Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Những chuyện chưa kể bên lề Hội nghị Pa-ri

QĐND Online – Bên lề đàm phán ở Hội nghị Pa-ri 40 năm trước có những câu chuyện, tình tiết ít người được biết. Xin chia sẻ những mẩu chuyện thú vị do ông Lưu Văn Lợi, nguyên Thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pa-ri kể lại.

Nhiệt tình biếu… gà

Các nhà ngoại giao của ta tham gia đàm phán ở Pa-ri đã nhận được những sự quan tâm giản dị nhưng rất chân thành, tình cảm của bà con Việt kiều. Có cặp vợ chồng, vợ người Việt, chồng là người Pháp trước đó từng đi lính sang Việt Nam. Cả hai vợ chồng đều rất yêu Việt Nam, nhớ Việt Nam lắm nhưng không có điều kiện để về nước. Biết có đoàn đàm phán Việt Nam đang ở Pa-ri, vậy là hằng tuần, khá đều đặn, ông chồng tự lái xe chở 50 con gà tới biếu đoàn đàm phán VNDCCH đang ở trường Đảng Maurice Thorez ở Choisy Le Roi. Ông tới nhiều lần đến mức ông bảo vệ người Pháp đã quen mặt và những lần sau thấy xe chở gà của ông tới là ra mở cổng ngay, không cần phải xin phép. Vợ chồng họ làm việc này trong hai năm liền, tới mức đoàn miền Bắc mặc dù rất cảm động nhưng cũng thấy ái ngại và phải nói cám ơn, nếu không họ còn tiếp tục biếu gà.

“Tôi không cười thì khóc à”

Báo chí ở Pa-ri hồi ấy săm soi nhất cử nhất động của hai đoàn ta và Mỹ rất ghê, nhất là trong những cuộc đàm phán riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ. Họp trong phòng mà có phóng viên còn thuê nhà bên cạnh, dỡ cả mái ngói để trèo lên rồi chĩa máy ảnh sang. Hai ông cố vấn họp xong đi ra ngoài cửa, có bắt tay không, có cười không, mặt lạnh hay cười…đều bị chụp lại rồi đưa lên báo. Có lần họp căng thẳng, quyết liệt, kết quả chưa ngã ngũ mà chẳng hiểu sao báo chí lại đồng loạt đăng tin nghe chừng đàm phán có tiến triển. Thì ra họ chụp được cảnh đồng chí Lê Đức Thọ đang cười, dẫu chưa biết ông cười vì cái gì, họp có kết qủa không nhưng đã vội tung tin lên báo theo chiều hướng tích cực. Ở Hà Nội theo dõi tin tức thấy vậy gọi sang hỏi tình hình thế nào, sao đồng chí Thọ lại cười! Lúc ấy, đồng chí Lê Đức Thọ mới lộ ra rằng: “Tôi không cười thì khóc à, vì Kít-xinh-giơ bắt tay tôi chặt quá!”.

Cánh nhà báo “bé cái nhầm”

Ở Pa-ri, đoàn ta nhận được sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí thuộc Đảng Cộng sản Pháp. Vào kỳ nghỉ hằng năm, một số đồng chí tình nguyện tham gia phục vụ hậu cần các đoàn đàm phán của ta. Một số người còn mang theo cả ô tô riêng tới phục vụ việc đi lại của đoàn. Có lần họp quan trọng với đoàn Mỹ ở địa điểm do ta chọn, vì không muốn bị cánh báo chí làm phiền, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn Xuân Thủy đã lên xe của một đồng chí Pháp đi theo lối cổng sau, chạy thẳng tới chỗ họp. Trong khi đó, một xe khác đi lối cổng chính đằng trước hòng đánh lạc hướng cánh báo chí đang tập trung chờ bám theo. Là xe xịn nên khi kéo kính lên và đóng cửa xe thì khó nhìn được bên trong. Ngoài cổng chính vẫn có mấy ông bảo vệ mở cửa, bảo vệ đứng gác bồng súng chào như bình thường. Thế nên các nhà báo đã bị nhầm là xe chở đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy nên vội vã phóng mô tô đuổi theo. Nhưng đi một lúc, ngó nghiêng mãi thì các tay săn tin, săn ảnh phát hiện không phải hai ông trên xe nên vội vàng quay lại. Lúc đó, thì xe hai chở hai đồng chí đã đi lâu rồi nên địa điểm lần họp đó được giữ kín.

Tình báo tồi

Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, có giai đoạn Mỹ đòi ta không được đưa thêm quân miền Bắc vào miền Nam. Mỹ còn đưa ra các bằng chứng để cáo buộc ta về việc này. Có lần họp, đoàn Mỹ đưa bằng chứng là mấy bức ảnh màu chụp từ vệ tinh, trong đó chụp bộ đội của ta đang ở trong rừng mà Mỹ cho là đang trên đường hành quân vào Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rất nhanh, phản ứng trước tiên bằng tiếng cười to, chắc khỏe, có ý “khinh khi” sự bịa đặt của Mỹ. Rồi đồng chí nói, tình báo của các ông tồi lắm. Lúc chúng tôi không đưa quân nữa thì các ông lại chụp ảnh này. Tôi nói với các ông chứ rừng Việt Nam chỗ nào chả giống chỗ nào. Các ông ra Bắc chụp quân mà đội mũ cối, sao vàng, đeo lon thế này là bình thường. Nhưng lúc chúng tôi đưa đại pháo và cả xe tăng vào Sài Gòn thì tình báo các ông lại chẳng biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải. Tấm ảnh Mỹ đưa ra không hề chính xác, vì khi dàn trận, quân ta không đeo lon, đeo sao như thế. Sau đó, ta họp báo cũng nêu tình tiết này nhằm cho thế giới biết âm mưu và thủ đoạn của Mỹ.

Ông “nghễnh ngãng” ở Hội nghị Pa-ri

Trưởng đoàn Xuân Thủy nổi tiếng là người hay lái vào các vấn đề đàm phán khi gặp đoàn Mỹ một cách khéo léo. Suốt thời gian diễn ra hội nghị hai bên giữa đoàn VNDCCH và đoàn Mỹ (từ tháng 5 đến tháng 11-1968), ta chỉ nhắc đi nhắc lại yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc trước khi bàn sang các vấn đề khác. Trong khi Mỹ muốn bàn đồng thời hai vấn đề quân sự và chính trị trên nguyên tắc “có đi có lại”. Suốt mấy tháng trời, trong các cuộc họp, ta chỉ nêu độc vấn đề như trên, còn Mỹ nhất định không chịu. Thế nên báo chí gọi đây là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Song rốt cuộc, do các diễn biến thay đổi trên chiến trường và sức ép mạnh mẽ của dư luận, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn và vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Sau đó, trong một buổi nói chuyện khi kết thúc hội nghị hai bên giữa trưởng đoàn Xuân Thủy và trưởng đoàn Mỹ Ha-ri-man, ông Ha-ri-man tâm sự với ông Xuân Thủy rằng: “Tôi già trên 80 tuổi rồi, nên tai hơi khó nghe”. Đồng chí Xuân Thủy bèn nói ngay: “Bây giờ tôi mới biết ông nghễnh ngãng. Thảo nào chỉ có một câu là “Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc” thôi mà tôi nói suốt gần 6 tháng ông mới nghe ra”.

MỸ HẠNH-ANH THƯ
qdnd.vn

Mùa xuân nhớ Bác

Kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ “Đọc thơ anh”.

Hình nền

Mùa xuân về nhớ Bác khôn nguôi
Tiếng pháo giao thừa nhớ ngày xuân Bác còn chúc Tết

Vần thơ thân thiết
Ấm áp lòng người
Bác đã đi xa rồi
Để lại chúng con bao nỗi nhớ
Người cha đã đi xa.

Các anh ơi, Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh trên báo Đảng
Lòng càng nhớ Bác nhiều hơn
Làm sao có thể quên
Mỗi lần gặp Bác
Bác bắt nhịp bài ca đoàn kết
Người thường nhắc nhở:
Yêu nước, thương dân
Dẫu thân mình có phải hy sinh
Cũng chỉ vì trường xuân cho đất Việt.

Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh
Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt
Day dứt vì mình chưa làm được
Những điều hằng ước mơ
Những điều chúng tôi thề
Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp,
Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết
Được Đảng chăm lo
Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất

Nhưng tuổi trẻ chúng tôi
Không ít người đang lỡ thì, mai một.

Theo năm tháng cuộc đời
Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu
Bởi một lẽ chịu hẹp hòi, ích kỷ
Thanh niên chúng tôi thường nghĩ:
Bỏ công gieo cấy, ai quên gặt mùa màng

Mỗi vụ gieo trồng
Có phải đâu là lép cả?

Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào
Những trang sử vẻ vang dân tộc
Chúng tôi được học
Được thử thách nhiều trong chiến tranh

Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ – Quang Trung
Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt
Có học hành, lại phải sống cầu an
Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên”
Bởi lẽ đấu tranh – tránh đâu cho được?

Đồng chí không bằng đồng tiền
Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp
Có ai thấu chăng
Và ai phải sửa?
Mỗi xuân về con càng thêm nhớ Bác

Lòng vẫn thầm mơ ước
Bác Hồ được sống đến hôm nay
Làm nắng mặt trời xua tan hết mây
Trừ những thói đời làm dân oán trách

Có mắt giả mù, có tai giả điếc
Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung
Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ

Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?
Tham quyền cố vị
Sợ trẻ hơn già

Quên mất lời người xưa:
“Con hơn cha là nhà có phúc”
Thời buổi này,
Không thiếu người xông pha thuở trước
Nay say sưa trong cảnh giàu sang
Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?

Mùa xuân đất nước
Nhớ mãi Bác Hồ
Ta vẫn hằng mong lý tưởng của Người

Cho đất nước khải hoàn, mùa xuân mãi mãi.

Phạm Thị Xuân Khải – Xuân Bính Dần

Theo nguồn Báo Tiền Phong 
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Hai Tết với Bác Hồ

Bà Lê Tâm là một cán bộ hoạt động Công đoàn chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời tham gia cách mạng, bà đã vinh dự 2 lần được đến chúc Tết và ăn Tết cùng với Bác Hồ. Kỷ niệm về hai sự kiện này đã ghi sâu trong tâm khảm của bà. Khi chạm tới niềm sâu thẳm đó, bà rưng rưng tâm sự:

Tết Độc lập đầu tiên năm 1946, tôi công tác ở Hội Công nhân cứu quốc, trụ sở tại 51 Hàng Bồ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được cơ quan cử tham gia Đoàn đại diện cho các đoàn thể đi chúc Tết Bác Hồ và ông Vĩnh Thụy.

