Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh

QĐND – Thắng lợi vĩ đại của quân và dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được ví như một cuộc “chiến đấu thần kỳ” và trở thành biểu tượng của lương tri và phẩm giá con người. Mỗi chiến công trong cuộc chiến đấu ấy là một kỳ tích. “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” 40 năm trước là một chiến công như thế – tiêu biểu cho khí phách anh hùng, tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Trong cuộc đụng đầu với không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời thủ đô Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972, quân và dân Việt Nam chẳng những không bị khuất phục trước sức mạnh “không thể tưởng tượng nổi” của không lực Hoa Kỳ mà còn làm cho hàng chục “pháo đài bay B-52”, “con ma”, “thần sấm” phải phơi xác ngay trên mảnh đất thiêng Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Thắng lợi giòn giã của quân và dân Việt Nam làm nức lòng bạn bè quốc tế, khiến cho dư luận thế giới ngỡ ngàng, thán phục và liên tưởng đến một “Điện Biên Phủ thứ hai – Điện Biên Phủ trên không”. Như vậy, Mỹ cũng như Pháp 18 năm trước đó (5-1954), dù đã đẩy nỗ lực quân sự lên mức cao nhất nhằm cứu vãn tình thế trong cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng, phải chịu thất bại trước ý chí, quyết tâm ngoan cường, trí tuệ, sức sáng tạo và bản lĩnh của quân và dân Việt Nam. Thắng lợi của 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cùng với thắng lợi trên chiến trường cả nước đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh, mở ra thời cơ chiến lược để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Phát huy truyền thống “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, các đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân đang ra sức thi đua huấn luyện giỏi, SSCĐ cao. Trong ảnh: Máy bay Trung đoàn Không quân 935, Sư đoàn Không quân 370 xuất kích thực hiện nhiệm vụ. Ảnh: Xuân Cường

Chiến công oanh liệt “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã cách đây bốn thập kỷ. Tuy nhiên, độ lùi thời gian chẳng thể làm mờ ký ức của một thời lửa đạn, mà càng làm cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về sự kiện lịch sử trọng đại này; về những nhân tố làm nên một trong những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vừa là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại chiến công hào hùng của quân và dân ta, đồng thời, thêm một lần khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đặc biệt, đây cũng là dịp để chúng ta đi sâu tìm tòi, nghiên cứu về những nhân tố làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, cuộc đọ sức 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 nói riêng; qua đó, làm sáng tỏ thêm sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại mới, mà nhân lõi của nó được biểu hiện bằng tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Từ thực tiễn lịch sử phong phú và tầm vóc, ý nghĩa to lớn của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta cùng nhau suy ngẫm về những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, về nhãn quan chiến lược nhạy bén của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dự báo, tổ chức chuẩn bị mọi mặt để đối phó với âm mưu, thủ đoạn và các bước phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ.

Binh pháp người xưa có câu: “Biết địch biết ta, trăm trận không nguy”. Kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm dụng binh của người xưa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở nhìn nhận đánh giá tình hình trong nước, quốc tế, nhận rõ bản chất đối tượng của cách mạng Việt Nam, tương quan so sánh lực lượng, đã hoạch định đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, phù hợp với điều kiện của đất nước. Đó là điều kiện tiên quyết để khi bước vào cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chủ động, bình tĩnh điều hành, xử lý và thực hiện các tình huống chiến lược, giữ vững và tăng cường thế tiến công.

Từ đầu năm 1965, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những dự báo về âm mưu, thủ đoạn leo thang và mở rộng chiến tranh của Mỹ. Đối với hậu phương miền Bắc, Đảng xác định, trong khi đề cao khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến lớn miền Nam, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại đến một trình độ ác liệt gấp bội, hoặc chuyển nó thành một cuộc “chiến tranh cục bộ” ở cả miền Nam lẫn miền Bắc[1].

Đi đôi với xác định nhiệm vụ chiến lược của miền Bắc, Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh toàn diện các mặt công tác ở hậu phương, nhất là công tác tư tưởng và tổ chức trong điều kiện chiến tranh lan rộng ra cả nước. Đối với công tác tư tưởng, Đảng đặt ra yêu cầu: Cần phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhận rõ âm mưu và hành động mới của Mỹ, nhận rõ chỗ mạnh và chỗ yếu, thuận lợi và khó khăn của ta và của địch; nhận rõ ta đang chiến thắng, nhất định sẽ thắng, Mỹ đang thất bại và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Trên cơ sở đó xây dựng ý chí, niềm tin quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của chúng, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng tinh thần tự lực cánh sinh, chống chủ quan khinh địch.

Cùng với công tác tư tưởng, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan của Nhà nước, Quân đội mở các hội nghị phòng không nhân dân, xây dựng kế hoạch tác chiến phòng không, sơ tán, bảo vệ các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, kho tàng, bến bãi, trọng điểm giao thông. Lực lượng đánh máy bay và tàu chiến Mỹ với nòng cốt là Quân chủng PK-KQ và Quân chủng Hải quân đã được tăng cường về nhiều mặt, cả về người và vũ khí trang bị, cả kế hoạch tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác, tạo thế trận liên hoàn của “chiến tranh nhân dân đất đối không, đất đối biển”.

Có thể nói, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân và dân miền Bắc đã cùng cả nước bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ và đương đầu với sự đánh phá ác liệt của không quân, hải quân Mỹ trên tư thế hiên ngang, chỉ biết ngẩng cao đầu. Ý chí và niềm tin tất thắng đã tạo ra và nhân lên sức mạnh vô cùng to lớn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn đánh phá của kẻ thù. Hậu phương miền Bắc chẳng những trụ vững trước mưa bom bão đạn của địch, mà vẫn tăng cường và đẩy mạnh hoạt động chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Với tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép quân và dân ta trên miền Bắc chủ động trong mọi tình huống; không bị bất ngờ trước quy mô và thủ đoạn đánh phá của địch. Trải qua hai cuộc chống chiến tranh phá hoại (1965-1968; 1972), quân và dân miền Bắc đã được tôi luyện mọi mặt và bởi vậy, khi quân Mỹ mở cuộc tập kích bằng không quân chiến lược vào thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, chúng đã bị giáng trả mạnh mẽ, đích đáng. Lưới lửa phòng không nhiều tầng của quân và dân miền Bắc trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã hợp thành thế trận “thiên la địa võng” đón đánh và tiêu diệt lực lượng không quân chiến lược và chiến thuật của Mỹ.

Rõ ràng, thắng lợi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mà quân và dân ta giành được đã chứng tỏ nhãn quan chiến lược nhạy bén, sâu rộng của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đụng đầu với không quân chiến lược Mỹ cuối năm 1972 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán từ cuối năm 1967, rằng: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”[2].

Hai là, về xây dựng tổ chức lực lượng và thế trận nhằm phát huy sức mạnh, hiệu quả của tác chiến phòng không nhân dân trong chiến dịch 12 ngày đêm bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Trong suốt quá trình của chiến tranh và nhất là trong cuộc đọ sức giữa mặt đất và bầu trời 12 ngày đêm với không lực Mỹ trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972, nếu chỉ bằng con số thông thường khi so sánh tương quan lực lượng, vũ khí trang bị, người ta khó có thể lý giải vì sao, thắng lợi cuối cùng lại thuộc về bên có trang bị ít hơn, kém hiện đại hơn. Câu trả lời: Chính là nhờ chúng ta dám đánh, biết đánh, với bản lĩnh Việt Nam đã xây dựng, tổ chức được lực lượng và thế trận độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã phát huy tối đa sức mạnh, hiệu quả của tác chiến phòng không.

Công tác xây dựng, tổ chức, bổ sung, phát triển lực lượng tác chiến phòng không đã có quá trình chuẩn bị và rèn luyện lâu dài, ngay từ khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, đầu năm 1965. Trong những năm này, lực lượng cao xạ từ 12 trung đoàn và 14 tiểu đoàn phát triển thành 21 trung đoàn, 41 tiểu đoàn, trong đó có 8 trung đoàn cơ động, hình thành một mạng lưới phòng không tầm thấp và tầm trung mạnh ở các yếu địa, đồng thời có khả năng cơ động, tạo thành những cụm pháo cao xạ bảo vệ từng khu vực. Ngày 1 tháng 5 năm 1965, bộ đội tên lửa phòng không ra đời (Trung đoàn 236 – Trung đoàn Sông Đà) và chỉ một tháng sau, lực lượng này phát triển thành hai trung đoàn (thêm Trung đoàn 238). Lớp cán bộ đầu tiên của hai trung đoàn được chọn từ nhiều quân binh chủng, phần đông được thử thách trong thực tế chiến đấu và công tác. Công tác huấn luyện binh chủng kỹ thuật hiện đại của lực lượng phòng không được tiến hành bài bản, hết sức khẩn trương với sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô. Bộ đội không quân cũng phát triển từ một trung đoàn lên 3 trung đoàn, sử dụng hai loại máy bay chiến đấu MiG 17 và MiG 21. Bộ đội ra-đa phát triển từ 2 trung đoàn lên 4 trung đoàn thuộc Quân chủng PK-KQ[3].

Các lực lượng tác chiến phòng không của quân đội ta vừa ra đời đã bước vào cuộc thử lửa trước không quân hiện đại Mỹ. Ngay từ những trận đầu ra quân, bộ đội không quân xuất kích bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa, đầu tháng 4-1965), bộ đội tên lửa phóng quả đạn đầu tiên từ trận địa Suối Hai (Hà Tây, ngày 24-7-1965) đã giành thắng lợi giòn giã, bắn rơi máy bay hiện đại Mỹ. Thực hiện phương châm vừa huấn luyện, vừa chiến đấu, vừa rút kinh nghiệm, chúng ta đã từng bước phát triển, trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, nhất là kỹ thuật chiến đấu và khả năng tác chiến hiệp đồng giữa các lực lượng. Bộ đội tên lửa có quá trình bám đánh B-52 trên chiến trường Khu 4. Ngày 17-9-1967, Trung đoàn tên lửa H38 (SAM2) đã bắn hạ một B-52 giữa đất thép Vĩnh Linh (Quảng Trị). Kinh nghiệm chiến đấu được phổ biến và nhân rộng, đặc biệt, xuất hiện những cuốn sách nhỏ (Phương án tháng 9[4], Hội nghị tháng 10[5], Cẩm nang bìa đỏ[6]), những hình thức tuyên truyền phổ biến kinh nghiệm chiến đấu hết sức sinh động (Gánh hát rong[7]). Trải qua quá trình chiến đấu, lực lượng tác chiến phòng không của quân đội phát triển, trưởng thành nhanh chóng, thực sự là nòng cốt cho thế trận phòng không nhân dân. Sự phối hợp, hiệp đồng giữa chiến đấu và bảo đảm chiến đấu giữa các lực lượng ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.

