Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

“Người tốt việc tốt”

 – Ngày 7/6/1968, Bác mời một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đến bàn về cách làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”. Trong buổi làm việc Bác đưa ra một số quan điểm của mình:

“Các chú vẫn thường nói: nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình… Nhưng dù sao, số người và tập thể được công nhận là anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, được tặng huân chương, huy chương chỉ là một số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà… Cho nên Bác nghĩ: cần có những phần thưởng để khuyến khích, động viên, cổ vũ mọi người hăng hái làm tròn nhiệm vụ”.

Tháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí minh thăm bộ đội miền Nam tập kết đang huấn luyện tại tỉnh Nghệ AnTháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí minh thăm bộ đội miền Nam tập kết đang huấn luyện tại tỉnh Nghệ An

“Những chiến công và thành tích nổi bật thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi nhưng ích nước lợi dân thì hay bị xem thường. Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thầm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao giọt nước nhỏ hợp lại thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc…”

“Về loại sách này, các chú không nên tham viết dài. Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên. Các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân, nên kèm theo nhiều tranh vẽ dễ hiểu mà đẹp, nhưng đừng vì vẽ nhiều mà giá quá đắt.

Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được…”.

“Trước kia, thực dân Pháp còn cai trị nước ta, có những trí thức Việt Nam rất thông thuộc lịch sử, địa lý và các chuyện thần thoại của các nước Pháp, của Hy Lạp, của La Mã. Nhưng khi hỏi đến các vị anh hùng là tổ tiên, ông cha mình, hỏi đến địa lý nước mình thì mù tịt. Nay ta độc lập, tự do rồi, cố nhiên ta không đào tạo nên những con người như thế. Tuy vậy, Bác vẫn nhắc các chú điều này… Coi chừng có nhiều người Việt Nam không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình”.

X&N
bee.net.vn

Nhìn từ cuộc hành trình vĩ đại của Bác Hồ

Hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”


QĐND – Ngày 31-5, tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc Hội thảo khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – hành trình tìm đường cứu nước”, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911/5-6-2011). Cuộc hội thảo do Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch phối hợp tổ chức.

Tôn kính và trách nhiệm

Tham dự hội thảo có nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ; Đinh Thế Huynh, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tướng Trần Đại Quang, Thứ trưởng Bộ Công an.

Toàn cảnh Hội thảo.

Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười; Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương… gửi tham luận khoa học tham gia hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Đinh Thế Huynh nêu rõ tầm vóc lịch sử của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước 100 năm trước và mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn của hội thảo; sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà nghiên cứu đối với sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Đua, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: Với lòng tôn kính và trách nhiệm cao, các tác giả của các tham luận đã dày công nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi những tư liệu và nội dung khoa học phong phú. Các tham luận khoa học thực sự là nguồn tài liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ ý nghĩa lịch sử của sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) ra đi tìm đường cứu nước trên 4 mảng nội dung lớn: Quyết chí tìm đường cứu nước, bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; từ thành phố Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước; cuộc hành trình vĩ đại; vững bước trên con đường Người đã chọn.

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, tham luận của đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư đã phân tích sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo tư tưởng của Người, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, gắn với triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tạo thêm động lực, niềm tin thúc đẩy thực hiện việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

“Vững bước trên con đường Người đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” là tiêu đề bản tham luận mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày, thu hút sự chú ý của các đại biểu dự hội thảo (toàn văn tham luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên số báo ra ngày hôm nay).

Trong tham luận của mình, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ niềm vinh dự, tự hào của mỗi cán bộ, đảng viên, người dân thành phố được mang tên Người. Đồng chí đề cập những giải pháp cụ thể, vận dụng tư tưởng của Người xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong sạch, vững mạnh; trong đó chú trọng các giải pháp bồi dưỡng, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố “đầu tàu” của cả nước. Lòng tôn kính đối với công lao trời biển của Bác chính là cội nguồn sức mạnh, hun đúc ý chí, nghị lực để Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX.

“Xây dựng Quân đội nhân dân, phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay” là tiêu đề tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi tới hội thảo. Với cách tiếp cận khoa học, xuyên suốt chiều dài hình thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nêu bật những giá trị to lớn trong tư tưởng của Bác Hồ về quân sự và quân đội nhân dân. Những tư tưởng vĩ đại đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để quân đội không những ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, mà còn làm tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó… (Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu đến bạn đọc toàn văn tham luận của Đại tướng Phùng Quang Thanh trên số báo ra ngày 2-6).

Quyết chí tìm đường cứu nước

Tham luận của các tác giả: Phan Đình Trạc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Trọng Xuất, Tổng Thư ký Ban biên soạn Công trình lịch sử Nam Bộ kháng chiến… và nhiều tác giả khác đã phân tích, tìm hiểu động cơ, động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Các tác giả tập trung phân tích, lý giải trên phương diện khoa học lịch sử những yếu tố về quê hương, gia đình, xã hội…, góp phần hình thành trí tuệ, ý chí, khát vọng ra đi tìm đường cứu nước của Người.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trao đổi với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu tại hành lang hội thảo.

Linh mục Nguyễn Công Danh, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam nhấn mạnh đến phẩm chất yêu nước, thương nòi của Bác. Phẩm chất ấy hình thành và phát triển ngay từ khi Người còn là một cậu bé ở vùng quê Nam Đàn. Linh mục nhấn mạnh: “Nhận thức “Hiếu với cha không bằng hiếu với nước” như lời dặn của cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đã trở thành phương châm hành động của Người, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”. Xúc cảm trước hành trình cứu nước vĩ đại của Người, Linh mục đã trình bày ca khúc “Tiếng hát từ Thành phố mang tên Người” (Nhạc Cao Việt Bách, lời Đăng Trung), được cả hội trường nhiệt liệt hoan nghênh.

Từ tấm gương về ý chí, khát vọng của Người, các nhà nghiên cứu đã liên hệ, vận dụng, đề xuất những hình thức, giải pháp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bồi dưỡng thế hệ trẻ của đất nước hiện nay. Đó là giáo dục nhân cách, lối sống, xây dựng đạo đức làm người, đi đôi với học tập, bồi dưỡng kiến thức văn hóa, khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

Thời khắc lịch sử

PGS,TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng Thư ký Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong tham luận: Sự xuất hiện của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Người đã xuất hiện đúng lúc, ra đi đúng thời cơ, chọn con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Hưng Quốc, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh đã hệ thống hóa và lý giải vấn đề một cách lô-gic những quyết định phi thường của Bác ngay từ khi lựa chọn thời điểm rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước.

Đồng chí Trần Trọng Tân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương với cách tiếp cận các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, đã chứng minh ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày 5-6-1911. Mốc thời gian ấy đã mở ra một trang sử hiện đại đối với con đường cách mạng Việt Nam, vốn trước đó hoàn toàn bế tắc.

Tham luận của nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã vận dụng phương pháp luận khoa học để phân tích, lý giải tầm vóc, ý nghĩa to lớn của sự kiện Bác Hồ rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Sau 100 năm nhìn lại, ý nghĩa của thời khắc lịch sử ấy vẫn vẹn nguyên tính thời sự, là niềm tin, động lực để Đảng ta, nhân dân ta lấy đó làm cơ sở, tiền đề tiếp tục vững bước thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

Và cuộc hành trình vĩ đại

Tham luận của các nhà nghiên cứu đều khẳng định, hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là cuộc hành trình vĩ đại của lịch sử. Từ cuộc hành trình ấy, Người đã tìm ra ánh sáng chân lý từ chủ nghĩa Mác – Lê-nin vận dụng sáng tạo vào cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chính Người đã mở lối, khai phá, đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi thời kỳ tăm tối của lịch sử, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

PGS, TS Phạm Hồng Chương (Viện Nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) dưới góc độ tiếp cận của văn hóa, cho rằng: Giá trị cao nhất của văn hóa – văn minh là giải phóng con người, làm cho con người biết tự đứng lên để giải phóng mình. Hồ Chí Minh quan niệm giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển. Tư tưởng của Người về sức mạnh đoàn kết để giải phóng dân tộc đã tạo ra nguồn năng lượng, động lực cực kỳ mạnh mẽ từ mỗi người dân, từ sự đoàn kết của toàn dân, tạo nên sức mạnh vô song để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Để có được sức mạnh ấy, giá trị văn hóa – văn minh trong người cộng sản chính là đạo đức, nhân cách và tài năng, dũng khí…

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Nghiên cứu con đường cứu nước của Bác để rút ra bài học lý luận và thực tiễn bổ ích, góp phần làm giàu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước là phương châm xuyên suốt của hội thảo. Với phương pháp tiếp cận đó, tham luận của các tác giả đã trình bày dưới góc nhìn chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng – an ninh… Mỗi lĩnh vực đều có tư tưởng của Người soi rọi. Vận dụng, thực hiện thắng lợi tư tưởng của Người trên thực tiễn chính là “chìa khóa” thành công của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.

