Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Nhân cách Hồ Chí Minh và cái nhìn thời đại về văn hóa trong Đảng

Văn hóa Đảng:

Văn hóa Đảng là một phạm trù của văn hóa chính trị, hơn nữa đó là một bộ phận quan trọng chi phối khuynh hướng, tính chất của văn hóa chính trị. Theo nghĩa rộng, “Văn hoá Đảng là toàn bộ tình cảm, ý chí và hành động chính trị tích cực nhằm hình thành một Đảng có đủ sức lãnh đạo, xây dựng một xã hội mới phù hợp với mục đích nhân văn cao cả của văn hoá và khát vọng dân chủ cao đẹp của thời đại”(1). Khi đề cập đến văn hoá Đảng thì phải nói đến cả những phạm trù chính trị, tư tưởng, tổ chức và cả phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng văn hoá Đảng là đổi mới, chỉnh đốn Đảng theo nguyên tắc khoa học. Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(2), do đó cũng cần phải khẳng định Đảng ta là một Đảng có văn hóa cao ngay từ khi mới ra đời. Trải qua các thời kỳ cách mạng, các giá trị văn hóa của Đảng ta như một ánh hào quang sáng ngời, dẫn dắt xã hội Việt Nam đi đến con đường tiến bộ, văn minh của chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, tính văn hóa của Đảng không chỉ biểu hiện ở sự đúng đắn, sáng suốt của những đường lối, chủ trương, mà còn biểu hiện ở sự gương mẫu, tiên phong, lối sống, phẩm chất trong sáng, đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên cụ thể. Thực tế, trong chất nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì văn hóa với tư cách là một khái niệm tổng thể nhằm chỉ những giá trị tốt đẹp toát ra từ toàn bộ cuộc đời và nhân cách vĩ đại của Người, đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều người, đồng thời đó là những giá trị quý báu để nhân loại noi theo. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là bộ phận quan trọng hình thành nên nền tảng tinh thần của xã hội. Chính tài sản tinh thần vô giá đó là bộ phận cấu thành của văn hóa Đảng. Vì vậy, văn hóa Đảng có những giá trị bền vững và cao qúy, đó là “sự cộng sinh của bản sắc tốt đẹp của văn hóa dân tộc và văn hóa Hồ Chí Minh, cùng với những giá trị mới được xây đắp và phát triển trong thời kỳ hiện đại của cách mạng Việt Nam”(3). Có thể nói rằng, nhân cách và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đóng vai trò to lớn vào việc củng cố, bồi đắp nền tảng tinh thần xã hội và là động lực của cách mạng… Trong mối quan hệ biện chứng, văn hóa Đảng là một bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa Đảng trước hết xuất phát từ nền văn hóa dân tộc, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với tiếp thu kịp thời tinh hoa văn hóa nhân loại và xu hướng phát triển mới, tiến bộ của thời đại.

* Để nâng cao văn hóa trong Đảng:

Về lý luận, đạo đức là cốt lõi của văn hóa, mỗi thành viên trong xã hội phải rèn luyện đạo đức và lối sống. Đối với cán bộ, đảng viên phải biết phát triển và hoàn thiện văn hóa của Đảng để làm nòng cốt cho việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức và giá trị văn hóa trong xã hội. Muốn hệ thống chuẩn mực đạo đức mới trở thành ý thức, thành tình cảm, thói quen của mỗi thành viên xã hội, phải thông qua hoạt động giáo dục đạo đức. Chỉ có thông qua hoạt động giáo dục mới có thể xác lập được quan điểm nhận thức đạo đức, hình thành năng lực ứng xử đạo đức và tính cách đạo đức theo hệ thống chuẩn mực đạo đức mới. Và cũng chỉ có thông qua hoạt động giáo dục đạo đức thường xuyên, sâu rộng mới có thể xác lập được văn hóa đạo đức xã hội chủ nghĩa cho mỗi thành viên cũng như trong toàn xã hội. Đối với người đảng viên cần đề cao giá trị đạo đức, đề cao sự tự rèn luyện, tu dưỡng trong việc chuyển văn hóa đạo đức xã hội, các giá trị xã hội tiến bộ thành văn hóa đạo đức cá nhân… Nói cách khác, có đạo đức không chỉ phụ thuộc vào tri thức đạo đức mà còn phụ thuộc vào sự lựa chọn giá trị ở mỗi cán bộ, đảng viên.

Có một thực tế đáng lo ngại hiện nay là “nhiệm vụ xây dựng văn hóa Đảng, trong bộ máy nhà nước chưa được triển khai tích cực, có nơi còn bị xem nhẹ; không ít cán bộ, đảng viên chưa được nêu tấm gương văn hóa cho quần chúng”(5). Trước sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian gần đây là biểu hiện của sự suy đồi về chính trị, là một dạng thái phản giá trị, phản văn hóa. Để tránh rơi vào thái cực đó, người cán bộ, đảng viên phải có văn hoá chính trị, tức là vững vàng về chính trị tư tưởng, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân, phải thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo. Mặt khác, phải thường xuyên, tự giác học tập rèn luyện chủ trương, đường lối của Đảng; phải nâng cao sự lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đặc biệt cơ sở Đảng và đảng viên như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn “Mỗi đảng viên và cán bộ phải phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”(6). Cốt lõi các nhân tố cấu kết thành văn hóa Đảng ở người đảng viên không chỉ là sự thấm nhuần lý tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng, lối sống giản dị; mà còn phải có lề lối làm việc, phương pháp công tác khoa học, sâu sát nhân dân, thái độ giao tiếp văn minh, lịch sự. Do đó, vấn đề văn hóa Đảng đã trở thành cốt cách của người cộng sản Hồ Chí Minh.

* Tài liệu tham khảo:

(1) Tạp chí Cộng sản số 18, tháng 9/2004, trang 17.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1995, tập 12, trang 557 – 558.
(3) Tạp chí Cộng sản số 24, 12/2006, trang 47.
(4) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, 2001, trang 83.
(5) Các Nghị quyết của TW Đảng, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004, trang 241.
(6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1995, tập 5, trang 252 – 253.
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1993, trang 130.

Báo Lâm Đồng

dalat.gov.vn

ĐẶT CON NGƯỜI Ở VỊ TRÍ TRUNG TÂM: Nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh

Có thể nói một trong nhưng nét độc đáo nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính hệ thống đồng bộ của nó. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Và trong tổng thể xã hội ấy, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng về văn hóa, vì nói đến con người chính là nói đến văn hóa.

Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, mà có điều kiện đem lại hạnh phúc cho con người. Vì vậy, văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”.

Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường và phương pháp xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển.

Quán triệt điểm đặc sắc ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chộp giật. Mà là, làm kinh tế, làm chính trị là để nhằm tôn vinh dân chủ, tức là người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần với chính trị với hàm nghĩa những mưu lược, thì mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa. Ngược lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào. Nếu hiểu sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.

* Từ nét đặc điểm nổi trội ấy mà nhận ra tinh thần đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại đoàn kết để xây dựng xã hội mới. Mãi mãi đại đoàn kết dân tộc. Đây là điểm độc đáo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của C.Mác, Ph. Angghen, V.I Lênin không tìm thấy điều này, hoặc nếu có đôi điều nói thoáng qua, chứ không tập trung, nổi bật như của Hồ Chí Minh.

Qua quá trình tiến lên của cách mạng, mục tiêu, động lực và lực lượng không hề có sự sắp xếp loại bỏ, thay đổi, chỉ có sự nâng cao về chất mà không bớt đi về lượng, về số tầng lớp, số người tham gia. Nghĩa là, với Hồ Chí Minh, không có chuyện một bộ phận nào đó của nhân dân, một tầng lớp xã hội nào đó nửa chừng đứt gánh, không thể cùng chung con đường mình đang đi. Không có chuyện ai đó, tầng lớp nào đó chỉ là “bạn đường một đoạn” trong cả chặng đường dài, vì họ không còn đủ điều kiện theo đến cùng nên phải thải loại ra. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có thể có những thay đổi về mục tiêu cụ thể, thay đổi về nhiệm vụ, chủ trương và phương pháp nhưng không có sự thay đổi về lực lượng cách mạng. Trong học thuyết và tư tưởng của C.Mác, Ph. Angghen, V.I Lênin có khái niệm “bạn đường một đoạn”, trong Hồ Chí Minh không hề có điều ấy.

