1972 – quan điểm từ hai phía”

Tôi thấy bực mình về giọng nói và thực chất trong phiên họp vừa qua. Trong hoàn cảnh như vậy, trừ phi phía bên kia tỏ ra sẵn sàng chú ý tới sự quan tâm hợp lý của chúng ta, tôi chỉ thị cho ông ngừng đàm phán và chúng ta sẽ phải tiếp tục lại các hoạt động quân sự cho đến khi phía bên kia sẵn sàng đàm phán theo điều kiện có danh dự. Phải làm cho phía bên kia từ bỏ những ý nghĩ của họ là chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải giải quyết theo như điều kiện hiện nay. Ông phải trực tiếp báo cho họ là chúng ta có cách khác…chúng ta bây giờ sẽ tiến hành mọi hành động cần thiết để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ”

(Trích thư của Nixon gửi Kissinger được Kissinger đọc công khai trong cuộc gặp của hai đoàn Lê Đức Thọ-Kissinger ngày 23-11-1972)

“Chúng tôi muốn hòa bình, nhưng thiện chí của chúng tôi cũng có mức độ. Nhân nhượng quá mức chỉ là đầu hàng trá hình. Nhân dân chúng tôi không bao giờ đầu hàng”

(Trả lời của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngay tại cuộc gặp ngày 23-11-1972)

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Đảng
Học viện CT – HC Quốc gia Hồ Chí Minh

daidoanket.vn

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris (27-1-1973 – 27-1-2013)

LTS: Ngày 27-1-2013, chúng ta kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris mở đường cho việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên toàn cõi Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ ấy, có nhiều mốc son; một trong những mốc son đáng được ngợi ca chính là cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao: Một của Mỹ với dầy dạn kinh nghiệm và một là của Việt Nam còn rất non trẻ. Thế nhưng, cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Mỹ và Việt Nam trong thế kỷ XX lại ghi danh người chiến thắng là Việt Nam. Từ số báo này, chúng tôi khởi đăng loạt bài viết nhân 40 năm Hiệp định Paris.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam Xuân Mậu Thân 1968, Tổng thống Mỹ L. Johnson buộc phải xuống thang cuộc chiến tranh phá hoại bằng hải quân và không quân ở Miền Bắc và đề nghị tiến hành đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). “Ngày mồng 2 Tết Mậu Thân sau một hôm nghỉ lễ, vừa tới cơ quan, mấy anh em chúng tôi được Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh triệu tập và cho biết: Các cậu phải chuẩn bị tính chuyện đàm phán đi!” – ông Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên của đoàn đàm phán VNDCCH nhớ lại.

Toàn cảnh Hội nghị Paris

Lập các tổ công tác, chuẩn bị đàm phán

Thực ra, trước đó, ngay từ cuối năm 1967, đón trước cục diện này, tại Bộ Ngoại giao ta có một tổ chức mới được thành lập gọi là Vụ II. Vụ này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Đảng ta lúc bấy giờ. Vụ II do Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chuyên trách, ông Phan Hiền làm Vụ trưởng. Đây là một đơn vị đặc biệt có nhiệm vụ nghiên cứu đưa ra lộ trình đấu tranh ngoại giao với Mỹ và chuẩn bị các giải pháp chính trị để kết thúc cuộc chiến tranh. Trong Vụ II có hai tổ công tác là tổ “Giải pháp” và tổ “Bước đi”. Tổ “Giải pháp” do ông Đinh Nho Liêm làm Tổ trưởng chuẩn bị các kịch bản từ cao đến thấp có thể sử dụng vào thời điểm ký kết Hiệp định tùy sự so sánh lực lượng lúc ấy. Còn tổ “Bước đi” do ông Võ Văn Sung làm Tổ trưởng. Tổ này chịu trách nhiệm nghiên cứu lộ trình kết hợp đàm phán ngoại giao với các bước đấu tranh quân sự trên chiến trường trong những năm 1968 – 1970. Tổ “Bước đi” là đầu mối tập trung nhiều điều cơ mật từ chiến lược đến cụ thể, cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, vì vậy chúng tôi làm việc theo một quy chế giữ bí mật nghiêm ngặt nhất, nhằm đảm bảo tính chất bất ngờ và hiệu quả cao trong các đợt “Tấn công ngoại giao” của ta.” – ông Võ Văn Sung kể lại những ngày tháng ấy.

Lại nói về những ngày Tết Mậu Thân năm ấy, ông Huỳnh cho biết, ngay trong ngày 31-3-1968, sau khi Mỹ tuyên bố đơn phương ngừng ném bom, Bộ Chính trị Đảng ta họp để bàn, cân nhắc giữa 3 vấn đề. Nhận, không nhận, nhận thế nào? Sau đó, Bộ Chính trị quyết định không bác, không nhận nhưng nhận mức trung bình tức là nhận tiếp xúc. Cụ thể, nhân dịp Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc ta nhận cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ để bàn chuyện xác nhận việc Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc. Mấy ngày sau đó, nhóm công tác gồm các ông Phan Hiền, Trần Hoàn, Nguyễn Khắc Huỳnh đã thảo luận suốt 1 ngày 1 đêm để có bài trả lời hay nói cách khác là Tuyên bố của VNDCCH. Tuyên bố nói rõ, dù Mỹ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Việt Nam nhưng vì thiện chí hòa bình, Việt Nam sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ. “Tiếp xúc để xác định việc Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc trên cơ sở đó bàn các vấn đề liên quan. Chỉ riêng chữ “xác định” chúng tôi cũng mất đứt 3 tiếng để bàn cuối cùng thì tìm ra chữ này. Tức là anh phải chấm dứt ném bom miền Bắc tôi mới bàn chuyện khác lúc đó mới đi vào đàm phán thực sự.” – ông Huỳnh nói.

Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại một cuộc họp báo
ở Paris trong thời gian đàm phán

Hai giai đoạn của đàm phán

Đàm phán Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày; đã có tổng cộng 202 phiên họp công khai tại Trung tâm Hội nghị Kleber và 36 phiên họp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Trong đó, giai đoạn thứ nhất (còn gọi là diễn đàn thứ nhất) là giữa h ai bên Việt Nam – Hoa Kỳ. Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đoàn VNDCCH và Cố vấn đặc biệt là UV BCT Lê Đức Thọ. Đại sứ Harriman dẫn đầu đoàn Hoa Kỳ. Giai đoạn đầu kéo dài suốt năm 1968 (từ 13-5 đến tháng 10-1968) với 28 phiên họp công khai và 12 cuộc gặp riêng. Tại diễn đàn này, hai bên bàn việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Giai đoạn hai kéo dài hơn 3 năm (25-1-1969 đến 27-1-1973). Đây là giai đoạn giằng co với 174 phiên công khai và 24 phiên họp bí mật; là diễn đàn 4 bên gồm VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; còn bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Từ cuối năm 1970 đến năm 1973, ông Võ Văn Sung được điều động sang Paris. Cũng từ năm 1971, Vụ II đổi tên thành CP50. Công khai về mặt ngoại giao, ông Võ Văn Sung là Tổng Đại diện Chính phủ VNDCCH tại Pháp, nhưng nhiệm vụ chính là tham gia vào nhóm do Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ lãnh đạo đàm phán bí mật với đối tác phía Mỹ là ông Henri Kissinger. Ông Lê Đức Thọ là đại diện toàn quyền của lãnh đạo Việt Nam đối với tất cả các cơ quan và các phái đoàn chính thức, các tổ chức thuộc lực lượng kháng chiến hai miền Nam – Bắc Việt Nam tham gia đấu tranh ngoại giao tại Paris. Từ đầu năm 1971 đến cuối Hè năm 1972, nhóm “đàm phán bí mật” do ông Lê Đức Thọ lãnh đạo gồm có ông Xuân Thuỷ – Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH tại Hội nghị bốn bên; các ông Phan Hiền và Võ Văn Sung được giao trách nhiệm theo sát nắm bắt tình hình trong quá trình thảo luận; ngoài ra có ông Nguyễn Đình Phương là phiên dịch cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Cuối năm 1972 có thêm một số nhân sự của CP50 từ Hà Nội sang tham gia vào công việc dự thảo văn bản Hiệp định.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Có thể nói đây là một mốc son chói lọi nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Về mặt ngoại giao, Hiệp định Paris đã kết thúc thắng lợi cuộc thương lượng kéo dài giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau gần 5 năm Hội nghị bốn bên công khai và sau hơn hai năm (1971 – 1973) tiến hành thảo luận thực chất trong cuộc “đàm phán bí mật” giữa đoàn Lê Đức Thọ và đoàn Henri Kissinger. Đây thực sự là việc chưa từng có trong lịch sử thế giới mà ta gọi là “vừa đánh, vừa đàm”. Kết quả cuộc thương lượng đã đáp ứng mong đợi của mọi người; nó làm cho toàn thế giới trút được gánh nặng tinh thần và tâm lý đè trĩu hàng chục năm.

P.V

(Ghi theo lời kể của các ông Võ Văn Sung
và Nguyễn Khắc Huỳnh -Thành viên đoàn
đàm phán VNDCCH)

daidoanket.vn

Gặp người lái xe cho Đoàn đàm phán Hiệp định Paris

(VOV) – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu.

“Tôi vẫn nhớ mãi những người đồng chí Việt Nam, nhớ mãi những chặng đường tôi đã cùng họ đi qua trong những năm tháng gắn bó với đoàn” – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu, người lái xe từng đưa đón đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên những nẻo đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Phóng viên VOV thường trú tại Pháp đã đến thăm và trò chuyện với ông Michel, một trong những người có vinh dự được Chính phủ Việt nam mời sang tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris.

“Chào đồng chí, đồng chí khỏe không? – hàng ngày chúng tôi đều nói với nhau như thế. Dù nhiều khi phải chờ đoàn và đưa đoàn về nhà vào 3h sáng, nhưng cảm giác vẫn thực sự tuyệt vời. Các nhân viên an ninh ở nhà vẫn ngóng đợi, rồi chúng tôi cùng nằm dài trên ghế trong phòng bếp, rủ nhau ăn gì đó vào lúc 3h sáng cho đỡ đói sau một ngày đi làm”.

Ông Michel Strachinescu

Không cần một câu hỏi nào, với giọng sang sảng và nụ cười luôn rạng rỡ, ông Michel Strachinescu bắt đầu luôn câu chuyện về đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, như thể chỉ mong có người để ông kể lại câu chuyện hơn 40 năm về trước.

Ông kể: Tôi đến với đoàn hoàn toàn tình cờ. Tôi lúc đó là thành viên Đảng Cộng sản, nhưng không phải làm nghề lái xe. Thế rồi Đảng Cộng sản Pháp cần có lái xe cho đoàn bà Nguyễn Thị Bình và đề nghị tôi làm. Tôi biết đó là một nhiệm vụ và trách nhiệm không nhỏ, nếu không nói là một vị trí quan trọng. Và tôi đã đồng ý và làm việc đó trong 4 năm. Ngoài ra, một nhiệm vụ khác của tôi là đem thư từ Verriere-le-Buisson đi gửi, vì thư từ lúc đó của đoàn lo ngại bị bưu điện kiểm duyệt nên chúng tôi trực tiếp mang đi, thường là mang vào bỏ vào thùng thư ở quận 16”.