TS Nguyễn Công Bình, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh với tham luận “Từ sự ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc cách đây 100 năm, nghĩ về định hướng XHCN ngày nay”, đã nêu các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN. Theo TS Nguyễn Công Bình, định hướng XHCN ngày nay là sự tích lũy sức mạnh và sự năng động xã hội, nhưng không để phân hóa xã hội mà phải giải quyết các mâu thuẫn xã hội bằng chính sách, pháp luật thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với an sinh xã hội. Chăm lo cho người nghèo, thực hiện thắng lợi công cuộc xóa đói, giảm nghèo hiện nay chính là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Bác trong thực hiện nền dân chủ xã hội theo định hướng XHCN.

Dưới góc nhìn giáo dục truyền thống, tham luận của Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu những hình thức, biện pháp nhằm phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hóa của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng.

Không chỉ gói gọn trong các tham luận, cuộc hội thảo thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị lớn của toàn Đảng, toàn dân thông qua sự tương tác của truyền thông. Những tham luận của các tác giả sẽ được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng để các cấp, các ngành tiếp cận, làm cẩm nang cho công tác tuyên truyền, giáo dục, vận dụng vào từng chương trình hành động nhằm mang lại hiệu quả thiết thực.

Hội thảo đã nhận được 137 bản tham luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, các đồng chí lão thành cách mạng, các nhà khoa học, cán bộ quản lý trong cả nước. Mỗi tham luận là một công trình khoa học, dưới những góc độ khác nhau, nêu bật tầm nhìn thời đại của Bác, thể hiện lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người, rút ra những bài học thực tiễn vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau. Có 16 tham luận được trình bày tại Hội thảo.

Bài và ảnh: Đào Văn Sư – Phan Tùng Sơn

qdnd.vn

“Công tư đều lợi. Chủ thợ đều lợi…”

– Ngày 5/6/1953, Bác viết bài “Chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ” (ký tên là Đ.X) đăng trên tờ “Cứu Quốc” xác định những nguyên lý cho sự phát triển với 4 chính sách cơ bản là:

“1. Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên Đảng, Chính phủ và nhân dân ta phải ra sức phát triển và ủng hộ nó.

Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ.

Đó cũng là lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp nó phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đa số nhân dân.

Tháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng nhà máy điện Vinh, Nghệ AnTháng 6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng nhà máy điện Vinh, Nghệ An.

2. Chủ thợ đều lợi. Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác, tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

3. Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh công nông.

4. Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai thác lâm thổ sản để bán cho nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng”.

Đây có thể coi là văn bản đầu tiên, Bác đề cập tới những nguyên lý kinh tế vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập dân tộc đang tiến dần tới đỉnh điểm ác liệt. Con đường phát triển đất nước đang đòi hỏi phải sớm có một lý luận giữa lúc những quan điểm du nhập từ “nước bạn” về con đường xây dựng kinh tế đang từng bước ảnh hưởng vào đội ngũ cán bộ Việt Nam.

X&N
bee.net.vn

“Lương y phải kiêm từ mẫu”

 – Ngày 4/6/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ chứng kiến lễ tuyên thệ của Phó Giám đốc Ngân hàng Quốc gia, nghe báo cáo chiến thắng ở khu III của “Chiến dịch Quang Trung” lần đầu tiên quân đội ta đánh công kiên ở đồng bằng dẫn đến cái chết của con trai Thống chế De Lattre de Tassigny tại mặt trận Ninh Bình.

Chính phủ cũng thông qua chủ trương và văn bản điều lệ của thuế nông nghiệp.

Tổng kết phiên họp, Bác nêu lên 2 kết quả: “1. Thành công của phiên họp là đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là vấn đề kinh tế-tài chính. Đó là một sự chuyển hướng lớn. 2. Muốn thực hiện được công tác quan trọng trên thì trong nội bộ tư tưởng phải thông suốt, phải dựa vào dân và thực hành dân chủ”.

Cũng trong tháng 6/1951, Bác gửi thư cho Hội nghị tình báo với lời căn dặn: “Tình báo là tai mắt. Tai phải tỏ, mắt phải sáng. Mọi công tác, nhất là công tác tình báo phải tránh chủ quan, khinh địch, hiếu danh và cá nhân chủ nghĩa”.

Ngày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý TháiNgày 4/6/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học buổi tối của bà con phố Hàng Vôi đặt tại trường Nguyễn Du phố Lý Thái

Tháng 6/1953, Bác viết thư cho Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc với những huấn thị: “Sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khoẻ đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công… Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy, cán bộ y tế cần phải: thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu”.

Cũng trong tháng 6/1953, trong thư gửi Hội nghị cán bộ Tổng cục Cung cấp, Bác căn dặn: “Phải luôn luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm. Phải thật lòng thương yêu binh sĩ. Phải chỉnh đốn tổ chức và công tác và mở rộng dân chủ”.

Còn trong thư gửi “Lớp chỉnh huấn cơ quan”, phân tích vì sao phải chỉnh huấn, Bác cho rằng vì: “Chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc. Đó là bệnh chính, bệnh mẹ, do đó mà sinh ra nhiều chứng bệnh khác như: tự tư tự lợi, sợ khó sợ khổ; không yên tâm công tác, ham địa vị danh tiếng; lãng phí, tham ô, quan liêu, mệnh lệnh”.

X&N
bee.net.vn

“Làm bất cứ việc gì để sống và để đi…”

– Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành, xuống tàu Amiral Latouche Tréville của Hãng Năm sao (Charges Réunis) đang chuẩn bị rời bến cảng Sài Gòn qua cảng Marseille của nước Pháp, để xin việc.

Sách “Những mẩu chuyện về đời của Hồ Chủ tịch” kể lại rằng, trước đó, Nguyễn Tất Thành đã bàn với một người bạn về ý định ra nước ngoài: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.

Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không? Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ 2 bàn tay: Đây, tiền đây! Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.

Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.Ngày 2/6/1911, Bác đã lên con tàu này để xin việc làm.

Ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành chính thức được nhận việc tại tàu Đô đốc Latouche Tréville của Hãng Vận tải Hợp nhất với cái tên mới là Văn Ba.

Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong phận sự của một thuỷ thủ mang tên “Văn Ba” làm việc trên chiếc tàu “La Touche Tréville” của Hãng Vận tải Hợp nhất rời bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn, khởi đầu hành trình đi tìm đường cứu nước.

Nói về sự lựa chọn con đường đi sang Pháp, trong một cuộc trao đổi với nhà báo Nga Oxip Manđenxtam (12/1923), Bác cho biết: “Năm tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên được nghe ba chữ Pháp “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn sau những chữ ấy”.

Một lần khác, trả lời nhà văn Mỹ Lui Xtơrông, Bác kể: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Ra đi vào Mùa hè nóng bỏng năm 1911 từ một cửa biển cực nam của Tổ quốc (Sài Gòn) để đúng 30 năm sau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mới trở về Tổ quốc từ một địa đầu núi rừng phía Bắc. Tại Pác Pó (Cao Bằng), Bác làm một bài thơ nhắc đến 2 bàn tay của mình: “Non xa xa/ Nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà!”.

Chặng hải trình đầu tiên sau khi rời cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) vào ngày 5/6/1911, tàu “Đô đốc La Touche Tréville” ghé cảng Singapore (8/6), cảng Colombo, Sri Lanka (14/6), Cảng Sa’id, Ai Cập (30/6) và đến cảng đầu tiên của nước Pháp, cảng Marseille (6/7/1911).

X&N
bee.net.vn

Lời hứa với thiếu nhi của Bác 60 năm trước

– Ngày 1/6/1950, báo “Sự Thật” đăng “Thư gửi thiếu nhi toàn quốc” trong đó Bác viết: “Ngày 1/6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới… Vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người cướp của. Vì vậy người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến…”.

Và người lãnh đạo cuộc kháng chiến đã hứa với các cháu: “Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cũng cố gắng làm cho các cháu đều được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng”.