Cũng đã có một số người vì những lý do nào đó không thể đi theo Hồ Chí Minh, trong đó có người rất đau lòng, nuối tiếc vì hoàn cảnh bắt buộc và rồi sau đó họ quay trở lại với Hồ Chí Minh. Cũng có thể nói, ai đó tự loại trừ chính mình, chứ Hồ Chí Minh không loại trừ ai. Phải lưu ý nhấn mạnh điều này vì, cũng đã có người nhân danh cách mạng đã làm hoen ố sự chân thành, thủy chung như nhất của Hồ Chí Minh với khối đại đoàn kết dân tộc.

Hồ Chí Minh thấy ra và rất coi trọng cá nhân từng người trong cộng đồng dân tộc. Điều này do nhiều nhân tố tạo thành chứ không phải chỉ là do tiếp thu được từ học thuyết của C.Mác. Nếu có tiếp thu thì là tiếp thu cái cốt lõi có giá trị nhất của học thuyết ấy bằng truyền thống về nhân văn sâu xa từ triết lý cổ đại thời Hy – La, rồi hiện đại dần lên đến thời cổ điển, phục hưng, khai sáng cho đến thời hiện đại của phương Tây. Có thể nói, truyền thống nhân văn ấy là phần rất nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đặc biệt coi trọng cá nhân con người, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong chừng mực nào đó, là rộng hơn C.Mác. Điều này gắn liền với giá trị tinh thần Việt Nam trong truyền thống văn hóa phương Đông đối với con người. Điểm nổi bật nhất của giá trị đó chính là biểu hiện xuyên suốt trong cuộc đời, trong sự nghiệp và trong tư tưởng bản chất người, bản chất dân tộc của Hồ Chí Minh. Có được điều ấy vì Hồ Chí Minh phải sống và hoạt động trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Những đốm lửa cách mạng được nhen nhóm từ trong điều kiện rất hiểm nghèo, khắc nghiệt của chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam, phải chắt chiu, trân trọng gìn giữ và phát huy từng cá nhân con người, phải coi trọng từng cá nhân con người mới có thể thổi bùng lên ngọn lửa của Cách mạng Tháng Tám và ngọn lửa kháng chiến của các cuộc kháng chiến trường kỳ trong thế kỷ XX.

*. Hồ Chí Minh nâng niu trân trọng con người, từng cá nhân con người, nhẫn nại thức tỉnh, giác ngộ, đào tạo từng người, không nề hà công sức, không quản ngại khó khăn, năng nhặt chặt bị, từng ly từng tí một góp gió thành bão. Khởi đầu từ cái cụ thể tưởng như nhỏ nhặt không đáng kể để rồi trở thành một công trình vĩ đại mang ý nghĩa thời đại, ý nghĩa lịch sử.

Đi khắp năm châu bốn biển, ôm ấp một hoài bão lớn lao về giải phóng dân tộc mình, góp phần giải phóng loài người, nhưng khi trở về lại mảnh đất của quê hương, đất nước thì lại có thể kiên trì giúp đỡ, dìu dắt, giác ngộ cho một đồng bào của mình ở miền núi, từ việc nhẫn nại dạy chữ, giảng giải về hoạt động cách mạng để người đó có thể trực tiếp tham gia rồi dần dần trở thành người cán bộ cách mạng. Không chỉ là cá biệt một người, mà nhiều trường hợp với nhiều người khác cũng đã được Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ mà trưởng thành. Biết đánh giá, sử dụng và phát huy từng người cả đức và tài của họ. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là trong những trường hợp có ý nghĩa lịch sử, thiên tài của Hồ Chí Minh thể hiện ra ở đây là chọn rất đúng và rất trúng người đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ lịch sử ấy.

*. Hồ Chí Minh thực hiện một cách mẫu mực và chân thật sự bình đẳng của các cá nhân, không hề cường điệu, phân biệt giữa người bình thường với người giữ trọng trách, người ở cương vị cao chót vót. Hồ Chí Minh thường xuyên hỏi ý kiến các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước song cũng đồng thời sẵn sàng và thành thật hỏi ý kiến những đồng chí cấp dưỡng, lái xe, bảo vệ mình gặp hằng ngày.

*. Bằng cuộc sống đầy bản sắc của riêng mình, Hồ Chí Minh biết và hiểu được theo chiều sâu bản sắc của từng người, từng hạng người để tôn trọng và giúp trau dồi bản sắc ấy ở mỗi người. Hồ Chí Minh đều rất tôn trọng cả hai mặt: một mặt là cải tạo hoàn cảnh bên ngoài trở nên hoàn cảnh có tính người như C.Mác nói, để qua đó, cải tạo con người và làm nên được bản sắc của con người mới. Một mặt khác, đi vào chiều sâu bên trong của từng con người như tâm linh dân tộc, tâm linh tôn giáo, tính chất trí thức, đặc điểm thế hệ, tâm lý cá nhân, những khát vọng, những nét bản sắc của từng cá nhân ấy.

Thật tự hào khi chúng ta có Hồ Chí Minh. Làm đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh dân tộc ta nhất định sẽ xây dựng được đất nước ta đàng hoàng hơn, sạch sẽ hơn, to đẹp hơn.

Nguồn: tiasang online

dalat.gov.vn

Tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh tinh hoa đạo đức, tâm hồn cao đẹp của Người và những nội dung cơ bản, quan điểm cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, vạch ra phương hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam ngày nay và trong tương lai.

Vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/1990), Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã quyết định công bố toàn bộ các bản Di chúc của Người viết.

Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng; là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền và là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam.

Qua 40 năm thực hiện Di chúc của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đó là: Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chuẩn bị điều kiện đi lên CNXH; từng bước thực hiện lý tưởng XHCN, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường XHCN, kiên định sự lãnh đạo của Đảng – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; thực hiện công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng và phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế đất nước trong hội nhập quốc tế.

Phục vụ cho công tác tuyên truyền về đợt sinh hoạt chính trị 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn Đề cương tuyên truyền về 40 năm thực hiện Di chúc của Người ( 2/9/1969 – 2/9/2009).

Đề cương đề cập đến 3 vấn đề lớn: Hoàn cảnh lịch sử, ý nghĩa, giá trị cơ bản của Di chúc; những thành tựu của cách mạng Việt Nam qua 40 năm thực hiện Di chúc và các nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới.

Đề cương đã nêu những định hướng về các nhiệm vụ tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Cụ thể là, về công tác xây dựng Đảng: Học tập phẩm chất, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Về nhiệm vụ bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau: Thực hiện lời Bác dặn về việc chuẩn bị một lực lượng cho sự nghiệp cách mạng, Đảng, Nhà nước, các cấp uỷ Đảng, đoàn thể và cả xã hội có trách nhiệm chăm lo, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để thanh niên đựợc rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; được học tập, có việc làm, nâng cao thu nhập, có đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh. Về nhiệm vụ nâng cao đời sống của nhân dân: Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trước tình hình mới để phấn đấu mục tiêu Bác dặn trong Di chúc: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Về nhiệm vụ đoàn kết quốc tế: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển”, chính sách “đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế”, “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”.

Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các ban ngành Trung ương và địa phương, các đoàn thể chính trị-xã hội… sớm triển khai tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hướng tới kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Người.

Nguồn: Chinhphudientu

dalat.gov.vn

Bác Hồ với chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu

Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một nhiệm vụ quan trọng, to lớn và cấp bách hiện nay, bởi đây là nguy cơ, ảnh hưởng trực tiếp tới sự lãnh đạo của Đảng và sự ổn định, phát triển của đất nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới nhiệm vụ này. Người cho đây là “kẻ thù nguy hiểm”, “là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến”, nó làm hỏng tinh thần và phá hoại đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên.