Đoàn đến 51 Trần Hưng Đạo – nơi ở của ông Vĩnh Thụy. Ông ta mặc bộ comlê vải đũi, đầu chải bóng loáng ra tiếp. Chị Hải đại diện cho Đoàn cầm hoa tặng, ông Vĩnh Thụy cảm ơn nhận hoa và tỏ ra xúc động lắm. Sau đó, Đoàn về Nhà khách Chính phủ chúc tết Bác. Các đồng chí Văn phòng bảo Đoàn chờ tại phòng khách. Bác mặc bộ đồ kaki màu vàng đã bạc, giày vải, nhanh nhẹn đi ra phòng khách tươi cười chào mọi người.

2 tet
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cán bộ – nhân viên
Văn phòng Phủ chủ tịch – Tết 1963. Ảnh: Tư liệu

Nhìn Bác gầy, đôi mắt trũng sâu nhưng ánh mắt vẫn sáng, ai cũng xúc động và thương Bác quá. Chúng tôi kính tặng Bác bó hoa layơn trắng rồi vây quanh Bác như đàn con cháu tíu tít bên người cha, người ông trong ngày Tết cổ truyền. Bác vui lắm cảm ơn cả Đoàn. Bác chúc Tết mọi người rồi căn dặn, chúng ta vừa giành chính quyền, dân còn khổ, các cô các chú phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Ai nấy đều thắc mắc, ở thành phố lấy đâu ra đất để tăng gia. Bác nói: “Phải tận dụng mọi chỗ nếu tận dụng được… phải chống mù chữ… Lần sau đến chúc Tết Bác, chỉ cần báo cáo cho Bác biết trồng được bao nhiêu rau, giúp được bao nhiêu người biết chữ”. Rồi Bác hỏi thăm và gửi lời chúc Tết gia đình, thăm hỏi bà con. Khi về cơ quan, tôi đã đi vận động nữ công nhân trồng rau ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá, vận động nhau học chữ. Công việc tăng gia và học chữ quốc ngữ được mọi người thực hiện tốt cho đến khi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ.

Đầu năm 1952, đồng chí Trần Danh Tuyên cho phép 2 đại biểu đến ăn Tết ở Trung ương. Đại diện cho nam giới là đồng chí Trần Bảo, còn tôi đại diện cho phụ nữ. Hai anh em, sáng 30 Tết khăn gói lên đường từ cơ quan Tổng Liên đoàn (Sơn Dương- Tuyên Quang) đến trưa tới đèo De thì mở cơm nắm ra ăn, chiều đến chiến khu gặp anh Hoàng Quốc Việt – Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách dân vận trực tiếp phụ trách công vận.

Anh Việt đưa đến thăm anh Thận (đồng chí Trường Chinh), anh Thận mời ở lại ăn Tết với vợ anh vừa ở khu Ba lên. Buổi chiều, chúng tôi trở về chỗ anh Hoàng Quốc Việt. Thời gian này chị Thục Chinh chuẩn bị tổ chức đám cưới với anh Nguyễn Lương Bằng; nhưng có việc đột xuất ở biên giới, anh Bằng đi công tác ở đó nên hoãn đám cưới lại. Chị Thục Chinh đang ở chỗ Bác. Các anh cho phép tôi lên cùng chị Thục Chinh ăn Tết với Bác. Vừa tới nơi, Bác quan tâm hỏi:“ Cháu có mệt không?”. Tôi phấn khởi quá trả lời: “Thưa Bác, cháu không thấy mệt ạ!”.

Tối 30 Tết, Bác ngồi đọc tài liệu. Tài liệu rất nhiều, nhiều nhất là thư của công nhân, nông dân, bộ đội, thiếu nhi gửi Bác. Bác bảo tôi đọc những bức thư đó cho Bác nghe, chỗ nào lưu ý Bác bảo dừng lại, Bác đánh dấu để dễ tìm khi cần đọc lại. Khuya Bác bảo tôi đi ngủ, còn Bác vẫn chong đèn đọc tiếp. Bác ở nhà sàn, còn chúng tôi ở nhà ngang, đêm ấy chúng tôi không ngủ được vì thấy Bác vẫn thỉnh thoảng ho nên lo cho sức khỏe của Bác. Bảo vệ giục Bác đi ngủ nhiều lần nhưng Bác vẫn thức.

Sáng mùng 1 Tết, tỉnh dậy chúng tôi xuống bếp đã thấy Bác ở đấy, chúng tôi ùa vào chúc Bác mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi. Bác nói, muốn Bác mạnh khỏe sống lâu, các cô cần làm việc tăng gấp 2 – 3 lần… Một lúc sau, các cháu thiếu nhi con em của các đồng chí lãnh đạo đến chúc Tết, Bác đưa các cháu lên nhà sàn bắt nhịp cho các cháu hát rồi chia kẹo, chia quà. Gần trưa, gia đình các đồng chí Trường Chinh, Lê Văn Lương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… đến chúc Tết Bác, không khí lúc này rất vui và quá đầm ấm.

Tất cả quây quần bên Bác như một gia đình lớn có nhiều thế hệ. Bữa cơm trưa mùng một Tết có một đĩa thịt lợn kho tàu, cá kho, trứng rán, dưa chua và một bát canh tôm nấu với rau cải soong. Rau cải soong do tự tay Bác trồng. Đến đâu Bác cũng ở gần suối. Dưới suối Bác thả bè rau cải soong, ở trên đồi Bác trồng rau cải, rau muống. Tôi hỏi đồng chí phụ trách bếp, Tết của Bác sao lại không có bánh chưng.

Đồng chí đó nói đồng bào gửi biếu Bác nhiều thứ, bánh chưng, giò, còn có cả con bò, bà con vùng kháng chiến cũng gửi quà cho Bác nhưng Bác bảo mang cho bộ đội, thiếu nhi… Thức ăn mỗi bữa, Bác bảo chia nhau ăn hết không được lãng phí. Đang ăn, anh Cù Huy Cận đến, một lúc sau bác sĩ Chánh là bác sĩ phục vụ Bác cũng tới. Mọi người cười nói, chuyện trò rôm rả. Sau bữa ăn là tiết mục sinh hoạt văn nghệ, có người lấy soong nồi lên gõ đệm cho người khác hát, anh Huy Cận đọc thơ, có người hát chèo, tôi và chị Thục Chinh rụt rè e ngại. Bác động viên mãi, tôi đọc bài thơ của anh Tố Hữu:

“Em là con gái Bắc Giang, Rét thời mặc rét nước làng em lo…”. “Nhà em con bế con bồng, Em cũng theo chồng đi phá đường quan”… Bác cười, bây giờ không được vận động bà con phá đường mà vận động bà con đắp đường để bộ đội, dân công có đường đi đánh giặc. Bác cháu sinh hoạt văn nghệ vui quá, vui đến tận chiều… Tối hôm đó khi Bác cháu cơm nước xong, Bác bảo hai chị em đi xem phim do Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức. Ở chỗ chiếu phim, hai chị em gặp anh Trường Chinh, anh Hoàng Quốc Việt,… phim hay thích xem, nhưng hai chị sốt ruột muốn về.

Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt cũng đốt đuốc về cùng. Tới nhà, thấy Bác vẫn chăm chú đọc tài liệu. Mấy anh chị em trước cảnh tượng Bác ngồi làm việc áo đại cán khoác hờ trên vai, quên cả cái rét cắt thịt cắt da ở miền núi mà thấy nao lòng. Chúng tôi ăn Tết với Bác hết ngày mùng 3, hằng ngày hai chị em xuống bếp giúp các đồng chí phục vụ làm bữa… Bác bận tiếp khách ban ngày, ban đêm đọc tài liệu, đọc sách.

Sáng mùng 4, chúng tôi chào Bác để trở về cơ quan công tác. Bác cho mỗi chị em một gói cơm nếp lạc và dặn chúng tôi lúc chia tay: “Các cháu đi đâu cũng phải gần gũi dân mới được dân giúp đỡ… Công tác tốt sang năm lại lên ăn Tết với Bác”.

Đỗ Văn Phú
Theo http://www.tinmoi.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Không ai khôn hết được đâu

36
Ảnh Tư liệu

Ông Nguyễn Tiến Sự kể lại:

Trong thời gian ở cùng với gia đình tôi, một lần sau bữa cơm, Bác hỏi:

– Ông Chủ nhiệm Việt Minh của xã Tân Trào bao nhiêu tuổi rồi?

– Thưa Bác, tôi ba mươi tám. Tuy chưa già nhưng đã yếu.

Bác liền bảo:

– Chú còn khoẻ lắm. Nên đi học cho biết chữ, phải học nhiều. Học văn hoá, học kinh nghiệm công tác ở mọi người, mọi lứa tuổi để làm việc tốt hơn. Không ai khôn hết được đâu.

Rồi Bác kể chuyện.

Một hôm đi công tác, giữa đường gặp mưa to. Đường vừa dốc lại trơn nên phải thận trọng bước từng bước một. Bỗng gặp ba em bé cùng trú mưa ở cái lều bên đường. Nhìn tôi đi chậm, một em nói.

– Chà. Cụ già này trời mưa, đường trơn đi không có gậy mà không sợ ngã nhỉ.

Từ bữa ấy về sau hễ đi đường gặp mưa trơn, nhớ lời các cháu kháo nhau tôi đều tìm gậy để chống. Quả nhiên có chiếc gậy đi dễ hơn mà lại không sợ ngã.

Theo Những câu chuyện kể về Bác Hồ, tập 3
NXB Nghệ An năm 2000
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

“Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!”

50Ảnh Tư liệu

Sáng ngày 19-5-1953, nhân kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác Hồ, Ban phụ trách lớp chỉnh huấn cho cán bộ trung cao cấp tại Tân Trào quyết định tổ chức chiếu phim. Đồng chí liên lạc đi nhận phim ở xa, phải vượt qua đèo, suối mãi chiều mới về, gánh theo hai làn phim và cầm theo một bức thư có dòng chữ “phim mới nhận chưa có thuyết minh”.