Ông Michel Strachinescu là một trong 4 người từng đảm nhận nhiệm vụ lái xe cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam. Riêng ông thường xuyên lái xe cho bà Nguyễn Thị Bình, ông Lý Văn Sáu, ông Vương Đình Thảo và bà Nguyễn Thị Chơn.

Hành trình quen thuộc là từ căn nhà bà Nguyễn Thị Bình ở tại Verrière-le-Buisson đi tới khu chung cư mà các thành viên khác trong đoàn miền Nam sống ở Massy, rồi xuống Choisy-le-Roi họp với đoàn miền Bắc; hay ra Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber để đấu tranh trên bàn đàm phán chung 4 bên.

Hơn 4 năm ròng rã những chặng đường dẫu quen thuộc mà không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Có những khi có cả hiểm nguy rình rập khi xe của đoàn gặp một nhóm người có tư tưởng chống đối Việt Nam. Hay có lúc tưởng đơn giản chỉ là chuyện xe đang chạy thì bị rơi mất lá cờ nhỏ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam treo ở đầu xe.

Ông Michel kể: “Hôm đó xe đang đi trên đường cao tốc, tôi nhớ tôi chở ông Lý Văn Sáu và một số thành viên trong đoàn, thì bất ngờ chiếc đế cắm cờ bằng nhôm bị gẫy, lá cờ nhỏ bay xuống đường. Một cách rất tự nhiên, tôi nghĩ rằng không thể nào để lại lá cờ mà phải nhặt lại bằng được. Tôi làm dấu hiệu khẩn cấp, dừng xe lại và bước xuống, len vào giữa dòng xe đang ầm ầm lao đến và nhặt vội lá cờ lúc đó bay ra xa khoảng 200m. Nhiều lái xe, có cả lái xe mô-tô đã hét lên tưởng tôi bị điên mà lao vào dòng xe khi ấy, về nhà kể lại cũng nhiều người bảo là nguy hiểm quá. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nhất định không bao giờ tôi để lá cờ bị mất”.

Dù các thông tin về đàm phán được giữ kín, song những người bạn Pháp gắn bó với đoàn hàng ngày như ông Michel vẫn nhận được những chia sẻ tình cảm từ các thành viên trong đoàn đàm phán. Như ông nói “tôi đã trải qua vui, buồn cùng với các bạn, như một người Việt Nam thực sự”.

“Hai cuộc đấu tranh song hành, một trên chiến trường tại Việt Nam và một trên bàn đàm phán ở Pháp. Có những lúc buồn lắm, vì Mỹ ném bom giết hại bao nhiêu người Việt Nam. Tôi vẫn nhớ mãi một câu ông Lý Văn Sáu (tôi biết giờ ông đã mất rồi), ông Lý Văn Sau đã nói rằng: Bọn Mỹ có thể phá đất nước Việt Nam mười hay một trăm lần, nhưng rồi chúng tôi sẽ xây dựng lại gấp hai nghìn lần, tươi đẹp và phát triển hơn” – ông nói.

Riêng đối với bản thân và gia đình, ông Michel cũng từng phải vượt qua nhiều khó khăn, khó khăn những khi thời tiết giá lạnh, người lái xe phải ngồi ngoài trông xe chờ đoàn đàm phán, nhiều khi đến 2-3h sáng.

Tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam ông treo trân trọng giữa phòng khách

Đàm phán không tiến triển, mọi người trong đoàn cũng mệt và buồn bã. Hay khó khăn khi ông thường xuyên phải trở về nhà khuya, có khi lại đi ra khỏi nhà vào lúc sáng sớm hôm sau, vợ ông phải một tay quán xuyến việc nhà, chăm sóc 5 đứa con nhỏ.

Nhưng vượt trên tất cả, vợ chồng ông luôn cảm thấy vinh dự và tự hào khi số phận đã trao cho ông nhiệm vụ quan trọng, là một phần trong cuộc đấu tranh giành hòa bình cho Việt Nam.

Vợ ông, bà Jacquelines Strachinescu cho biết: “Lúc đó tôi không thấy quá khó khăn, có lẽ chính vì các con của chúng tôi còn rất nhỏ, chúng nó không để ý nhiều đến việc bố hay đi làm từ sáng sớm và trở về rất muộn. Tôi biết công việc của chồng tôi rất cần thiết và tôi không thấy có vấn đề gì quá lớn. Chồng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp với đoàn và thường xuyên chia sẻ với tôi, tôi biết rằng chồng tôi thực sự hạnh phúc khi gắn bó với đoàn đàm phán của Việt Nam”.

Nhắc lại cảm xúc vào ngày Hiệp định Paris được ký kết, ông Michel xúc động nói: “Ngày 27/1 là một ngày chúng tôi tràn ngập cảm xúc như những người đồng chí Việt Nam. Việt Nam- một đất nước nhỏ bé đã buộc đế quốc lớn nhất là Mỹ phải quỳ gối khuất phục. Bác Hồ, đối với tôi, Người là ánh sáng cho nhân dân trên toàn thế giới. Tôi nhớ khoảng khắc 40 năm về trước, chúng tôi đã reo hò và cùng ăn mừng thắng lợi với các bạn. Nhưng cũng chính lúc đó, ai cũng biết rằng cuộc đấu tranh sẽ còn chưa chấm dứt. Và thực tế là sau đó còn một giai đoạn đấu tranh tiếp tục gian khổ”.

Chia tay người bạn Pháp từng gắn bó và đóng góp vào cuộc đấu tranh lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhìn lại tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam mà ông treo trân trọng giữa phòng khách, tôi – một người Việt Nam cũng cảm thấy vô cùng tự hào.

Hơn 40 năm về trước và cho đến ngày nay, cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta đã có sự ủng hộ rộng rãi. Ngoài ông Michel, có hàng trăm con người, người còn, người mất trên khắp nước Pháp từng ủng hộ, giúp đỡ và thậm chí đánh cược tính mạng, để sát cánh bên các “đồng chí” Việt Nam./.

Thùy Vân- Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn

Vào tuyến lửa để “bắt cọp trong hang”

QĐND-Để có được chiến thắng trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, từ 5 năm trước, có một đơn vị tên lửa đã hành quân vào tuyến lửa Vĩnh Linh để tìm cách hạ B-52.

“Cho đến bây giờ, tôi vẫn không quên lời động viên của Đại tá Đặng Tính, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng PK-KQ khi ông vào thăm trận địa của Trung đoàn 238 tại Vĩnh Linh: Đưa được cả trung đoàn vào tới chiến trường an toàn là một huyền thoại. Triển khai chiến đấu, đem được cả khối binh khí, khí tài xuống lòng đất mà kẻ thù không hay biết là hai huyền thoại. Giấu được quân, giấu được binh khí, khí tài, xe cộ là ba huyền thoại. Chỉ còn một huyền thoại nữa là chờ các đồng chí bắn rơi B-52 trên đất lửa!”, Đại tá Nguyễn Văn Hội, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 (Quân chủng PK-KQ) mở đầu câu chuyện với chúng tôi.

Hơn 45 năm đã trôi qua, ký ức về những tháng ngày cùng đồng đội hành quân vào tuyến lửa để tìm cách tiêu diệt B-52 vẫn sống động trong ông. Vào giữa năm 1966, ta thực hiện chủ trương “Sớm đưa tên lửa vào nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B-52”. Trung đoàn Tên lửa 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

Tại thời điểm bấy giờ, tên lửa SAM-2 vốn là loại vũ khí nặng nề, cồng kềnh. Để tránh tai mắt cú vọ của kẻ thù, cả khối xe cộ, binh khí, kỹ thuật khổng lồ lặng lẽ cơ động trong đêm. Đơn vị hành quân qua Hà Tĩnh, Quảng Bình vào Vĩnh Linh trong sự chở che, cưu mang của bộ đội và nhân dân Quân khu 4. Không thể đo đếm được sự hy sinh thầm lặng của hàng chục ngàn thanh niên xung phong, bộ đội công binh đã ngày đêm lo ngụy trang, đào công sự, làm cọc tiêu sống, chống lầy, hộ tống “rồng lửa” qua sông, qua những chặng đường địch đánh phá ác liệt. Dọc đường hành quân, đã có hàng trăm người thương vong để đưa Trung đoàn 238 và 9 tiểu đoàn cao xạ đến đích. Khi triển khai trận địa, khó khăn và gian nan vẫn chồng chất. Trong cái nắng nóng gắt gao của miền Trung, lá ngụy trang vừa thay đã héo quắt. Để giữ được bí mật tuyệt đối, bộ đội và nhân dân Vĩnh Linh phải vào rừng cách xa hàng chục cây số chặt cây đem về ngụy trang trận địa cao xạ, tên lửa. Tiếp đó là những ngày đọ trí, đọ sức quyết liệt. Vĩnh Linh là dải đất hẹp, địch lại thường xuyên thay đổi trang bị vũ khí gây cho ta khá nhiều khó khăn. Chúng dùng một máy bay từ xa lượn vòng chiếu la-de để nhiều chiếc khác tiếp cận phóng tên lửa. Ta chưa phát hiện máy bay địch, tên lửa đã nổ khiến đơn vị thương vong rất lớn. Tiểu đoàn 5 lắp ráp tên lửa cũng bị địch oanh kích.

Đại tá Nguyễn Văn Hội.

Trung đoàn 238 quyết định dồn sức, dồn người cho Tiểu đoàn 84. Vũ khí, khí tài được gom về, lắp ráp thành một bộ hoàn chỉnh. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên cùng sĩ quan điều khiển Lê Hỷ thuộc Tiểu đoàn 82 và một số đồng chí khác của Tiểu đoàn 81, 83 cũng được điều về bổ sung cho Tiểu đoàn 84. Khi khí tài và quân số đã ổn định, Tiểu đoàn 84 (ghép) được lệnh cơ động về trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh) chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 15-9-1967, vì trời mưa lớn, trận địa bị ngập nước nên các chiến sĩ tên lửa thấy địch mà không thể đánh được. Hôm sau, B-52 lại xuất hiện nhưng ta không bắt được mục tiêu. Vào cuối buổi chiều ngày 17-9-1967, khi bọn địch ngỡ rằng đã đè bẹp được lực lượng tên lửa của ta thì bất ngờ “rồng lửa” xuất hiện. Kíp chiến đấu gồm sĩ quan điều khiển Lê Hỷ và ba trắc thủ là Phạm Văn Ngoạn, Trần Mạnh Hiển và Nguyễn Văn Ngận dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên đã tách được nhiễu, nhận dạng mục tiêu và chiến đấu một cách bình tĩnh.

17 giờ 03 phút, 2 quả đạn tên lửa của Tiểu đoàn 84 từ trận địa T5 thuộc Nông trường Quyết Thắng bay lên hướng về tốp B-52. Sau 2 tiếng nổ, mục tiêu bị xóa nhòa trên màn hiện sóng.

Vậy là từ khi có mặt ở tuyến lửa, phải mất 5 tháng trời ròng rã với bao mồ hôi, công sức và xương máu ta mới bắn rơi được chiếc B-52 đầu tiên.

Kể đến đây, Đại tá Nguyễn Văn Hội cười sảng khoái: “Vậy là chúng tôi đã thực hiện được ý nguyện của Bác Hồ: “Muốn bắt cọp, phải vào hang”.