Song song với công tác tổ chức và bảo đảm lực lượng chiến đấu, quân đội phối hợp với nhân dân làm tốt công tác phòng không, sơ tán, bảo đảm an toàn về người và vật chất. Đây là công việc rất lớn, đòi hỏi các ngành, các cấp, các lực lượng phải vào cuộc. Nhiều trường học, nhà trẻ, bệnh viện, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp được di dời khỏi trọng điểm đánh phá, được bố trí dưới hầm sâu, địa đạo là những hình ảnh quen thuộc của miền Bắc trong những tháng năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Có thể nói, quá trình tổ chức, xây dựng mọi mặt trong những tháng năm trước đó là bước chuẩn bị kỹ càng để khi bước vào chiến dịch phòng không cuối năm 1972, quân và dân ta đã có được một lực lượng và thế trận chủ động, giáng trả mạnh mẽ lực lượng không quân Mỹ ngay từ giờ phút đầu tiên chúng bay vào ném bom, đánh phá Hà Nội (18-12-1972). Để giành và giữ thế chủ động trong cuộc đối đầu với cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ, trong công tác tổ chức lực lượng, Quân chủng PK-KQ – lực lượng chủ công được bổ sung và tăng cường một số lượng lớn cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, biên chế trong đội hình của 26 trung đoàn phòng không, 41 tiểu đoàn tên lửa, 4 trung đoàn không quân, 36 đại đội ra-đa. Trên địa bàn thủ đô Hà Nội, lực lượng cơ động của Bộ cùng với lực lượng tại chỗ và các đơn vị, tổ đội DQTV tại khu phố, phường, xã, quận, huyện, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện… đã phối hợp tổ chức thế trận hiệp đồng chiến đấu nhiều tầng, nhiều lớp, với 30 trận địa tên lửa, 100 trận địa pháo cao xạ, hàng trăm trận địa súng pháo bắn máy bay tầm thấp được đặt trên các nóc nhà, các vị trí xung yếu.

Trong quá trình chiến đấu, với thế trận bố trí khoa học, hợp lý, các lực lượng phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả, vừa tập trung được hỏa lực nhưng đồng thời, vừa có thể đánh địch từ xa đến gần. Theo phân công, bộ đội tên lửa và không quân tập trung đánh tiêu diệt lực lượng không quân chiến lược (B-52) ở tầm bay cao; các lực lượng khác đánh tiêu diệt không quân chiến thuật. Như vậy, ở tầng nào cũng có lực lượng đánh tiêu diệt không quân địch. Lưới lửa của lực lượng ba thứ quân và thế trận phòng không nhân dân “thiên la địa võng” khiến cho không quân Mỹ lúng túng, bị động. Ở đâu, ở tầm bay nào chúng cũng bị bám đánh bằng các loại đạn từ đạn tên lửa của bộ đội chủ lực cho đến đạn súng trường của lực lượng DQTV. Với lực lượng và thế trận hoàn chỉnh, sự phối hợp chiến đấu nhịp nhàng, linh hoạt, hiệu quả, quân và dân thủ đô Hà Nội cùng quân và dân miền Bắc, nòng cốt là Quân chủng PK-KQ đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay hiện đại, trong đó có 34 “pháo đài bay” B-52.

Như vậy là, sức mạnh chiến đấu không phải chỉ ở số lượng và tính hiện đại của vũ khí trang bị, mà điều quan trọng là việc bố trí lực lượng và thế trận, khả năng phối hợp hiệp đồng trong quá trình chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Lực lượng và thế trận của chiến tranh nhân dân trên miền Bắc đã chứng tỏ sức mạnh, hiệu quả trong tác chiến với lực lượng không quân Mỹ, mà đỉnh cao là chiến dịch 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 trên bầu trời thủ đô Hà Nội.

Lực lượng và thế trận của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trên hết và hơn hết biểu hiện cho ý chí ngoan cường, dũng cảm, trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam, của nghệ thuật quân sự Việt Nam độc đáo, thể hiện trong phương châm chiến lược “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn” và thắng địch bằng “Mưu, Kế, Thế, Thời”.

Ba là, về nhân tố con người và khả năng làm chủ vũ khí trang bị, kỹ thuật.

Chúng ta đều biết, Mỹ là cường quốc hàng đầu trên thế giới, với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật vượt trội. Sức mạnh của Mỹ đã được phô diễn trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam bằng những sư đoàn kỵ binh (máy bay trực thăng), lữ đoàn dù, trung đoàn thiết giáp, “siêu pháo đài bay” B-52… Thế nhưng, mọi kỹ thuật hiện đại của vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu, cùng với hơn nửa triệu quân Mỹ và tiền của được đổ vào chiến trường Việt Nam đã không mang tới thắng lợi cho Mỹ. Dù đã áp dụng ba chiến lược chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, Việt Nam hóa), sử dụng mọi vũ khí có trong tay (trừ bom hạt nhân), nhưng kết cục Mỹ vẫn không xoay chuyển được tình thế. Con bài cuối cùng trong nỗ lực chiến tranh của Mỹ chính là mở cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân vào thủ đô Hà Nội, sử dụng hàng trăm “siêu pháo đài bay” B-52 để uy hiếp và phá hủy tiềm lực của hậu phương miền Bắc, hòng tạo thế mạnh trên bàn Hội nghị Pa-ri… rồi cũng thất bại nốt. Nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, trong các trận đọ sức trên chiến trường, theo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ (1962-1968) Mắc Na-ma-ra là do Mỹ không hiểu con người và nền văn hóa Việt Nam. Thật vậy, con người Việt Nam, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã thực sự tỏa sáng trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 nói riêng.

Đặc điểm nổi bật của cuộc đối đầu giữa quân và dân ta với không quân Mỹ là tính chất, hàm lượng khoa học kỹ thuật, khả năng làm chủ vũ khí, khí tài. Mỹ đã tung vào cuộc tập kích chiến lược những phương tiện chiến đấu và vũ khí tối tân (B-52, bom điều khiển, máy tạo nhiễu), trong lúc đó, vũ khí quân ta có trong tay chỉ dừng ở mức tương đối hiện đại, đó là máy bay MiG 21, tên lửa SAM 2, pháo phòng không cỡ nòng 100mm, ra-đa P35. Chỉ riêng việc so sánh về tính năng của vũ khí, khí tài đã thấy một sự chênh lệch lớn giữa ta và địch. Thế nhưng, bước vào chiến đấu, những vũ khí bầu trời và mặt đất của quân và dân Việt Nam đã phát huy tác dụng, bám đánh và tiêu diệt nhiều máy bay hiện đại Mỹ, trong đó có B-52. Ở đây, yếu tố trung tâm, quyết định chính là con người. Con người Việt Nam, một thế hệ mới – thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh, được lớn lên, học tập và trưởng thành trong môi trường của chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa, những con người Việt Nam mới ấy được giáo dục, bồi đắp lòng yêu nước, căm thù giặc, được truyền thụ kiến thức toàn diện về tự nhiên, xã hội, có lý tưởng cách mạng, có tinh thần, bản lĩnh sẵn sàng nhận hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc, nhân dân và Đảng giao phó. Vào quân đội, họ trở thành lính bộ binh, lính pháo, xe tăng, tên lửa, ra-đa, phi công… Dù ở binh chủng nào, nhờ có kiến thức, khả năng tìm tòi và óc sáng tạo, họ đã sớm làm quen, thuần thục và thực sự làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật.

Cuộc chiến đấu sinh tử với “giặc trời” Mỹ trong 12 ngày đêm, một lần nữa minh chứng cho khối óc sáng tạo phi thường, trí thông minh và bản lĩnh của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ra-đa P35 “vạch nhiễu tìm thù”, máy bay tiêm kích MiG bé nhỏ bắn rơi B-52, tên lửa SAM 2 và cả khẩu súng trường bắn rơi “con ma”, “thần sấm”. Con người Việt Nam bằng ý chí học hỏi vươn lên, với lòng dũng cảm, trí thông minh và sức sáng tạo đã làm cho tất cả vũ khí có trong tay đều phát huy tác dụng. Không dừng lại ở kỹ thuật sử dụng đơn thuần mà phát triển thành nghệ thuật phối hợp các loại vũ khí, tạo ra “lưới lửa” phòng không dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp, vòng trong, vòng ngoài, khiến cho đối phương bất ngờ, khiếp đảm và phải chịu trận. Có thể nói, thắng lợi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thực sự là nét tiêu biểu cho phẩm chất mới của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Bốn là, về sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế và của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Chúng ta luôn luôn ghi nhớ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn về tinh thần, vật chất, vũ khí, trang bị kỹ thuật của chính phủ và nhân dân các nước, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc. Không chỉ giúp về vật chất, các nước bạn còn giúp đào tạo cán bộ, sĩ quan, nhân viên kỹ thuật, cử chuyên gia hướng dẫn, tham mưu, trực tiếp chiến đấu và chịu đựng gian khổ, hy sinh cùng quân và dân ta. Sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của bè bạn là những vốn quý để tăng cường sức mạnh của công cuộc kháng chiến, tăng cường tiềm lực quân sự, khả năng và nghệ thuật tác chiến của quân đội. Đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi trong từng trận đánh, từng chiến dịch và toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng ta cũng ghi nhận sự ủng hộ to lớn của nhân dân và các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới và cả nhân dân tiến bộ Mỹ đã lên tiếng, xuống đường phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Với truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, chúng ta luôn ghi tạc sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình trên tinh thần quốc tế vô sản của Liên Xô, Trung Quốc, các nước anh em và bạn bè thế giới.

40 năm đã qua, trở lại với một sự kiện lịch sử mà tầm vóc, ảnh hưởng và ý nghĩa của nó không chỉ đối với Tổ quốc – dân tộc Việt Nam mà còn vang vọng khắp năm châu bốn biển, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” gợi mở nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Chúng ta cần phải tiếp tục tìm tòi, làm sáng tỏ thêm về sự kiện lịch sử này, đúc rút những kinh nghiệm quý, những bài học hay, vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội quân mang bản chất nhân dân sâu sắc, luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, gắn bó máu thịt với nhân dân. Trong chiến dịch 12 ngày đêm, quân đội, mà trực tiếp là lực lượng của Quân chủng Phòng không – Không quân đã cùng với quân và dân thủ đô Hà Nội, quân và dân miền Bắc lập nên chiến công vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Kỳ tích của ngày hôm qua là thực tiễn sinh động, tiêu biểu cho ý chí, nghị lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tiêu biểu cho thắng lợi của đường lối, tư tưởng chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời thể hiện sự kế thừa, phát triển văn hóa giữ nước, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh.

Đại tướng PHÙNG QUANG THANH
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

———————

[1] Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập II (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 296.

[2] Hồ Chí Minh: Biên niên sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr. 203.

[3] Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 223-225.

[4] Là phương án đánh B-52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng mà Bộ Tham mưu Quân chủng chuẩn bị, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng duyệt và được cấp trên phê chuẩn vào tháng 9-1972.

[5] Là hội nghị nhằm tổng kết những kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở các đơn vị, bằng những luận cứ khoa học và trên cơ sở thực tiễn được đúc rút thành lý luận, sự tin tưởng vào bộ đội tên lửa, về khả năng bắn rơi tại chỗ máy bay B-52.

