Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học cho thế hệ trẻ

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nhiều bài học quý giá cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Có những bài học được Người dạy trực tiếp hoặc lập ngôn, trước tác để lại, tuy nhiên cũng có những bài học mà thế hệ sau rút ra được từ tư tưởng, hành động của Người. Chẳng hạn từ tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể rút ra bài học về định hướng tương lai và hành động cho thế hệ trẻ.

Dưới chân tượng đài Bác Hồ (ảnh do đoàn cung cấp)Đoàn tình nguyện Hành trình xanh chụp ảnh lưu niệm nơi tượng đài Bác Hồ trong chương trình “Hành trình xuyên Việt 2011- từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng” (ảnh do đoàn cung cấp)

Có thể thấy, tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ thuở nhỏ, khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, được giáo huấn lòng yêu nước, gần dân của gia đình; được thừa hưởng nền văn hóa truyền thống đấu tranh bất khuất của xứ Nghệ, lại tiếp thu truyền thống chống ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc để rồi hình thành ở Người lòng yêu nước thương nòi.

Đặc biệt khi được hầu chuyện cha với các sĩ phu yêu nước đồng thời là thầy học của mình như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân, Phan Bội Châu… Người dần hiểu được thời cuộc và nỗi ưu tư của các bậc thầy, cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Những câu chuyện đàm đạo đó đã truyền lửa tới tâm hồn Người. Và, vốn có tư chất thông minh, tư duy độc lập, Người đã ôm ấp chí lớn cứu nước, cứu dân. Với nghị lực phi thường, không chịu đi theo lối cũ của các bậc tiền bối, Người đã quyết chí đi sang phương Tây để thấy tận mắt đất nước của những kẻ đã tới thôn tính dân tộc mình, mong tìm con đường giải phóng dân tộc.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì Tổ quốc, vì dân tộc là mối quan tâm hàng đầu, trở thành tư tưởng trung tâm, cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Người. Và tất cả những suy nghĩ, những lời nói, mọi hành động trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhằm để thực hiện lý tưởng, hoài bão đó.

Năm 1911, với tên Văn Ba, Người ra đi tìm đường cứu nước. Tất cả những việc làm như phụ bếp, bồi bàn đến dọn tuyết, …, Người đều không từ nan để thực hiện lý tưởng. Trong suốt thời gian đó, hễ có cơ hội là Người thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình. Như tại Đại hội Tours cuối năm 1920 của Đảng Xã hội Pháp, đến lúc biểu quyết, gia nhập Đệ Tam hoặc ở lại Đệ Nhị Quốc tế thì với tên Nguyễn Ái Quốc, Người bỏ phiếu cho Đệ Tam Quốc tế. Bởi vì Người hiểu rõ một điều Quốc tế thứ 3 rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế thứ 3 nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Người nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” .

Tìm con đường giải phóng dân tộc cứ canh cánh trong lòng Nguyễn Ái Quốc, như một lực hấp dẫn, chiêu cảm mạnh mẽ, để rồi dẫn đường Người tới với Sơ thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa là “cái cần cho chúng ta, là con đường giải phóng chúng ta”.

Trở về nước năm 1941, Người chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, trong thư Kính cáo đồng bào, Người khẳng định và chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” . Thế rồi cách mạng tháng Tám thành công, chính Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” .

Rõ ràng, Tổ quốc và nhân dân là mối quan tâm thường hằng tạo nên những trăn trở thường xuyên trong tâm khảm Người. Trả lời các nhà báo, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” .

Cuối tháng 5 năm 1946, nhận lời mời đi thăm hữu nghị nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian Người đi vắng (4 tháng). Trước khi đi Người đã nói chuyện với đồng bào: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân […]. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” . Và Người nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạn biến””. Đó chính là một triết lý, là mối quan hệ giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản thể và hiện tượng,… là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi). Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng có muôn hình vạn trạng, có thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, biến hóa khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó. Ở đây cái bất biến của dân tộc Việt Nam trong lúc “ngàn cân treo sợi tóc” là Tổ quốc độc lập, dân tộc tự do. Chính với phương châm triết lý đó, ở nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nghiêm khắc trừng trị bọn Quốc dân Đảng gây rối, cũng như các thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam non trẻ, giữ vững được nền độc lập dân tộc.

Nhưng chỉ sau một năm tuyên bố độc lập cho Tổ quốc trước toàn thể quốc dân đồng bào và quốc tế, thì thực dân Pháp định cướp nước ta một lần nữa. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đanh thép tuyên bố: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!” . Và, chính bằng quyết tâm thực hiện tư tưởng chủ đạo đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân và toàn dân ta đã đánh thắng giặc Pháp xâm lược, làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu.

Để giành và bảo vệ độc lập Tổ quốc, tự do dân tộc, nhân dân ta hết kháng Pháp lại kháng Mĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, ngày 17/7/1966, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện câu nói bất hủ, cũng là nguyên lý, nguyên tắc đầu tiên và trên hết trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” . Đó là đỉnh cao của lý luận, được đúc rút từ thực tế đất nước Việt Nam, trong suốt cuộc đời hoạt động của Người và đã trở thành chân lý vĩnh hằng…

Như vậy, bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại thật nhiều. Có những bài học đã trở thành giá trị văn hóa có ảnh hưởng không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Từ tư tưởng chủ đạo và hành động suốt cuộc đời của Người, có thể rút ra nhiều bài học, nhưng nổi bật hai bài học quan trọng cụ thể là:

Thứ nhất bài học mang tính thực tiễn không chỉ dành cho lớp trẻ mà cho mỗi người dân đất Việt đó là: luôn có một tình yêu đối với Tổ quốc, với dân tộc, với đồng bào, với gia đình. Tình yêu đó phải thường trực mới có thể trở thành con người không bị thất cước, không mất đi cái bản thể, cái gốc của mình.