Bởi vậy, Bác Hồ đã có nhiều bài nói, bài viết đề cập trực tiếp tới nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu. Người thường xuyên nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân ta rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Người là hình ảnh tiêu biểu của đạo đức cách mạng, là tấm gương trong sáng về đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và quan liêu mà mỗi người, từng tổ chức của cả hệ thống chính trị phải thường xuyên rèn luyện, học tập và noi theo.

Nhớ lại, sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo nguy cơ tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong bộ máy và đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu, là một thứ “giặc nội xâm” rất nguy hiểm. Bởi vậy, ngay sau khi tuyên bố độc lập một ngày (ngày 3/9/1945) Người đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay, trong đó có nhiệm vụ “giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính”.

Tiếp đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 7/1952, trong bài phát biểu Người nhấn mạnh: Bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí nguồn gốc trong xã hội cũ mà ra. Chúng ta không lấy làm lạ, nhưng mấy năm sau cách mạng mà tham ô, lãng phí còn khá phổ biến trong cán bộ ta là vì giáo dục thiếu sót. Chúng ta phải sửa chữa một cách có kế hoạch, có chuẩn bị.
Người từng chỉ rõ: Để kháng chiến thắng lợi, để xây dựng nhà nước, chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi, nước mắt để đóng góp. Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám.

Vì vậy, theo Người chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị.

Nhớ lại trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, giám đốc nhà quân nhu – đại tá Trần Dụ Châu phạm tội tham ô, lợi dụng chức quyền biển thủ 57.950 đồng bạc Việt Nam, 449 USD, 28 tấn lụa vải xanh, nhận 20 vạn đồng tiền hối lộ của người dưới quyền, sống xa hoa, trụy lạc, kèo bé phái, gây chia rẽ nội bộ, vụ lợi riêng, nên ngày 5/9/1950 đã bị tòa án binh tối cao tuyên phạt mức án tử hình. Điều đó cho thấy sự nghiêm minh và quyết tâm của Đảng, Chính phủ, Bác Hồ trong việc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Sau vụ Trần Dụ Châu, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 15 đến 17 tháng 11 năm 1950, Bác Hồ trong bài phát biểu kết luận đã căn dặn: Lúc tìm người phải tìm cả tài, cả đức, chú trọng tư tưởng. Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc. Đồng thời phải giáo dục, cải tạo, kiểm tra cán bộ.

Cũng trong thời gian này, Bác Hồ còn có nhiều bài viết căn dặn, giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Đồng thời Người nghiêm khắc phê phán những cán bộ phạm phải căn bệnh nguy hiểm nói trên. Đó là bài: Chống quan liêu, tham ô, lãng phí (tháng 9/1952). Người viết:

“Tất cả cán bộ đều là đầy tớ của dân.
Quan liêu là những người phụ trách mà chỉ biết yên thân.
Xa cách cán bộ, nhân dân và việc làm
Việc gì cũng nhắm mắt ký thàm
Không biết cán bộ tốt hay xấu, việc làm đúng hay không
Quan liêu “ngài” không biết đề phòng
Do đó mà tham ô, lãng phí mọc từ trong đến ngoài
Tham ô là những cán bộ chỉ lo phát “hoạnh tài”.
Đục khoét của nhân dân, bộ đội chính phủ, đoàn thể
Của ai họ cũng trộm làm của mình.
Để họ tiêu xài xa xỉ, linh đình
Tội ác ấy thật là to lớn, tâm tình ấy thật là nhuốc nhơ
Lãng phí là những cán bộ ngẩn ngơ
Không biết thương tiếc của cải và thời giờ của Chính phủ và nhân dân.
Đáng tiêu một phần thì tiêu đến 10 phần, 100 phần
Việc một người làm được, cũng kéo gấp đến 10 người, 100 người
Tham ô có tội đã đành rồi.
Tai hại đến của dân, của nước thì lãng phí cũng là tội to.
Hỡi những người quan liêu, lãng phí và tham ô!
Cần, kiệm, liêm, chính các người để ở mô cả rồi.
Đoàn thể và Chính phủ, nhân dân và bộ đội, ủy thác cho các người.
Mà các người làm hỏng việc thì tội này ai mang
Cho nên toàn dân ta phải đứng dậy hiên ngang
Quyết tâm chống quan liêu, tham ô, lãng phí trong hàng ngũ ta.
Mấy câu mộc mạc, nôm na
Xin mọi người ghi nhớ đem ra thực hành”.

Sau này, nội dung đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu còn được Người nêu lên trong nhiều bài nói, bài viết tại các Hội nghị Trung ương, ở những buổi làm việc với lãnh đạo các cấp, các ngành, đoàn thể ở Trung ương, địa phương, cũng như ở nhiều bài viết quan trọng khác! Điều đó cho thấy đây là một nội dung xuyên suốt trong cuộc đời đấu tranh hoạt động của Bác Hồ, là vấn đề được Người thường xuyên quan tâm để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.

Ngày nay, Đảng ta xác định tham nhũng là trong một quốc nạn. Đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của từng tổ chức, của mỗi cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội X của Đảng vừa qua đã khẳng định quyết tâm: Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng, bất kể chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng; những người bao che cho tham nhũng, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu khống làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Biểu dương và nhân rộng những gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Điều đó thể hiện Đảng ta đã nhận thức và đang quyết tâm thực hiện đúng những gì mà Bác Hồ kính yêu căn dặn, để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của mình, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Nguồn: Báo Lâm Đồng

dalat.gov.vn

Người giúp Việt Nam tìm lại niềm tự hào dân tộc

Kỷ niệm 40 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, Dominique Bari, phóng viên tờ L’Humanité (Nhân Đạo), cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp, phỏng vấn sử gia Alain Ruscio, tác giả của nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Người.

– Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng. Ông có thể cho biết về vai trò lịch sử của Người đối với nền độc lập của Việt Nam?

– Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời cho cách mạng Việt Nam, Người tìm ra con đường đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi chế độ thực dân Pháp. Công lao của Hồ Chí Minh trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay và mai sau. Người là người cha của nền độc lập của Việt Nam, là người đã giúp dân tộc Việt Nam tìm lại niềm tự hào được là người Việt Nam.

Bác Hồ trong một chuyến đi công tác. (Ảnh tư liệu)

Chính vì những điều mà Người mang lại cho dân tộc Việt Nam mà người Việt Nam ngày nay vẫn vô cùng yêu mến vị lãnh tụ đáng kính mà họ thường gọi là Bác Hồ. Không dừng tại đó, hình ảnh Hồ Chí Minh đã vượt qua biên giới, lãnh thổ Việt Nam, đến nhiều quốc gia trên thế giới. Hồ Chí Minh là người đầu tiên chống lại chế độ thực dân và tuyên bố nền độc lập của Việt Nam vào ngày 2/9/1945. Điều này đã tạo nên một tiếng vang, một ý nghĩa to lớn đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh được ví ngang với các lãnh tụ kiệt xuất như Gandhi, Nehru,… và nhiều lãnh tụ giải phóng dân tộc khác.

– Ông suy nghĩ gì về tư tưởng Hồ Chí Minh?

– Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, nhưng Người không bao giờ tỏ ý muốn công bố những tài liệu lý luận của mình. Người cũng chưa từng có ý định lý luận hóa những tư tưởng của mình. Người rất thực tế, không ngần ngại bàn đến tất cả các khía cạnh của cuộc sống, chẳng hạn như: trong những thời kỳ lương thực thiếu thốn, Người khuyên bảo dân không nên để đất hoang, kêu gọi cán bộ phải gần gũi với nhân dân và không thể là những “ông quan cách mạng”. Từ những khái niệm rất cụ thể, Người phát triển thành một tư tưởng lớn về mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với quần chúng nhân dân.

– Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa Lenin hay là người theo tư tưởng dân tộc?

– Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa Lenin là một lý luận dẫn đường sự nghiệp giải phóng dân tộc của Đảng.

Alain Ruscio là sử gia người Pháp. Ông là tác giả của hơn chục bộ sách nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, là Giám đốc Trung tâm Thông tin tư liệu VN tại Pháp, và từng là phóng viên thường trú duy nhất của tờ L’Humanité tại Việt Nam, từ năm 1978 đến năm 1980.