[6] Là cuốn sách hướng dẫn cách đánh B-52, có bìa màu đỏ, do Phòng Tác huấn tên lửa và Phòng Khoa học quân sự biên soạn…

[7] Hình thức phổ biến, truyền đạt kinh nghiệm chiến đấu ngay tại trận địa.

Bác Hồ xem Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài

Tháng 6 năm 1956, đoàn Ca kịch liên khu 4, tiền thân của Nhà hát Cải lương Trung ương bây giờ, được lệnh vào Phủ Chủ tịch biểu diễn phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương.

Khỏi phải nói là anh em nghệ sĩ cũng như cán bộ, công nhân viên trong Nhà hát phấn khởi đến nhường nào. May mắn, đêm ấy sân khấu biểu diễn dựng ở ngoài trời mà thời tiết như chiều lòng người, rất đẹp, thật mát mẻ và dễ chịu.

Trước buổi biểu diễn, đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng bê một chiếc ghế tựa tới đặt ở hàng đầu để Bác ngồi xem. Đêm ấy vở diễn Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài đã được diễn với một không khí nghiêm túc cộng với sự nỗ lực hết mình của tất cả diễn viên. Và lẽ đương nhiên, buổi diễn đã thành công rực rỡ trong tiếng vỗ tay vang dội của mọi người. Như mọi lần, vở diễn kết thúc, Bác lên sân khấu động viên và khen tặng anh chị em. Tặng hoa cho các diễn viên xong, Bác giơ tay ra hiệu mọi người im lặng rồi đột nhiên Người nói:

– Một đôi Sơn Bá, Anh Đài

Chữ tình đáng trọng, chữ tài đáng thương.

Mọi người chưa kịp ngạc nhiên vì câu thơ xuất thần của Bác thì Bác đã chỉ tay vào diễn viên đóng vai bố của Chúc Anh Đài, tiếp:

Chỉ vì lão già dở dở ương ương

Làm cho đôi lứa dở dang không thành

Đánh cho phong kiến tan tành

Để bao nhiêu Anh Đài, Sơn Bá lại thành lứa đôi.

Đọc xong câu thơ cuối cùng, Bác choàng tay, âu yếm ôm vai hai diễn viên đóng Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài. Mọi người đứng hết cả dậy và tiến đến vây quanh Bác, sung sướng và xúc động trong tiếng vỗ tay như sấm…

HOÀNG AN
qdnd.vn

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” Bài học lịch sử giá trị cho thế hệ trẻ hôm nay

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng anh hùng đã chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược có sức mạnh và tầm vóc về quân sự, kinh tế mạnh hơn rất nhiều lần để giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, là một trong những chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, là chiến công oanh liệt trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, mãi mãi là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, là bài học lịch sử giá trị cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Chien thang DBP 1

Cách đây tròn 40 năm, vào cuối tháng 12 năm 1972, quân, dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh lân cận và bộ đội Phòng không – Không quân đã làm nên một chiến tích kỳ diệu: Đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô chưa từng có trong lịch sử, chủ yếu bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây thực sự là một chiến công mang tầm vóc thời đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX, một trận “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút quân về nước; tạo bước ngoặt quyết định để quân và dân ta “đánh cho Mỹ cút”, tiến đến “đánh cho Nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đã 40 năm trôi qua nhưng Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được đánh giá là một trong 10 chiến thắng vĩ đại nhất lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, là sự tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Nghiên cứu các tư liệu lịch sử, những hiện vật giá trị được lưu giữ trong các Bảo tàng, qua hồi ức chiến tranh của những nhân chứng sống…Có thể nói, sự tàn khốc của cuộc chiến năm ấy đã qua đi nhưng tầm vóc và ý nghĩa chiến thắng vang dội của 12 ngày đêm rực lửa vẫn còn vẹn nguyên, âm vang mãi trong ký ức. Đối với mỗi người dân Việt Nam và đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay, chiến thắng đó là một sự kiện lịch sử, chứa chan niềm tự hào, tạo động lực và thúc giục họ lập tiếp chiến công, viết nên trang sử mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần của thanh niên Việt Nam là “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Các thế hệ thanh niên nước ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, không sợ mưa bom bão đạn, góp sức cùng cả nước lập nên những chiến công hiển hách, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân… Bước vào công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh và sau hơn 20 năm trên con đường đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội; sự hợp tác, hòa bình, ngoại giao song phương, đa phương đã được duy trì, phát triển trở thành xu thế chính nhưng trước những diễn biến và bối cảnh phức tạp, nhiều biến động của khu vực và trên thế giới vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định rất khó lường đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải kế thừa bài học của lịch sử, bài học của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”  vận dụng trong điều kiện, hoàn cảnh mới, cần tiếp tục chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, xây dựng lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ ngày nay.

Chien thang DBP 2

Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều

Ngày 21-12-1972, trong bức thư gửi bố mẹ của Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều, có đoạn viết: “Bố mẹ thân yêu! Qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề vì phải đứng nhìn lửa đạn hết đợt này đến đợt khác rải xuống Hà Nội. Con thấy uất ức lắm vì chưa làm được gì. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà của mình, cũng không có quyền nghĩ đến bản thân..”. Và đến đêm ngày 28-12-1972, người phi công dũng cảm này đã thực hiện được mơ ước của mình khi cùng chiếc MIG-21 thân yêu biến thành quả tên lửa thứ 3 lao vào thiêu cháy B-52 Mỹ. Nhắc gợi chiến thắng vang dội cách đây 40 năm, sự hi sinh anh dũng, quả cảm của những người trực tiếp lập công trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đều ở lứa tuổi 20, còn rất trẻ như phi công Vũ Xuân Thiều nhưng đã rất bản lĩnh, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, khao khát tiêu diệt được B-52 của Mỹ là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam noi theo, là cơ hội để các thế hệ nhắc nhở nhau luôn học tập và rèn luyện, làm chủ khí tài, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ bầu trời Tổ quốc, khơi dậy truyền thống anh hùng, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Trước những bài học đó, bản thân mỗi thế hệ thanh niên Việt Nam hiện cần tập trung xây dựng và giữ vững toàn diện về lập truờng tư tưởng, bản lĩnh chính trị, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, đoàn kết, thống nhất và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Tích cực siêng học, năng rèn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chủ động, nhạy bén, sáng tạo nghiên cứu, tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến, đi tắt đón đầu; phát huy truyền thống vinh quang của tuổi trẻ, xung kích đi đến những vùng miền của đất nước còn khó khăn, hăng hái lao động sản xuất, giữ gìn trật tự an ninh và an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa như Bác Hồ kính yêu đã dạy “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lương xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước, có thể khẳng định, trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, thế hệ trẻ Việt Nam có một vị trí trung tâm, chiến lược đặc biệt quan trọng và xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, việc đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao lòng tự hào về truyền thống của dân tộc, của Quân đội nhân dân Việt Nam – Quân chủng Phòng không – Không quân, nhất là truyền thống đánh thắng B-52; xây dựng  ý chí quyết đánh, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tự lực, tự cường; ý chí vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật; ý thức tổ chức kỷ luật; tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân… khắc phục những biểu hiện hoang mang, dao động, thiếu tự tin trong thế hệ trẻ hôm nay là việc làm rất quan trọng và cần thiết.

Là lớp thanh niên được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ thống nhất, sống, học tập, làm việc trong hòa bình, hưởng thành quả cách mạng mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh gian khổ giành được, tuy không được chứng kiến thời khắc hào hùng của dân tộc, nhưng qua những trang sách, qua những lời kể của nhân chứng lịch sử, thế hệ trẻ chúng tôi cảm nhận sâu sắc Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm của thế hệ thanh niên trong cuộc chiến 12 ngày đêm sẽ mãi là phần quan trọng trong hành trang của mỗi bạn trẻ trên con đường đi tới, đồng thời đặt cho thế hệ trẻ trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh quang, tự hào đối với Tổ quốc và nhân dân, đó là dựng xây, phát triển và bảo vệ vững bền nước Việt Nam dân chủ, công bằng, văn minh sánh vai với các nước trên thế giới.

Trong giai đoạn hội nhập ngày nay, Thủ đô Hà Nội rạng ngời sức sống hơn bao giờ hết. Hà Nội nói riêng và đất nước Việt Nam nay đã chuyển mình, trỗi dậy mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trên trường quốc tế. Hà Nội nghìn năm văn hiến anh hùng đã trải qua cả một chặng đường dài lịch sử đấu tranh kiên cường giành độc lập, tự do, biết bao xương máu của nhân dân Việt Nam và đặc biệt là nhân dân Thủ đô Hà Nội đã đổ xuống để ngày hôm nay cùng hát vang bài ca khải hoàn. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc, mãi là một trong những mốc son chói lọi in sâu vào tâm trí của mỗi người dân Thủ đô cũng như những người Việt Nam chúng ta, nhắc nhở cho lớp lớp thế hệ thanh niên ngày nay thành kính, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, các anh hùng, liệt sỹ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc – đó sẽ mãi là niềm tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Thủ đô nói riêng, tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Sáng 29/12, nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2012), Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt vòng hoa, tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh có các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm.

Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu; nguyên Chủ tịch Nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương cùng dự lễ viếng.

Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Tiếp đó, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến đặt vòng hoa, tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ.

TTXVN
daibieunhandan.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến – lời hịch của non sông

Đã 66 năm trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 – 19/12/2012), nhưng âm hưởng hào hùng của lời kêu gọi bất hủ ấy vẫn mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam, mãi là lời hịch của non sông, một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự có giá trị lịch sử trong mọi thời đại, thể hiện ý thức sâu sắc giá trị của độc lập dân tộc và niềm tin vững bền về con đường cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

loi keu goi toan quoc kc.1Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/12/1946

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, toàn thể quốc dân đồng bào đã nhất tề đứng dậy chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi đất nước trước lời hiệu triệu sục sôi hào khí “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo”, khẳng định ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất Tổ quốc với chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Kế thừa hào khí chống giặc, giữ nước trong lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh “nghìn cân treo sợi tóc” bằng một quyết định quan trọng, một quyết định thể hiện sự lựa chọn của lịch sử vào ngày 19/12/1946 – Ngày toàn quốc kháng chiến.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân; nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.

Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người đã ký với đại diện chính phủ Pháp tại Hà Nội Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Tiếp đó, Người qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Phông-ten-nơ-blô. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. “Còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14-9-1946. Ngày 16-9-1946, Người rời cảng Tu-lông (Pháp) trở về nước. Ngày 16-10, Người gặp Đắc-giăng-li-ơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14-9 không được thực hiện ở Nam Bộ. Tại Bắc Bộ, cuối tháng 11 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Tại Hà Nội, quân đội thực dân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi ở Hà Nội trong các ngày 15, 16-12-1946 như đốt nhà thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Ngày 17-12-1946, quân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đặc biệt, chúng đã gây ra vụ tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông. Ngày 18-12-1946, tướng Moóc-li-e gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô  Hà Nội cho chúng. Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20-12-1946 quân Pháp sẽ hành động.