Thứ hai là bài học mang tính lý luận. Chúng ta thấy Người đã thực hiện theo đúng quy luật của tự nhiên, của triết học về mối quan hệ của bản thể và hiện tượng, giữa cái bất biến và cái vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi. Bởi hoài bão, định hướng cứu nước, cứu dân trở thành bản thể cho tất cả những biểu hiện hành động của Người. Điều này cho mỗi người trẻ một bài học rằng cần có một lý tưởng, một mục đích tốt làm gốc cho sự phát triển cuộc đời.

Đành rằng mỗi người sẽ có một ý chí, một hướng đi khác nhau trong đời, nhưng điều quan trọng hàng đầu là sớm xác định cho mình một hướng đi đúng, một lý tưởng đẹp, một mục đích cao cả để từ đó làm cái đích hướng tới cho những hành động cụ thể trong cuộc đời của mình. Bởi chỉ có thể định hướng rõ kết hợp với tư duy thường trực và thường xuyên hành động thì mới sớm đạt được đích, gặt hái thành công.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn

——————————

Tài liệu tham khảo:

Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Trẻ, 2005 (Bản PDF 11/2/2007), tr. 44.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 198.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 12.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 379.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 568.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 1018.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 110.

Học dân để lãnh đạo dân

Chính quyền về tay ta đã hơn 65 năm qua. Suốt thời gian ấy, mỗi lần không nghe dân, không học dân, cách mạng lại chịu tổn thất. Cải cách ruộng đất kết hợp với đấu tố là việc nông dân không đồng tình nhưng cán bộ bên dưới khi báo cáo đều cho chủ trương của trên là đúng và dân hoan nghênh. Lãnh đạo không chịu xuống cơ sở kiểm tra tại chỗ, chỉ tin vào báo cáo.

Bác Hồ về thăm xã Vinh Quang, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Ảnh: TL

Ngày 25-8-1956, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khóa 2) Bác Hồ đã nói: Vì ta thiếu dân chủ nên nghe ít, thấy ít nên bây giờ phải dân chủ. Tất cả Trung ương phải nghe, thấy, nghĩ, làm như thế. Bài học đau xót này thúc đẩy chúng ta”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 6 – Trang 334).

Bài học dân chủ lúc nào cũng hết sức thiết thân với toàn dân, toàn Đảng. Nông dân hiểu rõ ai là địa chủ và nông dân cũng biết địa chủ nào đã hiến điền, đã tham gia kháng chiến, con cháu là đảng viên, cán bộ, nên về thực chất không còn là địa chủ nữa.

Một thời gian sau, Bộ Chính trị họp bàn về tổng kết Cải cách ruộng đất, Bác Hồ lại nói đến bài học dân chủ, quá tin vào kinh nghiệm nước ngoài và coi thường mọi ý kiến đóng góp của dân nên có lúc Đảng trở nên chủ quan, giáo điều, máy móc. Bác Hồ nhắc đi nhắc lại tại hội nghị: “Quan liêu, không sát quần chúng, không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, chỉ tin vào người báo cáo”. (Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 7 – trang 127).

Chỗ yếu của nhiều lãnh đạo là chỉ dựa vào báo cáo của cấp dưới, thiếu hẳn cảnh giác với nạn thành tích chủ nghĩa đã thành thói quen của các địa phương; nơi nào cũng ít hoặc nhiều “thành tích phô ra, xấu xa đậy lại”, lại còn tô hồng thêm báo cáo gửi lên trên. Qua 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ không còn lạ gì bệnh thành tích. Có nơi Bác về thăm, lãnh đạo đã chuyển lợn gầy của trại lợn tập thể đi nơi khác và mượn lợn béo của các cơ sở chăn nuôi cá thể mang về trại lợn của hợp tác xã nông nghiệp để khoe thành tích với Bác. Lại có nơi biết Bác về thăm đã bố trí nhà dân để Bác Hồ đến thăm, chủ nhà đã được bồi dưỡng để nói với Bác về thành tích còn thiếu sót chỉ nói qua loa. Chúng ta hiểu tại sao Bác Hồ đến bất cứ địa phương nào đều không báo trước để thực tế ở đó còn nguyên vẹn, chưa bị sắp xếp, trang trí, tô vẽ.

Bác Hồ đã nói: “Không gần gũi dân thì không hiểu biết dân, không hiểu biết dân thì không học hỏi được những kinh nghiệm và sáng kiến của dân, vì vậy không lãnh đạo được dân” (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 6 – Trang 68).

Đối với Bác, một Nhà nước biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi dưỡng và nâng cao dân thì sẽ thấy dân không chỉ nói lên điều dân mong muốn mà còn làm sáng tỏ trí tuệ của dân, gợi ý hoặc chỉ ra rằng dân cần luật lệ gì và luật lệ ấy phải có nội dung như thế nào, cơ quan Nhà nước cần giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh ra sao. Công cuộc đổi mới đã chứng minh rất hùng hồn, sinh động, không nghe dân, học dân đương nhiên Đảng không thể khởi xướng công cuộc đổi mới. Đổi mới là kết quả cụ thể của quá trình học dân, phát hiện cái mới trong dân. Nhiều sáng kiến đột phá giàu tâm huyết của dân là một nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế được cho những chủ trương và biện pháp đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Khoán hộ là sự sáng tạo của nông dân Vĩnh Phú, ra đời năm 1966. Một cách làm ăn hợp với lòng dân, mang lại hiệu quả kinh tế cao, dân không những đủ ăn mà còn có tích lũy, đóng góp cho Nhà nước đầy đủ nhưng lại không được thực hiện. Thoạt nghe khó tin, nhưng lại là sự thật rất nhỡn tiền. Mãi đến tháng 4-1988, khoán hộ mói được công nhận là hợp pháp và chỉ sau hai vụ lúa, năm 1989 nước ta đã xuất khẩu gạo. Nguyên nhân của sự chậm trễ quá đáng này là do không làm theo lời của Bác Hồ, nên một số lãnh đạo xa nông dân, chỉ tin vào báo cáo bên dưới, không chịu về bám nông thôn tìm hiểu tại chỗ, tại sao nông dân chỉ thích khoán hộ và không chịu chấp nhận khoán việc do trên áp đặt. Chắc chắn với đà đổi mới ngày càng toàn diện và mạnh mẽ như hiện nay, bảo thủ, trì trệ không thể cố thủ kéo dài 10 năm, 20 năm nhưng khoán hộ mãi mãi là bài học sâu sắc, nhắc nhở lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương phải giảm hẳn các cuộc họp và dành thời gian về cơ sở gần dân, học dân.