Alain Ruscio rất ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết nhiều cuốn sách về Người. Từ nhiều năm nay, ông luôn gắn bó với đất nước, con người Việt Nam thông qua nghiên cứu lịch sử Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam và Hồ Chủ tịch, trong đó, có các tác phẩm đã xuất bản như “Hồ Chí Minh”, “Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh”, “Sống ở Việt Nam”, “Việt Nam, lịch sử, trái đất, loài người”…

Hồ Chí Minh là một người thuộc hai đảng cộng sản trên thế giới – ĐCS Pháp và ĐCS Việt Nam. Năm 1930, Người đã thành lập một đảng hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn do Pháp đàn áp mạnh các lực lượng tiến bộ, chống lại chế độ thuộc địa. Hoạt động của Đảng tại thời điểm đó gần giống như một tổ chức quân sự. Đối với Người, Đảng phải có kỷ luật và đoàn kết. Trong thời kỳ đó, Người cũng thể hiện tinh thần bác ái với các phong trào chống thực dân trong nước.

– Vào năm 1954, Việt Nam giành độc lập nhưng đất nước bị chia cắt, vai trò của Hồ Chí Minh trong công cuộc thống nhất đất nước như thế nào?
– Năm 1954, người dân Việt Nam đau đớn vì đất nước bị chia cắt. Mỹ nhảy vào thay thế Pháp ở Đông Dương. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, người Việt Nam hiểu rằng, nếu muốn thống nhất đất nước, họ buộc phải tiến hành vào một cuộc chiến đấu mới. Điều này dẫn tới sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1960 và thắng lợi năm 1975.

– Vai trò của Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống lại sự chiếm đóng của Mỹ là gì?

– Hồ Chí Minh vẫn mãi là một người của sự đoàn kết và hài hòa. Người luôn coi sự đoàn kết trong ĐCS Việt Nam và sự đoàn kết của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là điều vô cùng quý báu. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, người Việt Nam không cho phép để xảy ra sự chia rẽ dân tộc.

Thời khắc quan trọng đã đến trong quan hệ giữa Việt Nam và phong trào cộng sản thế giới. Một đất nước đang có chiến tranh sẽ cần sự hỗ trợ từ nhiều phía. Sau chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kosygin đến Hà Nội vào tháng 2/1965, Liên Xô nhận thức được quy mô, tầm quan trọng của cuộc kháng chiến ở Việt Nam khi Mỹ bắt đẩu rải chất độc da cam, bom napalm, bom bi xuống miền Nam. Liên Xô đã quyết định giúp đỡ Việt Nam trên quy mô lớn, thông qua việc cung cấp các loại vũ khí, tên lửa đất đối không và nhiều trang thiết bị quân sự hiện đại khác. Trung Quốc cũng viện trợ cho Việt Nam những loại vũ khí hạng nhẹ, hỗ trợ hậu cần, quân tư trang và lương thực.

– Tình hình Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh qua đời như thế nào?

– Toàn thể dân tộc Việt Nam đứng sau vị lãnh tụ của họ. Người Việt Nam vừa trải qua cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968. Cuộc tấn công này có ý nghĩa chính trị to lớn đối với dư luận quốc tế. Việt Nam đã giành được thắng lợi về ngoại giao khi đưa vấn đề Việt Nam trở thành một vấn đề quốc tế. Dư luận công chúng Mỹ đã mất thăng bằng. Johnson đã không tham gia tranh cử nhiệm kỳ hai. Nước Mỹ đã hiểu rằng, họ không thể chiến thắng trong cuộc chiến tại Việt Nam.

Nguồn: Đất Việt (theo L’Humanité).

dalat.gov.vn

Một nguyên tắc cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “nói đi đôi với làm”, phải nêu gương về đạo đức

Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính, một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, có nghĩa là đạo đức gắn liền với hành động. Nói về đạo đức phải gắn liền với thực hành đạo đức, đặc biệt phải có hiệu quả. Một người làm việc gì cũng không có hiệu quả, thì không thể coi là một người có đạo đức, Người chỉ ra rằng “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến vai trò, tác dụng của đạo đức, nêu ra những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, nhân dân từ đời công đến đời tư. Song, Hồ Chí Minh thực hành đạo đức nhiều hơn những điều Người nói và làm rất lặng lẽ. Theo Người, muốn giáo dục mọi người phải nêu gương trước của mình đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói.

Ở Hồ Chí Minh luôn luôn có sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức với thực hành đạo đức. Người nói “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”. Cho đến khi qua đời, Người còn viết trong Di chúc “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Cả cuộc đời Người đã là minh chứng cảm động cho sự nhất quán giữa nói và làm đạo đức. Nhờ kiên trì thực hành đạo đức, Người đã để lại cho dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức của một vị lãnh tụ thực sự của nhân dân.

Sở dĩ Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính đã để lại cho chúng ta một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Trong xã hội, tấm gương của các thế hệ trước đối với các thế hệ sau rất quan trọng. Mỗi thế hệ đều có trách nhiệm của mình, nhưng thế hệ trước bao giờ cũng có trách nhiệm rất nặng nề với thế hệ sau trong việc giáo dưỡng, nhất là bồi dưỡng về đạo đức. Chính vì vậy, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người kiên quyết đấu tranh chống lại nguy cơ xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của một đảng cầm quyền. Người nhắc nhở: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. “Muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người… mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Người đã từng cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Theo Người, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội không phải ở lý tưởng cao xa nào mà trước hết, cụ thể và trực tiếp là ở những người cộng sản ưu tú bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực. Củng cố hay làm suy giảm niềm tin của quần chúng vào tương lai của chủ nghĩa xã hội không phải ở những sai lầm và thất bại tạm thời khó tránh khỏi trên con đường mới khai phá mà chủ yếu ở sự sa sút, thoái hóa của những người được mệnh danh là “những chiến sĩ tiên phong” trước thắng lợi hay khó khăn của cách mạng.

Sự lành mạnh của đời sống đạo đức xã hội phụ thuộc một phần rất quan trọng vào sự nêu gương của người lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu các ngành, các địa phương, các đơn vị. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải hết sức giữ gìn và nêu gương về mặt đạo đức.

Để thực hiện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng ta vừa qua đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị học tập và làm theo Người. Đặc biệt Đảng ta yêu cầu những người lãnh đạo cao cấp phải nêu tấm gương về đạo đức, lối sống lành mạnh, phải là những chiến sĩ đi đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, sa hoa, lãng phí, không chỉ trong xã hội mà cả trong gia đình riêng của mình.

Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa lúc nào từ bỏ âm mưu và thủ đoạn thâm độc để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nước ta. Chúng luôn thực hiện “diễn biến” về tư tưởng, đạo đức lối sống qua con đường giao lưu, hội nhập kinh tế, qua các mạng thông tin để lôi kéo dân ta đi chệch khỏi các định hướng giá trị của dân tộc, đánh phá từ bên trong. Chính vì vậy, để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh” mỗi cán bộ đảng viên không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân như lời Bác Hồ đã dạy.

Th.S Nguyễn Thị Giang – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

dalat.gov.vn

Hồ Chí Minh và đạo đức thời đại mới

Trong di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, bao giờ Người cũng phân định rõ ràng tính phải và trái, đúng và sai, thiện và ác, xây và chống… Điều đó khiến mỗi người Việt Nam chúng ta đều nhận thấy và tìm thấy những vấn đề đạo đức rất gần gũi với mình, để hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Và di sản của Người cho đến ngày hôm nay đã trở thành những chuẩn mực chung của đạo đức thời đại mới.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành chuẩn mực chung cho đạo đức thời đại mới:

Trung với nước, Hiếu với dân

Tháng 5/1945, Bác từ Pác Bó về Tân trào (Tuyên Quang) để cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.
Ở Tân Trào, các đồng chí địa phương đã làm cho Bác một căn nhà lá khá xinh xắn. Đó vừa là nhà nghỉ, vừa là nơi để Bác làm việc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp lúc ấy được sống và làm việc gần bên Bác. Lần nào đồng chí đến cũng thấy Bác đang cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị Bác đều ghi chép và đánh máy rõ ràng.