Trước tình hình đó, ngày 18 và 19-12-1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc.

Vào hồi 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch.

loi keu goi toan quoc kc 2Phát lệnh toàn quốc kháng chiến. Ảnh internet

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào,

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm ! kháng chiến thắng lợi muôn năm.

Hà Nội ngày 19/12/1946.

 Hồ Chí Minh”

Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Trong cuộc đấu tranh chống kẻ xâm lược, không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân đứng lên chiến đấu:

“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Hồ Chí Minh tuyên bố quyết tâm của nhân dân ta: “Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:

“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”

Đúng như dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau chín năm vào năm 1954 – “Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã chứng tỏ sức mạnh của lòng yêu nước phi thường của quân và dân ta, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc gian khổ chiến đấu và hy sinh dành lại một nửa Việt Nam hòa bình làm tiền đề cho một Việt Nam độc lập và thống nhất. Ba mươi năm sau vào mùa Xuân 30/4/1975, đội quân bách chiến bách thắng của Người đã cắm cờ chiến thắng lên nóc Đinh Độc lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày đem lại độc lập tự do cho dân tộc, Bắc – Nam thống nhất, sum họp một nhà.

Có thể nói, ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng, để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo.

66 năm đã trôi qua nhưng khí thế hào hùng của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, nhưng giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ, hiệu triệu quốc dân đồng bào kề vai sát cánh, chung sức đồng lòng, đoàn kết nhất trí đánh giặc, giữ nước, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. Ngày nay, Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác vẫn mãi giữ nguyên tính thời sự, đó là giá trị của niềm tin tất thắng, là ý thức sâu sắc giá trị độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Sự nghiệp xây dựng CNXH còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhất định chúng ta sẽ thành công, nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh sẽ ngày càng khẳng định thế và lực quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Kỷ niệm 66 năm ngày toàn quốc kháng chiến, đây là dịp để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ôn lại những bài học sâu sắc của lịch sử, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đồng sức chung lòng tạo nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhanh chóng đưa đất nước bước ra khỏi tình trạng tham nhũng, lãng phí, nghèo nàn lạc hậu, phát triển bền vững, hội nhập sâu rộng và toàn diện với nền kinh tế thế giới, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Lời tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ năm 1967, ta chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

E.Tinpho, trong “Gió ngang: Những điều không thể thiếu về mặt văn hóa của chiến tranh đường không” (Tạp chí Quốc phòng toàn dân) nhận định: “Cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã thất bại từ lâu. Nó thất bại vì đối phương đã đề ra chiến lược quân sự giỏi hơn, một chiến lược nhận thức chiến tranh ở phạm vi rộng lớn hơn, coi như một hiện tượng văn hóa kết hợp chặt chẽ các mặt xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao cũng như quân sự… đã loại bỏ những lợi thế và làm tê liệt không lực – sức mạnh lớn nhất của Mỹ.

Bắc Việt huy động toàn bộ nguồn tài lực phòng không, tên lửa phòng không buộc các máy bay tiến công của Mỹ phải bay thấp để súng trường cùng các vũ khí tự tạo của dân quân phát huy được hiệu quả; máy bay MIG nhỏ bé ngăn trở Mỹ giành và khai thác quyền khống chế trên không. Không quân cùng với không quân hải quân Mỹ không giành được ưu thế trên không theo ý nghĩa cổ điển”.

Để có được những đòn tên lửa bất ngờ giáng vào sức mạnh không lực vốn là niềm tự hào của quân đội Mỹ năm 1972, từ năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Thượng tướng Phùng Thế Tài: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đưa “rồng lửa” vào tuyến lửa

Vĩnh Linh, Quảng Trị, 1967. Mảnh đất này vốn hẹp, với dòng Bến Hải chạy cắt ngang dẫn nguồn nước từ đại ngàn Trường Sơn đổ ra biển Đông tại cửa Tùng, ngắm ra xa là đảo Cồn Cỏ như một con tàu chiến neo cố định án ngữ tiền tiêu. Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, ở giữa có một vạch trắng, cũng là vạch cắt đôi dải đất hình chữ S theo hiệp định Gieneva từ năm 1954.

Phía bờ Nam Bến Hải là địa danh Gio Linh, với những điểm cao Cồn Tiên – Dốc Miếu đặt trận địa pháo liên hoàn án ngữ con đường vào Nam. Phía bờ Bắc Bến Hải là Vĩnh Linh, mảnh đất thành đồng với hệ thống địa đạo liên hoàn chui sâu vào lòng đất, vươn lên núi và ngược ra phía biển. Quân và dân Vĩnh Linh phải đào địa đạo, đến nay dấu tích vẫn còn, để tìm kiếm sự sinh tồn trong lòng đất mẹ, khi mà hằng ngày mảnh đất này bị cày qua xới lại bởi bom và pháo bắn từ bờ Nam qua, hay từ ngoài biển dội vào.

Chạy dọc sông Bến Hải, từ giữa sông tính sâu vào cả 2 bờ là vùng đất rộng 5km mỗi bên, cấm mọi hoạt động quân sự trên diện tích này, vì theo hiệp địnhGieneva là khu DMZ (khu vực phi quân sự – Demilitarized Zone), nhưng máu chưa bao giờ ngừng đổ xuống ở đây suốt những năm chiến tranh phá hoại.

Ảnh Corbis

Đại tá Nguyễn Văn Hội, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 238, dẫu hơn 45 năm đã trôi qua, vẫn còn ghi nhớ: “Vào giữa năm 1966, Mỹ đã dùng B.52 ném bom quanh khu vực Quảng Bình. Bác Hồ chỉ thị cho Lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ): “B.52 đã đánh ra miền Bắc. Phải tìm cách đánh cho được. Trách nhiệm này Bác giao cho các chú PK-KQ”.

Hiểu ý Bác, ta thực hiện chủ trương “sớm đưa tên lửa phòng không vào phía Nam Quân khu 4 để nghiên cứu đánh B.52”. Trung đoàn 238 đang bảo vệ Hà Nội, được lệnh lên đường vào tuyến lửa Vĩnh Linh.

Tại thời điểm bấy giờ, tên lửa SAM 2 vốn là loại vũ khí nặng nề, cồng kềnh nhất. Để tránh tai mắt cú vọ của đối phương, cả khối xe cộ, binh khí, kỹ thuật khổng lồ lặng lẽ cơ động trong đêm. Đơn vị ông Hội hành quân qua dải đất hẹp Quân khu 4: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vào Vĩnh Linh (Quảng Trị) trong sự hy sinh chở che, cưu mang của bộ đội và nhân dân miền Trung ruột thịt.

Trên địa bàn Quân khu 4, trong thời điểm đó, có 12 “cửa tử”: Hoàng Mai (Quỳnh Lưu, Nghệ An) – cầu Cấm (Nghệ An) – Nam Đàn (Nghệ An) — Truông Bồn (Nghệ An) – Quán Hàu (Nghệ An) – Bến Thủy (Nghệ An) – Chu Lễ (Hà Tĩnh) – Đồng Lộc (Hà Tĩnh) – Thác Cóc (Quảng Bình) – Long Đại (Quảng Bình)… Nếu chẹt (chặn đứng) được 12 “cửa tử” này thì tuyến đường chi viện cho miền Nam sẽ hoàn toàn bị cắt đứt. Hiểu rõ tuyến đường huyết mạch này, nên máy bay Mỹ tập trung đánh phá. Có những nơi vào lúc cao điểm, bom Mỹ đánh xuống 24/24 giờ mỗi ngày.

Không thể đo đếm được sự hy sinh thầm lặng của hàng chục ngàn thanh niên xung phong, bộ đội công binh đã ngày đêm lo ngụy trang, đào công sự, làm cọc tiêu sống, chống lầy, hộ tống “Rồng lửa” qua sông, qua những chặng đường bom Mỹ đánh phá ác liệt. Dọc đường hành quân, đã có hàng trăm người ngã xuống hoặc mất một phần xương máu mới đưa Trung đoàn 238 và 9 Tiểu đoàn cao xạ đến đích.

Vào tới đất lửa Vĩnh Linh, khi triển khai trận địa, khó khăn gian nan vẫn chồng chất. Trong cái nắng nóng thiêu da đốt thịt của dải đất hẹp miền Trung mùa hè, lá ngụy trang vừa thay đã héo quắt. Để giữ được bí mật tuyệt đối, bộ đội và nhân dân Vĩnh Linh phải vào rừng cách xa hàng chục cây số chặt cây đem về ngụy trang trận địa cao xạ, tên lửa.

Tiếp đó là những ngày đọ trí, đọ sức và chiến đấu quyết liệt. Vĩnh Linh là dải đất hẹp, đối phương lại thường xuyên thay đổi trang bị vũ khí gây cho trung đoàn 238 nhiều khó khăn. Có trận, đối phương dùng một máy bay từ xa lượn vòng chiếu laze vào mục tiêu, để nhiều chiếc tiêm kích khác tiếp cận phóng tên lửa tấn công. Ta chưa phát hiện máy bay địch, tên lửa đã nổ giữa mục tiêu khiến đơn vị thương vong rất lớn.

Cả 4 tiểu đoàn hỏa lực là 81, 82, 83… đều bị thiệt hại. Tiểu đoàn 5 lắp ráp tên lửa cũng bị oanh kích. Chính ông Hội cũng bị thương trong trận này. Tuy vậy, với quyết tâm tiêu diệt bằng được B.52, Trung đoàn 238 quyết định dồn sức cho Tiểu đoàn 84. Vũ khí, khí tài được gom về, lắp ráp thành một bộ hoàn chỉnh.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên cùng sĩ quan điều khiển Lê Hỷ thuộc Tiểu đoàn 82 và một số đồng chí khác của Tiểu đoàn 81, 83 cũng được điều về bổ sung cho Tiểu đoàn 84. Khi khí tài và quân số đã ổn định, Tiểu đoàn 84 (ghép) được lệnh cơ động về trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng, Vĩnh Linh) chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

“Sách đỏ” viết ở tuyến lửa

Khi trận địa hoàn thành, đích thân Đại tá Đặng Tính (Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng PK-KQ) vào tận Vĩnh Linh thị sát chiến trường của Trung đoàn 238. Đại tá Hội xúc động: “Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên được lời của Đại tá Đặng Tính khi ông vào thăm trận địa:

“Đưa được cả trung đoàn cùng khối binh khí, kỹ thuật khổng lồ này vào tới chiến trường “lửa” an toàn là một huyền thoại. Triển khai chiến đấu, đem được cả khối binh khí, khí tài xuống lòng đất mà kẻ thù không hay biết là hai huyền thoại. Giấu được quân, giấu được binh khí, khí tài, xe cộ là ba huyền thoại. Chỉ còn một huyền thoại nữa là chờ các đồng chí bắn rơi B.52 trên đất lửa”.