Trong Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, bao gồm: 34 chiếc B-52, 5 chiếc F111A, 21 chiếc F4C-E, 4 chiếc A6A, 12 chiếc A7, 1 chiếc F105D, 2 chiếc RA5C, 1 chiếc trực thăng HH53, 1 chiếc trinh sát không người lái 147SC. ST.

Bài và ảnh: QUỲNH VÂN – ĐỖ HÙNG
qdnd.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 2)

Tiếng súng tạm ngưng ở miền Bắc, nhưng ở phía Nam, Mỹ gạt Pháp trực tiếp can thiệp vào Việt Nam. Phạm Ngọc Lan cùng đồng đội được giao nhiệm vụ phải học để nắm vững những trang bị mới.

(ĐVO) Kỳ 2: Lối rẽ cuộc đời

Phi công Phạm Ngọc Lan.

“13 tháng 6 lớp”

Tháng 5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7/1954). Phạm Ngọc Lan cùng đơn vị (Sư đoàn 305) nhận lệnh tập kết ra miền Bắc. Anh được cấp trên cử đi học tại Trường Văn Hóa thuộc Bộ Tổng Tham Mưu tại Kiến An, Hải Phòng. Mục đích khi đó nhằm tuyển chọn đào tạo nguồn sĩ quan để xây dựng quân đội cách mạng, từng bước hiện đại, đảm đương nhiệm vụ mới.

Trước khi vào học, các thầy giáo đã kiểm tra trình độ để xếp lớp. Người lính già vẫn còn nhớ như in câu hỏi thú vị hôm đó: “Có bao nhiêu loại hình tam giác”. Tuy không nhớ rõ, nhưng với sự nhanh trí, thông minh ông vẫn hoàn thành câu trả lời. “Ngoài tam giác thường và tam giác cân, còn có tam giác thước thợ (chỉ tam giác vuông),” ông nhớ lại. Còn tam giác đều ông nói bằng…tiếng Pháp. Nhưng chính nhờ những câu trả lời đặc biệt đó mà ông được các thầy đánh giá cao và cho vào học lớp 5/10.

Vào trường, ông chăm chỉ không nghỉ chủ nhật. Ông nói: “Xưa mình không được học, giờ học đâu nhớ đấy, học 13 tháng, không tháng nào là không được biểu dương”. Chẳng thế mà, tháng đầu tiên trường phải phân công một anh học lớp 8 kèm cặp, đến tháng thứ 2 trò đã bắt đầu tranh luận với trợ giáo về bài tập. Đến tháng thứ 3 thì “thầy” nói trò không cần phải học thêm với mình nữa.

Không chỉ có vậy, thời gian học tại Kiến An còn để lại cho ông kỷ niệm sâu sắc về tình thầy trò và học kết hợp với hành rất cụ thể. Một buổi dạy vật lý về máy hơi nước, thầy giáo ông đã dùng một chiếc xe lu (xe lăn đường) – quân Pháp để lại, mô tả nguyên lý hoạt động giúp các trò dễ hiểu hơn.

Nhưng học trò Phạm Ngọc Lan nghĩ xa hơn như thế, anh hỏi “thầy ạ, xe này còn tốt, thầy sửa được không”. Thầy đáp: “sửa thì phải có thợ”. Thế là, buổi chiều, nhà trường mời thợ ở nhà máy điện vào sửa giúp. Và ngay hôm sau, hai thầy trò đã cùng nhau lái chiếc xe lu chạy quanh sân trường.

Mất ba buổi chiều, hai thầy trò lăn đường quanh sân trường và sân bóng đá trở thành nhẵn nhụi, êm bước cho mọi người luyện tập chơi đùa. Kỷ niệm về chiếc xe lu in dấu mãi trong tâm trí anh sau này.

Với tinh thần học hỏi không ngừng nghỉ, học một cách sáng tạo, có suy nghĩ chặt chẽ, sau 13 tháng học tập ông đã đạt trình độ yêu cầu của khóa học để chuyển sang học chuyên ngành ở bậc cao hơn.

Ước mơ lái xe tăng

Sau khi bổ túc văn hóa, ông cùng nhiều đồng chí trải qua kiểm tra sức khỏe và được phép đề đạt nguyện vọng ngành học. Không ngần ngại, ông quyết địch xin học lái xe tăng. Vì, có lần ông được xem bộ phim công phá Berlin, trong đó có cảnh xe tăng Hồng quân Liên Xô húc đổ cổng tổng hành dinh Hitler và những hình ảnh đó đem lại ấn tượng mạnh cho ông.

Thế nhưng, khi các đồng chí học cùng đều lần lượt lên đường, người học hải quân, người học xe tăng, pháo binh, thông tin,… riêng ông vẫn chưa được gọi đi, tư tưởng có phần lo lắng. Nhưng rồi, mọi việc sớm được giải tỏa khi cấp trên thông báo, ông cùng những đồng đội còn lại được cử đi học lái máy bay.

Trước ngày lên đường, đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã gặp và dặn dò: “các đồng chí đi học thì 60 người vì 1 người, 1 người vì 60 người, phải học hành thật tốt để góp phần xây dựng quân đội chính quy hiện đại và tiếp tục công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Lời dặn đó đã đi theo Phạm Ngọc Lan suốt cả thời gian học tập khi xa đất nước.

“8 môn 80 điểm”

Trong thời gian học tập ở nước ngoài, tiếp tục phát huy tinh thần tự học, Phạm Ngọc Lan cùng các đồng chí khác vượt qua rất nhiều thử thách, khó khăn, đạt được thành tích cao. Ban đầu, ông và đồng đội trải qua 1 năm học lý thuyết. Đặc biệt, trong bài kiểm tra lý luận 8 môn (khí động lực học, động cơ, địa hình, khí hậu…) kết thúc khóa học, riêng ông làm bài thi bằng tiếng sở tại. Kết quả, 8 môn ông đều đạt điểm 10.

Trung đoàn không quân tiêm kích 921 (Sao Đỏ) được thành lập ngày 3/2/1964.

Sang phần học bay, ông được học lái trên 4 loại phi cơ từ máy bay Yak-18, Yak-11 tới tiêm kích đánh chặn phản lực MiG-15 và MiG-17F. Ở mỗi loại ông đều đạt kết quả xuất sắc. Không những thế, Phạm Ngọc Lan nằm trong tốp đầu được bay đơn (một mình cất cánh bay đi và hạ cánh an toàn). Lần đó, ông đã hoàn thành xuất sắc bài tập. Nhớ lại, ông kể đối với phi công bay đơn đầu tiên trong bữa ăn sẽ được chúc mừng bằng bánh ga tô. Và ông còn được 2-3 chiếc khác trong những lần tiếp theo.

Sau 6 năm miệt mài học tập, tới năm thứ 7 cũng là lúc xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ hôm 5/8/1964. Ngày 6/8, 36 chiếc tiêm kích MiG-17F do đồng chí Đào Đình Luyện làm trung đoàn trưởng cất cánh trở về nước chuẩn bị cho cuộc chiến bảo vệ vùng trời tổ quốc. Ngày hôm đó, phi công Phạm Ngọc Lan là một trong những phi công đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Nội Bài – căn cứ Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 mang tên Sao Đỏ.

– Máy bay huấn luyện sơ cấp 2 chỗ ngồi Yak-18 do Liên Xô thiết kế sản xuất, chính thức đi vào phục vụ năm 1946. Yak-18 trang bị một động cơ cánh quạt Ivchenko AI-14RF cho phép đạt tốc độ tối đa 300km/h, bán kính hoạt động 350km, trần bay 5.000m.

– Máy bay huấn luyện sơ cấp 2 chỗ ngồi Yak-11 do Liên Xô chế tạo và đi vào phục vụ năm 1946. Yak-11 trang bị một động cơ cánh quạt Shvetsov Ash-21 cho phép đạt tốc độ tối đa 460km/h, bán kính hoạt động hơn 600km, trần bay 7.100m. Máy bay thiết kế với 1 súng máy cỡ 7,62 hoặc 12,7mm cùng 2 giá treo dưới cánh mang 200kg bom.

– Tiêm kích đánh chặn cận âm MiG-15 do Liên Xô phát triển, đưa vào trang bị năm 1949. Đây là một trong những thiết kế thành công nhất của Liên Xô, với 18.000 chiếc được sản xuất. MiG-15 trang bị một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1 cho phép đạt tốc độ bay 1.075km/h, bán kính bay 600km, trần bay 15.000m. Tiêm kích MiG-15 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (40 viên đạn).

– Tiêm kích đánh chặn cận âm MiG-17 được phát triển từ MiG-15, đi vào hoạt động năm 1952. MiG-17 sử dụng một động cơ tuốc bin phản lực Klimov VK-1F cho phép đạt tốc độ 1.145km/h, bán kính bay 1.000km (với thùng dầu phụ), trần bay 15.000m.

MiG-17 lắp 2 pháo 23mm (160 viên đạn) và 1 pháo 37mm (80 viên) hoặc mang được 500kg bom trên hai giá treo dưới cánh. MiG-17 một thời gian dài là lực lượng chủ lực của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Lê Văn
baodatviet.vn

Gặp phi công đầu tiên bắn rơi máy bay phản lực Mỹ (kỳ 1)

Thế hệ phi công đầu đàn của Việt Nam đều trưởng thành từ lính bộ binh, Phạm Ngọc Lan cũng vậy, ông đã gắn bó với đơn vị bộ binh trước khi lên “buồng lái máy bay”.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan là phi công đầu tiên của Quân đội ta bắn rơi máy bay phản lực Mỹ F-8U trên bầu trời Hàm Rồng – Thanh Hóa, ngày 3/4/1965.

Để có chiến công đầu, cũng như các phi công Việt Nam ông đã trải qua quá trình học, làm chủ khoa học kỹ thuật quân sự trong hoàn cảnh bền bỉ, gian khổ.

(ĐVO) Kỳ 1: Trưởng thành từ người lính bộ binh

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thiếu tướng Phạm Ngọc Lan.

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Quê Phạm Ngọc Lan ở xã Điện Nam Đông, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Sinh năm 1934, bố mẹ của Phạm Ngọc Lan đều làm nghề y, theo công việc đi khắp các tỉnh miền trung. Vì vậy, ngay từ nhỏ ông theo gia đình đi nhiều nơi, qua các miền đất lịch sử.

Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Hình bóng các anh bộ đội trong đoàn quân Nam tiến dưới sự chỉ huy của Đàm Quang Trung, Đoàn Khuê (sau này trở thành những tướng lĩnh cốt cán trong Quân đội Nhân dân Việt Nam) đã gọi thế hệ Phạm Ngọc Lan nối bước.

14 tuổi, Phạm Ngọc Lan xin vào lực lượng công an xung phong. Trong đơn vị, ông không nề hà mọi việc từ nấu cơm, văn thư và làm liên lạc. Để đảm bảo bí mật, ông thuộc lòng tài liệu dưới dạng tiếng lóng, mã đơn giản hoặc ghi vào bàn tay để kịp xóa đi nếu bị bắt giữ.

Ngay trong giai đoạn kháng chiến ác liệt, ông vẫn cố gắng tận dụng thời gian để học vì khi thoát ly mới qua lớp 3. Nhờ vốn tiếng Pháp ít ỏi học từ cha, ông giao tiếp và học thêm với một hàng binh người Pháp. Đổi lại ông dạy người này tiếng Việt.