Cao trào kháng Nhật cứu nước lúc bấy giờ đang sôi sục từ Bắc chí Nam. Toàn thể nhân dân hướng về Việt Minh, khí thế Cách mạng hừng hực khắp nơi. Trung ương đã quyết định tích cực chuẩn bị cho cuộc họp toàn quốc của Đảng và quốc dân đại hội đại biểu ở Tân Trào. Nắm vững thời cơ Cách mạng, Bác quyết định thời gian họp vào tháng 7/1945. Đúng thời gian đó, Bác bị mệt và sốt mấy hôm liền, thậm chí còn sốt cao và mê sảng. Nhưng khi vừa tỉnh, Bác đã vội vã bàn bạc công việc và lắng nghe tình hình. Bác nhắc cán bộ phải khẩn trương chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Bác nói: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy của dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ý chí và quyết tâm của bác đã trở thành ý chí và quyết tâm của toàn đảng, toàn dân ta, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, có ý nghĩa quyết định đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 lịch sử.

Yêu thương con người

Với Bác, tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất cao đẹp nhất. Trong di chúc, Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau. Đây là tình thương yêu dựa trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, chân thành giữa những con người có cùng ý tưởng. Với người lao động, Bác luôn động viên tinh thần họ với những việc làm cụ thể; với thiếu niên nhi đồng, Bác giành trọn niềm tin yêu đúng như câu nói “Trẻ em hôm nay là thế giới của ngày mai”.

Một câu chuyện cảm động về tình thương yêu Bác giành cho người lao động đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và là điều đáng để tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Đó là câu chuyện về cây xanh muôn đời trong khu di tích Hồ Chủ tịch.

Vào một đêm mùa Đông, Bác thức giấc khi nghe tiếng chổi tre quét lá bên đường của người lao công. Bác biết mùa này lá rụng nhiều, người lao công sẽ rất vất vả. Vậy nên một lần sang Trung Quốc công tác, Bác thấy một loại cây xanh tốt cả mùa đông mà lá không rụng. Bác nghĩ phải nhân giống loại cây này ở Việt Nam, như vậy các cô chú lao công mới đỡ vất vả quét lá rụng hàng ngày. Bác đã mang về 1 cây và trồng ngay trong khu nhà sàn và tự tay chăm sóc. Bác đặt tên cây đó là cây xanh muôn đời. Đến hôm nay cây xanh muôn đời đó vẫn xanh tốt quanh năm như tình yêu của Bác với những người lao công quét rác. Một việc làm tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn lao về tình thương yêu người lao động của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Cần, kiệm, liêm, chính

Từ “Đường Kách mệnh”, cuốn sách đầu tiên đào tạo, bồi dưỡng những người cách mạng trẻ tuổi, đến “Di chúc”, văn bản cuối cùng trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhắc đến cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư đều được Bác Hồ giải thích rất rõ, rất cụ thể, rất dễ hiểu. Riêng về chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc. Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”… Theo Bác, chí công vô tư về thực chất là nối tiếp và có quan hệ mật thiết với cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư, ngược lại, đã chí công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính “và có được nhiều tính tốt khác”. Tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

Có được phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, con người sẽ thực sự vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Nhưng nói dễ, làm khó. Để có được phẩm chất này, trước hết mỗi người phải tự vượt qua chủ nghĩa cá nhân, nhất là những lợi ích do chức, quyền, danh, lợi đem lại vốn rất hấp dẫn và diễn ra hằng ngày.

Câu chuyện về một lá thư đặc biệt của Bác gửi cho đồng chí trợ lý Cục lãnh sự Liên Bang Xô Viết là bài học Người dạy mỗi chúng ta về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Người viết: “Khi tôi đi công tác, các đồng chí có đưa cho tôi 100 Rúp để tiêu vặt và đưa cho đồng chí thư kí Vũ Kỳ của tôi 60 Rúp. Tổng cộng là 160 Rúp. Nhưng do không có dịp sử dụng đến nên hôm nay, tôi nhờ đại diện Đại sứ quán của chúng tôi gửi lại các đồng chí số tiền trên. Mong các đồng chí nhận lại. Số tiền đó tuy không nhiều nhưng còn có nhiều người khác cần sử dụng hơn tôi…”.

Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”. Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

Ngô Ngọc Huy

dalat.gov.vn

Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, cũng như giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện.

Theo Người, nói phải đi đôi với làm, trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên… là rất quan trọng. Người yêu cầu ông bà làm gương cho con cháu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên, đảng viên phải làm gương cho quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức, muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Người cho rằng, muốn xây dựng đạo đức mới thì xây phải đi đôi với chống. Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Xây đi đôi với chống, nghĩa là muốn xây thì phải chống, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân. Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành từ giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hóa sát hợp với các tầng lớp, đối tượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã cụ thể hóa các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội.

Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện. Người nhấn mạnh, trong đấu tranh chống lại tiêu cực, lạc hậu, trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn. Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Người đã phát động cuộc thi đua “Ba xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời, Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng, Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mối quan hệ của mình.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà Người đã chỉ ra chính là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng.

A.T

dalat.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới

Giữa lúc nhân dân ở hai miền Nam – Bắc đang giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH thì Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta lâm bệnh.

Trong những năm cuối đời, tuy tuổi cao, sức khoẻ có giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất sáng suốt, vẫn cố gắng làm việc, vẫn cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH. Nhưng bước sang năm 1969, sức khoẻ của Người giảm sút nhiều. Từ lúc Người lâm bệnh, Trung ương Đảng tập trung mọi khả năng và phương tiện để chăm sóc sức khoẻ của Người.

Khi thấy sức khoẻ giảm sút hơn nhiều năm trước, ngày 10/5/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tiếp và hoàn thiện bản di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, phòng khi Người qua đời thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn thế giới khỏi phải đột ngột.

Nằm trên giường bệnh, Hồ Chủ tịch vẫn thường xuyên theo dõi tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ của đồng bào miền Nam, và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Người còn quan tâm nhắc nhở những công việc như: gửi lụa cho các cụ già thọ 100 tuổi, mở cống thoát lũ… Gần đến ngày 2/9/1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dặn các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước ta tổ chức bắn pháo hoa cho đồng bào vui tết độc lập. Người dự định sẽ cố gắng ra dự lễ kỷ niệm Quốc khánh để gặp các đồng chí đồng bào… Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta không thực hiện được điều mong muốn cuối cùng đó. Lúc này bệnh tình của Người trầm trọng, mặc dù được tập thể các thầy thuốc tận tình cứu chữa, nhưng do tuổi cao, sức yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 9giờ47phút ngày 2/9/1969, thọ 79 tuổi.

Bác mất đi là sự mất mát to lớn đối với cả dân tộc Việt Nam và toàn thế giới, ngày 3/9/1969, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nén đau thương thành hành động cách mạng để thiết thực tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sáng 4/9/1969, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Hội đồng chính phủ, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã họp Hội nghị liên tịch truyền đi bản thông cáo đặc biệt về việc Hồ Chủ tịch qua đời. Sau đó Ủy ban lễ tang nhà nước được thành lập do đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng làm trưởng ban.

Trung ương Đảng và chính phủ quyết định để tang Chủ tịch Hồ Chí Minh 7 ngày trong cả nước (từ ngày 4 – 10/9/1969) và tổ chức lễ tang theo nghi thức cao nhất của Nhà nước.

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể từ 6/9/1969 tại Hội trường Ba Đình. Yên nghỉ trong quan tài bằng kính, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mặc bộ quần áo kaki bạc màu giản dị.

Trong những ngày ấy, từng đoàn người từ khắp muôn nơi xếp hàng với nét mặt đau thương vô hạn ngày đêm tiến vào hội trường kính viếng Hồ Chủ tịch. Trong 7 ngày đã có hơn 20 vạn người đến viếng thăm, phúng điếu và chịu tang Người.

Lễ truy điệu Hồ Chủ tịch được tổ chức trọng thể trên khắp đất nước. Sáng 6/9/1969, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã tổ chức truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh tại căn cứ kháng chiến ở miền Nam.