Học dân không phải dễ nếu về địa phương lại có đưa, có đón; đi đâu cũng có cán bộ địa phương đi theo thì dù có đến nhà dân hẳn hoi dân cũng không thể nói mọi sự thật, nhất là những tiêu cực liên quan đến địa phương. Phải có một cuộc cách mạng về cách đi công tác địa phương, làm sao để lãnh đạo dù giữ bất cứ chức vụ gì đều phải hiểu rõ về công tác địa phương là trách nhiệm được Đảng và Nhà nước giao phó, phải tự lo nơi ăn chốn ở, phải thanh toán sòng phẳng mọi chi tiêu; địa phương không phải đưa và đón, không phải chiêu đãi. Nhiều nơi biện bạch lãnh đạo trên về cần có chiêu đãi cho có tình cảm. Nếu thực sự là tình cảm thì phải bỏ tiền riêng của cá nhân, sao lại đều đưa ra nhà hàng, khách chỉ có một, hai còn chủ gấp năm, bảy lần, rượu ngoại hàng triệu đồng một chai; mọi chi phí do ngân sách Nhà nước tức là dân phải chịu. Bữa trưa cũng bia rượu, bữa chiều cũng bia rượu, thì đầu óc còn tỉnh táo sao được nữa để về cơ sở nghe dân, học dân.

Chỉ thị 54CT/TU của Ban Bí thư (khóa VII) đăng trên trang nhất báo Nhân dân ngày 27-3-1995 quy định lãnh đạo trên về địa phương công tác, cá nhân và đoàn đều phải thanh toán tiền ăn và ở và không được nhận bất cứ thứ quà biếu nào. Rất tiếc Chỉ thị này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh.

Học dân cần biết trân trọng ý kiến trái chiều, ý kiến ngược, cần lắng nghe và trao đổi, bàn bạc tìm ra câu trả lời cho những vấn đề dân đang rất quan tâm. Dân có những bức xúc không thể bàn với cán bộ địa phương, thấy cán bộ trên về họ rất muốn được gặp, được thổ lộ, tâm tình, tất nhiên với điều kiện phải làm cho dân tin. Đôi khi dân gửi thư lên cấp trên để phê bình khuyết điểm của cán bộ địa phương, nêu những băn khoăn thắc mắc mong được trên giải đáp hoặc đưa ra những kiến nghị về dân sinh, dân chủ mong được sớm thực hiện. Bác Hồ khuyến khích dân gửi thư lên trên, Bác coi đây là quyền dân chủ của mỗi công dân. Bác còn gợi ý dân gửi thư cần suy xét kỹ lưỡng, bày tỏ thật thà, viết tên, họ và địa chỉ rõ ràng thì cơ quan nhận được mới có thể điều tra, nghiên cứu. Bác căn dặn cán bộ, cơ quan, đoàn thể cần thật sự xem trọng ý kiến của quần chúng nhân dân. Trong sách “Hồ Chí Minh – Về Đảng Cộng sản Việt Nam” ở mục “Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”, Bác Hồ đã viết: “Thậm chí có cán bộ địa phương đã tự tiện bóc thư cấp trên gửi cho nhân dân, dùng dằng trao thư ấy cho nhân dân một cách chậm trễ, hoặc không trao mà cán bộ tự viết trả lời cho cấp trên (như Ủy ban Hành chính xã Đồng Minh – Nam Định). Có cán bộ đã dọa nạt nhân dân vì họ đã gửi thư cho cấp trên như Phó Chủ tịch xã Xuân Yên – Hà Tĩnh.

Làm như vậy các đồng chí ấy đã phạm kỷ luật một là bóc thư riêng của người khác, hai là bưng bít tai, mắt cấp trên, bịt mồm, bịt miệng quần chúng. Sai lầm ấy phải được chấm dứt”. (Trang 119).

Thái Duy
daidoanket.vn

Danh mục các Sắc lệnh và Quyết định do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký từ nǎm 1953 đến tháng 6-1955

PHỤ LỤC

NǍM 1953

– Sắc lệnh số 131-SL, ký ngày 16-1-1953, bổ nhiệm Giám đốc và Phó giám đốc sở kho thóc thuộc Bộ Tài chính.

– Quyết định số 132-QĐ, và số 133B-QĐ, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 133-SL, ký ngày 20-1-1953, về việc trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những phần tử có âm mưu và hành động phản quốc.

– Sắc lệnh số 134-SL, ký ngày 28-1-1953, thành lập khu Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu.

– Quyết định số 135-QĐ, ký ngày 28-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 136-SL, ký ngày 31-1-1953, chỉ định ông Phạm Hữu Lần nguyên chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Sa Đéc làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

– Quyết định số 137-QĐ, ký ngày 31-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 138-QĐ, ký ngày 31-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 139-QĐ, ký ngày 31-1-1953, ân giảm án tử hình xuống khổ sai chung thân cho một phạm nhân.

– Quyết định số 140-QĐ, ký ngày 31-1-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 141-SL, ký ngày 16-2-1953, đổi Nha Công an thuộc Bộ Nội vụ thành Thứ Bộ Công an do một Thứ trưởng phụ trách.

