Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Dâng trống đồng vào khu lưu niệm Bác Hồ ở Lào

Liên chi Hội Di sản văn hoá Việt Nam – Lam Kinh Thanh Hóa cùng Cục Hợp tác quốc tế, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Lào vừa tổ chức lễ dâng tặng trống đồng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn,Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào).

Khu Lưu niệm Bác Hồ do Đảng và Nhà nước, nhân dân Lào phối hợp cùng Đảng và Nhà nước, nhân dân Việt Nam xây dựng trên khu đất rộng 1.500m2 tại làng Xiêng Vang, nơi cách đây 74 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu nước đã lưu lại ở đây trong 2 năm (1928-1929) để hoạt động cách mạng.

dang
Các nghệ sĩ đến từ Việt Nam mang lời ca tiếng hát đến với kiều bào Việt Nam tại Lào.

Toàn bộ đất xây dựng Khu Lưu niệm do 13 gia đình kiều bào Việt Nam sinh sống tại làng Xiêng Vang hiến tặng. Công trình thi công từ năm 2010 và được khánh thành vào ngày 7/12/2012 nhân kỷ niệm “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào 2012”, chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Lào.

Chiếc trống đồng dâng tặng được mô phỏng theo trống đồng Ngọc Lũ, đường kính mặt 79cm, cao 69cm. Trên thân trống khắc họa một số hình ảnh tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kay Sỏn Phôm Vi Hẳn, khắc họa hai câu thơ nổi tiếng của Bác Hồ: “Việt – Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long; khắc họa Bản Di chúc của Bác. Trống do nghệ nhân Nguyễn Minh Tuấn và các cộng sự đúc theo ý tưởng của ông Hồ Quan Sơn – Chủ tịch Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam Kinh.

Trống đồng được dâng tặng hôm nay là một trong những biểu tượng trong mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt này. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào.

dang2
Chiếc trống đồng được dâng vào Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
tại làng Xiêng Vang (Noọng Bốc, Khăm Muộn, CHDCND Lào).

dang3Ông Hồ Quang Sơn Chủ tịch Liên chi Hội Di dản văn hoá Lam Kinh
trao tặng biểu tượng Thành nhà Hồ cho Trung tâm văn hoá Việt Nam tại Lào.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Sổm Nức Sổm Chăn – Phó Bí thư Tỉnh ủy Khăm Muộn nói: “Năm nay, tỉnh Khăm Muộn đã khánh thành Khu Lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, chúng tôi được Liên chi Hội Di sản văn hoá Lam kinh tặng trống đồng dâng vào Khu Lưu niệm Bác Hồ, thực sự rất ý nghĩa. Đây là sự thể hiện tấm lòng của các đồng chí đối với chúng tôi trong vấn đề gìn giữ và phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Lào – Việt. Khu Lưu niệm là nơi để lại dấu ấn, cũng là biểu tượng của tình cảm, sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân Lào. Chúng tôi xin hứa với nhân dân toàn tỉnh Khăm Muộn sẽ gìn giữ tốt nhất Khu Lưu niệm cũng như chiếc trống đồng biểu tượng nền văn hóa Việt Nam. Chúng tôi sẽ phát huy tác dụng, giáo dục các thế hệ nhân dân tỉnh Khăm Muộn cũng như nhân dân các bộ tộc Lào lúc nào cũng phải gìn giữ mối tình đoàn kết Lào – Việt mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững…”.

Theo Duy Tuyên
dantri.com.vn

JAMAIS (không bao giờ)

Video Phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh – Tháng 6/1964

Và đây là đối thoại của cuộc phỏng vấn được dịch ra tiếng Việt:

“- Thưa Ngài chủ tịch, Ngài có thể cho biết liệu có một giải pháp quân sự nào cho chiến sự tại miền Nam Việt Nam?

– Không. Bởi vì như cô biết đấy, “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một”. Người Mỹ đã vô cớ gây chiến tranh. Cô cũng biết rằng, như trên các mặt báo đã đưa, nếu chiến tranh càng kéo dài, người Mỹ sẽ càng sa lầy và sẽ càng chuốc lấy thất bại. Chiến tranh không thể kéo dài mãi mãi được, tôi cũng vui mừng là các nhà chính trị Pháp cũng đã biết rõ điều này.

– Liệu Ngài có nghĩ rằng tướng De Gaule có thể sẽ có biện pháp nào đó phân định (arbitrer) sự xung đột này.

– Không biết cô hiểu thế nào về từ phân định (arbitrer), chúng tôi đâu có phải là một đội bóng đâu (cười).

– Nhưng nếu tôi không nhầm thì ngoài Hiệp định Genève, tướng De Gaule có nói về một ý tưởng về sự thống nhất tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á, Ngài nghĩ sao về điều này?

– Như tôi đã nói một lần rồi, đây là một ý tưởng khá hấp dẫn. Nhưng nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của từng nước, phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện nó nữa, đó là một câu hỏi lớn. Tôi không nói là tôi phản đối hay tán thành ý kiến này. Lấy ví dụ về HOA, có rất nhiều loại hoa: hoa trắng, hoa đỏ, hoa vàng … có loài hoa đẹp nhưng cũng có loài không đẹp, nhưng chúng ta vẫn gọi chung là HOA.

– Thưa Ngài Chủ tịch, trong chuyến đi miền Bắc Việt Nam này chúng tôi nhận thấy rằng sự ảnh hưởng của Pháp dường như không còn tồn tại ở đây nữa, độ tuổi dưới 25 giờ đã không còn biết đến tiếng Pháp. Tôi tự hỏi là, với suy nghĩ của Ngài, liệu rằng chúng ta có thể gây dựng lại mối quan hệ này, rằng nước Pháp sẽ giữ vai trò nào đó trong mối quan hệ … văn hóa giữ hai nước?