Ảnh Corbis

Ngày 15/9/1967, vì trời mưa quá lớn, trận địa bị ngập nước nên đã thấy B.52 mà không thể đánh được. Hôm sau, B.52 lại xuất hiện nhưng ra-đa không bắt được mục tiêu. Đến cuối buổi chiều ngày 17/9/1967, khi đối phương ngỡ rằng bom, pháo đã đè bẹp được lực lượng của ta thì bất ngờ “rồng lửa” xuất hiện.

Kíp chiến đấu gồm có sĩ quan điều khiển Lê Hỷ và ba trắc thủ là Ngoạn, Thính, Ngận, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên đã tách được nhiễu, nhận dạng mục tiêu và phóng hai quả đạn tên lửa. Chiếc máy bay B.52 đầu tiên bị hạ gục. 30 phút sau, chỉ còn một quả đạn, đơn vị quyết đánh và bắn rơi thêm một B.52 nữa.

Vậy là từ khi có mặt ở tuyến lửa, phải mất 5 tháng sau trung đoàn 238 mới bắn rơi được chiếc B.52 đầu tiên. Cũng do đã tìm được cách đánh B.52 nên sau đó Trung đoàn 238 tiếp tục bắn rơi thêm 4 chiếc nữa, nâng tổng số 6 chiếc pháo đài bay bị hạ gục tại đất Vĩnh Linh.

Đại tá Hội cười tươi: “Hạ gục được B.52, chúng tôi đã thực hiện được ý nguyện của Bác Hồ: “Muốn bắt cọp, phải vào hang cọp”. Nhưng, hiệu quả và ý nghĩa hơn chính là từ kinh nghiệm bắn B.52 ở tuyến lửa Vĩnh Linh năm 1967 mà bộ đội tên lửa sau này đã xây dựng và hoàn thiện được cẩm nang chiến đấu vô cùng giá trị. Đó là “Phương án đánh máy bay B52” hay còn gọi là “Sách đỏ”.

Trong tháng 10/1972, cuốn Cẩm nang này được chuyển đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu luyện tập phương án đánh B52 nếu chúng tấn công quy mô lớn vào Hà Nội.

Cho đến khi đó, hệ thống ra-đa của SAM 2 đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để có thể đối đầu hiệu quả với cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ. Các “miếng” đánh kỹ thuật chống tên lửa shrike từ các máy bay tiêm kích hộ tống B.52 phóng vào các trạm ra-đa cũng được hoàn thiện và luyện tập thành thục.

Sách đỏ cũng hướng dẫn cho các cấp chỉ huy tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

Những kinh nghiệm ấy đã góp phần quan trọng để “rồng lửa Thăng Long” tả xung, hữu đột cùng quân dân Miền Bắc hạ gục 34 chiếc B.52, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu tháng 12/1972.

Ngày nay, trận địa T5 (Nông trường Quyết Thắng), nơi trung đoàn 238 bắn rơi chiếc B.52 đầu tiên ở Việt Nam là một trong những địa chỉ di tích lịch sử-văn hóa của tỉnh Quảng Trị.

Nội dung Sách đỏ:

* Tuy không quân địch gây nhiễu dày đặc nhưng trong mớ hỗn loạn các loại tín hiệu nhiễu trên màn hiện sóng, B-52 không phải là hoàn toàn vô hình nếu tinh mắt vẫn có thể phát hiện được mục tiêu B-52 một cách gián tiếp đó là các đám nhiễu tín hiệu mịn trôi dần theo tốc độ di chuyển của B-52. Tuy các đám nhiễu này kích thước to không hiển thị rõ rệt để có thể xác định mục tiêu chính xác và điều khiển tên lửa chính xác nhưng cẩm nang đã đề ra biện pháp bắn theo xác suất: bắn một loạt các quả đạn tên lửa vào đám nhiễu theo cự ly giãn cách nhất định sẽ có xác suất tiêu diệt mục tiêu khá cao, phương án bắn xác suất này được “cẩm nang” gọi là “phương án P”.

* Đồng thời “cẩm nang” cũng chỉ ra khi mục tiêu B-52 đi thẳng vào đài phát cường độ nhiễu sẽ tăng lên nhưng tín hiệu mục tiêu sẽ tăng mạnh hơn, mục tiêu sẽ hiển thị khá rõ nét, đây là thời cơ có thể bắn điều khiển tên lửa chính xác theo “phương án T” khi đó chỉ cần 1 đến 2 quả tên lửa B-52 sẽ phải rơi tại chỗ.

* Trong “cẩm nang” đồng thời cũng đề ra các hướng dẫn cụ thể cho các cấp chỉ huy các tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn giải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu…

  • Trường Minh

Còn tiếp
vietnamnet.vn

Đoàn đại biểu tham dự Đại hội IX Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam Việt Nam nhiệm kỳ 2012-2017, báo công dâng Bác

Sáng ngày 19/12/2012, tại Quảng trường Ba Đình, đã diễn ra lễ báo công của Đoàn đại biểu tham dự Đại hội IX Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam nhiệm kỳ 2012-2017.

hoa chat a1Đoàn đại biểu tham dự Đại hội IX Công đoàn
Tập đoàn Công nghiệp
 Hóa chất Việt Nam nhiệm kỳ 2012-2017, báo công dâng Bác

Tham dự buổi lễ có các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam và 175 đại biểu ưu tú đại diện cho gần 30 nghìn cán bộ, đoàn viên Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam. Thay mặt cho các đại biểu, đồng chí Vũ Tiến Dũng, Chủ tịch Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam báo cáo với Bác về thành tích hoạt động của Công đoàn trong nhiệm kỳ 2008-2012.

Hoạt động của Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam trong nhiệm kỳ qua đã góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tập đoàn. Tốc độ tăng trưởng bình quân của toàn Tập đoàn đạt 14,5%/năm. So với năm 2008, năm 2012 giá trị sản xuất công nghiệp tăng 53%; doanh thu tăng 87,7%; thu nhập bình quân người lao động tăng 78%. Đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động cũng không ngừng được cải thiện. Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan du lịch được các đơn vị tổ chức thường xuyên, do vậy người lao động rất phấn khởi và yên tâm công tác. Phong trào tập hợp ý tưởng sáng tạo, sáng kiến và lao động sáng tạo là phong trào mũi nhọn, là trọng tâm hoạt động của Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam. Trong nhiệm kỳ qua, có tổng số 15.305 sáng kiến các loại được phát huy với số tiền làm lợi 289,2 tỷ đồng. Đã có 277 lượt người được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động sáng tạo.

Hoa chat a2Đoàn đại biểu tham dự Đại hội IX Công đoàn
Tập đoàn Công nghiệp Hoá chất Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong nhiệm kỳ tới, Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam luôn xác định: “Hoạt động Công đoàn luôn đồng hành cùng Lãnh đạo Tập đoàn Hóa chất, Lãnh đạo các doanh nghiệp, vì sự phát triển bền vững của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, vì việc làm, thu nhập ổn định của người lao động”.

Trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể cán bộ, công nhân viên chức, người lao động Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam xin hứa tuyệt đối tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyện đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, đem hết sức lực và trí tuệ của mình cống hiến cho ngành, cho đất nước, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đại biểu Công đoàn Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam đặt hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Hà Nội ngày ấy và bây giờ

Cách đây đúng 40 năm, vào những ngày cuối tháng 12 năm 1972, cả Hà Nội phải oằn mình chống đỡ những trận bom oanh tạc đáng sợ chủ yếu bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ trong cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B.52 mang mật danh Chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II (LinebackerII) của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta. Song bằng ý kiến kiên cường, lòng yêu nước sắt son và bản lĩnh, trí tuệ người Việt Nam, quân và dân Hà Nội đã làm nên chiến thắng lẫy lừng: Đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, góp phần tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Hà Nội ngày ấy…

Ngay từ đầu Xuân 1968, Bác Hồ đã nhận định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Đúng như dự đoán của Bác, trước những thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường ở miền Nam Việt Nam, để cứu vãn tình thế cho chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ khỏi nguy cơ sụp đổ hoàn toàn, ngày 17-12-1972, Tổng thống Ních-xơn chính thức ra lệnh tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược vào miền Bắc Việt Nam với tên gọi Chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II (Linebacker II)” bằng B.52 sẽ bắt đầu vào 7 giờ sáng ngày 18-12-1972 (giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18-12-1972).

B.52 là loại “siêu pháo đài bay chiến lược” do hãng Boeing sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16-4-1952 nên được gọi B.52. Sau 20 năm, năm 1972, B.52 đã được qua 8 lần cải tiến từ B.52A đến B.52G, B.52H. Mỗi chiếc B.52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12 năm 1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ. Mỗi B.52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B.52 tấn công mục tiêu còn có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực độ dài từ 40km đến 70km, dày khoảng 2km để gây nhiễu. Trung bình mỗi B.52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm.

Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 với âm mưu nhằm gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của chúng; đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế – quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới.

Nhờ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân Hà Nội đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả về chiến dịch, chiến thuật, lực lượng và bước vào cuộc chiến đấu không khoan nhượng suốt 12 ngày đêm với lũ “giặc trời” – B.52 của đế quốc Mỹ.

Từ 19 giờ 20 phút đến 20 giờ 18 phút ngày 18-12-1972, nhiều tốp máy bay B.52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm… Cuộc chiến đấu ác liệt của lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ Hà Nội bắt đầu, mở đầu chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không“. Đúng 20 giờ 18 phút, Tiểu đoàn 59 Trung đoàn Tên lửa phòng không 261 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng 2 quả đạn từ cự ly thích hợp hạ ngay 1 máy bay B.52 (máy bay rơi xuống cánh đồng thuộc Phủ Lỗ và Đông Xuân, giữa tỉnh Vĩnh Phú và Hà Nội, cách trận địa gần 10 km). Đây là chiếc máy bay B.52-G đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Hn a1Hàng ngàn lượt máy bay đã thay nhau trút bom xuống Hà Nội.

(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a2Những hố bom trên mặt đất. (Ảnh tư liệu – Internet)

Trong 12 ngày đêm lịch sử cuối tháng chạp năm 1972 (từ ngày 18 đến ngày 29-12-1972), không quân Mỹ đã sử dụng tới hàng chục ngàn tấn bom rải thảm nhằm “đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá”. Đây là chiến dịch ném bom dữ dội nhất, man rợ nhất trong chiến tranh Việt Nam và là một trong những cuộc tập kích đường không có cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới. Những gì mà Hà Nội đã phải gánh chịu trong suốt 12 ngày đêm ấy đã tố cáo tội ác tày trời của đế quốc Mỹ. Tờ báo lớn nhất của Anh, The Daily Mirror, bình luận: “Việc Mỹ quay lại ném bom Bắc Việt Nam đã làm cho cả thế giới lùi lại vì ghê sợ”. Thủ tướng Thụy Điển đã lên án cuộc ném bom là một tội ác chống lại loài người trên qui mô đạo đức của sự tàn bạo của phát xít tại Trại Tập trung Treblinka.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B.52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta, hơn 100 ngàn tấn bom đạn. Chúng đã huỷ diệt nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết hại 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Riêng Hà Nội phải hứng chịu 4 vạn tấn bom của địch, với 67 xã ngoại thành, 39 phố nội thành, 7 ga xe lửa, 4 cầu, 4 bến phà và Đài Tiếng nói Việt Nam bị oanh tạc. Trung bình mỗi đêm kẻ địch đánh vào Hà Nội 50-70 lượt B.52, cao điểm lên đến 100 lượt B.52. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ. Như vậy, bầu trời Hà Nội mỗi đêm có 200 – 300 máy bay. Phố Khâm Thiên, một khu vực có mật độ dân số đông nhất Hà Nội, đã bị bom B.52 tàn phá cả chiều dài trên 1 km, gần 2000 ngôi nhà, đền chùa, trường học, trạm xá bị phá sập, 287 người chết, 290 người bị thương, có gia đình 6 người ngồi trong hầm chết toàn bộ. Cùng với Khâm Thiên, máy bay B.52 của Mỹ còn rải bom xuống hơn 100 điểm dân cư trong thành phố (Bệnh viện Bạch Mai, Gia Lâm, Yên Viên, Uy Nỗ, An Dương…) làm hơn 1.000 người bị thương vong.