Ngoài ra, Phạm Ngọc Lan còn tự học tiếng Ê đê  để phục vụ công việc làm liên lạc. Có lần bị lính Pháp bắt, ông nhanh trí trả lời bằng tiếng Ê đê. Bà con người Ê đê cũng nói anh là người cùng bản. Vì thế, quân địch đã thả anh.

Trở thành bộ đội

Trong 4 năm từ 1948-1952, là khoảng thời gian Phạm Ngọc Lan vừa làm việc, vừa học nhưng khát vọng muốn ra chiến truờng trực tiếp chiến đấu vẫn luôn cháy bỏng.

Năm 18 tuổi, anh chính thức trở thành anh “bộ đội cụ Hồ” thuộc biên chế trung đoàn bộ đội địa phương 84 – mang tên người anh hùng các dân tộc Tây Nguyên N’Trang Lơng. Dù rất nóng lòng tham gia chiến đấu, nhưng ông lại được giao nhiệm vụ làm văn thư.

Tới năm 1953, khi Liên khu 5 quyết định thành lập tiểu đoàn 30, nằm trong đội hình trung đoàn 96, sư đoàn 305 (*), Phạm Ngọc Lan mới chính thức tham gia chiến đấu. Ba tháng bám trụ ở chiến khu Hòn Hèo, (Khánh Hòa) thâm nhập nắm vững địa hình.

Có lúc nằm trên núi nhìn thấy biển, ngửi mùi gió mặn, trông thấy hàng đống muối trắng trong khi bộ đội vẫn thiếu muối do địch vây hãm gắt gao. Những đợt hoạt động đầu tiên chính là tìm cách vận chuyển muối an toàn lên chiến khu.

Giai đoạn 1953-1954, Liên khu 5 triển khai nhiều chiến dịch phối hợp với chiến cuộc Đông Xuân trên toàn quốc và nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Trong những ngày tháng chiến đấu đó, anh đã bắt sống được 6 tù binh. Đặc biệt, trận đèo Măng Giang tiêu diệt binh đoàn cơ động GM-100, Phạm Ngọc Lan bắt sống được 1 lính Pháp.

Nhớ lại trận chiến hôm đó ông kể, sau khi trận đánh kết thúc ông cùng tổ 2 người ở lại với nhiệm vụ tìm kiếm đồng đội. “Trong lúc đi dọc đường 19 quan sát thì phát hiện ở hầm ta luy có gì đó động đậy, tôi liền lệnh cho anh em nằm xuống, bò đến tiếp cận thì phát hiện ra một lính Pháp”.

Ông nói bằng tiếng Pháp “hô lê măng” (giơ tay lên). Sau đó, ông cùng anh em bắt trói tên lính để giải về sở chỉ huy trung đoàn. Ban đầu, ông lệnh hai chiến sĩ đi trước về căn cứ đề nghị thêm người tới hỗ trợ giải tù binh.

Nhưng, hai đồng chí đi mãi không thấy quay lại, ông đành tự dẫn tên lính Pháp về. Do trời tối thay vì dẫn về căn cứ ông lại dẫn ngược về vùng quê nơi gia đình ông sơ tán. Tới sáng mới nhận ra, vậy nên ông đành ở lại đó nghỉ ngơi và nhờ Ủy ban kháng chiến giúp đỡ giải tù binh về sở chỉ huy liên khu V.

Chia sẻ với chúng tôi, ông nói chính việc cố gắng học tiếng Pháp, tiếng Ê Đê và nắm vững địa hình của mấy tỉnh miền trung, sau này đã giúp ông rất nhiều cho những chuyến bay chỉ huy và huấn luyện từ 1975.

Ông nhấn mạnh dù nhiều khó khăn nhưng bố mẹ và các anh chị đã đi cùng cuộc kháng chiến, được nhân dân đùm bọc trong mọi hoàn cảnh. Năm 1954, ông cùng đơn vị tập kết ra miền bắc. Một chặng đường mới bắt đầu.

(*) Sư đoàn bộ binh 305 khi tập kết ra bắc, một bộ phận đưa đi làm kinh tế còn lại được huấn luyện và chuyển thành lữ đoàn dù 305 – lực lượng lính dù đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và sau này trở thành lực lượng Đặc công 305 của Binh chủng đặc công ngày nay.

Lê Văn
baodatviet.vn

Người bấm nút tên lửa tiêu diệt máy bay B-52 đầu tiên trong chiến dịch

QĐND-“Sau khi nghe thông báo chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ là chiến công của kíp 1, Tiểu đoàn Tên lửa 59 (Trung đoàn 261-Sư đoàn 361), tôi mừng đến rơi nước mắt”. Đó là lời tâm sự của Trung tá CCB Dương Văn Thuận, người có cú bấm nút quyết định, mở màn cho thắng lợi của chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972.

Ghi dấu ấn đầu tiên

Trong căn nhà khang trang nằm bên đường Quách Văn Tuấn, quận Tân Bình (TP Hồ Chí Minh), cựu sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận vui mừng đón chúng tôi, thân mật như người ruột thịt. Ở tuổi 65, ông vẫn rất tráng kiện và đầy cương nghị. CCB Dương Văn Thuận kể:

– Trận địa chính của Tiểu đoàn 59 chúng tôi bố trí tại Cổ Loa. Cuối tháng 11-1972, đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị, sẵn sàng đánh B-52. Chiều tối ngày 18-12-1972, đơn vị được lệnh vào “cấp 1”. Khoảng 19 giờ, lợi dụng trời tối, mưa phùn, giá rét, địch bắt đầu mở cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội. Dù đã quen với những trận đánh trên không nhưng chúng tôi vẫn rất hồi hộp, bởi kết quả của trận đánh đang được quân và dân cả nước trông đợi.

– Khi đó, ông đảm nhiệm cương vị gì trong đơn vị?

Sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận đang luyện tập động tác điều khiển tên lửa. Ảnh chụp lại.

Ông Thuận trả lời:

– Tháng 10-1972, mới chỉ chuẩn úy, tôi đã được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội 1, kiêm sĩ quan điều khiển kíp 1. Cho nên, với cương vị của mình tôi khá áp lực, nhưng không vì thế mà ảnh hưởng tới nhiệm vụ.

Ngừng lại giây lát, ông kể tiếp:

– 19 giờ 30 phút ngày 18-12, nhiều tốp máy bay địch xuất hiện, trong đó có B-52. Tại trận địa Cổ Loa, Tiểu đoàn 59 đã phóng 4 quả đạn nhưng không trúng mục tiêu. Thấy tình thế khẩn cấp, tôi liền trấn an 3 trắc thủ hết sức bình tĩnh, giữ đúng yếu lĩnh động tác như khi luyện tập. Khoảng hơn 20 giờ, một tốp B-52 có F-111 hộ tống, bay vào từ hướng Tam Đảo xuống đánh Đông Anh. Kíp trắc thủ căng mắt nhìn màn hiện sóng để xác định nhiễu của B-52. Bất chợt, cả 3 trắc thủ đều đồng thanh báo cáo “có nhiễu B-52”. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng hạ lệnh phát sóng nhưng các dải nhiễu lại dày đặc, đan chéo vào nhau, không xác định được tọa độ B-52. Hồi hộp, căng thẳng… Đúng lúc đó, một ý nghĩ vụt lóe lên, tôi lệnh cho các trắc thủ tập trung vào hướng chủ yếu, nâng cao tần số, liền phát hiện được dải nhiễu đậm, sáng, mịn hơn, đích thị là của B-52. Toàn kíp hiệp đồng bám sát mục tiêu. Đợi đến khi chiếc đi đầu vào đến cự ly 36km, tiểu đoàn trưởng hạ lệnh: “Phóng”. Lúc đó, tôi bình tĩnh lạ thường, mắt không rời mục tiêu, tay bấm nút phóng liền 2 quả tên lửa rồi hiệp đồng cùng 3 trắc thủ điều khiển đạn trúng đích. Đạn nổ ở cự ly 27km. Ngay lập tức, trên màn hình mất dải nhiễu, xuất hiện một vệt sáng rơi nhanh xuống đất. Chiến sĩ quan sát báo cáo: “Máy bay cháy rồi”. Như có một sức mạnh vô hình, cả kíp trắc thủ bật dậy, reo lên: “B-52 cháy rồi”. Tiếng reo vỡ òa trong niềm mong đợi, dồn nén bấy lâu. Lúc đó vào đúng 20 giờ 13 phút ngày 18-12-1972.

Tôi hỏi:

– Lúc ấy, ông có biết đó là chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ không?

– Làm sao mà biết được, cả sư đoàn gồm mấy đơn vị cùng tham gia đánh B-52, ở cương vị của tôi thì chỉ biết kết quả chiến đấu trong tiểu đoàn thôi. Chính vì để chứng minh đó là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ nên chỉ huy trung đoàn đã cử người lên tận cánh đồng Chuôm, xã Phủ Lỗ (Đông Anh), nơi chiếc máy bay rơi để xác minh. Kết quả là tổ công tác đã mang về mảnh xác chiếc B-52G và tấm phù hiệu của không lực Hoa Kỳ.

Vậy là chiến công đầu thuộc về kíp chiến đấu 1 của Tiểu đoàn 59 mà người có cú bấm nút quyết định, ghi dấu ấn lịch sử chính là sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận. Thắng lợi đầu tiên ấy có ý nghĩa vô cùng quan trọng, xua tan bao lo âu, căng thẳng của bộ đội phòng không và mở màn cho sự thảm bại của cái gọi là “pháo đài bay bất khả chiến bại”.

Giản dị, khiêm nhường

Sau chiến công đêm 18-12, kíp chiến đấu của Đại đội trưởng Dương Văn Thuận còn tham gia bắn rơi thêm 2 máy bay B-52 nữa, góp phần làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông đã trực tiếp tham gia 47 trận đánh, đều ở kíp 1 của Tiểu đoàn 59. Sau đó, Đại đội trưởng Thuận được cử đi học tại Học viện Phòng không và trở thành giáo viên khoa xạ kích. Năm 1981, ông chuyển vào Nam công tác tại Sư đoàn 367, rồi về nghỉ hưu năm 1992 với cấp hàm trung tá. Hiện tại, niềm vui lớn nhất của ông là sự giỏi giang, thành đạt, hiếu thảo của các con. Họ đều có địa vị xã hội và luôn tự hào về ông, một người cha mẫu mực, đã đóng góp công lao cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Những ngày nghỉ cuối tuần, cả gia đình đoàn tụ, quây quần, hạnh phúc, ông lại nhắc nhở con cháu vượt khó để trưởng thành, sống có ích cho xã hội…

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Phi công Việt Nam kể chuyện khai thác điểm yếu của B-52

(ĐVO) – Sớm dự đoán B-52 sẽ vào đánh Hà Nội, Không quân Việt Nam đã sẵn sàng “đọ sức” với siêu pháo đài bay từ nhiều năm trước.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Đất Việt đã có buổi trao đổi với Đại tá phi công Nguyễn Văn Nghĩa, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân – nguyên Bí thư Đảng ủy sư đoàn Không quân 370, nguyên Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, về công tác chuẩn bị đánh B-52 của bộ đội Không Quân trong chiến dịch này.

