Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tự phê bình và phê bình thật sâu sắc, cụ thể

Vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tiến hành kiểm điểm tự phê bình, phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng. Tinh thần gương mẫu, nghiêm túc, kỹ lưỡng trong quá trình chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, được dư luận hoan nghênh. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xác định rõ những việc cần làm tiếp sau khi kiểm điểm, trong đó đáng chú ý là, tháng 9 năm 2012, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ họp lại để thông qua Báo cáo kiểm điểm tự phê bình và phê bình của tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Bản tiếp thu giải trình, đánh giá chính thức về kết quả kiểm điểm và xem xét kỷ luật (có hay không, đến mức nào đối với tập thể và cá nhân) để báo cáo với Trung ương.

tu phe binhHội nghị cán bộ toàn quốc hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng.

Trong tháng 9, các Đảng bộ cấp tỉnh và tương đương sẽ tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Quá trình chuẩn bị ở các nơi nổi lên một vấn đề nổi bật là, ý kiến đóng góp của các tổ chức Đảng, của các đồng chí nguyên là cán bộ lãnh đạo đều đề nghị phải hết sức rõ ràng, thẳng thắn, liên hệ một cách cụ thể, sâu sắc vào từng nội dung, từng giải pháp, tránh tình trạng phê bình, góp ý chung chung.

Một điểm chung chung thường thấy là khi phê bình, góp ý, nhiều đồng chí thường nói công tác xây dựng Đảng còn có nhiều mặt hạn chế, thiếu sót; công tác chính trị tư tưởng chưa được quan tâm. Nhưng nội dung của những công tác đó là gì thì hiểu không đầy đủ và không dẫn chứng được những việc cụ thể, nguyên nhân do đâu. Nói xây dựng Đảng là nói tới xây dựng tổ chức và xây dựng con người. Vậy thì khi liên hệ tình hình đảng bộ phải có những ý kiến cụ thể, đối chiếu với Điều lệ Đảng, với Nghị quyết để kiểm điểm. Xây dựng tổ chức chưa được quan tâm đúng mức, cụ thể là gì? Chẳng hạn không chăm lo kiện toàn các chi bộ; năng lực cấp ủy còn hạn chế, còn vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; nhiều năm không phát triển đảng viên, nhiều tháng không sinh hoạt chi bộ… Nguyên nhân khách quan, chủ quan, trách nhiệm thuộc về ai, biện pháp khắc phục như thế nào? Rồi nói về xây dựng con người: đảng viên trong chi bộ có thật sự gương mẫu, tiêu biểu cho phẩm chất, năng lực của tập thể đơn vị không; gia đình vợ con có liên quan đến tham nhũng, tiêu cực hay không. Liên hệ một cách cụ thể như vậy thì sẽ tránh được lối nhận xét chung chung, đúng mà không trúng, phê bình theo kiểu “ném cát bụi tre”, không chỉ ra được căn bệnh để bốc thuốc.

Tương tự như vậy, bây giờ đi đến đâu cũng thấy nhiều người nói về tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống. Nhưng hỏi một số đồng chí thì thấy chưa hiểu đúng về suy thoái tư tưởng chính trị. Có trường hợp nhầm lẫn với suy thoái về chính trị. Có trường hợp nhầm lẫn với suy thoái về tư tưởng văn hóa, tư tưởng pháp luật… Nói một cách nôm na rằng, tư tưởng chính trị thể hiện rõ nhất lợi ích dân tộc được đặt lên trên hết. Yêu nước, thương dân đặt lên trên hết. Vì vậy, trong tự phê bình mình và phê bình đồng chí, khi nói suy thoái tư tưởng chính trị chúng ta có thể nêu những biểu hiện cụ thể, không hề trừu tượng. Ai đó xa rời quyền lợi dân tộc, quyền lợi của cộng đồng, sa vào lợi ích nhóm. Ai đó bàng quan trước những sự kiện chính trị quan trọng trong đời sống xã hội, chỉ cốt lo cho riêng mình, gia đình mình, thờ ơ trước đời sống khó khăn, hoạn nạn của đồng bào, của bà con lối xóm, của những người chung quanh, chính là họ đã suy thoái về tư tưởng chính trị. Và điều này gần với suy thoái về đạo đức, lối sống.

Nói về kiểm điểm, liên hệ cụ thể, sâu sắc cũng cần chỉ rõ trách nhiệm của các đồng chí cấp ủy viên, lãnh đạo chính quyền, nhất là người đứng đầu, mà Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu rõ về mối quan hệ này. Rằng đồng chí Bí thư, đồng chí Chủ tịch đã “vào vai” đúng chưa, hay còn bao biện, lấn sân, hoặc vừa đá bóng vừa thổi còi, ngược lại là khoán trắng cho cấp dưới? Rằng đồng chí Phó Bí thư, lãnh đạo các ban của cấp ủy đã nắm vững chức trách, nhiệm vụ chưa, hay lại sa vào công tác của chính quyền, của chuyên môn.

Trong quá trình kiểm điểm, một vấn đề đang có những ý kiến khác nhau, đó là những thiếu sót, khuyết điểm nào thì công bố trong nội bộ và công khai tới đâu. Có đồng chí cho rằng, phê bình là phải nghiêm túc, thẳng thắn, phân tích, mổ xẻ đến cùng, có cả những bí mật về đời tư của cán bộ, vì vậy cũng nên “đóng cửa bảo nhau”, không phải cái gì cũng “phơi” ra cả. “Phơi” ra thì dễ bị kẻ xấu, kẻ cơ hội chính trị lợi dụng. Chúng ta đều biết, dân chủ, công khai thể hiện trí tuệ và văn minh của Đảng. Nếu ở nơi nào thiếu dân chủ, dân chủ hình thức, sẽ dẫn đến cấp dưới xa cấp trên, quần chúng xa cán bộ, nội bộ Đảng thiếu đoàn kết thống nhất. Đương nhiên, công khai đòi hỏi phải theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật hiện hành và phù hợp nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhằm phát huy vai trò của tổ chức dân cử, Mặt trận, các đoàn thể và nhân dân tham gia giám sát cán bộ, đảng viên.