– Quyết định số 142-QĐ, ký ngày 16-2-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 143-QĐ, ký ngày 13-3-1953, ân giảm án tử hình xuống 20 nǎm khổ sai chung thân cho một phạm nhân.

– Quyết định số 144-QĐ, ký ngày 15-3-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 145-QĐ, ký ngày 15-3-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 146-QĐ, ký ngày 15-3-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân và ân giảm án tử hình xuống khổ sai chung thân cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 147-SL, ký ngày 15-3-1953, thành lập doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam.

– Quyết định ký ngày 30-3-1953, thả 200 tù binh Bắc Phi đã bị quân và dân ta bắt trên các chiến trường.

– Quyết định số 148-QĐ, ký ngày 6-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 149-SL, ký ngày 12-4-1953, về chính sách ruộng đất.

– Sắc lệnh số 150-SL, ký ngày 12-4-1953, về việc lập Toà án nhân dân đặc biệt.

– Sắc lệnh số 151-SL, ký ngày 12-4-1953, về việc trừng trị những địa chủ chống pháp luật.

– Quyết định số 152-QĐ, ký ngày 21-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 153-QĐ, ký ngày 21-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 154-QĐ, ký ngày 21-4-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 156-SL, ký ngày 30-4-1953, giải thể Nha Công chính hoả xa và thành lập 1 cơ quan mới là Nha Công chính trực thuộc Bộ Giao thông Công chính, làm nhiệm vụ chỉ đạo công tác thuỷ nông, đê điều, vận tải và các công tác công chính khác.

– Sắc lệnh số 157-SL, ký ngày 30-4-1953, bổ nhiệm chức Giám đốc Vụ quản lý xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công thương.

– Sắc lệnh số 158-SL, ký ngày 1-5-1953, truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho liệt sĩ Nguyễn Vǎn Luân, hy sinh ngày 10-9-1952, liệt sĩ Đào Mạnh Vy (tức Thế An) – hy sinh ngày 5-12-1951, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho đồng bào Mèo xã Tú Lệ, huyện Vǎn Chấn, tỉnh Yên Bái.

– Quyết định số 160-QĐ, ký ngày 16-5-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 161-SL, ký ngày 19-5-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho bộ đội Kiến An.

– Sắc lệnh số 162-SL, ký ngày 20-5-1953, về việc lấy đồng bạc Ngân hàng quốc gia Việt Nam làm đơn vị tiền tệ trong toàn quốc kể từ 1-6-1953.

– Quyết định số 164-QĐ, ký ngày 22-5-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 165-QĐ, ký ngày 22-5-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Quyết định số 166-QĐ, ký ngày 30-6-1953, bác đơn xin ân giảm án tử hình của 7 phạm nhân can tội làm tay sai cho Pháp và ân giảm án tử hình xuống khổ sai chung thân cho 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 169-SL, ký ngày 18-7-1953, bổ nhiệm các chức vụ: Chánh vǎn phòng Bộ Công an, Giám đốc vụ bảo vệ chính trị, Giám đốc và Phó giám đốc vụ trị an – hành chính, Phó giám đốc vụ chấp pháp và Cục phó cục cảnh vệ.

– Sắc lệnh số 170-SL, ký ngày 18-7-1953, bổ nhiệm ông Lê Thành giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Liên khu III.

– Sắc lệnh số 171-SL, ký ngày 18-7-1953, chấp nhận đơn xin từ chức của ông Đinh Vǎn Đức, Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 172-SL, ký ngày 28-7-1953, chỉ định người bổ sung vào Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Quyết định số 173-QĐ và số 174-QĐ, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 176-SL, ký ngày 18-8-1953, sửa đổi điều 12 và 26 bản điều lệ tạm thời thuế nông nghiệp để giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân nhất là nhân dân nghèo.

– Quyết định số 177-QĐ, ký ngày 18-8-1953, ân giảm án tử hình xuống 20 nǎm tù cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 178-QĐ, ký ngày 18-8-1953, bác đơn xin ân giảm án của phạm nhân, và ân giảm án cho một số phạm nhân.

– Sắc lệnh số 179-SL, ký ngày 18-8-1953, cho phép ông Nghiêm Tử Trình được từ chức Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội.

– Quyết định số 180-QĐ, ký ngày 18-8-1953, bác đơn xin ân giảm án của 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh, ký cuối tháng 8-1953, tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, 4 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, 27 Huân chương Kháng chiến hạng Ba và 9 bằng khen cho các đơn vị và cá nhân có nhiều thành tích trong sản xuất và chiến đấu.

– Sắc lệnh số 182A-SL, ký ngày 2-9-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho nhiều cá nhân và một đơn vị có nhiều thành tích xuất sắc trong sản xuất và chiến đấu.

– Sắc lệnh số 182B-SL, ký ngày 2-9-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho các chuyên gia Trung Quốc có nhiều đóng góp cho Việt Nam.

– Sắc lệnh số 184-SL, ký ngày 6-9-1953, bổ nhiệm Phó giám đốc vụ tổ chức và cán bộ thuộc Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 185-SL, ký ngày 6-9-1953, bổ nhiệm Giám đốc Nha công chính.

– Quyết định số 186-QĐ, ký ngày 6-9-1953, bác đơn xin ân giảm án của 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 187-SL, ký ngày 18-9-1953, chỉ định ông Lê Trung Toản làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội thay ông Nghiêm Tử Trình đã được phép từ chức.

– Quyết định số 188-QĐ, ký ngày 18-9-1953, bác đơn xin ân giảm án của 1 phạm nhân can tội cầm đầu tổ chức lưu manh trộm cướp.

– Quyết định số 189-QĐ, ký ngày 18-9-1953, bác đơn xin ân giảm án của 3 phạm nhân can tội cầm đầu 1 tổ chức làm tay sai cho giặc.