 01-6-1969 bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên,nhi đồng,bút danh TL.jpgNgày 1/6/1969, bản thảo bài báo Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, bút danh TL.

Quan tâm đến trẻ em với Bác Hồ là một nhiệm vụ của cách mạng. Ngay từ năm 1941, khi Mặt trận Việt Minh mới thành lập, Bác đã coi trẻ em là một lực lượng của cách mạng.

Trên báo “Việt Nam Độc lập”, Bác đăng bài thơ “Trẻ con”, trong đó có đoạn: “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn biết ngủ, học hành là ngoan/ Chẳng may vận nước gian nan/ Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng… Vậy nên con trẻ nước ta: Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!/ Kẻ lớn cứu quốc đã đành/ Trẻ em cũng phải ra dành một vai/ Bao giờ đánh đuổi Nhật Tây/ Trẻ em ta sẽ là bày con cưng”.

Năm 1942, Bác viết bài thơ “Trẻ chăn trâu” đăng trên báo “Việt Nam Độc lập” (21/11/1942): “…Chăn trâu mấy trẻ con con/ Cùng nhau hát xướng véo von trên gò/ Vì ai ta chẳng ấm no?/ Vì ai, ta đã phải lo cơ hàn?/ Vì ai, cha mẹ nghèo nàn?/ Vì ai, nhà cửa, giang san tan tành?/ Vì ai, ngăn cấm học hành?/ Vì ai, ta phải chịu vành dốt ngây?/ Ấy là vì Nhật vì Tây… Cùng nhau đánh đuổi Nhât Tây/ Anh em ta mới có ngày vinh hoa/ “Nhi đồng Cứu quốc” hội ta/ Ấy là lực lượng, ấy là cứu sinh/ Ấy là bộ phận Việt Minh/ Dân mình khắc cứu dân mình mới xong”.

Ngày 15/5/1961, Bác viết thư gửi thiếu niên và nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong với câu kết luận: “Mai sau các cháu sẽ là người chủ của nước nhà. Cho nên ngay từ rày, các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng để chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Lá thư cũng đề cập tới nội dung mà sau đó trở thành một cuộc vận động giáo dục sâu rộng “5 điều Bác Hồ dạy”, đó là: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

Sau này nhiều lần Bác viết về thiếu nhi với tình yêu và trách nhiệm dành cho thế hệ tương lai của đất nước. Ngày 1/6/1969, nhân Ngày Quốc tế thiếu nhi cuối cùng trong cuộc đời mình, Bác viết bài báo“Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng”:

“Nói chung trẻ con ta rất tốt… Thiếu niên và nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

X&N
bee.net.vn

Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

 – Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn – tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Tiền thân của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Ngay từ năm 1924, Bác Hồ đã cử nhiều thanh niên, học sinh Việt Nam sang du học ở Quảng Châu, Trung Quốc rồi Trường đại học Phương Đông Matxcơva… Cho đến ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Trung ương đã cho thành  lập Trường Quân chính kháng Nhật.

Từ sau ngày 2-9 cho tới cuối năm 1945, theo chỉ thị của Bác để phù hợp với tình hình thực tế, trường đã 2 lần đổi tên: Trường Quân chính Việt Nam và Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trong vòng nửa năm với 7 khóa huấn luyện, nhà trường đã cung cấp 1.500 cán bộ trẻ cho lực lượng vũ trang và các địa phương.

Ngày 17-4-1946, theo chỉ thị của Người, nhà trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với nhiệm vụ: đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng.

dHiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đón nhận lá cờ thêu 6 chữ vàng của Bác Hồ

Để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, Người bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm Hiệu trưởng cùng Chính trị uỷ viên Trần Tử Bình. Các đồng chí Vương Thừa Vũ, Vũ Lập phụ trách huấn luyện. Trường rời từ Hà Nội (khu Việt Nam Học xá, nay là Đại học Bách khoa) lên đóng quân tại sân bay Tông, thị xã Sơn Tây.

Lễ khai giảng khoá 1 và lá cờ thêu những chữ vàng

Chủ nhật 26-5-1946, nhà trường làm lễ khai giảng khoá 1. Hồ Chủ tịch cùng Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Anh và một số đại biểu đến trường từ sớm.

Tránh nghi lễ đón tiếp, Bác đi thẳng vào doanh trại xem bố trí nơi ăn chốn ở. Đến nhà bếp, thấy anh em ăn thừa Người đã phê bình là lãng phí cơm gạo, nhất là khi dân ta vừa qua nạn đói khủng khiếp đầu 1945. Tiếp thu ý kiến Bác, ngay hôm sau, cơm thừa còn sạch được tận dụng ủ làm tương cho bộ đội ăn.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên nền nhạc hùng tráng của bài “Tiến quân ca”. Từ trên lễ đài Hồ Chủ tịch bước xuống tiến về phía hàng quân, trao cho nhà trường lá cờ thêu những chữ vàng “TẶNG TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN “TRUNG VỚI NƯỚC – HIẾU VỚI DÂN” – 1946”.

Học viên Bùi Minh Trân, một chiến sĩ của Nam bộ, thay mặt 288 học viên khoá 1 đón nhận lá cờ.

Phát biểu với cán bộ, học viên, Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Đáp lời Người, Giám đốc Hoàng Đạo Thuý nói: “…Thế kỷ 13, Nguyên-Mông là một đế quốc lật đất, nghiêng trời, chiếm từ bể Đông đến giữa châu Âu. Họ bảo nước ta là to bằng bàn tay ếch. Ba lần họ cất quân sang xâm lược nước ta. Ba lần tướng Trần Quốc Tuấn đã dựa vào thế đất và lòng người đuổi quân giặc phải tháo chạy. Cụ Chủ tịch lấy tên Trần Quốc Tuấn đặt tên cho trường ta, ý Cụ mong cho chúng ta trở thành học trò của Trần Quốc Tuấn”.

Với khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi để chiến trường không đổ máu”, mặc nắng mưa, mặc ngày đông tháng giá, học viên khoá 1 đã hăng say, miệt mài học rèn.

dTrường  Đại học Trần Quốc Tuấn hôm nay tại TP Sơn Tây, Hà Nội (Ảnh: VECI)

dMột góc khuôn viên của trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Ảnh: VECI)

Cuối khoá, nhà trường tổ chức diễn tập hành quân dài ngày từ Sơn Tây, qua Đồn Vàng, lên Phú Thọ, Việt Trì, có sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân, nâng cao công tác chỉ huy, kỹ-chiến thuật, công tác chính trị, dân vận. Sau diễn tập, học viên có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân dã ngoại, tình cảm quân dân thêm sâu đậm.

Tháng 10-1946, vừa từ Pháp về, Bác lên thăm trường. Người vui vẻ nói chuyện với anh em: “Sau khi ở Pháp về, nhớ những đồng chí trẻ của mình ở đây, đồng chí già liền lên thăm ngay và dặn anh em mấy điểm: Một là phải kỷ luật. Hai là phải quần chúng hoá. Ba là phải thực tế. Bốn là phải ham học, ham làm. Năm là phải quyết tâm, chịu khó. Sáu là không lúc nào tự cho mình là  đủ, không kiêu, không nịnh.Bảy là phải đoàn kết, thân ái tự phê bình, phê bình và khuyến khích lẫn nhau”.

Bác tặng nhà trường 16 chiếc huy hiệu để trao cho 15 học viên đỗ xuất sắc và học viên đỗ cuối cùng trong kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày 8-12-1946, Võ bị khoá 1 làm lễ tốt nghiệp. Toàn bộ học viên tốt nghiệp được điều động về ngay các đơn vị, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp sẽ nổ ra vào ngày 19-12-1946.

Khóa 2 : Theo thầy Nguyễn Sơn hành quân vào khu IV

Ngày 16-2-1947, Võ bị khóa 2 với 340 học viên được khai giảng tại thị xã Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Sơn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam, người đã chiến đấu trong Bát Lộ Quân và tham gia “Vạn lý trường chinh” ở Trung Quốc – được chỉ định làm Hiệu trưởng.Sau đó, đồng chí lại được giao nhiệm vụ Khu trưởng Khu IV nên khóa 2 theo thầy hành quân vào Khu IV. Học viên được biên chế thành các đại đội chuyên sâu: C1 quân sự, C2 chính trị, C3 dân quân. Ngày 28-7-1947, nhà trường làm lễ mãn khóa 2 và ngày 8-8-1947 hành quân ra Bắc.