Có hai loại ý kiến khác nhau là, việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình lần này rất khó đạt yêu cầu như mong muốn, vì đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, liên quan sinh mạng chính trị của mỗi đảng viên và tổ chức Đảng; vì chúng ta đã từng có nhiều lần tiến hành chỉnh đốn Đảng, nhưng kết quả không vững chắc, những thiếu sót chậm được khắc phục, có khi ngày càng nghiêm trọng hơn. Ý kiến thứ hai là, sau khi kiểm điểm, tình hình sẽ chuyển biến mau lẹ và cuộc chỉnh đốn Đảng lần này sẽ kết thúc tốt đẹp vào tháng 12 năm 2012 (!). Tuy nhiên, ý kiến thứ hai này đòi hỏi phải xử lý thật nghiêm túc, phải có hình thức kỷ luật nghiêm khắc, phải kiên quyết đưa những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất ra khỏi bộ máy, bất kể người đó là ai, giữ cương vị gì, không có “vùng cấm”, “vùng tránh” trong Đảng. Cả hai loại ý kiến trên đều thể hiện sự quan tâm, mong muốn, ý thức trách nhiệm cao. Chỉ thị 15-CT/TƯ của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng đã nêu rõ: “Xây dựng Đảng là công việc hệ trọng, khi thực hiện phải bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; giữ đúng nguyên tắc, không để các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích gây rối nội bộ; đồng thời không được để rơi vào trì trệ, hình thức, không làm chuyển biến được tình hình”. Phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế, chuyển biến từng bước, tiến bộ từng bước, nhưng phải bảo đảm vững chắc – đó là hướng đi và cách làm cả trước mắt và lâu dài.

Trong quá trình chuẩn bị kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nhiều cấp ủy đã chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, coi đây là bước đột phá trong công tác chuẩn bị. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm tạo nên sự thống nhất cao về nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong thực hiện Nghị quyết. Trong lúc này càng cần phải đấu tranh mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, phê phán những biểu hiện sai trái, cực đoan, lợi dụng phê bình để kích động, gây rối, làm mất đoàn kết nội bộ. Việc thực hiện Nghị quyết phải gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đơn vị; gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Không làm tốt công tác tư tưởng sẽ dẫn đến việc kiểm điểm một cách hình thức, chiếu lệ, không liên hệ sâu sắc tình hình tập thể và đối chiếu với bản thân. Nếu ở đâu đó còn có biểu hiện coi đây là vấn đề đã làm thường xuyên, thậm chí đã “yên tâm” rồi thì dễ chủ quan, dễ người dễ ta, bắt tay thỏa hiệp với nhau, nương nhẹ, bỏ qua cho nhau; ngược lại là phê bình theo kiểu “cháy nhà”, bới lông tìm vết, mạt sát, xúc phạm nhau, không có tình đồng chí thương yêu nhau, như Bác Hồ đã căn dặn./.

Theo nhandan.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Bác học tiếng Thái

Ảnh Tư liệu

“Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.”

Khi đất nước ta còn chìm đắm trong vòng nô lệ, Bác phải sang Xiêm (Thái Lan bây giờ) với bí danh là Thầu Chín (Cụ Chín) để hoạt động cách mạng… Cán bộ khác theo Bác sang hoạt động bên đó thường trao đổi với nhau bằng tiếng Việt làm cho dân địa phương không hiểu và tỏ ra khó chịu. Biết vậy, Bác tập hợp cán bộ, bàn nhau cùng học tiếng tiếng Thái dễ hòa mình với dân địa phương. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng phải nói thạo tiếng Thái để vừa dễ dân vận vừa dễ tuyên truyền cách mạng.

Người thì đề ra kế hoạch mỗi ngày phải thuộc 50 từ, người thì 40 từ… riêng Bác chỉ nhận mỗi ngày 20 từ. Mọi người nhất trí là sau 3 tháng đạt yêu cầu Bác thưởng, ai không đạt, chịu phạt. Mấy ngày đầu anh em hăm hở học, sau đó số lượng tụt dần dần, từ 50 xuống 40 từ, rồi 30, 20 thậm chí 10 hoặc 5… Có lúc lại học cách buổi, rồi cách tuần. Hôm nào hứng lên lại học ào ào, sôi nổi được vài ba ngày rồi tịt hẳn. Trong khi đó, Bác tự học rất đều đặn. Ngày nào bận công tác đoàn thể thì hôm sau Bác kiên quyết học bù cho kì được.

Sau 3 tháng, Bác đã thuộc gần 2000 từ. Đúng hạn 3 tháng, Bác đã tập hợp anh em lại để xem kết quả. Người thì ấp úng người thì đỏ tai và tất cả đều xin chịu bị phê bình vì chẳng ai học đến đầu đến đũa cả. Bác không phạt mà ôn tồn chỉ ra rằng học tiếng nước ngoài còn dễ hơn làm cách mạng rất nhiều. Học chữ mà còn không xong, thì liệu có kiên trì đeo đuổi nổi sự nghiệp cách mạng hay không?

Theo 120 chuyện kể về Bác
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X báo công dâng Bác

Sáng ngày 11/12/2012, Đoàn đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2012-2017) đã tổ chức Lễ báo công và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. 999 đại biểu, đại diện cho hơn 7 triệu Đoàn viên thanh niên trong cả nước đã thành kính, trang nghiêm báo công với Bác Hồ tại Quảng trường Ba Đình.

bao cong
Đại biểu dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X báo công dâng Bác

Thay mặt cho tuổi trẻ cả nước, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn Nguyễn Đắc Vinh đã báo cáo với Bác những kết quả của công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2007-2012: Là tổ chức của thanh niên Việt Nam vinh dự được mang tên Bác kính yêu, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong suốt chiều dài lịch sử đã luôn khẳng định được ý chí quật cường, bản lĩnh, trí tuệ, tính xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ. Trên khắp mọi miền của Tổ quốc hôm nay, mỗi đoàn viên thanh niên luôn mang trong mình niềm tự hào về truyền thống anh hùng cách mạng của các thế hệ cha anh, ra sức học tập, tu dưỡng đạo đức trong sáng, rèn luyện phong cách giản dị, mẫu mực, ý chí vượt khó như lời dạy của Người. Trong nhiệm kỳ qua, với quyết tâm đổi mới về phương thức và nội dung, kiên trì phương châm giáo dục qua thực tiễn hành động cách mạng, nêu gương và nhân rộng điển hình tiên tiến, phát huy vai trò tự giáo dục, rèn luyện của thanh niên, công tác giáo dục của Đoàn đã góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật cho đoàn viên thanh niên. Với những cố gắng nỗ lực của các thế hệ đoàn viên, thanh niên, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã vinh dự được đón nhận Huân chương Sao Vàng lần thứ hai nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Trong nhiệm kỳ qua, nhiều tập thể, cá nhân cũng đã được trao tặng các huân, huy chương cao quý của Đảng và Nhà nước.

hoa vao lang
Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau Lễ báo công, Đoàn đại biểu dự Đại hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ. Đại hội được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình trong 4 ngày, từ ngày 11/12/2012 đến ngày 14/12/2012.

tương đài
Đoàn đại biểu dự Đại hội dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ

Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Cụ Hồ thách đố

Cuộc sống của Bác Hồ bao giờ cũng giản dị vui tươi. Bác làm từ việc lớn, như lãnh đạo cách mạng, đến việc bình thường nhất như xay bột, giã gạo,vác gỗ…

Có lần Bác đang cặm cụi trồng cây khoai môn trước cửa nhà, thấy chúng tôi vào, Bác liền cười nói:

– “Trồng môn trước cửa nhà”, thử đối lại xem sao.