– Quyết định số 190-QĐ, ký ngày 15-10-1953, bác đơn xin ân giảm án của một phạm nhân can tội làm nội gián.

– Sắc lệnh số 191-SL, ký ngày 12-11-1953 cho phép ông Nguyễn Xuân Ngọc từ chức Thư ký Ban kinh tế – tài chính của Chính phủ từ ngày 1-11-1953.

– Sắc lệnh số 193-SL, ký ngày 15-11-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho 17 đơn vị.

– Sắc lệnh số 194-SL, ký ngày 15-11-1953, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho cụ Hà Đình Thân, xã Tân Dân, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang có 9 con tòng quân.

– Quyết định ký ngày 21-11-1953, tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì cho nhân dân và các đơn vị dân công xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái và 3 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cho 3 cá nhân đã lập nhiều thành tích xuất sắc trong công tác cầu đường.

– Quyết định số 195-QĐ, ký ngày 10-12-1953, bác đơn xin ân giảm án của 2 phạm nhân can tội làm tay sai cho giặc và ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho một phạm nhân khác.

– Quyết định số 196-QĐ, ký ngày 10-12-1953, bác đơn xin ân giảm án của 7 phạm nhân can tội làm tay sai cho giặc và ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho 1 phạm nhân, xuống 20 nǎm tù cho 3 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 197-SL, ký ngày 19-12-1953, công bố thi hành “Luật cải cách ruộng đất” do Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 4-12-1953.

– Sắc lệnh số 198-SL, ký ngày 20-12-1953, chỉ định ông Trần Kiên (tức Châu) làm Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Khu Tả ngạn.

NǍM 1954

– Sắc lệnh số 199-SL, ký ngày 4-1-1954, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho cụ Đặng Đức Hàm, xã Minh Phú, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định có 6 con tòng quân.

– Sắc lệnh số 200-SL, ký ngày 15-2-1954, tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho ông Mã Đạt Vệ, cố vấn quân sự Trung Quốc tại Đại đoàn 351.

– Sắc lệnh số 201-SL, ký ngày 15-2-1954, tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho đồng bào và cán bộ khu Tây Bắc; ông Trần Xương, chiến sĩ quân đội Liên khu V, ông Bùi Hương Chất (truy tặng), ủy viên ủy ban kháng chiến hành chính khu Tả ngạn.

– Quyết định số 202-QĐ, ký ngày 12-2-1954, bác đơn xin ân xá tội của hai phạm nhân.

– Quyết định số 203-QĐ, ký ngày 1-4-1954, bác đơn xin ân xá tội của một phạm nhân và ân giảm án tử hình cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 204-QĐ, ký ngày 26-4-1954, bác đơn xin ân xá tội của 1 phạm nhân.

– Sắc lệnh số 205-SL, ký ngày 24-4-1954, chỉ định Chủ tịch và các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính khu Tây Bắc.

– Quyết định số 206-QĐ, ký ngày 28-4-1954, bác đơn xin ân xá tội của 3 phạm nhân và ân giảm án xuống 20 nǎm tù cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 207B-SL, ký ngày 1-5-1954, thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho ông Nguyễn Chiến Mã, Cục trưởng Cục nghiên cứu thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng.

– Quyết định số 208-QĐ, ký ngày 20-6-1954, ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 209-QĐ, ký ngày 20-6-1954, ân giảm án tử hình xuống tù chung thân cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 210-SL, ký ngày 20-6-1954, quy định việc thưởng Bảng vàng danh dự và Bảng gia đình vẻ vang cho bộ đội địa phương.

– Quyết định số 211-QĐ, ký ngày 10-7-1954, bác đơn xin ân xá tội cho một phạm nhân.

– Quyết định số 212-QĐ, ký ngày 10-7-1954, ân giảm án xuống 15 nǎm tù cho 1 phạm nhân.

– Quyết định số 213-QĐ, ký ngày 10-7-1954, bác đơn xin ân xá tội của 7 phạm nhân.

– Quyết định số 214-QĐ và quyết định số 215-QĐ, ký ngày 10-7-1954, ân giảm án xuống tù chung thân cho ba phạm nhân .

– Quyết định số 216-QĐ, ký ngày 10-7-1954, bác đơn xin ân xá tội cho một phạm nhân.

– Sắc lệnh số 217-SL, ký ngày 28-9-1954, thǎng cấp Thiếu tướng cho Đại tá Vương Thừa Vũ.

– Sắc lệnh số 218-SL, ký ngày 1-10-1954, không trừng phạt những người đã hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh và cho họ hưởng quyền tự do dân chủ và những người đã bị xử phạt thì nay thả ra và cho hưởng quyền tự do dân chủ.

– Sắc lệnh số 219-SL, ký ngày 2-9-1954, thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 220-SL, ký ngày 2-9-1954, thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho các ông:

– Vǎn Tiến Dũng, Thiếu tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam .

-Trần Đǎng Ninh, Thiếu tướng, Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp.

-Nguyễn Chánh, Thiếu tướng, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu V.

– Sắc lệnh số 220B-SL, ký ngày 2-9-1954 thưởng Huân chương Độc lập và Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho 6 đơn vị ở Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 220b-SL, ký ngày 18-12-1954, về việc thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho nhà in Trần Phú (Nam Bộ), ngành y tế Nam Bộ, ngành vô tuyến điện Nam Bộ và thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho Đài phát thanh tiếng nói Nam Bộ, ngành ấn loát đặc biệt Nam Bộ, Đội bảo vệ Nam Bộ.

NǍM 1955

– Sắc lệnh số 220-SL, ký ngày 14-1-1955, tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho các Đoàn vǎn công Nam Bộ, Quân đội, Thừa Thiên, Lao-Hà.