Khóa 2 + 3 và 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Giữa tháng 4-1947, khóa 3 được khai giảng tại Bắc Cạn. Thầy Hoàng Đạo Thuý lại được chỉ định làm Hiệu trưởng. Là một nhà giáo, nhà sử học, xã hội học, có kinh nghiệm trong công tác hướng đạo sinh và đã kinh qua đào tạo khóa 1, thầy Thuý giảng về Binh pháp Tôn Tử, về lịch sử ông cha giữ nước, về chiến thuật, chiến lược quân sự, về cả thông tin “moóc-xơ”… Trong khóa học, ngày 1-5-1947, thầy Thuý được vinh dự kết nạp vào Đảng.

Để thống nhất trong đào tạo và bổ sung kiến thức chiến thuật cấp trung đoàn, các  khóa 2 và 3 được hợp nhất. Trong buổi lễ, Tổng bí thư Trường Chinh đến thăm.
Sau đó, khóa 2 tiến hành trao cờ “Trung với nước, Hiếu với dân”  cho khóa 3. Đây là lá cờ truyền thống mà khóa 1 đã trao cho khóa 2 trước khi hành quân vào Khu IV. Hai đồng chí Vũ Khổng Tước (khóa 2) và Nguyễn Đôn Tự (khóa 3) vinh dự thay mặt 2 khóa trao và nhận lá cờ.

Khi chương trình huấn luyện gần kết thúc, ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống khu vực gần trường. Nhà trường biên chế thành trung đoàn E79 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hoàng Đạo Thuý và Chính trị viên Lê Đình đã đánh thắng trận Đầm Hồng và trận tập kích Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch ở Bản Thi.

Ngày 28-10-1947, lễ bế giảng được tổ chức tại đình Nghĩa Tá. Khóa 2 và 3 của nhà trường vinh dự đón nhận 4 chữ vàng của Bác “Trung dũng, Quyết thắng”.

Tô thắm thêm những chữ vàng

65 năm trôi qua, các cựu giáo viên, học viên khoá 1-2-3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT (nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo, thiếu tướng Kim Tuấn – Tư lệnh Quân đoàn 3, đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Bảo…), nhiều đồng chí được phong hàm cấp tướng…

Kế thừa truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh là Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Đại học Trần Quốc Tuấn, đơn vị AHLLVTND. Với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng chống Mỹ cứu nứớc và bảo vệ Tổ quốc, họ đã góp phần tô đẹp thêm những chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

Di sản Hồ Chí Minh về hợp tác giữa các dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. (Ảnh tư liệu TTXVN).

“Di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc” là chủ đề thảo luận của phiên thứ hai của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay,” do Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức sáng 13/5.

Đây là dịp để các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm rõ hơn của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc.

Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu tập trung thảo luận các nội dung Hồ Chí Minh – chiến sĩ đấu tranh kiên cường vì hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc; ý nghĩa Di sản Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc trong thời đại ngày nay.

Các tham luận nêu bật những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc. Trong mọi hoàn cảnh, Hồ Chí Minh luôn hướng tới hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc.

Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác cùng phát triển và chính sách đối ngoại rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam hiện nay là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại do Hồ Chí Minh khởi xướng từ năm 1947 là Việt Nam “Làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai.”

Hồ Chí Minh đến với nhân loại tiến bộ bằng tình yêu đối với hòa bình và bằng việc tổ chức nhân dân Việt Nam đấu tranh giành hòa bình và xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và với cộng đồng quốc tế.

Là chiến sĩ kiên cường trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc, Hồ Chí Minh đã để lại những di sản có ý nghĩa lớn lao đối với thời đại ngày nay.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Việt Nam từ một dân tộc bị áp bức, sống khổ cực trong chiến tranh đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, tự do và bình đẳng, hữu nghị với cộng đồng quốc tế. Đây là câu trả lời cho tất cả các quốc gia đang đấu tranh để có một nền hòa bình chân chính và là một Di sản nổi bật của Hồ Chí Minh đối với thời đại ngày nay.

Lời kêu gọi “không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh có thể coi như một bản Thông điệp sống động đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển, đa sắc tộc trước xu thế phát triển của thời đại: cần có quyết tâm cao và tránh sự mất độc lập, tự chủ về đường lối. Bài học xương máu là chỉ có hoà bình thực sự khi gắn hòa bình với độc lập và thống nhất dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, những bài học của Hồ Chí Minh về phương pháp ứng xử nhân nhượng có nguyên tắc trong đấu tranh vì hòa bình và trong quan hệ quốc tế thực sự là một di sản có giá trị để bảo vệ hòa bình hiện nay.

Những người từng đối thoại với Hồ Chí Minh đều tỏ lòng kính trọng đối với “một con người mềm dẻo, kiên nhẫn, ôn hòa, luôn luôn tìm cách hòa giải về thể thức chuyển hóa,” đều ca ngợi Hồ Chí Minh là “người luôn luôn biết giải quyết những vấn đề khó khăn với nụ cười trên môi.”

Hồ Chí Minh là người đã bắc những nhịp cầu hữu nghị, đẩy mạnh việc giao lưu, tiếp xúc nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc – một cơ sở để duy trì và củng cố hòa bình. Sau khi Việt Nam giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng giáo dục nhân dân về lòng yêu hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc, biết kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng cho chính sách mở cửa và hợp tác rộng rãi của Việt Nam với thế giới trên mọi lĩnh vực.

Suốt đời mình, Hồ Chí Minh theo đuổi lý tưởng hữu ái, đoàn kết, thân thiện giữa các dân tộc, không phân biệt chủng tộc và màu da.

Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trưởng Ban chỉ đạo Công tác tư tưởng, lý luận và văn hóa Trung ương Xamản Vinhakệt phát biểu nhấn mạnh, tình đoàn kết Việt-Lào đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục từ khi có chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam.

Người luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt-Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế , vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước. “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình.” Trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt động thực tiễn, Người luôn luôn phát huy cao độ tính độc lập và chủ động của đồng bào các bộ tộc Lào,” ông Xamản Vinhakệt nhấn mạnh.

Ông Xamản Vinhakệt nêu rõ: “Trong suốt cuộc hành trình lịch sử này, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào chúng tôi mãi mãi ghi nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Chúng tôi nguyện cùng với nhân dân Việt Nam tiếp tục tăng cường củng cố và vun đắp tình hữu nghị giữa hai nước.”

Với bài tham luận có tiêu đề ngắn gọn “Hồ Chí Minh”, ông Raymon Aubrac, cao ủy danh dự Cộng hòa Pháp, đã bày tỏ tình cảm yêu mến, quý trọng của mình đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Khiêm tốn và giản di, Bác Hồ là một chính khách mà rất nhiều người mong muốn làm được như vậy,” là cảm nhận của ông qua những lần được gặp Bác Hồ.

Ông nhấn mạnh: “Trong các chiến lược chính trị và quân sự của các cuộc đấu tranh vì nền độc lập, Bác Hồ luôn luôn tìm kiếm các cơ hội để thiết lập nền hòa bình. Là người đứng đầu Chính phủ, trong các cuộc gặp gỡ nhà báo và trong các buổi công khai ngôn luận, Người luôn biết cách chứng minh với dư luận thế giới rằng Người từ chối việc sỉ nhục kẻ thù và luôn đề nghị các giải pháp cho phép họ giữ được thể diện…”

Các đại biểu cùng thống nhất với nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.”

Di sản Hồ Chí Minh không chỉ là hòa bình hữu nghị và tiến bộ ở Việt Nam mà còn là tác động lớn lao của nó đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển của toàn nhân loại trong thời đại ngày nay./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

Người con Nam bộ với vị cha già của dân tộc

Hồ Chủ tịch trên đường đi chiến dịch biên giới. (Ảnh tư liệu TTXVN)

Giữa những ngày tháng Năm, trong lúc toàn dân nô nức kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, chúng tôi đã tìm gặp anh Ngô Long Minh, một chứng nhân lịch sử – một thanh niên Nam bộ đã được ra Bắc gặp Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc năm 1953.

Trong ngôi nhà riêng của mình, nằm trong con hẻm đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, anh Minh đã bồi hồi nhớ lại và xúc động kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm lần đầu gặp Bác Hồ, mà theo anh, đó là những giây phút hạnh phúc nhất của đời anh.

“Giữa năm 1952, rời miền Đông Nam Bộ, đoàn chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình ra Bắc. Sau hơn 7 tháng trời gian nan vất vả, trèo non vượt suối, đến đầu năm 1953, chúng tôi đã ra đến Việt Bắc, và đã vinh dự được gặp Bác Hồ.