Câu đối cũng khá hóc búa vì “môn” tức là cửa, làm thế nào chọn được vế kia cho chọi.

– “Bắt ốc sau nhà”! – Chúng tôi cùng nhau cười thưa lại sau một lúc lâu suy nghĩ.

Bác cười một cách vui vẻ.

– Tạm cho được!

… … …

Một đêm trăng sáng. Đồng chí ông Ké cùng các đồng chí và tôi đi tắm đêm. Trông thấy bóng trăng sáng vằng vặc trong lòng suối, đồng chí ông Ké nói:

Tôi có một câu đối. Ai đối được tôi gả con gái cho.

Đồng chí ông Ké liền thong thả đọc vế đối:

– “Nguyệt chiếu khê tâm, tâm chiếu nguyệt”

(Mặt trăng soi xuống lòng khe, lòng khe soi lên trăng)

Ai cũng cố nghĩ để đối lại. Riêng đồng chí Hường đối:

– “Hoa sinh thạch diện, diện sinh hoa”

(Hoa nở trên mặt đá, mặt nở hoa)

Ông Ké thốt lên vui vẻ:

– Ô, thế hóa ra mặt rỗ rồi.

– Mọi người cùng phá lên cười vui vẻ. Nghĩ đến vế đối của ông Ké ra, lời lẽ thanh tao, ý tứ sâu sắc, đối được cũng khó. Nhân nhìn trước mắt có cái động núi đẹp đẽ, lúc trẻ tôi vẫn thường cùng bạn bè vào chơi, hét lên một tiếng có ngàn tiếng vọng lại. Tôi nói:

– “Lôi mình không cốc, cốc mình lôi”

(Sấm gọi hang không, hang gọi sấm)

Ông Ké khen:

– Được. Nhưng đồng chí không làm rể được mình vì đồng chí gần bằng tuổi mình rồi, lại đã có gia đình.

Mọi người cười ồ vui vẻ…

Theo 108 Chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui đời thường của Bác Hồ (Phần 1)

421. Bác Hồ trong cuộc liên hoan bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào

Tối hôm bế mạc Đại hội Quốc dân Tân Trào (họp vào năm 1945) có một cuộc liên hoan. Mọi người được dự bữa “tiệc” có cả rượu “con mèo” và đồ hộp do bộ đội ta đánh Pháp ở Tam Đảo lấy được. Cuộc liên hoan thật vui. Bác Hồ cũng rất vui. Người bảo Đoàn đại biểu Hà Nội hát một bài. Anh Vũ Quang, người phụ trách sinh hoạt của Đoàn, bắt nhịp hát bài “Quảng Châu công xã” của Đỗ Nhuận. Nhạc sĩ trẻ Nguyễn Đình Thi hát bài “Thanh niên cứu quốc”. Bài hát có câu: “Gươm đâu, gươm đâu, thời cơ đang đến – tiến lên, tiến lên theo cờ Việt Minh!”. Bác Hồ ngồi giữa các đại biểu bỗng nói:

– Bây giờ mà các chú còn hát gươm đâu, gươm đâu, thì không hợp nữa. Chú lên hát là gươm đây, gươm đây!

Các đại biểu reo lên vui cười.

2. Những kỷ niệm vui của bà Thanh Thủy

Ở Đại hội Quốc dân Tân Trào, công việc nhiều, thời gian ít, nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian tiếp xúc với những đại biểu và dường như ai cũng có kỷ niệm riêng với Người. Với bà Thanh Thủy (vợ ông Dương Đức Hiền), Người hỏi:

– Cô công tác ở đâu?

– Da thưa cháu công tác ở Hải Phòng, Kiến An và Quảng Yên ạ!

– Ba tỉnh kia à? Thế thì bằng Tổng đốc rồi còn gì!

– Hôm chia tay, một số người còn ở lại quây quần bên Bác Hồ trên nhà sàn. Người lần lượt chia quà. Đến lượt bà Thủy, Người hỏi:

– Cô chú đã có cháu chưa?

– Dạ, chưa ạ!

– Thế tôi tặng bánh xà phòng thơm này, mau có cháu, tắm cho bé nhé!

Mọi người cười ồ. Bà Thủy nắm chặt món quà quý vô cùng xúc động.

3. Thế có “Tính nhà quan” không?

Hồi đầu Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác hỏi một Bộ trưởng đang mặc quần đùi âu phục:

– Chú mặc “soọc” cơ à?

– Dạ thưa cụ, mặc như thế này cho có vẻ con nhà lính ạ!

– Thế có “tính nhà quan” không? – Bác tiếp luôn rất nhanh.

Mọi người xung quanh cười ồ rất thoải mái.

4. Tôi sẽ vẽ râu cho chú

            Sau ngày 2/9/1945, nhà thơ Cù Huy Cận được giao chức trách Bộ trưởng Bộ Canh nông. Năm đó ông vừa tròn 26 tuổi, Bác Hồ gọi cho ông lên và nói:

– Tôi muốn giao cho chú thêm 1 việc nữa. Đó là làm trong Ban Thanh tra đặc biệt, gồm có 2 người: Chú và cụ Bùi Bằng Đoàn.

Huy Cận thưa với Bác :

– Cụ Bùi Bằng Đoàn là một vị quan có tiếng thanh liêm trong triều đình cũ, còn cháu trẻ quá, nên cháu xin được từ chối.

Bác ôn tồn giải thích :

– Chú sợ trẻ quá không đủ sức để làm thanh tra chứ gì? Vậy thì chiều nay chú mang bút lông và mực Tầu đến đây. Chú mài mực và tôi sẽ vẽ râu cho chú. Thế là chú sẽ thành thanh tra thôi.

Trước những lời chân tình và vui đùa thân mật của Bác như vây, Cù Huy Cận đã nhận lời Người.

Tâm Trang(st)
bqllang.gov.vn

Như giữ đồng bạc trắng

Chuyện kể về NgườiÔng Nguyễn Tiến Sự là người đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang đón Bác Hồ về nhà mình ở.