– Sắc lệnh số 221-SL, ký ngày 22-2-1955, sáp nhập khu Tả ngạn vào Liên khu III, sửa đổi địa giới Liên khu Việt Bắc và Liên khu III, đặt thành phố Hải Phòng và khu Hồng Quảng trực thuộc Chính phủ.

– Sắc lệnh số 224-SL, ký ngày 14-4-1955, truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Trưởng ban Thường trực Quốc hội khoá I.

– Quyết định số 225-QĐ, ký ngày 27-4-1955, đại xá, ân xá, ân giảm cho một số phạm nhân đã cải tạo tốt.

– Sắc lệnh số 226-SL, ký ngày 29-4-1955, chỉ định Chủ tịch, Phó chủ tịch và các Uỷ viên Uỷ ban quân chính thành phố Hải Phòng.

– Sắc lệnh số 227-SL, ký ngày 29-4-1955, chỉ định Chủ tịch, Phó chủ tịch các Uỷ viên Uỷ ban quân chính khu Hồng Quảng.

– Sắc lệnh số 228-SL, ký ngày 29-4-1955, chỉ định 3 Uỷ viên Uỷ ban hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 229-SL, ký ngày 29-4-1955, ban hành chính sách dân tộc của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

– Sắc lệnh số 230-SL, ký ngày 29-4-1955, ban hành bản quy định về việc thành lập Khu tự trị Thái – Mèo.

– Sắc lệnh số 231-SL, ký ngày 13-5-1955, sửa đổi địa giới một số đơn vị hành chính thuộc hai tỉnh Lào Cai – Yên Bái.

– Sắc lệnh số 232-SL, ký ngày 14-5-1955, bổ nhiệm các ông Trần Quý Hai, Trần Vǎn Trà làm Phó Tổng tham mưu trưởng, Lê Quang Đạo, Song Hào làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị; Nguyễn Thanh Bình, Đinh Đức Thiện làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam .

– Sắc lệnh số 233-SL, ký ngày 14-6-1955, sửa đổi điều 3 và điều 4 trong Sắc lệnh số 150-SL, ngày 12-4-1953, về việc thành lập Toà án nhân dân đặc biệt trong thời gian phát động giảm tô và cải cách ruộng đất.

– Sắc lệnh số 234-SL, ký ngày 14-6-1955, ban hành chính sách tôn giáo của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

cpv.org.vn

Lời tuyên bố trước khi lên đường đi thǎm Liên Xô và Trung Quốc (22-6-1955)

Thưa đồng bào toàn quốc,

Liên Xô và Trung Quốc là hai nước anh em của Việt Nam ta.

Hôm nay, đáp lời mời của Chính phủ Liên Xô và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Đảng Lao động Việt Nam cử một Đoàn đại biểu sang thǎm Liên Xô và Trung Quốc.

Tôi rất sung sướng lãnh đạo Đoàn đại biểu đó, và tin chắc rằng cuộc đi thǎm này sẽ thắt chặt thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với nhân dân và chính phủ hai nước bạn.

Chúc đồng bào mạnh khoẻ và cố gắng thi đua.

—————————–

Nói ngày 22-6-1955.
Báo Nhân dân, số 477, ngày 23-6-1955.
cpv.org.vn

Diễn vǎn đọc tại nhà ga Nam Ninh (23-6-1955)

Các đồng chí thân mến và các bạn,

Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vô cùng vui mừng nhận lời mời sang thǎm nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vĩ đại.

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước anh em. Tình hữu nghị chân thành và sâu xa giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đã có từ lâu. Ngày nay, chúng tôi lại vô cùng cảm động về sự đón tiếp hết sức nồng hậu của các đồng chí và các bạn đối với chúng tôi. Nhân dịp này Đoàn đại biểu chúng tôi xin tỏ lòng chân thành cảm ơn các đồng chí và các bạn.

Trung Quốc là một nước vĩ đại, hùng cường và đẹp đẽ. Nền vǎn hoá lâu đời và ưu tú của Trung Quốc đã có một ảnh hưởng sâu xa ở châu á và trên thế giới.

Từ ngày nhân dân Trung Quốc giành được thắng lợi lịch sử trong cuộc chiến tranh giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc quang vinh, nhân dân Trung Quốc đã tiến triển vượt bực về mọi phương diện trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân Việt Nam coi đó cũng là thành tích của bản thân mình.

Nhân dân Việt Nam ngày nay đang ra sức đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ. Cuộc đấu tranh đó đã được và sẽ luôn luôn được sự khuyến khích và ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân thế giới.

Chúng tôi tin chắc rằng cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng tôi, mặc dầu trường kỳ và mãnh liệt, nhưng nhất định thắng lợi. Một lần nữa, chúng tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhân dân Trung Quốc và nhân dân tỉnh Quảng Tây.

Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc bất diệt!

Chủ tịch Mao Trạch Đông, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Trung Quốc và người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam, muôn nǎm!

——————————-

Đọc ngày 23-6-1955.
Báo Nhân dân, số 479, ngày 25-6-1955.
cpv.org.vn

Lời phát biểu khi đến sân bay Bắc Kinh (23-6-1955)

Thưa Mao Chủ tịch thân mến,

Thưa các đồng chí và các bạn thân mến,

Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vô cùng phấn khởi và sung sướng được mời sang thǎm nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vĩ đại. Chúng tôi trân trọng chào mừng Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đang lãnh đạo nhân dân Trung Quốc thắng lợi tiến lên trên đường xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tỏ lời cảm ơn nhân dân Bắc Kinh đã nhiệt liệt hoan nghênh chúng tôi và nhờ các bạn chuyển tới nhân dân lao động dũng cảm Trung Quốc lời chào sùng kính của chúng tôi.