Sau phần ngâm thơ một cán bộ ở lớp chỉnh huấn cầm micro nói:

– Thưa Bác, ngành điện ảnh vừa nhận được một bộ phim mới đã gủi đến ngay để chiếu phục vụ Bác vì vậy nên chưa có nội dung, chưa có bản thuyết minh. Xin phép được chiếu để Bác và mọi người cùng xem.

Chờ chiếu xong một cuốn, Bác quay lại bảo:

– Đưa micro cho Bác.

Bác cầm micro và giải thích cho mọi người hiểu nội dung phim. Sau đó cứ chiếu hết mỗi cuốn thì dừng lại ít phút để Bác thuyết minh cho. Đó là phim “Hoa bông” của Liên Xô.

Cuối buổi chiếu, chờ mọi người về hết Bác nói với người chiếu phim:

– Hôm nay Bác nghe được tiếng Nga lên thuyết minh giúp. từ nay nếu chưa rõ nội dung phim nói gì thì đừng chiếu… Đầu bếp thì phải biết mình làm món gì chứ!

Bài học về buổi chiếu phim ấy qua lời căn dặn nhẹ nhàng mà sâu sắc của Bác cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với những người hoạt động điện ảnh.

Theo 108 chuyện vui đời thường của Bác Hồ
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Lê Bá Dương kể chuyện về lời dặn cuối cùng của Bác

“Còn đất nước thì nhất định không được chia!”, đó là lời dặn của Bác trong lần chúc thọ cuối cùng của Người.

Đó là đêm 3/9/1969. Trên đường vượt dốc cao điểm 405 để chuẩn bị cho trận đánh mới, chúng tôi nhận được tin đau đớn: Bác Hồ qua đời.

Mệnh lệnh của đơn vị gấp rút trở về hậu cứ chịu tang Bác. Chúng tôi như chết lặng giữa sườn núi. Tôi nhớ lại câu chuyện về người đồng đội Lê Nhật Tụng, người đã may mắn được gặp Bác Hồ lần cuối trong Lễ mừng thọ Người trước lúc Người đi xa.

loi bac dan
Dù Bác đã đi xa nhưng kỷ niệm, những ấn tượng về
Người vẫn mãi được lớp lớp cháu con lưu giữ

Lê Nhật Tụng là Trung đội phó của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 Nghệ An đỏ, thuộc Trung đoàn 27 Xô viết Nghệ Tĩnh (nay là Trung đoàn 27 – Triệu Hải). Trong cùng một trận đánh tại bắc đường số 9 (Quảng Trị), anh đã dùng khẩu B41, lần lượt bắn tiêu diệt 6 xe tăng địch, trở thành dũng sĩ diệt tăng nổi tiếng mặt trận B5.

Với chiến công đặc biệt xuất sắc đó, tháng 5 năm 1969, Lê Nhật Tụng được vinh dự đại diện cho các chiến sĩ Quân giải phóng đường 9 Quảng Trị, tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam ra Hà Nội dự đại hội chiến sĩ thi đua.

Cũng trong dịp này, Lê Nhật Tụng đã có được niềm hạnh phúc tột cùng khi được tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam thăm, chúc thọ Bác Hồ.

Để rồi, ngày trở lại đơn vị, trong hành trang của mình, ngoài chiếc Huy hiệu Bác Hồ do chính người tự tay gắn trên ngực áo của Lê Nhật Tụng, cùng tấm ảnh Lê Nhật Tụng đang cùng các dũng sĩ miền Nam quây quần bên Bác, còn có nguyên những câu chuyện cảm động về Bác Hồ.

Những câu chuyện đó được Lê Nhật Tụng kể lại cho chúng tôi đã trở thành động lực giúp những người lính Trung đoàn 27 vượt qua những cam go, thử thách, sẵn sàng hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Hồi đó, ai cũng khao khát được một lần gặp Người nên luôn cố gắng lập công.

Trong đêm mưa đầu tháng 9 năm 1969, giữa mặt trận khét lẹt đạn bom, tin Bác mất khiến ai cũng trào nước mắt tiếc nuối. Bất chợt trong nghẹn lòng tiếc thương, câu chuyện kể về lần thăm, chúc thọ Bác Hồ của Lê Nhật Tụng lại trở về…

Chuyện rằng, hôm đó, mặc dù tuổi Bác đã cao, sức khỏe Bác không được tốt như trước, nhưng Bác vẫn dành cả một khoảng thời gian khá dài để tiếp và thăm hỏi nam, nữ dũng sĩ miền Nam. Trên bàn tiếp khách được bày sẵn những đĩa kẹo, bánh, trái cây.

Mặc dù Bác liên tục nhắc mọi người ăn kẹo, uống nước, nhưng trong một không khí ấm áp tình cha con, cả Đoàn như quên hẳn các đĩa kẹo, bánh, nước trà trên bàn.

Cứ vậy, sau những lời thăm hỏi, động viên và tự tay mình gắn Huy hiệu cho từng người, Bác chia tay với Đoàn. Nhưng ra đến cửa, Bác bỗng dừng bước, ngoảnh về phía dãy bàn còn nguyên các đĩa kẹo bánh và bình nước trà và nhắc:

– Kẹo bánh của nhân dân cho đó, các cháu ăn không hết thì chia nhau mang về. Rồi bất ngờ Bác nhấn mạnh từng lời: Còn đất nước thì nhất định không được chia!

Theo tinmoi.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, pháp luật, kỷ luật trong Quân đội

6TTHCM ve van hoa ky luat trong quan doi

Tư tưởng về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật trong Quân đội là một nội dung trong hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh. “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(1). Do đó, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật của Quân đội có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hoá pháp luật của quân nhân.

Văn hoá pháp luật trong Quân đội là một bộ phận, một biểu hiện của văn hoá nói chung, là tổng hoà những tri thức, tình cảm, hành vi ứng xử của quân nhân đối với pháp luật, với nền pháp chế và hệ thống quan hệ pháp luật. Văn hoá pháp luật của quân nhân biểu hiện tập trung ở sự hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí và lòng tin vào pháp luật Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội, tự giác hành động theo pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội. Bởi vậy, muốn có văn hoá pháp luật, kỷ luật tự giác nghiêm minh, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất là phải học tập chính cương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội. Phải thực hiện phương châm: “Mỗi mệnh lệnh đưa xuống, cấp trên đã thảo luận cân nhắc kỹ càng nên cấp dưới phải phục tùng và kiên quyết chấp hành…”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật cho quân nhân. Nghiên cứu tư tưởng của Người, có thể thấy:

Thứ nhất, chú trọng giáo dục tri thức pháp luật, kỷ luật, xây dựng ý thức tự giác và bản lĩnh chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân được hình thành phát triển trên cơ sở có nhận thức, hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí, lòng tin tưởng tuyệt đối vào pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội và hành vi tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Trong giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹ, Bác dạy phải chăm lo giáo dục những tri thức về pháp luật, điều lệnh, điều lệnh của Quân đội, chỉ rõ những điều nên làm và không nên làm: “Đối với mỗi công tác quan trọng, cần phải làm cho mọi người hiểu cái gì nên làm, cái gì nên tránh, thế nào là đúng, thế nào là sai kỷ luật của Đảng. Như vậy kỷ luật của Đảng sẽ được bảo đảm, công tác của Đảng sẽ được thuận lợi, nhiệm vụ của Đảng sẽ chắc chắn hoàn thành”(3). Cùng với việc giáo dục tri thức pháp luật, cần khơi dậy ý thức tự giác chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh của Quân đội. Phải làm cho bộ đội có nhận thức đúng đắn, sâu sắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của đơn vị, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, yêu cầu khách quan của việc chấp hành pháp luật, kỷ luật, trên cơ sở đó có thái độ, động cơ, ý chí, trách nhiệm, tinh thần đoàn kết và ý thức tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật.

Hai là, phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị trong bồi dưỡng văn hoá pháp luật.

Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là người chịu trách nhiệm về mọi mặt của đơn vị. Nhận thức sâu sắc vị trí trách nhiệm của mình, cán bộ quản lý, chỉ huy các cấp thường xuyên nêu cao trách nhiệm và năng động, sáng tạo đổi mới hình thức, biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, nâng cao chất lượng giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật, đồng thời tổ chức, quản lý đơn vị chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Mặt khác, bản thân mỗi cán bộ quản lý, chỉ huy cần tự tu dưỡng, tự rèn luyện, “phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sỹ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”(4). Hồ Chí Minh cho rằng, muốn có kỷ luật, điều quan trọng là cán bộ phải quyết tâm cao, tự giác: “Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng”(5). Thực tế cho thấy, ở đâu, lúc nào cán bộ quản lý, chỉ huy thực sự là tấm gương sáng về chấp hành pháp luật, kỷ luật, thì ở đó chiến sỹ sẽ có ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật tốt và ngược lại, ở đâu cán bộ quản lý, chỉ huy thiếu gương mẫu, tự do tuỳ tiện, thì ở đó sẽ có nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Ba là, duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật, rèn luyện tác phong chính quy, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Theo Hồ Chí Minh, việc bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật phải gắn với việc duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật và quản lý chặt chẽ mọi chế độ, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, “khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức”(6). Bác nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ phải hình thành thói quen có kỷ luật hằng ngày. Việc rèn luyện tác phong giữ nghiêm kỷ luật phải được thông qua việc hướng dẫn cụ thể, tỷ mỉ của người cán bộ; càng tỷ mỷ, cụ thể bao nhiêu thì càng bớt sai lầm, vi phạm pháp luật, kỷ luật bấy nhiêu. Người quan niệm: “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết”(7). Vì vậy, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân không chỉ dựa trên công tác giáo dục cơ bản, mà còn phải dựa vào sự hướng dẫn, nhắc nhở thường xuyên, sâu sát của cán bộ các cấp, làm cho việc chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật trở thành thói quen. Người chỉ rõ: “Các cán bộ từ chỉ huy trở xuống phải cố gắng hơn nữa trong công tác, trong học tập, từ bước đi, từ cái chào đều phải chính quy hoá, cán bộ phải tiến trước và làm gương mẫu cho các chiến sỹ”(8).

Trong việc giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật, Bác chỉ rõ: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng chưa bị xử lý kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”(9). Người yêu cầu kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của người khác. Bác lưu tâm nhiều đến khen thưởng và xử phạt để động viên cán bộ, chiến sỹ chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Bác nói: “Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu…”(10) và “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật”(11).