Trở về thăm mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào, tuổi trẻ Tuyên Quang đã được nghe ông kể chuyện về Bác Hồ muôn vàn kính yêu của thế hệ trẻ Việt Nam

Một bữa chị em phụ nữ bản Tân Lập (Tân Trào, Tuyên Quang) tập trung xay thóc giã gạo chuẩn bị lương thực cho cán bộ, bộ đội thì Bác đi công tác qua, dừng lại hỏi chuyện:

– Chị em có biết mình xay thóc, giã gạo thế này là để làm gì không?

Mọi người chưa hiểu, nên đưa mắt nhìn nhau, Bác nói tiếp:

– Xay thóc, giã gạo để cán bộ và bộ đội có cơm ăn đánh Tây, đuổi Nhật. Như vậy là chị em ta cũng góp phần đánh Tây, đuổi Nhật đó.

Bác lại hỏi:

– Nếu chị em ta có đồng bạc trắng thì cất giấu ở đâu cho khỏi mất?

Chị em vui vẻ trả lời Bác. Người thì nói là cho vào hòm chắc khoá lại. Người thì cho là bỏ vào túi vải luôn luôn mang ở bên mình…

Đợi mọi người nói hết, Bác kết luận:

– Ai nói cũng đúng. Cất như vậy là kín. Bây giờ ở bản ta có cán bộ, bộ đội chúng ta cũng phải bí mật bảo vệ họ cẩn thận như giữ đồng bạc trắng. Vì nếu để lộ ra thì dễ hỏng mất việc nước.

Theo dulichtantrao.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Đây là cánh cửa hòa bình

Chuyện kể về NgườiNăm 1958, Bác đi thăm Ấn Độ, Người rời Thủ đô Niu Đêli bằng xe lửa đặc biệt để thăm thành phố Bombay. Đông đảo đại diện ngoại giao các nước và quần chúng Thủ đô Niu Đêli ra tiễn Bác. Các thành viên của Đoàn ta lên các toa tr­ước để khi Bác đến là tàu có thể chuyển bánh được ngay.

Bác đến, rồi đi chào các đại diện ngoại giao đang xếp hàng ngang trong phòng khách của nhà ga. Khi ra sân ga chỉ có Bác, Thủ t­ướng Ấn Độ Nêru và ông Vụ tr­ưởng Vụ Lễ tân của Ấn Độ. B­ước đến toa dành riêng cho Bác, Bác không vào ghế ngồi ngay mà đứng lại ở cửa, nói một vài câu chuyện với Thủ t­ướng Nêru. Khi còi tàu nổi lên báo hiệu tàu sắp chuyển bánh, Thủ tướng Nêru thân mật và ân cần nói với Bác:

– Chủ tịch hãy cẩn thận, tàu sắp chuyển bánh đó.

Tư­ơi cười và rất hiền hoà, Bác Hồ nói với Thủ t­ướng Nêru:

– Ông bạn thân mến cứ yên tâm, đây là cửa của hoà bình.

Nghe Bác nói, Thủ t­ướng Nêru cười vui vẻ, cảm kích và trả lời Bác:

– Thư­a Chủ tịch, cửa hoà bình luôn luôn rộng mở.

Câu chuyện rất thân mật này diễn ra giữa hai người đứng đầu hai quốc gia, đồng thời cũng là hai người bạn yêu chuộng hoà bình, luôn luôn đấu tranh cho hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc đã làm cho các nhà báo Ấn Độ và nước ngoài có mặt hôm ấy rất chú ý.

Sáng hôm sau các báo lớn của Ấn Độ đăng lại cuộc đối thoại lý thú này và đã tạo dư­ luận rất tốt trong quần chúng. Nhiều báo nhắc lại câu nói của Bác: Đây là cánh cửa hoà bình.

Trích những câu chuyện kể về Bác Hồ
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Giao thừa lửa trại

Chuyện kể về NgườiĐó là cái Tết Kỷ Sửu (1949) ở Sơn Dương, Tuyên Quang. Ngày 10-1-1949, theo lệnh của Bác, cơ quan Phủ Chủ tịch di chuyển từ xã Trung Trực, huyện Yên Sơn đến Lũng Tẩu, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

Khi cơ quan đã ổn định xong nơi ăn chỗ ở, thì Tết đã đến gần. Năm ấy, đồng chí Hồ Tùng Mậu, Tổng Thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ được cơ quan bầu làm Trưởng ban Ban Tổ chức Tết Kỷ Sửu. Đồng chí Hồ Tùng Mậu tổ chức một buổi họp chuyên bàn về việc đón Tết cho cơ quan. Khi cuộc họp đang diễn ra sôi nổi với những quyết định về tramg trí, hái hoa, văn nghệ, thể thao… thì Bác Hồ đến. Không đợi để ai báo cáo, Bác hỏi:

– Tết năm nay, ta tổ chức vui như thế nào?

– Thưa Bác, chúng cháu đang bàn đấy ạ! Đồng chí Hồ Tùng Mậu trả lời.

Bác hỏi tiếp:

– Thế đã bàn mục pháo chưa?

– Dạ chưa ạ!

Một số anh em bàn tán xôn xao về chuyện lấy pháo ở đâu. Thấy vậy, đồng chí Hồ Tùng Mậu liền hỏi ý kiến của Bác:

– Thưa Bác, rừng núi như thế này thì kiếm đâu ra pháo…?

Bác cười, chỉ tay ra rừng nứa:

– Pháo ở rừng đấy, tha hồ!

Anh em có mặt trong buổi họp cùng à lên và hiểu rằng, đốt lửa thì nứa nổ, đấy là pháo, thứ pháo thực vật rất thiên nhiên, gần gũi với con người.
Sau đó, Bác còn “đạo diễn” nhiều hình thức vui Tết nữa rồi mới về.
Đồng chí Hồ Tùng Mậu đề nghị anh em đi chặt nứa, bó lại thành những bó ngắn, vừa dễ vác, dễ xếp đống, khi đốt vừa gọn. Đống nứa ở sân cứ cao dần, khô dần và ngày của cuối năm Tý cũng hết. Anh em trong cơ quan tuy rất mong Bác đến sớm nhưng lại đoán phải mồng hai, mồng ba gì đó Bác mới có thời gian “sang” thăm cơ quan được. Nhưng, đúng đêm 30, giao thừa thì Bác tới. Mọi người chạy ùa ra đón Bác, tranh nhau nói một câu chúc Tết Bác. Bác vui vẻ chúc lại mọi người rồi chỉ một chỗ thuận tiện bảo anh em xếp nứa đốt.