Hôm ấy, vào buổi chiều tối, chúng tôi được đưa đến một hội trường lớn giữa núi rừng Việt Bắc, có mặt các lãnh đạo trung ương Đảng, Chính phủ và đông đảo các cán bộ. Chúng tôi thấy có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng nhiều lãnh đạo trung ương và đông đảo các anh hùng chiến sĩ thi đua; những người vừa tham gia chiến dịch biên giới Tây-Bắc trở về.

Lúc đó hội trường đã gần kín hết chỗ. Là những người đến sau, chúng tôi phải kẻ đứng người ngồi. Tuy đông người nhưng không khí vẫn rất trật tự. Riêng tôi thì cứ rạo rực, bồn chồn đứng ngồi không yên, vì có nghe tin hôm nay có Bác Hồ đến. Và không ngờ Bác đã đến. Niềm khát khao, mơ ước bấy lâu nay của chúng tôi đã trở thành sự thật.

Trong lúc mọi người ai cũng mang nỗi khát khao, đợi chờ được thấy Bác, thì bổng có tiếng vọng từ phía trước: “Bác Hồ đến! Bác Hồ đến! Bác Hồ….”. Tất cả trong hội trường đồng loạt đứng dậy và hô vang “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Trong tiếng hô vang dậy kéo dài của mọi người, tôi tranh thủ len lỏi chạy lên phía trước để mong sao được thấy Bác ở khoảng cách gần nhất. Khi vừa thấy Bác, tôi không kềm được cảm xúc và hô vang “Bác đây rồi! Bác đây rồi!”

Tôi thấy nước mắt mình cứ tràn ra trong một niềm vui sướng, hạnh phúc không bờ bến. Tiếng hô của tôi đã hòa lẫn trong tiếng vỗ tay hoan hô Bác Hồ như sấm dậy của mọi người.

Sau phút giây không dằn được cảm xúc của mọi người, không khí lắng xuống, bởi mọi người ai cũng muốn nhìn thấy Bác thật kỹ. Ở miền Nam, chúng tôi chỉ thấy ảnh của Bác và nghe những câu chuyện kể về Bác, nhưng sao lần đầu gặp Bác, chúng tôi vẫn thấy Bác gần gũi quá, quen thuộc quá, thân thương quá.

Vẫn bộ áo quần bà ba màu chàm giản dị, khuôn mặt quắc thước, hiền từ với chòm râu dài phất phơ… Bác Hồ đẹp như một ông tiên trong câu chuyện cổ tích. Mọi người lần nữa không kiềm được cảm xúc, lại vỗ tay vang dậy “Hồ Chủ tịch muôn năm! Bác Hồ muôn năm!”

Bước lên diễn đàn, Bác đưa cả hai cánh tay về phía trước, ra hiệu ngồi xuống, mọi người mới chịu ngồi. Hội trường im phăng phắc, mọi người ai nấy đều cố mở đôi mắt thật to để thu được hình dáng của Bác vào mắt mình nhiều nhất. Lời đầu tiên Bác nói: “Các cháu Nam Bb ở đâu, đứng dậy cho bác xem mặt!”

Tất cả chúng tôi đồng loạt đứng lên để được thấy rõ Bác và mong được Bác nhìn thấy mình. Thấy chúng tôi còn có những người đứng sau xa, Bác liền bảo: “Các chú ngồi hàng trước lùi về phía sau, ưu tiên nhường chỗ cho các cháu Nam Bộ lên ngồi phía trước cho Bác nhìn rõ mặt hơn!”

Tiếng vỗ tay lại vang lên. Nhiều cán bộ trung ương, chính phủ đã vui vẻ lui về hàng sau, nhường chỗ cho chúng tôi, những đứa con của miền Nam được lên ngồi gần Bác. Chúng tôi sung sướng đến nghẹn ngào, không nói nên lời và hầu như ai cũng không cầm được những giọt nước mắt hạnh phúc tột cùng của mình.

Bác đưa ánh mắt trìu mến với tình thương bao la nhìn chúng tôi. Tôi nhớ rất rõ, lời đầu tiên của Bác đã trầm ấm vang lên, rót vào tai, thấm vào lòng chúng tôi từng tiếng:

“Hôm nay muôn dặm một nhà
Cho người thấy mặt để ta thỏa lòng!”

Chúng tôi hiểu rằng, Bác Hồ đã dành cho miền Nam những tình cảm sâu nặng, thiêng liêng. Tấm lòng của Bác đối với nhân dân Nam Bộ cũng như nhân dân cả nước thật bao la như trời biển, như lời Bác thường nói “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi.”

Trong tình cảm ruột thịt chan hòa của những người con cùng chung một Tổ quốc Việt Nam . Không phân biệt kẻ Bắc, người Nam, chúng tôi đang sum họp một nhà, dưới ánh mắt vui sướng của vị cha già dân tộc Hồ Chí Minh. Có niềm vui, niềm hạnh phúc nào như hôm nay!. Tôi và tất cả mọi người hôm đó đều có chung suy nghĩ như thế!”/.

Lê Bá Lư (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hồ Chí Minh với độc lập dân tộc – chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn và sáng tạo về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. (Nguồn: Internet)

Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương đã có bài viết : “Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.” TTXVN trân trọng giới thiệu bài viết của giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa:

Với dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh là sự kết tinh những gì tốt đẹp, ưu tú nhất của trí tuệ và tư tưởng, tình cảm và đạo đức, nhân cách và lối sống của con người và dân tộc Việt Nam. Người tiêu biểu cho cốt cách và bản lĩnh của dân tộc, cho bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Tinh hoa của dân tộc, lương tâm và khí phách của thời đại đã được thể hiện chân thực và cảm động, trong sáng và đẹp đẽ, cao thượng và bất khuất qua con người, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Khi đã tìm thấy con đường cách mạng và nhận thức được chân lý của thời đại cách mạng nhờ giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, với sự thức tỉnh và cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã dồn tất cả nỗ lực và tinh lực của đời mình để thực hiện đến cùng lý tưởng và mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình đó, Người vừa học tập và nghiên cứu lý luận, vừa tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của công nhân và lao động ở những nơi Người đi qua, đã trực tiếp lăn lộn và trải nghiệm suốt mấy thập kỷ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân.

Bằng con đường lao động, vô sản hóa, Người làm đủ mọi nghề, đi qua nhiều miền đất khác nhau, tham gia các sinh hoạt của công nhân, thợ thuyền, ở ngay sào huyệt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, Người có điều kiện quan sát trực tiếp tình cảnh sống của những người lao động dưới ách áp bức bóc lột tàn bạo của tư bản ở chính quốc đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc.

Thực tiễn này đã giúp Người nhận rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản và thực dân, cũng như hình thành ở Người tình hữu ái giai cấp đối với những người cùng khổ. Cũng chính thực tiễn này đã cung cấp cho Người những căn cứ để xác minh một sự thật mà Người đã từng hoài nghi về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” do giai cấp tư sản đưa ra.

Người muốn hiểu rõ đằng sau những lời đẹp đẽ trong châm ngôn tư sản ấy, thực chất của nó là cái gì? Mười năm đầu trong cuộc đi tìm chân lý tại chính quê hương của chủ nghĩa tư bản đã đem lại cho Người những thu hoạch lớn, những kết luận chính trị quan trọng, tác động sâu sắc đến tư tưởng, quan điểm, đường lối của Người. Đó là, ở đâu đâu đế quốc tư bản thực dân cũng dã man, tàn bạo, cũng đầy rẫy những quan hệ phi nhân tính; ở đâu đâu những người lao động nghèo khổ, bần cùng cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau, họ phải được tập hợp lại, chủ động đấu tranh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta.”

Trong quá trình tìm đường cứu nước cứu dân và định hình đường lối chính trị giải phóng, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ hoạt động ở châu Âu, ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa, mà Người còn hoạt động ở phương Đông, châu Á, tìm hiểu thực tiễn các phong trào đấu tranh ở Trung Quốc và Thái Lan.