Bốn là, thống nhất bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật với việc nâng cao giáo dục đạo đức.

Pháp luật và đạo đức điều chỉnh hành vi con người, hướng con người tới chân – thiện – mỹ. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở thực hiện pháp luật. Đạo đức có tác dụng thúc đẩy, định hướng hành vi của quân nhân phù hợp yêu cầu của pháp luật, kỷ luật. Đạo đức cao nhất, theo Hồ Chí Minh là “Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(12). Khi quân nhân biết tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức của xã hội thì đó sẽ là điều kiện tốt để họ chấp hành pháp luật, tỏ rõ tinh thần bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý, giữ nghiêm kỷ luật. Đối với cán bộ Quân đội ta, Người yêu cầu phải luôn luôn là tấm gương sáng trong bồi dưỡng cũng như thực hành đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”(13).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật đối với cán bộ, chiến sỹ mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để quân nhân phấn đấu bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2002, tr.560. (2) Sđd, tr.318. (3) Sđd, tập 7, tr.336. (4) Sđd, tập 8, tr.308. (5) Sđd, tập 5, tr.250. (6) Sđd, tập 12, tr.146. (7) Hồ Chí Minh, về xây dựng Đảng, NXBCTQG, H.1996, tr.426. (8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXBCTQG, H.2002, tr.426. (9) Hồ Chủ tịch và pháp chế, Nxb TP. Hồ Chí Minh,1998, tr.148. (10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.392. (11) Sđd, tập 7, tr.466. (12) Sđd, tập 9, tr.285. (13) Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang nhân dân,

Theo NXBQĐND, H.1975, tr.157-158.
Thượng tá. Vũ Văn Thường
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện vui về những lần Bác đi thăm hữu nghị các nước Bạn

Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa Dân chủ Đức, giữa năm 1957Bác chụp trong chuyến thăm Cộng hòa dân chủ Đức, giữa năm 1957

Cá không xương

Trong cuộc hội đàm giữa Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ ta và Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Cộng hòa Đức ngày 26/7/1957, phía Bạn đã thông báo với Bác Hồ thành quả mọi mặt trong mấy năm qua. Khi Bạn báo cáo năng suất cao của việc nuôi một loại cá chép lai giống, Bác hỏi:

– Các đồng chí có loại cá không có xương không?

Thủ tướng Ốt-tô Gờ-rô-tơ-von rất ngạc nhiên:

– Thưa không! Ở Việt Nam có loại cá không xương sao?

Bác Hồ nói nghiêm nghị:

– Vâng, có đấy!

Thủ tướng đề nghị:

– Thưa Chủ tịch, có thể xuất khẩu loại cá ấy cho chúng tôi được không?

Bác nghiêm trang trả lời:

– Chúng tôi sẵn sàng. Loại cá này ở Nghệ An có rất nhiều.

Thủ tướng nói tiếp:

– Xin các đồng chí chuyển cho chúng tôi nhé!

Các thành viên Đoàn Việt Nam đều hiểu Bác nói loại cá gì. Bác kể câu chuyện “con cá gỗ”. Mọi người cười thoải mái.

Tình yêu xuất phát từ đâu?

Bác Hồ đã đến thăm Viện Y học nổi tiếng của Cộng hòa Dân chủ Đức tại thành phố cổ Draxden. Nổi bật trong Viện là phòng trưng bày cơ thể “người thủy tinh”. Đó là một mô hình người to bằng người thật, làm bằng chất dẻo bọc nhựa trong suốt nhìn thấy tất cả các bộ phận của con người như: Xương, gân, mạch máu, tim, phổi, lục phủ ngũ tạng… Sau khi Giáo sư Viện trưởng giới thiệu xong về người thủy tinh, đã cảm ơn Bác Hồ và hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Người có câu hỏi gì không ạ!

Bác hỏi:

– Giáo sư cho biết, tình yêu xuất phát từ đâu?

Giáo sư và mọi người đều ngạc nhiên trước câu hỏi của Bác. Sau vài phút suy nghĩ, Giáo sư giải thích khá lâu về hệ thống tình cảm xuất phát từ trái tim.

Bác cười, chỉ vào bộ lòng của “người thủy tinh” và nói:

– Ở Việt Nam, tình yêu lại xuất phát từ “toàn bộ lục phủ, ngũ tạng”.

Bác nói bằng tiếng Pháp, mọi người cười thoải mái.

Bác Hồ giới thiệu

Ngày 29-7-1957, Bác Hồ đã tới Mô-rít-sơ-buốc thăm các cán bộ, sinh viên và học sinh Việt Nam đang học ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Đó là một ngày rất đáng ghi nhớ của chúng tôi (những công nhân Việt Nam ở nước Bạn) và của các Bạn Đức.

Ngay từ phút đầu, Bác bước đến trước micrô và tươi cười nói chuyện với các cháu. Trước hết, Bác giới thiệu những người cùng đi, từ cụ Ốt-tô Búc-vít-sơ, một nhà cách mạng Đức lão thành, bạn thân thiết của Bác đến các vị trong Đoàn đại biểu Đảng và Nhà Nước ta. Khi giới thiệu viên Thiếu tướng và Đại tá người Đức, Bác nói:

– Hai chú mặc quân phục rất đẹp kia là sĩ quan cấp cao của quân đội nhân dân Đức đấy. Các chú ấy có nhiệm vụ bảo vệ Bác và bảo vệ các cháu nữa!

Chúng tôi vỗ tay sung sướng, đến lượt chú Hum-men-ten-béc, Bác giới thiệu:

– Còn chú có khổ người to lớn kia thì làm lễ tân. Các cháu có hiểu lễ tân là gì không? Ví dụ, chú ấy có quyền nhắc Bác phải tuân theo giờ ăn, giờ ngủ.

– Nghe Bác nói, chúng tôi cảm phục chú ấy lắm, vì chú ấy có quyền to quá, đối với cả Bác Hồ của chúng tôi!

Bác Hồ với các cháu nhỏ thị trấn Bác-tơ

Chị Kê-dê-la Kiếc Bao, giáo viên Trường Thể dục thể thao thanh niên Rô-tốc (Đức), vốn là một thiếu nhi được đón Bác Hồ ở sân bay Rô-tốc khi Người đến thăm thành phố này ngày 27/7/1957. Nhớ lại những giây phút đẹp đẽ ấy chị kể: “Thay mặt các đội viên thị trấn Bác-tơ, tôi kính chào vị Chủ tịch nước, dâng hoa và sung sướng quàng lên vai Người chiếc khăn đội viên màu xanh của tôi. Bác Hồ âu yếm hôn tôi, hôn các đội viên bạn tôi và lần lượt bắt tay những người ra đón”.

Từ phút ấy cho đến khi Bác cùng Đoàn đại biểu lên xe về nhà khách chúng tôi vẫn được đi bên cạnh Bác Hồ, được Người trìu mến hỏi han. Chúng tôi thưa với Bác về tên tuổi, lớp học, cha mẹ… Tôi thấy Bác rất vui. Bác đột nhiên hỏi chúng tôi:

– Các cháu có biết ai là người giàu nhất nước Cộng hòa Dân chủ Đức không?

Chúng tôi suy nghĩ nhưng không thể nào tìm ra câu trả lời để thưa với Bác. Bác cười: “Để Bác nói nhé. Mãi đến gần đây, Bác cũng không biết đâu. Hóa ra chính Bác là Người giàu nhất nước Cộng hòa dân chủ Đức đấy, các cháu ạ! Các cháu xem, hầu như cửa hàng nào cũng có chữ Ho, tên Bác đấy thôi!” (HO chữ viết tắt “Handels organisati-on” Chỉ các cửa hàng quốc doanh ở Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây).

Không riêng chúng tôi mà tất cả các bác, các cô, các chú có mặt hôm đó đều cười vui vẻ.

Ở Việt Nam gia đình cũng có máy tự động

HCM noi chuyenj voi nhan dan LXBác Hồ nói chuyện với người dân Liên Xô

Một lần, tại Liên Xô, Bác đã được mời đến thăm Viện Tự động hóa. Sau khi xem các phòng nghiên cứu với nhiều máy móc tinh vi, ông Giáo sư Viện trưởng tự hào báo cáo một thành tích mới thí nghiệm xong về máy điều khiển từ xa. Chiếc máy đó được đặt trong một phòng riêng. Cách phòng này chừng 10 mét, ở ngoài trời có chiếc máy xúc, cần gầu đang gục xuống. Giáo sư Viện trưởng tiến đến bàn điều khiển, ấn nút, Cần gầu ngóc lên, quay đi quay lại, gục lên gục xuống. Thao tác xong, Giáo sư Viện trưởng tỏ vẻ rất tự hào. Bác Hồ hỏi ông:

– Các đồng chí đã trang bị máy này cho các nông trường chưa?

– Thưa Chủ tịch, đấy mới chỉ là một kết quả thí nghiệm. Dự kiến trong vài năm tới có thể sản xuất vài nghìn chiếc, cung cấp cho các ngành công nghiệp nặng.

Bác nói nghiêm trang:

– Ở Việt Nam nhà nào cũng có!

Nghe Bác nói, người phiên dịch là một người Nga, chưa dám dịch vì sợ nghe chưa đúng, hỏi lại:

– Thưa Bác, có phải Bác nói nhà nào cũng có không ạ?

– Đúng.

Nghe dịch xong, mọi người cứ ngơ ngác. Giáo sư Viện trưởng rất ngạc nhiên:

– Thưa Chủ tịch, ở Việt Nam đã có máy tự động nhiều đến thế kia ạ?

– Vâng. Nhà nào cũng có, nhưng… phụ nữ điều khiển nam giới.

Người phiên dịch không nhịn được cười. Nghe anh dịch xong, mọi người cười ồ.

Trên đường về người phiên dịch nói với một cán bộ Việt Nam:

– Tôi thật bái phục tài hài hước của Bác Hồ.

Dùng từ ngữ chính xác

Năm 1959, Bác có chuyến công tác đặc biệt ở Liên Xô. Khi đến Thủ đô Mát-xcơ-va, Bác đến thăm Đại sứ quán mới được xây dựng lại. Đồng chí Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh giới thiệu với Bác khung cảnh ngôi nhà, tiếp đó đi vào cửa chính:

– Thưa Bác, bên phải là nơi khách gửi quần áo…

Bác nói rất tự nhiên:

– Các vị khách ngoại giao ở đây cũng gửi cả quần à?