Bắn hạ B-52 không hề bất ngờ

Ngay từ những năm 1960 Bác Hồ đã quan tâm đến việc nghiên cứu, chuẩn bị cách đánh B-52. Năm 1967, Người khẳng định “sớm muộn đế quốc Mỹ sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua. Ở Việt nam Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Vì vậy, công tác nghiên cứu, chuẩn bị đánh B-52 đã được bộ đội Phòng không – Không quân nghiên cứu, chuẩn bị kỹ từ nhiều năm trước, Không quân đã sẵn sàng  “đọ sức” với B-52.

Kết từ khi ra đời, B-52 được Mỹ quảng bá rầm rộ là “siêu pháo đài bay”. Điều này hoàn toàn có cơ sở, bởi B-52 được bảo vệ bằng hệ thống gây nhiễu dày đặc. Mỗi máy bay B-52, trang bị hàng chục máy gây nhiễu tích cực lẫn tiêu cực.

Cùng với đó là áo giáp nhiễu bên ngoài do các máy bay máy bay trinh sát/đấu tranh điện tử RB- 66, EC-121 bao bọc. Do đó, việc phát hiện B-52 hết sức khó khăn. Và ngay cả khi tiếp cận, phi công Việt Nam chưa chắc đã hạ gục được chúng bằng tên lửa (dẫn đường bằng radar) trong điều kiện nhiễu mạnh. Không chỉ vậy, đội hình bảo vệ B-52 hết sức hùng hậu với hàng tá tiêm kích các loại mỗi tốp.

Dù vậy, nhiệm vụ bắn hạ B-52 vẫn là một yêu cầu cấp thiết, một tiếng gọi thiêng liêng. Cùng với lực lượng phòng không, lực lượng không quân của ta đã bắt tay tìm phương án đánh B-52 từ rất sớm, nghiên cứu kỹ điểm mạnh và điểm yếu của B-52. Đồng thời, phi công Việt Nam với quyết tâm cao khai thác triệt để tính năng kỹ chiến thuật của MiG-21 để nắm chắc thời cơ tiêu diệt B-52 khi có cơ hội.

Với kết quả nghiên cứu kỹ như vậy và việc bay  tập luyện ứng dụng chiến đấu nhuần nhuyễn, lực lượng  phi công MiG-21 rất tự tin việc đánh thắng B-52.  Sự kiện phi công Vũ Đình Rạng bắn bị thương B-52 vào ngày 20/11/1971 đã đúc kết được nhiều vấn đề về tiếp cận và đánh B-52, cho thấy, B-52 hoàn toàn không hề “bất khả xâm phạm “ như những gì mà Mỹ tuyên bố với thế giới.

“Việc chuẩn bị kỹ lưỡng này đồng nghĩa với chiến thắng oanh liệt của quân và dân Thủ đô nói chung và bộ đội phòng không không quân nói riêng là tất nhiên, không phải bất ngờ, càng không phải vô tình”, Đại tá Phi công Nguyễn văn Nghĩa nhớ lại.

 Công tác nghiên cứu, chuẩn bị, huấn luyện tác chiến với B-52 đã được Không quân Việt Nam tiến hành từ nhiều  năm trước khi diễn ra chiến dịch Linebacker-II.Công tác nghiên cứu, chuẩn bị, huấn luyện tác chiến với B-52 đã được Không quân Việt Nam tiến hành từ nhiều năm trước khi diễn ra chiến dịch Linebacker-II.

Về phía Mỹ, cựu Tổng thống Richard Nixon với ảo tưởng, bằng lực lượng không quân khổng lồ để tiêu diệt không quân tiêm kich MiG-21 Việt Nam, hòng đưa Hà Nội “trở về thời kỳ đồ đá” Đây có thể coi là “chiêu bài” cuối cùng của Nixon trong chiến tranh Việt Nam.

Do tính chất quan trọng của chiến dịch Linebacker-II, Không quân Mỹ cũng chuẩn bị kỹ lưỡng mọi phương án. Trong chiến dịch Linebacker-II, Mỹ huy động hơn 1.000 máy bay các loại, trong đó có 193 pháo đài bay B-52 chiếm gần 50% số B-52 của Mỹ trong biên chế.

Trong đó, khoảng 1.077 máy bay chiến thuật bảo vệ và hỗ trợ cùng với 6 hạm đội tàu sân bay trực chiến. Với lực lượng khổng lồ như vậy, phía Mỹ tưởng chừng sẽ áp đảo đối phương, buộc Việt nam phải khuất phục.

Tuy nhiên, điều mà Mỹ không ngờ tới là những điểm yếu của B-52 bị phía Việt nam khai thác triệt để.

Không quân Việt Nam đã sẳn sàng để hạ gục B-52 trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch Linebacker-II. Ảnh minh họaKhông quân Việt Nam đã sẳn sàng để hạ gục B-52 trên bầu trời Hà Nội trong chiến dịch Linebacker-II. Ảnh minh họa

Trước chiến dịch, quyết tâm của Quân chủng Phòng không-Không quân là phải bắn hạ được từ 7-10% trong tổng số B-52 sử dụng trong chiến dịch, bắt sống giặc lái, đồng thời giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về khí tài sản và con người, để chứng minh với thế giới rằng Việt Nam đã đánh thắng B-52.

Ngoài ra, thắng lợi trong cuộc chiến này có ý nghĩa quyết định đối với cục diện trên chiến trường Miền Nam. “Do đó, bộ đội Phòng không – Không quân nói chung và Không quân nói riêng chuẩn bị rất kỹ về kỹ năng tác chiến, ý chí rất sục sôi, rất tự tin và tràn đầy quyết tâm đánh thắng Không quân Mỹ”, đại tá Nguyễn Văn Nghĩa hồi tưởng.

Nhiệm vụ của Không quân trong 12 ngày đêm là phối hợp chặt chẽ với hỏa lực phòng không mặt đất bẽ gãy cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất, chưa từng có của Mỹ kể từ sau chiến tranh Thế giới thứ 2.

 Pháo đài bay B-52 không phải là bất khả xâm phạm như Mỹ vẫn công bố, trái lại rất dễ bị tổn thương.Pháo đài bay B-52 không phải là bất khả xâm phạm như Mỹ vẫn công bố, trái lại rất dễ bị tổn thương.

Phát huy tối đa điểm mạnh MiG-21, khai thác triệt để điểm yếu B-52

Công tác huấn luyện chiến đấu với B-52 và đội hình tiêm kích bảo vệ đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng từ trước. Đương nhiên là các tiêm kích của ta không thể hiên ngang bay ở độ cao 10km để tiếp cận B-52 được vì như vậy chúng sẽ phát hiện sớm.

Tiêm kích đánh chặn MiG-21 của ta thường bay ở độ cao thấp hơn, rồi bất ngờ lấy độ cao, giữ tốc độ lớn tấn công B-52. Đây là điểm mạnh kỹ thuật của MiG-21 được không quân ta khai thác triệt để.

Tuy nhiên, việc bất ngờ lấy tốc độ lên cao cũng đòi hỏi phải vận dụng rất khéo léo, nếu vận dụng không khéo chúng ta sẽ bị vướng ngay vào đội hình tiêm kích bảo vệ và như vậy chúng ta mất đi cơ hội đánh B-52.

Để chọn thời điểm lấy tốc độ lên cao tấn công B-52 cần có sự hỗ trợ từ đài chỉ huy mặt đất về tốc độ bay của đội hình đối phương, cự ly đội hình cũng như kinh nghiệm của phi công.

Ngoài ra, hiệp đồng tác chiến cũng phải rất linh hoạt và chặt chẽ, từ nhiệm vụ nghi binh thu hút sự chú ý của các tiêm kích bảo vệ, đến lực lượng làm nhiệm vụ tấn công B-52. Để phát hiện và tấn công B-52 có thể bằng radar trên MiG-21, tuy nhiên do Mỹ sử dụng các biện pháp gây nhiễu mạnh nên radar của MiG-21 gặp nhiều khó khăn trong việc bắt mục tiêu.

Vì vậy việc phát hiện B-52 bằng mắt thường cũng là một giải pháp cho phi công MiG-21. Ban ngày việc phát hiện mục tiêu bằng mắt thường thuận lợi hơn nhưng trong điều kiện đêm tối thì gặp nhiều khó khăn hơn.

Tuy nhiên, có một điểm yếu của B-52 bay trong đội hình biên đội buộc phải sử dụng đèn hàng hành làm tín hiệu. Dù khi báo động có MiG-21, B-52 thường tắt đèn tín hiệu, nhưng do bay đội hình nên không thể tắt được lâu.

Các phi công của ta thường dựa vào đèn tín hiệu để phát hiện và nhắm mục tiêu trong điều kiện đêm tối. Hai chiếc B-52 bị bắn hạ vào đêm 27, 28/12/1972 của phi công Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều đều căn cứ vào đèn tín hiệu để tấn công B-52 bằng máy ngắm cơ học.

Do yếu tố có tính chất quyết định của chiến dịch, được ví như là một trận “chung kết” chỉ có thắng hoặc thua chứ không hề có chuyện cầm hòa.

Đại tá Nghĩa nhớ lại: Khi diễn ra chiến dịch Linebacker-II, Bộ chính trị đã nhận định và đánh giá về khả năng bắn hạ pháo đài bay B-52 của quân và dân ta. Câu hỏi được đặt ra là “Chúng ta bắn rơi bao nhiêu B-52 thì Mỹ buộc phải chấm dứt chiến dịch?” Con số được dự tính toán là khoảng 5% tức khoảng 8-9 chiếc trong tổng số B-52 được điều động. Nhưng thực tế, chúng ta đã bắn rơi tới 34 B-52, chiếm đến 17% tổng số B-52 tham chiến. Điều đó khiến Mỹ buộc phải chấm dứt chiến dịch.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, bộ đội Không quân đã bắn hạ được 7 máy bay trong đó có 2 chiếc B-52 góp phần cùng toàn quân, toàn dân lập nên kỳ tích chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy địa cầu, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris rút quân về nước.

Đại tá phi công Nguyễn văn Nghĩa sinh ngày 3/5/1946 tại Quảng Ngãi.

Ngày 1/7/1965, ông trúng tuyển phi công tiêm kích. Từ tháng 9/1956-4/1968, ông học lái MiG-21 tại Liên Xô.

Sau khi tốt nghiệp, ông về nước nhận nhiệm vụ tại đại đội 2 Trung đoàn tiêm kích 921 đoàn Sao Đỏ.

Từ năm 1973-1975 ông là phi đội trưởng các phi đội 3, 9, 11 Trung đoàn tiêm kích 927, đoàn Lam Sơn.

Ông là phi công Việt Nam đầu tiên lái máy bay MiG-21 số hiệu 5033 hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng vào năm 1975.

Ông cũng là phi công Bắc Việt Nam đầu tiên cất cánh trên tiêm kích F-5 của Mỹ thu được sau chiến tranh, sau đó ông đã huấn luyện cho một số phi công khác sử dụng máy bay F-5 tham gia trong chiến dịch biên giới Tây Nam.

Từ năm 198,2 ông chuyển lên làm cán bộ Sư đoàn Không quân 370 với cương vị bí thư Đảng ủy. Từ năm 1992 ông giữ chức Hiệu trưởng Trường Hàng Không Việt Nam, ông là người có công lớn trong việc xây dựng Học viện hàng không Việt Nam và cũng là giám đốc đầu tiên của học viện.

Từ tháng 4/2007, ông nghỉ hưu. Tháng 8/2007, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Câu lạc bộ Hàng không Việt Nam cho đến nay.