Cách mạng nhân dân Trung Quốc thắng lợi và sự kiến thiết xã hội chủ nghĩa đang được tiến hành của nhân dân Trung Quốc đã cổ vũ thêm lòng tin tưởng đối với nhân dân thuộc địa và nửa thuộc địa ở phương Đông và toàn thế giới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng của họ và có tác dụng rất lớn đối với việc củng cố hoà bình ở Viễn Đông và trên thế giới. Trải qua mấy mươi nǎm bị đau khổ vì sự áp bức của bọn thực dân, nhân dân Việt Nam đã và đang tiến hành đấu tranh anh dũng. Với sự cố gắng bền bỉ và với ý chí bất khuất để giành lấy hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ ở Việt Nam, nhân dân Việt Nam vĩnh viễn không để cho bất cứ kẻ nào xâm lược nước mình, đồng thời cũng vĩnh viễn không xâm lược nước khác.

Nhân dân Việt Nam luôn luôn ủng hộ tất cả những cuộc đấu tranh chống xâm lược và bảo vệ hoà bình thế giới.

Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hoà bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hoà bình được.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hoà bình. Chúng tôi tin chắc rằng sự hợp tác đó sẽ có lợi cho cả đôi bên và có lợi chung cho công cuộc hoà bình toàn thế giới. Công việc kiến thiết xã hội chủ nghĩa huy hoàng và lực lượng hùng mạnh trong cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới của nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô vĩ đại và các nước dân chủ nhân dân đã làm cho tất cả các nước và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ngày càng tin tưởng rằng nếu việc đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới được tiến hành đến cùng thì hoà bình có thể giữ vững.

Cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam được nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới đồng tình và ủng hộ đã giành được thắng lợi vĩ đại và tiếp tục tiến tới thắng lợi cuối cùng.

Việc sang thǎm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhất định sẽ làm cho tình hữu nghị không gì lay chuyển nổi giữa nhân dân hai nước càng được tǎng cường thêm và nhất định sẽ có ích cho hoà bình thế giới.

Tình hữu nghị bất diệt của nhân dân hai nước Việt – Trung muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

——————————-

Phát biểu ngày 25-6-1955.
Báo Nhân dân, số 481, ngày 27-6-1955.
cpv.org.vn

Có phê bình phải có tự phê bình (4-7-1955)

Báo Nhân dân thường đǎng những bài của bạn đọc hoặc của phóng viên nhà báo phê bình khuyết điểm trong công tác của một số ngành và địa phương. Nói chung nhiều ý kiến phê bình đều có cǎn cứ và những vấn đề phê bình đều là những vấn đề có quan hệ đến đời sống nhân dân và công tác của Nhà nước.

Song phê bình không phải để có phê bình mà cần phải đi đến sửa chữa những khuyết điểm đã nêu ra nếu những khuyết điểm đó đúng. Sau khi báo nêu ý kiến phê bình đã có một số địa phương và cơ quan tự phê bình công khai trên báo và đề ra phương pháp sửa chữa khuyết điểm, như gần đây Tỉnh uỷ Cao Bằng đã gửi bài tự kiểm thảo đǎng báo. Đó là một điều rất tốt. Nhưng cũng còn nhiều việc phê bình nêu lên báo rồi không thấy những cơ quan hay địa phương có vấn đề lên tiếng, như đối với bài phê bình Tỉnh uỷ Thanh Hoá coi nhẹ lãnh đạo sản xuất, nhà ga Hà Nội có những hiện tượng lãng phí, v.v..

Mong rằng các cơ quan hay địa phương có những vấn đề báo đã nêu lên nên phát biểu ý kiến, nói rõ chỗ nào báo phê bình đúng, chỗ nào sai, và có khuyết điểm thì phải sửa chữa như thế nào. Có như thế thì phê bình mới có ích.

H.B.

——————————-

Báo Nhân dân, số 488, ngày 4-7-1955.
cpv.org.vn

Thơ vịnh Vạn lý trường thành (6-7-1955)

Thính thuyết trường thành vạn lý trường,
Đầu liên Đông Hải vĩ Tây Cương,
Kỷ thiên bách vạn lao động giả,
Kiến trúc tư thành trấn nhất phương!

Tạm dịch là:

Thấy nói trường thành dài vạn dặm,
Đầu từ Đông Hải cuối Tây Cương.
Hàng ngàn trǎm vạn người lao động,
Xây đắp ngôi thành trấn một phương!

———————

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,

Nxb Sự thật, Hà Nội, 1956, t.III, tr.168.
cpv.org.vn

Nhìn ra biển lớn: Câu chuyện lập chí của Bác thời trẻ

Nguồn YouTube

“Nhìn ra biển lớn” là bộ phim truyện nhựa kể về quãng thời gian hơn hai năm của thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Bác Hồ thời trẻ) vừa hoàn thành kịp tiến độ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Kịch bản phim “Nhìn ra biển lớn” của Giám đốc Hãng phim Hội Điện ảnh Việt Nam – Nguyễn Thị Hồng Ngát đã đoạt giải A trong cuộc thi kịch bản phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội do Cục Điện ảnh tổ chức và được Bộ VHTTDL đặt hàng sản xuất bộ phim này.