– Với nước Pháp nói riêng và các nước khác nói chung, chúng tôi luôn muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị về văn hóa, kinh tế … Nhưng tôi không nghĩ rằng cô muốn nói tới sự ảnh hưởng của Pháp như họ đã từng gây sự ảnh hưởng với Việt Nam trước đây, đó là một chuyện hoàn toàn khác.

– Oui, thời kì đó đã qua rồi.

– Một mối quan hệ hữu hảo về văn hoá, kinh tế … hay như thể thao chẳng hạn. Chúng tôi hoàn toàn hưởng ứng.

– Nếu như chiến tranh tiếp tục leo thang tại miền Nam Việt Nam trong một vài năm tới, liệu ngài có nghĩ rằng kinh tế của miền Bắc Việt Nam có thể duy trì được như bây giờ?

– Tôi chắc chắn rằng nó không những chỉ duy trì mà còn phát triển. Cô cũng thấy rằng là ở đây, chúng tôi lao động rất hăng say, cần cù, với sự hy sinh và lòng nhiệt huyết, và chủ yếu đều xuất phát từ nội lực của chúng tôi. Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự giúp đỡ anh em từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Tất cả đều thể hiện qua những tiến bộ hàng ngày, và chắc chắn là cả trong tương lai nữa.

– Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Nga và Trung Quốc?

– Không, …….. (không nghe rõ ) …….. Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.

– Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

– JAMAIS (không bao giờ).”

Nguồn YouTube

Bác Hồ với Thủ đô

Việt Nam - Hồ Chí MinhLà người làm sử, tôi cứ nghĩ mãi  một câu hỏi: Bác Hồ sinh ra từ mảnh đất Nghệ An (1890), lớn lên theo cha vào Huế (1905) rồi đi tiếp về phương Nam, đến thành phố Sài Gòn (1911) để rồi từ đó xuất dương. Bôn ba khắp 5 châu bốn biển, 30 năm sau con người ấy trở về với Tổ quốc từ một cửa ngõ địa đầu phía Bắc (1941).

Con người ấy dường như chưa một lần đặt chân lên Hà Nội. Hơn thế nữa  nếu tính từ khi nhà Nguyễn lập triều, vua Gia Long đã rời đô từ Thăng Long vào Huế (1802) thì Hà Nội đã không còn là kinh đô từ ngót một thế kỷ rưỡi. Tên gọi Thăng Long bị biến cải chữ (hán) “Long” là “rồng” thành “Long là sự hưng thịnh” để xóa bỏ danh tính gắn với vương triều; rồi hạ thấp tường thành; rồi phá bỏ thành quách cũ để xây thành “vô băng” làm tỉnh thành Hà Nội…

Thực dân biến nước ta thành thuộc địa còn đang tâm chia nước ta làm ba mảnh, chỉ coi Hà Nội là một trung tâm hành chính của Bắc kỳ mặc dù có xây Phủ toàn quyền toàn Đông Dương ở Hà Nội cũng  giống như ở Sài Gòn…

Vậy mà cái tâm thức  nào đã khiến vị lãnh tụ của cuộc cách mạng, tại Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào đã đưa ra quyết định sáng suốt chọn Hà Nội làm Thủ đô của nước Việt Nam độc lập, đã nối lại mạch nghiệp xưa của kinh đô Thăng Long – Đông Đô?

Rồi lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội sau khi thành phố đã giành chính quyền trước khi nhận được bản quân lệnh số 1. Vì sao nhà cách mạng từng trải ấy lại chọn chỗ ở là nhà của một trong những người giàu nhất, tại giữa một khu phố giàu nhất Hà Nội? Cũng tại ngôi nhà này vị Chủ tịch lâm thời đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng và tiếp đón nhiều thượng khách…?

Với Bác, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân. Với Bác, tấm áo giáp chở che cách mạng không chỉ là những người cùng khổ mà “hễ là người Việt Nam đều có tấm lòng yêu nước”. Do vậy mà Hà Nội dường như không xa lạ với nhà cách mạng xứ Nghệ.

Rồi trong những ngày căng thẳng nhất của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Bác vẫn gắn bó với Hà Nội và tiên đoán rằng chính  bầu trời của Hà Nội sẽ là nơi diễn ra trận quyết đấu định đoạt cuộc chiến. Hơn ba năm sau ngày Bác ra đi, mùa đông 1972, trận “Điện Biên Phủ trên không” với sự liên tưởng hào hùng về hình ảnh rồng lửa Thăng Long quật nhào B52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Thủ đô đã chứng thực cho lời tiên đoán của Bác. Đầu năm 1973, Hiệp định Paris đã “đánh cho Mỹ cút” và hai năm sau đó ngụy bị đánh nhào… Cả nước vang lên bài ca “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Trả lời cho những câu hỏi trên, có thể tìm thấy dưới chiều sâu của di chỉ hoàng thành, pho sử đầy thuyết phục về truyền thống ngàn năm văn hiến của kinh thành Thăng Long xưa. Và có một câu trả lời nữa đã được ghi tạc trong sử sách: Trong lịch sử  Việt Nam, có hai triều đại là nhà Hồ ở đầu thế kỷ 15, và nhà Nguyễn ở đầu thế kỷ 19, đã nhấc chân lên khỏi mảnh đất thiêng, dời đô khỏi mảnh đất mà đức Lý Công Uẩn đã viết trong “Chiếu dời đô”: “Đó là nơi thắng địa, tụ hội nhìn khắp bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời… mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau”. Và lịch sử cả hai triều đại ấy, dài ngắn khác nhau đều không tránh khỏi sự suy vong trước nạn ngoại xâm.

Thật dễ hiểu, Bác Hồ đã từng mở đầu một bài diễn ca bằng lời căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta”.