Quốc Việt
baodatviet.vn

Hạ B52 rơi xuống Ngọc Hà

QĐND-Một sáng đầu đông, chúng tôi đến thăm bác Phạm Văn Chắt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285, Sư đoàn 363 (Quân chủng Phòng không-Không quân) – người trực tiếp chỉ huy phân đội bắn chiếc máy bay B-52 rơi xuống làng Ngọc Hà.

Ngôi nhà bác Chắt nằm trên một con phố nhỏ thuộc khu A, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương. Từ lâu, nơi đây đã trở thành điểm đến của nhiều bạn hữu, của những người muốn tìm hiểu về cách đánh B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm cách đây 40 năm.

Đưa cho chúng tôi xem tấm ảnh kíp chiến đấu rút gọn trong trận đánh B-52 của Tiểu đoàn 72 năm xưa, giọng ông bỗng trở nên hào sảng:

“Tháng 4-1972, tôi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72. Biết được thủ đoạn của đế quốc Mỹ, đơn vị chủ động vừa huấn luyện vừa chiến đấu, trong đó tập trung vào tìm cách đánh B-52.

Rạng sáng ngày 23-12, Tiểu đoàn 72 đang chiến đấu ở Hải Phòng thì nhận được lệnh hành quân về trận địa Đại Chu-Yên Phong-Bắc Ninh để bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Bằng kinh nghiệm 7 năm chỉ huy đơn vị hành quân chiến đấu bắn máy bay Mỹ trên nhiều địa hình ven biển, rừng núi, đồng bằng, tôi đã tổ chức chỉ huy đơn vị nhanh chóng thu hồi khí tài hành quân theo phương châm: “Đi nhanh, đến đủ, trụ vững, đánh thắng, đơn vị an toàn”.

Đêm 27-12 là đêm thứ 10 của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Mỹ tiếp tục sử dụng nhiều tốp B-52 và máy bay chiến thuật tiếp tục đánh hủy diệt Hà Nội. Tiểu đoàn 72 được lệnh đánh B-52.

Nhận mệnh lệnh, tôi chỉ huy kíp chiến đấu chọn tốp 491. Sư đoàn vừa thông báo B-52 bắt đầu xuất hiện thì đài 1 của đơn vị đã bắt được tốp 491. Lúc này, tôi dùng đài 2 mở máy thu nhiễu. Nhiễu của B-52 rất mạnh. Chính cái mạnh là cái yếu của nó. B-52 to, nặng, cồng kềnh không thay đổi đường hướng cơ động nên dải nhiễu rất ổn định.

CCB Phạm Văn Chắt bên chiếc động cơ máy bay B-52 trưng bày tại Nhà truyền thống Trung đoàn 285 (Đoàn Nam Triệu). Ảnh chụp lại.

Tôi lệnh cho 3 trắc thủ bám sát chính xác mục tiêu, chọn phương pháp bắn vượt trước nửa góc và xác định cự ly phóng hợp lý. Khi B-52 vào tầm bắn hiệu quả, tôi ra lệnh cho sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng phóng kịp thời 2 rồng lửa xé màn đêm bay lên lao thẳng vào B-52. Bất ngờ trúng đạn, pháo đài bay của Mỹ nổ tung rơi xuống quận Ba Đình-Hà Nội khi chúng chưa kịp cắt bom tàn phá Thủ đô. Lúc đó là 23 giờ 3 phút đêm 27-12-1972.

Sáng 28, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến tận vị trí máy bay B-52 rơi để thị sát. Thân máy bay B-52 rơi ở hồ Hữu Tiệp, phường Ngọc Hà, đuôi và cánh rơi trên đường Hoàng Hoa Thám vườn Bách Thảo, cạnh Phủ Chủ tịch. Hai động cơ B-52 rơi ở vườn nhà dân tại tổ 51, Ngọc Hà.

Sau khi tai nghe mắt thấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khen: “Đây là trận đánh thắng B-52 của bộ đội tên lửa Việt Nam thật đặc biệt xuất sắc mà Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 đã thực hiện được”. Xuất sắc là vì đơn vị bắn trúng mục tiêu pháo đài bay B-52 làm rơi tại chỗ và bắt sống được giặc lái. Đặc biệt là đơn vị đã đánh trúng địch trước khi chúng cắt bom.

Ngay sau chiến thắng, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 72 và nhân dân Đại Chu được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng “thưởng nóng” một con bò để đơn vị và nhân dân liên hoan. Trong niềm vui ấy, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 72 và nhân dân Đại Chu cùng cất cao bài ca chiến thắng. Bài ca đó được viết: “Trận địa Đại Chu ghi chiến tích/ Rồng lửa Nam Triệu phóng chẳng sai/ Pháo đài bay Mỹ rơi tại chỗ/ Ngọc Hà, Hữu Tiệp thấy tận nơi.”

TRỊNH VĂN DŨNG
qdnd.vn

Chiến tranh Việt Nam là như thế đó

QĐND-Thượng tướng Khiu-pê-nen A-na-tô-li I-va-nô-vích sinh ngày 25-5-1928 tại thành phố Xanh Pê-téc-pua trong một gia đình công nhân. Ông đã trải qua cuộc đời phục vụ quân ngũ từ chức vụ chỉ huy trung đội đến chức vụ Tư lệnh tập đoàn quân phòng không độc lập, Tư lệnh Binh chủng tên lửa phòng không của Liên Xô. Từ tháng 12-1972 đến tháng 1-1975, ông là Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng tôi trích đăng hồi ký “Chiến tranh Việt Nam là như thế đó” của ông, đoạn nói về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Ngày 14-12-1972, tôi đáp máy bay sang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau suốt một ngày đêm bay một mạch bằng máy bay IL-18 theo lộ trình Mát-xcơ-va – Ta-sken – Đê-li – Can-cút-ta – Răng-gun – Viêng Chăn – Hà Nội, đến sáng ngày 15-12, chúng tôi đã tới sân bay Gia Lâm. Trên dọc đường, chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy những hành động dã man của đế quốc Mỹ. Ngay từ những giờ đầu tiên có mặt ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những gì được nhìn thấy đã buộc tôi phải đánh giá theo cách mới đối với quan niệm về cuộc xung đột vũ trang ở Đông Nam Á.

Trước khi diễn ra chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II” của không quân Mỹ, phía Việt Nam đã thực hiện một loạt biện pháp: Sắp xếp lại các đơn vị quân đội; hoàn thiện công tác kỹ thuật xây dựng các trận địa và khâu ngụy trang các trận địa; các đơn vị và các phân đội chiến đấu đã trải qua thực tiễn chiến đấu tại Quân khu 4…

Các khâu chuẩn bị tổ chức và tác chiến đều được thực hiện theo đúng các luận điểm cơ bản của học thuyết chiến tranh nhân dân: Dùng lực lượng ít để thắng kẻ địch có ưu thế về số lượng; kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh thông thường, kết hợp chặt chẽ hoạt động chiến đấu của quân chính quy với hoạt động chiến đấu của quân địa phương và dân quân tự vệ. Do đó, nhiệm vụ của bộ đội tên lửa phòng không, của bộ đội pháo cao xạ, của không quân tiêm kích là tiêu diệt địch, bảo toàn lực lượng của mình.

Ngày 16-12, chúng tôi đã được cảnh báo về khả năng địch tiến hành các đòn oanh tạc, đến ngày 17-12 đã xác định được chính xác thời gian diễn ra đợt oanh tạc thứ nhất.

Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, Đại tá Lê Văn Tri (sau này là Trung tướng) đã triệu tập tất cả các sĩ quan chỉ huy sư đoàn và trung đoàn tại Sở chỉ huy trung tâm và giao nhiệm vụ chiến đấu. Nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội tên lửa phòng không là tiêu diệt các máy bay ném bom B-52. Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu không phải là phòng thủ cơ sở, tức là không để địch đánh phá cơ sở, mà chủ yếu là bắn rơi máy bay. Nhiệm vụ của không quân tiêm kích là chỉ hành động bằng những lực lượng thường trực.

Buổi chiều tối ngày 18-12, đã vang lên còi báo động máy bay địch. Không quân Mỹ đã mở đầu chiến dịch trên không mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” bằng một trận bắn phá ồ ạt mà lực lượng nòng cốt của trận bắn phá này là máy bay ném bom chiến lược B-52.

Vào lúc 12 giờ ngày 19-12, chúng tôi đã sơ bộ tổng kết cuộc đánh trả của phòng không-không quân của Việt Nam. Tổng cộng đã bắn rơi 5 máy bay: Hai chiếc B-52, hai chiếc F4, một chiếc F111.

Chúng tôi đã tiến hành phân tích cặn kẽ các hoạt động tác chiến, nêu lên những điểm tích cực cũng như những điểm thiếu sót trong hoạt động của sở chỉ huy và của các khẩu đội binh chủng phòng không-không quân, đưa ra những đề xuất, đặc biệt trong vấn đề điều khiển của các khẩu đội thuộc sở chỉ huy của các trung đoàn.

Cuộc chiến trên không của Mỹ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bước vào giai đoạn mới. Trên thực tế, Mỹ đã tung ra tất cả những lực lượng không quân và hải quân hiện có của Mỹ ở Đông Nam Á để chống lại Việt Nam. Các hoạt động tác chiến của lực lượng không quân Mỹ diễn ra hồi tháng 12-1972 là đỉnh điểm của toàn bộ cuộc chiến trên không của Mỹ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô Khiu-pê-nen và phi công Phạm Tuân ở sân bay Nội Bài ngày 28-12-1972. Ảnh: Sách “Chiến tranh Việt Nam là như thế đó”.

Theo ý đồ của ban lãnh đạo chính trị-quân sự của Mỹ thì những cuộc giội bom dữ dội và ồ ạt vào Thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và vào những thành phố khác thuộc các tỉnh trung tâm phải làm suy sụp tinh thần, bẻ gãy ý chí kháng cự của nhân dân Việt Nam và qua đó buộc ban lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ký hiệp định theo những điều kiện có lợi cho Mỹ.

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra đạt được mục tiêu chính trị cơ bản, bộ chỉ huy của Mỹ tại chiến trường đã thực hiện từ ngày 18 đến ngày 30-12-1972 chiến dịch tấn công từ trên không được hoạch định kỹ lưỡng, với việc điều động tất cả lực lượng không quân: Không quân chiến lược, không quân chiến thuật và máy bay của hải quân. Tổng cộng trong chiến dịch này đã huy động hơn 800 máy bay chiến đấu, trong đó có 83 máy bay ném bom chiến lược B-52, 36 máy bay chiến thuật F111, 54 máy bay của hải quân A-7D đã có sẵn tại khu vực chiến trường. Một bộ phận lực lượng thuộc Hạm đội 7 đã được huy động để bảo đảm chiến dịch trên không này.

Trong cuộc đấu này, người thắng là bộ đội phòng không Việt Nam.

Tuy nhiên, các chuyên gia quân sự Liên Xô cũng đã đóng góp phần to lớn vào thắng lợi của Việt Nam. Họ đã anh dũng và hy sinh quên mình trong khi thực hiện nghĩa vụ quân nhân để giúp nhân dân Việt Nam theo tinh thần quốc tế chủ nghĩa.

Theo các số liệu của Tổng cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, thì từ ngày 11-7-1965 đến ngày 31-12-1974, đã có 6.359 sĩ quan và tướng lĩnh và hơn 4.500 binh sĩ và hạ sĩ quan của các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam. Tổn thất về người trong thời gian đó là 13 người, trong đó 4 người hy sinh trên các trận địa chiến đấu.