Những cứ liệu từ thực tiễn đó giúp cho Người so sánh, phân tích, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các kết cấu kinh tế – xã hội, các mâu thuẫn giai cấp và dân tộc ở những khu vực địa chính trị tiêu biểu, nơi diễn ra những phân hóa và mâu thuẫn giai cấp, dân tộc rất khác nhau giữa phương Tây và phương Đông, giữa các nước tư bản châu Âu với các nước châu Á đang còn tồn tại rất nhiều tàn tích phong kiến và đang là đối tượng khai thác, nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

Mối quan tâm đặc biệt nổi bật của Người là tình hình Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam khi đã mất độc lập chủ quyền và đang bị chủ nghĩa thực dân đè nén, thống trị. Do đó, đối với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu, khảo sát thế giới, khu vực và quốc tế cũng chỉ nhằm hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình, đặt cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới, sao cho phù hợp với trào lưu, xu thế chung của lịch sử thế giới và thời đại.

Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Chỉ có cuộc cách mạng này mới giải phóng được giai cấp vô sản, giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của đế quốc, thực dân, mới thực hiện được độc lập tự do, hoà bình và hạnh phúc cho các dân tộc.

Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là vào năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tours, Người đã cùng với những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước tiến bộ, Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người chiến sĩ xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.241).

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nghiên cứu, khảo sát trực tiếp tại nước Nga Xôviết của Lênin, thấy rõ sự sinh thành chủ nghĩa xã hội, nhất là những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng như ảnh hưởng rộng lớn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra thời đại mới – quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Những tư tưởng đó đã được Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng đó chỉ có thể là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

Như thế, từ 1911 đến 1920 là một thập kỷ Người tìm đường và đã thấy con đường sẽ đi. Từ 1920-1924 và sau đó từ 1925-1927 khi Người viết các tác phẩm lý luận, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, nhất là “Đường Kách mệnh” (1927), đó là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, hình thành về cơ bản lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Người. Đó cũng là thời gian mà Người chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính dảng cách mạng kiểu mới ở Việt Nam.

Tư tưởng và phương pháp cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện tập trung, cô đọng trong các văn kiện đầu tiên thành lập Đảng, do chính Người trực tiếp soạn thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt của Đảng, tháng 2/1930.

Các mốc thời gian và sự kiện sau đó phản ánh những hoạt động vô cùng phong phú, kiên định, tích cực sáng tạo, nhưng cũng đầy thử thách đối với Người. Chính thực tiễn lịch sử cách mạng đã là sự thẩm định khách quan, công tâm nhất đối với giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây thực sự là điểm nổi bật về sức sáng tạo vượt trước của Hồ Chí Minh, về bản lĩnh Hồ Chí Minh.

Cho đến khi Người về nước (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì tư tưởng, phương pháp cách mạng đầy sáng tạo của Người mới được khẳng định đầy đủ, nhanh chóng đi vào thực tiễn, đem lại lời giải đúng đắn nhất về lý luận để thúc đẩy cách mạng trong thực tiễn. Đó chính là chân giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Những sáng tạo và cống hiến lịch sử của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện ở những điểm nổi bật sau đây:

Một là, nhận thức sáng tạo về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mác-Lênin. Nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, Người nhận thấy một trong những ưu điểm đặc sắc nhất của lý luận Mác-Lênin là phép biện chứng. Đó là phép biện chứng của phát triển xã hội, là khoa học và cách mạng của sự phát triển, xóa bỏ trật tự xã hội cũ bất công, tàn bạo và hướng tới xây dựng trật tự xã hội mới, dân chủ, công bằng và nhân đạo, xứng đáng nhất với con người – đó là chủ nghĩa cộng sản.

Người cũng đặc biệt đề cao học thuyết cách mạng của Lênin, cả trí tuệ khoa học, tính triệt để cách mạng lẫn đạo đức và nhân cách của người sáng lập ra học thuyết Đảng kiểu mới, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử, biến chủ nghĩa xã hội từ một học thuyết lý luận thành hiện thực xã hội mới, một chế độ xã hội mới.

Người nhận rõ chủ nghĩa Mác-Lênin là biểu hiện và kết tinh tinh hoa trí tuệ và tư tưởng của thời đại, của văn hoá nhân loại. Song, Người cũng đặt ra một vấn đề hết sức nghiêm túc về nhận thức khoa học: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại” (Sđd, t.1, tr.465).

Người đặt vấn đề về sự cần thiết phải vận dụng quan điểm và phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để xem xét sự khác nhau cơ bản giữa kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp – xã hội giữa phương Tây với phương Đông. Người cũng nêu rõ, mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không? và Người khẳng định, đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản. Người còn giải thích rằng, thật ra là có, vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó (Sđd, t.1, tr.465).

Nếu phân hoá giai cấp đã trở nên rõ rệt và đối kháng giai cấp từ sự phân hóa ấy là sâu sắc và gay gắt ở phương Tây trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông và Việt Nam lại không hẳn là như vậy. ở đây, nổi bật lên mâu thuẫn dân tộc và xã hội với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân từ bên ngoài xâm lược vào chứ không phải là mâu thuẫn giai cấp.

Do đó, nếu giải phóng giai cấp và đấu tranh giai cấp như một đặc trưng nổi bật và là một đòi hỏi bức xúc ở phương Tây tư bản chủ nghĩa, thì ở phương Đông, trong đó có Việt Nam lại nổi lên đặc trưng khác, đó là giải phóng dân tộc, là giải quyết mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân xâm lược để giành độc lập, xóa bỏ tình trạng thuộc địa và phụ thuộc dưới ách đô hộ, thống trị của thực dân.

Đó là lý do giải thích vì sao Người chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp trong dân tộc để tạo ra sức mạnh giải phóng. Trong khi tin tưởng chắc chắn rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác là đúng đắn không chỉ ở phương Tây mà còn ở phương Đông, Người còn có dự báo đầy mẫn cảm rằng, chủ nghĩa cộng sản dễ áp dụng và cách mạng cộng sản chủ nghĩa dễ thành công hơn chính trong thực tiễn phương Đông, châu Á và Việt Nam. Một trong những cơ sở luận chứng cho giả thuyết đó là sức đoàn kết dân tộc, truyền thống cộng đồng đã tỏ ra rất gần gũi với bản chất của chủ nghĩa cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nêu ra một luận điểm rất khoa học và sáng tạo, tỏ rõ chính kiến độc lập đầy bản lĩnh của Người. Đó là, muốn áp dụng chủ nghĩa Mác, áp dụng lý thuyết cộng sản của Mác vào phương Đông và Việt Nam thì phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (Sđd, t.1, tr.465). Người cũng xác định rằng, nhiệm vụ ấy đang đặt ra về mặt lý luận mà những người cộng sản phải đáp ứng.

Những luận điểm nêu trên được Nguyễn Ái Quốc nói rõ vào năm 1924, đủ thấy tư chất và bản lĩnh sáng tạo của người cộng sản trẻ tuổi với sức bay của tư duy và tư tưởng vượt trước thời đại như thế nào. Sau này, Người còn có nhiều luận điểm sáng tạo khác đối với việc nhận thức bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Có thể nêu một vài thí dụ tiêu biểu. Người nhìn nhận chủ nghĩa Mác-Lênin trong dòng chảy của sự tiến hóa tư tưởng, biết thâu thái tất cả những gì tiến bộ, ưu tú, tinh hoa của tư tưởng, văn hóa nhân loại để vừa hiểu rõ sự phong phú của tư tưởng, văn hóa nhân loại, vừa thấy sự phát triển nhảy vọt của những tư tưởng mácxít vốn không tách rời, không ở bên ngoài mà ở trong tổng số và tổng hợp của toàn bộ những giá trị tinh hoa đó.

Chẳng thế mà, trong khi tin và đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn rất trân trọng tư tưởng từ bi, bác ái của đạo Phật, khoan dung văn hóa cao cả của chúa Giêsu, tinh thần thực tiễn trong Tam dân chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn. Với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là khoa học và cách mạng, mà còn là đạo đức và văn hóa. Người đã từng chỉ rõ, đọc hàng trăm, hàng nghìn quyển sách Mác – Lênin mà ăn ở với nhau không có tình có nghĩa thì làm sao gọi là Mác – Lênin được.

Người cũng là nhà tư tưởng mácxít nổi bật nhất khi tiếp cận chủ nghĩa xã hội, tiếp cận nền chính trị của giai cấp công nhân và bản chất của đảng cộng sản từ góc độ đạo đức học và văn hoá đạo đức. Người nói, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, chính trị cốt ở đoàn kết và thanh khiết, Đảng là đạo đức, là văn minh.