Dương Quốc Trung
Theo Việt Báo
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Phó Tổng thống Ấn Độ đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ấn ĐỘ a1
Phó Tổng thống Ấn Độ và Đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ
vào
 Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, từ ngày 14 đến ngày 17/01/2013, Phó Tổng thống Ấn Độ Mohammad Hamid Ansari sang thăm chính thức nước ta và dự Lễ tổng kết năm hữu nghị Việt Nam-Ấn Độ. Chuyến thăm của Phó Tổng thống Ansari là một dấu mốc quan trọng trong quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Việt Nam và Ấn Độ đang có được sự hợp tác tích cực trong nhiều lĩnh vực. Nền móng của mối quan hệ này đã được cố Thủ tướng Neru và Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết lập cách đây hơn 50 năm và hiện đang tiếp tục phát triển. Mối quan hệ giữa hai nước được nâng lên tầm đối tác chiến lược nhân chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Ấn Độ hồi tháng 7 năm 2007.

Quan hệ đối tác chiến lược này giữa Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục phát triển tích cực, hai bên duy trì trao đổi Đoàn cấp cao, nổi bật là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Ấn Độ (tháng 10 năm 2011), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 20 năm quan hệ đối thoại ASEAN-Ấn Độ (20-21/12/2012) và mới đây nhất là chuyến thăm chính thức Ấn Độ của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh (từ ngày 9 đến ngày 11/01/2013).

Trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Ấn Độ (2012), hai nước đã tổ chức kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 5 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước; nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm ảnh, trại sáng tác nghệ thuật được tổ chức tại mỗi nước. Quan hệ hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực từ an ninh – quốc phòng đến kinh tế, thương mại, khoa học – công nghệ, văn hóa, giáo dục – đào tạo tiếp tục phát triển hiệu quả.

Chuyến thăm Việt Nam của Phó Tổng thống Ấn Độ Mohammad Hamid Ansari nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh, quốc phòng, giáo dục- đào tạo, khoa học và công nghệ; trao đổi một số vấn đề quốc tế mà hai bên cùng quan tâm.

Ấn Độ a2
Phó Tổng thống nước Cộng hòa Ấn Độ 
và Đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ
đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam

Trong thời gian ở thăm Việt Nam, sáng 15/01/2013, Ngài Phó Tổng thống và Đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Phó Tổng thống Ấn Độ Mohammad Hamid Ansari kính viếng”.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Bác Hồ chọn Phó Thủ tướng

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và tiếp tục được xác định là nội dung trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Trong công tác cán bộ, việc đánh giá, xem xét, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng.

bac-hoBác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ. Người nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1). Để có cán bộ tốt, Người rất chú trọng đến công tác huấn luyện, lựa chọn và sử dụng cán bộ.

Đối với cán bộ, Người yêu cầu họ phải là những người có đức, có tài, phải vừa “hồng” lại vừa “chuyên”. Đức của người cán bộ phải được thể hiện ở ba phương diện: 1. Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của dân tộc (trách nhiệm trước đất nước); 2. Thương yêu và chăm lo đến quyền lợi của nhân dân (trách nhiệm trước nhân dân); 3. Có đạo đức công vụ tốt, hết lòng vì công việc chung, không bè phái, không tham nhũng, lãng phí (trách nhiệm trước công vụ). Tài của người cán bộ phải được biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, tổ chức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nói cách khác là biểu hiện ở năng lực của người cán bộ. Năng lực đó không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn mà phải được biểu hiện ở năng lực thực tế, ở hiệu quả công việc. Người tài là người phải có hoài bão làm những việc ích nước, lợi dân. Nhiều bài nói, bài viết và thực tiễn công tác lựa chọn cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã toát lên các tiêu chuẩn đó.

Ngoài các tiêu chuẩn về “đức” và “tài”, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh người cán bộ lãnh đạo còn phải là những người:

– “Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.

– Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ.

– Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo.

– Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn.

– Những người luôn giữ đúng kỷ luật” (2).

Tác giả xin kể lại câu chuyện “Bác Hồ chọn Phó Thủ tướng” với hy vọng một phần nào giúp chúng ta hiểu về Bác Hồ, hiểu cách thức Người lựa chọn cán bộ lãnh đạo cũng như những tiêu chuẩn cần có đối với người cán bộ lãnh đạo theo quan niệm của Người. Câu chuyện được kể lại dựa theo tài liệu lưu trữ của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Vào những năm đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, đồng chí Đỗ Mười được Trung ương Đảng giao phụ trách việc chi viện cho chiến trường, lo cung cấp lương thực, xăng dầu, vũ khí cho miền Nam. Năm 1966, đồng chí trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường ống dẫn dầu từ miền Bắc đến các vùng căn cứ kháng chiến miền Trung và miền Tây Nam Bộ.

Đầu năm 1967, đồng chí Đỗ Mười đến Hải Phòng để chỉ đạo thực hiện kế hoạch đối phó với bước leo thang mới của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Trong lúc đang triển khai công việc với địa phương, đồng chí nhận được điện thoại thông báo về Hà Nội để gặp Bác Hồ. Về đến Hà Nội vào giữa buổi trưa, đồng chí được Bác mời ăn bữa cơm trưa thanh đạm. Bác hỏi thăm kế hoạch đối phó với âm mưu mới của địch, việc chi viện cho chiến trường miền Nam, đời sống của cán bộ, chiến sĩ và căn dặn một số công việc khác. Khi đó, Bác không nói chuyện việc Bác có ý định chọn đồng chí làm Phó Thủ tướng.

Sáu tháng sau, đồng chí Đỗ Mười nhận được quyết định làm Phó Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục chỉ đạo công việc chi viện cho chiến trường miền Nam và phụ trách khối kinh tế của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa.