Diễn viên Minh Đức trong vai Nguyễn Tất Thành

Lát cắt thời gian trong câu chuyện phim từ năm 1908-1910. Thời điểm này, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đang là một học sinh xuất sắc của trường Quốc học Huế. Sớm nghe chuyện vua Hàm Nghi chống Pháp, sớm chứng kiến cảnh vua Thành Thái bị đi đày nên lòng yêu nước thù giặc càng thôi thúc trong lòng chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Bởi vậy, khi phong trào nông dân, tiểu thương biểu tình chống sưu cao thuế nặng, Nguyễn Tất Thành đã dũng cảm đi đầu trong đoàn người để phiên dịch giúp đồng bào. Phong trào bị đàn áp, Nguyễn Tất Thành bị thương. Sau đó anh bị đuổi học. Tìm vào huyện Bình Khê (Bình Định) nơi cha đang làm tri huyện, Nguyễn Tất Thành được cha dẫn đến gặp người bạn của ông là Hồ Tá Bang – Tổng lý Công ty nước mắm Liên Thành cũng là người đồng sáng lập trường Dục Thanh ở Phan Thiết để anh được dạy học tại ngôi trường này. Qua hai năm dạy học, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã để lại một dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí những thầy giáo, học sinh, những chí sĩ yêu nước. Dù lưu luyến nơi đây nhưng cuối cùng, như con chim bằng đã đủ lông đủ cánh sau bao ngày rèn chí, Nguyễn Tất Thành cũng vẫn lựa chọn sự ra đi. Thông điệp: “Muốn làm việc lớn phải dám ra biển lớn” của bộ phim thể hiện nổi bật ở đoạn kết này.

Tuy nhiên, có thể do thời gian thúc bách nên bộ phim không tránh khỏi một số hạt sạn. Ngôn ngữ được các nhân vật sử dụng trong phim là tiếng Hà Nội nên chưa tạo cho người xem sự đồng cảm. Nếu các nhà làm phim lồng tiếng đúng với âm điệu lời nói ở quê hương của chính nhân vật thì hay biết bao. Một số chi tiết chưa được tìm hiểu kỹ đã làm giảm đi sức hấp dẫn của bộ phim như chi tiết quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc mắng con sao lại làm thông ngôn giúp bà con để bị đuổi học thì không hợp với điều mà quan Phó Bảng dạy con: “Đừng đợi đến tuổi tráng niên mà muộn, hãy gánh lên vai tất cả từ tuổi hoa niên”. Hoặc chi tiết cụ Nguyễn Sinh Sắc khuyên con không lựa chọn theo tư tưởng ông Phan Bội Châu thì không đúng với tư liệu lịch sử, trong đó cho biết ông Phan Bội Châu và cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng chí hướng. Hoặc chi tiết giữa khi biển động, Nguyễn Tất Thành dám ra khơi cùng ngư dân đánh cá nhưng trên phim lại là hình ảnh biển đẹp, nắng vàng, gió nhẹ, sóng lăn tăn, lưới nặng cá… và điều gây ngạc nhiên là một chàng trai từ bé đã gắn bó với biển như Nguyễn Tất Thành lại… say sóng.

Nhìn tổng thể, bộ phim “Nhìn ra biển lớn” đã khắc họa được khá sinh động giai đoạn tuy ngắn ngủi nhưng đã thể hiện lòng yêu nước, quyết tâm lập chí của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Từ Khôi
daidoanket.vn

Lời phát biểu ở Ulan Bato Thủ đô Mông Cổ (8-7-1955)

Thưa đồng chí Thủ tướng,

Thưa các đồng chí và các bạn thân mến,

Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất vui mừng có dịp đến Ulan Bato, Thủ đô của nước bạn Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ. Chúng tôi xin cảm ơn các đồng chí đã đón tiếp chúng tôi một cách nhiệt liệt và chúng tôi nhờ các đồng chí chuyển đến nhân dân lao động Mông Cổ lời chào hữu nghị của nhân dân Việt Nam.

Từ nước Việt Nam qua Trung Quốc đến nước Mông Cổ, đường tuy xa nhưng cùng chung một lý tưởng, cùng chung một ý chí: bảo vệ hoà bình và xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc.

Những thành tích xây dựng xã hội chủ nghĩa của anh em Mông Cổ làm nhân dân Việt Nam rất phấn khởi. Thay mặt nhân dân Việt Nam, chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn các bạn đã đồng tình và ủng hộ chúng tôi trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong cuộc đấu tranh hiện tại để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước Việt Nam.

Chúng tôi tin chắc rằng tình hữu nghị và sự hợp tác giữa hai nước chúng ta nhất định sẽ ngày càng phát triển góp phần vào công cuộc bảo vệ hoà bình châu á và thế giới.

Tình đoàn kết anh em giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Mông Cổ muôn nǎm!

—————————-

Phát biểu ngày 8-7-1955.
Báo Nhân dân, số 494, ngày 10-7-1955.
cpv.org.vn

Lời đáp tại sân bay Iêccút (Liên Xô) (9-7-1955)

Các đồng chí thân mến

Các bạn,

Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tỏ lòng thành thật cảm ơn các đồng chí và các bạn đã đón tiếp một cách nồng nhiệt. Tôi xin chuyển đến các đồng chí và các bạn lời chào thân ái của nhân dân Việt Nam, chúc mừng tất cả các đồng chí và các bạn thu được nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp vĩ đại xây dựng chủ nghĩa cộng sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Đảng Cộng sản Liên Xô muôn nǎm!

Tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

Chủ nghĩa cộng sản muôn nǎm!

———————————-

Đọc ngày 9-7-1955.
Báo Nhân dân, số 495, ngày 11-7-1955.
cpv.org.vn

Điện mừng Quốc khánh nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ (11-7-1955)

Kính gửi đồng chí Xǎmbu, Chủ tịch Chủ tịch đoàn Quốc hội nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ và đồng chí Xêđenban, Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 34 ngày Cách mạng nhân dân Mông Cổ thắng lợi, tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, gửi hai đồng chí, nhân dân và Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ lời chào mừng nhiệt liệt.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chúc nhân dân Mông Cổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ, với sự giúp đỡ hết lòng của Liên Xô, sẽ thu được nhiều thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ gìn và củng cố hoà bình trên thế giới.

Tôi xin chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta ngày thêm thắm thiết và chặt chẽ vì lợi ích của nhân dân hai nước chúng ta và vì lợi ích của hoà bình.

Chủ tịch kiêm Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————-

Báo Nhân dân, số 495, ngày 11-7-1955.
cpv.org.vn