Đã có 2.190 quân nhân Liên Xô được tặng các phần thưởng nhà nước của Liên Xô, đã có hơn 3000 chuyên gia quân sự Liên Xô được tặng thưởng các huân chương và huy chương của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bìa cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam là như thế đó”. Ảnh: TRUNG NGUYÊN.

Trong đợt đánh trả chiến dịch trên không mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” Đại tá C.X.Ba-ben-cô (sau này là Trung tướng), trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô bên cạnh Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam đã thiết lập được những quan hệ mang tính chất hết sức cầu thị, thân hữu và đầy tin cậy với vị Tư lệnh Phòng không-Không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tá Lê Văn Tri. Thông thường, những khuyến cáo của ông đều luôn luôn được chấp nhận và thực hiện. Về phần mình, ông Ba-ben-cô luôn được phía Việt Nam cung cấp kịp thời những tin tức chính xác tạo điều kiện cho các chuyên gia Liên Xô đưa ra những đề xuất đáp ứng tình hình mới xuất hiện.

Kỹ sư trưởng về tên lửa phòng không, Đại tá M.E.Xa-pen-cô đã có những cố gắng to lớn. Duy trì khí tài trong tư thế sẵn sàng chiến đấu trong những điều kiện của Việt Nam, nhất là trong thời gian tác chiến-đó là nhiệm vụ vô cùng phức tạp. Trong quá trình hiện đại hóa các khí tài đã có sự tham gia của Đại tá M.E.Xa-pen-cô. Ông đã quy định chế độ kiểm tra gắt gao đối với chất lượng những sự cải tiến. Các khí tài chỉ được chuyển giao cho phía Việt Nam sau khi đã có quyết định phê chuẩn của Đại tá Xa-pen-cô.

Thiếu tướng không quân, Anh hùng Liên Xô M.I.Phê-xen-cô được cử làm Trưởng nhóm chuyên gia không quân Liên Xô bên cạnh Tư lệnh không quân Việt Nam. Đồng chí Phê-xen-cô cũng được các phi công Quân đội nhân dân Việt Nam rất tín nhiệm. Nhiệm vụ chủ yếu của ông là đào tạo các phi công chiến đấu và các kíp sĩ quan cho sở chỉ huy. Theo thông lệ, trong các trận không chiến phần thắng thuộc về các phi công Việt Nam. Tháng 12-1972, Mỹ đã bị tổn thất 7 máy bay trong các trận không chiến, phía Việt Nam chỉ bị tổn thất 3 chiếc.

Tôi đã giữ liên lạc thường xuyên với Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam thông qua Phó tổng Tham mưu trưởng Phùng Thế Tài. Về cơ bản, chúng tôi đã cùng đồng chí Tài giải quyết mọi vấn đề về hợp tác kỹ thuật-quân sự. Trường hợp giải quyết những vấn đề phức tạp nhất thì chúng tôi gặp Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng Văn Tiến Dũng, thỉnh thoảng có gặp Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thông thường, trước khi bước vào thảo luận, các vấn đề được nghiên cứu kỹ lưỡng và chỉ sau đó mới đưa ra quyết định.

Cả trong thời gian yên tĩnh, hoạt động của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô cũng rất căng thẳng. Cần tiến hành phân tích sâu sắc các hoạt động tác chiến của Quân chủng Phòng không-Không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam, thu thập một khối lượng lớn các số liệu về các trận đánh của bộ đội phòng không và về các trận không chiến, về tổ chức, lập kế hoạch, chỉ huy các phân đội, các đơn vị và các liên đội thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân, về hoạt động và khả năng của lực lượng không quân Mỹ ở Đông Nam Á, đánh giá tình hình và đề ra những đề xuất cụ thể không chỉ đối với phía Việt Nam, mà cả đối với Binh chủng phòng không Liên Xô.

Thượng tướng KHIU-PÊ-NEN (ĐÀO TẤN ANH – NGUYỄN ĐẶNG NGUYÊN (dịch)
qdnd.vn

4 tàu sân bay Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam

Trong chiến tranh Việt Nam, Hải quân Mỹ đã huy động gần 20 tàu sân bay thay nhau làm nhiệm vụ thực hiện các chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc.

>> Chuyên đề: Cha ông ta đánh giặc

Chiến tranh Việt Nam được xem là nơi tập trung nhiều tàu chiến của Mỹ nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Khi đó, 20 tàu sân bay thay nhau làm nhiệm vụ trực chiến.

Vào những lúc cao điểm của các chiến dịch leo thang đánh phá miền Bắc, ngoài khơi vịnh Bắc Bộ có tới 4 tàu sân bay đẳng cấp của Mỹ thay nhau thực hiện các cuộc không kích với cường độ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Trong số các tàu sân bay đã tham chiến tại chiến trường Việt Nam có 4 tàu sân bay thực hiện nhiệm vụ lâu nhất, thực hiện nhiều cuộc không kích nhất đó là các tàu sân bay USS-Enterprise (CVN-65), USS Coral Sea (CV-43), USS-Oriskany (CV-34), USS-Midway (CV-41).

Đây đều là những tàu sân bay đẳng cấp nhất thời đó, nhất là tàu sân bay USS-Enterprise. Đến nay, ngoại trừ tàu sân bay lớp Nimizt không có tàu sân bay nào trên thế giới có thể so sánh được với tàu sân bay USS-Enterprise.

USS-Enterprise (CVN-65)

USS-Enterprise (CVN-65) lớp Kitty Hawk đây là tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên của Mỹ tham gia vào một cuộc chiến tranh thực tế.

Tàu được đưa vào biên chế trong Hải quân Mỹ vào ngày 25/11/1961, tại thời điểm đó, USS-Enterprise (CVN-65) được xem là tàu sân bay số 1 thế giới thời kỳ đó. Đây là nền tảng cho sự ra đời của các siêu tàu sân bay lớp Nimizt.

USS-Enterprise trong chiến tranh Việt Nam. Dòng chữ E=mc2 ám chỉ tàu sân bay này chạy bằng năng lượng hạt nhân.

Tàu sân bay USS-Enterprise có khả năng mang 90 máy bay các loại trong đó có 70 máy bay chiến đấu cánh cố định. USS-Enterprise tham chiến tại chiến trường Việt Nam vào tháng 11/1965, ngay ngày đầu tiên tham chiến, tàu sân bay này đã thực hiện 125 phi vụ tấn công, ném hơn 151 tấn bom đạn vào các căn cứ của quân giải phóng gần khu vực Biên Hòa.

Trong quá trình tham chiến tại Việt Nam, tàu sân bay này gặp phải một tai nạn khá lớn. Một quả tên lửa MK-32 Zuni gắn trên chiếc F-4 Phantom chuẩn bị thực hiện không kích miền Bắc Việt Nam đã bị phát nổ gần khu vực nhà ăn.

Vụ nổ đã thiêu rụi 15 chiếc máy bay, 27 người thiệt mạng và 314 người bị thương, thiệt hại gây ra cho boong tàu khá lớn. Tàu buộc phải kéo đến Trân Châu Cảng để tiến hành sửa chữa, đầu tháng 3/1969 tàu sân bay USS-Enterprise tiếp tục trở lại vịnh Bắc Bộ và tham gia vào các chiến dịch phá hoại miền Bắc

Đến 30/7/1971, tàu sân bay USS-Enterprise đã thực hiện tổng cộng hơn 2001 phi vụ không kích trong các chiến dịch theo lang đánh phá miền Bắc, cũng như thực hiện các phi vụ hỗ trợ cho lực lượng mặt đất của thủy quân lục chiến Mỹ trên chiến trường miền Nam.

Đến cuối năm 1972, tàu sân bay này lại được huy động tham gia chiến dịch Linebacker-II (Điện Biên Phủ trên không).

Những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, tàu sân bay này tiếp tục được huy động tham gia hỗ trợ cho cuộc di tản khỏi Sài Gòn vào cuối tháng 4/1975.

USS-Midway (CV-41)

USS-Midway (CV-41) lớp Midway, là tàu sân bay của Mỹ tham chiến sớm nhất tại chiến trường Việt Nam.

Tháng 3/1965, tàu sân bay USS-Midway được lệnh rời cảng Alameda đến Việt Nam, tháng 4/1965, tàu sân bay này chính thức tham gia vào sự kiện vịnh Bắc Bộ.

Một chiếc A-6 đang cất cánh làm nhiệm vụ ném bom miền Bắc Việt Nam từ tàu sân bay của Mỹ.

Một chiếc F-4B Phantom do Trung tá Batson cất cánh từ tàu sân bay này đã bắn rơi một chiếc MiG-17 của Việt Nam đây được xem là chiến thắng đầu tiên trước máy bay chiến đấu Mig tại chiến trường Việt Nam.

Năm 1969, tàu sân bay USS-Midway quay trở lại cảng Alameda để tiến hành công tác bảo trì và hiện đại hóa. Tháng 4/1971, tàu sân bay này tiếp tục quay trở lại chiến trường Việt Nam.

Trong suốt quá trình tham chiến tại Việt Nam, bay USS-Midway đã thực hiện tổng cộng 11.900 phi vụ tấn công trên khắp Việt Nam. Ngoài việc triển khai máy bay chiến đấu, tàu sân bay này còn tham gia vào các hoạt động rải mìn tại các khu vực cửa biển tại miền Bắc Việt Nam.

Cuối tháng 4/1975, tàu sân bay này tiếp tục được huy động tham gia các hoạt động hỗ trợ di tản khỏi Sài Gòn. Tàu sân bay USS-Midway chính thức ngưng hoạt động vào ngày 11/4/1992.

USS-Oriskany (CV-34)

Tàu sân bay USS-Oriskany thuộc lớp Essex, cũng là một trong những tàu sân bay tham chiến sớm nhất tại chiến trường Việt Nam. USS-Oriskany tham gia các chiến dịch không kích miền Bắc Việt Nam ngay sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1965.

Tháng 4/1965, tàu sân bay này đến Việt Nam cùng với số lính thủy quân lục chiến Mỹ đầu tiên đến Việt Nam. Nhiệm vụ ban đầu của tàu sân bay này là tiến hành các hoạt động hỗ trợ cho quân lực VNCH đối phó với các hoạt động gia tăng của lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong suốt chiến tranh Việt Nam, tàu sân bay USS-Oriskany đã thực hiện tổng cộng 12.000 phi vụ không kích trên khắp Việt Nam, với hơn 9.100 tấn bom đạn được ném xuống đất nước ta.

Tàu sân bay USS-Oriskany được đặc biệt chú ý bởi sự kiện trung tá phi công Jonh McCain bị bắn hạ khi lái một chiếc A-4 Skyhawk thực hiện nhiệm vụ ném bom trên bầu trời Hà Nội năm 1967. Ông bị bắt làm tù binh và được trả tự do vào năm 1973 sau hiệp định Paris. Hiện nay ông là một trong những thượng nghị sỹ có uy tín tại Thượng viện Mỹ và có thiện chí với Việt Nam.

Trong quá trình tham gia chiến tranh Viêt Nam, tàu sân bay USS-Oriskany cũng gặp phải sự cố phát nổ vũ khí tương tự như tàu sân bay USS-Enterprise. Vụ nỗ làm 44 người thiệt mạng trong số đó có rất nhiều phi công vừa thực hiện cuộc tấn công ném bom miền Bắc vài giờ trước đó.