Sau này đồng chí Đỗ Mười mới biết, trước khi có cuộc gặp với Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trình lên Bác danh sách một số đồng chí, xin ý kiến của Bác để lựa chọn vào chức vụ Phó Thủ tướng. Trao đổi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bác Hồ thấy đồng chí nào cũng có quá trình công tác tốt, đáng tin cậy. Bác nêu ý kiến của mình về ưu, khuyết điểm của từng đồng chí được giới thiệu. Cuối cùng Bác nói: “Làm Phó Thủ tướng ngoài năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, phải là người sâu sát công việc; có óc tổ chức và triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; phải kiểm tra, đôn đốc để các đường lối, chủ trương, chính sách ấy trở thành hiện thực. Khối lượng công việc được giao rất lớn, nhưng chú Mười luôn tích cực, không ngại khó khăn, gian khổ, không bao giờ làm việc hời hợt, chung chung. Việc gì chú ấy cũng bàn bạc dân chủ, công khai và chỉ đạo sát sao, cụ thể. Bác thấy chú Mười có đủ các tiêu chuẩn làm Phó Thủ tướng, nhưng để Bác hỏi thêm sức khỏe của chú ấy như thế nào”(3).

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy Bác Hồ đặt tiêu chuẩn rất cao để lựa chọn cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ngoài “đức” và “tài”, cán bộ lãnh đạo phải là những người có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm; sâu sát thực tế, không quan liêu, không làm việc hời hợt, chung chung, có sáng kiến và biết vượt qua hoàn cảnh khó khăn; dân chủ, công khai, liên hệ mật thiết với nhân dân, quan tâm đến quyền lợi của nhân dân; có khả năng tổ chức và triển khai kế hoạch và phải có sức khỏe.

Những tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ lãnh đạo nêu trên của Bác vẫn còn nguyên giá trị đối với việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo của chúng ta ngày hôm nay. Việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay vẫn đang còn nhiều yếu kém, hạn chế và ở không ít nơi có cả những biểu hiện tiêu cực. Đánh giá, lựa chọn cán bộ chủ yếu dựa vào bằng cấp mà ít căn cứ vào năng lực thật sự và hiệu quả công việc của họ. Không ít cán bộ có tài, có đức không được lựa chọn, bổ nhiệm hoặc được bổ nhiệm vào những vị trí “trái chân”. Những hạn chế trong công tác đánh giá, lựa chọn cán bộ đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, không ít cán bộ lãnh đạo không có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, quản lý yếu kém, gây thất thoát lớn; một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất, tạo phe cánh, gây mất đoàn kết, xa dân, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí,…

Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo yêu cầu Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI hiện nay, những bài học qua câu chuyện lựa chọn cán bộ của Bác cần được nghiên cứu, học tập, quán triệt để đánh giá, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo “đúng người, đúng việc”, qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng./.

            Chú thích

(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, trang 269, 273.

(2). Sách đã dẫn, trang 275.

(3). Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, số BTHCM-TL117.

Tiến sĩ. Bùi Huy Khiên – Học viện Chính trị
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Theo dvhnn.org.vn
Phương Thúy
(st).

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân – Bài 2

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già của lực lượng vũ trang nhân dân luôn chăm lo đến sự trưởng thành, vững mạnh của Quân đội nhân dân. Với đường lối chính trị đúng đắn, sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Người đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước tiên bằng việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp để cứu nước”.

Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Từ khi Đảng ta ra đời vào ngày 3-2-1930, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Đây chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân, là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Trong hai cuộc kháng chiến, Tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ trong kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ở kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để động viên, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong thời kỳ mới, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị tổ chức ngày Hội “Quốc phòng toàn dân” trong phạm vi cả nước, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực hiện chủ trương đó, hơn 20 năm qua, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã thường xuyên chăm lo củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; nâng cao nhận thức và phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước.

Trong những năm tới, chúng ta đang đứng trước những thuận lợi to lớn để phát triển toàn diện đất nước. Song, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới có vị trí hết sức quan trọng, với những yêu cầu và nội dung rất toàn diện; đòi hỏi chúng ta phải phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhận định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”, xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thấm nhuần tư tưởng đó, chúng ta phải tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các đoàn thể, của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh thực hiện “Ngày hội Quốc phòng toàn dân” lên tầm cao mới, trong đó Quân đội là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, làm cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thực sự là sự nghiệp của toàn dân, toàn quân ta.

Nguyễn Thanh Hoàng
xaydungdang.org.vn

————————-

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân – Bài 1

Kiểm tra như ngọn đèn pha

Hồ Chủ tịchBác Hồ chỉ rõ: “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm”

Ngày 30-11-1948, trên Báo Sự thật số 103, với bút danh X.Y.Z, Bác Hồ đăng bài “Một việc mà các cơ quan lãnh đạo cần thực hành ngay”. Người chỉ rõ: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Và “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm”.

Trong bài viết, Bác cho rằng: Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi. Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích.

Theo Người, mục đích sự tổ chức công tác là: Động viên toàn thể nhân dân hăng hái thi hành chính sách đã định. Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài phải hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và cho họ hiểu rõ mọi mặt các công việc họ phải phụ trách. Mà muốn biết sự động viên ấy và sự thực hành ấy đã đến mức nào thì phải có kiểm tra. Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời.

Bác nêu rõ, hiện nay, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy.

Về cách kiểm tra, theo Bác, phải có hệ thống nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy. Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo mà phải đi đến tận nơi. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra và cần có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm, năng lực để giúp mình đi kiểm tra. Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn pha. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ.

Công tác kiểm tra là công cụ phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Qua công tác kiểm tra đã phát huy những ưu điểm, khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém trong thực thi chủ trương, chính sách; lấy đó làm cơ sở kiến nghị với các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách chung của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cán bộ phải biết so sánh

Lời của Bác - Lời của non sôngTrong Tiết 3, Chương V của sách “Cách lãnh đạo” được Bác đặt tên “Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng”.

Trong bài có đoạn Bác nhấn mạnh rằng “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được”. “Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. “Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”.