Cùng với nhân dân Việt Nam, cả loài người tiến bộ trên thế giới đều tỏ lòng thương tiếc và quý mến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khắp 5 châu đã có hơn 22.000 bức điện và thư từ 121 quốc gia đã gửi đến Hà Nội chia buồn với Đảng, chính phủ và nhà nước ta. Để tưởng nhớ Người, chính phủ nhiều nước đã quyết định lấy tên Hồ Chí Minh đặt tên cho các công trình, các đường phố, trường học, nhà máy, quảng trường… Một số đoàn thể quần chúng ở các nước cũng lấy tên Hồ Chí Minh đặt tên cho tổ chức của mình. Một số Đảng cộng sản tổ chức kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh, tổ chức học tập Di chúc của Người, giới thiệu rộng rãi cuộc đời hoạt động và các tác phẩm nổi tiếng của Người. Đó là biểu hiện của tất cả những tình cảm tốt đẹp, sâu sắc và chân tình của nhân dân các nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng vĩ đại và đạo đức cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là ánh sáng soi đường cho chúng ta dũng cảm tiến lên. Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống đoàn kết nhất trí, ý chí cách mạng tiến công, ý thức tự lực, tự cường, chúng ta vững bước tiến lên theo con đường cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã và đang phấn đấu thực hiện theo Di chúc thiêng liêng của Người và nguyện mãi mãi xứng đáng với công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người. Tư tưởng của Người soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta.

Để ghi nhớ và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người, quyết tâm phấn đấu thực hiện bằng được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, biến các Nghị quyết đó thành hiện thực.

Dưới ngọn cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thắng lợi huy hoàng nhất định thuộc về nhân dân ta!.

Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!
Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh !

————————-

Theo website Bác cùng chúng cháu hành quân của Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế

bachovoihue.com

Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ

Bác Hồ thăm các thương binh nặng ở trại điều dưỡng Bắc Ninh - Ảnh gdtd.vnSau Cách mạng tháng 8-1945, Nhà nước Việt Nam non trẻ gặp rất nhiều khó khăn, thử thách, cùng lúc phải đối mặt với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đề ra và lãnh đạo thực hiện đúng đắn chính sách đối với những người đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc. Ngày 7-1-1947, trong thư gửi Bác sĩ Vũ Đình Tụng, khi đó là Giám đốc Y tế Bắc bộ, Người viết: “Tôi biết rằng con trai Bác sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Bác sĩ biết đấy, tôi không có gia đình và không có con, nhưng gia đình của tôi là Việt Nam, con cái tôi là thanh niên Việt Nam, mỗi khi một thanh niên hy sinh thì tôi thấy mình như mất đi một phần cơ thể”(1). Trong thư gửi các chiến sĩ bị thương trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Bác nhấn mạnh: “Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để gìn giữ đất nước… Các chiến sĩ thật xứng đáng với Tổ quốc và Tổ quốc không bao giờ quên những người con như thế”(2). Người coi việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ không là nhiệm vụ của riêng ai, mà là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Để toàn dân ta quan tâm thường xuyên hơn nữa đối với thương binh, thân nhân liệt sĩ, tháng 6 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm ngày thương binh, liệt sĩ. Thực hiện chỉ thị đó, Hội nghị về vấn đề này gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khối và tỉnh họp ở Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) bàn và nhất trí đề nghị lấy ngày 27-7-1947 làm ngày thương binh, liệt sĩ. Từ đó, ngày 27-7 hằng năm là ngày toàn dân ta tưởng nhớ đến các liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng.

Không chỉ dành sự quan tâm đặc biệt tới thương, bệnh binh, Người còn luôn biểu dương, nêu gương những người có công cứu chữa thương, bệnh binh. Trong thư gửi bà Bá Huy, Bác viết: “Tôi nhận được báo cáo bà đã hăng hái giúp đất ruộng, trâu bò, thóc lúa và tiền bạc để lập một trại an dưỡng cho thương binh… Như thế là bà đã làm kiểu mẫu cho đồng bào thực hành cái khẩu hiệu: Có tiền giúp tiền, có sức giúp sức, đồng tâm hiệp lực, kháng chiến thành công”(3). Với lời lẽ mộc mạc, giản dị, Hồ Chí Minh đã động viên kịp thời những người có công giúp đỡ thương, bệnh binh, Người đã khéo nêu gương bà Bá Huy cho toàn dân học tập. Người mong muốn có nhiều bà Bá Huy hơn nữa để bù đắp cho những người đã vì Tổ quốc mà mất đi một phần xương máu của mình.

Hồ Chí Minh chỉ rõ trách nhiệm của chúng ta đối với thương, bệnh binh: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh. Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí ốm yếu què quặt. Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”(4).

Vào năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta liên tiếp giành thắng lợi lớn trên các mặt trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư thăm hỏi, động viên các chiến sĩ bị thương trong các trận đánh. Trong thư gửi những chiến sĩ thương binh khi tham gia giải phóng Đông Khê(5), Người viết: “Các chú đã chiến đấu anh dũng và đã giết được nhiều giặc, đã có công trong việc giải phóng Đông Khê. Chính phủ đồng bào đều nhớ ơn các chú. Tôi gửi lời khen ngợi các chú và chúc các chú mau lành bệnh để trở lại hàng ngũ tiếp tục chiến đấu giết giặc”(6).

Trên mỗi chặng đường cách mạng, kháng chiến, Bác luôn quan tâm đến những thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng, từ đó đề ra chủ trương, chính sách ưu đãi để bù đắp những mất mát đối với họ và Người luôn làm gương thực hiện cho mọi người noi theo.

Ngày 27-7-1953, trong thư gửi Bộ Thương binh Cựu binh, Người viết: “Tôi xin gửi một tháng lương và 50 cái khăn tay do đồng bào phụ nữ Thái biếu tôi, nhờ Cụ(7) chuyển cho anh em thương binh với lời chào thân ái của tôi”. Bức thư này của Bác đã đăng liên tục trên báo Nhân Dân từ ngày 26 đến 30-7-1953. Việc gửi vật chất để biếu thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là việc làm thường xuyên của Bác, chứa đựng trong đó những tình cảm và ý nghĩa sâu xa.

Ngày 7-5-1954, quân và dân ta đại thắng ở Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam – Lào – Căm-pu-chia. Nhân thắng lợi to lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư nhắn nhủ đồng bào: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu giúp đỡ họ”(8). Đối với thiếu niên, nhi đồng – những chủ nhân tương lai của đất nước, để giáo dục các cháu luôn chăm lo cho các thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng, Người căn dặn: “Các cháu phải: thi đua học tập, thi đua sản xuất, thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ”(9).

Năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra rất quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Trước lúc đi xa, để thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ tốt hơn nữa, Bác căn dặn: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn, chốn ở, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét”(10). Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lời căn dặn, là ý nguyện của Người, mà còn là nguyện ước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta, bất luận hoàn cảnh nào, cũng luôn xác định chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với Tổ quốc là một trong những chính sách lớn, có vị trí quan trọng trong chiến lược con người. Đặt con người ở vị trí trung tâm, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, chính sách của Đảng ta đối với con người, đặc biệt là những người đã chịu nhiều hy sinh mất mát, có nhiều cống hiến cho cách mạng, không những có ý nghĩa to lớn đối với bản thân các đối tượng chính sách, mà còn tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng, ý thức chính trị của mọi tầng lớp nhân dân. Đảng, Nhà nước ta đã tập trung khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách thương binh, liệt sĩ cho phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là từng bước luật pháp hóa các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong đó tiêu biểu là Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; Pháp lệnh tuyên dương Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; chủ trương về xây cất mộ – nghĩa trang liệt sĩ v.v… Các chủ trương chính sách đó đã và đang đi vào cuộc sống, được toàn xã hội đón nhận và đồng tình ủng hộ; vừa góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần các đối tượng chính sách, vừa góp phần ổn định và phát triển đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ XHCN.

Hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đạt được những thành tựu to lớn. Để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 mà Đại hội X của Đảng đã xác định, chúng ta phải phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực để đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước, thực hiện tốt hơn nữa chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng; tiếp tục quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng hệ thống chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Để làm được điều đó chúng ta phải:

Đẩy mạnh xã hội hóa công tác thương binh, liệt sĩ và chăm sóc người có công. Tiếp tục giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tình cảm và tính tự giác hành động của quần chúng, đưa phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng đi vào chiều sâu; chủ động, sáng tạo, tổng kết thực tiễn để xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế và cơ chế kinh tế mới. Thông qua việc làm tình nghĩa mà giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chế độ, tình cảm cách mạng trong sáng cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ.

Gắn công tác thương binh, liệt sĩ và chăm sóc người có công với cách mạng với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược quốc phòng – an ninh của đất nước. Đi đôi với việc nâng cao vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả việc chăm lo thực hiện các chính sách, chế độ đã ban hành, cần giáo dục, động viên các đối tượng hưởng chính sách nêu cao tinh thần gương mẫu, nỗ lực vươn lên, tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng tốt đẹp của mình và góp sức xây dựng đất nước. Đồng thời phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho họ tham gia các chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương (vay vốn giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo; xây dựng nền văn hóa mới, con người mới…) hình thành hệ thống biện pháp tổng hợp, đồng bộ để tạo nên hiệu quả toàn diện cả về kinh tế và chính trị-xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với chăm sóc và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công, tạo thành nền tảng chính trị-xã hội vững chắc của sự nghiệp đổi mới và bảo vệ Tổ quốc. Thường xuyên nắm chắc tình hình tổ chức thực hiện ở các địa phương, có kế hoạch chỉ đạo để bảo đảm mọi đối tượng có công sớm được hưởng các chế độ theo quy định. Chủ động và kiên quyết xử lý những trường hợp làm sai chính sách, chế độ và những yếu kém, khuyết điểm trong tổ chức thực hiện.

Đẩy mạnh tiến độ, hiệu quả giải quyết các tồn đọng chính sách sau chiến tranh. Tăng cường phối hợp, liên kết các đoàn thể, ban ngành trung ương và địa phương, các lực lượng vũ trang và nhân dân để tổ chức tìm kiếm, khảo sát, quy tập mộ liệt sĩ. Đây là một vấn đề có ý nghĩa chính trị-xã hội và nhân văn to lớn. Ngoài ra, việc tiếp tục tu sửa, nâng cấp, quản lý tốt các nghĩa trang, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sĩ, coi đó thực sự là những công trình văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, là bổn phận của thế hệ hôm nay và mai sau.

——-

(1) Hồ Chí Minh – chân dung một con người, lưu Bảo tàng Hồ Chí Minh. (2) Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, lưu Trung tâm lưu trữ quốc gia I. (3) Sách Lời Hồ Chủ tịch, Nha Thông tin thư viện Việt Nam, H.1949, tập II, tr.13. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2000, tr.175. (5) Trận Đông Khê là trận đánh mở đầu trong chiến dịch Biên giới năm 1950. (6) Báo Cứu quốc, số 1675, ngày 25-10-1950. (7) Tức Bộ trưởng Bộ Thương binh, Cựu binh lúc bấy giờ. (8) Báo Nhân Dân, số 875, ngày 27-7-1956. (9) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 6, tr.221. (10) Sđd, tập 12, tr.503.

LÊ VĂN PHONG
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

xaydungdang.org.vn

Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách sạch chủ nghĩa cá nhân

Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta những lời tâm huyết, thể hiện mối quan tâm sâu sắc và sự lo lắng của Người đối với đất nước trong bài báo: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại, viết xong bài báo này, Bác mời đồng chí Tố Hữu lúc đó phụ trách công tác tuyên huấn và đồng chí Vũ Kỳ lại để Bác đọc cho nghe và góp ý. Nhan đề bài báo của Bác lúc đầu là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Nghe đọc xong, các đồng chí đều thấy đây là một một bài báo có nội dung quan trọng đối với công tác tư tưởng, giữ gìn đạo đức cách mạng – cái gốc của mỗi cán bộ, đảng viên. Bác muốn mỗi người phải ra sức tu dưỡng để trở thành những người tốt, cán bộ tốt, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nghe xong, đồng chí Tố Hữu đề nghị Bác nên đưa ý nâng cao đạo đức cách mạng lên trên, quét sạch chủ nghĩa cá nhân xuống dưới. Bác quay sang hỏi đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí cũng đồng ý như thế. Bác nói:

– Có ba người, các chú là hai, đa số, nên Bác đồng ý đổi lại.

Tuy vậy, sau này Bác hỏi lại đồng chí Vũ Kỳ: Bác thí dụ nhà chú mua được một cái tủ mới, chú có quét nhà trước rồi mới kê tủ vào, hay là cứ kê tủ vào rồi mới quét nhà? ý Bác sâu sắc như thế đấy! Nhưng ở đây ta cũng thấy Bác rất tôn trọng đa số, vả lại sự thay đổi này cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung bài báo.

Bác đã gửi tới tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị để góp ý kiến, sau đó đã in trên báo Nhân Dân đúng vào Ngày thành lập Đảng. Có lẽ Bác muốn lưu ý tất cả các đồng chí lãnh đạo của Đảng về vấn đề chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng.

Đã rất nhiều lần, Bác nói đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Lần này, Bác đặc biệt nhấn mạnh: “Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình…”(1).

Bác đặc biệt vạch rõ những nguy hại lớn do cá nhân chủ nghĩa gây ra:

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”(2).

Chúng ta đều biết, ngay từ năm 1927, mở đầu cuốn “Đường Cách mệnh”, một cuốn sách “vỡ lòng cách mạng”, Bác Hồ đã nói ngay đến “Tư cách một người cách mạng”. Tư cách đạo đức của người cách mạng là điều mà Bác đặt lên đầu tiên. Trong mục “Tự mình phải” gồm có 14 điều, Bác nhấn mạnh phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất và phải biết cả quyết sửa lỗi mình.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 17-9-1945, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư…”(3) (lấy của chung làm của riêng). Và Bác chỉ rõ, những điều đó làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết. “Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm. Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi”(4).

Tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Bác nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Theo Bác, Đảng phải là đạo đức, là văn minh thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.

Trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Bác viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Chỉ trong một đoạn ngắn nói về Đảng, có 57 chữ, Bác đã bốn lần nhấn mạnh chữ “thật” và “thật sự”. ý Bác là vấn đề đạo đức cách mạng phải được quan tâm, phải được coi trọng. Lời căn dặn cuối cùng và tâm huyết ấy của Bác, khiến mỗi người chúng ta càng phải suy nghĩ để tu dưỡng và rèn luyện mình, xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, của nhân dân.

Những năm vừa qua, bên cạnh thành tích to lớn có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, đã diễn ra “những tệ nạn tiêu cực trong một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý bao gồm: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa đọa về đạo đức, lối sống, chạy theo địa vị, danh lợi, tranh giành, kèn cựa, mất đoàn kết nội bộ, dối trá, báo cáo không trung thực, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Những tệ nạn ấy đã trở thành nguy cơ “tự diễn biến” từ trong, không thể coi thường”(6). Là một nhà tư tưởng lớn, một nhà chiến lược và tổ chức thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã nhìn thấy nguy cơ ấy đối với một đảng cầm quyền, nếu không coi trọng sự rèn luyện, tu dưỡng và thường xuyên làm tốt công tác chỉnh đốn Đảng.

Tháng 6-1968, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7).

Rất, rất nhiều lần, Bác đã nói với chúng ta về nguy hại của chủ nghĩa cá nhân: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(8), “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”(9).

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục đảng viên về lý tưởng cách mạng và đạo đức của người đảng viên. Bác nêu cách làm: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(10).

Rèn luyện đạo đức cách mạng là một phần quan trọng của Tư tưởng Hồ Chí Minh, của văn hoá Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Người là một biểu tượng đẹp đẽ nhất, một tấm gương cao quý nhất của đạo đức cách mạng.