Bác nói:

– Tết này, Bác ăn Tết lửa trại với các chú.

Lửa bốc lên, nứa nổ lép bép như tràng pháo tiếp nhau, nghe rất vui tai. Việc đầu tiên là Bác mở chiếc túi vải đeo bên mình ra rồi nói:

– Đây là quà Tết đồng bào tặng Bác. Bác biếu các chú…

Bác đưa tận tay từng cán bộ, chiến sỹ mỗi người một quả cam. Sau đó, mọi người trong cơ quan ca hát, cầm tay nhau nhảy quanh ngọn lửa trại ấm cúng đầy tình cảm gia đình cách mạng.

Đêm ấy, Bác nghỉ lại cơ quan. Sáng mồng một Tết, Văn phòng tổ chức chúc Tết năm mới Bác. Bác cảm ơn rồi bảo mọi người ngồi lại nghe Bác kể chuyện về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Bác cho biết, quân ta vừa thắng địch ở Ba Thá, Tế Tiêu, Ý Yên và đặc biệt ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng ta đánh đoàn tàu gần 20 toa xe, phục kích ở đèo Hải Vân phá hủy mấy chục xe, diệt hàng trăm tên địch. Bác khuyên mọi người thi đua làm tròn nhiệm vụ ở hậu phương để xứng đáng với tiền tuyến.

Khi mọi người trong cơ quan chuẩn bị thi đấu bóng chuyền, Bác nói:

– Để Bác làm trọng tài cho. Các chú chia thành đội ra chơi đi.

Trước khi hai đội chào nhau vào trận đấu, Bác giơ tay thổi một tiếng còi tuyên bố:

– Đội nào thắng, sẽ được trọng tài chính thưởng mỗi người một điếu thuốc lá thơm.

Cuộc đấu bóng chuyền diễn ra thật sôi nổi, hấp dẫn và quyết liệt, vì đội nào cũng muốn giành phần thắng. Nhưng cuối cùng cũng có bên được, bên thua. Bên thắng xếp hàng ngay ngắn, chỉnh tề, hân hoan. Đội trưởng hô nghiêm rồi báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu thắng ạ!

Bên thua, thấy vậy cũng làm liều nhảy ra xếp vội hàng báo cáo:

– Thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Thắng một séc ạ.

Các cổ động viên thấy thế cũng chạy tới xếp hàng:

– Thưa Bác, thưa Bác, chúng cháu cũng thắng đấy ạ. Cổ vũ phe thắng. Bác cười rất vui rồi nói:

– Đúng, năm nay sẽ là năm đại thắng lợi, không ai được phép thua cả…

Trên đường về, Bác cứ khen mãi là anh em mình “thông minh”.

Theo dulichtantrao.com.vn
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là Bảo vật Quốc gia

di thu 1
Tác phẩm Đường Kách mệnh

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/1982 – 20/11/2012, tại khuôn viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội hiện đang trưng bày 5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng 25 Bảo vật Quốc gia Việt Nam từ ngày 15/11/2012 đến ngày 25/11/2012.

5 Di thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận Bảo vật Quốc gia đó là: Đường Kách mệnh; Nhật ký trong tù; bản thảo “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia); bản thảo “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (văn bản này Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn bản gốc viết từ ngày 10/5/1965 đến ngày 19/5/1969, lưu trữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

di thu 2

Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho các lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản thành sách với tên gọi là Đường Kách mệnhVì vậy có thể nói  “Đường Kách mệnh” tập hợp những bài giảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng Châu, Trung Quốc những năm 1925 – 1927. Nội dung tư tưởng của cuốn sách là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về việc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn với cách mạng vô sản, là nền tảng cho việc tìm hướng đi mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam và được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

di thu 3

di thu 4
Tác phẩm Nhật Ký trong tù

Tác phẩm Nhật ký trong tù (nguyên văn chữ Hán: 獄中日記 – Hán Việt: Ngục trung nhật ký) là một tập thơ của Hồ Chí Minh, viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, trong thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp 18 nhà giam ở 13 huyện tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Nguyên gốc tập thơ chỉ là một quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, có ghi bốn chữ “Ngục trung nhật ký” (tức Nhật ký trong tù) kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong gồm 133 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép. Tập thơ được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ.

Tác phẩm Nhật ký trong tù đã được xuất bản nhiều lần, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp tiếng Việt, Hán, Triều Tiên, Nhật bản…

di thu 5
Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

Bản thảo “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ­- Bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lịch sử như một Cương lĩnh kháng chiến, chứa đựng những quan điểm cơ bản về tư tưởng, đường lối chiến tranh nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, truyền thống anh hùng, bất khuất, quyết hi sinh để giành lại độc lập cho dân tộc; là mệnh lệnh tiến công cách mạng, tạo khí thế để nhân dân cả nước đứng lên chiến đấu với mọi vũ khí sẵn có với một ý chí quyết đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Việt Nam. Bản viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

di thu 6
Văn bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam sáng ngày 17/7/1966, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

di thu 7
Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh( Văn bản gốc Bác Hồ viết từ ngày 10/5/1965 – 19/5/1969, hiện lưu giữ tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).

Bản Di chúc là sự kết tinh tinh thần tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp suốt đời phấn đấu hi sinh vì nước vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi; là những lời căn dặn thiết tha; là sức mạnh thôi thúc toàn dân tộc hành động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Từ quan điểm Hồ Chí Minh về con người toàn diện đến phát triển giáo dục nước ta

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà. Người coi: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn nhân dân ta phải chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, Người căn dặn: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đó là tinh thần, là tình cảm rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta.

tu quan diem 1Bác Hồ thǎm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc năm 1958 ( Ảnh tư liệu)

Công cuộc đổi mới giáo dục nước ta đã và đang được chú trọng quan tâm hơn bao giờ hết. Chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục và đào tạo của nước ta luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu đặt ra.

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về vấn đề giáo dục thực sự đi vào thực tiễn, Nghị quyết 40/2000/QĐ10 của Quốc hội khóa X, tập trung đổi mới nội dung và chương trình giáo dục, thực hiện chính sách hỗ trợ cho giáo dục.

Tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra một loạt câu hỏi cần được thảo luận và làm rõ những vấn đề sau: “Vì sao lúc này phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ? Phạm vi, mục tiêu, yêu cầu của mỗi Đề án thế nào? Đổi mới căn bản là gì, toàn diện là gì? Nội hàm phát triển khoa học và công nghệ? Những chủ trương, chính sách, biện pháp gì cần phải thống nhất ban hành để lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đổi mới giáo dục – đào tạo và phát triển khoa học – công nghệ?…

Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay cũng là một trong những tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, một trong tư tưởng đó có tư tưởng về giáo dục và đào tạo, đó là cơ sở, là nền tảng cơ bản và quan trọng nhất cho sự phát  triển xã hội ở nước ta.

Phát triển con người toàn diện theo quan điểm Hồ Chí Minh

Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào việc đào tạo những người con ưu tú, làm thay đổi căn bản vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Hiện nay, việc giáo dục, đào tạo, phát triển con người toàn diện ở nước ta đang có sự lệch hướng khá lớn. Điều đó đang làm lệch lạc sự phát triển con người toàn diện theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo Người, con người toàn diện phải được tự do, được hạnh phúc, con người phải được giải phóng, được giáo dục – đào tạo và được sống trong xã hội hòa bình ổn định. Để phát triển con người toàn diện, ắt phải tiến tới chủ nghĩa xã hội. Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Điều cốt lõi trong tư tưởng của Người là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là nội dung trọng tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng về phát triển con người toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người nói: “Con người vừa là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người”.

Hồ Chí Minh là điển hình cho phát triển con người toàn diện cả về thể lực, đạo đức, trí lực, tài năng và thẩm mỹ. Tư tưởng đó là hình mẫu sinh động của con người toàn diện cho hiện tại và cho cả tương lai. Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Người đã, đang và sẽ cho chúng ta những chỉ dẫn sáng suốt để xây dựng thành công chiến lược con người toàn diện trong điều kiện mới ở nước ta.

Xuất phát từ những luận điểm trên, Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh thông qua thực tiễn cách mạng, đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng, trong đó không thể không bàn đến sự nghiệp cách mạng giáo dục nước nhà.

tu quan diem 2Bác Hồ trò chuyện với học sinh Trường thiếu nhi rẻo cao khu tự trị Việt Bắc, 1960

Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người

Người coi “con người” là vốn quý nhất, là yếu tố quyết định của sự nghiệp cách mạng. Trước đây, Khổng Tử đã từng khuyên nhà cầm quyền phải chăm lo đời sống vật chất cho dân, phải giáo hóa dân để thực hiện đường lối “đức trị”, thì tư tưởng của Người, Người cũng thường xuyên nhắc nhở rằng: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Hồ Chí Minh đã mượn câu nói trên để chỉ ra tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục. Trong tư tưởng Người, tất cả là vì “con người”. Đối với giáo dục thế hệ trẻ, Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh”. Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động và thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khoẻ và thẩm mỹ…

Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Ngủ thì ai cũng như lương thiện, tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền; hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Người nhấn mạnh mục đích giáo dục phải gắn liền với nội dung giáo dục; giáo dục phải toàn diện. “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đến các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là sự kết hợp giữa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục.

UNESCO từng đánh giá: “Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Hồ Chí Minh là điển hình mẫu mực trong việc lựa chọn, kế thừa những mặt tích cực trong quan điểm giáo dục, đào tạo con người. Những lời dạy của Người đã trở thành phương pháp luận trong chiến lược xây dựng con người mới “xứng tầm thời đại”, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta hiện nay.

tu quan diem 3Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ, giáo viên, học sinh miền núi tại Hà Nội, tháng 11 năm 1955″ ( Ảnh tư liệu)

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có vô vàn tâm tư và tình cảm của Người đối với sự nghiệp giáo dục. Có tới hơn 592 lần Người nhắc đến “giáo dục”, 159 lần nhắc đến “đào tạo”, trên 190 lần nhắc đến “trường học”, gần 100 lần nhắc đến “đại học”, 92 lần nhắc đến “trường học, giáo sư”, 81 lần nhắc đến “giáo viên”, 80 lần nhắc đến “thầy giáo”, khoảng 145 lần nhắc đến “sinh viên” và đến 225 lần nhắc đến “học sinh”… Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng trong kho tàng lịch sử phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Có thể nói, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nhân loại và được sáng tạo một cách khoa học và đầy tâm huyết. Điều đó có thể khái quát ở một góc nhìn cơ bản về vấn đề giáo dục trong tư tưởng của Người như sau:

Một là, giáo dục là để nâng cao chủ nghĩa yêu nước, ý thức chính trị, truyền thống giáo dục và tinh thần nhân ái. Người đặc biệt chú trọng đến việc truyền thụ tinh thần, truyền thống yêu nước của dân tộc. Người nói: “Phải chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, kỹ thuật, lao động sản xuất”. Người nhấn mạnh: “Tăng cường hơn nữa việc giáo dục lao động trong nhà trường là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhằm trang bị cho thế hệ trẻ có những kiến thức khoa học, lại có những kiến thức cơ bản về sản xuất công nghiệp-nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàng bước vào xây dựng xã hội chủ nghĩa”.

Theo Người, nội dung giáo dục phải chứa đựng tính dân tộc, chủ nghĩa yêu nước và giá trị nhân văn, truyền thống văn hóa của dân tộc, ngoài ra phải lĩnh hội những giá trị khoa học của thế giới… Người còn dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Người chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: Đức, trí, thể, mỹ” “Trước hết phải dạy cho họ những tri thức: Lịch sử, địa dư, làm tính, khoa học tự nhiên, xã hội, chính trị, cách viết báo cáo, nghĩa vụ và quyền lợi người công dân”.

Người đã đúc kết chân lý về giáo dục với sức mạnh nội tại của một dân tộc trong giai đoạn thuộc địa nửa phong kiến: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong “ham muốn tột bậc” của Người, Người muốn “làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc” “ai cũng được học hành”. Đối với cán bộ, Người chỉ rõ: Học là “để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự đoàn thể, giai cấp, nhân dân, tổ quốc và nhân loại”. Trong tư tưởng mà Người nói về “Học” được khái quát qua bốn ý về giáo dục là “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người”.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho cán bộ. Bởi, theo Người: “Có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”. Người nhắc nhở và giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… coi đó như là “kim chỉ nam” để con người nhận thức đúng và hành động đúng con đường chủ nghĩa yêu nước của dân tộc để đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hai là, giáo dục là để cải tạo “con người” cũ, xây dựng “con người” mới tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Và để xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”.

Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa”, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Người nói: “Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”. Người nói với cán bộ khi kết thúc một khoá huấn luyện “anh em sẽ còn phải học nữa, học mãi khi ra làm việc”. Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người nhấn mạnh: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”. Người dạy: “Mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá”…

Hồ Chí Minh đã gắn bó với việc chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo, mọi người đều được học hành, không phân biệt giai cấp, tuổi tác, trình độ, giới tính hay tôn giáo… Nền giáo dục mới của nước ta được Người định hướng phát triển là nền giáo dục mở mang dân trí, nâng cao đảng trí cho nhân dân; là nền giáo dục toàn dân; là nền giáo dục toàn diện; là nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, với mục đích là cải tạo con người cũ, đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa.

Ba là, giáo dục là để chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Trong suốt thời gian ở cương vị Chủ tịch nước, Người đã không ngừng chăm lo, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”. Trong đó, giáo dục đạo đức được đặt lên hàng đầu. Người rất chú trọng việc giáo dục nâng cao trình độ văn hoá cho dân để dân “làm ăn có ngăn nắp”, “bớt mê tín nhảm”, “bớt đau ốm”, “nâng cao lòng yêu nước” và “để thành người công dân đứng đắn”. Người chỉ rõ: “Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc làm cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh và giàu mạnh”.

Hồ Chí Minh đề ra những nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài. Để nâng cao trình độ nhận thức. Trong giáo dục, theo Người, cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục. Giáo dục phải căn cứ vào “trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng”. Người gửi thư cho nam nữ chiến sĩ bình dân học vụ nhấn mạnh việc cần phải dạy các em “đạo đức của công dân”. Người viết thư gửi các em học sinh, trong đó yêu cầu các lực lượng giáo dục phải chú trọng giáo dục đạo đức. Trong Di chúc, Người cũng căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

tu quan diem 4Lễ trao tặng “ Vì sự nghiệp phát triển Nguồn Nhân lực” năm 2011

Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của nền giáo dục nước ta trong những năm tới là: “Tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam” theo tinh thần Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII cũng đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là nhằm xây dựng những con người mới, là những con người vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ. “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người cho rằng, nhiệm vụ của giáo dục là phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Đó là không chỉ là trách nhiệm nặng nề, mà là nhiệm vụ đặt ra đối với ngành giáo dục nước ta cho hôm nay và cho cả mai sau.

Hơn 30 năm qua, kể từ ngày 20/11/1982 – 20/11/2012 – Ngày truyền thống Nhà giáo Việt Nam. Hơn 43 năm – kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi về cõi vĩnh hằng, Nhưng những lời dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Tư tưởng Hồ Chí Minh với phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo con người luôn soi sáng sự nghiệp trồng người theo tư tưởng của Người. Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục hiện nay.

Theo Báo Giáo dục&Thời đại online
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Bốn nguyên tắc tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Việt Nam - Hồ Chí MinhChúng ta vẫn thường xuyên nói “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “tự phê và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng gần như ai cũng thấy đó là điều không dễ. Rất nhiều người khi thực hiện tự phê bình luôn luôn bị ám ảnh bởi một sự lo sợ không khéo sẽ là: “Lạy ông tôi ở bụi này”…

Thực ra theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì tự phê bình và phê bình  là vấn đề tất yếu của cuộc sống, là quy luật trưởng thành của Đảng. Con người sinh ra ai cũng có bản tính lương thiện. Quá trình lớn lên, trải qua các ứng xử với tự nhiên, xã hội hình thành nhân cách, cá tính khác nhau. Trong Đảng cũng vậy: “Đảng ta không phải ông thánh và cũng không phải từ trên trời rơi xuống, nó ở trong xã hội mà ra”. Vượt qua những giới hạn cụ thể, con người có thể trở thành anh hùng hoặc bộc lộ những yếu kém khuyết điểm. Khuyết điểm càng lâu càng bám vào cơ thể như bụi bẩn hàng ngày. Bởi thế theo Hồ Chí Minh tự phê bình để nhận rõ và gạt đi những bụi bẩn cũng “như công việc tắm gội, rửa mặt hàng ngày” không thể thiếu được. Hoạt động trong điều kiện càng nhiều khó khăn, đòi hỏi thử thách càng lớn, càng làm cho con người dễ sinh ra khuyết điểm. Cha đẻ của mọi thứ khuyết điểm là chủ nghĩa cá nhân. Theo Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do đó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”. Bệnh tham lam, lười biếng, ba hoa, bè phái, địa phương chủ nghĩa, ham danh vị, quân phiệt, quan liêu, xa rời quần chúng, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa …. đều từ đó mà ra. Để điều trị các chứng bệnh ấy không có thuốc đặc hiệu nào hơn là tự phê bình và phê bình. Theo Hồ Chí Minh có thường xuyên tự phê bình và phê bình  mới giúp chúng ta thấy được khuyết điểm để sữa chữa, nhờ đó mà làm cho Đảng mạnh lên.

Tuy nhiên trong thực tế theo Hồ Chí Minh tự phê bình và phê bình là một việc làm không dễ. Tự phê bình và phê bình  là một vấn đề rất nhạy cảm, đụng chạm đến từng cá nhân, tổ chức. Tâm lý của con người là thích được khen hơn bị chê. Mọi người dễ cho rằng tự nói ra khuyết điểm, tự nhận khuyết điểm nghĩa là tự thừa nhận sự non kém của mình. Điều này dễ liên lụy đến uy tín, vị thế chức tước, địa vị và bậc thứ nghề nghiệp, vì “người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Bởi vậy phê bình đã khó, tự phê bình càng khó khăn hơn. Trong thực tế cuộc sống đã không ít trường hợp người ta mượn cớ tự phê bình để nhân đó phê bình mạnh mẽ hơn đồng chí của mình. Đối với những tập thể yếu kém, hoặc có vấn đề đoàn kết nội bộ; những tập thể, cá nhân đang chạy theo thành tích thì việc tự phê bình và phê bình thường thực hiện một cách hình thức. Người cho rằng: “Khuyết điểm cũng như chứng bệnh, phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình cũng như có bệnh mà dấu bệnh không dám uống thuốc, để đến nổi bệnh ngày càng nặng… nể nang không phê bình để đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi đến nổi hỏng việc, thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ, nể nang không dám tự phê bình để cho khuyết điểm mình chứa chất lại, khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mặt, dù bị bọn thực dân khủng bố gắt gao và Đảng ta gặp nhiều khó khăn nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng phát triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, đó là Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén tự phê bình và phê bình”.