Đề cập đến đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay “so sánh”, Bác viết rất cụ thể: “Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thẫu. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy. Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình”. “Dân chủ cũng do cách so sánh mà họ biết rõ ràng (cán bộ)…”.

Bác còn dặn: “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau”, “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”.

Và Bác Hồ dạy cán bộ cũng phải biết so sánh. “So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành”, “thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công”.

“So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học”. Cuối cùng Bác Hồ căn dặn và mong muốn: “Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm”.

Bác kết luận: Cán bộ là “Trung tâm của vấn đề”, rường cột của tổ chức, “cán bộ quyết định tất cả”. Cần phải “so sánh lại” để chọn đúng cán bộ cần cho Đảng, cho quân đội. “Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tấm lòng người dân Hà Nừng với Bác Hồ

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội không chỉ là công trình văn hóa, mà còn mang yếu tố tâm linh, là nơi hội tụ và thể hiện tình cảm và tấm lòng của nhân dân cả nước đối với vị Cha già của dân tộc. Ít ai biết rằng, trong vô vàn tình cảm và tấm lòng ấy có sự đóng góp bằng cả mồ hôi, công sức và tình cảm của đồng bào Ba Na xa xôi thuộc làng Hà Nừng, xã Sơn Lang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai ngày nay.

tam long Một góc làng Hà Nừng của người Ba Na hôm nay.

Được biết đến qua sách báo và các tài liệu lịch sử ghi lại, nhưng mãi đến những ngày cuối tháng 8 năm 2012 vừa qua, chúng tôi mới có dịp về Kbang và được các anh ở huyện đưa về làng Hà Nừng để gặp lại một số người từng trực tiếp chỉ huy và tham gia công việc đưa gỗ về xây Lăng Bác. Những người của ngày xưa ấy bây giờ không còn nhiều, có người đã mất, người tuổi đã cao… vậy mà khi được gợi lại ký ức của những việc làm ý nghĩa này, dù đã cách đây gần 40 năm nhưng có lẽ vì tình cảm và lòng kính yêu đối với Bác không hề phai nhạt, ai cũng phấn khởi và tự hào khi kể về công việc của mình đã làm.

Ông Đinh Văn Đoàn, dân tộc Ba Na lúc đó là Bí thư xã đoàn nhớ lại: Vào đầu năm 1974, đồng chí H’Nhan, cán bộ của Tỉnh uỷ Gia Lai Kon Tum và đồng chí Đinh A, Bí thư Tỉnh đoàn được cử về làng Hà Nừng thông báo chủ trương của Đảng về việc đưa gỗ về xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội ai cũng phấn khích, mặc dù biết đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Lúc đó, trong rừng gỗ thì rất nhiều song khai thác và vận chuyển là điều không phải dễ, bởi không có máy cưa mà chỉ có dao với rựa; không có phương tiện vận chuyển bằng xe cơ giới mà chỉ làm bằng thủ công. Đã vậy, vì Kbang nói chung, Hà Nừng nói riêng là nơi đóng quân của các cơ quan đầu não của Tỉnh ủy Gia Lai nên cũng đồng thời là vùng trọng điểm đánh phá của địch… Gỗ là loại quí, tốt, dao, rựa đưa vào dội ngược ra nhưng vì biết việc làm của mình có ý nghĩa lớn lao nên dân làng chúng tôi động viên nhau phải làm cho tốt, phải bảo đảm đúng thời gian Trung ương quy định. Ngày làm đêm nghỉ, và đúng một tháng lẻ hai ngày, dân làng Hà Nừng đã hoàn thành khối lượng công việc được giao.

Ông Đinh Văn Đoàn cùng với các trai làng lúc đó là Đinh A Nhô, Đinh Kriêng, Đinh Thị Pẻ… trực tiếp tuyên truyền, vận động dân làng thực hiện chủ trương này của Đảng và Chính phủ và đã huy động hơn 100 người tự nguyện tham gia. Mỗi người một việc và được phân công nhau cụ thể phù hợp với thực tế từng khâu công việc: Người già, người lớn tuổi vào rừng chặt gỗ, thanh niên trẻ khoẻ kéo gỗ, còn phụ nữ lo cơm ăn nước uống hàng ngày. Những người tham gia chiến dịch đều được tổ chức ăn ở tại rừng. Cung đường kéo gỗ từ rừng đến điểm tập kết giao cho các đơn vị bộ đội xa đến hơn 12 km, đường rừng chủ yếu nên dân làng phải dùng tời và kéo bằng sức người là chính. Bà Đinh Thị Pẻ, người phụ trách lo cơm nước hàng ngày cho mọi người tham gia công việc ngày ấy tâm sự trong niềm vui sướng và tự hào: Tổ hậu cần lúc đó chỉ có mười chị em nhưng phải lo cho hơn 100 người ăn, tuy công việc không vất vả bằng các trai làng, song việc lo toan hàng ngày cũng quan trọng không kém. Hồi đó, chiến tranh khổ lắm, gạo ít nên phải độn, thức ăn chủ yếu chỉ có rau rừng với muối. Lâu lâu, Tổ Hậu cần cắt cử người về làng mang hàng hoá về xuôi đổi lấy cá khô, nước mắm mang về mới có điều kiện cải thiện bữa ăn. Mình thường nói với chị em rằng, thương Bác Hồ là phải làm theo Đảng; việc đưa gỗ ra Hà Nội xây dựng Lăng Bác là trách nhiệm cao cả của cả dân làng mình.

Đến nay, nhiều người tham gia công việc ngày ấy giờ đã không còn; số còn sống cũng đã lên niên lão, sức khỏe đã yếu nhưng tình cảm và tấm lòng của họ và người dân làng Hà Nừng với Bác thì không bao giờ cạn. Ông Đinh A Nhô có lẽ là người may mắn nhất trong số những người hiện còn sống vì vinh dự được ra Hà Nội và vào Lăng viếng Bác hai lần vào năm 1985 và năm 1987, trong đó có một lần đi theo Đoàn do huyện Kbang tổ chức và một lần ông tự bỏ tiền đưa cả vợ con cùng đi.