Chân lý – một vấn đề của nhận thức luận khoa học – được Hồ Chí Minh mở rộng sang bình diện đạo đức học. Cái gì tốt cho dân, có lợi cho dân, cái đó là chân lý. Phục vụ nhân dân, làm công bộc trung thành và tận tụy của dân là phục tùng chân lý cao nhất, là lựa chọn một lẽ sống cao thượng nhất.

Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đặc biệt chú trọng yêu cầu sáng tạo, không máy móc rập khuôn, muốn vậy phải hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh và những điều kiện lịch sử cụ thể. Người căn dặn chúng ta phải chú ý học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, nhưng không được sao chép mà phải có tinh thần độc lập tự chủ. Người nói rõ, ta và Liên Xô rất khác nhau về trình độ phát triển, về lịch sử và văn hoá. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm khác với Liên Xô vẫn là người mácxít.

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam là điểm xuất phát về lý luận và thực tiễn, về ý thức hệ của Hồ Chí Minh. Đó chẳng những là cơ sở để có những phát kiến sáng tạo, những cống hiến của Hồ Chí Minh về tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự cống hiến đặc sắc của Người, góp phần làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin và kho tàng lý luận cách mạng thế giới.

Hai là, vạch trần bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và nêu lên tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải phối hợp chặt chẽ với cách mạng vô sản ở chính quốc. Nguyễn Ái Quốc là người đã viết tác phẩm lý luận mácxít Bản án chế độ thực dân Pháp rất nổi tiếng vào năm 1925. Tác phẩm này là một tổng kết lịch sử, một cáo trạng đối với chủ nghĩa thực dân, để sau đó 20 năm, vào năm 1945, Người viết nên Tuyên ngôn độc lập, khai sinh chế độ dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam độc lập, đồng thời là cáo chung chế độ thực dân ở Việt Nam sau hơn 80 năm tồn tại của nó.

Người phân tích: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra” (Sđd, t.1, tr.298).

Cách mạng phải có sự phối hợp ở cả chính quốc và thuộc địa, giống như một con chim hai cánh, một cánh vỗ ở thuộc địa, một cánh vỗ ở chính quốc. Sự diễn đạt cụ thể và giản dị trên đây đã hàm chứa tư tưởng về tính triệt để của cách mạng chống chủ nghĩa tư bản, thực dân và tính tất yếu của sự phối hợp các phong trào cách mạng vì mục tiêu giải phóng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc và ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đó là biểu hiện lập trường cách mạng triệt để và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên toàn thế giới.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận rõ, đối với những người lao động và vô sản ở khắp mọi nơi, dù màu da có khác nhau nhưng họ đều có chung một kẻ thù và cũng có chung một mục tiêu tranh đấu. Đế quốc thực dân ở đâu đâu cũng là ác quỷ, phải đánh đổ nó đi. Còn anh em vô sản ở đâu đâu cũng là bạn bè, anh em, đồng chí của nhau. Trên đời này, suy đến cùng, cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản (Sđd, t.1, tr.266).

Người đề cập tới tình hình Đông Dương và những cơ sở cho sự chín muồi cách mạng ở đó. Đó vừa là những khẳng định khoa học, vừa là những dự báo chính trị mẫn cảm. Người viết: “người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (Sđd, t.1, tr.28).

Theo đánh giá của Người, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (Sđd, t.1, tr.28). Cho đến khi, Luận cương của Lênin được Người hấp thụ như tìm thấy cẩm nang đi đường, Người đã xác định rõ ràng con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản.

Ba là, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trên lập trường giai cấp công nhân. Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, không phải tất cả những người cách mạng và yêu nước, dù đứng trên lập trường cộng sản, đã ý thức đầy đủ và thật sự quan tâm tới vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Song, đây lại là vấn đề cốt tử mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú ý, từ khi tham gia hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp.

Người đã thẳng thắn phê phán thái độ thờ ơ hoặc lãng quên phong trào cách mạng ở thuộc địa và đòi hỏi Đảng Cộng sản phải xác định rõ trách nhiệm của Đảng đối với việc thúc đẩy và phối hợp hành động với các phong trào cách mạng ở thuộc địa. Người đã sớm đi đến một kết luận quan trọng: sự nghiệp giải phóng dân tộc phải đồng thời gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng xã hội; cả hai cuộc giải phóng đó đều là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là sự nghiệp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Các bản tham luận nổi tiếng của Người tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 đến 8/7 năm 1924) đã chứng tỏ điều đó.

Những luận điểm sau đây cho thấy tính hệ thống và sự nhất quán của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới.” (Sđd, t.1, tr.416) Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân trên thế giới,” “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.” (Sđd, t.9, tr.314)

Cái mới và bản lĩnh sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc và cách mạng vô sản là ở chỗ:

– Không tách rời giai cấp khỏi dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, trên nền tảng ý thức hệ của giai cấp công nhân nên cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu giành độc lập dân tộc phải do giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng do đó, con đường tiến lên của dân tộc và của xã hội Việt Nam chỉ có thể là con đường xã hội chủ nghĩa, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội bằng cách quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng và phát triển đã mở ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng lý luận cho cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn, hợp lý, có triển vọng nhất, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại.

Bốn là, nhờ có lý luận và phương pháp cách mạng đúng đắn, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân và dân tộc ta đánh bại chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và mới, đưa dân tộc ta vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong của thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội cũng có những nét sáng tạo đặc sắc, có giá trị và ý nghĩa hiện đại, không chỉ với nước ta mà còn đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong loại hình “phát triển rút ngắn” và “quá độ gián tiếp,” do bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện từng bước từ dân chủ nhân dân tới chủ nghĩa xã hội.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh có cả một hệ vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội, từ đặc trưng, bản chất, mục tiêu, con đường, phương thức, mô hình và bước đi cũng như những giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong sự kết hợp giữa tính phổ biến với tính đặc thù, tính giai cấp – dân tộc – nhân dân với tính thời đại và tính nhân loại trong thế giới đương đại ngày nay.

Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học bằng cách bổ sung một cách tiếp cận đạo đức học cũng đồng thời là một quan niệm cụ thể về chủ nghĩa xã hội. Người đã dự cảm từ rất sớm một vấn đề mà ngày nay ta càng thấy rõ tính hệ trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội: Không đánh bại chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (Sđd, t.9, tr.291).

Cũng như vậy, không đảm bảo thực hành dân chủ rộng rãi thì không thể chống được quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Thành bại của chủ nghĩa xã hội tùy thuộc vào chỗ, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là đội ngũ tiên phong có đủ dũng khí và quyết tâm để đánh thắng thứ “giặc nội xâm” mà Người coi là kẻ thù nguy hiểm nhất hay không?

Do đó, chủ nghĩa xã hội không chỉ là kinh tế – một nền kinh tế phồn vinh, giàu có, một thể chế chính trị dân chủ – pháp quyền, đảm bảo quyền làm chủ thực chất của nhân dân, một xã hội công bằng, bình đẳng cho sự phát triển hài hoà cá nhân và cộng đồng, mà còn là một nền tảng đạo đức trong sạch, thấm sâu vào các quan hệ xã hội lành mạnh, một hệ giá trị văn hoá nhân bản, nhân đạo và nhân văn, kết hợp được truyền thống, bản sắc dân tộc với những tinh hoa của thời đại vì độc lập – tự do – hạnh phúc cho mọi con người, mọi dân tộc.

Sự sâu sắc và tinh tế văn hóa, đặc biệt là văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đem vào tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội một nhiệm vụ chiến lược – “trồng người,” đào tạo, giáo dục, rèn luyện cán bộ, coi đó là công việc gốc của Đảng; và thực hành đạo đức cách mạng được Người quan tâm suốt đời như một chiến lược, cả tư tưởng lẫn hành động.

Chiến lược đó là cốt lõi của chiến lược con người, chiến lược xây dựng, phát triển, đồng thời là chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội, làm cho cách mạng, Đảng cách mạng, người cách mạng, có sức mạnh tự bảo vệ. Điều đó cho thấy, tư duy chiến lược của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở tầm thời đại và hiện đại như thế nào, nhất là đem tư tưởng của Người soi rọi vào tình hình hiện nay cũng như trước những đòi hỏi mới của thời đại, trong xu thế toàn cầu hoá và trong bối cảnh hội nhập.