Mọi người cười vui vẻ.

Trong cuộc gặp mặt chung toàn bộ cán bộ và nhân viên sứ quán, Bác hỏi:

– Ở đây các cháu học những gì?

Đồng chí phụ trách học tập đứng dậy:

– Thưa Bác, bọn cháu mở lớp cho anh chị em học tiếng Liên Xô.

– Các chú giỏi thật, học mấy chục thứ tiếng của các dân tộc Liên Xô…

Bác Hồ làm vua hay sao?

Một lần sang thăm Liên Xô, ở trong Điện Kremlin, một phóng viên Liên Xô đến xin chụp ảnh Bác và đề nghị Bác ngồi ở ghế tựa bọc gấm vàng rất đẹp, hai chỗ tì hai tay giống như hai đầu rồng rất tinh xảo. Bác tươi cười nói:

– Tôi ngồi cái ghế thường thôi, không ngồi ghế này vì ảnh đưa về Việt Nam chắc sẽ có người hỏi: Bác Hồ “làm vua” hay sao mà lại ngồi ghế này?

Người phóng viên hiểu ngay ý Bác, nghe theo lời Bác, đổi ngay một ghế bình thường để Bác ngồi chụp ảnh.

Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy

Tháng 2 năm 1958, Bác Hồ sang thăm hữu nghị chính thức Ấn Độ. Trong chuyến đi này Người đã nói chuyện với nhân dân Thủ đô Niu Đê-li, trong cuộc mít tinh tại Thành Đỏ. Theo phong tục Ấn Độ, đại biểu các tầng lớp nhân dân Ấn Độ đều lần lượt choàng những dải hoa tươi lên cổ các vị khách quý để tỏ lòng kính trọng và hiếu khách. Nhiều vị khách nước ngoài trước phong tục này thường nhận hoa rồi đưa cho cán bộ lễ tân đứng cạnh hoặc đặt lên bàn, nhưng Bác Hồ đã nhận tất cả để cho từng người choàng những dải hoa lên cổ mình và không gỡ ra. Điều ngạc nhiên hơn là lúc Bác nhận tấm thảm len lớn do bà Thị  trưởng của Thủ đô Niu Đê-li thay mặt nhân dân Thủ đô trao tặng. Mọi người tưởng rằng như các vị khách khác, Bác chỉ nhận tượng trưng, nhưng Bác nói:

– “Quà của tôi, tôi phải tự nhận lấy!”. Bằng một động tác khá nhanh nhẹn, Bác vác tấm thảm đó lên vai, trước sự ngạc nhiên của hàng vạn người tham gia. Bác nói:

– Tôi vác cả tình cảm của nhân dân Ấn Độ trên vai!

Những tiếng hoan hô nổi lên như sấm dậy:

– Hồ Chí Minh, Zin-ba-đa! (Hồ Chí Minh muôn năm!)

– Việt Nam, Zin-ba-đa! (Việt Nam muôn năm!)

– Hin-đi – Việt Nam, Ba-hai ba-hai! (Ấn Độ Việt Nam là anh em!)

Tôi tặng ngài một cái hôn

bh di indonexia
Bác Hồ và Tổng thống Xu-các-nô với các cháu 
thiếu nhi In-đô-nê-xi-a, ngày 2/3/1959

             Năm 1959, Bác đi thăm In-đô-nê-xi-a. Ngày 2 tháng 3 năm 1959, Bác đến Băng Dung nơi diễn ra Hội nghị Á Phi lần thứ nhất. Nhân dân Băng Dung đón Bác rất đông. Sau khi ông Thị trưởng đọc diễn văn chào mừng, Bác đứng trước mic-cờ-rô, nói chậm dãi bằng tiếng In-đô-nê-xi-a:

– “Các bạn thân mến…”.

Vừa dứt lời, hàng nghìn dân nhân, đặc biệt là các cháu học sinh, thanh niên cầm cờ hai nước In-đô-nê-xi-a và Việt Nam nhảy lên hô vang:

–  “Hi-dup Pa-man Hồ” (Bác Hồ muôn năm!)

Mọi người nghe từng câu, từng lời Bác nói. Đến khi Bác nói:

– “Se-le-mat ting-gal!” (Chào tạm biệt!)

Mọi người đều phất cờ và hô lớn:

– In-đô-nê-xi-a – Việt Nam, Hi-dup Pa-man Hồ!

Khi Bác ra xe, mọi người ùa tới gần để nhìn Bác, nhìn bộ quần áo kaki giản dị, đôi dép cao su của Bác… với tấm lòng trìu mến, như muốn Bác hãy chậm bước. Bác tươi cười vẫy tay thân ái chào mọi người.

Khi đến Jo-ja-ka-ta, miền Trung Ja-va, Bác vừa xuống xe, đã có hàng trăm cháu thiếu niên, học sinh vừa đàn Ang-khung (một nhạc cụ dân tộc làm bằng ống trúc), vừa ca múa chào đón Bác. Bác đi vào giữa, nhảy múa cùng các cháu.

Không khi trang nghiêm, mà đầm ấm, vui tươi giữa chủ và khách.

Bác được mời đi xem Bo-ro-bu-dua, một công trình kiến trúc cổ kính bằng đá được đặt trong một tháp hình chuông cũng bằng đá, có những khe hở theo chiều cao, Người có thể đưa tay vào sờ tượng Phật. Theo tục lệ, ai đưa tay chạm vào Phật là gặp may mắn, hạnh phúc. Theo hướng dẫn viên đã có nhiều vị Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng Chính phủ nước ngoài đến chiêm ngưỡng đền và thử dịp may, nhưng cũng rất ít người sờ được tượng Phật. Bác Hồ sờ vào tượng Phật chẳng mấy khó khăn. Người hướng dẫn viên phấn chấn vỗ tay và hoan hô:

– “Pa-man Hồ!”.

Trong số các quan chức Jo-ja-ka-ta đón Bác có cả ông Hoàng Jo-ja-ka-ta. Tối hôm đó sau buổi chiêu đãi, Bác bảo báo ngay cho lễ tân của Bạn là sáng mai trước khi trở về Gia-các-ta, Bác đến thăm ông Hoàng.

Khi đoàn xe dừng trước cổng Phủ, Hoàng thân cùng các quan chức thành phố ra đón. Sân phủ đầy ắp sinh viên, học sinh tung cờ hai nước hô vang:

– “Bác Hồ muôn năm!”

Trong không khí tưng bừng ấy, Bác đã ôm hôn ông Hoàng Jo-ja-ka-ta và nói bằng tiếng Anh:

– Tôi là người cộng sản, ngài là một vị Hoàng thân. Tôi tặng ngài một cái hôn. Đó là tình hữu nghị, đó là chung sống hòa bình.

Ông Hoàng Jo-ja-ka-ta cảm động, ôm hôn Bác thắm thiết. Người sĩ quan In-đô-nê-xi-a bảo vệ Bác, dịch ra tiếng địa phương. Cả đám đông lại hô vang:

– Hin-đup Pa-man Hồ!

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Hiệp định Paris – Sự khẳng định quyền tự quyết dân tộc của người Việt Nam

QĐND – Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình là một văn bản mang tính pháp lý quốc tế, chỉ được thực hiện khi kết cục thắng – thua trên chiến trường của các bên tham chiến đã được phân định một cách rõ ràng [1]. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (5-1954) dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7-1954) và Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12-1972) dẫn đến việc ký kết Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) là những minh chứng hùng hồn, mãi trường tồn trong lịch sử quân sự Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, vấn đề lợi ích quốc gia, chủ quyền lãnh thổ và thậm chí cả cách thức tổ chức thực hiện của các hiệp định trên có những điểm khác biệt nhau. Điều này có liên quan trực tiếp đến vận mệnh của đất nước ta ở thời kỳ “hậu” của mỗi hiệp định cũng hoàn toàn khác nhau. Nguyên nhân của tình trạng khác biệt đó có nhiều cách luận giải, song vấn đề cốt lõi trực tiếp nhất chính là sức mạnh nội lực và vị thế của quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế-yếu tố quyết định đến vấn đề tự quyết dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Giành được chính quyền không lâu, nhân dân Việt Nam lại phải tiến hành kháng chiến chống quân xâm lược Pháp lần thứ hai. Với sức mạnh của toàn dân tộc vào trận, đồng thời được sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước bè bạn, nhất là về vũ khí, phương tiện quân sự, bằng tư duy độc lập, sáng tạo trên nền tảng “cách đánh giặc” của tổ tiên, quân và dân ta đã tìm ra những cách đánh phù hợp và hiệu quả, từng bước phát triển quy mô tác chiến từ cấp trung đoàn lên đại đoàn và nhiều đại đoàn, chuyển thế cuộc kháng chiến từ cầm cự sang phản công và tổng phản công; đẩy quân Pháp vào thế bị động đối phó và cuối cùng làm nên một trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; buộc chúng phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Toàn cảnh Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu.

Tuy nhiên, do quan hệ quốc tế phức tạp lúc đó, nên những quy định trong Tuyên bố chung của Hội nghị quốc tế này về giới tuyến quân sự, khu phi quân sự… đã “vô tình” tạo ra những “kẽ hở” nhạy cảm để ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, Mỹ đã nhảy vào thay chân Pháp, xâm chiếm miền Nam. Vậy là, chúng ta chưa thực hiện được quyền tự quyết vận mệnh của dân tộc mình. Lường định trước diễn biến phức tạp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chúng ta phải chuẩn bị đánh một trận nữa với một đế quốc lớn hơn.