Để sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình trong Đảng một cách có hiệu quả theo Hồ Chí Minh trước hết phải nhận thức đúng vấn đề. Theo Người: “Nhân vô thập toàn” nghĩa là con người thì ai cũng khó tránh khỏi sai lầm khuyết điểm; càng đảm nhiệm nhiều công việc thì càng dễ có sai lầm khuyết điểm nhiều hơn. Điều quan trọng là ở chổ có có dám tìm ra khuyết điểm để sữa chữa hay không. Theo Bác: “Một Đảng mà dấu diếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Thế nhưng vì là một vấn đề khó nên tiến hành tự phê bình và phê bình cần nắm vững những nguyên tắc cơ bản, thể hiện tính Đảng, tính giáo dục, tính khách quan trung thực, thẳng thắn, dân chủ, đồng bộ sau đây:

1. Tự phê bình và phê bình  phải nhằm mục đích để giúp nhau tiến bộ nên động cơ phải trong sáng, dựa trên “tình đồng chí thương yêu nhau”; không vì phê bình mà công kích áp đặt khuyết điểm cho nhau. Khi phê bình người khác không được xoi mói “bới lông, tìm vết” để tìm cơ hội “hạ bệ’ lẫn nhau; “tránh công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. Thực hành tự phê bình và phê bình  phải dân chủ, không mệnh lệnh, áp đặt.

2. Tự phê bình và phê bình  phải có thái độ kiên quyết không khoan nhượng. Hồ Chí Minh cho rằng: “Tự phê bình và sữa chữa có khi dễ, nhưng có khi cũng khó khăn, đau đớn vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác. Đó là một cuộc đấu tranh”. Vì thế thực hiện tự phê bình và phê bình  phải “Ráo riết, triệt để”, đúng mức, thật thà không nể nang, không thêm bớt. Thực hành tự phê bình và phê bình mà làm hời hợt, quanh co, chiếu lệ sai đúng không rõ ràng sẽ tạo môi trường cho khuyết điểm tồn tại và phát triển nặng thêm. Bởi vậy phải có thái độ khen chê đúng mức thì mới giúp cho người có khuyết điểm sữa chữa; đồng thời có ý nghĩa giúp người khác thấy đó mà đề phòng, tránh gặp khuyết điểm tương tự. Khuyết điểm sớm được sữa chữa sẽ dễ hơn khi để trở thành căn bệnh trầm kha. Vì Người cho rằng: “Người mắc khuyết điểm hôm nay, ngày mai chưa chắc đã mắc khuyết điểm. Người hôm nay chưa mắc khuyết điểm chưa chắc ngày mai cũng không mắc khuyết điểm”.

3. Tự phê bình và phê bình  muốn có hiệu quả tốt cần có phương pháp tốt. Tự phê bình và phê bình  phải “biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sữa chữa”. Tự phê bình và phê bình  phải được tiến hành trong tổ chức, chứ không phải gặp đâu nói đó. Người đứng đầu phải rất công minh, tạo được chỗ dựa tin cậy, khơi dậy được không khí dân chủ, thẳng thắn để ai cũng có thể nói rõ chính kiến của mình, không phải “thậm thà, thậm thụt” “ngồi lê mách lẻo”, “việc bé xé ra to” là nguyên nhân của sự mất đoàn kết.

4. Tự phê bình và phê bình  phải có thái độ chân tình cầu thị, nói đúng ưu điểm và khuyết điểm, phê bình phải đúng lúc, có hoàn cảnh thích hợp; phải biết lắng nghe và chờ đợi đồng chí tiếp thu để tránh việc làm cho người bị phê bình “nản chí, oán ghét”. Vì làm như vậy theo Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng khác “bánh ngọt là một thứ ngon lành, nhưng đem bánh ngọt bắt người ta ăn, nhét vào miệng người ta thì ai cũng chán”.

Những tư tưởng quan trọng của Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình  trên đây, dù không có gì khó hiểu; nhưng với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và làm theo sự thật” như tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đề ra, thì việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình  sẽ vô cùng có ý nghĩa trong việc triển khai Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”./.

Theo Trần Quang Trung/ baohtinh.vn
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

“Âm vang Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chi Minh

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chiều ngày 7/12/2012, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã mời đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân, người trực tiếp tham gia Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đến nói chuyện cho gần 200 cán bộ trung cao cấp, cấp ủy viên, cán bộ chính trị về tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

DBP 2Chỉ huy Bộ Tư lệnh hoa cho Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt tại buổi nói chuyện

Tại buổi nói chuyện, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã khái quát lại bối cảnh, diễn biến và ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Cách đây 40 năm, với dã tâm thâm độc, đưa “Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá” trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, máy bay Mỹ đã ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc nước ta hàng trăm nghìn tấn bom, đạn; tàn phá nhiều phố xá, làng mạc và hàng nghìn nhà cửa, kho tàng; giết chết và làm bị thương gần 4.000 dân thường. Thủ đô Hà Nội đứng trước một thử  thách mang tính lịch sử, một cuộc đối đầu không cân sức về vũ khí, trang bị giữa không quân Mỹ và lực lượng phòng không Hà Nội. Phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, quân và dân miền Bắc nói chung, đồng bào và chiến sĩ Thủ đô Hà Nội nói riêng đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bắn rơi 81 máy bay và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ, trong đó có 34 chiếc B.52; 5 chiếc F.111A và các loại máy bay khác. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của bản lĩnh, ý chí và tầm cao trí tuệ Việt Nam, là biểu hiện sáng ngời của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của sức mạnh chính trị – tinh thần dân tộc Việt Nam, của trí thông minh và lòng quả cảm, của ý chí dám đánh, biết đánh và quyết thắng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân Việt Nam lên tiếng trả lời bọn xâm lược: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B.57, B.52 hay “bê” gì đi nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Mà ta đánh là nhất định thắng!”.

DBP 3Đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt nói chuyện với cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

Sau buổi nói chuyện, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã  giao lưu với tuổi trẻ của Bộ Tư lệnh. Tại đây Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt đã kể nhiều câu chuyện nói lên nhiệt huyết của tuổi trẻ thế hệ cha anh trước đây, cũng như giai đoạn hiện nay, lúc nào cũng sẵn sàng công hiến, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.

DBP 1Đồng chí Trung tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Phiệt thăm và động viên chiến sỹ trẻ tại đơn vị

Nhân dịp này, hưởng ứng đợt thi đua cao điểm “Âm vang Điện Biên Phủ trên không”, các cơ quan, đơn vị trong Bộ Tư lệnh đã tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực chào mừng thành Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quân đội lần thứ VIII và hướng Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X; tổng kết các mặt công tác năm 2012, xây dựng kế hoạch 2013 và luyện tập nâng cao chất lượng thực hiện nghi lễ tiêu binh danh dự, chào cờ hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Nguyễn Văn Vượng
bqllang.gov.vn