Ngày 17/5/2006, tàu sân bay USS-Oriskany bị đánh chìm ngoài khơi bờ biển Florida để tạo dãy san hô nhân tạo, một trong những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc khôi phục các rặng san hô đang ngày một chết dần.

Tàu sân bay Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Biên tập, dựng hình: Hà Tiệp

USS Coral Sea (CV 43)

Tàu sân bay USS Coral Sea (CV 43) thuộc lớp Midway, tàu sân bay này chính thức tham chiến tại chiến trường Việt Nam vào tháng 2/1965. Tàu sân bay này đã chứng minh được khả năng thực hiện các nhiệm vụ trong điều kiện thời tiết xấu.

Cuộc không kích đầu tiên của các máy bay trên tàu sân bay này diễn ra gần thành phố Đồng Hới, Quảng Bình trong chiến dịch trả đũa cho cuộc tấn công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam vào khu vực đóng quân của Mỹ ở Pleiku.

Ngày 2/3/1965, tàu sân bay USS Coral Sea chính thức mở màn chiến dịch Sấm Rền đánh phá ác liệt các mục tiêu tại miền Bắc Việt Nam. Với sự xuất hiện của máy bay cường kích F-105 Thunderchiefs (Thần Sấm), và biến thể F-105G Wild Weasels “Chồn hoang” đã thực hiện các cuộc không kích với cường độ cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2.

Nhằm bảo vệ cho phi đội ném bom trước các hệ thống phòng không của Bắc Việt Nam. Không quân Mỹ đã sử dụng chiến thuật SEAD (áp chế phòng không không quân đối phương, >> chi tiết) trong chiến tranh hiện đại với sự xuất hiện của F-105G và tên lửa chống radar AGM-45 Shrike tại chiến trường Việt Nam. Từ đó đến này SEAD trở thành một nhiệm vụ chủ đạo trong bất kỳ chiến dịch không kích nào.

>> Chiến thuật chế áp phòng không hiện đại (kỳ 1)
>> Chiến thuật chế áp phòng không hiện đại (kỳ 2)

Trong chiến dịch Sấm Rền kéo dài từ 2/3/1965-1/11/1968, chỉ tính riêng Hải quân và thủy quân lục chiến Mỹ đã thực hiện tổng cộng 152.399 phi vụ tấn công. Tổng số bom đạn mà Mỹ ném xuống trong chiến dịch này lên đến 643.000 tấn, nhiều hơn bất kỳ cuộc chiến tranh nào từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Tổng cộng có gần 900 máy bay của Mỹ bị bắn hạ trong chiến dịch.

Kể từ sau chiến dịch Sấm Rền, tàu sân bay USS Coral Sea còn quay trở lại nhận nhiệm vụ tại chiến trường Việt Nam thêm 7 lần nữa. Chỉ tính riêng năm 1972, tàu sân bay này đã thực hiện tới 4.833 phi vụ tấn công trên khắp Việt Nam.

Cuối tháng 4/1975, tàu sân bay này tiếp tục tham gia hỗ trợ cuộc di tản khỏi Sài Gòn, ngày 26/4/1990, tàu sân bay USS Coral Sea chính thức ngưng hoạt động. Trung Quốc từng tìm cách để mua lại tàu sân bay này, tuy nhiên Tòa án Liên bang Mỹ đã ra lệnh cấm bán tất cả các tàu sân bay ngưng sử dụng ra nước ngoài. Tàu sân bay USS Coral Sea chính thức bị đánh chìm vào 8/9/2000.

Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, quân và dân Việt Nam không chỉ phải đối đầu với lực lượng quân sự khổng lồ của Mỹ với hơn nữa triệu thủy quân lục chiến trên chiến trường miền Nam, cùng với hơn 1 triệu binh lính của quân lực VNCH mà còn phải đối đầu với áp lực rất lớn đến từ 20 tàu sân bay đẳng cấp của Mỹ ngoài khơi vịnh Bắc Bộ thay nhau thực hiện các chiến dịch đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Song với tinh thần quả cảm, không hề nao núng quân và dân Việt Nam đã chiến đấu một cách ngoan cường, bẻ gãy sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris rút quân về nước.

>> Tác động tàu sân bay Trung Quốc tới biển Đông
>> Mạng Trung Quốc: ‘Việt Nam lo lắng trước tàu sân bay?’
>> Dân mạng Trung Quốc đánh giá hạm đội tàu ngầm Việt Nam

>> ‘Bom thông minh’ trong chiến tranh Việt Nam
>> Người hẹn giờ cho những chiến công

Quốc Việt
baodatviet.vn

Chuyện “khan hiếm” đạn tên lửa đánh máy bay B52

QĐND-Trung tướng Lương Hữu Sắt, nguyên Cục trưởng Cục Vũ khí đạn, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật kể: Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, kỷ niệm sâu sắc nhất với ông là vấn đề bảo đảm đạn tên lửa cho các đơn vị. Đạn tên lửa phòng không của ta hầu hết do Liên Xô giúp đỡ. Trước khi sử dụng loại đạn này, chúng ta phải đưa qua một dây chuyền lắp ráp khá phức tạp và tốn nhiều thời gian. Trước ngày 18-12-1972, các đơn vị tên lửa vẫn có một số đạn dự trữ, nhưng không đáng kể. Chuẩn bị cho chiến dịch, các tiểu đoàn tên lửa được trang bị 2 cơ số đạn với các tham số kỹ thuật của các dây chuyền sản xuất đạn có hệ số kỹ thuật tốt nhất. Để phục vụ cho các trận địa ở Hà Nội, Hải Phòng, có hai đơn vị, hai dây chuyền sản xuất đạn.

Từ ngày 18, 19 tháng 12 năm 1972 trở đi, các dây chuyền sản xuất đạn được bổ sung cán bộ, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, nhiệt tình, trách nhiệm liên tục thay nhau sản xuất cả ngày lẫn đêm để kịp có đạn cho bộ đội chiến đấu. Kế hoạch tổ chức lắp ráp, bảo đảm đạn tên lửa khá chu đáo, có phương án chuẩn bị từ trước và công tác dự phòng cũng đã được triển khai, song mới chỉ qua hai đêm 18 và 19, những tín hiệu về “cơn sốt đạn tên lửa” đã nhanh chóng xuất hiện. Khẩu hiệu tiết kiệm đạn “Dành đạn cho pháo đài bay B-52” đã trở thành mệnh lệnh cho các đơn vị tên lửa phòng không. BTL Quân chủng PK-KQ chủ trương dành tên lửa đánh B-52. Như vậy, toàn bộ gánh nặng phải đương đầu với hàng trăm, hàng nghìn lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá liên tục cả ngày lẫn đêm dồn hết cho bộ đội cao xạ, không quân và dân quân tự vệ đảm nhiệm. Nhưng các đơn vị tên lửa vẫn không thoát khỏi tình trạng thiếu đạn. Hầu như đêm nào cũng có những tiểu đoàn phải đánh đến quả đạn cuối cùng.

Đưa tên lửa vào bệ phóng của Sư đoàn 361 ở Đông Anh, Hà Nội. Ảnh: Cảnh trong phim “Hà Nội – Bản hùng ca” của Điện ảnh Quân đội.

Khẩu hiệu lúc này là: “Tất cả cho sản xuất đạn tên lửa”. Toàn Quân chủng lúc đó tìm các biện pháp tối ưu tập trung vào việc lắp ráp đạn tên lửa nhanh nhất, sửa chữa những hư hỏng của tên lửa; đồng thời bảo dưỡng, sửa chữa gấp khí tài trang bị của các đơn vị. Cả guồng máy lắp ráp đạn tên lửa được vận hành hết công suất. Sản lượng tăng gấp đôi nhưng những nỗ lực đó vẫn chưa thấm gì với mức tiêu thụ đạn ghê gớm trên từng bệ phóng. Cảnh chạy đạn cho các bệ phóng như cảnh nhà nghèo chạy ăn từng bữa. Bãi lắp ráp làm được quả đạn nào, xe TZK trực sẵn lập tức đưa đi và được đưa lên bệ phóng ngay. Trong ánh lửa của bom đạn, những quả đạn tên lửa vừa “bóc tem” được chuyển đến đặt ngay trên bệ phóng. Có những quả đạn chỉ ít phút sau khi hoàn tất đã lao vút lên tìm diệt máy bay B-52. Chưa bao giờ cuộc đời của những quả đạn tên lửa được sản xuất ra lại ngắn ngủi và vinh quang đến như vậy.

Đêm 19, địch vào 87 lần/chiếc B-52; đêm 20-12-1972, tăng lên 93 lần/chiếc máy bay B-52. Ai nấy đều hồi hộp nghĩ rằng đêm 21-12-1972, địch sẽ vào nhiều hơn, mà đạn tên lửa thì chỉ lắp ráp có hạn nên sẽ là đêm thử thách ngặt nghèo nhất, khốc liệt nhất. Nhưng những điều dự đoán đó lại không xảy ra. Đêm 21, chỉ có một đợt 24 lần chiếc máy bay B-52 tập trung đánh vào Bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư An Dương, ga Giáp Bát, Văn Điển,…

Từ đêm 22 trở đi, B-52 hầu như “lảng xa” Hà Nội. Đêm 23, B-52 vào đánh Đồng Mỏ-Lạng Sơn, Bắc Giang. Đêm 24, B-52 đánh Thái Nguyên, Kép. Như vậy, đang “cơn sốt” đạn tên lửa, các đơn vị bảo vệ Hà Nội lại có thời gian để chuẩn bị đạn. Các đơn vị tên lửa, pháo phòng không nhanh chóng củng cố trận địa, hầm hào, rút kinh nghiệm chiến đấu. Vì thế, đến ngày 26-12-1972, các bệ phóng tên lửa của ta đã có đủ cơ số đạn theo quy định. “Cơn sốt” đạn đã bị đẩy lùi. Bộ đội tên lửa không còn phải lo thiếu đạn, chủ động tự tin chuẩn bị sẵn sàng cho trận đánh quyết định đêm 26-12-1972.

Vậy là, trong trận “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, tình trạng khan hiếm đạn tên lửa để đánh máy bay B-52 trong một vài ngày đầu chiến dịch là có thật. Nhưng không phải chúng ta đã hoàn toàn bị bó tay, mà trên thực tế, đạn cho đánh B-52 vẫn được bảo đảm. Đó là sự thể hiện tính chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường của Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ và cán bộ, chiến sĩ đơn vị tên lửa, đã góp phần vào thắng lợi to lớn của chiến dịch phòng không bảo vệ thủ đô Hà Nội tháng 12-1972.

Kết quả cuối cùng là chính Mỹ phải đương đầu ngay với một trong những hệ thống phòng không tốt nhất thế giới. Sau này, các ngọn đồi quanh Hà Nội trở thành các kho chứa máy bay Mỹ rơi. Các nhà tù ở Hà Nội đầy rẫy phi công bị bắn rơi của Mỹ (tướng 4 sao hải quân đánh bộ Ray-mơn Đê-vít (Raymond David) trong bài “Chính trị và chiến tranh 12 quyết định tai hại dẫn đến thất bại ở Việt Nam” – Tạp chí “Marine Corps Gazette” tháng 8-1989).

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN
qdnd.vn