Người chỉ rõ, bản chất sâu xa và tính ưu việt nổi bật của chủ nghĩa xã hội là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Người khẳng định, không gì quý bằng dân, không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân, và dân chủ là quý báu nhất trên đời của dân. Là chủ thể gốc của mọi quyền lực, nhân dân phải là chủ sở hữu đích thực của dân chủ, phải là chủ xã hội, chủ nhà nước, kiểm soát được nhà nước của mình và xã hội phải là một xã hội dân chủ. Người còn nhấn mạnh, thực hành dân chủ rộng rãi sẽ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vậy là, Người đã thấy vai trò động lực của dân chủ đối với tiến bộ và phát triển, đối với chủ nghĩa xã hội.

Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ khoa học, cách mạng mà còn là đạo đức, là văn hóa, tức là nhân văn. Người từng nói, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận (Sđd, t.9, tr.131). Phải xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa sao cho đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tất cả đều nhằm vào hạnh phúc của nhân dân. Dân chỉ biết đến dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân vẫn cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì (Sđd, t.4, tr.152).

Mấu chốt của xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân. Việc gì có lợi cho dân phải quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Quyền làm chủ của dân, hạnh phúc của dân, sự phát triển tự do, dân chủ, công bằng trong xã hội – đó là những giá trị đảm bảo cho chế độ phát triển bền vững và chủ nghĩa xã hội thực sự là một xã hội văn hóa cao, trong đó, con người là con người xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ và làm chủ, dân tộc trở thành một dân tộc thông thái.

Chủ nghĩa xã hội nhân dân và nhân văn trong chiều sâu triết lý nhân văn chủ nghĩa của Hồ Chí Minh là ở đó. Trong những tư tưởng hàm xúc đó đã toát lên đầy đủ những vấn đề cốt yếu về mục tiêu, bản chất, động lực, cách làm và bước đi của chủ nghĩa xã hội. Đó là chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là một trong những cống hiến sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện một quan hệ biện chứng, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn – phát triển và đổi mới. Những luận giải cô đọng, hàm xúc của Hồ Chí Minh cho thấy, độc lập dân tộc là tiền đề, là điều kiện của chủ nghĩa xã hội, đó là nền tảng chính trị, là cơ sở dân tộc và chủ quyền nhân dân của chủ nghĩa xã hội.

Theo đó, chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát triển và hoàn thiện là đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của độc lập dân tộc. Đó cũng là thước đo dân chủ và tự do của phát triển xã hội, một xã hội văn minh, hiện đại mà lịch sử tìm thấy sự biểu hiện tốt nhất ở chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là cách thức tổ chức xã hội tốt nhất để làm cho Tổ quốc, đất nước, quốc gia – dân tộc trường tồn, con người cá nhân và cộng đồng xã hội được phát triển tự do, toàn diện mọi khả năng sáng tạo, được thụ hưởng hạnh phúc vật chất, tinh thần trong một môi trường lành mạnh, tốt đẹp nhất. Đó cũng chính là hàm ý sâu xa trong một chân lý lớn mà Hồ Chí Minh nêu ra: “Không có gì quý hơn độc lập tự do.” Giá trị ấy cũng chính là chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa xã hội phát triển thông qua đổi mới, sáng tạo và hiện đại hóa./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

Bác nói về chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số

– Ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự hop Hội đồng Chính phủ bàn về Dự án ngân sách lương thực của quân đội, vấn đề lập Nha Dân tộc Thiểu số và vấn đề tài chính.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku. Thư có đoạn viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Muờng hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xêđăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…

d4/1960 Bác Hồ chủ trì phiên họp HĐCP tại Phủ chủ tịch

Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “Nha Dân tộc thiểu số” để săn sóc tất cả đồng bào.

Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non, để ủng hộ Chính phủ ta.

Chúng ta phải thương yêu nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Trước đó, ngày 23/11/1945 nói chuyên với đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang, vốn là căn cứ địa của cách mạng về thăm Thủ đô Độc lập, Bác đã biểu dương: “Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó, ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng rất nhiều. Chính tôi có đi qua các miền anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, oán ghét bọn giặc xâm lăng… Tôi nhờ anh chị em về nói với đồng bào trên ấy biết rằng đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà, và khuyên anh chị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng chung hưởng”.

Và ngày 3/12/1945, phát biểu tại Hội nghị các dân tộc thiểu số Việt Nam, Bác khẳng định chính sách của Nhà nước ta là: “ 1. Dân tộc bình đẳng; Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình trước sẽ được sửa chữa đi; 2. Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt; a) về kinh tế sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng; b) Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc. Các dân tộc được bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình”…

Có thể nói đó là tư tưởng nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề các dân tộc thiểu số trên đất nước ta.

  X&N
bee.net.vn

Sửa đổi Hiến pháp

– Ngày 18/4/1958, tại phiên họp buổi chiều của Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ban sửa đổi Hiến pháp báo cáo trước toàn thể đại biểu quá trình xây dựng và nội dung bản dự thảo “Hiến pháp sửa đổi”.

Bác hứa với Quốc hội “sẽ tiếp tục cố gắng hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ quan trọng mà Quốc hội đã trao cho và làm cho nước ta có một bản Hiến pháp xứng đáng với những thắng lợi và những tiến bộ vẻ vang của nhân dân ta”.

Hai năm sau, ngày 15/4/1960, trong bài diễn văn kết thúc kỳ họp thứ 12, cũng là kỳ họp kết thúc nhiệm kỳ Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá kỳ họp thứ 8 “có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng” vì nó triển khai việc sửa đổi Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để đến kỳ họp tiếp theo, kỳ họp thứ 9 vào cuối năm 1959, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi và ban hành vào ngày đầu tiên của năm 1960.

4-1959 HCM chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.jpg (56KB)Tháng 4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp HN trung ương lần thứ 16.

Cần lưu ý rằng, ngay tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I, diễn ra vào tháng 11/1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, cũng là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhưng đáng tiếc rằng, Bản Hiến pháp này chưa kịp ban hành thì chiến tranh bùng nổ trên toàn quốc (19/12/1946).

Vì thế, cho dù Bản Hiến pháp 1946 được đánh giá như một nội dung mẫu mực của một bộ luật cơ bản xác lập thể chế Dân chủ – Cộng hoà, không chỉ xác lập một sự tiến bộ vượt bậc trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam mà còn xác định một thể chế tiên tiến trong nền chính trị của thế giới, nhưng nó chưa bao giờ được chính thức ban hành.

Vì thế, bản Hiến pháp sửa đổi được tổ chức soạn thảo tại kỳ họp thứ 8 và thông qua tại kỳ họp thứ 9 chính là bản Hiến pháp đầu tiên được ban hành!

Điểm lại những dấu ấn của Quốc hội khoá I: cuộc Tổng tuyển cử tổ chức vào ngày 6/1/1946 bầu ra 333 đại biểu, được bổ sung không qua bầu cử 70 đại biểu dành cho 2 đảng đối lập với Việt Minh là Việt Quốc và Việt Cách. Đại biểu trẻ nhất 22 tuổi (chính là nhà văn Nguyễn Đình Thi) và cao tuổi nhất là 64 tuổi (cụ Ngô Tử Hạ, nhân sĩ công giáo).

Có 4 đảng chính trị là Dân chủ, Xã hội và 2 đảng trên cùng Nhóm Mác xít (bộ phận công khai của Đảng Cộng sản tự giải tán từ 11/1945). Sau những biến cố chiến tranh đã có 116 đại biểu bị tước quyền, còn lại 287 đi theo kháng chiến đến ngày kết thúc thắng lợi.

Nổi bật là những tấm gương của các đại biểu đã hy sinh trở thành những vị liệt sĩ trong Quốc hội: Luật sư, một trí thức công giáo ở Gia Định bị thực dân giết hại ngay trong tháng 7/1946; Bác sĩ Huỳnh Bá Nhung ở Rạch Giá, nhà cựu học Lê Thế Hiểu đại biểu Quảng Trị, bác sĩ Nguyến Văn Luyện, và học giả Nguyễn Văn Tố, vị Trưởng ban thường trực Quốc hội (chủ tịch) đầu tiên, bị giặc Pháp bắt, tra tấn, dụ dỗ không được đã giết hại.

Đánh giá về Quốc hội khoá I, Bác nói: “Quốc hội ta là Quốc hội dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á cũng là Quốc hội đầu tiên của các nước thuộc địa cũ được độc lập tự do. Suốt 14 năm, Quốc hội đã đoàn kết nhân dân, giúp đỡ Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi và thực hiện nhiều chính sách to lớn ích nước lợi dân”.

X&N
bee.net.vn