Ông Đinh A Nhô phấn khởi: Lần đầu, mình được ra Hà Nội rồi được vào thăm Lăng Bác trong lòng luôn bồi hồi và xúc động, bởi ngoài việc được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ, mình còn được nhìn thấy Lăng Bác, muốn được tận mắt nhìn thấy những tấm gỗ mà chính mồ hôi và công sức của người dân Hà Nừng mình gửi ra để đóng góp cùng với nhân dân cả nước xây Lăng Bác.

Công lao của người dân làng Hà Nừng trong những năm chiến tranh chống giặc ngoại xâm đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận và tôn vinh. Đồng chí Đinh Văn Tư, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Lang, cho biết: Làng Hà Nừng là vùng căn cứ địa cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau ngày thống nhất đất nước, nhờ thường xuyên nhận được sự quan tâm chăm lo của Đảng và Nhà nước, người dân xã Sơn Lang nói chung và bà con Ba Na làng Hà Nừng nói riêng đã từng bước tạo lập cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Làng hiện có hơn 100 hộ với khoảng 700 nhân khẩu đang có cuộc sống yên bình và ngày càng đầy đủ hơn về các mặt sinh hoạt; hệ thống điện thắp sáng đã được kéo đến tận hộ dân, đường sá đi lại thuận lợi, 100% con em trong độ tuổi đều đến trường lớp học, đau ốm có cơ sở y tế điều trị miễn phí. Cả làng hiện chỉ còn khoảng 20% hộ nghèo theo tiêu chí mới, số hộ vươn lên khá và giàu ngày càng nhiều bằng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoá như cà phê, bời lời, nuôi bò lai…

Luôn phát huy truyền thống là quê hương cách mạng, người Ba Na ở đây một lòng, một dạ theo Đảng và Bác Hồ và việc góp gỗ xây Lăng Bác ở Hà Nội cho đến bây giờ vẫn là niềm tự hào của người dân Hà Nừng.

Phan Hòa
Theo http://www.nhandan.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên

Hàn vạn người dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ngày 5-1-1946 Ảnh tư liệu
Hàng vạn người dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh 
và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ngày 5-1-1946

Cách mạng Tháng Tám thành công, đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do làm chủ nước nhà. Tuy nhiên, do tình hình lịch sử lúc bấy giờ: Tài chính đất nước thì kiệt quệ, dân trí thì lạc hậu (90% mù chữ), nạn đói hoành hành, thù trong giặc ngoài đang nhăm nhe lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ… Có thể nói vận mệnh của Tổ quốc như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Để giữ vững được chính quyền cách mạng, để xây dựng được chính quyền vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cần phải tìm người hiền tài để giúp dân, giúp nước. Do đó, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 14/SL/8-9-1945 về cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội. Bản Sắc lệnh đã khẳng định yêu cầu bức thiết của Tổng tuyển cử, đồng thời khẳng định chúng ta có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện khách quan và chủ quan để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đó. Bản Sắc lệnh gồm 7 điều, quy định: “Trong một thời hạn hai tháng kể từ ngày ký Sắc lệnh này sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội” (Điều 1); “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường” (Điều 2); “Một Uỷ ban để dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được thành lập” (Điều 5); “Để dự thảo một bản Hiến pháp đệ trình Quốc hội, một Uỷ ban khởi thảo Hiến pháp 7 người sẽ thành lập” (Điều 6).

Ngày 16/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử. Tuy còn một số cán bộ tỏ ra lo lắng vì trình độ nhân dân ta còn thấp, năng lực tổ chức yếu, kinh nghiệm chưa có, hơn nữa ở miền Bắc bè lũ phản động đang hè nhau phá phách; ở miền Nam tình hình chiến sự đang lan rộng, nhưng với lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, Bác vẫn quyết định: “Phải bầu ngay Quốc hội càng sớm, càng tốt. Bên trong thì nhân dân tin tưởng thêm vào chế độ của mình. Trước thế giới, Quốc hội do dân bầu sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận”.

Tiếp đó, Chính phủ lâm thời đã ban hành các Sắc lệnh để xúc tiến công việc chuẩn bị cụ thể cho việc Tổng tuyển cử như: Sắc lệnh số 34/SL ngày 20-9-1945, thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm có: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu; Sắc lệnh số 39/SL ngày 26-9-1945 về thành lập Uỷ ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử gồm 9 người, trong đó có đại diện của các ngành, các giới.

Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 51/SL quy định thể lệ Tổng tuyển cử gồm 12 khoản, 70 điều. Trong đó, quy định cuộc Tổng tuyển cử phải được tiến hành theo lối phổ thông đầu phiếu bầu cử trực tiếp và bí mật, đồng thời ấn định thời gian Tổng tuyển cử vào ngày 23/12/1945; Sắc lệnh số 71 và Sắc lệnh số 72 để sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh 51 về thủ tục ứng cử; bổ sung số đại biểu được bầu cho một số tỉnh để nâng tổng số đại biểu Quốc hội lên 330 đại biểu. Để tạo điều kiện cho những người có quyền ứng cử và có nguyện vọng ứng cử có đủ thời gian ứng cử và vận động tuyển cử.

Với niềm tin vào Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã một lòng ủng hộ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc. Nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách các cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện của mình, hạn chế tới mức cao nhất những phần tử cơ hội lợi dụng dịp Tổng tuyển cử để tranh giành quyền chức. Tại các địa phương, nhân dân ta nô nức kéo về trụ sở chính quyền các tỉnh thành, huyện lỵ mít tinh hoan nghênh Tổng tuyển cử và ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Không chỉ ở các tỉnh thành mà ở cả các bản làng xa xôi hẻo lánh cũng nô nức rộn ràng tiếng cồng chiêng cổ động cho Tổng tuyển cử. Hay ở các đất nước như Pháp, Thái Lan, Lào… đồng bào xa xứ của ta cùng mít tinh, hội họp, gửi điện tín, ủng hộ Tổng tuyển cử. Có thể nói cả dân tộc như hừng hực sức sống trước ngày hội của non sông.