Nhớ Bác, chúng ta hãy làm đúng những lời căn dặn của Người: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân – Nâng cao đạo đức cách mạng”.

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.438. (2) Sđd, tr.438-439. (3,4) Sđd, tập 4, tr.21. (5) Sđd, tập 12, tr.510. (6) Trích tài liệu Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên, NXBCTQG, H.2003, tr.200. (7) Sđd, tập 12, tr.557. (8) Sđd, tập 11, tr.374. (9) Sđd, tập 10, tr.306. (10) Sđd, tập 12, tr.439.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Người làm báo Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu

Hằng năm, vào dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), mỗi người làm báo cách mạng chúng ta lại suy ngẫm, chiêm nghiệm và tự hào vì đã có phần đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp báo chí của Đảng, của dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công chăm sóc. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 82 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam đúng vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây chính là thời điểm thuận lợi để chúng ta noi theo tấm gương đạo đức của Bác, thực hiện có hiệu quả 9 điều “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Từ quan điểm trên của Người, đạo đức nghề nghiệp được hiểu là phẩm chất tốt đẹp nhất, là gốc của các vấn đề trong cuộc sống, là nền tảng hình thành pháp luật, là phương tiện điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của người làm báo Việt Nam mà phạm trù pháp luật không điều chỉnh được. Thực hiện đúng quy định đạo đức nghề nghiệp, người làm báo Việt Nam sẽ tránh được những biểu hiện tiêu cực trong cơ chế thị trường, giữ vững lòng tin của nhân dân, của xã hội đối với lực lượng báo chí cách mạng nói chung và đối với mỗi người làm báo nói riêng.

Vấn đề hàng đầu Bác đòi hỏi các nhà báo là phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tốt đẹp. Trong thư gửi anh em văn hoá và trí thức Nam bộ ngày 25-5-1947, Người viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”(2). Để thực hiện sự nghiệp “Phò chính, trừ tà”, người làm báo phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân; hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật; sống lành mạnh, trong sáng, không lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật; gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các nền văn hoá khác.

Trung thành với Đảng, với nhân dân là phẩm chất cao quý nhất của người làm báo cách mạng. Lòng trung thành hướng mọi hoạt động của người làm báo tới việc đảm bảo lợi ích của Đảng, của nhân dân, của chế độ. Nó giúp mỗi người làm báo lựa chọn phạm vi hoạt động, phương thức hành nghề, đối tượng phản ánh, tuyên truyền; xác lập phong cách, lập trường, quan điểm, tích luỹ vốn sống. Lòng trung thành khiến chúng ta không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi đạo đức nghề nghiệp để có đủ điều kiện làm việc một cách tốt nhất, hiệu quả nhất vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Người làm báo phải luôn gắn bó với nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ, tức là người làm báo từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Người làm báo càng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; yêu kính nhân dân; tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; nắm vững quan điểm của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng ta là đảng lãnh đạo cách mạng. Báo chí là công cụ lãnh đạo của Đảng, ngoài lợi ích của nhân dân, người làm báo cách mạng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, người làm báo phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Tại Đại hội lần thứ hai của Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”(3).

Là một nhà báo lớn, Người ý thức rất rõ ràng về nhiệm vụ tuyên truyền của báo chí, đồng thời, Người khẳng định, tuyên truyền phải đảm bảo tính chân thực. Khi nêu gương người tốt, việc tốt phải: “Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật, không được bịa ra”(4). Mặt khác, “Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy… Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành, đúng đắn; chứ không phải để địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền”(5).

Người làm báo phải sống lành mạnh, trong sáng, không được lợi dụng nghề nghiệp để vụ lợi và làm trái pháp luật. Vấn đề này liên quan đến đạo đức, lối sống và khả năng rèn luyện, tu dưỡng của người làm báo. Đạo đức, lối sống của người làm báo không có gì khác đối với mọi cán bộ, đảng viên, đó là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong cơ quan báo chí sẽ không có người vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật; đồng thời môi trường báo chí cũng trở nên trong sạch hơn. Phải đổi mới cách nghĩ, cách làm việc. Phải kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực từ trong cơ quan đến ngoài xã hội. Làm việc gì cũng phải công khai, nhất là về việc chọn lựa tin bài, về tài chính, về thu nhập. Không công khai, không rõ ràng khiến cho người ta tưởng có cái gì đó không bình thường nên nghi ngờ và dẫn đến mất đoàn kết. Phải lấy đoàn kết làm trọng. Nhưng đoàn kết không phải là dĩ hoà vi quý, thủ tiêu đấu tranh. Phải dựa vào quy chế cơ quan và pháp luật của Nhà nước. Nếu thấy đồng chí mình có việc gì chưa rõ, trước hết phải tìm hiểu, nếu đồng chí đó không chịu trả lời hay không chịu làm rõ, lúc đó mới dùng đến tổ chức và các biện pháp mang tính định chế để yêu cầu đồng chí mình trả lời một cách tường tận, làm rõ. Khi tìm hiểu phải thiện chí, đừng vội quy chụp, như vậy mới đảm bảo yêu cầu đoàn kết. Phải biết tôn trọng đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên và những người tham gia tạo nên sản phẩm. Việc giải quyết lương, thù lao, nhuận bút không phải là sự ban ơn mà chính là sự cảm ơn của người được Nhà nước giao quyền là chủ sử dụng lao động đối với người lao động. Phải khẩn trương tạo nguồn kinh phí để chi trả lương, thù lao, nhuận bút cho người lao động. Làm cho tờ báo ngày càng hấp dẫn và hay, chiếm được tình cảm của bạn đọc trong cả nước, đồng thời với củng cố, phát triển cơ quan, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ cán bộ, phóng viên, cộng tác viên, công nhân viên là nhiệm vụ thường xuyên của mọi thành viên trong cơ quan báo.

Người làm báo phải gương mẫu chấp hành pháp luật, làm tròn nghĩa vụ công dân, làm tốt trách nhiệm xã hội; bảo vệ bí mật quốc gia, nguồn tin và giữ bí mật cho người cung cấp thông tin; tôn trọng, đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, nghiệp vụ, khiêm tốn, cầu tiến bộ; giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa các nền văn hoá khác. Người làm báo có lợi thế là được Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo hành lang pháp lý để hành nghề một cách có hiệu quả nhất. Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung và hình thức sản phẩm báo chí đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cả tập thể vươn lên. Từng thành viên vươn lên, coi sự đoàn kết là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới phải thường xuyên, cụ thể, chặt chẽ, thông tin kịp thời. Mỗi tổ chức Hội Nhà báo phải thật sự phát huy vai trò là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp – mái nhà chung của những người làm báo Việt Nam.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, 82 năm qua, các thế hệ nhà báo cách mạng Việt Nam luôn đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, chuyển tải quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với quần chúng, tập hợp, giác ngộ quần chúng, xây dựng lực lượng, tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, đưa đất nước đi lên theo con đường XHCN. Báo chí cách mạng Việt Nam và những người làm báo cách mạng Việt Nam trước sau luôn kiên định lòng trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng và của dân tộc. Cội nguồn sức mạnh của báo chí cách mạng Việt Nam là sự tiếp nối và nhân lên truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, nghìn năm văn hiến, kết hợp với những giá trị tiên tiến của thời đại được biểu hiện thành giá trị đạo đức Hồ Chí Minh. Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ nhà báo cha anh, hơn 16.000 nhà báo Việt Nam hôm nay càng thêm vững vàng hơn trong công tác tuyên truyền nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng chậm phát triển. Dù làm việc ở bất cứ cơ quan báo chí nào, những người làm báo cách mạng Việt Nam cũng tiếp tục phấn đấu để có những tác phẩm có giá trị, hấp dẫn, đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, định hướng, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân, chiếm được cảm tình của đông đảo công chúng.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.252. (2) Sđd, tr.131. (3) Sđd, tập 9, tr.414. (4) Sđd, tập 12, tr.559. (5) Sđd, tập 7, tr.118.

Lê Văn Thiềng Trưởng Ban công tác hội
Hội Nhà báo Việt Nam

xaydungdang.org.vn