Hn a3Phố Khâm Thiên tan hoang sau khi bị máy bay B.52
ném bom huỷ diệt ngày 26-12-1972.
(Ảnh tư liệu – Internet)

12 ngày đêm kinh hoàng, biết bao người dân vô tội đã bị chết oan dưới bom đạn kẻ thù, biết bao chiến sĩ đã ngã xuống để bảo vệ bầu trời Tổ quốc, biết bao nước mắt đã đổ vì đau thương mất mát. Song vượt lên tất cả, quân và dân Hà Nội đã chứng minh cho cả thế giới thấy bản lĩnh, trí tuệ, sức mạnh của người Hà thành nói riêng và những người con đất Việt đang mang trong mình dòng máu Lạc Hồng nói chung. B52 rải thảm Hà Nội, máu rơi, nhà đổ, “đất rung, ngói tan, gạch nát”… nhưng lòng người thì vẫn đứng vững, Thủ đô của chúng ta vẫn luôn toát lên tâm thế hào hùng. Giữa chiến tranh ác liệt, bom đạn đau thương, người ta vẫn bắt gặp một Hà Nội lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống qua những hình ảnh đời thường như một đám cưới giản dị chỉ ít ngày sau trận B52; hình ảnh các thanh niên đàn hát bên chút bánh kẹo thay cho cỗ cưới; hình ảnh người Hà Nội đi chợ Tết… Tất cả đều cho thấy tinh thần lạc quan phơi phới, tin tưởng vào tương lai của những người Hà Nội trong lửa đạn khốc liệt. Đó là một trong những sức mạnh tinh thần thôi thúc người Hà thành vững tay súng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược.

HN a4Dù ăn ngủ cùng những trận bom bất ngờ nhưng người Hà Nội vẫn rất lạc quan. Người dân chuẩn bị ăn Tết năm 1972 trước thời điểm sơ tán. (Ảnh tư liệu – Internet)

HN a5Ba tuần sau đợt 12 ngày đêm B52 trải thảm, đám cưới của phóng viên ảnh
Thông tấn xã Việt Nam chỉ có kẹo, hoa đồng tiền và bánh mừng
chiến thắng và chờ Hiệp định Paris. (Ảnh tư liệu – Internet)

HN a6Các lớp học ở ngoại thành năm 1972 vẫn diễn ra. Học sinh để sẵn mũ rơm trên bàn để sẵn sàng chạy mỗi khi máy bay Mỹ thả bom. (Ảnh tư liệu – Internet)

Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử “Siêu pháo đài Bay B.52” thất trận và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Cụ thể, có 81 máy bay Mỹ bị ta bắn rơi, gồm: 34 chiếc B.52, 5 chiếc F.111A, 21 chiếc F4CE, 4 chiếc A6A, 12 chiếc A7, 1 chiếc F105D, 2 chiếc RA5C, 1 chiếc trực thăng HH53, 1 chiếc trinh sát không người lái 147SC. Phía Mỹ còn phải chịu tổn thất không bù đắp được là mất rất nhiều phi công. Chỉ hơn 10 ngày, không quân Hoa Kỳ đã mất hàng trăm phi công, hầu hết là những phi công kỳ cựu, đã bay hàng nghìn giờ, là nguồn nhân lực tác chiến bậc cao của quân đội Mỹ. Tướng Gioóc Ết-tơ, Phó Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, đã từng thú nhận trên Tạp chí Không lực Hoa kỳ rằng, “Tổn thất về máy bay chiến lược B.52 cùng các nhân viên phi hành là hết sức nặng nề, là đòn choáng váng đánh thẳng vào những nhà vạch kế hoạch của Lầu Năm góc”.

Hn a7Những khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội.

(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a8Cô gái làng hoa Ngọc Hà và xác vụn B52 phía sau.

(Ảnh tư liệu – Internet)

Trước sự thất bại liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc, 7h sáng ngày 30-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận họp lại Hội nghị Pari về Việt Nam. Cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc kéo dài 12 ngày đêm đã bị thất bại hoàn toàn. Ngày 27-01-1973 Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết.

Quân dân Hà Nội đã thực hiện được lời kêu gọi đầy quyết tâm của Bác Hồ kính yêu: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B57, B.52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”.

HN a9Thành ủy, Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội dự lễ mừng công, trao thưởng
cho các Sư đoàn và các Trung đoàn tên lửa lập công xuất sắc
trong 12 ngày đêm cuối năm 1972. (Ảnh tư liệu – Internet)

… và Hà Nội bây giờ

Cuộc chiến đã lùi xa 4 thập kỷ, Hà Nội ngày nay đã thay áo mới và đang trên đà phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng trên trường quốc tế. Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quân dân Hà Nội đang tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, hào khí và tài hoa vươn lên vượt mọi khó khăn., thử thách giành được nhiều thành tựu to lớn và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Năm 1999, Hà Nội được UNESCO công nhận danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”; được bạn bè quốc tế khâm phục và đặt cho cái tên thân yêu “Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người”. Đồng thời, với những thành tích to lớn trong 2 cuộc kháng chiến và trong xây dựng hòa bình, đặc biệt là chiến công rực rỡ “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhân dịp kỷ niệm 990 năm ngày Vua Lý Thái Tổ rời đô về đất Thăng Long, Hà Nội đã được Đảng và Chính phủ phong tặng danh hiệu “Thủ đô anh hùng”.

HN a10Những tuổi thơ không phải giật mình vì bom đạn.

(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a11Phố Khâm Thiên ngày nay trở thành một khu buôn bán sầm uất với nhiều cửa hàng phong phú.(Ảnh tư liệu – Internet)

HN a12Vượt qua đau thương chiến tranh, Hà Nội đang từng bước phát triển vững mạnh. (Ảnh tư liệu – Internet)

Tiếng bom rơi chấm dứt đã bốn thập niên, song thắng lợi của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn vẹn nguyên giá trị lịch sử, mãi là niềm tự hào của các thế hệ hôm nay và cả mai sau. Hà Nội của hôm nay đang đầy ắp tiếng cười, trở thành thành phố Vì hòa bình trong lòng cộng đồng quốc tế. Hà Nội – Thủ đô yêu dấu ngày nay là một Hà Nội năng động, phát triển, một Hà Nội bình yên, tươi đẹp, hút hồn khách du lịch bởi vẻ đẹp nên thơ, một Hà Nội đang căng đầy sự sống. Dù trải qua và chứng kiến biết bao sự biến thiên của lịch sử, song Thăng Long – Hà Nội vẫn là “chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước”. Hà Nội luôn gương mẫu, làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta”, nên “Thủ đô ta” phải phấn đấu để: “Thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Thăng Long – Hà Nội, kinh đô của nước Đại Việt xưa, Thủ đô của nước Việt Nam ngày nay đang và sẽ phát triển thành một thành phố văn minh – thanh lịch – hiện đại, có khoa học và công nghệ tiên tiến, có nền kinh tế – văn hóa và xã hội phát triển.

Thu Hiền
bqllang.gov.vn

Đức “Chính” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những chuẩn mực đạo đức cốt lõi trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

dưc chinhaThăm Bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây ngày 20-4-1963, Bác Hồ căn dặn
cán bộ bệnh xá thực hiện “Lương y như từ mẫu”

Những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp này đã tồn tại qua thời gian, qua các chế độ xã hội và đã được Bác Hồ tiếp thu, phát triển nội dung của những chuẩn mực ấy để rèn luyện chính mình và răn dạy chúng ta. Có người cho rằng: Giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì e cổ quá. Bác đã ôn tồn giải thích: “Cái gì cũ mà tốt thì phải tiếp thu, phát triển lên”.

Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bản thân Người thực sự là tấm gương mẫu mực của cần, kiệm, liêm, chính. Bốn đức ấy, đức nào cũng quý, cũng cần, Bác Hồ đã ví như bốn mùa của trời, bốn phương của đất, thiếu một đức, thì không thành người. Với chữ “chính”, đức “chính”, Bác không phân tích nhiều, Người viết: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn đứng đắn. Điều gì không thẳng thắn, đứng đắn, tức là tà”.

Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là cây hoàn toàn. Một người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới hoàn toàn. Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Số người ấy có thể chia làm hai hạng người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính, là người thiện. Làm việc tà, là người ác. Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), chính là thiện. Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác.

Chữ “chính” của Bác là sự tiếp thu, phát triển chữ “chính” từ đạo Nho của Đức Khổng Tử. Đức Khổng Tử nêu học thuyết của mình cách đây khoảng 2.500 năm đòi hỏi xã hội phong kiến phải thực hiện cho được “chính danh”. Danh là tên gọi của con người hoặc sự vật. Danh có thể hiểu là do con người đặt tên cho sự vật và hiện tượng khi đã hiểu biết về bản chất của nó. “Chính danh” nghĩa là tên gọi của sự vật thế nào thì bản chất của sự vật như thế ấy. Vua phải thật sự xứng đáng là vua, có đầy đủ các tố chất về tài, đức, về trí tuệ. Các thứ bậc, quan tước được cất nhắc, bổ nhiệm cũng phải có đầy đủ những tiêu chí xứng đáng với chức vụ được bổ (những tiêu chí ấy bây giờ tương tự như chúng ta coi đó là các tiêu chuẩn cán bộ). Trong các mối quan hệ thì cha phải ra cha, con phải ra con, vợ phải ra vợ, chồng phải ra chồng, trên phải ra trên, dưới phải ra dưới… Đức Khổng Tử cho rằng danh có chính thì ngôn mới thuận. Ngôn là biểu hiện không chỉ của danh mà còn là biểu hiện của trí tuệ và các phẩm chất bảo đảm của chính danh. Học thuyết chính danh của Khổng Tử vô cùng sâu sắc và gần gũi với chúng ta hiện nay. Bác Hồ dạy cán bộ, đảng viên đạo làm gương, nêu gương: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” cũng có cội nguồn sâu xa từ thuyết chính danh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni quan niệm về cuộc đời là những chuỗi ngày đau khổ, là sự luân hồi, nhân – quả. Người đã tìm ra chân lý của sự khổ đau vô tận của con người do thập kết sử (mười điều) do chính con người tạo ra: tham lam, giận dữ, si mê, kiêu ngạo, nghi ngờ, thân kiến, biến kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ; trong đó đặc biệt có tam độc (ba điều): tham lam, giận dữ, si mê là nguyên nhân chính của sự đau khổ. Đức “chính” theo quan niệm của đạo Phật hết sức toàn diện cả tư duy đến hành động, cả lời nói đến việc làm trong mọi mối quan hệ của con người. Cái đích chữ chính của Đức Phật là cái đích hướng thiện, loại bỏ cái tà, cái ác…