Ngày 5/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu. Toàn văn như sau:

“Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946.

Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một là phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, Quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ,

Kiên quyết chống bọn thực dân,

Kiên quyết tranh quyền độc lập.

Ngày mai dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà. Vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.

Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hăng hái với nước, với dân, thì luôn luôn phải giữ lòng hăng hái đó. Ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau quốc dân nhất định cử ta.

Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

CT HCM thực hiện quyền bầu cử
Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện quyền bầu cử

Ngày 6-1-1946, ngay từ 6 giờ sáng, Hồ Chủ tịch đã xuất hành làm nhiệm vụ công dân của mình ở thùng phiếu số 10 phố Hàng Vôi. Người trình thẻ cử tri, nhận phiếu bầu, ra bàn ngồi ghi rồi gấp phiếu lại ngay ngắn, cẩn thận bỏ vào thùng phiếu. Sau đó, Người đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu, Ô Đông Mác. Buổi trưa, Người ghé thăm các cháu thiếu nhi đang đi cổ động cho Tổng tuyển cử ở phố Lò Đúc. Quốc hội khóa I đã bầu ra được tổng số đại biểu là 403, gồm 333 đại biểu được bầu chính thức. Bắc bộ có 152 đại biểu, Trung bộ có 108 đại biểu, Nam bộ có 73 đại biểu và đặc thù có 70 đại biểu không thông qua bầu cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh được 98,4% số phiếu bầu. Kết quả này là một bằng chứng về khát vọng độc lập, tự chủ của dân tộc ta và uy tín tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn thể nhân dân Việt Nam. Về thành phần xã hội có trí thức, nông dân, công kỹ nghệ gia, thợ thuyền, buôn bán. Về tuổi tác, từ 18 – 70 tuổi. Thời gian Quốc hội khóa I hoạt động kéo dài đến ngày 15/4/1960. Qua hơn 14 năm đầy thử thách, cam go, Quốc hội đã giành được nhiều thắng lợi to lớn.

Thắng lợi của Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tinh thần yêu nước của nhân dân ta, là dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam, mở ra triển vọng của một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Đã 67 năm trôi qua kể từ mùa xuân năm ấy của ngày hội non sông nhưng giá trị lịch sử và ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn như thủa nào, điều ấy đã và đang được các thế hệ kế thừa và phát huy những thành quả mà Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã gây dựng lên.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Đoàn cán bộ, công nhân viên tiêu biểu Tổng công ty May 10 về Lăng viếng Bác

may 10 a 1Đoàn cán bộ, công nhân viên tiêu biểu Tổng công ty May 10 về Lăng viếng Bác

Ngày 8 tháng 1 là một ngày đặc biệt, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi thế hệ cán bộ, công nhân viên May 10: Ngày này cách đây 54 năm, May 10 đã vinh dự được đón Bác về thăm, đó là một phần thưởng hết sức cao quý đối với May 10 do đã có nhiều thành tích trong lao động sản xuất và chiến đấu. 54 năm qua lớp lớp các thế hệ May 10 luôn khắc ghi và vận dụng sáng tạo những lời dạy của Người trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình, lấy đó làm kim chỉ nam cho những hành động xuyên suốt hơn nửa thế kỷ qua và đã xây dựng một May 10 lớn mạnh như ngày hôm nay. Theo truyền thống hàng năm, nhân dịp đầu năm mới, kỷ niệm Ngày Bác Hồ về thăm Tổng Công ty May 10 (8/1/1958), lãnh đạo Tổng Công ty đều tổ chức cho cán bộ, công nhân viên ưu tú báo công tại Lăng Bác nhằm giáo dục lòng yêu nước, tự hào truyền thống của Tổng Công ty, tạo khí thế cho toàn thể cán bộ, công nhân viên phấn đấu hoàn thành kế hoạch đặt ra trong năm. Tham dự buổi lễ báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10, Ban lãnh đạo, cơ quan điều hành và 160 cán bộ, công nhân viên tiêu biểu năm 2012

Ra đời từ 1946 và  trải qua chặng đường 66 năm phát triển với 15 nhà máy sản xuất và hơn 9000 nhân sự, sản phẩm May 10 đã được nhiều khách hàng tin tưởng chọn lựa từ trong nước đến nước ngoài. Mỗi năm May 10 sản xuất hơn 20 triệu sản phẩm chất lượng cao các loại, 80% sản phẩm được xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Châu Âu… Nhiều tên tuổi lớn của ngành thời trang có uy tín trên thế giới đã và đang hợp tác với May 10 như Zara, Mango, Hugo, Brandtex, Asmara, Jacques Britt, Seidensticker, Tesco, C&A, Camel, Arrow… May 10 đang nỗ lực nhiều hơn, quyết tâm nhiều hơn để luôn luôn làm hài lòng các khách hàng nội địa cũng như nước ngoài một cách tốt nhất.