Vừa trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm, kinh tế, xã hội, quốc phòng còn chồng chất khó khăn, lại bước ngay vào cuộc chiến đấu với đế quốc Mỹ; do vậy, bên cạnh việc động viên nỗ lực cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”, chúng ta tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, thu hút sự ủng hộ, giúp đỡ của chính phủ và nhân dân các nước anh em. Do vậy, từ năm 1955 đến 1975, các nước XHCN anh em mà Liên Xô và Trung Quốc là trụ cột đã viện trợ cho nhân dân ta khối lượng lớn vật chất thiết yếu trị giá 7.076 triệu rúp [2]. Mặt khác, nhiều cán bộ chỉ huy các cấp và cán bộ khoa học kỹ thuật của quân đội ta được các nước bạn tiếp nhận sang đào tạo, bồi dưỡng để phục vụ cho kháng chiến. Một số nước còn cử những đoàn chuyên gia kỹ thuật quân sự sang giúp huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ cho bộ đội binh chủng kỹ thuật của quân đội ta… Cuộc kháng chiến của ta còn được nhân loại tiến bộ và cả nhân dân Mỹ lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ. Điều quan trọng nhất là, những vũ khí, trang bị quân sự mà các nước viện trợ được quân và dân ta sử dụng hết sức hiệu quả; những thắng lợi Ấp Bắc, Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài (1963-1965), hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân (1968), Tiến công chiến lược 1972 là những minh chứng hùng hồn. Đặc biệt, với đòn Mậu Thân 1968, chúng ta đã buộc giới cầm quyền Nhà Trắng phải đến Hội nghị Pa-ri để bàn bạc về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trải qua cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt suốt 4 năm 9 tháng với 202 phiên họp công khai và 24 lần tiếp xúc riêng nằm trong bối cảnh quan hệ quốc tế có lúc rất nhạy cảm, đến đòn quyết định năm Nhâm Tý (1972), chúng ta đã buộc Mỹ chấp thuận văn bản Hiệp định Pa-ri do phía ta soạn thảo và dự định ngày ký.

Tuy nhiên, để cố cứu vớt thể diện, Nhà Trắng đã quyết định mở cuộc tập kích không quân chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng điểm khác của miền Bắc – “Tung con át chủ bài cuối cùng”- với hy vọng sẽ “làm mềm xương sống Hà Nội”, buộc ta phải ký một hiệp định theo sự áp đặt của họ.

Sau kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân ta, hạ gục 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc B-52, gây chấn động thế giới, rung chuyển Nhà Trắng và nước Mỹ, sáng 30-12-1972, Ních-xơn phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc, đề nghị Chính phủ ta trở lại bàn đàm phán Pa-ri. Ngày 27-1-1973, Mỹ chấp nhận ký kết Hiệp định Pa-ri theo văn bản ta dự thảo. Với 9 chương, 23 điều và 4 Nghị định thư kèm theo, nội dung chủ yếu của Hiệp định Pa-ri khẳng định: Mỹ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; các bên thực hiện ngừng bắn, chấm dứt chiến sự không thời hạn; Mỹ chấm dứt mọi hoạt động chống Việt Nam dân chủ cộng hòa; … thừa nhận sự hiện diện hợp pháp của Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Nam, sự tồn tại và địa vị hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam… Tiếp đó, ngày 2-3-1973, đại diện 12 chính phủ, gồm: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Pháp, Việt Nam cộng hòa và 4 nước trong Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế đã họp tại Pa-ri để ra Định ước ghi nhận và bảo đảm Hiệp định Pa-ri và các Nghị định thư về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được thi hành một cách nghiêm chỉnh và triệt để.

Phải khẳng định rằng, từ xưa đến nay, chưa bao giờ việc ký kết một văn kiện về quyền dân tộc cơ bản của nhân dân một nước lại được các dân tộc và nhân dân thế giới theo dõi chăm chú, chứng giám trang trọng như Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là minh chứng khẳng định vị thế, uy tín và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Hiệp định Pa-ri được ký kết, quân và dân ta đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chiến lược “Đánh cho Mỹ cút”, tiến lên “Đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân Ất Mão (1975). Đây thực sự là cột mốc vàng đánh dấu quyền tự quyết dân tộc của người Việt Nam được thực hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn.

————–

Đại tá, TS NGUYỄN HUY THỤC
qdnd.vn

[1] Chỉ với trường hợp chiến tranh xâm lược và chống xâm lược.
[2] Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị – Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) – Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1995, tr. 317.

Có những giá trị của quá khứ lại đang ở phía trước

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND-40 năm đã trôi qua kể từ 12 ngày đêm khói lửa chiến đấu với cuộc tấn công điên cuồng của không quân Mỹ vào thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng đang bị phong tỏa bởi thủy lôi. Nhằm hủy diệt không phải chỉ là những gì dưới mặt đất, bằng bom đạn, mà quan trọng hơn là hủy diệt được ý chí chiến đấu và quyết thắng của một dân tộc, buộc đối phương phải chấp nhận những điều kiện như kẻ bại trận trong một Hiệp định Pa-ri đã được hai bên ký tắt.

Đế quốc Mỹ muốn thoát ra khỏi cuộc Chiến tranh Việt Nam trong danh dự và với tư thế của kẻ thắng trận. Cuộc giội bom này là cơ hội để họ thực hiện lời đe dọa “đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá” như những kẻ hiếu chiến và hiếu thắng đã từng tuyên bố ngay từ những ngày đầu tiến hành cuộc Chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc nước ta, sau khi đã mạo dựng “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (8-1964) để làm cái cớ phát động cuộc chiến. Và với việc huy động những khí tài chiến tranh thuộc loại hiện đại hàng đầu nằm trong lực lượng chiến lược của quân đội Mỹ và với một quy mô có thể nói là lớn nhất sau cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai. Tối ngày 18-12-1972, Ních-xơn bất ngờ khởi động Chiến dịch mang mật danh quân sự là Lai-nơ-bếch-cơ 2 (Linebacker II), còn với mọi người lương thiện lấy định vị thời gian thì gọi đó là cuộc giội bom vào Lễ Giáng sinh 1972 để thấy rõ hơn cái dã tâm của những kẻ chủ trương. Người đứng đầu Nhà Trắng là Tổng thống Ních-xơn khi đó hoàn toàn tin vào chiến thắng cuối cùng thuộc về mình vì vừa mới trúng cử thêm một nhiệm kỳ nữa.

Nhưng tất cả những gì đã diễn ra trong hai tuần cuối cùng của năm 1972 ấy đã làm tổn thất không chỉ là số lượng khí tài mà là uy thế quân sự, đặc biệt là của lực lượng không quân chiến lược Mỹ trước con mắt của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Hà Nội, Hải Phòng và hậu phương miền Bắc vẫn trụ vững sau trận đánh, khí thế quân dân ta vẫn kiên cường và lạc quan hướng tới chặng đường cuối cùng để thực hiện cái nguyên lý của Bác Hồ đã để lại như một cẩm nang cho chiến thắng: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã hoàn thành trọn vẹn chỉ hơn hai năm sau đó (4-1975).

Bác Hồ đến thăm Quân chủng PK-KQ (ngày 19-7-1965). Ảnh: XUÂN MAI.

40 năm đã trôi qua, những người trực tiếp tham chiến của cả hai bên đều đã tổng kết trận đánh. Với Mỹ là chiến dịch tập kích chiến lược bằng B-52, còn với ta là cuộc phòng thủ kiên cường nhưng lại mang tên gọi của một trận công kiên diễn ra 18 năm trước đó: “Điện Biên Phủ” nhưng lại ở “trên không” và ở ngay giữa lòng Thủ đô của đất nước, đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ về một trận quyết chiến chiến lược sẽ diễn ra trên bầu trời Hà Nội, cũng như Mỹ sẽ sử dụng B-52.

40 năm đã trôi qua, nhiều vị tướng lĩnh trụ cột và những chiến sĩ kỳ cựu tham gia chỉ huy và trực tiếp tham dự trận chiến ấy không còn nữa, những người trẻ đều đã bước vào tuổi lão niên. Nhiều hiện vật đã được đưa vào bảo tàng, nhiều pho sử tổng kết chiến tranh đã được ghi lại. Bên cạnh những con số thống kê như những biểu tượng chiến thắng, như số lượng những chiếc máy bay của địch, đặc biệt là những “pháo đài bay” B-52, loại máy bay mà cho đến nay chưa từng bị bất cứ đối phương nào trên thế giới bắn hạ lại bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội và miền Bắc trong 12 ngày đêm 40 năm trước, cho đến số lượng các phi công Mỹ bị bắt sống và đưa vào giam ở “Hin-tơn Hà Nội”. Còn có cả các tượng đài, bia ký ghi lại những trận đánh hủy diệt cuộc sống của người dân, những con số bộ đội ta hy sinh trong trận chiến đấu đúng với tinh thần truyền thống của Thủ đô từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”…

Nhưng còn những pho sử chỉ là ký ức của những người chứng kiến, những người dân hay người lính có mặt trong những ngày diễn ra trận “Điện Biên Phủ trên không” ấy thì biết bao mà kể. Chỉ lật mấy trang báo của những ngày hào hùng ấy đã thấy biết bao nhiêu sử liệu không kém chất hào hùng: Ngay trong đêm đầu tiên máy bay Mỹ ào vào bắn phá, đêm 18-12-1972, nhà thơ Huy Cận đã làm ngay bài thơ mang tên “Sẵn sàng” rồi mang đến Báo Nhân Dân để sớm 20-12 kịp xuất hiện trên trang báo giữa mùi thuốc súng, khói bom trong trận đánh. Rồi bài xã luận của số báo đó mang tựa đề: “Hà Nội, Thủ đô của phẩm giá con người” có nhắc nhiều chi tiết mang tính thời sự, như câu chuyện một nhân viên phục vụ trong khách sạn Thống Nhất (vốn là Métropole Hà Nội) khi được hỏi “Bom B-52 ném xuống Hà Nội thì ra sao?”. Và câu trả lời khiến nhà báo nước ngoài thán phục và chép lại: “Nhà cửa có thể sập nhưng có một thứ không sập được, đó là ý chí của con người”. Một nhà báo Pháp mô tả về Hà Nội trong những ngày chiến tranh khốc liệt ấy vẫn là “một thành phố luôn sôi động và hài hòa, tài giỏi và bình thản”. Còn Neo Sin-han (Neil Sheenhan) nhà văn Mỹ trong bài tựa cho cuốn sách viết về chiến tranh của không quân Mỹ ở Đông Dương của Đại học Coóc-neo (Corneil) đã đánh giá: “Thắng lợi của người Việt Nam là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ trước máy móc”…

Trên trang báo số ra ngày 29-12-1972, tức là chỉ vài ngày sau khi Mỹ đã rải thảm xuống Khâm Thiên và Bệnh viện Bạch Mai làm hàng trăm dân thường thiệt mạng đã xuất hiện mẩu phóng sự của nhà văn Nguyễn Tuân “Bên ụ súng Hà Nội một đám cưới pháo thủ” thuật lại lễ kết hôn của hai công nhân Nhà máy cơ khí Hà Nội, chú rể Vũ Đình Hán và cô dâu Lưu Thị Hảo diễn ra trên một không gian giữa 7 ụ súng phòng không tầm cao vừa diễn ra trước đó một ngày (28-12).