Bác Hồ kính yêu tiếp thu những tinh túy cái thiện của Đức Khổng Tử, Đức Phật, Người định nghĩa: chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Nội dung chữ chính của Bác có cả những điều trong chữ Chính của tinh hoa văn hóa nhân loại: nhân loại luôn có xu hướng hướng thiện, hướng tới cái chính, không chấp nhận cái tà, cái ác. Thực hiện chữ chính theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ tâm và phải là sự tu dưỡng bền bỉ suốt đời. Trong mối quan hệ với “liêm”; có “liêm” thì mới có “chính”; có “cần”, “kiệm” thì có “liêm”; nhưng cũng có khi có “liêm” mà chưa thể có “chính” hoàn toàn. Ví dụ như có một người trong cuộc sống và quan hệ luôn liêm khiết, trong sáng, nhưng trước hành vi lũng đoạn, sa đọa của người khác lại không dám góp ý, không dám đấu tranh… thì người đó chưa chính tâm, chưa chính ngôn… Cho nên trong bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính mà Bác dạy chúng ta đức nào cũng vô cùng cần thiết và thực hiện nó không hề dễ. Đức “chính” là kết quả của cần, kiệm, liêm nhưng không phải cứ thực hiện tốt cần, kiệm, liêm là có “chính”, phải thấy “chính” độc lập tương đối, đồng thời cũng là cái đức khó thực hiện nhất trong bốn đức. Trong đời sống “chính” có ý nghĩa vô cùng sâu rộng, vô cùng cần thiết, nhưng không phải ai cũng thực hiện được, nhất là trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta.

Thực hiện tốt đức “chính” thật sự là niềm tin, là sự công bằng, văn minh và ổn định chính trị, xã hội. Những điều đó đòi hỏi ở mọi người, trước hết là ở Đảng, ở cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người đang giữ những cương vị, những trọng trách của Đảng và chính quyền các cấp, bởi vì, họ như những tấm gương cho cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo… Hiểu được và làm được chữ “chính” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không hề đơn giản mà nó là niềm tin, là cội nguồn của sự đoàn kết, là biểu hiện của một xã hội chân chính, một Đảng chân chính, một tương lai chân chính, bắt đầu từ mỗi con người chân chính..

CHÍNH

Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn. Điều gì không đúng đắn, thẳng thắn, tức là tà. CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn. Trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người THIỆN và người ÁC.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ.

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tằn tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.

Bất kỳ ở tầng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt:

1. Mình đối với mình.

2. Mình đối với người.

3. Mình đối với công việc.

ĐỐI VỚI MÌNH

– Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ. Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.

– Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.

Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.

– Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình.

Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình. Cụ Tăng Tử là một vị đại hiền, là một tín đồ giỏi nhất của cụ Khổng Tử. Cụ Tăng đã làm kiểu mẫu cho chúng ta. Cụ nói: Mỗi ngày tôi tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? Đối với việc có chuyên cần không?

Cụ Khổng Tử nói: Mình có đứng đắn, mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ.

Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý.

ĐỐI VỚI NGƯỜI

Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người.

Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ.

Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới.

Phải thực hành chữ Bác – Ái.

ĐỐI VỚI VIỆC

Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc THIỆN thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ÁC thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 365 việc. Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to.

Cả 20 triệu đồng bào đều làm như vậy, thì nước ta nhất định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc.

Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt.

Con cháu mình sung sướng,

Gia đình mình no ấm,

Làng xóm mình thịnh vượng,

Nòi giống mình vẻ vang,

Nước nhà mình mạnh giàu.

Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực.

Thiết thực, vì chúng ta nhất định đạt được.

Chúng ta nhất định đạt được, vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

“Cần, kiệm, liêm, chính”, tháng 6-1949.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr. 631-645.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng

Việt Nam - Hồ Chí MinhTuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi theo Người “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”; rằng “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất”. Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”. Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (15-7-1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Hồ Chí Minh luôn yêu cầu “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ”. “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được”. Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng”.

Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”. Do đó mà Người luôn canh cánh kỳ vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người chỉ rõ “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.

Tuyên truyền là một bộ phận, một tác nghiệp của công tác tư tưởng có vị trí hết sức quan trọng, bởi vậy, Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Người nói “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”. Do mục đích, yêu cầu của công tác tuyên truyền, nhất là tính chính xác và sức lay động lan toả đối với dân chúng nên Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ tuyên truyền “Phải biết cách nói. Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực. Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được”; rằng: Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại. Khi tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số, Người lưu ý: Phải nói thiết thực, rõ ràng để đồng bào dễ nghe, dễ hiểu và làm được tốt.

Với sự quan sát và thông qua nhiều kênh tiếp nhận, với tình cảm chân thành mà Người nhắc nhở, phê phán một số báo cáo viên thiếu chủ động, đầu tư trong việc chuẩn bị bài nói, thuyết trình “Nhiều người trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi”; hoặc “Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu”. Đặc biệt Người còn phê phán một số người sính dùng chữ, nhất là thích dùng chữ Hán “Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to”. Vì vậy, Hồ Chí Minh mong muốn làm sao trong mỗi bài nói, bài viết phải thấu cảm được ý tưởng và mong ước của nhân dân. Người yêu cầu “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”. Có như vậy công tác tư tưởng mới đạt được mục tiêu “được người, được việc, được tổ chức” như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định. “Phải đạt được mục đích tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong quân đội”.

Hơn lúc nào hết đội ngũ cán bộ tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”, thiếu nó thì khó có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng nên Người luôn mong muốn “Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đồng hồ mà có kết quả. Đến một địa phương nào cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình, và để hiểu biết tình hình địa phương”. Người còn chỉ giáo “Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”. Cán bộ tuyên truyền cần phải chủ động học tập nâng cao trình độ, kiến thức, nếu không sẽ lạc hậu, thoái bộ; luôn nắm vững chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tập quán, sinh hoạt của nhân dân. Chú trọng “nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng; phải đi sát thực tế, phải liên hệ mật thiết với quần chúng”. Đồng thời Người còn căn dặn: Cán bộ, đảng viên phải nâng cao chí khí chiến đấu, nâng cao lòng tin tưởng. Trong kháng chiến rất khó khăn nếu chí khí chiến đấu của bộ đội, cán bộ, nhân dân mà sụt thì sẽ thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa chúng ta nhưng tư tưởng của Người nói chung, về công tác tư tưởng nói riêng vẫn còn sống mãi với thời gian, với Đảng ta, và đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo hôm nay. Đó là hành trang, phương pháp luận quý báu để Đảng ta, đội ngũ làm công tác tuyên truyền vững tin hơn, trí tuệ sắc sảo hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng lên một tầm cao mới. Đặc biệt càng có ý nghĩa cấp bách khi Đảng ta thực hiện chủ trương mở cửa, hội nhập; khi các lực lượng thù địch chưa từ bỏ mưu toan chống phá cách mạng nước ta, hòng chia rẽ Đảng với nhân dân; khi “Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu còn hạn chế…; chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái; thiếu quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống”. Khắc phục và thực hiện tốt các nhiệm vụ đó là nhân tố để “Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí” trong tiến trình kiến tạo đất nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Theo  TS. Nguyễn Thế Tư, Học viện Chính trị-
Hành chính khu vực III
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (phần 2)

Chuyện kể về Người5. “Hôn nó một cái thì có mất gì”

Năm 1946, Bác đi thăm Pháp trở về, đến Vịnh Hạ Long, Người có cuộc đàm phán trên tàu với Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ. Khi gặp, Bác đã chủ động ôm hôn Đô đốc. Những người tháp tùng Bác tỏ ý thắc mắc, Bác nói:

– Đánh nhau thì đánh nhau, mình hôn nó một cái thì có mất gì!

Hôm sau báo chí đăng ảnh và bình luận: “Hồ Chủ tịch ôm hôn Đô đốc chính là ôm chặt để bóp chết…”

6. “Ông cụ thân sinh ra mình là”

Năm 1946, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Bác sang thăm Pháp với tư cách một thượng khách. Người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục. Bác nói:

– Chú cứ hỏi, mình sẽ khai đầy đủ.

Đến câu hỏi: “Tên cụ thân sinh ra Bác là gì ?”, Bác trả lời:

– Mình là Hồ Chí Minh thì cụ thân sinh ra mình là Hồ Chí Thông.

Mọi người nhìn nhau cười vui.

7. Bộ khung và bức họa

Sau chuyến thăm chính thức nước Pháp với tư cách là thượng khách của nước này năm 1946, Bác về nước bằng tàu thủy. Về đến vùng biển của Cam Ranh, Bác nhận được bức điện của Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ, xin gặp Bác trong cảng, mục đích của chúng là diễu võ dương oai để uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị, Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc Hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn Đông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu. Đô đốc Đắc Giăng-li-ơ nói đùa nhưng đầy sự ám thị bóng gió:

– Thưa ông Chủ tịch, ông đã được đóng bộ khung rất đẹp của Hải quân và Lục quân đó.

Bác thản nhiên mỉm cười :

– Đô đốc biết đó, giá trị là ở bức họa chứ không phải ở bộ khung. Chính bức họa đem lại giá trị cho bộ khung.

8. Tài ứng khẩu của Bác

Có rất nhiều mẩu chuyện nói lên tài ứng khẩu của Bác, thể hiện một trí tuệ mẫn tiệp, sự phản xạ tuyệt vời và cũng nhiều khi rất dí dỏm. Có lần, một người nước ngoài hỏi Bác:

– Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc không ?

Bác trả lời:

– Ông cứ đến Nguyễn Ái Quốc mà hỏi.

Một nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta đặt câu hỏi :

– Thưa Chủ tịch, trước hoạt động ở nước ngoài vào tù ra khám, nay hoạt động ở trong nước, Chủ tịch có thấy gì thay đổi trong đời mình không?

Bác trả lời hóm hỉnh:

– Không, không có gì thay đổi cả, lúc bị tù ở Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải đi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút được hai người lính bồng súng giải đi dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước, đi đâu cũng có hai người bảo vệ mang súng lục đi theo, ông thấy có gì thay đổi không nào?

9. Những đêm lửa trại

Một buổi chiều tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ tìm ông Hoàng Đạo Thúy, bảo:

– Tối nay, Cụ tổ chức lửa trại nhé!

– Thưa Cụ, chỉ có mấy ông cụ già với mấy ông Bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui được lắm!

– Có vui chứ!

Ông Hoàng Đạo Thúy nảy ra một ý tinh nghịch:

– Nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy!