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền cho chúng tôi được biết: Sự tín nhiệm của khách hàng và sự nhiệt tình, tận tâm tận lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong toàn Tổng công ty chính là hai yếu tố quan trọng nhất để giúp May 10 đứng vững và ngày càng khẳng định mình trên thị trường cả trong và ngoài nước. Năm 2012, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều khó khăn, đặc biệt đối với May 10 năm 2012 là một năm cực kỳ khốc liệt, nhưng với sự đoàn kết thống nhất và nỗ lực hết mình của toàn thể cán bộ, công nhân viên, đơn vị đã trụ  được và hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, đặc biệt mức lương của người lao động đã tăng 23%. Để hiện thực hoá những mục tiêu mà Tổng Công ty đề ra trong năm 2013, Tổng Công ty sẽ tăng cường tuyên truyền giáo dục để  cho mỗi cán bộ, công nhân viên thấu hiểu tình hình, chung sức đồng lòng, phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo để cống hiến cho doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác nghiên cứu tổ chức sản xuất, cải tiến thao tác; cải tiến hệ thống quản lý và tăng cường kiểm tra việc áp dụng nhằm nâng cao vị thế và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp; từng bước đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhằm tăng năng suất, giảm áp lực về cạnh tranh lao động; Chủ động nắm bắt thời cơ, đầu tư mở rộng năng lực sản xuất khi thị trường có dấu hiệu phục hồi.

may 10 a2
Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng chụp ảnh lưu niệm cùng Đoàn

Tiếp đoàn tại Nhà khách số 8 Hùng Vương, thay mặt cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng, Ban Quản lý Lăng, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đánh giá cao những hoạt động giáo dục truyền thống của Tổng Công ty May 10, chính những hoạt động này là những động lực cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế đã đề ra, đặc biệt trong tình hình kinh tế có rất nhiều khó khăn như năm 2012 vừa qua. Nhân dịp này, đồng chí Chính ủy đã giới thiệu với Đoàn về những kết quả thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác tổ chức lễ viếng Bác, phục vụ và đón tiếp nhân dân và khách quốc tế đến viếng Người trong năm 2012 và gắn Huy hiệu Bác Hồ cho các đồng chí cán bộ, công nhân viên tiêu biểu xuất sắc năm 2012.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu dự Đại hội Công đoàn Đường sắt Việt Nam báo công dâng Bác

Hòa cùng khí thế sôi nổi của công nhân viên chức lao động Công đoàn, toàn ngành hướng về Đại hội XIV Công đoàn Đường sắt Việt Nam, hôm nay ngày 06 tháng 01 năm 2013 thay mặt gần 4 vạn đoàn viên, công nhân viên chức Lao động Công đoàn và 245 đại biểu  tham dự Đại hội hội tụ về đây để tưởng nhớ công ơn của Người, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và báo công dâng lên Bác những thành tích và kết quả đạt được của phong trào Công nhân viên chức và hoạt động Công đoàn trong thời gian vừa qua. Khắc ghi lời căn dặn của Người “công việc hỏa xa là công việc quan trọng trong sự kiến thiết nước nhà. Tôi mong anh em Sở Hỏa xa lúc nào cũng đoàn kết, cố gắng để làm tròn nhiệm vụ”, làm theo tấm gương đạo đức của Người là “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” bằng những việc làm thiết thực hàng ngày, học tập trau dồi kiến thức chuyên môn phục vụ cho công việc đạt kết quả cao nhất.

Bao cong dương satĐoàn đại biểu dự Đại hội Công đoàn Đường sắt
Việt Nam báo công dâng Bác

Là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và người lao động, là thành viên trong hệ thống chính trị của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Công đoàn có vai trò hết sức quan trọng, bởi đây là nơi trực tiếp vận động, thuyết phục tổ chức cho người lao động thi đua lao động và học tập, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị ở đơn vị, Ngành góp phần vào thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước. Từng bước thể hiện thương hiệu Đường sắt Việt Nam.

Trải qua quãng thời gian 6 năm của một nhiệm kỳ, Công đoàn Đường sắt Việt Nam đã ngày một trưởng thành hơn, giữ vững đoàn kết, ổn định từ Ngành tới cơ sở nổi bật trên các lĩnh vực:

Ban Thường vụ Công đoàn Đường sắt Việt Nam đã triển khai hướng dẫn tổ chức Đại hội, Hội nghị Công đoàn các cấp tiến tới Đại hội XIV Công đoàn Đường sắt Việt Nam nhiệm kỳ 2013 – 2018 thành công tốt đẹp, tạo khí thế phấn khởi trong Công nhân viên chức lao động Công đoàn quyết tâm thực hiện mục tiêu “huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển Đường sắt Việt Nam bền vững và từng bước hiện đại”.

Thường xuyên chăm lo đời sống cho người lao động… đồng thời thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phát huy truyền thống dân tộc uống nước nhớ nguồn, chi ân các Anh hùng Liệt sỹ, Mẹ Việt Nam anh hùng; thực hiện tốt Nghị quyết 30a của Chính phủ; trợ cấp người lao động lúc khó khăn, xây nhà tình nghĩa đạt kết quả tốt. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp; công tác đào tạo cán bộ Công đoàn, công tác phát triển đoàn viên luôn được quan tâm chú trọng. Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thay mặt cho cán bộ đoàn viên Công đoàn Đường sắt Việt Nam, đồng chí Mai Thành Phương, Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Đường sắt Việt Nam đã xúc động bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Bác kính yêu đã hiến dâng trọn đời mình cho độc lập tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân và xin hứa với Người nguyện tiếp tục kiên định đi theo con đường mà Người đã lựa chọn, phát huy truyền thống “dũng cảm, kiên cường, thông minh, sáng tạo”, công nhân lao động Đường sắt Việt Nam vượt mọi khó khăn thử thách, nêu cao ý thức tự lực tự cường, tăng sức cạnh tranh tiếp tục đổi mới thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ Đường sắt Việt Nam, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV Công đoàn Đường sắt Việt Nam, xây dựng tổ chức Công đoàn ngày càng vững mạnh, góp phần huy động mọi nguồn lực, đoàn kết thống nhất xây dựng Đường sắt Việt Nam phát triển bền vững và từng bước hiện đại.

bao cong duong sat

Kết thúc lễ báo công dâng Bác, Đoàn đại biểu Đại hội Công đoàn Đường sắt Việt Nam đã kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tiên Long
bqllang.gov.vn