Rồi trên trang báo ra trong ngày cuối cùng của năm, 31-12-1972, khi Hà Nội vừa im tiếng súng, Mỹ đã chấm dứt bắn phá và chấp nhận bước vào cuộc họp cuối cùng để ký Hiệp định Pa-ri, lại thấy nhà văn Bùi Hiển xuất hiện với phóng sự ngắn “Khâm Thiên, tội ác và trừng phạt” và cả ông thầy khảo cổ của tôi, Giáo sư Trần Quốc Vượng với bài ký “Tình người Hà Nội ngát hoa lan”.

Cũng trên những trang báo của những ngày chiến tranh khốc liệt ấy, người ta còn đọc được những mẩu thông báo bằng lời lẽ mộc mạc nhưng có thể các bạn trẻ ngày nay chưa hiểu hết được, tựa như: “Để nhân dân mua lương thực được thuận tiện, Bộ Lương thực và Thực phẩm chủ trương bán lương thực theo sổ “Sơ tán PK (phòng không)”, các cửa hàng phải tổ chức tốt việc bán hàng không để nhân dân đợi lâu… Sơ tán đến đâu mua hàng ở đó. Gia hạn tem phiếu năm 1972”…

Hà Nội 40 năm trước là thế đó. Trong hồi ức của mình, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Trân tự phê bình rằng, lãnh đạo Hà Nội có khuyết điểm là chủ quan nên để đồng bào Hà Nội ở những nơi sơ tán trở về nhân ngày Giáng sinh năm 1972 đông quá. Mất cảnh giác, không lường hết sự tàn bạo của giặc Mỹ ném bom dữ dội, rải thảm B-52 vào khu dân cư trung tâm Hà Nội, chỉ một ngày sau làm mấy trăm con người thiệt mạng… Do vậy, từ ngày 27-12, lệnh sơ tán triệt để được phát ra và đêm hôm ấy, những ai được chứng kiến đều thấy cái hào hùng của dòng người Hà Nội lặng lẽ tỏa đi ra khỏi thành phố trên những phương tiện rất thô sơ của mình, và những chiếc ô tô cũ rích mà chính quyền huy động được. Chừng 50 vạn người trên tổng số 60 vạn cư dân Thủ đô đã hoàn thành việc sơ tán chỉ trong một đêm, một ngày.

Người Hà Nội ra đi nhẹ nhàng, vì nhà cửa và tài sản bên trong có thể giao phó cho những người hàng xóm hay chính quyền có trách nhiệm ở lại; họ có thể giao con cái của mình cho những người không mấy thân thích nhưng cùng cảnh ngộ hay được xã hội phân công; họ đến đâu cũng được những chủ nhà vốn là những người nông dân mộc mạc sẵn sàng nhường những chỗ ở tốt nhất với câu nói cửa miệng không hề khách sáo mà lại chan chứa tình nghĩa: “Các bác vì nước, vì dân, (đôi khi còn nói: Vì thằng Mỹ)… mới phải về đây với chúng em”… Hồi ấy, rất ít thấy nói đến trộm cắp, cướp của, giết người… Phải chăng, khi mọi người cùng chung ý chí, cùng chia sẻ cảnh ngộ, cùng mong đến ngày thắng lợi với ước mơ thanh bình thì xã hội trở nên trong sạch, ngay trong khói đạn của chiến tranh và nghèo khó?…

Mới cách đây không lâu, cả thế giới được chứng kiến với lòng thông cảm đối với nhân dân Nhật Bản đã hứng chịu những thảm họa khủng khiếp của thiên nhiên, như động đất, sóng thần cùng với vụ nổ ở nhà máy điện nguyên tử… và cũng được chứng kiến với lòng thán phục cách ứng xử, đối phó với thử thách của nhân dân Nhật Bản để khắc phục những mất mát to lớn với tinh thần Nhật Bản thể hiện qua ý chí kiên cường, tinh thần kỷ luật, sức chịu đựng và nghĩa đồng bào giúp đỡ lẫn nhau cùng chính phủ vượt qua thử thách…

Chạnh nghĩ, những phẩm chất ấy cũng từng nhiều lần xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta qua những thử thách trong quá khứ lịch sử mà những ngày diễn ra “Điện Biên Phủ trên không” là một bằng chứng sống động… Lại chạnh nghĩ, vì sao những phẩm chất ấy dường như đã phai nhạt, thậm chí đang diễn ra trái ngược trong đời sống xã hội trên đất nước ta ngày hôm nay…

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” với niềm tự hào về quá khứ, không thể không nghĩ đến chuyện khơi lại những truyền thống, những phẩm chất vốn tiềm ẩn trong con người Việt Nam chúng ta, từng phát huy trong quá khứ, vì sao không thể trở lại trong phẩm chất con người Việt Nam ngày hôm nay, và mai sau?!

Nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC
qdnd.vn

Hiệp định Pa-ri: Ký ức của người trong cuộc

QĐND – Trong gần 5 năm tiến hành đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, có rất nhiều sự kiện đã đi vào lịch sử ngoại giao Việt Nam. Từ thỏa hiệp nhỏ nhất như chọn bàn đàm phán (tròn hay vuông) cho đến thỏa hiệp lớn nhất về chấm dứt chiến tranh, tất cả vẫn còn in đậm trong tâm trí những người tham gia buổi tọa đàm trong khuôn khổ Hội thảo khoa học quốc tế “Hiệp định Pa-ri 1973: 40 năm nhìn lại” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tại Hà Nội, hôm 17-1.

“Điểm cộng lớn” cho đoàn đàm phán

Từng là sinh viên Việt Nam theo học tại Pháp trong những năm 60 của thế kỷ trước, bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội là người có nhiều cơ hội tiếp xúc với bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và giúp đỡ bà Bình một số việc trong quá trình đàm phán.

Quang cảnh buổi tọa đàm

Hồi tưởng lại quá khứ hào hùng 40 năm về trước, với chất giọng Huế nhẹ nhàng, bà Ninh cho biết, không khí ở Pa-ri những năm 60 của thế kỷ trước thật đặc biệt. “Khi đó, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đang ở đỉnh cao. Chúng tôi, những sinh viên, sau đó là những giảng viên tại Pa-ri, cũng hồ hởi tham gia vào phong trào này. Có những người hy sinh việc học tập để tham gia vào các phong trào giải phóng dân tộc như in và rải truyền đơn, tổ chức mít tinh, hậu thuẫn cho phái đoàn của ta ở Pa-ri. Có người đến 4, 5 năm vẫn chưa tốt nghiệp được. Đối với chúng tôi khi đó, bằng cấp là thứ yếu. Công việc chủ yếu của chúng tôi là kiếm sống để tham gia phong trào giải phóng dân tộc”, bà Ninh cho hay.

Nhắc đến Hiệp định Pa-ri, không thể không nói đến vai trò đặc biệt của nữ Trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Thị Bình. Bà Ninh cho biết, việc cử bà Bình là phụ nữ duy nhất làm Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tham gia đàm phán khiến những người không hiểu về Việt Nam cho rằng, người phụ nữ đó chắc chỉ biết ngồi đọc tuyên bố chứ làm gì có tài đàm phán và biết tranh thủ dư luận.

Thế nhưng, suy nghĩ ấy đã nhầm. Sự xuất hiện của bà Bình ở Pa-ri đã là “điểm cộng lớn” cho đoàn đàm phán của ta, tạo lợi thế trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của dư luận thế giới, đặc biệt là đối với báo chí. Bà đã tạo ấn tượng khi thể hiện là người có thể kết hợp “cương-nhu” mà chúng ta áp dụng trên bàn đàm phán. Bà có phong cách đi đứng nhanh nhẹn, nói năng, đối đáp, xử trí linh hoạt. Thêm vào đó, bà sử dụng tiếng Pháp lưu loát, hiểu biết sâu rộng về tiếng Anh. Có thể nói, bà Nguyễn Thị Bình là một trong những “át chủ bài” của đoàn đàm phán Việt Nam. Bà đã hoàn thành tốt nhiệm vụ “kép” của một trưởng đoàn là đàm phán, đồng thời tranh thủ dư luận. Nói theo cách nhận xét của bà Ninh, bà Nguyễn Thị Bình đã góp phần quan trọng tạo ra “phong thái ngoại giao Việt Nam”, đàng hoàng, tự tin, cần thì rất cương quyết, nhưng đồng thời cũng mềm mỏng và uyển chuyển.

Vì sao chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán?

Để Mỹ và Việt Nam đi đến giai đoạn cuối cùng là ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, hai bên đã phải trải qua những cuộc đấu trí vô cùng căng thẳng. Theo ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, thành viên đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hội nghị ở Pa-ri có những đặc điểm mà các hội nghị quốc tế khác không có. “Chúng tôi mất hơn một tháng để lựa chọn địa điểm, mất hơn hai tháng để giải quyết vấn đề bàn vuông hay bàn tròn”.

Giáo sư Giăng Crít-tốp-phơ Nô-en (Bộ Ngoại giao Pháp) phát biểu tại Hội thảo.

Giải thích vì sao lựa chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán, ông Huỳnh cho biết, ban đầu Mỹ yêu cầu Việt Nam mở hội nghị tại Viêng Chăn vì lúc đó chính quyền Viêng Chăn thân Mỹ. Chúng ta đề nghị tổ chức ở Phnôm Pênh bởi khi đó Quốc vương Xi-ha-núc ủng hộ cách mạng Việt Nam. Mỹ tiếp đó đề nghị một loạt nước ở Đông Nam Á có quan hệ với Mỹ. Việt Nam phản đối và đề nghị tổ chức ở Ba Lan, Liên Xô và Trung Quốc. Việt Nam đề nghị Ba Lan có nhiều ý nghĩa, đó là đối chọi với Mỹ, đồng thời cũng tranh thủ các nước XHCN đã giúp đỡ Việt Nam. Mỹ phản đối Ba Lan và sau đó đưa ra 11 nước ở khắp các châu lục trên thế giới… “Trong tổng số 20 nước mà Mỹ đề nghị lại không có Pháp. Chúng ta đã nghiên cứu hiện tượng này và tiến hành thăm dò quan điểm của Pháp. Pa-ri cho biết, họ ủng hộ ý kiến của ta. Vì vậy, sau một tháng cân nhắc, chúng ta thông báo cho Mỹ đề nghị chọn Pa-ri là địa điểm đàm phán và cử Bộ trưởng Xuân Thủy sang đàm phán. Đề xuất này cuối cùng được Mỹ chấp thuận. Chọn được Pa-ri là rất thuận lợi cho Việt Nam về mặt vị trí và phối hợp để tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế”, ông Huỳnh nhớ lại.

Câu chuyện “nhỏ”, ý nghĩa “lớn”

Những câu chuyện kể về nghệ thuật “đánh-đàm” của những người từng có mặt ở Pa-ri những năm 1960-1970 khiến các học giả quốc tế đến từ Pháp, Mỹ tham dự hội thảo đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Quả thực, đối với họ, Hiệp định Pa-ri mà họ biết đến hầu hết là qua những trang tài liệu, sách báo ở các thư viện nước ngoài. Nhưng những câu chuyện “nhỏ” có ý nghĩa “lớn” này thì không phải lúc nào họ cũng có dịp được nghe.

Giáo sư Pi-e Giuốc-nu (Pierre Jourrnoud), thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược Pháp, Học viện Quốc phòng Pháp, cho biết khi các cuộc đàm phán được diễn ra tại Pa-ri, giới ngoại giao Pháp đã gợi ý về các giải pháp mang tính nhân nhượng và thỏa hiệp để tìm lối thoát cho cuộc chiến và kết tội tất cả những ai nuôi tham vọng leo thang chiến tranh, đặc biệt là chính sách “Việt Nam hóa” chiến tranh của Ních-xơn và các trận ném bom xuống Hà Nội-Hải Phòng vào tháng 12-1972. “Hiệp định Pa-ri đã thể hiện một trong những nguyên tắc mà chính quyền Pháp bảo vệ và một số thỏa hiệp theo gợi ý của giới ngoại giao Pháp”, Giáo sư Giuốc-nô cho hay.

Giáo sư Pi-e A-xơ-lanh (Pierre Asselin), tác giả cuốn sách “Nền hòa bình mong manh”, cho biết, ông thật sự ngưỡng mộ về tài trí của Việt Nam trong quá trình đàm phán ở Pa-ri. Nó góp phần giúp ông hiểu được vì sao người Việt Nam luôn tự hào về chiến thắng này. Mặc dù ông A-xơ-lanh còn có một số nhận xét trái chiều về Hiệp định Pa-ri, song ông A-xơ-lanh khẳng định rằng, nhờ có Hiệp định Pa-ri, hòa bình đã lập lại trên đất nước Việt Nam là điều không thể bàn cãi.

Bài và ảnh: Linh Oanh
qdnd.vn

Kỳ 2: Dự án “Hòa bình trong danh dự”

Hiệp định Pa-ri và sự vớt vát danh dự của Mỹ

QĐND – Giá trị và ý nghĩa của Hiệp định Pa-ri đã được cả thế giới công nhận, trong đó bao gồm đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc. Vậy nhưng, phía Mỹ vẫn tìm cách vớt vát danh dự bằng nhiều cách. Trả lời phỏng vấn các báo vào những ngày sau khi Hiệp định được ký kết, Cố vấn Mỹ Kít-xinh-giơ vẫn cố tình bào chữa cho lỗi lầm của người Mỹ và vờ tỏ ra thông cảm đối với nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Đông Dương nói riêng. Kít-xinh-giơ cho rằng: “Đến giờ phút này, một thế hệ người dân ở Đông Dương và đặc biệt là nhân dân Việt Nam đã phải hứng chịu cảnh chiến tranh. Nỗ lực lớn nhất của chúng tôi là chấm dứt nỗi đau của họ và khôi phục hòa bình”. Nhưng trước đó, ngay trong buổi tối ngày 23-1-1973, ngày Hiệp định Pa-ri được ký tắt, chính Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã phát biểu trên truyền hình nhấn mạnh: “Tôi muốn thông báo rằng, chúng ta đã ký kết được một thỏa thuận để chấm dứt chiến tranh và mang lại “Hòa bình trong danh dự” ở Việt Nam và Đông Nam Á”.

Thực hiện Hiệp định Hòa bình Pa-ri, trong hai ngày 28 và 29-3-1973, tại sân bay Gia Lâm, 107 nhân viên quân sự Mỹ (đợt cuối cùng) được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho Hoa Kỳ. Ảnh: TTXVN

Và chính quyền Ních-xơn cũng từng thừa nhận: “Hiệp định Pa-ri là một thành công của Dự án “Hòa bình trong danh dự”. Bởi chính Ních-xơn tuyên bố muốn ký kết một Hiệp định hòa bình, trong đó Mỹ sẽ chấp nhận rút hết quân, lấy được hết tù binh Mỹ mà không thừa nhận thất bại, mặt khác vẫn giữ được chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên. Sau này, Bộ Quốc phòng Mỹ đã tuyên bố một cách bao biện rằng: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành công trong quá trình thương lượng chủ yếu vì Mỹ đã cơ bản thay đổi các mục tiêu của mình và rất muốn thoát ra khỏi Việt Nam nếu tù binh Mỹ được trao trả về, và Nam Việt Nam có cơ hội đứng vững trong một thời gian đáng kể”.

Thực tế trong những năm tháng diễn ra đàm phán, Mỹ càng chịu thêm những thất bại nặng nề về cả quân sự và chính trị tại chính quốc cũng như Việt Nam. Từ đó, buộc Mỹ và chính quyền Ních-xơn nhanh chóng tìm giải pháp đi đến ký kết một Hiệp định hòa bình, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định: “Tổng thống Ních-xơn và ông Kít-xinh-giơ thừa nhận là không thể có một giải pháp quân sự cho cuộc chiến tranh. Vì vậy, họ cố gắng đạt tới một trạng thái không phân thắng bại trên chiến trường, cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước Cộng sản vẫn viện trợ cho họ; và đi đến một giải pháp chính trị qua thương lượng”.

Sau này, trong cuốn hồi ký của mình, Kít-xinh-giơ đã viết: “Hầu hết các đồng sự của tôi và tôi hiểu ngay tầm cỡ của những điều mà chúng tôi vừa nghe. Tôi yêu cầu ngừng phiên họp ngay. Lót (C. Lord) – Trưởng đoàn đàm phán Mỹ, và tôi nắm tay nhau tuyên bố: Chúng ta đã thành công! Tướng Hai-gơ (Haig), người đã từng chỉ huy ở miền Nam Việt Nam xúc động tuyên bố: “Chúng ta đã cứu vớt danh dự cho bao người đã chiến đấu, đau khổ, bỏ mạng ở đó… Chúng ta sẽ đạt được điều mà chúng ta tìm kiếm: “Một nền hòa bình phù hợp với danh dự và trách nhiệm quốc tế của chúng ta”.

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử của Mỹ và phương Tây lại tỏ ra nghi ngờ về cái gọi là “Hòa bình trong danh dự” mà chính quyền Mỹ rêu rao. Họ cho rằng, nước Mỹ đưa một đội quân thiện chiến hơn nửa triệu người được trang bị đến tận răng sang trực tiếp tham gia cuộc chiến vốn được điều hành bởi những chiến lược gia quân sự, “bộ óc điện tử” có hàng chục năm kinh nghiệm ở nhiều chiến trường nóng bỏng trên thế giới. Chi phí trực tiếp cho cuộc chiến tranh hơn 150 tỷ đô-la, có gần 60.000 lính chết, hàng trăm nghìn người bị thương… nhưng việc Mỹ buộc phải ký vào Hiệp định để kết thúc một cuộc chiến tranh với mục tiêu hạn chế, mà không giành được thắng lợi, là điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nước Mỹ. Nhà sử học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko), trong cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” bình luận thêm: “Việc Mỹ rút quân mà không phải thừa nhận thất bại quân sự sau gần hai thập kỷ nỗ lực bất thành là một thắng lợi cay đắng của một siêu cường quốc tế”. Còn nhà sử học Mỹ Gioóc-giơ C. Hơ-rinh (George C. Herring), trong cuốn “Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ” đánh giá, kết quả đạt được của Hiệp định Pa-ri đó quả thực là một sự trả giá quá đắt đối với Mỹ, ảnh hưởng to lớn đến uy tín, sức mạnh của siêu cường này, và “Ních-xơn đã kiên quyết tìm đến một nền “Hòa bình trong danh dự” để duy trì địa vị của Mỹ trên thế giới. Nhưng Mỹ đã ra khỏi cuộc chiến tranh với hình ảnh rất nhem nhuốc trong con mắt của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ vốn đã chán ngấy việc dính líu vào chiến tranh”.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, nhiều nhà phân tích chính trị, quân sự phương Tây đã có những đánh giá và nhận định rất chính xác về khả năng Mỹ sẽ tìm cách phá hoại việc thực thi Hiệp định. Giáo sư lịch sử Oét-đơn Ây Brao (Weddon A Brown) thuộc Viện Bách khoa Virginia (Mỹ), trong cuốn sách “Chiếc trực thăng cuối cùng kết thúc vai trò của Mỹ ở Việt Nam”, viết rằng: “Bất cứ một đánh giá nào về bản Hiệp định này cũng chỉ nhận xét rằng bản Hiệp định đã chỉ làm người ta lo sợ nhiều hơn là hy vọng”. Những người theo quan điểm này cho rằng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, chính quyền Ních-xơn sẽ tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh. Do đó, “những thỏa thuận hòa bình tháng 1-1973 chỉ tạo dựng một khuôn khổ để tiếp tục cuộc chiến tranh mà không có Mỹ trực tiếp tham gia”.

Nhà sử học Mỹ Giô-dép Am-tơ (Joseph A. Amter) cũng cho rằng, việc ký Hiệp định thực chất chỉ là sản phẩm của luận điệu giả dối, những trò lừa bịp dư luận của chính quyền Ních-xơn… Và với khát vọng độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bền bỉ của người Việt Nam, chắc cuộc chiến sẽ còn tiếp diễn.

Mai Hương – Minh Nam
qdnd.vn

(Hết)

Kỳ 1: Thắng lợi cống hiến cho hòa bình