– Nhất định thế!

Bác Hồ vừa trả lời vừa tủm tỉm cười, chắc Người hiểu ý ông Hoàng Đạo Thúy.

Lửa bùng lên. Ngồi quanh có Bác Hồ, bác Tôn Đức Thắng, cụ Phan Kế Toại, cụ Phạm Bá Trực và mười ông Bộ trưởng. Ông Thúy chắp tay:

– Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở lửa trại!

Chẳng ngần ngừ gì cả, Bác Hồ vừa bước quanh lửa trại vừa cất tiếng hát:

“Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu

Dấy binh, lấy lau làm cờ… ”

Ai cũng thấy lạ, vì sao Người biết bài hát ấy? Bác cười:

– Bọn hướng đạo nó dạy tôi đấy!

Một lần khác bác sĩ Trần Duy Hưng được Bác đề bạt làm “trùm lửa”. Bác sĩ Hưng cũng trêu Bác – trêu một cách kính mến thôi – chứ Bác không bao giờ bị bí cả.

Hai người ngồi bên Bác, giang tay làm tàu bay, mồm kêu “ ù, ù” bác sĩ Hưng gọi loa:

– “A lô, a lô! Đồng bào Thành phố Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch vào thăm đồng bào! Cụ có huấn thị…”

– Bác đứng nhổm ngay dậy:

– “A lô đồng bào! Tôi vào thăm đồng bào. Đi tàu bay mệt quá, xin để bác sĩ Trần Duy Hưng nói với đồng bào thay tôi!”

Thế là Bác sĩ Trần Duy Hưng đâm ra cuống.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

Với danh dự và ý chí kiên quyết, Cụ Hồ đã bảo vệ quyền thiêng liêng của các dân tộc được sống trong độc lập tự do

Con người sống phải có mục tiêu, có lý tưởng và thời nào cũng vậy, những con người chân chính bao giờ cũng có một lý tưởng sống. Lý tưởng cao đẹp ấy, có lẽ nằm trong 4 chữ: “Vì nước vì dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là con người suốt đời vì nước vì dân.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã được nghe những người bạn của bố mình như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý… nói về nỗi nhục mất nước. Tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành đã từng biết đến sự kiện Phan Đình Phùng chống Pháp, rồi mất ở trên núi khi mới 49 tuổi và Vua Thành Thái vì yêu nước đã bị Pháp đưa vào Ô Cấp, Vũng Tàu để mấy năm sau đưa đi đày ở nước ngoài.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc người cha rất yêu quý của Nguyễn Tất Thành, khi đỗ Phó bảng, vua cho vinh quy về làng, đã nhất định không chịu nằm lên cái võng mà dân làng nô nức kéo nhau ra đón. Cụ chắp tay nói: Tôi đã làm được việc gì có ích cho dân làng đâu, mà dám nằm lên cái võng này! Rồi sau đó cùng bà con đi bộ về làng. Khi nhân dân làm cho ngôi nhà để ở, cụ Phó bảng đã viết lên xà nhà dòng chữ “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình!

Quê hương, gia đình, đất nước… đã giúp Nguyễn Tất Thành nảy nở tấm lòng yêu nước thương dân và sớm nhận ra con đường cứu nước.

Năm 1923, khi ở Pháp, một hôm được Anbe Xarô, Bộ trưởng Thuộc địa mời đến. Mời đến để doạ nạt, nhưng khi thấy không thể doạ nạt được, hắn đã khéo léo phỉnh phờ: “Tôi rất thích những người như anh. Cần gì anh cứ nói với tôi…”. Và Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

tranh son dau
Bác Hồ về nước – Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Có lẽ vì thế, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, sau tên nước Bác Hồ đã ghi hai chữ Dân chủ: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, tiếp theo đó là những tiêu chí cao cả: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Suốt cuộc đời của Bác, những chữ nhân dân, tổ quốc, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc luôn luôn xuất hiện trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. Những ngôn ngữ ấy xuất hiện trong Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, trong Tuyên ngôn Độc lập… Nhưng cảm động hơn, khiến ta phải suy ngẫm sâu sắc hơn, đó là câu nói này của Bác:

“Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước Độc lập, mà dân không được hưởng hạnh phúc – tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Câu nói ấy Bác viết trong: “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng” ngay từ những ngày 17 tháng 10 năm 1945.

Ngày 16 tháng 7 năm 1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Bác nói:

“Cảm ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ, mặc dầu tin Pháp mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà. Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân, du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn”.

Nghiên cứu về cuộc đời của Bác, Staley Karnow, giảng viên lịch sử Trường Đại học Harvard Mỹ đã viết: “Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chủ tịch chỉ ám ảnh một mục đích duy nhất, đó là nền độc lập cho đất nước”.

Ông Lê Hữu Lập, một trong những người đã có 12 năm giúp việc Bác Hồ từ 1958 đến 1969. Ông là người được vinh dự đứng tên trong sổ tiết kiệm của Bác gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại ít ỏi, sau khi đã trừ mọi chi tiêu sinh hoạt, và nhiều hơn là tiền nhuận bút mà các báo trong và ngoài nước gửi cho Bác.

Dịp đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền. Nhưng khi về, Bác không nhập số tiền này vào sổ tiết kiệm của mình, mà nhập vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung, nên không dùng riêng cho mình.

ben cang sg
Bến cảng Sài Gòn ngày nay. Ảnh: Internet

Tiến sĩ A.Sacơrabôrôty, người Ấn Độ viết:

“Bác Hồ mặc bộ quần áo giản dị, nói giản dị, cách cư xử và tính nết giản dị, viết bằng thứ ngôn ngữ giản dị, xuất hiện một cách giản dị, với vẻ mặt tươi cười làm toả ra sự trong sáng của một tâm hồn giản dị…”.

Phải dùng đến 6 chữ giản dị để nói về Bác, trong một câu ngắn gọn, mà vẫn thấy như chưa đầy đủ.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương, nêu gương để xây dựng Đảng, xây dựng nước. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người học trò xuất sắc, một người cộng sự gần gũi lâu năm bên cạnh Bác đã viết: “Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác…”.

Những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ làm việc suốt ngày đêm, nhưng vẫn ăn chung với những người giúp việc. Một hôm Bác bận họp, anh em phải để phần cơm cho Bác. Bác về, đang ăn thì lại có người báo Cố vấn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại) muốn được gặp Bác. Bác đã đứng dậy, nhưng sau lại bảo chú cứ mời ông Cố vấn xuống đây cũng được. Ông Vĩnh Thuỵ xuống, thấy Bác đang ngồi trước cặp lồng cơm, một đĩa rau muống luộc, một bát nước mắm và quả trứng luộc… Ông Cố vấn cảm động nói:

– Thưa cụ, từ mai xin cụ cho phép tôi được cho người mang cơm đến hầu cụ.

Bác Hồ cảm ơn, rồi nói: Thôi, cứ để tôi ăn cơm với anh em cũng được. Tôi đã quen rồi.

Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đều nói, Việt Nam và Hồ Chí Minh là hai cái tên không thể tách rời nhau: Tên của một đất nước anh hùng và tên của người con vĩ đại nhất của đất nước đó. Người tượng trưng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và chính tấm gương đó của Việt Nam, của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành lại quyền sống, độc lập, tự do.

Khi tuổi đã cao, đã nghỉ những công việc của Đảng và Nhà nước, nhiều người nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông nên viết một cuốn hồi ký về cuộc đời mình. Nhưng ông nói, tôi muốn dành những ngày còn lại, để nếu có thể viết được gì, thì đó là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” những trang về Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết:

“Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cả năm 1946, Cách mạng Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đầy sóng gió. Vận mệnh của Tổ quốc mong manh như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong những năm tháng gian lao chồng chất đó, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng dũng cảm, trí thông minh và tài năng sáng tạo, rất nhạy bén với tình thế, ứng phó rất kịp thời, vận dụng nhiều biện pháp khôn khéo để phân hoá kẻ thù. Lúc thì nhân nhượng với quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa để tập trung sức đối phó với thực dân Pháp. Lúc thì tạm hoà với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn lâu la tay sai của Tưởng.

Dưới tay lái của Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm thất bại mọi mưu đồ độc ác của giặc ngoài thù trong, giữ vững chính quyền cách mạng, tranh thủ thời gian chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng đó, một ý nghĩ luôn luôn đến với tôi: Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Được nhân dân yêu kính, được thế giới tôn vinh, nhưng có lần Bác Hồ đã nói: “Nếu không có nhân dân thì cũng không có Hồ Chí Minh”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và cách mạng gắn liền với quần chúng, được nhân dân ủng hộ, được nhân dân đoàn kết, hy sinh, chiến đấu và đã làm nên thời đại Hồ Chí Minh.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Người luôn luôn nhắc nhở Đảng và các cấp chính quyền nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân. Và Bác thường nhắc đến 4 chữ có: “Làm cho Dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, có học hành”.

Đến dự Hội nghị chỉnh huấn cán bộ trung cao cấp ngày 26 tháng 1 năm 1965, Bác nói:“Có Đảng lãnh đạo, dân tộc ta đã trở thành một dân tộc anh hùng, được bè bạn khắp năm châu yêu mến và kính trọng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thắng lợi của cách mạng là do sự phấn đấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của hàng triệu nhân dân. Mỗi chúng ta phải biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình vì nghĩa lớn”. Bác còn nhấn mạnh muốn đánh thắng kẻ thù bên ngoài thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta, đó là chủ nghĩa cá nhân.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ từ biệt chúng ta! 22.000 bức điện chia buồn trên toàn thế giới đã gửi đến Việt Nam. Báo Tin Tức, Cộng hoà Ả Rập thống nhất viết: “Sau 79 năm đấu tranh lâu dài và liên tục, trái tim vĩ đại, trái tim Cụ Hồ Chí Minh đã ngừng đập. Nếu ta nói rằng lịch sử loài người trước đây chưa từng biết đến một kiểu mẫu chiến sĩ nào như thế, thì chỉ riêng cuộc đời của Cụ cũng đã để xác nhận chân lý đó. Còn khi ta nói Cụ Hồ đã qua đời, thọ 79 tuổi, chính là ta muốn nói rằng suốt cả cuộc đời lâu dài đó, ngay từ khi còn trẻ cho đến những giờ phút cuối cùng, Cụ đã nắm chắc vũ khí trong tay, bảo vệ với danh dự và ý chí kiên quyết, quyền thiêng liêng của dân tộc mình cũng như các dân tộc khác trên thế giới, được sống trong độc lập, tự do”.

Còn ông Xanh-tơ-ni, Trưởng đoàn Phái đoàn nước Cộng hoà Pháp sang Hà Nội dự Lễ tang Bác Hồ đã viết: “Chúng tôi đi ngang qua trước quan tài bằng kính, ở đó thi hài mảnh khảnh của người chiến sĩ già đang yên nghỉ. Chúng tôi đã đưa thêm vào cả một biển hoa tràn ngập phòng lớn của Hội trường Ba Đình một vòng hoa đồ sộ, để chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của nước Pháp đối với Người!”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.net
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn